Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Mười Một, 2021, 06:49:51 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 1668 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #60 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2021, 08:11:12 pm »

5. Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược - chiến dịch trong chiến tranh Việt Nam

Chiến tranh là sự tổng hợp của tất cả các mặt đấu tranh quân sự, kinh tế, chính trị, ngoại giao, tư tưởng, văn hoá... của các bên đối chiến. Các mặt đấu tranh đó tuy đều liên quan mật thiết với nhau, chi phối, tạo điều kiện thúc đẩy lẫn nhau nhưng đấu tranh vũ trang là đặc trưng cơ bản của chiến tranh. Nghệ thuật quân sự, hiểu một cách chung nhất, là nghệ thuật chỉ đạo các hoạt động đấu tranh vũ trang trong chiến tranh, là một bộ phận rất quan trọng của phương thức tiến hành chiến tranh và của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh. Như thế, nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là nghệ thuật chỉ đạo các hoạt động đấu tranh vũ trang của cuộc chiến tranh nhân dân trên cả hai miền Nam, Bắc.


a) Trong kháng chiến chống Pháp, tư tưởng chỉ đạo chiến lược của nghệ thuật quân sự Việt Nam được thể hiện rõ nét

Ngày 19-12-1946, hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Từ đây, cả dân tộc Việt Nam bước vào cuộc trường chinh kéo dài suốt chín năm.

Cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp đã trải qua ba giai đoạn chiến lược và mỗi giai đoạn là một bước tiến mới, là một nấc thang đi lên của con đường chiến thắng.

Từ Nam Bộ kháng chiến đến chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông 1947 là giai đoạn thứ nhất của cuộc kháng chiến, ở giai đoạn này, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã ra sức giữ gìn và củng cố lực lượng, kết hợp kháng chiến ở miền Nam với xây dựng và bảo vệ chế độ mới trên cả nước, tiến lên phát động toàn quốc kháng chiến, đánh thắng chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp.


Giai đoạn thứ hai được bắt đầu từ sau chiến thắng Việt Bắc đến chiến thắng Biên giới Thu - Đông 1950. Đây là giai đoạn đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, phát triển chiến tranh du kích, từng bước tiến lên vận động chiến, làm thất bại một bước âm mưu kéo dài, mở rộng chiến tranh và âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp. Đặc biệt, trong giai đoạn này, Cách mạng Trung Quốc thành công (năm 1949) đã có tác dụng cổ vũ lớn lao đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Và kể từ năm 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ thiết thực từ các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là từ Liên Xô và Trung Quốc. Cũng từ năm 1950, đế quốc Mỹ ngày càng rót nhiều viện trợ về trang bị, vũ khí vào chiến trường Đông Dương cho Pháp, can thiệp ngày càng sâu hơn vào cuộc chiến ở đây. Những chuyển biến này đã tác động không nhỏ tới cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam.


Giai đoạn thứ ba là từ chiến dịch Biên giới đến khi cuộc kháng chiến thắng lợi (1954). Đây là giai đoạn phát triển tiến công và phản công, giữ vững và phát huy quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, với sự phối hợp chung của các chiến trường trong toàn Việt Nam cùng chiến trường Lào và Campuchia, tiến lên mở cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 với trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Với chiến thắng Điện Biên Phủ, quân và dân Việt Nam đã làm thất bại hoàn toàn nỗ lực chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn thương lượng tại Hội nghị Giơnevơ và ký Hiệp định chấm dứt cuộc chiến tranh ở Đông Dương ngày 21-7-1954.


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng đã đánh giá đúng những tình thế cách mạng và lực lượng so sánh đôi bên trong các bước ngoặt của chiến tranh theo quan điểm của chiến tranh cách mạng. Đảng, Chính phủ Việt Nam mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ và 15 tháng sau đã phát động toàn quổc kháng chiến đúng thời cơ, ở thời điểm thực dân Pháp đã cố tình gây chiến, khi nhân dân Việt Nam không thể nhẫn nhịn thêm được nữa và khi đã có sự chuẩn bị khá đầy đủ cả về quyết tâm, thực lực. Trong quá trình chỉ đạo chiến tranh, nhằm đánh thắng về quân sự một đối phương lớn mạnh, thì nghệ thuật chỉ đạo phát triển thế tiến công của chiến tranh cách mạng là đánh thắng từng kế hoạch chiến lược của kẻ thù, tạo nên những bước nhảy vọt của cách mạng và chiến tranh. Chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông 1947, chiến dịch Biên giới cuối năm 1950, chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ là những mốc lịch sử vẻ vang, những đòn phản công và tiến công tạo chuyển biến chiến lược.


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đối tượng tác chiến của chiến tranh nhân dân, của cuộc đấu tranh quân sự là quân đội viễn chinh xâm lược nhà nghề thực dân Pháp, trong đó bao gồm cả quân đội của chính quốc và một bộ phận khá lớn những đội quân lê dương thiện chiến. Trang bị vũ khí của đối phương đầy đủ và hiện đại hơn rất nhiều so với quân đội nhân dân Việt Nam. Hơn nữa, kể từ năm 1950, khi đế quốc Mỹ can thiệp ngày càng sâu hơn vào cuộc chiến tranh Đông Dương, rót vũ khí và “viện trợ” cả về chính trị cho Pháp, thì so sánh lực lượng lại càng thêm bất lợi đối với lực lượng vũ trang cách mạng. Song, qua đấu trí, đấu lực trực tiếp với tất cả các chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật quân sự của đối phương, Đảng đã đi đến nhận định hết sức sáng suốt, biện chứng về sự thay đổi trong tương quan so sánh lực lượng trong quá trình kháng chiến. Từ đó, Đảng đã có những đối sách đầy hiệu quả và ngày càng làm chủ tình thế cách mạng. Trong quá trình đấu tranh đó, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam của Đảng liên tục được phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh. Đánh giá đúng tình thế cách mạng và lực lượng so sánh chung giữa cách mạng và phản cách mạng và tận dụng những thời cơ mới xuất hiện là một nét nổi bật và là nội dung quan trọng trong đường lối chiến tranh nhân dân, trong phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng theo đường lối của Đảng trong kháng chiến chống thực dân Pháp.


Nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc của Đảng trong chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp xâm lược là nghệ thuật kết hợp ba thứ quân, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích; kết hợp thế, lực và thời cơ, đánh địch bằng mưu trí, đánh bất ngờ; đánh bằng mọi lực lượng, mọi thứ vũ khí, với nhiều cách khác nhau, hạn chế đối phương đánh theo sở trường,...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #61 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2021, 08:12:52 pm »

Chiến tranh du kích là một hình thức chiến tranh cơ bản của dân tộc nhỏ chống lại ách thống trị thực dân và đánh bại chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, là một phương thức khời nghĩa vũ trang giành chính quyền, bảo vệ chính quyền ở cơ sở, giành và giữ quyền làm chủ ở cơ sở trong chiến tranh giải phóng. Chiến tranh du kích không chỉ là một vấn đề chiến lược quân sự, mà còn là một vấn đề chiến lược cách mạng. Đánh du kích là hình thức tác chiến cơ bản của chiến tranh du kích, giữ một vai trò rất quan trọng trong cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài. Với cách đánh du kích vận động chiến, lực lượng vũ trang cách mạng hoạt động hết sức linh hoạt và cơ động. Trong khi đó, đối phương phần thì không thông thạo địa bàn, phần nữa là do những thứ vũ khí hiện đại được trang bị chỉ thích hợp với kiểu chiến tranh quy ước, không thích hợp với một cuộc chiến tranh đòi hỏi phải có sự cơ động linh hoạt.


Trong chỉ đạo kháng chiến, Đảng đã khẳng định du kích vận động chiến là cách đánh của toàn dân, không phải của riêng bộ đội, đồng thời, phải tiến công địch cả ở nội tuyến lẫn ngoại tuyến. Đó là cách đánh của quần chúng nhân dân, du kích, dân quân tự vệ, bộ đội địa phương và những bộ phận chủ lực hoạt động phân tán, chủ yếu dựa vào tinh thần anh dũng mưu trí cao mà chiến thắng kẻ địch có vũ khí hiện đại. Đó là cách đánh dùng hành động bất ngờ, linh hoạt “lai vô ảnh, khứ vô tung”, đánh nhanh, di chuyển nhanh, khi phân tán, lúc tập trung, đánh khắp nơi và mọi lúc, tận dụng mọi thứ vũ khí, đánh bằng nhiều hình thức, làm hao mòn quân số đối phương, làm đối phương sa sút về tinh thần. Cách đánh này không những đã phát huy được sở trường, thế mạnh của ta, mà còn hạn chế được cách đánh sở trường của đối phương, không cho đối phương đánh theo cách mà chúng muốn.


Lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng đã khẳng định du kích vận động chiến là cách đánh phù hợp với cuộc chiến tranh của nhân dân. Nó là cách đánh phát huy được yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa của chiến tranh nhân dân, phát huy được thế chủ động tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng và đẩy đối phương vào tình thế bị động, lúng túng và lo sợ.


Lý luận và thực tiễn lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng cũng cho thấy rằng: Không thể giành thắng lợi quyết định, không thể đạt được mục đích chính trị của chiến tranh chỉ bằng chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân địa phương. Để chiến tranh nhanh chóng đi tới thắng lợi, không thể thiếu vai trò và tác dụng chiến lược mấu chốt của chiến tranh chính quy với các binh đoàn chủ lực. Sức mạnh của chiến tranh chính quy với các binh đoàn chủ lực luôn kết hợp chặt chẽ với các hoạt động tác chiến của bộ đội địa phương và dân quân du kích, với phong trào đấu tranh cách mạng, đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng cả ở thành thị lẫn nông thôn. Chiến tranh du kích rộng lớn chính là cái nền, là chỗ dựa vững chắc của chiến tranh chính quy. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, chiến tranh chính quy mới là yếu tố quyết định nhất trong chiến tranh. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, việc tiến hành các chiến dịch trên quy mô khác nhau từ nhỏ đến lớn và các loại hình chiến thuật cho đến chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ mới là nhân tố quyết định làm thay đổi cục diện chiến tranh, quyết định sự kết thúc thắng lợi của cuộc kháng chiến.


Khoa học và nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc, đánh giặc toàn diện của Đảng ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp còn thể hiện ở việc quán triệt tư tưởng tiến công, đánh trên thế mạnh, dồn đối phương vào thế phòng ngự bị động, đối phó. Khi quân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Đảng đã chủ trương phát huy các chiến thuật du kích ngăn cản, làm chậm bước tiến công của đối phương, đồng thời chọn mục tiêu thích hợp, chủ động tiến công tiêu hao địch, trong khi “tránh những trận bất lợi”1 (Văn kiện quân sự của Đảng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, t.2, tr.125), “tích cực tiến công từng bộ phận để tiêu diệt bộ phận địch”2 (Văn kiện quân sự của Đảng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, t.2, tr.125). Sau chiến thắng Việt Bắc 1947, Đảng chủ trương “bắt địch chuyển sang thế thủ”3 (Văn kiện quân sự của Đảng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, t.2, tr.125). Thế tiến công chủ động và rộng khắp của chiến tranh du kích từ năm 1948 đã mở ra thế tiến công chiến lược ngày càng phát triển trên khắp chiến trường Đông Dương. Thế tiến công quy mô ngày càng lớn bằng cả chiến tranh du kích và chính quy không ngừng phát triển. Các chiến dịch lớn được mở: Biên Giới, Hoà Bình, Tây Bắc, Thượng Lào... và cuối cùng là cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954 với chiến dịch quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Ngày 19-4-1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết chỉ rõ: “Toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.88). Trải qua 55 ngày đêm chiến đấu, quân, dân Việt Nam đã tiêu diệt được toàn bộ lực lượng Pháp ở Điện Biên Phủ, góp phần quyết định thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm của dân tộc.


Như vậy, nắm vững quyền chủ động chiến lược, quân, dân Việt Nam đã tạo ra sức mạnh tiến công áp đảo và đánh bại đối phương. Đây chính là một thành công nổi bật về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nói chung, cũng như chỉ đạo chiến lược quân sự của Đảng. Đó là nghệ thuật vận dụng tư tưởng chiến lược tiến công, giành và phát huy quyền chủ động chiến lược.


Tư tưởng chỉ đạo chiến lược trong kháng chiến chống Pháp còn được thể hiện ở việc quán triệt tư tưởng tích cực tiêu diệt cả sinh lực và phương tiện chiến tranh, cả lực lượng quân sự và lực lượng chính trị; tích cực, chủ động, kiên quyết, linh hoạt, mưu trí, sáng tạo, bí mật, đánh bất ngờ, nắm thời cơ, chọn đúng những hình thức, phương pháp tác chiến, tổ chức, sử dụng lực lượng thích hợp, nâng cao hiệu lực chiến đấu của mọi lực lượng, mọi thứ quân, lấy chất lượng làm chính.


Nói chung, trong kháng chiến chống Pháp, chiến lược của quân, dân Việt Nam là lấy ít thắng nhiều và chiến thuật là lấy nhiều thắng ít; về chiến dịch và chiến đấu, khi cần thiết thì tập trung lực lượng nhiều hơn đối phương để tiêu diệt, tích cực tiến công, giải quyết gọn, nhanh trong từng trận. Trong kháng chiến, Đảng, quân và dân ta đã giải quyết thành công, đồng thời sáng tạo nên nhiều loại hình chiến dịch và chiến thuật. Việc giải quyết thành công các vấn đề chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp trở thành cơ sở, nền tảng của nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam hiện đại.


Tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Việt Nam trong kháng chiến chống thức dân Pháp xâm lược (1945-1954) là sự kế thừa và phát huy lên một trình độ mới về chất nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc. Những bài học của nghệ thuật quân sự trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp được Đảng tiếp tục phát triển và hoàn thiện trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là đóng góp to lớn cho kho tàng lý luận quân sự Việt Nam và thế giới.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #62 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2021, 08:14:04 pm »

b) Tư tưởng chỉ đạo chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là tư tưởng về công tác chỉ đạo các hoạt động đấu tranh vũ trang của cuộc chiến tranh nhân dân trên cả hai miền Nam, Bắc

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, từ kinh nghiệm của kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta đã sớm xác định kẻ thù ngay khi cuộc kháng chiến vừa bắt đầu (7-1954). Kẻ thù của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là nước Mỹ - một quốc gia có tiềm lực kinh tế, quốc phòng mạnh bậc nhất thế giới.


Với kinh nghiệm từ kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng đã thấy được sức mạnh của Mỹ, từ đó có quan điểm đánh giá, so sánh lực lượng đúng đắn và khoa học. Đảng ta không chỉ thấy rõ chỗ mạnh của Mỹ, mà còn thấy cả những điểm yếu; không chỉ thấy hiện trạng, mà quan trọng hơn còn thấy xu thế phát triển của lực lượng cả hai bên. Tuy quân đội nhân dân Việt Nam ít hơn quàn đội Mỹ về quân số, về trang bị vũ khí, nhưng lại có sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, do đó, thắng lợi nhất định sẽ thuộc về nhân dân Việt Nam.


Những kinh nghiệm rút ra từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là “cái vốn” cực kỳ quan trọng để Đảng, nhân dân Việt Nam vững vàng bước vào kháng chiến chống Mỹ. Kế thừa, phát huy truyền thống đánh giặc của cha ông, đặc biệt là những bài học kinh nghiệm trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đấu tranh chống Mỹ, Đảng đã chủ động, sáng tạo, đề ra đường lối chiến tranh cách mạng đúng đắn. Nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân chống Mỹ phát triển từ thấp đến cao và dần dần hoàn chỉnh. Đó là đường lối tiến hành chiến tranh độc đáo, phát triển từ đường lối chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp - đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, chủ động, linh hoạt, đánh bằng ba mũi giáp công, trên ba vùng chiến lược. Đây là cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện với mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiến tới thống nhất nước nhà. Lực lượng tiến hành chiến tranh là toàn dân đánh giặc, bao gồm lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân làm nòng cốt và lực lượng chính trị của quần chúng. Lực lượng chính trị của quần chúng là cơ sở để xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, đồng thời là chỗ dựa vững chắc để lực lượng vũ trang hoạt động tác chiến hiệu quả và phối hợp với lực lượng vũ trang tiến công, phản công địch.


Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước dựa trên cơ sở của đường lối, phương châm và chiến lược tổng hợp của chiến tranh nhân dân, mục đích là tạo ra sức mạnh tổng hợp, hiện thực để đánh thắng chiến tranh xâm lược. Đó là sự phát triển phương pháp cách mạng và phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân trên hai miền Nam, Bắc, phù hợp với hai chiến lược cách mạng (cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam) được tiến hành đồng thời ở cả hai miền và gắn bó chặt chẽ với nhau, gắn bó chặt chẽ với quá trình cách mạng và chiến tranh cách mạng của ba nước Đông Dương, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của các trào lưu cách mạng thế giới. Đó còn là nghệ thuật kết hợp tiến công địch ở miền Nam với bảo vệ vững chắc miền Bắc, đánh thắng chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc và tăng cường chi viện sức mạnh mọi mặt cho miền Nam, phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường Việt Nam với chiến trường hai nước Lào, Campuchia, tạo ra thế chiến lược tiến công của ba nước Đông Dương.


Cả nước đánh giặc, nhiệm vụ của hai miền Nam, Bắc gắn bó chặt chẽ, thúc đẩy nhau cùng phát triển và đi tới thắng lợi; hai hình thức chiến tranh du kích và chính quy luôn kết hợp chặt chẽ, bổ trợ và tạo ra sức mạnh to lớn.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta luôn quán triệt chiến lược tiến công. Đó là chiến lược toàn dân đánh giặc, dựa vào sức mạnh tổng hợp của hai lực lượng quân sự và chính trị, kết hợp giữa tác chiến của lực lượng vũ trang với khởi nghĩa của quần chúng cách mạng. Đây cũng là chiến lược tiến công đối phương bằng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị), kết hợp giữa đánh địch với giành quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch và tiêu diệt địch để làm chủ ngày càng vững chắc hơn. Đó còn là chiến lược luôn giành thế chủ động và quyền chủ động tiến công địch về mặt quân sự, tiến công một cách tích cực, kiên quyết và liên tục ở mọi nơi, mọi lúc, buộc địch phải đánh theo cách đánh của lực lượng vũ trang cách mạng, hạn chế tối đa sở trường của đối phương.


Ở miền Nam Việt Nam, trong quá trình đấu tranh chống Mỹ, cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công chiến lược bằng phong trào Đồng khởi (1959-1960), thực hiện khởi nghĩa từng phần và đấu tranh chính trị của quần chúng, mở rộng chiến tranh du kích và từ tác chiến du kích tiến lên tác chiến tập trung, vận dụng phương châm quân sự và chính trị tiến hành song song. Mặc dù Mỹ không ngừng tăng cường binh lính và vũ khí vào chiến trường miền Nam, song quân, dân miền Nam đã kiên quyết giữ vững thế chủ động và liên tục tiến công, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975.


Có thể nói, điểm nổi bật trong tư tưởng quân sự của chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là nghệ thuật chỉ đạo tiến công kiên quyết, tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, kết hợp chặt chẽ ba mặt trận đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao với hình thức phong phú, đa dạng đem lại hiệu lực chiến lược ngày càng cao. Đó là nghệ thuật kết hợp chiến đấu với xây dựng, phát triển lực lượng; kết hợp chiến đấu với sản xuất và không ngừng ổn định đời sống nhân dân trong chiến tranh, không ngừng tăng cường thực lực của cuộc kháng chiến, càng đánh, càng mạnh. Chiến tranh nhân dân Việt Nam là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam.


Trong kháng chiến chống Mỹ, ở miền Nam, “lực lượng chính trị được tổ chức thành những đội quân chính trị trong đó có bộ phận xung kích của phụ nữ là đội quân tóc dài”1 (Trung tâm từ điển bách khoa quân sự - Bộ Quốc phòng: Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr.174). Phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không chỉ bó hẹp trong hoạt động đấu tranh vũ trang mà phương thức đó còn có phạm vi rộng lớn hơn, tầm vóc cao hơn. Một cách tổng quát, có thể thấy rằng, phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là: cả nước tổ chức thành một mặt trận rộng lớn, mỗi người dân yêu nước là một chiến sĩ, mỗi làng xã, đường phố là một pháo đài, mỗi chi bộ đảng là một bộ phận tham mưu, phát huy sức mạnh tổng hợp của sự kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trên cả 3 vùng chiến lược, đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận (3 mũi giáp công), kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị với đấu tranh ngoại giao, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ quyền làm chủ, chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực.


Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được tiến hành dựa trên cơ sở của đường lối, phương châm và chiến lược tổng hợp của chiến tranh nhân dân chống Mỹ, cứu nước, nhằm tạo nên sức mạnh hiện thực để thắng Mỹ. Đó là sự phát triển phương pháp cách mạng và phương thức tiến hành chiến tranh trên hai miền Nam, Bắc, phù hợp với sự phát triển của hai chiến lược cách mạng (cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc) và gắn bó chặt chẽ với quá trình cách mạng và chiến tranh cách mạng của ba nước Đông Dương trong xu thế phát triển mạnh mẽ của các trào lưu cách mạng thời đại.


Quá trình vận động, phát triển của đấu tranh vũ trang và nghệ thuật điều hành mặt đấu tranh này gắn bó với các giai đoạn phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nói cách khác, trong kháng chiến chống Mỹ, trên cơ sở kế thừa thành quả và kinh nghiệm của nghệ thuật quân sự thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam gồm 3 bộ phận hợp thành là chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật đã phát triển lên một trình độ cao hơn, trước một đối tượng tác chiến mới chiếm ưu thế về số lượng, trang bị vũ khí là quân đội Sài Gòn, quân Mỹ và quân đội đồng minh của Mỹ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #63 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2021, 08:14:52 pm »

c) Về chiến lược quân sự

Chiến lược quân sự là lĩnh vực cao nhất, có địa vị chủ đạo trong nghệ thuật quân sự. Sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của ta đặt ra cho chiến lược quân sự nhiều vấn đề có tính nguyên tắc về chuẩn bị lực lượng và kế hoạch, về chỉ đạo nhiệm vụ chiến lược trong đấu tranh vũ trang, đánh thắng về quân sự, đánh bại ý chí xâm lược, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi mục đích chính trị của cuộc chiến tranh chống Mỹ.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chiến lược quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam ở miền Nam gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, đó là nghệ thuật kết hợp chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy. Kế thừa truyền thống đánh giặc của tổ tiên, đặc biệt là những kinh nghiệm tích lũy được trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tốc độ phát triển từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy và hình thái kết hợp giữa hai loại hình chiến tranh này trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên từng vùng chiến lược ở miền Nam và trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, có những bước phát triển mới, rất sáng tạo và đạt hiệu quả cao.


Thứ hai, đó là nghệ thuật kết hợp các phương thức tác chiến chiến lược của chiến tranh nhân dân đánh thắng các biện pháp chiến lược của địch từ càn quét, bình định trong những năm 1955 - 1964, “tìm diệt” và bình định trong những năm 1965 - 1968, “chiến tranh giành dân” trong những năm 1969 - 1972, “lấn chiếm và bình định” trong hai năm 1973, 1974. Phương thức tác chiến chiến lược đó bao gồm 6 nội dung:

- Đẩy mạnh hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực bằng các chiến dịch vừa và lớn.

- Đẩy mạnh chiến tranh du kích lên trình độ cao.

- Đánh phá căn cứ hậu cần, kho tàng, sân bay, bến cảng, cơ quan đầu não địch.

- Triệt phá đường giao thông thủy bộ, tạo thế bao vây, chia cắt...

- Đẩy mạnh hoạt động ở đô thị bằng cả quân sự và chính trị.

- Tác chiến kết hợp với binh vận...


Thứ ba, đó là nghệ thuật tổ chức, bố trí lực lượng và thế trận mạnh, hiểm trên chiến lược tiến công, kết hợp tiêu diệt để làm chủ, làm chủ để tiêu diệt và mở rộng không ngừng quyền làm chủ của quân dân miền Nam trên cả ba vùng chiến lược.

Thứ tư, đó là nghệ thuật kết hợp các nhân tố thế, lực và thời cơ, hình thành thế mạnh, đánh bất ngờ.

Thứ năm, đó là nghệ thuật kết hợp giữa tiền tuyến với hậu phương, giữa đánh địch trong cuộc chiến tranh trên bộ ở miền Nam với chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ở hiiền Bắc và chiến tranh ngăn chặn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên tuyến vận chuyển chiến lược Bắc, Nam, bảo vệ vững chắc miền Bắc, giữ vững và phát triển nguồn chi viện toàn diện, mạnh mẽ, liên tục cho chiến trường miền Nam.

Thứ sáu, đó là nghệ thuật phối hợp chiến đấu với quân đội Lào, Campuchia, thực hiện Đông Dương là một chiến trường đánh Mỹ.


Toàn bộ nội dung trên đây của chiến lược quân sự được quán xuyến trong quá trình xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược cho từng giai đoạn cũng như toàn bộ cuộc chiến tranh, trong đó, việc chọn hướng tiến công chiến lược chủ yếu và việc xác định nguyên tắc tác chiến của lực lượng vũ trang trên hướng đó là nội dung quan trọng bậc nhất của kế hoạch tác chiến chiến lược - một bộ phận hợp thành của chiến lược quân sự. Giải quyết các nội dung trên đây của chiến lược quân sự, ở từng giai đoạn cũng như trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân, dân Việt Nam đã tổ chức và thực hiện thành công các hoạt động tác chiến chiến lược, các đòn tiến công và phản công chiến lược, tạo nên những bước chuyển lớn, làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho mình và bất lợi cho đổi phương. Đó là việc Đảng Lao động Việt Nam quyết định chuyển cách mạng miền Nam từ Đồng khởi tiến lên thành chiến tranh cách mạng, đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công về chiến lược. Đó còn là hoạt động tiến công quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng trong Đông - Xuân 1964 - 1965 với những chiến dịch khởi đầu như Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài làm nòng cốt, đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” khi quân đội Sài Gòn còn nguyên vẹn 11 sư đoàn bộ binh. Trong những năm Mỹ tiến hành chiến lược chiến tranh cục bộ, quân và dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất của Mỹ, tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến. Cuộc phản công có ý nghĩa chiến lược trên mặt trận Đường 9 - Nam Lào (Xuân 1971) của quân và dân miền Nam đã làm phá sản một bước quan trọng về quân sự chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Tiếp đó, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 với ba chiến dịch tiến công ở Quảng Trị, An Lộc, Kon Tum và hai chiến dịch tổng hợp Khu 5, Khu 8 đã làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam. Thắng lợi này cùng với chiến thắng trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đã đập tan cuộc tập kích chiến lược của không quân Mỹ và buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari. Trên đà thắng lợi, đầu năm 1975, quân, dân miền Nam mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước...


Những hoạt động tiến công và phản công chiến lược nêu trên thể hiện hiệu lực chiến lược quân sự Việt Nam cũng như năng lực tổ chức, điều hành của các cơ quan chỉ đạo chiến lược trên mặt trận đấu tranh quân sự nói riêng, trên các mặt đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao nói chung. Đó là một chiến lược quân sự tiến công chủ động, sáng tạo, một chiến lược quân sự của toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, phối hợp chặt chẽ hành động tác chiến của lực lượng vũ trang với đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng cách mạng và đó cũng là cơ sở để giải quyết thành công những vấn đề thuộc về nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật trên chiến trường miền Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #64 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2021, 08:16:01 pm »

d) Về nghệ thuật chiến dịch

Nghệ thuật chiến dịch là một bộ phận trong thể thống nhất và hoàn chỉnh của nghệ thuật quân sự. Về hình thức, đây là khâu trung gian nối giữa chiến lược quân sự với chiến thuật; về nội dung, nghệ thuật chiến dịch có tính chất độc lập tương đối, sử dụng các hoạt động chiến thuật của bộ đội để hoàn thành nhiệm vụ mà chiến lược quân sự đặt ra. Một cách tổng quát, nghệ thuật chiến dịch nghiên cứu và giải quyết các vấn đề về chuẩn bị, tổ chức, chỉ huy chiến dịch quân sự; về sắp xếp các trận chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân; về việc kết hợp hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang với hoạt động của các mặt đấu tranh khác - mà trước hết là đấu tranh chính trị, làm cho các trận chiến đấu và các mặt hoạt động khác diễn ra trong mối liên quan mật thiết trên một không gian và trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm những mục đích nhất định, theo một kế hoạch và dưới sự chỉ huy thống nhất, tập trung, thực hiện nhiệm vụ mà chiến lược quân sự đặt ra.


Kế thừa những kinh nghiệm chiến dịch và nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến dịch và nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh, từ quy mô nhỏ và vừa (liên trung đoàn, sư đoàn) lên quy mô tương đối lớn (vài sư đoàn, quân đoàn hoặc tương đương) và cuối cùng là nhiều quân đoàn; từ tác chiến trên bộ đến tác chiến đất đối không... Sự phát triển của chiến dịch và nghệ thuật chiến dịch trong thời kỳ này gắn liền với sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân trên cả hai miền Nam, Bắc; gắn liền với việc đương đầu và đánh bại lực lượng quân sự trên bộ của đối phương - lực lượng này từ chỗ ban đầu gồm 30-40 vạn quân, sau tăng lên hơn 1 triệu lính Mỹ, quân đội Sài Gòn và đồng minh của Mỹ.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sự phát triển phong phú về các loại hình chiến dịch là đặc trưng nổi bật của quá trình phát triển và hoàn chỉnh nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Sự phát triển đó được quy định bởi các nhân tố chủ yếu như: đường lối chiến tranh nhân dân và chiến lược tổng hợp của cuộc kháng chiến; sự chỉ đạo đúng đắn, sắc sảo của cấp chiến lược về mặt quân sự và sự phát triển phong phú, sáng tạo của chiến thuật; hậu phương miền Bắc và hậu phương tại chỗ, bao gồm cả tuyến vận tải chiến lược 559 được củng cố vững chắc và không ngừng lớn mạnh...


Các loại hình chiến dịch thời kỳ này nếu phân chia theo phương thức tiến hành chiến tranh thì gồm: chiến dịch của chiến tranh du kích (chiến tranh nhân dân địa phương) và chiến dịch chính quy đánh tập trung; phân theo lực lượng tiến hành thì gồm: chiến dịch của chủ lực, chiến dịch địa phương, chiến dịch tổng hợp; phân theo hình thức tác chiến, gồm: chiến dịch tiến công, chiến dịch phản công, chiến dịch phòng ngự, chiến dịch chống càn (mang tính chất tiến công), chiến dịch phòng không. Theo thống kê chưa đầy đủ, trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân miền Nam đã thực hiện trên dưới 50 chiến dịch, phổ biến nhất là loại hình chiến dịch tiến công.


Có thể phân chia các bước phát triển chiến dịch và nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thành các giai đoạn sau:

- Từ năm 1964 đến năm 1965: giai đoạn quân và dân miền Nam bắt đầu vận dụng nghệ thuật chiến dịch tiến công qua các chiến dịch khởi đầu như chiến dịch Bình Giã (từ 2-12-1964 đến 7-3-1965), chiến dịch Đồng Xoài (từ 10-5 đến 2-7-1965), chiến dịch Ba Gia (từ 29-5 đến 20-7-1965). Đây là các chiến dịch tiến công có quy mô sử dụng lực lượng liên trung đoàn, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, được sự đảm bảo một phần về hậu cần của nhân dân địa phương trên địa bàn chiến dịch, đánh vào đối tượng chủ lực ngụy là chính, diễn ra ở khu vực rừng núi hoặc giáp ranh trên một không gian khoảng hai đến ba huyện và trong thời gian từ một đến hai tháng. Đặc điểm của các loại hình chiến dịch tiến công kỳ đầu này là mang tính chất tổng hợp - kết hợp tiến công quân sự với sự nổi dậy của quần chúng nhằm thực hiện mục tiêu tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ.


- Từ giữa năm 1965 đến năm 1968: giai đoạn quân và dân miền Nam trực tiếp đánh quân viễn chinh Mỹ. Trong giai đoạn này, có các chiến dịch tiến công Plây Me, Tây Nguyên (từ 19-10 đến 26-11-1965), chiến dịch tiến công Bầu Bàng - Dầu Tiếng ở Đông Nam Bộ (từ 1-11 đến 27-11- 1965), chiến dịch tiến công Tây Sơn Tịnh ở Quảng Ngãi (từ 20-2 đến 20-4-1966), chiến dịch tiến công Sa Thầy ở Tầy Nguyên (từ 18-10 đến 6-12-1966), chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xiti, Đông Nam Bộ (từ 22-2 đến 15-4-1967), chiến dịch tiến công Đắc Tô ở Bắc Tây Nguyên (từ 3 đến 23-11-1967). Chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh ở bắc Quảng Trị (Xuân - Hè 1968) và các cuộc tiến công vào nội đô Sài Gòn và Huê trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 có quy mô như những chiến dịch tiến công mang tính chất chiến lược... Như thế, về loại hình, bên cạnh các chiến dịch tiến công, đã xuất hiện các chiến dịch phản công; về quy mô, lực lượng tham gia chủ yếu là cấp sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường cùng lực lượng vũ trang địa phương; về cách đánh chiến dịch và sự chỉ đạo vận dụng chiến thuật trong chiến dịch cũng như nghệ thuật vận dụng các chiến thuật, lập thế trận chiến dịch, nghệ thuật tổ chức, điều hành chiến dịch có sự phát triển cao hơn giai đoạn trước.


- Từ năm 1970 đến năm 1971: giai đoạn Mỹ và quân đội Sài Gòn mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn Đông Dương. Đây là giai đoạn quân và dân miền Nam mở các hoạt động và các chiến dịch phản công như: hoạt động phản công làm thất bại cuộc tiến công sang Campuchia của Mỹ và chính quyền Sài Gòn; ba chiến dịch phản công đánh bại ba cuộc hành quân quy mô lớn của địch ở Đường 9 - Nam Lào, đông bắc Campuchia và Đường số 6 (Công Pông Chàm - Công Pông Thom). Nghệ thuật chiến dịch phản công của ta đã phát triển lên một trình độ mới, khá hoàn chỉnh: Lực lượng sử dụng lên tới tương đương cấp quân đoàn, diễn ra ở vòng ngoài chiến trường chính miền Nam Việt Nam, giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tạo thế và lực cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972.


- Năm 1972, lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân miền Nam tiến hành đồng thời ba chiến dịch tiến công lớn với lực lượng sử dụng ở mỗi chiến dịch tương đương cấp quân đoàn tăng cường, trên ba hướng chiến lược quan trọng thuộc chiến trường chính miền Nam và Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; đột phá thẳng vào hệ thống phòng ngự kiên cố của địch. So với các chiến dịch tiến công giai đoạn trước, đây là những chiến dịch có quy mô lớn hơn, không gian rộng hơn, thời gian dài hơn. Bên cạnh các chiến dịch tiến công của các binh đoàn chủ lực, bộ đội giải phóng còn liên tiếp mở hai chiến dịch tiến công tổng hợp ở Bắc Bình Định (Trung Bộ) và ở Khu 8 (Nam Bộ). Trên miền Bắc, Quân chủng Phòng không - Không quân cùng lực lượng phòng không địa phương tiến hành chiến dịch phòng không quy mô lớn đánh bại cuộc tập kích chiến lược trên không bằng máy bay B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, ở địa bàn Bắc Lào, bộ đội giải phóng và lực lượng vũ trang cách mạng Lào thực hiện thắng lợi chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đây là giai đoạn mà các loại hình chiến dịch phát triển phong phú, nghệ thuật chiến dịch phát triển toàn diện và khá hoàn chỉnh.


- Từ năm 1973 đến năm 1975: trên cơ sở tạo thế lực của hai năm 1973, 1974, quân giải phóng mở ba chiến dịch lớn kế tiếp nhau là Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, chiến dịch Hồ Chí Minh với quy mô lớn, trên một không gian rộng, trong một thời gian ngắn. Với ba chiến dịch này, loại hình chiến dịch tiến công đã có bước phát triển mới, mang ý nghĩa chiến lược, và có các đặc điểm chủ yếu như: do cấp chiến lược trực tiếp chỉ đạo, do từng tập đoàn chiến dịch binh chủng hợp thành tương đối lớn thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ của bộ đội địa phương, dân quân du kích trên địa bàn chiến dịch, nhằm mục đích tiêu diệt và làm tan rã lớn từng địa bàn chiến dịch - chiến lược của đối phương, giải phóng từng địa bàn chiến lược, tạo nên sự đột biến chiến dịch và đưa đến sự phá vỡ thế chiến lược của địch; các hình thức chiến thuật phát triển phong phú và ở trình độ cao, nhất là nghệ thuật tổ chức thực hành các trận đánh then chốt...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #65 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2021, 08:16:48 pm »

Nhìn chung, trong kháng chiến chống Mỹ, nghệ thuật chiến dịch của chiến tranh nhân dân được phát triển lên một trình độ mới. Sự phát triển này được biểu hiện trên những nội dung thuộc về nghệ thuật chiến dịch như chọn hướng, mục tiêu, đối tượng tác chiến chiến dịch; tổ chức, sử dụng lực lượng; lập thế trận; chọn cách đánh; chuẩn bị và thực hành ehiến dịch; chỉ đạo chiến thuật trong chiến dịch; tổ chức chỉ huy, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; phát huy nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến dịch... Nghệ thuật chiến dịch quân sự Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã giải quyết thành công nhiều nội dung, đặc biệt là các nội dung chủ yếu sau:


Thứ nhất, nghệ thuật lập thế trận chiến dịch của mình, phá thế trận chiến dịch của đối phương có bước phát triển mới. Sự phát triển đó gắn liền với thế trận chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao, trên khắp cả ba vùng chiến lược. Thế trận đó lồng xen với vùng địch kiểm soát, áp sát và bao vây các vùng ven đô, các căn cứ quân sự, hậu cần và các tuyến giao thông huyết mạch trên khắp chiến trường miền Nam. Thế trận đó cho phép quân và dân ta thực hành chiến lược tiến công bằng hai lực lượng quân sự, chính trị, buộc địch phải dàn mỏng lực lượng và bị động chống đỡ ở mọi nơi, mọi lúc... Dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân phát triển, ở các chiến dịch, ta đã bố trí, triển khai các lực lượng và thiết bị chiến trường một cách thích hợp; xây dựng được thế trận chiến dịch vững chắc, hiểm hóc và cơ động. Nhìn chung, nghệ thuật tạo thế trận chiến dịch của ta trong kháng chiến chống Mỹ rất linh hoạt, biến hóa theo sự thay đổi về so sánh thế và lực giữa hai bên tham chiến và theo yêu cầu nhiệm vụ chiến lược...


Thứ hai, việc xác định hướng (khu vực) và mục tiêu chiến dịch đúng đắn, sát hợp là một trong những thành công nổi bật của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Vấn đề này trước hết tùy thuộc vào sự so sánh tương quan lực lượng hai bên về chiến dịch, vào yêu cầu nhiệm vụ chiến lược, vào điều kiện đảm bảo vật chất - kỹ thuật và điều kiện địa hình. Ví dụ như khi Mỹ đưa quân Mỹ vào miền Nam trực tiếp tham chiến, lúc đầu ta chọn vùng rừng núi và vùng giáp ranh làm hướng chủ yếu để mở các chiến dịch. Đến đầu năm 1968, đồng thời với địa bàn trên, quân giải phóng còn chọn đô thị, nhất là các đô thị lớn làm hướng tiến công chủ yếu. Tiếp đó, năm 1972, chọn tuyến phòng ngự chiến lược cơ bản của địch để mở ba chiến dịch tiến công lớn. Trong các chiến dịch tiến công tổng hợp đánh phá chương trình “bình định”, bộ đội giải phóng đã chọn đúng hướng để mở mảng, mở vùng là khu vực đồng bằng đông dân cư, nơi có tầm quan trọng chiến lược đối với cả hai bên tham chiến... Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, việc chọn Tây Nguyên làm địa bàn mở đòn tiến công chiến lược đầu tiên và chọn Buôn Mê Thuột là mục tiêu đột phá là một mẫu mực mang tính kinh điển của nghệ thuật chọn hướng, chọn mục tiêu chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Thứ ba, tổ chức lực lượng và tổ chức chỉ huy chiến dịch có bước phát triển mới. Trong giai đoạn từ năm 1964 đến khi kết thúc chiến tranh cục bộ (1968), về quy mô lực lượng chiến dịch, ta đã sử dụng từ liên trung đoàn lên tới sư đoàn, sư đoàn tăng cường rồi liên sư đoàn, về chỉ huy chiến dịch, đã thành lập Bộ Chỉ huy tiền phương và cơ quan chiến dịch tiền phương. Năm 1972, khi quy mô lực lượng sử dụng trong các chiến dịch trên các hướng chiến lược lên tới quân đoàn, quân đoàn tăng cường về các mặt tổ chức chỉ huy, trên các hướng chiến dịch tiến công tổng hợp, trong điều kiện sử dụng bộ đội chủ lực quân khu, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích xã ấp phối hợp chiến đấu với quần chúng trên địa bàn mở chiến dịch thì về mặt tổ chức chỉ huy, đã tổ chức cơ quan chỉ đạo chỉ huy thống nhất gồm các chủ trì cấp ủy địa phương và các chỉ huy quân sự... Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là đỉnh cao về nghệ thuật tổ chức lực lượng, tổ chức chỉ huy. Về tổ chức lực lượng chiến dịch, đã sử dụng từng tập đoàn chiến dịch binh chủng hợp thành (bao gồm từ một đến hai quân đoàn và tương đương đến năm quân đoàn và tương đương), về tổ chức chỉ huy, trong chiến dịch Tây Nguyên, bên cạnh Bộ tư lệnh chiến dịch còn có đại diện Bộ Tổng tư lệnh thay mặt Bộ Tổng tư lệnh quyết định trực tiếp các tình huống chiến dịch quan trọng; trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng, trên thực tế, Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy các cánh quân tiến công Đà Nẵng; đến chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh chiến dịch là ủy viên dự khuyết của Bộ chính trị Trung ương Đảng, Tổng tham mưu trưởng quân đội; Chính ủy chiến dịch là ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục kiêm Chính ủy Miền... Một Bộ Tư lệnh như vậy có đủ khả năng và quyền hạn để chỉ huy tập trung, thống nhất toàn bộ các lực lượng tham gia chiến dịch lịch sử mang tên Hồ Chí Minh, kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Thứ tư, xác định cách đánh chiến dịch đúng đắn, sáng tạo là một nội dung nổi bật của nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cách đánh là biểu hiện tập trung nhất tính sáng tạo của nghệ thuật chiến dịch, là căn cứ quan trọng để tiến hành tổ chức, chuẩn bị và thực hành chiến dịch. Nó tùy thuộc vào các yếu tố như mục đích, nhiệm vụ chiến dịch, so sánh lực lượng đôi bên, địa hình, thời tiết... trên địa bàn chiến dịch. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cách đánh chiến dịch gắn liền với quá trình phát triển của cuộc kháng chiến nói chung, của thế trận chiến lược và lực lượng vũ trang nhân dân nói riêng. Nói cách khác, cách đánh chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ là sự kế thừa và phát triển lên một trình độ mới cách đánh chiến dịch thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là cách đánh chiến dịch của chiến tranh nhân dân phát triển trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn, đồng bằng, đô thị), là sự vận dụng tổng hợp cách đánh của lực lượng vũ trang ba thứ quân kết hợp ở những mức độ khác nhau với lực lượng chính trị, là sự kết hợp nhiều phương thức và quy mô tác chiến, trong đó, phương thức tác chiến hợp đồng binh chủng ngày càng giữ vị trí quan trọng và về cuối cuộc kháng chiến, giữ vai trò chủ yếu.


Các chiến dịch tiến hành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nhằm một số mục đích quan trọng, nhất là mục đích diệt sinh lực địch vì đó là tiền đề để đạt các mục đích khác. Thực tiễn lịch sử kháng chiến chống Mỹ cho thấy, đề đạt mục đích chủ yếu trên đây, về cách đánh chiến dịch, về việc tạo tình huống và thời cơ để thực hành các trận then chốt và trận quyết định, phải vận dụng mưu kế trong chỉ huy để đảm bảo tính chủ động, bất ngờ, linh hoạt, chắc thắng...


Trên cơ sở quán triệt những đặc điểm, yêu cầu trên đây, cách đánh chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ được vận dụng và phát triển phù hợp với các loại hình chiến dịch khác nhau như chiến dịch tiến công, chiến dịch phản công, chiến dịch phòng ngự.


Đối với chiến dịch tiến công - một loại hình chiến dịch chủ yếu, chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số các chiến dịch được tiến hành thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cách đánh được thể hiện tập trung ở hai phương thức tác chiến cơ bản: tiến công địch ở ngoài công sự bằng cách đánh vận động là chủ yếu và tiến công khu vực phòng ngự của đối phương bằng đánh trận địa. Thuộc loại hình này còn có chiến dịch tiến công tổng hợp. Cách đánh của loại chiến dịch tiến công tổng hợp là tiến hành đồng thời và phối hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng trên địa bàn để tiêu diệt sinh lực đối phương, giành đất, giành dân, giành quyền làm chủ.


Đối với loại hình chiến dịch phản công, cách đánh chủ yếu là kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến ngăn chặn và các lực lượng vũ trang tại chỗ với tác chiến của các đơn vị chủ lực cơ động nhằm tiêu diệt những bộ phận chủ yếu của địch, bẻ gãy từng mũi, từng cánh, từng đợt phản công của địch.


Phòng ngự là loại hình chiến dịch ít được tổ chức. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, cách đánh chiến dịch phòng ngự là kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự và tiến công, kiên quyết giữ vững trận địa với tích cực phản kích và tiến công ra ngoài trận địa, chớp thời cơ, mở các trận phản đột kích then chốt nhằm tiêu diệt lực lượng tiến công nòng cốt của địch.


Nhìn chung lại, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật chiến dịch của Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới. Đó là nghệ thuật chọn hướng, chọn mục tiêu, chọn đối tượng tác chiến; nghệ thuật tạo thế ta, phá thế địch; nghệ thuật phân tán, chia cắt, cô lập địch và tập trung lực lượng ưu thế để đánh đòn quyết định vào nơi và vào lúc quyết định. Đó còn là nghệ thuật lựa chọn và vận dụng cách đánh đảm bảo đánh trúng, đánh hiểm, đánh tiêu diệt, tạo sự đột biến về chiến dịch và chiến lược, góp phần dẫn đến các bước ngoặt trong cục diện chiến tranh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #66 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2021, 08:17:54 pm »

đ) Về chiến thuật

Chiến thuật là bộ phận hợp thành của nghệ thuật quân sự, gồm lý luận và thực tiễn chuẩn bị, thực hành các trận chiến đấu, chịu sự chỉ đạo của chiến lược và nghệ thuật chiến dịch. Trận chiến đấu là hành động cơ bản của đấu tranh vũ trang, là biểu hiện cụ thể của chiến dịch và chiến lược. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên nền chung của thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao ở cả hai miền Nam, Bắc, các trận chiến đấu không phải chỉ là đấu tranh vũ trang có tổ chức của các đơn vị chủ lực, các binh đoàn chủ lực mà còn là của các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích, tự vệ, nhân dân có tổ chức hoặc tự động đánh giặc...


Kế thừa thành quả và kinh nghiệm của chiến thuật trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, chiến thuật trong kháng chiến chống Mỹ phát triển lên một tầm cao mới với hình thức và nội dung phong phú, sáng tạo. Đó là chiến thuật của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc đối đầu và đánh bại đội quân xâm lược và đội quân tay sai là quân viễn chinh Mỹ và quân đội Sài Gòn, bao gồm chiến thuật của các quân chủng, binh chủng, bộ đội và binh chủng hợp thành; của từng cấp (đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn); của lực lượng dân quân, du kích các địa phương, các chiến trường.


Sự hình thành và quá trình phát triển của chiến thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước liên quan tới các yếu tố tác động chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, đó là truyền thống độc đáo về nghệ thuật quân sự của quân dân Việt Nam trong trường kỳ lịch sử, mà biểu hiện tập trung nhất là ở việc toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân là nòng cốt.

Thứ hai, đó là đối tượng chiến thuật gồm quân Mỹ, quân đội Sài Gòn, quân một số nước đồng minh của Mỹ. Mỗi đối tượng có đặc điểm riêng nhưng cũng có điểm chung như vũ khí, trang bị, quân số, hỏa lực, sức cơ động, đảm bảo hậu cần vượt trội, song lý tưởng và tinh thần chiến đấu lại non kém.

Thứ ba, đó là lòng dân ở hậu phương và nơi tiền tuyến cũng như trong vùng địch kiểm soát luôn hướng về cách mạng, một lòng đi theo Đảng, thể hiện dưới nhiều hình thức giúp đỡ, chở che, nuôi giấu bộ đội và tham gia phục vụ chiến đấu và chiến đấu; lực lượng vũ trang được tổ chức, xây dựng và tăng cường theo một đường lối đúng đắn, có ý chí, quyết tâm, kinh nghiệm và sức sáng tạo trong chiến đấu.

Thứ tư, địa hình, thời tiết, khí hậu khá phức tạp, hình thành nhiều vùng khác nhau, tác động tới chiến thuật của các bên tham chiến. Dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển, lực lượng vũ trang giải phóng đã khéo lợi dụng và khai thác tốt điều kiện địa hình, thời tiết khí hậu để phục vụ cho ý đồ chiến thuật của mình.


Căn cứ vào những yếu tố tác động có liên quan (so sánh lực lượng hai bên, đối tượng tác chiến...) và sự vận dụng, phát triển của các loại hình chiến thuật, có thể phân chia quá trình phát triển của chiến thuật thời kỳ này thành ba giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất, từ phong trào Đồng khởi đến đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt (1961-1965). Trong giai đoạn này, bộ đội giải phóng trên chiến trường miền Nam chủ yếu vận dụng các hình thức chiến thuật đã được tổng kết trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là chiến thuật vận động tiến công, đánh địch đô bộ đường không, tập kích.

Giai đoạn thứ hai, giai đoạn đánh thắng chiến lược chiến tranh cục bộ (1965 - 1968). Trước đối tượng có quân số đông, vũ khí trang bị dồi dào, hiện đại, có hỏa lực và sức cơ động cao, lại chiếm ưu thế áp đảo trên biển, trên sông, trên không nên trong giai đoạn này, để đương đầu và đánh bại địch, Đảng chủ trương đẩy mạnh đánh đêm và đánh gần, “bám thắt lưng Mỹ mà đánh”. Vì vậy, ở miền Nam, hình thức chiến thuật mà lực lượng vũ trang vận dụng và phát triển rộng rãi là tập kích (chiếm 54,14% trong tổng số trận đánh), vận động tiến công (thường là vận động tiến công kết hợp chốt), phục kích.

Giai đoạn thứ ba, giai đoạn đánh thắng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" (1969 - 1975). Trong giai đoạn này, lực lượng vũ trang trên chiến trường vận dụng và phát triển các loại hình chiến thuật như tập kích, vận động tiến công địch đang cơ động, tạm dựng hoặc mới chuyển vào phòng ngự nhưng chưa có công sự vững chắc; tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc,...


Trong giai đoạn từ 1961 - 1975, chiến thuật của lực lượng vũ trang cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ có sự phát triển liên tục, mạnh mẽ, với những hình thức và thủ đoạn chiến thuật chủ yếu như:

Chiến thuật của chiến tranh du kích là hình thức chiến thuật cơ bản trong hoạt động đấu tranh vũ trang của đông đảo quần chúng cách mạng, bao gồm cả lực lượng vũ trang ở các thôn, ấp, bản, xã, xí nghiệp, thị trấn, thành phố và những đơn vị vũ trang tập trung như của các địa phương và một số đơn vị chủ lực hoạt động phân tán. Cách đánh của các lực lượng này là sử dụng lực lượng nhỏ, cơ động, linh hoạt, bằng mọi loại vũ khí sẵn có, tổ chức đánh tỉa, phục kích, tập kích nhỏ lẻ, phá hủy phương tiện và trang bị, vũ khí, cơ sở hậu cần, hệ thống đường giao thông, sở chỉ huy, đồn, bốt của địch...

Chiến thuật tác chiến chính quy (của đánh tập trung) là hình thức sắp xếp, tổ chức các trận chiến đấu do lực lượng vũ trang tập trung đóng vai trò chủ yếu (trong tác chiến hiệp đồng). Các trận chiến đấu này gồm các hình thức: chiến đấu tiến công, phản công, phòng ngự, trong đó, phản cộng và tiến công là hình thức tác chiến chủ yếu, cơ bản nhằm tiêu diệt địch, giải phóng dân, giành đất, hoàn thành nhiệm vụ của chiến dịch hoặc chiến lược...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #67 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2021, 08:18:45 pm »

Chiến thuật trong kháng chiến chống Mỹ gồm có các đặc trưng chủ yếu sau:

Một là, chiến thuật phát huy ưu thế chính trị - tinh thần của lực lượng vũ trang cách mạng, xem đó là một trong những nhân tố cơ bản để khắc phục mọi thiếu thốn, khó khăn về vũ khí, phương tiện chiến tranh, đảm bảo hậu cần; để xây dựng và củng cố ý chí, quyết tâm chiến đấu, là điều kiện thiết yếu để vận dụng sáng tạo và phát triển các hình thức chiến thuật trong các tình huống mới của cuộc chiến. Chính vì thế, công tác đảng, công tác chính trị trước, trong và sau mỗi trận đánh được lãnh đạo, chỉ huy đặc biệt chú ý nhằm xây dựng ý chí và quyết tâm chiến đấu cao, phát huy mạnh mẽ bản lĩnh chiến đấu, tính năng động, sức sáng tạo, sự linh hoạt của từng người, từng bộ phận để tạo nên sức mạnh to lớn của quân đội ta.

Hai là, chiến thuật tiến công kiên quyết, phòng thủ kiên cường, buộc địch phải đánh theo cách của mình, chủ động lựa chọn địa điểm, thời gian tác chiến. Các trận chiến đấu thời kỳ này thường được thực hiện vào ban đêm là lúc đối phương khó quan sát, lực lượng vũ trang cách mạng dễ che giấu lực lượng, có điều kiện áp sát mục tiêu để tạo thế bất ngờ. Ngoài ra, khi quân Mỹ vào tham chiến, cách đánh của lực lượng vũ trang cách mạng là đánh gần, đánh quần lộn, “bám thắt lưng Mỹ mà đánh”, không cho địch phân tuyến và chính cách đánh này ta đã hạn chế ưu thế về vũ khí, hỏa lực, phương tiện chiến tranh dồi dào, hiện đại vốn là ưu thế của đối phương. Lối đánh tiến công kiên quyết và chủ động, phòng thủ kiên cường của bộ đội giải phóng đã làm cho chiến thuật của đối phương bị “chéo giò”, bị động, chắp vá, kém hiệu quả vì quân Mỹ, quân đồng minh và quân Sài Gòn được huấn luyện để tiến hành chiến tranh theo loại hình “chiến tranh quy ước” - kiểu chiến tranh phân vùng, phân tuyến rõ rệt, lực lượng của hai bên dàn thành trận tuyến...

Ba là, chiến thuật phát huy mạnh mẽ tính mưu trí, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ ta, chú trọng công tác nắm tình hình địch, khéo tạo và vận dụng thời cơ để đánh bất ngờ, kiên quyết, táo bạo và dũng mãnh, nhằm vào chỗ sơ hở, hiểm yếu của đối phương. Tất cả điều đó đảm bảo cho mỗi trận đấu, lực lượng vũ trang cách mạng đánh địch trên thế mạnh, thế bất ngờ, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy ý chí, trí tuệ của mình để thắng vũ khí và phương tiện chiến tranh của đối phương.

Bốn là, chiến thuật hiệp đồng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ), hiệp đồng các binh chủng, quân chủng là chiến thuật kết hợp tính linh hoạt, táo bạo, bí mật, bất ngờ của cách đánh du kích với tính tổ chức, kỷ luật, “bài bản” và kiên quyết của cách đánh tập trung, chính quy. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cùng với tốc độ phát triển của cuộc chiến tranh và gắn với các bước trưởng thành, lớn mạnh của lực lượng vũ trang cách mạng, sự kết hợp, hiệp đồng trên đây diễn ra ngày càng nhịp nhàng, hiệu quả trên cơ sở mỗi chiến sĩ, mỗi bộ phận, mỗi đơn vị đều phát huy tính độc lập và chủ động của mình để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao.


Như vậy, chiến thuật của chiến tranh cách mạng miền Nam có bước phát triển mạnh mẽ, sinh động. Đó là sự kết hợp nhiều phương pháp, hình thức đánh địch, sử dụng mọi lực lượng, mọi thứ vũ khí, trang bị hiện có; tận dụng mọi điều kiện thời tiết và địa hình; đánh địch trong mọi tình huống, ở mọi nơi, và mọi lúc... Lối đánh đó dựa vào tính năng động, trí thông minh, sự sáng tạo và lòng dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân; dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân phát triển ở cả ba vùng chiến lược và dựa vào sự che chở, đùm bọc, giúp đỡ, tham gia hiệu quả của nhân dân các địa phương.


Nghệ thuật quân sự Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có một số đặc điểm chủ yếu sau đây:

Đó là nghệ thuật quân sự của toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân làm nòng cốt, trong cuộc chiến tranh nhân dân phát triển cao ở cả ba vùng chiến lược, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao;

Đó là nghệ thuật quân sự lấy nhỏ thắng lớn; lấy chất lượng cao thắng số lượng đông; lấy trang bị, vũ khí ít hơn và kém hiện đại hơn đánh thắng quân địch có trang bị kỹ thuật dồi dào và hiện đại;

Đó là nghệ thuật kết hợp lực lượng, thế, thời tạo thành thế mạnh, đánh địch bất ngờ;

Đó là nghệ thuật phát huy ưu thế về chính trị - tinh thần, kết hợp với quyết tâm, ý chí, bản lĩnh và trí tuệ để tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn;

Đó là nghệ thuật tác chiến chiến lược, chiến dịch, chiến đấu; buộc đối phương phải đánh theo cách đánh do bộ đội giải phóng định ra.


Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, có thể thấy, quân và dân Việt Nam đã giải quyết thành công những vấn đề cơ bản thuộc về nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao trong cuộc đụng đầu lịch sử với đội quân nhà nghề Mỹ và đồng minh của Mỹ, cả ở trên bộ, trên không, trên sông, trên biển. Lòng yêu nước của nhân dân, niềm tin vào sức mạnh và sự sáng tạo của quân, dân Việt Nam đã xây dựng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng hoàn chỉnh và vững chắc trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị). Đó là thế trận xen cài giữa vùng giải phóng và vùng địch kiểm soát, bao gồm những cơ sở cách mạng, căn cứ, khu du kích, vùng giải phóng, vùng căn cứ được xây dựng thành hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam, thành địa bàn triển khai các lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị một cách hợp lý trên khắp các vùng chiến lược. Đặc biệt, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn được xây dựng và không ngừng mở rộng, vươn sâu, vươn xa về phía nam và tới các chiến trường, chẳng những nối liền hậu phương lớn miền Bắc với hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam, mà còn nối vùng Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ thành thế trận liên hoàn, thành căn cứ đứng chân của các binh đoàn chủ lực. Thế trận đó buộc Mỹ và quân đội Sài Gòn phải sử dụng một bộ phận binh lực quan trọng để đối phó. Trên thực tế, trong những năm kháng chiến chống Mỹ, chỉ riêng việc ba khối chủ lực mạnh đứng chân ở Tây Trị Thiên, Trường Sơn - Tây Nguyên và Đông Nam Bộ cũng đã tạo nên thế uy hiếp thường xuyên đối với địch trên toàn chiến trường miền Nam. Rõ ràng, thế trận chiến tranh nhân dân ở miền Nam là thế trận liên hoàn và rất hiểm hóc. Thế trận đó cho phép quân và dân miền Nam thực hành chiến lược tiến công đối phương rộng khắp, liên tục, ngày càng mạnh mẽ cả về quân sự và chính trị, bằng nhiều hình thức, với những vũ khí có trong tay. Bị bao vây, chia cắt, bị tiến công liên tục mọi nơi, mọi lúc, Mỹ và quân đội Sài Gòn buộc phải dàn mỏng lực lượng để đối phó, khiến cho ưu thế về quân số, hỏa lực, sức cơ động của chúng bị hạn chế trước sự vây hãm của thế trận đan cài, xen kẽ. Suốt cuộc chiến tranh, quân đội Sài Gòn luôn bị lâm vào tình thế giằng co, mâu thuẫn giữa chiếm đóng và cơ động, giữa phân tán và tập trung, giữa phòng giữ và tiến công, giữa “tìm diệt” và “bình định”.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #68 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2021, 08:19:23 pm »

Dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, quân và dân miền Nam đã phát triển và kết hợp lực lượng quân sự và chính trị, lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, phát triển và kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy. Chiến tranh du kích trong kháng chiến chống Mỹ phát triển đến trình độ cao, trở thành chiến tranh nhân dân địa phương, có tác dụng tiêu hao, tiêu diệt rộng rãi một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh; ghìm chặt đối phương trên các địa bàn chiến lược, buộc đối phương phải phân tán binh lực để chống đỡ, do đó bộc lộ sơ hở, tạo điều kiện cho các binh đoàn chủ lực của ta đẩy mạnh hoạt động. Nghệ thuật quân sự Việt Nam coi trọng phương thức tác chiến của các binh đoàn chủ lực, binh chủng hợp thành, coi trọng những trận đánh lớn, những chiến dịch gây thôi động mạnh, làm rung chuyển thế trận chiến lược của đối phương, tạo ra những bước ngoặt quyết định có lợi nhất trên cục diện chiến trường, cục diện chiến tranh. Từ những chiến dịch khởi đầu ở Ba Gia, Bình Giã, Đồng Xoài trong Xuân - Hè năm 1965 góp phần đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt, bộ đội chủ lực ta đã tiến lên mở các chiến dịch lớn như Plây Me, Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Quảng Trị, Bắc Tây Nguyên... Đặc biệt, giai đoạn kết thúc chiến tranh, bằng ba đòn tiến công chiến lược của lực lượng binh chủng hợp thành, quân và dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Để đánh bại lực lượng quân sự, qua đó bẻ gãy ý chí xâm lược của đối phương, nghệ thuật quân sự Việt Nam đã giải quyết thành công vấn đề chọn hướng tiến công trên tất cả các lĩnh vực chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Phong trào Đồng khởi mùa Xuân 1960, quân, dân miền Nam tiến công và nổi dậy đập tan chính quyền cơ sở ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn, đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công trên khắp ba vùng chiến lược. Mùa xuân 1968, quân, dân miền Nam đưa Mỹ và quân đội Sài Gòn vào “bẫy” ở Đường 9 - Khe Sanh và bất ngờ chuyển hướng tiến công chiến lược vào một loạt đô thị trên toàn miền Nam, đập tan tham vọng giành thắng lợi về quân sự của Mỹ. Mùa xuân 1972, quân, dân miền Nam sử dụng các binh đoàn chủ lực đánh mạnh và đập vỡ tuyến phòng ngự vòng ngoài vững chắc của địch ở Trị Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Mùa xuân 1975, quân giải phóng căng và ghìm chặt đối phương ở hai đầu chiến tuyến là Trị Thiên và Đông Nam Bộ; đồng thời tập trung binh lực tiến công mãnh liệt địch ở quãng giữa là Tây Nguyên, tiêu diệt Quân đoàn 2 và Quân khu 2 của quân đội Sài Gòn, cắt đôi thế trận chiến lược, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Cùng lúc đó, quân, dân miền Nam kịp thời sử dụng lực lượng giải phóng các đảo và quần đảo do quân đội Sài Gòn chiếm giữ, thu hồi phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.


Nghệ thuật tiến công trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không chỉ là nghệ thuật chọn hướng mà còn là nghệ thuật chọn mục tiêu, chọn hình thức và phương thức tiến công. Trên nền của cuộc chiến tranh nhân dân phát triển sâu rộng, quân và dân miền Nam ở khắp các chiến trường, địa phương đã sáng tạo những cách đánh đầy hiệu quả, nhằm vào những khu vực mục tiêu “yết hầu”, “huyết mạch”, “tim óc”, như hệ thống căn cứ quân sự - hậu cần - kỹ thuật, hệ thống giao thông, các cơ quan đầu não chỉ đạo của đối phương ở sâu trong các đô thị trên toàn miền...


Cách đánh đó dựa trên tính năng động, trí thông minh, lòng quả cảm và tài sáng tạo của quân và dân Việt Nam - những con người yêu nước thiết tha, chẳng những dám đánh mà còn biết đánh, biết thắng một cách có lợi nhất, phù hợp với truyền thống quân sự Việt Nam.


Trên vùng trời, vùng biển miền Bắc, những năm chống chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ, quân và dân ta đã xây dựng, phát triển mạnh mẽ thế trận chiến tranh nhân dân, hình thành lưới lửa phòng không tầm thấp, tầm trung và tầm cao. Dựa trên thế trận đó, quân, dân miền Bắc kết hợp chặt chẽ và nhịp nhàng phương thức tác chiến tại chỗ, rộng khắp của lực lượng phòng không, phòng thủ biển ba thứ quân với phương thức tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng của lực lượng phòng không chủ lực, đánh bại các bước leo thang chiến tranh của không quân, hải quân Mỹ.


Hình thành và phát triển trong cuộc chiến tranh cách mạng, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được nâng lên một tầm cao mới, trở thành nghệ thuật quân sự hiện đại Việt Nam - xét cả về bản chất, quy mô, cường độ cuộc chiến; cả về vũ khí và phương tiện chiến tranh cũng như việc giải quyết vấn đề chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật và kỹ thuật. Đó là nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, nghệ thuật kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, kết hợp giữa đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, kết hợp các nhân tố lực - thế - thời, đánh một cách bất ngờ, tạo nên sức mạnh đánh thắng lực lượng quân sự và các chiến lược chiến tranh, qua đó, góp phần quan trọng đánh bại ý chí xâm lược của đối phương, hoàn thành mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước.


Tựu trung lại, trên cơ sở kết hợp đúng đắn và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội với tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, truyền thống quân sự của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra và tổ chức thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân trong những điều kiện mới, tạo ra và nhân lên sức mạnh của cả dân tộc để đương đầu và đánh bại ý chí xâm lược của đối phương. Thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ vững chắc thành quả của Cách mạng Tháng Tám 1945, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do và chủ quyền lãnh thổ bắt nguồn trước hết từ đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, độc lập tự chủ của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là thắng lợi của tư tưởng chiến tranh nhân dân trong thời đại mới, thể hiện rõ ở những nội dung cơ bản: toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đủ sức đương đầu và đánh bại kẻ địch có sức mạnh gấp bội.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #69 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 07:58:08 pm »

Chương IV
VỪA KHÁNG CHIẾN, VỪA KIÊN QUỐC,
XÂY DỰNG CĂN CỨ ĐỊA - HẬU PHƯƠNG
VÀ NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN


I- VỪA KHÁNG CHIẾN, VỪA KIẾN QUỐC - VỪA CHIẾN ĐẤU, VỪA XÂY DỰNG

1. Mối quan hệ giữa “kháng chiến” và “kiến quốc”

Tư tưởng quân sự Việt Nam không tồn tại dưới dạng thức của những học thuyết chiến tranh thuần túy. Nghệ thuật quân sự Việt Nam luôn được đặt trong những mục tiêu quốc gia - dân tộc cụ thể, nằm trong một tổng thể chính trị nhất định.


Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam thường xuyên phải tiến hành các cuộc chiến tranh vệ quốc. Những cuộc chiến tranh vệ quốc đã trở thành một phần đời sống của dân tộc, tạo nên bản sắc văn hóa, cô đọng thành truyền thống quân sự - vừa giữ nước, vừa dựng nước. Trong thời kỳ 1945-1975, truyền thống ấy được thế hiện ở chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc của Đảng.


Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, tư tưởng “kháng chiến, kiến quốc”, vừa chiến đấu vừa xây dựng đồng nghĩa với việc vừa đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, vừa động viên toàn dân tích cực củng cố, bảo vệ chính qụyền, xây dựng chế độ mới ở miền Bắc, trong đó cần thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách nhất lúc bấy giờ như: cứu đói, chống nạn mù chữ, tổng tuyển cử, hợp hiến chính quyền do dân làm chủ; giáo dục phẩm chất con người Việt Nam mới; xóa bỏ những tàn dư của chế độ phong kiến; tuyên bô tự do tín ngưỡng và lương - giáo đoàn kết. Những nội dung cốt lõi nêu trên đã được cụ thế hoá trong Chương trình 10 điểm do Quốc dân Đại hội Tân Trào thông qua ngày 15-8-1945.


Khác với các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và các cuộc khởi nghĩa trong lịch sử dân tộc trước đó, càng khác xa các cuộc chiến tranh trên thế giới, cuộc kháng chiến 30 năm mà nhân dân Việt Nam tiến hành (1945-1975) thực chất là cuộc chiến tranh cách mạng nhằm tiếp tục thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng bằng chiến tranh và trong chiến tranh; vừa chiến đấu, vừa phục vụ kháng chiến, vừa đặt cơ sở để xây dựng đất nước về lâu dài. Quá trình vừa kháng chiến, vừa kiến quốc là “kháng chiến đuổi Tây giữ nưâc, kiến quốc là phát triển chế độ dân chủ mới ở Việt Nam về mọi mặt”1 (Văn kiện quân sự của Đảng 1945-1950, Sđd, t.3, tr.316); quá trình kết hợp kiến quốc trên cả nước với kháng chiến cục bộ và kết hợp kháng chiến với kiến quốc trên phạm vi cả nước.


Trong quá trình kháng chiến và kiên quốc, dẫu có những bước thăng trầm, thậm chí cả những vấp váp, nhưng tinh thần nhất quán trong tư tưởng vừa kháng chiến vừa kiến quốc được biểu hiện ở sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân; giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo. Đường lối đó là sự kết hợp hữu cơ giữa cách mạng và chiến tranh; chiến lược cách mạng và chiến lược chiến tranh; giữa phương pháp cách mạng và phương pháp tiến hành chiến tranh. Đường lối đó là sự tổng hòa của các quy luật cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và quy luật chiến tranh cách mạng.


Trong chiến tranh cách mạng, đấu tranh vũ trang luôn giữ vai trò quyết định, song nó không thể tách rời với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao. Sức mạnh vật chất và tinh thần để giành thắng lợi trong chiến tranh cách mạng Việt Nam chỉ có thể được tạo ra bởi sự tham gia của toàn dân, trên tất cả các mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế và văn hóa tư tưởng. Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng mỗi người dân Việt Nam bất kỳ già trẻ, trai gái, giàu nghèo, lớn nhỏ đều phải trở thành một chiến sĩ đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa...


Tư tưởng tự lực tự cường nằm trong tổng thể vừa kháng chiến vừa kiến quốc chính là biểu hiện bản chất của cuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng vừa kháng chiến vừa kiến quốc xác định phải dựa vào sức minh là chính. Sự nghiệp giải phóng dân tộc nằm trong tay của dân tộc; có tự lập mới có độc lập, có tự cường mới có tự do; một nước không tự cố gắng mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ, thì không thể giành được độc lập. Ngay từ khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng ta đã xác định “đem sức ta tự giải phóng cho ta”, dựa vào sức mình là chính nhằm chủ động đối phó với mọi tình huống của cuộc chiến. Không chỉ trong bối cảnh phải đơn thương độc mã chiến đấu trong vòng vây thời kỳ đầu kháng chiến mà ngay cả khi sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã được “phá vây” và nhận được sự giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Đảng ta vẫn đề cao tính độc lập trong hoạch định đường lối, chủ trương. Tinh thần tự lực cánh sinh, tự chủ được biểu hiện rõ nét trong quá trình điều hành công cuộc kháng chiến và kiến quốc.


Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam vừa là biểu tượng cho dân tộc Việt Nam, vừa là biểu tượng cho xu hướng tiến bộ ờủa nhân loại - thế giới, đồng thời đại diện cho cuộc đôi đầu giữa những lực lượng tiến bộ với những xu hướng thủ cựu đang khởi phát từ “trào lưu thực dân” của thế giới tư bản. Do đó, tư tưởng kháng chiến dựa vào sức mình là chính đòi hỏi phải biết huy động tối đa tiềm lực của đất nước, khoan thư sức dân và động viên toàn dân, nhưng đồng thời cũng phải biết tận dụng mọi cơ hội, mọi sự giúp đỡ từ bên ngoài bằng chiến lược đoàn kết quốc tế đúng đắn, mà trước hết là từ liên minh chiến đấu của ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia và từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Trong quá trình kháng chiến và kiến quốc, Đảng ta chủ trương đề cao và phát huy tối đa yếu tố nội lực, lấy nội lực làm cơ sở để sử dụng có hiệu quả các nhân tố ngoại lực. Nội lực và ngoại lực có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó yếu tố nội lực đóng vai trò quyết định. Thế và lực mạnh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam có sức lan tỏa và phát triển thuận lợi thì Việt Nam sẽ càng tranh thủ được nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM