Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Mười Một, 2021, 07:17:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 1670 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #70 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 07:58:44 pm »

Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn. Đó là vấn đề mang tính quy luật của bất cứ một cuộc cách mạng nào. Trong bốỉ cảnh Việt Nam đang phải tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng dưới hình thức chiến tranh vệ quốc không cân sức chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thì tư tưởng vừa kháng chiến vừa kiến quốc - vừa chiến đấu vừa xây dựng chế độ mới đã phản ánh đúng quy luật tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đó là: xây dựng chế độ mới phải gắn liền với bảo vệ chế độ mới và ngược lại bảo vệ chế độ mới phải dựa trên cơ sở xây dựng và củng cố chế độ mới. Tư tưởng này vừa xuất phát từ các yêu cầu của cách mạng và chiến tranh cách mạng, vừa là sự kế thừa, phát triển tư tưởng “dựng nước phải đi đôi với giữ nước” trong lịch sử dân tộc.


Tư tưởng đó cho thấy, muốn bảo vệ được thành quả cách mạng, bảo vệ được nền độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thu giang sơn về một mối, thì phải tiến hành kháng chiến để làm thất bại từng bước, tiến tới làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân, đế quốc và tay sai. Mụốn tiến hành kháng chiến thắng lợi, cần phải đẩy mạnh kiến quốc. Chỉ có đẩy mạnh kiến quốc mới nhanh chóng xóa bỏ được những tàn tích của chế độ phong kiến và thực dân, củng cố chính quyền nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, huy động được sức mạnh tổng hợp... đưa sự nghiệp kháng chiến tiến tới thắng lợi. Nói cách khác, vừa kháng chiến vừa kiến quốc là hai mặt của một chỉnh thể thống nhất: cách mạng Việt Nam.


Nhìn lại lịch sử, có thể thấy, tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc - vừa chiến đấu, vừa xây dựng chế độ mới được hình thành từ rất sớm. Ngay sau khi Chính phủ liên hiệp ra mắt quốc dân, trong phiên họp đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: công việc khẩn cấp bây giờ là “kháng chiến và kiến quốc”. Tư tưởng đó tiếp tục được bổ sung, hoàn chỉnh trong quá trình phát triển của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, gắn liền với tình hình quốc tế trong từng giai đoạn. Những hình thức khác nhau của tư tưởng đó trong hiện thực càng cho thấy đây là một tư tưởng có tính chiến lược, chính xác và đúng đắn của Đảng và nhân dân.


Chiến tranh càng phát triển, từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy thì nhiệm vụ kiến quốc càng trở nên hết sức quan trọng. Chính vì vậy mà quá trình đẩy mạnh kháng chiến cũng tức là quá trình thực hiện từng bước những nhiệm vụ của cách mạng trong kháng chiến. Qua đó cách mạng có khả năng khai thác triệt để mọi tiềm lực của đất nước, phát huy đến mức cao nhất vai trò của căn cứ địa, hậu phương tại chỗ cũng như hậu phương lớn của cả nước để duy trì và đẩy mạnh kháng chiến tiến tới thắng lợi hoàn toàn.


Vừa đẩy mạnh kháng chiến, vừa thực hiện từng bước những nhiệm vụ của cách mạng là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh thực tế của Việt Nam. Song song với đánh đuổi thực dân, đế quốc, lật đổ chế độ bù nhìn tay sai, thực hiện mục tiêu của cách mạng dân tộc, Đảng, Chính phủ Việt Nam cũng đồng thời thực hiện từng bước những nhiệm vụ của cách mạng dân chủ như: giảm tô, giảm tức, cải cách ruộng đất, xây dựng chính quyền mới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, hợp tác hóa nông nghiệp, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động...


Cuộc chiến tranh cách mạng (1945-1975) do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, dựa vào Nhà nước dân chủ nhân dân chính là sự tiếp tục của cách mạng bằng chiến tranh và trong chiến tranh. Mục tiêu của cuộc chiến tranh này là nhằm bảo vệ và phát triển thành quả của Cách mạng Tháng Tám 1945, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhằm đạt được những mục tiêu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Để hoàn thành những mục tiêu đó, trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta xác định vấn đề độc lập dân tộc phải đi liền với chủ nghĩa xã hội, gắn nhiệm vụ dân tộc với nghĩa vụ quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tư tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân ta giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến; giữa nhiệm vụ kháng chiến và nhiệm vụ kiến quốc; giữa quan hệ cách mạng Việt Nam với cách mạng ba nước Đông Dương cũng như với cách mạng thế giới... Tư tưởng đó là nền tảng để trong suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Đảng vạch ra các chiến lược và sách lược phù hợp, đưa công cuộc kháng chiến giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.


Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc là tư tưởng xuyên suốt trong 30 năm chiến tranh giải phóng. Kháng chiến để thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ, giữ vững nền độc lập tự do. Kiến quốc nhằm tạo dựng nền tảng để xây dựng hậu phương trong kháng chiến; đồng thời chuẩn bị cơ sở cho tái thiết đất nước sau chiến tranh. Triển khai thực hiện thắng lợi tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc - vừa chiến đấu, vừa xây dựng là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #71 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 07:59:41 pm »

2. Xây dựng nền kinh tế mới trong chiến tranh cách mạng

Xây dựng, phát triển nền kinh tế mới, từng bước cải thiện đời sống nhân dân là một trong những nội dung cốt lõi trong tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp với một nền kinh tế kiệt quệ. Nhằm ổn định nhanh chóng đời sống nhân dân, tạo dựng những cơ sở đầu tiên cho một nền kinh tế độc lập tự chủ và đưa sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc tiến tới thắng lợi, một phong trào toàn dân “diệt giặc đói”, đẩy mạnh tăng gia sản xuất đã được phát động trong cả nước. Để phong trào nhanh chóng đi vào cuộc sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp kêu gọi mọi người dân, từ nông thôn đến thành thị “tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa”, coi “tấc đất là tấc vàng”. Người còn đề nghị “10 ngày nhịn ăn một bữa và kêu gọi đồng bào nhường cơm, sẻ áo”.


Khắc phục tình trạng ngân khố quốc gia trống rỗng, góp phần giải quyết những khó khăn về tài chính, từng bước thoát khỏi sự lệ thuộc vào tư bản tài chính, ngân hàng nước ngoài, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chủ trương xây dựng Quỹ độc lập và phát động Tuần lễ vàng, phát hành đồng tiền Việt Nam... Tất cả chủ trương, biện pháp nêu trên đều xuất phát từ sự thấu triệt tư tưởng xây dựng một nền kinh tế tự chủ trong quá trình kháng chiến, kiến quốc.


Tư tưởng đó chỉ rõ, song song với việc thủ tiêu các đặc quyền, đặc lợi của tư bản Pháp và tư sản mại bản Mỹ là từng bước xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ; nền kinh tế đó phải thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào nền kinh tế của chủ nghĩa thực dân; phải đáp ứng được các yêu cầu của cuộc kháng chiến trong mọi điều kiện, hoàn cảnh cả khi bị bao vây, phong tỏa (trong kháng chiến chống Pháp) hay khi bị gián đoạn, giảm sút về viện trợ quốc tế do sự bất đồng giữa các nước anh em (trong kháng chiến chống Mỹ).


Việt Nam là một nước lấy sản xuất nông nghiệp làm chính, vì vậy đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp được xác định là mũi nhọn, ưu tiên hàng đầu trong xây dựng nền kinh tế kháng chiến. Để khuyến khích sản xuất phát triển, Đảng, Chính phủ ta đã kịp thời đề ra những chủ trương phù hợp nhằm giải quyết vấn đề ruộng đất cho dân; ban hành nhiều chính sách động viên, khuyến khích nhân dân tích cực lao động, sản xuất, thực hành tiết kiệm. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho lực lượng vũ trang và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Dù khó khăn đến mấy, vấn đề lương thực cũng phải giải quyết cho được. Nếu không làm được lúa, phải chuyển nhanh, thiếu cơm có khoai, thiếu khoai có sắn”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.20). Nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa kháng chiến và kiến quốc, Người yêu cầu: “Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích không nên chỉ biết đánh. Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính trị, kinh tế, tuyên truyền giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt, vì đánh không thế tách rời được với chính trị và kinh tế. Nếu chỉ biết đánh mà không nghĩ đến kinh tế thì khi hết gạo sẽ không đánh được”2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.523).


Cùng với nỗ lực đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, là chính sách chú trọng quan tâm đến phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về tiêu dùng thiết yếu, về cái ăn, cái mặc cho người dân và cho bộ đội.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, trong suốt 30 năm chiến tranh, cùng với việc tập trung lãnh đạo, tổ chức toàn dân kháng chiến, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn giành sự quan tâm đặc biệt cho xây dựng, phát triển kinh tế; chăm lo cải thiện đời sống cho nhân dân. Một mặt, những hành động đó cho thấy tính ưu việt của chính quyền mới. Mặt khác, sự quan tâm ấy cũng làm rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa xây dựng và kháng chiến, giữa Nhà nước và nhân dân, cũng như bản chất cuộc chiến tranh vệ quốc với hình thức chiến tranh nhân dân. Thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, chỉ trong một thời gian ngắn, Đảng vừa lãnh đạo nhân dân Nam Bộ kháng chiến, vừa nhanh chóng đưa nền kinh tế nước nhà ra khỏi bờ vực thẳm, chặn đứng được nạn đói, từng bước đầy lùi nạn dốt, khôi phục được một số ngành kinh tế, tạo đà để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Để khắc phục nạn đói, Chính phủ ta đã phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất, coi đó là “những việc cần làm ngay”. Đảng và Chính phủ đã kêu gọi toàn dân “tấc đất tấc vàng, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa...”. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào cả nước, phát động phong trào nhường cơm sẻ áo cho nhau. Khắc phục những khó khăn về tài chính, Chính phủ đã ra sắc lệnh xây dựng Quỹ độc lập và phát động Tuần lễ vàng nhằm thu hút sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tầng lỏp tư sản dân tộc có tinh thần yêu nước. Chính phủ cũng đã cho phát hành đồng tiền Việt Nam, khuyên khích sự đóng góp về kinh tế tài chính của tầng lớp tư sản dân tộc.


Sau khi giải quyết cơ bản nạn đói, nhân dân Việt Nam bắt đầu tập trung vào xây dựng một nền kinh tế độc lập nhằm thoát dần khỏi sự lệ thuộc vào nền kinh tế của chủ nghĩa thực dân... Hàng loạt chủ trương, chính sách, biện pháp đã được Chính phủ ta đưa ra áp dụng như: chia lại ruộng đất, bảo đảm ai cũng có đất sản xuất; thực hiện giảm tô, giảm tức, khôi phục hệ thống thủy lợi; đưa tiến bộ kỹ thuật vào canh tác; tạo điều kiện cho nhân dân khai hoang, phục hóa; ban hành chính sách thuế nông nghiệp một cách hợp lý, hợp lòng dân...


Để thúc đẩy các hoạt động kháng chiến và kiến quốc, nhằm đưa cuộc kháng chiến chống Pháp nhanh chóng vượt qua thời kỳ cầm cự khó khăn, năm 1948, Chính phủ ta đã phát động một phong trào thi đua ái quốc sâu rộng trong cả nước. Phong trào này đã có sức thu hút và lan tỏa mạnh mẽ: Tiền tuyến thi đua giết giặc lập công, diệt ác, phá tề; hậu phương thi đua sản xuất và ra sức bảo vệ sản xuất. Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, Chính phủ đã tiến hành cải cách ruộng đất. Tuy có những vấp váp, khuyết điểm trong quá trình thực hiện, song cải cách ruộng đất cũng đã tạo nên một luồng sinh khí mới, động viên manh mẽ tinh thần thi đua chiến đấu, lập công ở ngoài mặt trận và hăng say lao động, sản xuất ở hậu phương.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #72 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 08:00:33 pm »

Thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, Việt Nam phải chiến đấu trong vòng vây của nhiều thế lực thù địch và trong kháng chiến chống Mỹ, có những giai đoạn nguồn viện trợ về quân nhu, vũ khí, trang bị từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em giảm sút, thậm chí bị gián đoạn. Trong những thời kỳ khó khăn như vậy, nhờ giải quyết tốt mối quan hệ giữa kháng chiến và kiến quốc, với tinh thần “tự lực cánh sinh là chính”, “đem sức ta giải phóng cho ta”, công cuộc kháng chiến vẫn liên tục phát triển các vùng tự do, các vùng căn cứ trong kháng chiến chống Pháp; hậu phương lớn miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ vẫn đáp ứng đủ yêu cầu của tiền tuyến, bảo đảm cho bộ đội ăn no, đánh thắng. Trước khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng như trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta chủ trương đưa hàng vạn tấn máy móc, trang thiết bị lên vùng rừng núi, vào các vùng tự do, ra các căn cứ địa, tổ chức sản xuất, sửa chữa vũ khí, hình thành và phát triển hệ thống công binh xưởng rộng khắp suốt từ Bắc chí Nam nhằm đáp ứng nhu cầu kháng chiến trước mắt, đồng thời đặt nền móng cho một nền công nghiệp quốc phòng về sau. Để xây dựng cơ sở ban đầu cho nền công nghiệp vừa mới manh nha, Đảng chủ trương vừa triệt để tận dụng hạ tầng của chế độ cũ để lại như nhà máy, hầm lò, các công trường khai khoáng...; vừa khẩn trương bắt tay phục hồi và xây dựng mới các nhà máy, công binh xưởng. Các cơ sở công nghiệp này vừa phục vụ được nhu cầu quốc phòng, vừa đáp ứng được một phần của nhu cầu dân sinh. Trong phát triển công nghiệp, Đảng chủ trương không chỉ chú trọng vào công nghiệp quốc phòng mà còn phải phát triển cả các cơ sở công nghiệp nhẹ để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu trong đời sống của nhân dân và lực lượng vũ trang.


Kháng chiến càng trường kỳ, càng phải coi trọng phát triển nền kinh tế. Trong quá trình đó, “phải bảo vệ và phát triển nền tảng kinh tế của ta, đấu tranh kinh tế với địch”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.173). Nghĩa là vừa làm cho kinh tế kháng chiến không ngừng lớn mạnh nhưng đồng thời cũng phải làm cho kinh tế của địch suy yếu.


Nắm vững tư tưởng trên, Đảng đã đề ra và thực hiện một số chủ trương như “tiêu thổ kháng chiến” (trong kháng chiến chống Pháp) hay phá “ấp dân sinh”, tổ chức “cửa khẩu” ra vào căn cứ địa... (trong kháng chiến chống Mỹ). Những chủ trương đó đã gây cho đối phương nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện ý đồ “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.


Đi đôi với phát triển sản xuất, Đảng ta chủ trương từng bước xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến thực dân, thay vào đó bằng việc hình thành các cơ sở kinh tế dân chủ nhân dân với các mô hình tổ chức và cơ cấu chính sách ngày càng được hoàn thiện. Một trong những nội dung quan trọng được ưu tiên trong quá trình xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, thực dân là vấn đề ruộng đất. Muốn hoàn thành căn bản nhiệm vụ của cách mạng dân chủ, xóa bỏ hoàn toàn chế độ bóc lột, cần phải giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân; trao cho họ quyền làm chủ cả về kinh tế lẫn chính trị; gắn kết họ với giai cấp công nhân. Thông qua các chủ trương giảm tô, giảm tức, chia lại công điền, tịch thu ruộng của địa chủ chia cho dân nghèo..., kết quả thực hiện chính sách ruộng đất trong 30 năm chiến tranh (1945-1975) đã góp phần cổ vũ hậu phương hăng hái tham gia sản xuất phục vụ kháng chiến và kiến quốc; tiền tuyến hăng say thi đua “giết giặc lập công”.


Kháng chiến càng trường kỳ, càng phải quan tâm xây dựng và phát triển kinh tế bởi một nền kinh tế tự chủ, phát triển không những đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhất những nhu cầu về vật chất ngày càng lớn do yêu cầu phát triển của chiến tranh đặt ra, mà còn đáp ứng được yêu cầu trường kỳ kháng chiến. Hơn nữa, phát triển kinh tế sẽ góp phần bồi dưỡng sức dân, hun đúc tinh thần kiến quốc và kiên quyết kháng chiến của toàn dân. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, để nâng cao đời sống nhân dân, khôi phục và phát triển kinh tế, việc tích cực tăng gia sản xuất được triển khai song hành cùng với thực hành tiết kiệm. Trong tăng gia sản xuất thì mũi nhọn được xác định là nông nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Dù khó khăn đến mấy, vấn đề lương thực cũng phải giải quyết cho được. Nếu không làm được lúa, phải chuyển nhanh, thiếu cơm có khoai, thiếu khoai có sắn”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.20).


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quân, dân Việt Nam đã xây dựng được một nền kinh tế kháng chiến Cơ bản đáp ứng được các nhu cầu của chiến tranh đặt ra, góp phần để quân và dân ta lần lượt làm phá sản các chiến lược chiến tranh của thực dân Pháp, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Đồng thời, nền kinh tế đó cũng đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng nền móng của một nền kinh tế quốc dân theo con đường chủ nghĩa xã hội về sau này. Nền kinh tế kháng chiến mà quân, dân Việt Nam xây dựng là một thực thể thống nhất bao gồm kinh tế cá thể, kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò quan trọng.


Với một đất nước thuần nông, lực lượng sản xuất chủ yếu là nông dân thì kinh tế hộ nông dân được coi là hạt nhân của kinh tế cá thể, bên cạnh đó là kinh tế của tiểu thương, tiểu thủ công... Để góp phần tạo ra nhiều hàng hóa phục vụ kháng chiến và dân sinh, Đảng chủ trương tạo điều kiện cho nông dân sản xuất, khuyến khích tầng lớp tiểu thương, tiểu thủ công bỏ vốn kinh doanh, tổ chức nhà xưởng sản xuất...


Chiến tranh càng leo thang, đòi hỏi về sức người, sức của chi viện chp tiền tuyến ngày càng lớn. Điều này dẫn sự thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực ở hậu phương, đặc biệt là trong kháng chiến chống Mỹ. Một nền sản xuất nhỏ lẻ, manh mún không thế đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến, bởi vậy yêu cầu tất yếu đặt ra là cần phải có sự liên kết trong sản xuất. Trong bối cảnh đó, Đảng ta chủ trương khuyên khích phát triển mô hình kinh tế tập thể. Mô hình đó không chỉ áp dụng trong nông nghiệp, mà ngay cả trong tiểu thủ công nghiệp. Khác với mô hình kinh tế ở một số nước, kinh tế tập thể ở Việt Nam hình thành trên cơ sở tự nguyện và bắt đầu từ hình thức thấp (như tổ vần công, đổi công) phát triển lên hình thức cao (hợp tác xã).


Dân tộc Việt Nam tiến hành kháng chiến trong điều kiện một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, nền công nghiệp nặng còn hết sức thô sơ và què quặt; trong khi đó, kẻ thù lại có tiềm lực quân sự, kinh tế mạnh gấp nhiều lần. Chính vì vậy mà, trong quá trình xây dựng nền kinh tế kháng chiến, công nghiệp nặng (trong đó có công nghiệp quốc phòng) được đặc biệt coi trọng. Một ngành có vị trí quan trọng như công nghiệp quốc phòng không xây dựng trên cơ sở của kinh tế cá thể hay kinh tế tập thể mà phải dựa vào kinh tế nhà nước - một thành phần kinh tế chủ đạo giữ vai trò đòn bẩy trong nền kinh tế của đất nước.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #73 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 08:02:31 pm »

Trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa, để bảo đảm kịp thời các nhu cầu hàng hóa phục vụ kháng chiến và phục vụ tiêu dùng của nhân dân, cũng như bảo đảm ổn định giá cả một số mặt hàng thiết yếu, góp phần bình ổn thị trường, phá bao vây kinh tế của đối phương, Việt Nam đã phát triển sâu rộng mô hình mậu dịch quốc doanh, coi đó như một mẫu hình hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế kháng chiến.


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, do hoàn cảnh phải chiến đấu trong vòng vây của kẻ thù (từ sau năm 1950, biên giới được khai thông, giao lưu quốc tế được mở ra, song về cơ bản vẫn phải tự lực cánh sinh là chính), Đảng ta chủ trương vừa phá kinh tế địch, vừa ra sức xây dựng nền kinh tế kháng chiến. Chỉ có tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ đó mới có thể làm thất bại âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch và mới đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của đời sống nhân dân, đồng thời thỏa mãn được các yêu cầu, đòi hỏi của cuộc kháng chiến.


Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Việt Nam tạm thời chia làm hai miền: miền Nam tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ; miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và trở thành hậu phương - căn cứ địa chung của cách mạng cả nước. Ngay từ những năm đầu kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Đảng ta đã xác định: “Muốn thống nhất nước nhà, điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc; đồng thời phải giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam”1 (Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (khóa II), tháng 3-1955). Hay nói cách khác, Việt Nam phải tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Để nhanh chóng khắc phục hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh 9 năm, Đảng ta đã mạnh dạn triển khai kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế (1955 - 1957) và tiến hành cải cách ruộng đất. Trong quá trình đó, phục hồi và phát triển nông nghiệp được xác định là trọng tâm.


Sau khi căn bản hoàn thành kế hoạch khôi phục kinh tế, Đảng chủ trương phát triển kinh tế - văn hóa theo hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó cải tạo xã hội chủ nghĩa được xác định là một nội dung quan trọng, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở đây được hiểu không có nghĩa là “phủ định sạch trơn” mà là quá trình tiếp thu, chắt lọc những mặt tích cực, những cái hay từ nền kinh tế, văn hóa thực dân, phong kiến; uốn nắn những lệch lạc, tư duy lạc hậu, bảo thủ cho phù hợp với trào lưu phát triển của xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng cải tạo xã hội chủ nghĩa được hiện thực hóa bằng kế hoạch ba năm (1958-1960) do Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 13 (khoá V) tháng 12-1957 đưa ra. Đối tượng của cải tạo xã hội chủ nghĩa bao gồm: kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư doanh. Nội dung cốt lõi của cải tạo xã hội chủ nghĩa được xác định là cải tạo nông nghiệp, trong đó tập trung vào hợp tác hóa, thuỷ lợi hóa, cải tiến và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào canh tác. Đối với thủ công nghiệp, tiến hành thành lập các hợp tác xã thủ công, hợp tác xã mua bán. Đối với công nghiệp, các cơ sở tư nhân được chuyển đổi thành công ty hợp doanh. Tôn trọng quyền sở hữu của người dân, Nhà nước chủ trương không dùng quyền để ép buộc, tịch thu, xung công mà mua lại máy móc, thiết bị, tư liệu sản xuất của dân.


Mục đích của cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhằm nhanh chóng khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh, tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân; tiến hành cải tạo nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa trên cơ sở nền tảng của kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã, với hình thức sở hữu tập thể và sở hữu toàn dân là chủ yếu. Đó cũng chính là quá trình hoàn thiện quan hệ sản xuất để phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Trên cơ sở những thành tựu thu được của quá trình phát triển kinh tế, xã hội ba năm (1958-1960), tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1960), Đảng ta đã quyết định vừa tiếp tục hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, vừa xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu cho chủ nghĩa xã hội. Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất (1960 - 1965), lĩnh vực được xác định ưu tiên nhất là phát triển công nghiệp trên cơ sở phát triển nông nghiệp một cách hợp lý.


Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1960- 1965) đang được thực hiện thì tháng 8-1964, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, leo thang ra đánh phá miền Bắc, cả nước lại bước vào chiến tranh. Trong bối cảnh đó, Đảng chủ trương chuyển hướng phát triển kinh tế và mọi mặt đời sống miền Bắc sang thời chiến; kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng; vừa tiếp tục xây dựng miền Bắc theo hướng xã hội chủ nghĩa, vừa kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa chiến đấu, vừa duy trì sản xuất tốt. Mọi hoạt động đều được chuyển sang thời kỳ có chiến tranh, nhất là hoạt động của các cơ quan và lãnh đạo các bộ, ban ngành ở Trung ương. Giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa kháng chiến và kiến quốc, Đảng ta xác định: chỉ có tiếp tục đưa miền Bắc tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa thì mới phát huy được sức mạnh của chế độ mới, mới huy động được sức người, sức của tối đa, mới tranh thủ được sự đồng lòng, giúp đỡ của bạn bè quốc tế... tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh thắng cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra trên cả hai miền Nam - Bắc.


Thời kỳ này, để đề phòng kẻ địch đánh phá, các cơ sở công nghiệp lớn của ta được di chuyển và phân tán ra khỏi thành phố, thị xã, cách xa khu dân cư; các công trình công nghiệp đang xây dựng được tạm dừng; tập trung phát triển công nghiệp địa phương, đặc biệt là cơ khí; đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp bảo đảm cung ứng đầy đủ nhu cầu về lương thực, thực phẩm của bộ đội và nhân dân; mở rộng và bảo đảm an toàn cho mạng lưới giao thông vận tải, coi bảo đảm giao thông là một mặt trận nóng bỏng có ý nghĩa chiến lược.


Ở miền Nam, tư tưởng chỉ đạo chung là phải vừa tiến công, vừa xây dựng; tiến công để xây dựng, củng cố và mở rộng vùng giải phóng; xây dựng để tiếp tục đẩy mạnh thế tiến công quyết liệt với địch, giành thắng lợi lớn nhất, “Đoàn kết giết giặc và sản xuất” vừa là khẩu hiệu, vừa là mục tiêu tiêu diệt quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đoàn kết sản xuất là điều kiện quan trọng để phục vụ mục tiêu giết giặc. Tập trung đẩy mạnh hai mũi giáp công, liên tục tiến công địch.


Đối với vùng giải phóng, tập trung phát động quần chúng, đẩy mạnh phong trào chống phi pháo, chống gom dân, lập ấp, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tiết kiệm, xây dựng xã ấp chiến đấu, củng cố các tổ chức quần chúng, phát huy vai trò làm chủ của nông dân ở vùng nông thôn, kiên quyết bảo vệ quyền lợi ruộng đất cho dân...


Đối với vùng tranh chấp, cùng với kiểm soát, phát động nông dân liên tục nổi dậy khởi nghĩa phá ấp chiến lược, diệt ác phá kìm, giải phóng đến đâu chia ngay ruộng đất cho dân đến đó; xây dựng và củng cố xã ấp, các tổ chức chính trị như chi bộ đảng, nông thôn, phụ nữ...


Đối với các vùng giải phóng phải xây dựng toàn diện cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, có lực lượng vững chắc để chủ động đối phó với địch. Xây dựng được kinh tế phát triển thì mới đảm bảo được đời sống của nhân dân, mới có cơ sở để giải quyết hậu cần tại chỗ, có cơ sở vật chất để tổ chức vùng kinh tế ta lấn sâu vào vùng kinh tế địch. Xây dựng được nền kinh tế vững mạnh ở vùng giải phóng là đặt nền móng cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sau này. Tại các vùng giải phóng, các căn cứ kháng chiến, Đảng chủ trương phát triển tăng gia sản xuất, trao đổi lưu thông hàng hóa giữa các vùng giải phóng với các vùng bị tạm chiếm; bảo đảm tự cung, tự cấp một phần nhu cầu về lương thực, thực phẩm; triệt để khai thác các nguồn vật chất trong dân, các loại vật tư thiết yếu từ các cơ sở của quần chúng yêu nước trong vùng địch kiểm soát; sử dụng có hiệu quả chiến lợi phẩm thu được của địch. Trong vùng địch tạm chiếm, tùy theo tình hình từng vùng, từng thời kỳ mà triển khai cuộc đấu tranh kinh tế với địch; coi đây cũng là một mặt trận đấu tranh không kém phần quan trọng, đặc biệt là đối với những chiến trường trù phú như ở Đồng bằng sông Cửu Long.


Để từng bước “đánh cho Mỹ cút” tiến tới “đánh cho ngụy nhào”, cùng với nỗ lực đẩy mạnh cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam, Đảng ta chủ trương nhanh chóng khôi phục kinh tế miền Bắc vừa bị chiến tranh tàn phá; tập trung phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội miền Bắc, bảo đảm cho hậu phương lớn miền Bắc huy động đến mức cao nhất sức người, sức của chi viện cho quân và dân miền Nam. Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, phải xây dựng và bảo vệ miền Bắc; và để bảo vệ, xây dựng miền Bắc, thì phải đánh thắng giặc Mỹ ở miền Nam. Chiến lược cách mạng ở hai miền Nam, Bắc luôn quyện chặt, làm tiền đề để thúc đẩy lẫn nhau phát triển. Quá trình thực hiện đồng thời cả hai chiến lược đó tạo thành sức mạnh chung của cả nước, trong đó động lực lớn nhất là miền Bắc - hậu phương xã hội chủ nghĩa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #74 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2021, 08:02:15 pm »

3. Xây dựng chính quyền trong kháng chiến

Xây dựng và củng cố nhà nước dân chủ nhân dân, chính quyền các cấp của dân, do dân và vì dân là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; vừa chiến đấu, vừa xây dưng chế độ mới. Trên cơ sở xác định chính quyền là vấn đề cơ bản nhất, cấp bách nhất, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được thành lập để điều hành những hoạt động của đất nước. Khi thực dân Pháp châm ngòi chiến tranh ở Nam Bộ, tư tưởng vừa kháng chiến vừa kiến quốc; vừa chiến đấu vừa xây dựng chế độ mới được thể hiện qua những nhiệm vụ cấp bách mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, đó là kiên quyết kháng chiến chống thực dân Pháp gây hân ở Nam Bộ; khẩn trương chống giặc đói, giặc dốt, tích cực phân hóa, cô lập kẻ thù; xóa bỏ tàn tích của chế độ cũ, tạo dựng cơ sở ban đầu của chế độ mới, từng bước ổn định đời sống nhân dân ở miền Bắc... Để có thể tiến hành kháng chiến, kiến quốc thành công, chính quyền cách mạng cần phải tạo được thế hợp pháp, hợp hiến thông qua một cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước. Bốn tháng sau ngày đất nước tuyên bố độc lập, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được bầu ra bằng một cuộc Tổng tuyển cử tự do. Sau khi được thành lập, Quốc hội đã nhanh chóng lập ra Chính phủ liên hiệp kháng chiến, rồi Chính phủ kháng chiến, thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp đó, cuộc bầu cử chính quyền nhân dân các cấp cũng được triển khai rộng khắp tại các địa phương.


Nhờ thấu triệt được tính chất cấp bách và quan trọng của việc xây dựng chính quyền, Việt Nam đã nhanh chóng tạo ra được một cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao; tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, từ đó có đủ năng lực đối phó với thù trong, giặc ngoài. Khi buộc phải đứng lên cầm súng kháng chiến vì không còn con đường nào khác, Việt Nam đã có một chính quyền hợp pháp và hợp hiến từ cấp Trung ương xuống đến địa phương. Việt Nam kháng chiến với tư cách là một quốc gia độc lập, có đầy đủ bộ máy chính quyền, có quân đội; nhân dân Việt Nam kiến quốc dưới sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của một chính phủ trung ương và bộ máy chính quyền ở cơ sở.


Thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, trong bối cảnh cực kỳ khó khăn, phức tạp của đất nước, Đảng ta chủ trương động viên nhân dân cả nước đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù để bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của đất nước và toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời vận dụng nhiều sách lược khôn khéo đề cao chủ quyền, thế hợp pháp của Việt Nam, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương để kiềm chế, hòa hoãn, phân hóa chúng; tập trung sức kháng chiến và kiến quốc. Để kháng chiến thành công, kiến quốc thắng lợi, nhân dân Việt Nam luôn đề cao tư tưởng “thêm bạn bớt thù”, coi trọng việc lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương, tránh trường hợp cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù. Trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, Đảng, Chính phủ ta cũng đã phải có những nhân nhượng - những nhân nhượng có tính nguyên tắc, “hòa để tiến”. Ví dụ như: có thời điểm ngặt nghèo, để cứu vãn tình thế, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quyết định “dù là những phương pháp đau đớn”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.161) để cứu vãn tình thế - đó là tuyên bố “tự giải tán Đảng” (thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật). Đánh giá sách lược “hòa để tiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta cần hòa bình để xây dựng nước nhà, cho nên chúng ta đã ép lòng mà nhân nhượng để giữ hòa bình. Dù thực dân Pháp đã bội ước, đã gây chiến tranh, nhưng gần một năm tạm hòa bình đã cho chúng ta thời giờ để xây dựng lực lượng căn bản”2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.162).


Cùng với việc khẳng định giữ vững quyền lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng Cộng sản, tư tưởng vừa kháng chiến vừa kiến quốc; vừa chiến đấu vừa xây dựng còn chứa đựng một nội dung lớn, vốn được kế thừa và phát triển từ tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc”. Trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc, lực lượng chính là ở dân. Trong đó Đảng ta đặc biệt coi trọng công tác xây dựng lực lượng chính trị, xác định vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, mà lực lượng nòng cốt là công - nông. Sức mạnh của toàn dân trong quá trình kháng chiến, kiến quốc không phải được quy tụ một cách tự nhiên, mà phải có một đường lối chính trị đúng đắn, hợp lòng dân, có một tổ chức lãnh đạo kiên cường và sáng suốt đủ sức quy tụ khối đoàn kết toàn dân. Đường lối được Đảng đề ra và chỉ đạo thực hiện trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã đáp ứng được nguyện vọng của toàn dân tộc là đánh đổ chế độ thực dân, đế quốc và tay sai, làm cho Việt Nam “được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.161).


Đối với mọi cuộc cách mạng, vấn đề cơ bản nhất là vấn đề chính quyền. Vì vậy, ngay sau khi nước nhà độc lập, cùng với việc xóa bỏ tận gốc chính quyền thực dân phong kiến, Đảng đã chủ trương thiết lập ngay chính quyền cách mạng trong cả nước, ở cấp Trung ương có Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ở các địa phương có Ủy ban lâm thời các cấp. Để tạo thế hợp hiến, hợp pháp cho Nhà nước Việt Nam độc lập, đã bầu ra quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu, Quốc hội lập ra Chính phủ liên hiệp kháng chiến, thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi thành lập Chính phủ kháng chiến mới. Ủy ban nhân dân cũng được thành lập tại các địa phương.


Như vậy là khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân Việt Nam đã có chính quyền hợp pháp. Việt Nam kháng chiến với tư cách “chủ nhân ông” với đầy đủ các cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao với kẻ thù. Nhân dân Việt Nam tham gia kiến quốc dưới sự quản lý điều hành tập trung thống nhất: trên có Chính phủ, dưới có Ủy ban nhân dân các cấp.


Trong hoạt động kháng chiến và kiến quốc, có những thời điểm khó khăn, với tư tưởng “lùi một bước để tiến ba bước” ta buộc phải chấp nhận những nhân nhượng có tính nguyên tắc để phân hóa, gạt bớt những đòn tiến công của đối phương. Đó đều là những quyết định mang tính tích cực, chẳng hạn như việc chấp nhận cho người của các đảng phái đối lập, tay sai tham gia Chính phủ liên hiệp; ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ 6-3, Tạm ước 14-9... Thậm chí tháng 10-1945, Đảng còn phải đưa ra một quyết định “đau đớn” là “tự giải tán”.


Trên cơ sở quán triệt tư tưởng “nước lấy dân làm gốc, trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc, lực lượng chính là ở dân”, trong kháng chiến chống Pháp, các tổ chức cứu quốc như: Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc... đã quy tụ chung quanh Mặt trận Việt Minh. Nhằm mở rộng và tập hợp lực lượng, tháng 5-1946, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) được thành lập. Hội Liên Việt đã quy tụ cả những người của Việt Minh lẫn các tổ chức đảng phái, tôn giáo, giới nhân sĩ, trí thức chưa có điều kiện tham gia Việt Minh.


Trong kháng chiến chống Mỹ, ở miền Bắc, hệ thống chính quyền từ Trung ương xuống địa phương được kiện toàn nhằm đáp ứng với thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thay đổi theo hướng chuyên chính vô sản, thực thi những cải tạo lớn đối với nền kinh tế quốc dân và xây dựng cơ sở vật chất ban đầu cho chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó thì ở miền Nam, Mặt trận dân tộc giải phóng ra đời (1960) nhằm tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, đảng phái, tôn giáo, xu hướng chính trị cùng đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và đánh đổ các lực lượng tay sai phản động; thực hiện độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Mặt trận dân tộc giải phóng đã đóng vai trò người điều hành hoạt động của chính quyền cách mạng trong các vùng căn cứ kháng chiến, vùng giải phóng, vùng tự do...


Năm 1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời đảm đương vai trò của Mặt trận dân tộc giải phóng. Sự hiện diện của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã góp phần tạo thế và lực mới cho phong trào cách mạng miền Nam.


Hoạt động kháng chiến, kiến quốc càng được đẩy mạnh, tiến tới càng thu hút sự tham gia nhiệt tình không chỉ của công nhân, nông dân, những thành phần “căn gốc của cách mạng” mà còn của mọi tầng lớp xã hội - những người có tinh thần dân tộc cao cả và tinh thần yêu nước chân chính. Thông qua việc thực thi nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, sáng tạo, đem lại lợi ích thiết thực cho đông đảo các tầng lớp nhân dân, uy tín của Chính phủ và chính quyền các cấp càng được khẳng định, theo đó là hiệu quả của bộ máy quản lý, điều hành hoạt động kháng chiến, kiến quốc càng được phát huy tối đa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #75 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2021, 08:04:30 pm »

4. Phát triển con người trong hoàn cảnh chiến tranh

Một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; vừa chiến đấu, vừa xây dựng - đó là bồi dưỡng và xây dựng con người mới, năng cao dân trí. Con người mới đó phải hội tụ đủ các yếu tố: có giác ngộ chính trị, có đạo đức; vừa hồng vừa chuyên; có tri thức khoa học và khả năng sáng tạo... Lớp người đó là chủ thể của công cuộc kháng chiến và kiến quốc.


Trong hoàn cảnh chiến tranh, vừa lo chống giặc ngoại xâm, vừa lo chống nghèo nàn, lạc hậu, Đảng ta vẫn xác định: “trồng người” là một chiến lược. Sự thành bại của công cuộc kháng chiến, kiến quốc phụ thuộc rất nhiều vào nhân tố con người. Con người mới mà Đảng, Chính phủ chủ động xây dựng, bồi dưỡng là con người mới xã hội chủ nghĩa, vừa có tri thức và ý chí cách mạng, tinh thần dân tộc, vừa có lòng tự tôn, tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc, đồng thời có khả năng làm chủ vận mệnh của nước nhà, biết hòa hợp với cộng đồng, thấm nhuần đạo lý “thương người như thể thương thân”, biết vươn tới chuẩn mực đạo đức con người xã hội chủ nghĩa: “mình vì mọi người và mọi người vì mình”.


Để đương đầu với những kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh và nền khoa học - kỹ thuật tiên tiến, cần phải bồi dưỡng và xây dựng con người Việt Nam có đủ cả đức lẫn tài. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời, trong bộn bề lo toan, Đảng và Nhà nước ta đã bắt tay ngay vào việc xóa bỏ nền văn hóa thuộc địa ngu dân - sản phẩm của chủ nghĩa thực dân, thay vào đó là xây dựng một nền giáo dục dân tộc dân chủ nhân dân, một nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Nạn dốt “Là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ... Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu...”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.Cool. Chính vì vậy mà cùng với “giặc đói” và “giặc ngoại xâm” thì “giặc dốt” cũng là một đối tượng cần phải loại bỏ. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng phong trào xóa nạn mù chữ. Xóa nạn mù chữ được xác định là quốc sách, là nhiệm vụ của toàn dân. Muốn nâng cao dân trí thì trước hết cần phải xóa nạn mù chữ. Người biết chữ dạy cho người không biết chữ, người biết nhiều dạy người biết ít, cha dạy cho con, chồng dạy cho vợ... Xóa nạn mù chữ trở thành phong trào sâu rộng trong mọi tầng lớp, mọi vùng quê và cả thị thành. Đầu năm 1952, khi nhiệm vụ xóa nạn mù chữ đã gặt hái được khá nhiều thành quả, Đảng tiếp tục phát động phong trào bổ túc bình dân để củng cố kiến thức sau xóa mù cho nhân dân, đồng thời nâng cao trình độ học vấn cho đội ngũ cán bộ các cơ quan dân, chính, Đảng và cho cán bộ lực lượng vũ trang.


Cần nhấn mạnh lại rằng, trong toàn bộ công cuộc tự lực kháng chiến, trường kỳ kháng chiến, vấn đề xây dựng chế độ luôn đi đôi với quá trình xây dựng con người. Đây cũng là vấn đề thể chế và nhân sự mà mọi chính quyền cần phải giải quyết. Trong bối cảnh Việt Nam khi đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính quyền cách mạng, cũng là nhà nước dân tộc, đồng thời còn là một bộ máy đang kiện toàn những chức năng xã hội của mình - đặc biệt những chức năng này đặt nặng tính thời chiến của nó. Công dân mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, phải được tạo lập trong một mối liên hệ phức tạp giữa những yếu tố tất yếu của thời đại - chiến tranh và cách mạng, với những chuẩn mực để tiếp nhận nền chính trị tự do và công bằng. Cũng tương tự như sự giao thoa, tương tác và chuyển hóa lẫn nhau của mặt trận chính trị và mặt trận quân sự, một công dân khi ấy cũng là một chiến sĩ, một người yêu nước đồng thời cũng là một phần tử cách mạng. Như vậy, vấn đề giáo dục, bồi dưỡng nhận thức chính trị cho công dân trở thành tất yếu đối với đất nước thời chiến và thời cách mạng. Nhìn từ một khía cạnh xác đáng hơn, việc xây dựng con người mới cũng năm trong một tư tưởng chiến tranh cách mạng toàn dân, toàn diện, trường kỳ.


Xác định giáo dục phố thông là nền tảng của sự nghiệp giáo dục, đào tạo, nâng cao dân trí, việc đổi mới hệ thống giáo dục, đổi mới chương trình giảng dạy đã được triển khai cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của cuộc kháng chiến. Song hành cùng với hệ thống bình dân học vụ là hệ thống giáo dục phổ thông từ bậc tiểu học đến trung học chuyên nghiệp (thậm chí ở một số vùng căn cứ còn có cao đẳng và đại học) được duy trì và phát triển. Giảng dạy và học tập bằng tiếng Việt được coi là một nguyên tắc bất di bất dịch trong tất cả các cấp học.


Cùng với việc đẩy lùi “giặc đói”, Đảng, Chính phủ ta đồng thời tích cực triển khai các hoạt động xây dựng nền văn hóa mới, con người mới. Chỉ sau hơn một năm vừa tiến hành kháng chiến chúng ta đã xóa mù được hơn 2 triệu người. Việc học không còn là nhiệm vụ, trách nhiệm mà đã trở thành niềm say mê đối với mọi người dân Việt Nam với tinh thần “Học, học nữa, học mãi”. Việc triển khai kịp thời, rộng rãi phương châm học tập mới là thiết thực và kịp thời phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, phục vụ sản xuất; vừa làm, vừa học, học ngay trong sản xuất, công tác. Trong kháng chiến chống Pháp, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thanh toán cơ bản nạn mù chữ; nội dung dạy và học từng bước được cải tiến để gắn sát với thực tế hoạt động kháng chiến và kiến quốc; tạo dựng một nền tảng giáo dục cách mạng vững chắc; giải quyết cơ bản trình độ dân trí.


Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cách mạng Việt Nam bước sang một giai đoạn mới - giai đoạn tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam. Trên mặt trận văn hóa, vấn đề xây dựng con người mới vì vậy lại càng được coi trọng đặc biệt. Vai trò con người mới trong quá trình vừa kháng chiến, vừa kiến quốc được cô đúc trong câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, thì phải có con người xã hội chủ nghĩa”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.303).


Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, nền giáo dục ở miền Bắc phát triển theo định hướng giáo dục xã hội chủ nghĩa. Hệ thống giáo dục phổ thông theo chương trình 9 năm (có từ năm học 1951-1952) được chỉnh lại theo chương trình 10 năm. Khi đế quốc Mỹ leo thang xâm lược miền Bắc, trong điều kiện vô cùng ác liệt của cuộc chiến tranh phá hoại, để sự nghiệp giáo dục nâng cao dân trí không bị ảnh hưởng, nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp được sơ tán khỏi các thành phố, thị xã về các vùng rừng núi và nông thôn; các trường cấp I, cấp II, cấp III được sơ tán vào những địa điểm an toàn bảo đảm “việc học tập” không bị gián đoạn do cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của đế quốc Mỹ gây ra.


Nhằm đáp ứng cơ bản nhu cầu ngày càng lớn về đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc trước mắt cũng như lâu dài, từ rất sớm, nhiều học sinh, sinh viên giỏi của ta đã được Đảng, Nhà nước lựa chọn và gửi sang các nước xã hội chủ nghĩa, mà chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc học tập, nắm bắt và nâng cao tri thức về khoa học và kỹ thuật tiên tiến của thế giới. Đây được xem như một hướng nhằm góp phần củng cố và nâng cao “cái gốc” dân trí.


Trong quá trình vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, cùng với phát triển giáo dục là việc xây dựng một nền y tế kháng chiến chăm lo sức khỏe cho nhân dân; nền y tế đó phải thực sự là nền y tế vì nhân dân, vì con người. Từ trong khói lửa của chiến tranh, phong trào “khỏe vì nước” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động đã lan tỏa khắp mọi miền quê, từ thành thị tới nông thôn; từ vùng tự do tới mặt trận và nhanh chóng biến thành một phong trào mang tính tự giác cao trong quần chúng nhân dân.


Trong kháng chiến chống Pháp, tại các vùng tự do, căn cứ địa, Đảng chủ trương xây dựng hệ thống bệnh viện, bệnh xá, nhà hộ sinh. Các cơ sở y tế đó vừa phục vụ việc phòng và khám, chữa bệnh cho nhân dân, vừa đảm nhiệm điều trị, cứu chữa cho thương, bệnh binh. Thời kỳ đầu, do cuộc kháng chiến còn bị bao vây, phong tỏa, mọi thứ đều thiếu thốn, đặc biệt là thuốc men, dụng cụ y tế, cán bộ, nhân viên ngành y tế được động viên, khuyên khích phát huy tính sáng tạo, tự tìm tòi nghiên cứu, sản xuất một số dụng cụ y tế và thuốc men thiết yếu phục vụ kịp thời nhu cầu dân sinh và cứu, chữa thương - bệnh binh.


Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng chủ trương đưa mạng lưới y tế xuống tận cơ sở, phát triển rộng khắp phong trào vệ sinh phòng dịch. Xây dựng ngành y tế trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không chỉ bó hẹp trong việc phòng và chữa bệnh cho nhân dân mà còn có bước đột phá trong đào tạo đội ngũ cán bộ y tế có trình độ chuyên môn cao, trong đầu tư thỏa đáng cho nghiên cứu khoa học; tạo nguồn nhân lực y tế phục vụ việc phòng tránh và khám, chữa bệnh của nhân dân, chiến sĩ ở miền Bắc; đồng thời đáp ứng kịp thời yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Ngành y tế kháng chiến được xây dựng theo mô hình quân - dân - y kết hợp. Khi Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc, hệ thống các đơn vị y tế dã chiến đã được triển khai rộng khắp nhằm cứu chữa kịp thời bộ đội và nhân dân bị thương do cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của không quân và hải quân Mỹ gây ra.


Trên lĩnh vực văn hóa, song hành cùng với quá trình xoá bỏ nền văn hóa hạn chế sự mở rộng dân trí trên bình diện toàn xã hội của chủ nghĩa thực dân, là quá trình xây dựng một nền văn hóa mới dựa trên ba nguyên tắc: Dân tộc - khoa học - đại chúng. Với tinh thần “kháng chiến hóa văn hóa”, “văn hóa hóa kháng chiến”, văn hóa cũng được coi là một mặt trận và văn nghệ sĩ chính là những chiến sĩ xung kích trên mặt trận ấy; văn hóa, văn nghệ được xác định là một nguồn lực to lớn của công cuộc kháng chiến - kiến quốc. Để góp phần mở mang dân trí, nền văn hóa kháng chiến, vừa khơi dậy được tiềm năng sáng tạo nghệ thuật của quần chúng nhân dân, vừa thúc đẩy sự phát triển của phong trào văn hóa, văn nghệ ở các cấp cơ sở.


Xây dựng nền văn hóa kháng chiến trước hết và trên hết là xây dựng những con người mới xã hội chủ nghĩa. “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta... Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.Cool. Chủ trương “giáo dục lại” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực chất là làm cho mọi người ý thức được sự cần thiết phải cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới; ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Hay nói cách khác, “giáo dục lại” tức là làm cho mọi người dân thấu triệt tinh thần “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Động lực thúc đẩy quá trình xây dựng một nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng, thiết thực phục vụ kháng chiến và kiến quốc chính là phong trào thi đua yêu nước và phong trào xây dựng đời sống mới. Hai phong trào đó trở thành hai cuộc vận động lớn xuyên suốt 30 năm kháng chiến (1945-1975).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #76 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2021, 08:06:43 pm »

5. Mối quan hệ giữa “tiền tuyến” và “hậu phương”

Mối quan hệ giữa kháng chiến và kiến quốc trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống đế quốc Mỹ còn biểu hiện ra như là quan hệ giữa tiền tuyến và hậu phương. Quân, dân Việt Nam giành được nhiều thắng lợi lớn ở tiền tuyến vì có hậu phương vững mạnh về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá - xã hội; ở đó chế độ mới - chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng và củng cố một cách toàn diện cả về cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng. Ngược lại, tiền tuyến càng thắng lớn càng động viên, cổ vũ hậu phương kiến quốc thành công, đồng thời góp phần kìm chân địch, buộc đối phương phải phân tán lực lượng để đối phó, như vậy sẽ giảm bớt áp lực, cường độ đánh phá hậu phương ta của địch.


Thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, trong bôì cảnh phải tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng - cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam thì kiến quốc không chỉ nhằm một nhiệm vụ xây dựng một chế độ ưu việt, mang lại một cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, mà chủ yếu là nhằm xây dựng thực lực cách mạng cho cả nước, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi để có thể chi viện tối đa sức người, sức của cho cuộc kháng chiến ở miền Nam; cùng nhân dân miền Nam hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trên một nửa còn lại của đất nước.


Thấu triệt quan điểm “miền Bắc là nền tảng cho lực lượng cách mạng cả nước”, ngay sau khi hòa bình được lập lại, cùng với việc nhanh chóng ổn định về mặt chính trị - xã hội, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, Đảng, Chính phủ ta đã bắt tay ngay vào khôi phục lại nền kinh tế, nhờ đó mà sản xuất nông nghiệp phát triển, diện tích khai hoang phục hóa tăng nhanh, mô hình sản xuất hợp tác xã ra đời, tiểu thủ công nghiệp được khuyến khích... Chỉ sau 3 năm, nền sản xuất của hậu phương lớn miền Bắc đã đạt và vượt mức thời kỳ trước chiến tranh. Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng, trật tự xã hội được bảo đảm; Quân đội nhân dân Việt Nam từng bước xây dựng chính quy, lực lượng thường trực giảm, mô hình nông trường quân đội ra đời thu hút một bộ phận quân đội tham gia xây dựng kinh tế. Nhiều nông trường quân đội được xây dựng tại những địa bàn chiến lược thưa dân, vừa tham gia phát triển kinh tế, vừa duy trì bảo đảm an ninh, trật tự xã hội tại nơi đứng chân. Quân số thường trực của Quân đội nhân dân Việt Nam được tinh giản, rút gọn, thay vào đó là lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ phát triển rộng khắp.


Sau 5 năm khôi phục và củng cố, miền Bắc đã tạo dựng một nền tảng nhất định về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh - quốc phòng để bước vào thực hiện Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội lần thứ nhất (1960-1964) và thực hiện chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam. Sau kế hoạch 5 năm (1960-1964), về cơ bản, chúng ta không chỉ đã giải quyết đủ “cái ăn” cho nhân dân miền Bắc; xây dựng được một nền công nghiệp đa ngành ở cả Trung ương lẫn địa phương, đáp ứng được phần lớn nhu cầu về hàng tiêu dùng thiết yếu của người dân; khôi phục về cơ bản và bước đầu mở rộng mạng lưới giao thông - vận tải phục vụ phát triển kinh tế và phục vụ quốc phòng. Thành tựu quan trọng nhất của công cuộc kiến quốc ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất là: đời sống của người dân bước đầu được cải thiện; các phong trào thi đua yêu nước đã phát triển thành cao trào cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Con người mới xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng đã trở thành lớp người có tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, hết lòng vì cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, có trình độ văn hóa đủ để có thể tiếp thu kiến thức về khoa học, kỹ thuật, kiến thức quân sự để phục vụ sản xuất và chiến đấu. Đánh giá thành tựu khôi phục kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thời kỳ đầu kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.224).


Sau 10 năm hiện thực hóa tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, kể từ khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, nhân dân Việt Nam đã xây dựng miền Bắc thành một căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong phạm vi cả nước, với một chế độ chính trị ưu việt và lực lượng kinh tế, quốc phòng lớn mạnh. Đây chính là cơ sở vững chắc để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân củng cố và nâng cao quyết tâm đánh đế quốc Mỹ và thắng đế quốc Mỹ.


Khi Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang ra miền Bắc, hoạt động xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nhanh chóng được chuyển sang thời chiến. Để chống lại cuộc chiến tranh phá hoại với cường độ cao của đế quốc Mỹ, xuất phát từ tư tưởng kháng chiến toàn dân, toàn diện, Đảng, Chính phủ ta đã triển khai thế trận chiến tranh nhân dân, trong chống phong tỏa của địch, toàn dân tham gia bảo đảm giao thông, tổ chức phòng tránh, sơ tán chu đáo.


Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, một mặt, nhân dân Việt Nam vừa tiến hành phòng tránh, đánh địch; mặt khác, vẫn tiếp tục đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để thích ứng với tình hình, nền kinh tế miền Bắc được chuyển sang kinh tế thời chiến. Hợp tác hóa được xác định là động lực phát triển sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã là hạt nhân của phong trào thi đua lao động sản xuất ở nông thôn miền Bắc. Chế độ phân phối thời chiến tuy còn những mặt hạn chế, nhưng trong bối cảnh chiến tranh, việc triển khai thực hiện chế độ phân phối thời chiến một cách hợp lý đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần giữ được sự ổn định trong đời sống nhân dân. Cũng cần thấy rằng, cuộc chuyển dịch từ sự tách rời tương đối giữa xây dựng và kháng chiến đến sự gắn kết chặt chẽ “toàn dân kháng chiến” từ những năm 1960 chính là thành quả vận động toàn dân, toàn diện. Một nhà nước kháng chiến và một xã hội chuyển mạnh sang thời chiến chính là ý chí chính trị và nền tảng xã hội căn bản nhất cho chiến tranh nhân dân.


Từ giữa năm 1965, khi quân Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” được thay thế bằng “Chiến tranh cục bộ” thì hoạt động kháng chiến và kiến quốc ở miền Bắc cũng được đẩy lên một bước mới. Với khẩu hiệu “Tất cả vì miền Nam", “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc đã đi vào cuộc sống và tạo thành những phong trào cách mạng sôi nổi của quần chúng nhân dân như: “Ba sẵn sàng, ba đảm đang”, “tay búa, tay súng”, “cánh đồng 5 tấn thóc để góp phần đánh Mỹ”, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “một người làm việc bằng hai”...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #77 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2021, 08:07:32 pm »

Có thể khẳng định rằng: “không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa, suốt mười sáu năm qua, luôn luôn cùng một lúc làm hai nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt từ năm 1965... miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.490).


Những năm đầu kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ở miền Nam, trước làn sóng khủng bố trắng của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, quân, dân miền Nam vừa giữ gìn và bảo toàn lực lượng, che giấu các cơ sở chính trị, vừa tranh thủ xây dựng thêm các cơ sở chính trị mới và phát triển thêm lực lượng cách mạng, khôi phục các căn cứ địa có từ trong kháng chiến chống Pháp để làm nơi đứng chân cho các lực lượng kháng chiến, tổ chức các đội vũ trang tự vệ, các đơn vị mang danh lực lượng vũ trang của các giáo phái, ở miền Tây Nam Bộ tổ chức hàng chục “Làng rừng”, Khu 5 hình thành các “Khu bất hợp pháp" để bảo tồn và phát triển lực lượng cách mạng.


Tuy nhiên, hình thức đấu tranh chính trị có sử dụng bạo lực đã tỏ ra không đủ mạnh để đối phó có hiệu quả với làn sóng khủng bố của địch, không thể tạo ra được chuyển biến cơ bản cho cách mạng miền Nam. Vì vậy, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1-1959) đã xác định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, chỉ rõ mục tiêu và phương pháp của cách mạng miền Nam, mối quan hệ giữa kháng chiến ở miền Nam và kiến quốc ở miền Bắc, giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới... Trong đó, điều mấu chốt là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến tới kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.


Sau cao trào Đồng khởi năm 1960, để phá vỡ hệ thống kìm kẹp của địch, giành lại quyền làm chủ ở các vùng nông thôn, đồng bằng và rừng núi, quân, dân miền Nam đã đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang rộng khắp, xây dựng các đơn vị chủ lực. Công tác đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận kinh tế, giành lại các vùng đất cho dân từ hậu quả của cuộc cải cách điền địa do Mỹ và quân đội Sài Gòn tiến hành... đã đạt kết quả to lớn.


Giương cao ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa niền Nam Việt Nam, tại các vùng giải phóng, các vùng căn cứ, cùng với việc triển khai các hoạt động chiến đấu bảo vệ các vùng tự do, cấp ủy Đảng và chính quyền cách mạng ở đây đã phát động phong trào tăng gia sản xuất, bảo vệ mùa màng; duy trì mạng lưới trao đổi hàng hóa trong vùng, cũng như giữa vùng tự do với vùng địch tạm chiếm nhằm đáp ứng các yêu cầu của cuộc kháng chiến. Cùng với việc tích cực mở rộng nguồn động viên nhân, vật lực phục vụ kháng chiến là việc chủ động đấu tranh kinh tế với địch, hạn chế và phá các kế hoạch vơ vét lúa gạo; khai thác nhân, vật lực, làm thất bại âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của đối phương.


Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, để thực hiện nhiệm vụ chi viện chiến lược từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam trong điều kiện chiến tranh đánh phá ác liệt, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam chủ trương triển khai xây dựng tuyến vận tải chiến lược Trường Sơi và mở tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Trong những thời điểm khó khăn do cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ gây ra ở miền Bắc và trên tuyến đường Hồ Chí Minh, vai trò của hậu phương quốc tế, của tình đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương đã được phát huy. Một số lượng khá lớn lương thực, thuốc men, nhu yếu phẩm, thậm chí cả vũ khí đã được khai thác ngay trên đất nước Campuchia để kịp thời cung cấp cho chiến trường Nam Bộ và Tây Nguyên.


Mặc dù mỗi miền Bắc, Nam Việt Nam đang thực hiện hai chiến lược cách mạng khác nhau, nhằm giải quyết những mâu thuẫn cơ bản ở từng miền, nhưng xét cho cùng, đều hướng tới một mục tiêu chung, đó là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc. Chính vì vậy mà hai chiến lược đó gắn bó mật thiết với nhau, ảnh hưởng chi phối lẫn nhau, thúc đẩy, hỗ trợ nhau cùng phát triển. “Muốn thống nhất nước nhà, điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam”1 (Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa II), tháng 3-1955).


Từ chủ trương “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, kháng chiến luôn đi đôi với kiến quốc trong những vùng tự do mà chiến tranh chưa lan tới, trong những căn cứ địa; vừa chiến đấu, vừa xây dựng và củng cố chế độ dân chủ nhân dân” cho đến chủ trương “vừa chống Mỹ, vừa đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân trong các vùng giải phóng ở miền Nam” là một bước tiến dài, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của tư tưởng quân sự Việt Nam hiện đại.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #78 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2021, 08:40:26 pm »

II- XÂY DỰNG CĂN CỨ ĐỊA - HẬU PHƯƠNG, XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ MỚI TRONG CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG

Trong khoa học quân sự, căn cứ địa được coi là cơ sở thực tiễn mấu chốt nhất cho công tác triển khai các hoạt động quân sự, đặc biệt các hoạt động quân sự chính quy. Trong truyền thống quân sự thế giới trước thời kỳ công nghiệp hóa quân sự, căn cứ địa gần như chỉ gồm hai dạng chính: (i) các thành trì gồm hỗn hợp quân - dân - chính, và (ii) các trại lính, khu vực quân sự đặc biệt ở các vùng ít dân hoặc có nhu cầu bảo vệ lãnh thổ đặc biệt. Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa quân sự cho đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong tư tưởng quân sự thế giới, nói chung chỉ có hai dạng thức căn cứ địa:

Thứ nhất, với các nước có lực lượng quân sự hiện đại - phát triển, căn cứ địa là các trung tâm quân sự được trang bị đầy đủ thiết bị quân sự, các nhân viên phục vụ trung tâm, có khả năng đào tạo quân đội, hỗ trợ các hoạt động chiến tranh, hoặc chí ít là các kho vũ khí, doanh trại, tiền đồn, trạm quân sự các loại, xưởng quốc phòng...


Thứ hai, đối với các nước thế giới thứ ba, các nước đang kháng chiến giành lại độc lập dân tộc, có nền quân sự chưa được công nghiệp hóa và hiện đại hóa, thì căn cứ địa gần như là một thể hữu cơ với hậu phương chiến tranh - các căn cứ địa như thế phần lớn là một cơ cấu tổng hợp điều phối mọi hoạt động từ kinh tế, chính trị, cho đến quân sự, tồn tại bên cạnh đó cũng có những hình thái nhất định của các xưởng quân sự, các trung tâm quân sự có tính công nghiệp hóa liên quan đến công tác quản lý vũ khí hiện đại và các hình thức tác chiến, sử dụng vũ khí hiện đại1 (Có thể tham khảo một ý kiến khoa học về căn cứ địa quân sự của Marcia Lynn Whicker và Nicholas A. Giannatasio: The Politics of Military Base Closing: A New Theory of Influence (Các hoạt động chính trị xung quanh việc đóng cửa các căn cứ quân sự: Một lý thuyết mới về các yếu tố gây ảnh hưởng), đăng trong tạp chí hàng quý, Public Administration Quaterly, số 21, (Hè 1997), Pennsylvania, Hoa Kỳ, trang 176-208. Bài báo này nằm trong loạt tranh luận vào cuối những năm 90 của thế kỷ XXI ở Mỹ về vấn đề mở rộng hay đóng cửa các căn cứ quân sự ở các nơi, liên quan đến các vấn đề từ chính trị, kinh tế đến xã hội trong mối quan hệ với các mục tiêu quân sự. Bài báo trình bày một cái nhìn từ góc độ lý thuyết quân sự, rất tiêu biểu cho cái nhìn về căn cứ địa hiện đại). Đối với Việt Nam, việc tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng trong hoàn cảnh đất nước bị tàn phá khiến tư tưởng về căn cứ địa kháng chiến có những nét đặc thù mang tính lịch sử - biện chứng.


Bàn về chiến tranh cách mạng, V.I. Lênin cho rằng: Ai có nhiều hậu bị hơn, có nhiều nhân lực hơn, ai đứng vững được trong quần chúng nhân dân hơn thì người ấy sẽ giành được thắng lợi trong chiến tranh. Tiếp thu tư tưởng của Lênin, đồng thời kế thừa và phát triển những kinh nghiệm về xây dựng căn cứ trong lịch sử chống ngoại xâm của cha ông, nên trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975), Đảng ta đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng căn cứ địa - hậu phương; xây dựng chế độ mới trong chiến tranh cách mạng; xác định đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của chiến tranh cách mạng. Trên cơ sở đó, Đảng đề ra và giải quyết thành công các nội dung cơ bản thuộc về hoặc liên quan tới vấn đề xây dựng đất đứng chân và tiềm lực của cách mạng, kháng chiến.


Xây dựng căn cứ địa - hậu phương, xây dựng chế độ mới là một đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam nhằm chống lại cuộc xâm lăng của những kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quốc phòng mạnh hơn nhiều lần như thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Căn cứ địa - hậu phương chính là “những vùng an toàn, nơi đứng chân và là chỗ dựa của cách mạng để tích lũy, xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá - xã hội... phục vụ cho kháng chiến và chiến tranh cách mạng”1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm từ điển bách khoa quân sự: Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Sđd, tr.78).


Khác với tư tưởng xây dựng căn cứ địa của nhiều nước trên thế giới trong chiến tranh hiện đại, tư tưởng về xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh cách mạng Việt Nam đòi hỏi việc xây dựng căn cứ địa - hậu phương phải đáp ứng được các điều kiện cơ bản sau:

- Là nơi có vị trí chiến lược trọng yếu để tiến có thể đánh, lui có thể giữ; có đường giao thông, liên lạc thuận tiện cả trong nước và quốc tế.

- Là nơi có nhiều cơ sở cách mạng vững chắc, có nền dân chủ nhân dân và phong trào quần chúng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng.

- Là nơi có điều kiện thực hiện kinh tế tự cấp, tự túc, đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu về hậu cần tại chỗ.

- Là nơi mà bộ máy chính quyền của địch mỏng, yếu và lỏng lẻo, có lợi cho hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng, bất lợi cho hoạt động của chính quyền địch.

Thiếu một trong các điều kiện trên đây, việc xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh cách mạng sẽ gặp nhiều khó khăn.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #79 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2021, 08:41:44 pm »

1. Xây dựng căn cứ địa - hậu phương trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam

Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử cụ thể và tuân thủ quy luật của cách mạng bạo lực ở Việt Nam, tư tưởng quân sự Việt Nam hiện đại luôn nhận thức rõ sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Bởi vậy, quá trình xây dựng căn cứ địa - hậu phương, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh nhất thiết phải được bắt đầu bằng việc xây dựng các cơ sở chính trị quần chúng, xây dựng cơ sở đảng trong cả nước; xây dựng các địa bàn thành những căn cứ địa cách mạng ở những nơi có điều kiện, tiến lên xây dựng những hậu phương tại chỗ, và hậu phương lớn của chiến tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Một cuộc chiến tranh nhân dân thực sự cần phải có mục đích chính trị đúng đắn, phải xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân, bên cạnh đó, còn phải giải quyết vấn đề xây dựng chỗ đứng chân, vấn đề tiềm lực. Chỗ đứng chân vững chắc đó chính là cơ sở chính trị, là căn cứ địa, hậu phương. Rõ ràng, “không có đường lối đúng để xây dựng chỗ đứng chân vững chắc, để động viên và bồi dưỡng tiềm lực của nhân dân, của đất nước nhằm bảo đảm nguồn cung cấp sức người, sức của cũng như nguồn động viên cổ vũ về chính trị, tinh thần thì không thể tiến hành được chiến tranh cách mạng lâu dài để cuối cùng giành lấy thắng lợi”1 (Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Sđd, tr.202).


Việc xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh trước hết cần phải động viên được ý thức chính trị, ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước của nhân dân - tính cách mạng, tính dân tộc và bối cảnh thời chiến là những nhân tố căn bản nhất của chiến tranh nhân dân nói riêng và toàn thể cách mạng Việt Nam nói chung. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy: “đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Vì vậy, phải đi từ xây dựng cơ sở chính trị bên trong quần chúng đến xây dựng các căn cứ nhỏ, rồi từ đó phát triển thành căn cứ địa lớn; đi từ bí mật ra công khai; từ xây dựng chưa hoàn chỉnh đến củng cố ngày càng hoàn chỉnh; phải dựa trên cơ sở phát triển lực lượng chính trị với xây dựng lực lượng vũ trang; phải kết hợp các hình thức đấu tranh một cách thích hợp...


Căn cứ địa - hậu phương (dù là hậu phương tại chỗ hay hậu phương của cả nước) không chỉ đơn thuần là nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy kháng chiến mà còn là nơi xây dựng các cơ sở chính trị,
xây dựng tiềm lực quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội; nơi đứng chân và là bàn đạp cho các lực lượng vù trang tiến công địch trên khắp các chiến trường; nơi xây dựng và từng bước củng cố chế độ mới; nơi chi viện sức người, sức của và là chỗ dựa tinh thần cổ vũ tiền tuyến đánh giặc.


Xuất phát từ đặc điểm về điều kiện địa lý, tự nhiên, xã hội và đặc điểm của cuộc chiến tranh nhân dân mà tư tưởng về xây dựng căn cứ địa - hậu phương, xây dựng chế độ mới ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt. Không giống như ở một số nước căn cứ địa chủ yếu được xây dựng ở vùng rừng núi hiểm trở, hệ thống căn cứ địa ở Việt Nam không chỉ được xây dựng ở vùng rừng núi mà được mở rộng ở khắp mọi nơi: từ vùng rừng núi đến đồng bằng ven biển, từ vùng giải phóng đến vùng sau lưng địch... Xét về quy mô, hệ thống căn cứ địa ở Việt Nam cũng hết sức phong phú, đa dạng: Có căn cứ địa của Trung ương, căn cứ địa của vùng, miền, có các căn cứ địa của địa phương (tỉnh, huyện...). Tương tự như vậy, có hậu phương tại chỗ và hậu phương của cả nước. Cùng với việc xây dựng hậu phương tại chỗ là xây dựng và không ngừng củng cố hậu phương lớn của cả nước; mở rộng các vùng tự do, vùng giải phóng; hình thành các căn cứ lõm, căn cứ du kích, khu du kích...


Cuộc chiến tranh giải phóng (1945-1975) của dân tộc Việt Nam là một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ, bởi vậy, tư tưởng về xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh không còn bó hẹp như tư tưởng về xây dựng căn cứ kháng chiến của cha ông trước đây, mà đã được phát triển, mở rộng lên một tầm cao mới. Đó là để tiến hành kháng chiến, cần phải xây dựng một hệ thống căn cứ địa - hậu phương với các cấp độ khác nhau: có căn cứ - hậu phương của cả nước; có căn cứ - hậu phương của từng vùng, từng hướng chiến lược, của từng chiến trường; có căn cứ hậu phương của từng khu, liên khu, chiến khu; căn cứ - hậu phương của liên tỉnh, tỉnh, thành phố; huyện, liên huyện; thậm chí có cả căn cứ liên xã. Đó không chỉ đơn thuần là vùng tự do, vùng giải phóng mà còn bao gồm cả những chỗ đứng chân của lực lượng cách mạng và ba thứ quân ở vùng sau lưng địch1 (Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.360).


Để đương đầu với những kẻ thù mạnh hơn hẳn về tiềm lực quân sự và kinh tế, trong quá trình kháng chiến, ở thế “châu chấu đá voi”, có những thời điểm, Đảng chủ trương rút chủ lực ra khỏi thành thị, xây dựng căn cứ địa - hậu phương ở vùng rừng núi và nông thôn; ra sức khôi phục và nhanh chóng phát triển các cơ sở chính trị (cơ sở đảng, cơ sơ quần chúng đã được giác ngộ, sẵn sàng ủng hộ và tham gia kháng chiến), xây dựng các khu du kích và căn cứ du kích. Đó là một chủ trương sáng suốt, bởi cơ sở chính trị có mạnh thì Đảng mới có chỗ dựa để lãnh đạo quần chúng tiến hành đấu tranh chính trị, mới có bàn đạp để phát động chiến tranh, mới có nền tảng vững chắc để xây dựng hậu phương lớn mạnh. Tuy nhiên, để phát động một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện thì việc mở rộng và củng cố các cơ sở chính trị chưa đủ mà cần phải tiến lên xây dựng được các khu du kích và căn cứ du kích.


Quá trình phát triển của cuộc chiến tranh giải phóng (1945-1975) ở Việt Nam là quá trình vận động từ thấp lên cao, từ chiến tranh du kích phát triển lên chiến tranh chính quy. Chính vì vậy, cùng với việc xây dựng và mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, cần phải tạo ra được những vùng giải phóng tương đối rộng lớn và hoàn chỉnh - nơi đó được triển khai xây dựng một cách toàn diện cả về chính trị, quân sự, kinh tế và văn hoá, xã hội; bảo đảm được sự ổn định và vững chắc để có thể đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của chiến tranh.


Như một tất yếu, muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, cần phải có hậu phương được tổ chức vững chắc. Sự ổn định và vững chắc của hậu phương phụ thuộc vào việc giữ vững và phát triển các cơ sở chính trị, các khu du kích và căn cứ du kích vùng sau lưng địch; phụ thuộc vào việc kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Hay nói cách khác, cuộc đấu tranh bảo vệ, củng cố và xây dựng căn cứ địa, hậu phương luôn được gắn liền với việc duy trì và đẩy mạnh cuộc đấu tranh ở vùng sau lưng địch. Bởi vậy, trong quá trình tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng nói chung, trong xây dựng căn cứ địa, hậu phương nói riêng, tư tưởng chiến lược tiến công là tư tưởng chủ đạo và xuyên suốt.


Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là tuyệt đối hoá tư tưởng chiến lược tiến công, bởi trong quá trình củng cố, xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh phải tuỳ theo tình hình và đánh giá tương quan lực lượng trong từng thời điểm cụ thể mà có thể quán triệt cả tư tưởng phòng ngự. Tất nhiên, phải xác định rõ: phòng ngự chỉ mang tính nhất thời và sách lược.


Căn cứ địa - hậu phương được xây dựng, củng cố thường xuyên như một tiến trình bộ phận trong công cuộc xây dựng chế độ mới, đồng thời cũng cho thấy sự phát triển liên tục của cách mạng Việt Nam từ Bắc vào Nam, từ chế độ mới đến giải phóng hoàn toàn, từ phân chia đến thống nhất. Tư tưởng đó được hình thành và phát triển trên cơ sở hoàn cảnh thực tế của cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam, có kế thừa truyền thống xây dựng đất đứng chân, xây dựng tiềm lực trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, có tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và có cả sự tiếp thu, vận dụng kinh nghiệm kho tàng lịch sử quân sự thế giới. Tư tưởng đó chỉ rõ: muốn xây dựng căn cứ địa làm chỗ đứng chân cho các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, nơi tích luỹ lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, nơi giải quyết vấn đề hậu cần cho các lực lượng kháng chiến..., cần phải chọn những vùng có dân, có cơ sở tốt, “có thế chiến lược lợi hại, tiến có thể đánh, lui có thể giữ”. Những vùng đó có thể nằm trong địa bàn của một chiến khu (hoặc một khu); cũng có thể là một tỉnh, một huyện, thậm chí rộng hơn là liên tỉnh, liên huyện, liên khu...


Như thế, xây dựng căn cứ địa - hậu phương, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh là một quá trình phát triển đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Chiến tranh càng phát triển, tính chất và mức độ tàn phá, huỷ hoại càng cao, căn cứ địa - hậu phương muốn đứng vững được trong mọi thử thách và phát huy được vai trò to lớn của mình thì cần phải được xây dựng, củng cố một cách liên tục và toàn diện.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM