Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Chín, 2021, 02:09:21 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 571 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2021, 09:50:12 am »

Mặc dù điều kiện còn rất khó khăn, Nhà nước Việt Nam vẫn đưa ra nhiều biện pháp nhằm ổn định đời sống nhân dân, đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách về sản xuất nông nghiệp, động viên, tổ chức mọi ngành, mọi giới, từ công nhân, nông dân, bộ đội, giáo viên, học sinh,... tham gia tích cực vào phát triển sản xuất theo khẩu hiệu: "thực túc binh cường", "ăn no đánh thắng". Đặc biệt, chính sách giảm tô 25% của Nhà nước, ban hành từ tháng 11-1945, đã có tác dụng động viên nhân dân hăng hái sản xuất, đấu tranh với địa chủ phong kiến để bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của mình. Ruộng đất tịch thu được của Việt gian, địa chủ, thực dân được phân chia cho nông dân. Để bảo vệ mùa màng, giữ vững sản xuất trước thiên tai cũng như sự đánh phá của địch, Chính phủ đã động viên các tầng lớp nhân dân tích cực cải tạo các công trình thủy lợi. Bộ đội và du kích các địa phương đẩy mạnh hoạt động đánh địch, giúp bà con nông dân bảo vệ mùa màng cũng như thu hoạch sản xuất, cất giấu thóc gạo phục vụ kháng chiến. Đối với công nghiệp và thủ công nghiệp, Nhà nước chủ trương tập trung xây dựng và phát triển những ngành tối cần thiết cho công cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam (như vải, giấy, muối, xà phòng, diêm,...). Đồng bào tản cư theo kháng chiến được thu xếp hợp lý, nhanh chóng ổn định đời sống. Tính đến tháng 6-1947, ta đã tổ chức được hơn 200 trại sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với trên 40.000 nhân khẩu. Phong trào Bình dân học vụ tiếp tục được đẩy mạnh nhằm thanh toán nạn mù chữ trong nhân dân. Nhiều trường mới được xây dựng đã thu hút học sinh đến trường. Một số cơ sở đại học và trung học từ thành phố chuyển lên tiếp tục được dược duy trì. Đến cuối năm 1967, nhiều tỉnh đã thực hiện xóa xong nạn mù chữ cho 60-70% đồng bào. Nhà nước cũng chú trọng các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, xây dựng đời sống mới. Những thành tựu đó có ý nghĩa rất to lớn đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Nó cho thấy thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng trên nền tảng sức mạnh toàn dân, đã trở thành cơ sở vững chắc cho quân và dân Việt Nam càng đánh càng mạnh, bẻ gẫy các cuộc tiến công của đối phương.


Năm 1946 là thời điểm rất đặc biệt của lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử quân sự Việt Nam hiện đại nói riêng. Đó là giai đoạn thiết lập một hệ thống Đảng - Nhà nước - Quân đội - Nhân dân của nước Việt Nam mới. Nói cách khác, đó là thời điểm hình thành nước Việt Nam với hệ thống chính trị độc lập - tự chủ. Bao giờ cũng vậy, những tính chất của một quốc gia - dân tộc - cộng đồng thường được xác lập, củng cố và phát triển dựa trên những nền tảng đặt định bước ngoặt của quốc gia - dân tộc - cộng đồng ấy. Ngay từ buổi sơ khai của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, những hoạt động quân sự đã gắn liền, bổ sung và tỏa rộng trên nền tảng cách mạng, toàn dân, toàn diện. Tính chất ấy gắn liền với một nhà nước kháng chiến để đi đến thế chiến tranh nhân dân của dân tộc Việt Nam, chính từ đó tạo nên sức mạnh vô địch chiến thắng những thế lực lớn mạnh nhất của thế giới tư bản trong thế kỷ XX.


Từ khi lực lượng kháng chiến rút khỏi các đô thị, thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm một số thành phố, thị xã. Tuy nhiên, Chính phủ kháng chiến vẫn không bị tiêu diệt, cuộc chiến tranh phải kéo dài. Trong khi đó, nước Pháp, phải đối mặt với những vấn đề khó khăn về kinh tế, tài chính, chính trị - xã hội... Cuộc đấu tranh của những tầng lớp nhân dân Pháp nhằm cải thiện quyền dân sinh, dân chủ ngày càng bùng lên mạnh mẽ buộc Chính phủ Pháp phải ứng phó. Bên cạnh đó, Chính phủ Pháp vẫn chủ trương tăng cường sức mạnh quân sự hòng "thiết lập" chế độ cai trị của Pháp tại các thuộc địa cũ của mình, trong đó có Đông Dương.


Tháng 3-1947, tướng Bôlae1 (Bôlae (Bollaert) đã có cuộc gặp với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thị xã Thái Nguyên để trao đổi về điều kiện ngừng bắn hai phía Việt - Pháp. Ông ta đưa ra 4 điều kiện ngừng bắn: (1) Quân đội Việt Nam phải nộp vũ khí cho Pháp; (2) Quân đội Pháp được quyền tự do đi lại trên đất nước Việt Nam; (3) Chính phủ Việt Nam phải trả lại cho Pháp những người bị bắt; (4) Chính phủ Việt Nam phải trao trả cho Pháp những người nước ngoài đã chạy sang phía Việt Nam) được cử sang giữ chức Cao ủy Pháp tại Đông Dương thay tướng Đácgiăngliơ. Với trọng trách được giao là sử dụng mọi biện pháp cần thiết để tiêu diệt cơ quan đầu não của Việt Minh để nhanh chóng kết thúc chiến tranh, Bôlae một mặt tập hợp tay chân để thành lập chính phủ bù nhìn do Bảo Đại đứng đầu2 (Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vua Bảo Đại (Vĩnh Thụy) thoái vị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời ông ra Hà Nội làm cố vấn cho Chính phủ cách mạng. Lợi dụng việc được Chính phủ cách mạng cử đi sang Trung Quốc điều đình ngoại giao, cố vấn Vĩnh Thụy đã ở lại nước ngoài và rồi sau đó hợp tác với Pháp), mặt khác, tiếp tục tích cực chuẩn bị mọi mặt nhằm tiến công lên Việt Bắc, phá tan cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực Việt Minh, thực hiện khoá chặt biên giới Việt - Trung, nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh, lập lại "hoà bình" ở xứ Đông Dương.


Trên cơ sở đó, ngày 7-10-1947, thực dân Pháp huy động 12.000 quân tấn công Việt Bắc. Quân, dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng đã bố trí sẵn thế trận, tổ chức tiến công quân địch ngay khi chúng vừa đặt chân lên căn cứ. Quân đội nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi lớn tại Khe Lau, Khoan Bộ, Đoan Hùng, Bông Lau, Chợ Đồn, Chợ Mới,... Những thất bại liên tiếp đã buộc đại quân Pháp phải rút chạy về Hà Nội vào ngày 19-12-1947. Cuộc hành quân lớn đánh lên căn cứ địa Việt Bắc của Pháp kết thúc.


Chiến dịch chống lại cuộc tiến công tham vọng của Pháp - chiến dịch Việt Bắc - đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch; phá hủy 16 máy bay, 11 tàu chiến và canô, hàng trăm xe các loại; thu giữ hơn 100 khẩu pháo và hàng ngàn khẩu súng các loại. Thắng lợi này có một ý nghĩa vô cùng quan trọng: đã đánh bại hoàn toàn chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của địch, buộc đối phương phải chuyên sang đánh lâu dài. Cơ quan đầu não kháng chiến của Việt Nam được bảo vệ; bộ đội chủ lực không những không bị tiêu diệt mà còn phát triển ngày càng lớn mạnh, tạo điều kiện cho kháng chiến củng cố toàn diện về mọi mặt bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2021, 09:51:40 am »

b) Giai đoạn từ đầu năm 1948 đến cuối năm 1950

Sau khi cuộc tiến công Việt Bắc thất bại, nhận thấy không thể kết thúc chiến tranh trong một thời gian ngắn, Pháp buộc phải chuyển sang đánh lâu dài, tăng cường đẩy mạnh chính sách "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Để thực hiện chính sách đó, Pháp cho quân xây dựng đồn bốt ở nhiều nơi, tăng cường mở các cuộc hành quân càn quét vùng tạm chiếm để vơ vét của cải, bắt lính phục vụ cho cuộc chiến tranh của chúng. Bên cạnh đó, Pháp tập trung lực lượng hành quân đánh ra vùng giải phóng, nhất là những địa bàn đông dân, nhiều của ở trung du và đồng bằng. Mặt khác, Pháp còn sử dụng chiêu bài lập "chính phủ quốc gia", thực chất là tập hợp lực lượng thân Pháp thành lập một chính phủ làm công cụ chính trị. Với những kế hoạch đó, trong nửa đầu năm 1948, Pháp đã thu được một số kết quả nhất định: phong trào chiến tranh du kích ở một số địa phương giảm sút, trên một số địa bàn ta bị mất đất, mất dân,...


Trước những âm mưu và hành động mới của Pháp, Đảng và Chính phủ chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích. Những cán bộ đã trải qua thử thách, có nhiều kinh nghiệm, được tăng cường đến các vùng bị địch chiếm. Chỉ tính từ Liên khu 5 trở ra, 1/3 cán bộ, bộ đội chủ lực được phân tán thành các đơn vị nhỏ (những đại đội độc lập) đi sâu vào các vùng sau lưng địch, vừa tiến hành tác chiến, vừa vận động nhân dân, tham gia bồi dưỡng, dìu dắt lực lượng vũ trang và nửa vũ trang địa phương, xây dựng và bảo vệ các cơ sở kháng chiến.


Phong trào cách mạng ngày càng chuyển biến mạnh mẽ, nhất là các vùng sau lưng địch. Tại nông thôn, phong trào đấu tranh chống thu thóc, chống bắt lính, chống nộp thuế, đi phu,... diễn ra rất sôi nổi. Tình đoàn kết quân dân ngày càng gắn bó. Nhân dân đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội, du kích tiến hành các hoạt động trừ gian, diệt ác, bao vây đồn địch, vận động binh lính người Việt tham gia quân đội xâm lược trỏ về với nhân dân, với cách mạng,... Nhờ có chủ trương đúng đắn, lực lượng kháng chiến ngày càng lớn mạnh, tổ chức được nhiều cuộc tiến công gây chấn động đối với địch1 (Quân dân Tú Hộ (Hưng Yên) đã dùng đòn gánh, dao, cuốc đánh địch ngay giữa chợ. Tại Hải Dương, phụ nữ Cẩm Giàng dùng đòn gánh đánh Tây. Ở Thừa Thiên, quân dân Phú Vinh đã lừa bắt sống địch, thu nhiều vũ khí... Trên các trục đường giao thông quan trọng, quân dân Việt Nam tổ chức nhiều cuộc phục kích tiêu diệt địch, tiêu biểu là trận phục kích La Ngà (tháng 3-1948) trên đường 20 (Sài Gòn - Đà Lạt), đã tiêu diệt cả đoàn 60 xe quân sự và trên 150 tên địch). Phát huy những kết quả đạt được, dân quân du kích đẩy mạnh các hoạt động chống càn, bảo vệ làng mạc. Quần chúng nhân dân đã sáng tạo nhiều hình thức đánh địch như đào hầm bí mật, giao thông hào, làm hầm chông, đặt bẫy, xây dựng làng chiến đấu... Các đội du kích ngày càng phát triển, góp phần quan trọng đánh bại các cuộc hành quân lớn của Pháp. Phối hợp với các hoạt động trên, từ tháng 1-1948, thực hiện chủ trương của Đảng, nhiều địa phương đã phát động phong trào phá tề. Đến cuối năm 1948, phong trào tổng phá tề2 (Tổng phá tề thực chất là cuộc nổi dậy đồng loạt của nhân dân ở vùng sau lưng địch, có sự hỗ trợ và phối hợp của lực lượng vũ trang dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của các cấp ủy đảng nhằm làm thất bại âm mưu bình định của Pháp) được phát triển mạnh mẽ, nhất là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Phong trào phá tề đã thu được những kết quả to lớn, tạo điều kiện cho chiến tranh du kích phát triển, làm cho nhân dân thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.


Bên cạnh việc đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh đã chủ trương cho bộ đội tích cực tập đánh vận động1 (Đây là hoạt động tác chiến chủ yếu được tiến hành ngoài hệ thống trận địa. Đặc điểm nổi bật của đánh vận động là: biến động cao, khẩn trương, diễn biến mau lẹ) nhằm tăng cường khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực, hỗ trợ cho các phong trào cách mạng khác phát triển. Ngày 18-3-1948, Quân đội nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Nghĩa Lộ (Tây Bắc), giải phóng thị trấn Nghĩa Lộ và bức rút 7 vị trí khác của đối phương. Ngày 1-6-1948, chiến dịch Yên Bình bắt đầu, tiêu diệt đồn địch ở Phố Ràng và hơn 300 tên địch. Trong thời gian từ 1949-1950, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục mở một số chiến dịch tiến công địch như chiến dịch Lào - Hà (cuối tháng 2-1949) tiêu diệt vị trí Phố Lu và bản Lầu, bức rút 22 vị trí của địch, giải phóng hơn 22.789 km2; chiến dịch Đông Bắc (từ tháng 3 đến tháng 5-1949) phá hủy 53 xe quân sự của địch ở Lũng Phầy.


Phối hợp với các hoạt động quân sự, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng trong các đô thị lớn cũng ngày càng phát triển. Nhiều cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống khủng bố,... đã nổ ra liên tục trên cả nước. Bước sang năm 1950, phong trào này bùng lên mạnh mẽ, tiêu biểu như cuộc biểu tình của 2.000 học sinh, sinh viên ở Sài Gòn - Chợ Lớn ngày 9-1-1950, hay cuộc biểu tình của 300.000 đồng bào Sài Gòn ngày 19-3-1950.


Xây dựng và tăng cường thực lực của cuộc kháng chiến, Đảng và Chính phủ chủ trương củng cố chính quyền dân chủ nhân dân từ Trung ương đến địa phương. Năm 1948, tại Nam Bộ, lần đầu tiên tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân từ cấp xã đến cấp tỉnh, được tổ chức tại những vùng giải phóng. Tại Bắc Bộ và Trung Bộ, Hội đồng nhân dân các địa phương đi vào hoạt động có nền nếp. Những nơi quân Pháp đánh phá dữ dội hay trong vùng địch tạm chiếm, chính quyền cách mạng vẫn từng bước được củng cố. Bước sang năm 1950, Đảng chủ trương kiện toàn nhà nước dân chủ nhân dân theo hướng "mạnh mẽ, nhanh chóng, quyết đoán, thống nhất, tập trung", đáp ứng được yêu cầu "điều khiển chiến tranh và kiến thiết chế độ dân chủ nhân dân".


Để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, hai mặt trận là Việt Minh và Liên Việt đã thu hút đông đảo nhân dân thuộc đủ mọi thành phần tham gia. Đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới, Đảng chủ trương thống nhất hai tổ chức mặt trận này. Ở ngoài nước, bà con Việt kiều hăng hái tham gia vào các tổ chức cứu quốc, tích cực đóng góp vật chất cho cuộc kháng chiến của đồng bào trong nước, đồng thời tích cực đấu tranh làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ tính chất chính nghĩa, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Mặt trận dân tộc thống nhất thực sự trở thành một trong những trụ cột của nhà nước dân chủ nhân dân, là một áo giáp vững bền, góp phần phá tan âm mưu chính trị "chia để trị" của thực dân Pháp.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2021, 09:52:32 am »

Trên mặt trận kinh tế, bên cạnh việc tăng cường đấu tranh để bảo vệ mùa màng, thóc gạo; kiểm soát việc giao lưu hàng hoá giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm..., chính quyền đồng thời ra sức phát triển nền kinh tế kháng chiến có khả năng đáp ứng nhu cầu chiến tranh. Tháng 3-1948, Đảng, Chính phủ phát động phong trào thi đua ái quốc, đẩy mạnh sản xuất. Nhằm tạo ra động lực mới cho sản xuất, Đảng và Chính phủ tiếp tục thực hiện một số chính sách khuyến nông. Năm 1949, Chính phủ ra sắc lệnh giảm tô 25%, sắc lệnh chia lại ruộng đất công, tạm cấp ruộng đất của đế quốc, Việt gian, ruộng bỏ hoang cho nông dân. Năm 1950, Chính phủ ban hành sắc lệnh giảm tức, xoá nợ và hoãn nợ của nông dân vay địa chủ, ban hành quy chế lĩnh canh nhằm bảo vệ quyền lợi cho tá điền. Nhờ có những chủ trương, chính sách nêu trên, diện tích và sản lượng nông nghiệp đều tăng. Năm 1950, tính từ Liên khu 4 trở ra, tổng sản lượng lúa ở vùng tự do và căn cứ du kích đạt 2.414.830 tấn.


Đảng và Chính phủ chủ trương đẩy mạnh xây dựng các cơ sở công nghiệp quốc phòng nhằm phục vụ nhu cầu quân sự thiết yếu. Đến năm 1949, trên cả nước, chính quyên cách mạng đã xây dựng được 130 xưởng sản xuất vũ khí, 21 cơ sở quân dược, 20 cơ sở sản xuất quân nhu đáp ứng một phần nhu cầu về thuốc men và quần áo cho bộ đội. Vượt lên trên những điều kiện khó khăn, gian khổ, nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh và phát huy tính sáng tạo, cán bộ, công nhân viên quốc phòng đã sản xuất được một số loại vũ khí như SKZ, ống phóng bom, súng cối 60 ly và 120 ly... Bên cạnh đó, chính quyền đẩy mạnh phát triển các cơ sở công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và các mặt hàng nhu yếu phẩm như dệt vải, xà phòng, làm giấy, thuộc da, bào chế thuốc....


Trên mặt trận văn hoá, chính quyền nhân dân vừa đấu tranh để xoá bỏ tàn dư văn hoá phong kiến, vừa tích cực xây dựng nên văn hoá mới theo phương châm “dân tộc - khoa học - đại chúng”. Tại Hội nghị văn hoá toàn quốc năm 1948, Tổng Bí thư Trường Chinh đọc bản báo cáo quan trọng Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam, định hướng xây dựng và phát triển nền văn hoá của đất nước. Các ngành văn học, nghệ thuật ngày càng bám sát nhu cầu kháng chiến, lấy đối tượng phục vụ là quần chúng nhân dân và bộ đội, du kích, tích cực phục vụ kháng chiến. Những quan điểm nghệ thuật đi ngược lợi ích kháng chiến được đấu tranh và khắc phục. Đông đảo văn nghệ sĩ nhanh chóng hoà nhập vào cuộc sống sôi động của cả dân tộc, sẵn sàng vượt qua những thử thách, khó khăn để phục vụ kháng chiến, và họ đã trở thành những chiến sĩ thực thụ trên mặt trận văn hoá.


Mặc dù cuộc kháng chiến đang trong giai đoạn khó khăn nhưng phong trào xoá nạn mù chữ tiếp tục có bước phát triển, giáo dục phổ thông không ngừng được mở rộng. Nhiều địa phương, nhân dân đã tổ chức quyên góp tiền bạc lập các hội bảo trợ Bình dân học vụ, quỹ học bổng giúp học sinh nghèo. Cuối năm 1950, đã có 7.500 thôn của 1.500 xã ở 10 tỉnh hoàn thành xoá nạn mù chữ. Về giáo dục phổ thông, đến cuối năm 1950, riêng Liên khu Việt Bắc có 950 trường tiểu học, 16 trường trung học; tại Liên khu 5, phần lớn các huyện có trường cấp II và tỉnh có trường cấp III. Chương trình giáo dục phổ thông được cải tiến theo nội dung dân tộc - dân chủ - nhân dân. Một số trường trung học chuyên nghiệp và đại học được mở ngay tại chiến khu Việt Bắc (Đại học Sư phạm, Đại học Y - Dược).


Chính quyền cách mạng chú trọng công tác phát triển y tế, thực hiện vệ sinh phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho nhân dân. Với phương châm phòng bệnh là chính, cuộc vận động thực hiện "ba sạch" (ăn sạch, uống sạch, ở sạch) được phát động rộng rãi. Hệ thống cơ sở y tế từ tỉnh đến xã được xây dựng và củng cố thực hiện khám, chữa bệnh cho nhân dân.


Giữa lúc quân và dân Việt Nam đang đẩy mạnh cuộc kháng chiến và giành thắng lợi trên nhiều lĩnh vực thì tình hình thế giới có nhiều diễn biến, có ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Năm 1949, cách mạng Trung Quốc thắng lợi và ngày 1-10-1949, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời. Từ tháng 1-1950, các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam, góp phần tăng vị thế và uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên trường quốc tế. Cùng lúc đó, cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước Lào và Campuchia cũng có bước phát triển quan trọng: tháng 6-1950, Ủy ban Dân tộc giải phóng Campuchia được thành lập; tháng 8-1950, Chính phủ kháng chiến Pathét Lào ra đời và cùng với Mặt trận Neo Lào - Ítxala lãnh đạo nhân dân đoàn kết cứu nước. Trong khi đó, phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ Pháp và nhân dân các thuộc địa của Pháp ngày càng dâng cao khiến chính quyền Pháp lúng túng về kinh tế, tài chính... Lợi dụng lúc thực dân Pháp gặp khó khăn, Mỹ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương, tích cực giúp Pháp triển khai Kế hoạch Rơve (Revers) nhằm "khoá chặt biên giới Việt - Trung"1 (Thực hiện kế hoạch này, Pháp cho tăng cường hệ thống phòng ngự trên đường số 4, đồng thời thiết lập "hành lang đông - tây" (Hải Phòng - Hà Nội - Hòa Bình - Sơn La) nhằm cắt đứt sự liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4).


Tranh thủ thuận lợi, khắc phục khó khăn để đưa cuộc kháng chiến bước sang một giai đoạn mới, tháng 6-1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; khai thông biên giới Việt - Trung, mở đường liên lạc trực tiếp giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc. Trải qua gần một tháng (từ ngày 16-9 đến ngày 14-10-1950) chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi. 8.300 tên địch bị tiêu diệt hoặc bắt sống, thu trên 3.000 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh, giải phóng hoàn toàn khu vực biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập, phá bỏ thế bao vây cả trong lẫn ngoài của đối phương đối với căn cứ địa Việt Bắc. Với chiến thắng này, quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ đã về tay lực lượng vũ trang cách mạng, mở ra bước ngoặt chuyển cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam từ hình thái chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy; kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích ở trình độ cao hơn.


Sau năm 1950, các loại hình chiến tranh chính quy và du kích phát triển ở một mức độ mới, kết nối với những phong trào chính trị được phát động trên diện rộng ở nông thôn. Đây cũng là bước tiến mới về công tác tổ chức mặt trận chính trị kết hợp với mặt trận quân sự ở cơ sở và liên vùng.


Bên cạnh đó, đường lối kháng chiến được triển khai ngày càng đi vào quy củ, các cơ sở cách mạng - kháng chiến và dân - quân địa phương ngày càng hoạt động hiệu quả, thúc đẩy thế chiến tranh nhân dân tiến một bước quan trọng. Nhờ gắn chặt một cách hữu cơ với các hoạt động kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa - xã hội, mặt trận quân sự đã phát triển từng bước vững chắc và đạt những thành tựu có tính nền tảng, thúc đẩy nêu trên. Sự thống nhất về tư tưởng - đường lối - quan điểm chỉ đạo trên mọi phương diện cùng sự gắn kết trong triển khai trên thực tiễn là nhân tố quan trọng tạo nên đặc tính của cách mạng Việt Nam nói chung và tính chất của nền quân sự Việt Nam nói riêng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2021, 09:54:06 am »

c) Giai đoạn từ tháng 1-1951 đến tháng 7-1954

Sau thất bại tại mặt trận Biên giới Thu - Đông 1950, thực dân Pháp ngày càng lâm vào tình trạng khó khăn và phải tiếp tục nhờ đến sự viện trợ của Mỹ để theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Tháng 12-1950, Pháp cử tướng Đờ Lát Đờ Tátxinhi làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Tướng Đờ Lát đề ra một kế hoạch mới gồm những điểm chính: 1- Gấp rút tập trung quân Âu - Phi để xây dựng một lực lượng cơ động chiến lược mạnh và ra sức phát triển quân đội người Việt; 2- Lập tuyến phòng thủ boongke và một "vành đai trắng" bao quanh khu vực trung du và đồng bằng Bắc Bộ nhằm cô lập căn cứ địa Việt Bắc với vùng địch tạm chiếm; 3- Đánh phá ác liệt các căn cứ và hậu phương của Việt Minh, chuẩn bị cho một cuộc tiến công lớn nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường. Thực hiện ý đồ chiến lược nêu trên, ngay trong tháng 12 và đầu năm 1951, Pháp ra sức triển khai kế hoạch mới và đã đạt được một số mục tiêu đề ra ban đầu1 (Pháp xây dựng được 7 tiểu đoàn cơ động chiến lược và 4 tiểu đoàn dù. Đến cuối năm 1951, tổng số quân Pháp trên chiến trường Đông Dương đạt 338.000 quân. Pháp đã cho xây dựng 113 vị trí (gồm 1.300 lô cốt) chạy dài từ Hòn Gai - Đông Triều - Lục Nam - Bắc Giang - Bắc Ninh - Vĩnh Phúc - Sơn Tây - Hà Đông - Ninh Bình do 20 tiểu đoàn Âu - Phi chiếm đóng. Ngoài ra, còn tăng cường các hoạt động tuyên truyền chống cộng sản, chống chính phủ kháng chiến...), gây cho lực lượng vũ trang Việt Nam một số thiệt hại. Cuộc chiến tranh ngày càng trở nên quyết liệt.


Trước tình hình mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi được đặt ra bức thiết. Nhằm đáp ứng yêu cầu đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II1 (Đại hội họp tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951. Tham dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 3 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 766.000 đảng viên trong cả nước) của Đảng được triệu tập vào tháng 2- 1951. Đại hội thông qua Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Hồ Chí Minh trình bày; Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam do Trường Chinh trình bày và thông qua Tuyên ngôn, Chính cương và Điều lệ mới của Đảng. Nội dung bao trùm của Đại hội là bàn về đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội thảo luận và quyết định nhiều chính sách về công tác xây dựng chính quyền nhân dân, xây dựng và phát triển quân đội, công tác tài chính, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân,... nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến về mọi mặt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Đảng ra hoạt động công khai với một Cương lĩnh chính trị phù hợp với yêu cầu thực tiễn đã góp phần tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng và cũng tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một trong những nhân tố then chốt dẫn đến thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến.


Trên lĩnh vực quân sự, trước những hành động chiến tranh mới của Pháp, Bộ Tổng tư lệnh đã đề ra phương châm tác chiến cho từng chiến trường. Tại chiến trường chính (Bắc Bộ), đẩy mạnh vận động chiến; tại các chiến trường khác, phải giữ vững và phát triển chiến tranh du kích nhằm kiềm chế đối phương và phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính, biến những vùng tạm chiếm thành căn cứ đánh địch, đặc biệt là giành những vùng đông dân, nhiều của, nhằm làm thất bại âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của Pháp.


Chấp hành chủ trương trên, cùng với việc đẩy mạnh chiến tranh du kích trên các chiến trường, quân và dân ta đẩy mạnh đánh vận động, liên tiếp mở những chiến dịch đánh vào phòng tuyến của Pháp ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ: chiến dịch Trung du (Trần Hưng Đạo) từ ngày 25-12-1950 đến ngày 17-1-1951, chiến dịch Đường số 18 (Hoàng Hoa Thám) từ 20-3 đến 7-4-1951, chiến dịch Quang Trung từ 28-5 đến 20-6-1951, chiến dịch Hoà Bình từ 10-12-1951 đến 25-2-1951, chiến dịch Tây Bắc từ 4-10 đến 10-12-1952. Những chiến dịch này đã góp phần đánh bại âm mưu mở rộng chiến tranh, tiêu diệt một bộ phận sinh lực đối phương, mở rộng vùng giải phóng. Qua chiến đấu, bộ đội Việt Nam rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Tuy nhiên, trong các chiến dịch đó, lực lượng vũ trang cách mạng không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định, có phần chủ quan, nóng vội, nên hiệu suất tiêu diệt đối phương không cao.


Bên cạnh việc đẩy mạnh hoạt động quân sự, Trung ương Đảng và Chính phủ còn tăng cường củng cố và phát triển hậu phương về mọi mặt, nhằm đáp ứng hơn nữa nhu cầu về nhân tài, vật lực cho tiền tuyến. Ngày 3-3-1951, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) hợp nhất, thành lập một mặt trận duy nhất lấy tến là Mặt trận Liên Việt. Mặt trận Liên Việt ra đời đánh dấu bước phát triển mới của khối đại đoàn kết toàn dân trong cuộc kháng chiến chống xâm lược và xây dựng chế độ mới. Bên cạnh đó, chính quyền nhân dân các cấp được kiện toàn về tổ chức, ổn định đi vào hoạt động, trở thành một công cụ sắc bén đủ sức động viên sức mạnh toàn dân tham gia kháng chiến, kiến quốc.


Để đẩy mạnh sản xuất lương thực, tăng cường tiềm lực kháng chiến, phong trào vận động sản xuất và tiết kiệm được phát động, thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Tại các vùng giải phóng, bà con nông dân tích cực khai khẩn ruộng đất, thâm canh, tăng vụ, phát triển trồng lúa kết hợp với hoa màu, chăn nuôi và các ngành nghề tiểu thủ công. Các đơn vị bộ đội, cơ quan, trường học đều dành quỹ đất lập các vườn tăng gia, tích cực giúp bà con nông dân gieo trồng, chống hạn, thu hoạch mùa màng,... Tại các vùng tạm chiếm, lực lượng vũ trang du kích tăng cường chiến đấu bảo vệ sản xuất cho nông dân. Nhiều cuộc đấu tranh chống địch càn quét, đánh phá làng xóm, hoa màu diễn ra quyết liệt ở khắp nơi.


Nhằm động viên nhân dân, đặc biệt là nông dân tích cực đẩy mạnh sản xuất, năm 1951, Chính phủ ban hành sắc lệnh về thuế nông nghiệp, thực hiện sự đóng góp công bằng và hợp lý trong các tầng lớp nhân dân, huy động một khối lượng lương thực cần thiết phục vụ cho tiền tuyến. Tiếp đó, năm 1953, Trung ương Đảng và Chính phủ phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức và tiến hành cải cách ruộng đất. Đến cuối năm 1953, tính từ Liên khu 4 trở ra, chính quyền cách mạng đã tạm cấp cho nông dân 184.434 ha ruộng đất của thực dân, địa chủ và ruộng bỏ hoang... Kết quả bước đầu khi thực hiện chủ trương này đã làm cho nông dân có thêm động lực sản xuất tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Năm 1953, chỉ tính từ Liên khu 4 trở ra, vùng tự do và vùng căn cứ du kích, sản lượng lương thực đã đạt 2.757.700 tấn thóc và 650.850 tấn hoa màu.


Ngành công nghiệp quốc phòng ngày càng được củng cố, đẩy mạnh sản xuất. Riêng năm 1953, toàn ngành đã sản xuất được 3.552 tấn vũ khí, đạn dược. Kế hoạch sản xuất thuốc men, quân trang, quân dụng cũng được đẩy mạnh.


Đảng và Chính phủ tăng cường xây dựng các ngành thương nghiệp, tài chính, ngân hàng. Tháng 6-1951, Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập, phát hành đồng tiền Việt Nam mới. Tiếp đó, các cửa hàng mậu dịch quốc doanh - mầm mống đầu tiên của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa - ra đời. Nhà nước ta căn bản đã cân bằng được thu - chi.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2021, 09:55:54 am »

Sự nghiệp văn hoá - giáo dục - y tế được quan tâm, chú trọng phát triển. Nhiều văn nghệ sĩ đã tham gia tiền tuyến, xông pha những nơi bom đạn, theo gót các chiến sĩ trên khắp các chiến trường, đi vào từng nhà máy, từng công xưởng, từng cánh đồng để phục vụ cho sản xuất. Đi sâu vào đời sống hiện thực, thấm đẫm tinh thần, không khí cuộc chiến đấu của dân tộc, các văn nghệ sĩ đã sáng tạo nên nhiều tác phẩm văn học - nghệ thuật giàu tính hiện thực, có giá trị cao.


Về giáo dục, đến năm 1952, cả nước có khoảng 14 triệu người đã thoát khỏi nạn mù chữ. Năm 1953, các trường phổ thông cấp I, cấp II, cấp III trong vùng tự do đã có gần 770.000 học sinh theo học. Từ năm 1951 đến 1953, nước ta đã đào tạo được 7.000 cán bộ kỹ thuật. Sau chiến dịch Biên giới 1950, Đảng, Chính phủ Việt Nam cử nhiều học sinh đi học ở nước ngoài để chuẩn bị cho sự nghiệp xây dựng đất nước khi chiến tranh kết thúc.


Công tác chăm lo sức khỏe được đẩy mạnh. Hầu hết các vùng tự dọ đều xây dựng các bệnh viện, bệnh xá, phòng y tế, trạm cứu thương. Công tác vận động vệ sinh phòng bệnh, bài trừ mê tín dị đoan, xây dựng nếp sống mới... ngày càng mở rộng và được nhân dân tích cực hưởng ứng.


Đến năm 1953, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đã bước sang năm thứ tám. Cuộc chiến tranh càng kéo dài, những khó khăn của Pháp gặp phải càng lớn. Cho đến năm 1953, lực lượng quân Pháp trên chiến trường Đông Dương bị suy yếu rõ rệt: gần 390.000 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu; vùng tạm chiếm ngày càng bị thu hẹp; mâu thuẫn giữa việc tập trung và phân tán lực lượng ngày càng rõ rệt... Trong khi đó, tình hình nước Pháp cũng có những biến chuyển mạnh: phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Pháp lên cao, nền kinh tế Pháp bị suy yếu và Chính phủ Pháp lúng túng trước những tổn thất của cuộc chiến tranh Đông Dương. Tuy nhiên, do không muốn buông bỏ Đông Dương, thực dân Pháp tiếp tục dựa vào sự giúp đỡ của Mỹ, quyết tâm thực hiện một thắng lợi quân sự để tạo cho nước Pháp "một lối thoát danh dự". Ngày 7-5-1953, được Mỹ đồng ý, Chính phủ Pháp đã cử tướng Nava1 (Tướng Nava (Henri Eugène Navarre) là chỉ huy thứ bảy của quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Ông nghỉ hưu năm 1956 và xuất bản cuốn Agonie de I'Indochine 1953-1954 (Đông Dương hấp hối, 1953-1954), phân tích những nguyên nhân thất bại của quân đội Pháp ở Đông Dương) sang làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Sau khi chính thức nhậm chức, Nava đưa ra một bản kế hoạch quân sự mới, gọi là kế hoạch Nava. Kế hoạch này được chia thành hai bước: Bước 1- Trong Thu - Đông 1953 và Xuân 1954, cố gắng giữ thế phòng ngự chiến lược trên chiến trường miền Bắc, tránh giao chiến với chủ lực Việt Minh, thực hiện tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam, đồng thời, đẩy mạnh bắt lính mở rộng với lực lượng người bản xứ, tập trung binh lực xây dựng những đơn vị cơ động mạnh; Bước 2- Từ mùa thu năm 1954, chuyển lực lượng ra chiến trường miền Bắc thực hiện tiến công chiến lược đánh bại các lực lượng chủ lực Việt Minh, giành thắng lợi quyết định, buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đàm phán theo những điều kiện mà Pháp đưa ra.


Thực hiện kế hoạch Nava, Pháp quyết định rút 12 tiểu đoàn quân Pháp từ trong nước, Bắc Phi và Triều Tiên tăng viện cho Đông Dương, đưa tổng số quân Pháp trên chiến trường Đông Dương đạt 84 tiểu đoàn, trong đó, tập trung tại đồng bằng Bắc Bộ là 44 tiểu đoàn; đồng thời, Pháp tích cực bắt lính. Sau khi có thêm quân, quân đội Pháp tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét đánh vào những vùng giải phóng, gây cho kháng chiến một số khó khăn.


Trước tình hình đó, từ tháng 9-1953, phương hướng chiến lược trong Đông - Xuân 1953-1954 được xác định là "tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, đồng thời buộc chúng phải bị động phân tán lực lượng đối phó với ta trên những địa điểm xung yếu mà chúng không thể bỏ, do phải phân tán binh lực mà tạo ra cho ta những điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng"1 (Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964, tr. 47). Phương châm cơ bản thực hiện phương hướng chiến lược là: tích cực, chủ động, cơ động và linh hoạt; đánh ăn chắc, tiến ăn chắc, chắc thắng thì đánh cho kỳ thắng, không chắc thắng thì kiên quyết không đánh.


Thực hiện chủ trương trên, quân đội ta đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang cách mạng Lào đồng loạt mở nhiều cuộc tiến công lớn đánh vào phòng tuyến của đối phương trên những hướng đã được lựa chọn: Tây Bắc, Trung Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào. Để đối phó, quân đội Pháp buộc phải phân tán lực lượng. Từ tập trung quân ở một khu vực là đồng bằng Bắc Bộ, Pháp đã buộc phải phân tán binh lực ra 5 khu vực khác nhau (Tây Bắc, Trung Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào, đồng bằng Bắc Bộ) - kế hoạch Nava bước đầu bị phá sản.


Để đối phó, quân đội Pháp tập trung binh lực lớn tại Điện Biên Phủ thuộc Tây Bắc. Đến đầu tháng 3-1954, lực lượng quân Pháp lên tới 16.200 người, bao gồm những đơn vị bộ binh, pháo binh, công binh, xe tăng, không quân vào loại tinh nhuệ bậc nhất ở Đông Dương. Lực lượng này được bố trí thành một tập đoàn cứ điểm xây dựng thành hệ thống phòng thủ mạnh, gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu với những loại vũ khí hiện đại. Cả Pháp và Mỹ đều coi Điện Biên Phủ là một "pháo đài không thể công phá", Việt Minh sẽ bị "nghiền nát" nếu như tiến công vào đây.


Sau khi xem xét, phân tích kỹ các yếu tố, tương quan so sánh lực lượng đôi bên, Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết tâm thực hiện một đòn quyết chiến chiến lược, xoay chuyến cục diện chiến trường. Chiến trường được lựa chọn để thực hiện nhiệm vụ lịch sử trên là Điện Biên Phủ. Thực hiện quyết tâm đó, quân, dân Việt Nam gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch


Điện Biên Phủ theo tinh thần: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng!''1 (Có 261.464 dân công với trên 10.301.570 ngày công đã tham gia để cung cấp cho mặt trận Điện Biên Phủ. Hàng vạn thanh niên xung phong cùng với bộ đội công binh thực hiện mở đường ra mặt trận dưới làn bom đạn địch. Chỉ trong thời gian ngắn, ta đã xây dựng, sửa chữa hàng ngàn kilômét đường phục vụ chiến dịch). Ngày 13-3-1954, Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch diễn ra 3 đợt: Đợt 1 từ ngày 13 đến 17-3-1954; đợt 2 từ ngày 30-3 đến 26-4; đợt 3 từ ngày 1-5 đến ngày 7-5. Sau 56 ngày đêm chiến đấu, ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân Pháp tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch kết thúc thắng lợi. Kế hoạch Nava của đế quốc Pháp - Mỹ bị phá sản hoàn toàn.


Sau thất bại tại Điện Biên Phủ, thực dân Pháp buộc phải tiến hành đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 8-5-1954, Hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương khai mạc tại Giơnevơ (Thụy Sỹ). Tham dự Hội nghị có đại diện của 9 đoàn: Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Anh, Pháp, Mỹ và ba đoàn đại diện của chính quyền ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Trong quá trình Hội nghị, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiên trì đấu tranh để đạt kết quả đàm phán caọ nhất. Ngày 21-7-1954, các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào, Campuchia lần lượt được ký kết. Bản tuyên bố cuối cùng về lập lại hoà bình ở Đông Dương được đại diện các nước tham dự Hội nghị chấp thuận và thông qua. Mỹ từ chối không tham gia vào tuyên bố cuối cùng của Hội nghị.


Nội dung chủ yếu của Hiệp định Giơnevơ gồm những điểm sau:

- Các bên tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia và không can thiệp vào công việc nội bộ của ba nước đó.

- Các nước ngoài không được đưa vũ khí, quân đội, nhân viên quân sự vào ba nước Đông Dương, không được đặt căn cứ quân sự ở Đông Dương. Các nước Đông Dương không được gia nhập các khôi liên minh quân sự và không được để cho các nước khác sử dụng lãnh thổ của mình để gây chiến tranh hoặc phục vụ cho mục đích xâm lược.

- Để chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam, các bên thực hiện ngừng bắn, tập kết, chuyển quân và chuyển giao khu vực. Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 (dọc sông Bến Hải) làm giới tuyến quân sự tạm thời: miền Bắc do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quản lý, miền Nam do Chính phủ Pháp tạm thời quản lý, sau 2 năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước.

- Trách nhiệm thi hành Hiệp định Giơnevơ thuộc về những người ký kết Hiệp định và những người kế tiếp nhiệm vụ của họ.


Như vậy, với Hiệp định Giơnevơ, Việt Nam mới chỉ giải phóng được một nửa nước từ vĩ tuyến 17 ra Bắc; Lào có 2 tỉnh được giải phóng (Sầm Nưa và Phôngxalỳ); ở Campuchia, không còn vùng giải phóng nên lực lượng vũ trang phải giải ngũ tại chỗ. Mặc dù có những hạn chế nhất định, nhưng Hiệp định Giơnevơ cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ có ý rất to lớn đối với ba nước Đông Dương. Miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân hai nước Lào và Campuchia bước vào thời kỳ mới, gay go, quyết liệt.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #15 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2021, 01:57:18 pm »

II- KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC (1954-1975)

1. Tình hình thế giới và Việt Nam sau năm 1954

Thắng lợi Đông - Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam đã buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, rút hết quân Pháp về nước. Đây là cột mốc quan trọng trên con đường giải phóng dân tộc của quân và dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, mở ra một thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam.


Do tương quan lực lượng đôi bên và tình hình chính trị thế giới phức tạp lúc đó, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia làm hai miền với hai chế độ chính trị. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam chưa hoàn thành. Cuộc đấu tranh giành toàn vẹn độc lập, thống nhất đất nước còn phải tiếp tục trong những điều kiện mới, vừa thuận lợi nhưng cũng rất phức tạp, xét cả trên bình diện trong nước và trên thế giới.


Ở trong nước, miền Bắc hoàn toàn giải phóng trở thành hậu phương căn cứ địa của cả nước, có chính quyền vững mạnh, có lực lượng vũ trang chính quy đang từng bước tiến lên hiện đại, có mặt trận tập hợp và đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân. Nhân dân miền Nam được giác ngộ chính trị, tha thiết mong thống nhất đất nước. Sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam được Đảng Lao động Việt Nam dày kinh nghiệm lãnh đạo, được đông đảo nhân dân tiến bộ và nhiều quốc gia trên thế giới đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ. Đó là những thuận lợi rất cơ bản của quân và dân ta khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Bên cạnh đó, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn: Kinh tế miền Bắc nghèo nàn, kỹ thuật sản xuất lạc hậu, tình hình an ninh chính trị phức tạp, bộ máy chính quyền các cấp chưa được củng cố, trình độ nhận thức, kinh nghiệm và năng lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội của đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế. Ở miền Nam, từ chỗ có chính quyền, có quân đội, có vùng giải phóng, giờ đây, phần lớn cán bộ, đảng viên, chiến sĩ tập kết ra Bắc, cách mạng miền Nam chuyển sang phương thức hoạt động vừa hợp pháp vừa không hợp pháp; vừa công khai, vừa bí mật. Tất cả những thay đổi đó, ở một mức độ đáng kể, đã đặt ra cho cách mạng Việt Nam những nhiệm vụ mới đầy phức tạp, khó khăn.


Đối với thế giới, thắng lợi của nhân dân Việt Nam sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp đã tác động lớn đến phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Các phong trào này tìm thấy ở thắng lợi của nhân dân Việt Nam nguồn cổ vũ, sự động viên mạnh mẽ cùng những bài học kinh nghiệm để vận dụng vào điều kiện cụ thể từng nước trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX, đã có khoảng 40 nước giành độc lập mà phần lớn trong số đó vốn là thuộc địa của Pháp. Thực tế đó có tác động trực tiếp tới tình hình chính trị thế giới. Nếu trước kia, Liên hợp quốc chỉ có khoảng 50 nước thành viên, chủ yếu là các nước châu Âu và Mỹ Latinh thì đến giữa những năm 50 của thế kỷ XX, tổ chức này đã có tới 100 thành viên. Chương trình nghị sự về các vấn đề chính trị thế giới, vì vậy, không còn do những nước lớn thao túng, định đoạt, áp đặt cho Đại hội đồng Liên hợp quốc như trước nữa.


Sự thất bại của chủ nghĩa thực dân cũ trước phong trào giải phóng dân tộc tác động trực tiếp tới nguồn lợi nhuận của nhiều nước tư bản phát triển, làm cho khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội ở các nước này ngày càng sâu sắc, buộc các chính phủ đó phải tìm mọi cách ứng phó nhằm duy trì vị trí ở nước ngoài, đồng thời tăng cường bóc lột các lực lượng lao động trong nước. Phong trào đấu tranh của nhân dân lao động, đi đầu là giai cấp công nhân ở các nước tư bản, đế quốc, ngày càng phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu, khiến cho nhiều nước tư bản ở châu Âu, châu Mỹ, châu Á lâm vào tình trạng bất ổn về chính trị, xã hội...


Cùng lúc đó, chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam góp phần làm suy yếu một bước chủ nghĩa đế quốc đã tạo cho các nước xã hội chủ nghĩa có thêm điều kiện đế mở rộng phạm vi ảnh hưởng cũng như tăng cường tiềm lực, sức mạnh kinh tế, quân sự của mình. Hệ thống xã hội chủ nghĩa được củng cố, tăng cường, mở rộng phạm vi, nối liền từ châu Âu sang châu Á đã thực sự là nhân tố đóng vai trò to lớn và quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế, có ý nghĩa quyết định trong việc bảo vệ hoà bình và giữ gìn an ninh trên thế giới. Tuy nhiên, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cũng như nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa lúc này lại nảy sinh bất đồng về đường lối, quan điểm và đang ngày càng trở nên sâu sắc, đặc biệt giữa Liên Xô và Trung Quốc.


Sự hình thành và lớn mạnh của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân ở các nước tư bản làm cho các nước đế quốc, đứng đầu là Mỹ lo sợ. Mỹ và các nước Đồng minh tìm mọi cách đối phó, tiếp tục hướng nỗ lực vào việc chống chủ nghĩa cộng sản trên khắp các châu lục. Chiến lược toàn cầu của Mỹ nhằm bao vây, ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, đến năm 1955, đạt tới đỉnh cao với việc ra đời nhiều khối quân sự do Mỹ cầm đầu với 1.400 căn cứ quân sự Mỹ có mặt tại 31 nước. Những nỗ lực trên đây của Mỹ và Đồng minh khiến cho tình hình thế giới diễn biến ngày càng thêm căng thẳng, Chiến tranh lạnh ngày càng gay gắt, dù có hoà hoãn bộ phận. Thế giới phân thành hai cực, hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa vừa chống đối nhau quyết liệt nhưng đồng thời vẫn phải hợp tác với nhau trong chừng mực có thể để giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực có liên quan.


Tình hình trên đây đã tác động không nhỏ đến sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước tư bản thuộc phe Đồng minh (trừ Mỹ), tuy thắng trận nhưng nền kinh tế lại bị suy giảm; còn Đức, Italia và Nhật Bản bại trận và bị các nước Đồng minh chiếm đóng. Liên Xô, nước có vai trò to lớn trong việc ngăn chặn chủ nghĩa phát xít thì bị tàn phá rất nặng nề do chiến tranh. Các nước dân chủ nhân dân ra đời sau chiến tranh phần lớn là những nước kinh tế chưa phát triển...


Do vị thế của mình, bước ra khỏi chiến tranh, nước Mỹ vươn lên mạnh mẽ, trở thành cường quốc số một, duy nhất về kinh tế trên thế giới. Trước những biến chuyển mạnh mẽ của tình hình thế giới, Mỹ thực hiện chiến lược toàn cầu, bao vây, ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, nhắm tới Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc mà Việt Nam là một mắt xích quan trọng.


Việt Nam có vị trí địa - chiến lược rất quan trọng ở khu vực Đông Nam Á, là bao lơn nhô ra biển Thái Bình Dương, điểm giao hội các tuyến hàng hải quốc tế, lại có nguồn tài nguyên phong phú, được các nhà chiến lược Mỹ đánh giá là một tiền tiêu trọng yếu trên tuyến bao vây ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản.


Cho đến giữa năm 1955, hiểu biết của Mỹ về tình hình chính trị đang diễn biến trên bán đảo Đông Dương còn hạn chế. Trong con mắt của Mỹ, phong trào Việt Minh lúc đó là tập hợp các đảng phái quốc gia có thể lợi dụng để sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ thực hiện kế hoạch biến khu vực này thành đồn lũy ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Thế nhưng, khi nhận ra chính quyền mới ở Việt Nam được thiết lập trong Cách mạng Tháng Tám là do những người cộng sản lãnh đạo, Mỹ lập tức ủng hộ Tưởng Giới Thạch mở rộng ảnh hưởng. Sau khi cách mạng thành công, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời, khiến từ cuối năm 1949 trở đi, Mỹ dính líu ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam. Một mặt, Mỹ viện trợ cho Pháp những khoản viện trợ lớn: đến năm 1954, lên tới 78% trong tổng số chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương; mặt khác, chuẩn bị thế chân Pháp đặt chân ở Đông Dương khi Pháp không còn khả năng trụ lại. Sau khi Pháp bại trận, buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ, Mỹ ngay lập tức tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định này. Ngay sau đó, Mỹ đã đặt chân vào miền Nam Việt Nam, gây nên cuộc chiến tranh kéo dài và rất tàn khốc. Chọn Việt Nam làm nơi thí nghiệm chiến lược toàn cầu, mục tiêu của Mỹ là đè bẹp cách mạng Việt Nam, chia cắt Việt Nam, đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương và Đông Nam Á, từ đó bao vây, uy hiếp Trung Quốc, ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Năm đời tổng thống Mỹ kế tiếp nhau đã theo đuổi và thực hiện kế hoạch trên đây bằng các chiến lược chiến tranh được thay đổi liên tục cho phù hợp. Chiến tranh Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu đầy tham vọng của Mỹ.


Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cơ bản, lâu dài và cũng là nguyện vọng chính đáng, thiêng liêng của mọi người Việt Nam yêu nước. Sau ngày cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc, mục tiêu và nguyện vọng đó vẫn chưa hoàn thành là do kế hoạch và hành động chiến tranh xâm lược của Mỹ. Nhân dân Việt Nam buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thu non sông về một mối, thực hiện thắng lợi mục tiêu thống nhất đất nước. Từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam trở thành nơi tập trung mâu thuẫn cơ bản của thế giới, nơi diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử mang tính ý thức hệ. Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam do đó có ý nghĩa và tầm ảnh hưởng vượt khỏi biên giới quốc gia dân tộc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2021, 01:58:40 pm »

2. Quá trình phát triển của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ

Căn cứ vào những biến chuyển về mặt chiến lược của cả hai phía đặt trong diễn biến thực tế của cuộc chiến tranh, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam (từ tháng 7-1954 đến tháng 4-1975) đã trải qua 5 giai đoạn. Mỗi giai đoạn chứa đựng trong đó những nội dung chiến lược, vừa là sự kế tiếp, vừa mang tính khác biệt so với giai đoạn trước. Nói cách khác, mỗi giai đoạn đều có nội dung riêng, phản ánh bước phát triển của cuộc kháng chiến, đánh dấu bước chuyển biến về chất của cục diện chiến tranh dẫn đến thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


a) Giai đoạn từ tháng 7-1954 đến hết năm 1960

Sau hơn 80 năm thống trị của thực dân Pháp và 15 năm tàn phá của chiến tranh, hoà bình lập lại, miền Bắc lại đứng trước một loạt khó khăn gay gắt trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng. Song bên cạnh những khó khăn, miền Bắc hoàn toàn giải phóng là một thắng lợi to lớn, một điều kiện thuận lợi rất cơ bản cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới.


Phát huy khí thế chiến thắng và trên nền tảng của những điều kiện thuận lợi, nhân dân Việt Nam bắt tay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, hoàn thành cải cách ruộng đất và sửa sai, phục hồi kinh tế, phát triển văn hoá - xã hội, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế, củng cố quan hệ sản xuất mới với hai hình thức cơ bản là quốc doanh và tập thể, củng cố và tăng cường sức mạnh an ninh - quốc phòng...


Thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung, thắng lợi của 5 năm xây dựng và phát triển của miền Bắc nói riêng sau ngày hoà bình lập lại được phản ánh trong bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của Việt Nam mà Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua trong kỳ họp thứ 11, ngày 31-12-1959.


Trong khi quân và dân miền Bắc đang ra sức ổn định, củng cố mọi mặt nhằm biến miền Bắc thành nền móng vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà thì ở phía nam vĩ tuyến 17, cách mạng miền Nam đang trải qua những tháng năm đầy gian khổ hy sinh.


Ngày 7-7-1954, trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết 13 ngày, Ngô Đình Diệm được Mỹ đưa về miền Nam làm Thủ tướng thay Bửu Lộc. Từ đây, bắt đầu quá trình mà ở đó, Mỹ ráo riết thực hiện một loạt biện pháp tầm chiến lược xây dựng miền Nam Việt Nam thành con đê ngăn chặn “làn sóng đỏ”.


Ngay từ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Trung ương Đảng đã nhận rõ ý đồ can thiệp của Mỹ đối với Việt Nam và Đông Dương. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ sáu (7-1954) xác định: đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương. Nhận thức ngày càng rõ các kế hoạch chiến tranh của Mỹ, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng hai miền. Tuy nhiên, việc tìm đường giải phóng miền Nam là một quá trình không đơn giản. Để tìm ra con đường đưa cách mạng đi lên, cần tính toán, lượng định các nhân tố trong nước và quốc tế có liên quan.


Hai năm đầu sau Hiệp định Giơnevơ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam trên cả hai miền đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định, đòi củng cố hoà bình, đòi các quyền tự do, dân chủ, dân sinh, thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo các điều khoản mà Hiệp định Giơnevơ quy định. Các cuộc đấu tranh này của nhân dân Việt Nam ở miền Nam trong những năm từ 1955 đến 1958 đã bị trấn áp bằng các chiến dịch "tố Cộng", "diệt Cộng". "Tố Cộng", "diệt Cộng" được Mỹ - Diệm nâng lên tầm "quốc sách". Chính sách và hoạt động chống Cộng khiến cho lực lượng yêu nước và cách mạng ở miền Nam bị tổn thất nặng nề1 (Trong vòng 4 năm (1955-1958), cả miền Nam tổn thất 9/10 số cán bộ, đảng viên. Ở Nam Bộ, khoảng 7 vạn cán bộ, đảng viên bị địch giết hại; gần 90 vạn cán bộ, nhân dân bị bắt, bị tù đày; gần 20 vạn cán bộ, đảng viên, nhân dân bị tra tấn thành tàn tật và chỉ còn 5.000 đảng viên so với 60.000 đảng viên lúc đầu. Ở khu 4 (lúc bấy giờ còn gồm cả Trị Thiên và Cực Nam Trung Bộ), khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy, 70% chi ủy viên xã bị bắt, bị giết. Riêng Trị Thiên, chỉ còn 160/23.400 đảng viên trước đó). Tổn thất của cách mạng miền Nam là do nhiều nguyên nhân, trong đó "chủ yếu là do về mặt chỉ đạo chiến tranh cách mạng, Đảng chưa tìm ra được phương pháp và hình thức thích hợp để quần chúng chủ động chống trả địch một cách hiệu quả"2 (Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.40). Trong thực tế, hình thức đấu tranh chính trị có sử dụng bạo lực chính trị ngày càng tỏ ra không đủ mạnh để đối phó với bạo lực phản cách mạng ở miền Nam.


Từ tháng 8-1956, đồng chí Lê Duẩn, trên cương vị là Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ đã từ thực tiễn của tình hình miền Nam, viết Đề cương cách mạng miền Nam. Cuối năm đó, đồng chí Lê Duẩn dự kiến mức độ bạo lực phải được nâng cao, nhưng chưa đề ra được các biện pháp cụ thể. Như thế, so với quá trình hoạch định đường lối kháng chiến chống Pháp, quá trình soạn thảo đường lối kháng chiến chống Mỹ còn gay go, gian khổ, phức tạp, đòi hỏi nhiều công phu. Khi bắt tay vào kháng chiến chống thực dân Pháp, quân, dân Việt Nam đã có ngay đường lối cơ bản của cuộc kháng chiến dẫn đường, nhưng khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, từ năm 1954 đến năm 1958, nhân dân ta mới chỉ có những định hướng chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Hội nghị Trung ương 6, 7, 8...


Theo dõi sát diễn biến của tình hình miền Nam, nghiên cứu những kiến nghị khẩn thiết của nhiều cán bộ, đảng viên cũng như một số cấp uỷ đảng miền Nam gửi ra, Bộ Chính trị đã dành nhiều tâm lực vào việc tìm ra một giải pháp cơ bản cho cách mạng miền Nam. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 151 (Hội nghị Trung ương 15 họp hai đợt: đợt một từ ngày 12 đến ngày 22-1-1959 là Hội nghị Trung ương mở rộng; đợt hai từ ngày 10 đến ngày 15-7-1959 chỉ có các Ủy viên Trung ương dự. Nghị quyết Hội nghị được thông qua trong đợt này) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa đã họp và ra quyết nghị. Nghị quyết 15 xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam; nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm - tay sai của đế quốc Mỹ; phương pháp cách mạng và phương pháp chiến tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; xu hướng phát triển của phong trào cách mạng miền Nam là từ khởi nghĩa của nhân dân có thể tiến lên cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ.


Với tất cả những nội dung cốt lõi trên đây, Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng là một Nghị quyết lịch sử, đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng trong sự nghiệp giải phóng miền Nam. Nghị quyết đó phản ánh đúng tình thế chín muồi của cách mạng miền Nam, đáp ứng đòi hỏi bức xúc của phong trào cách mạng miền Nam, của cán bộ và đồng bào yêu nước miền Nam.


Để kịp thời chi viện cho cách mạng miền Nam, tháng 5-1959, Trung ương Đảng quyết định tổ chức Đoàn 559 và tháng 7-1959, quyết định tổ chức Đoàn 759.

Trước khi Nghị quyết 15 ra đời cũng như trong lúc Nghị quyết chưa được truyền đạt tới, ở nhiều địa phương miền Nam, dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ cơ sở, quần chúng cách mạng đã tổ chức một số cuộc đấu tranh vũ trang hoặc đấu tranh chính trị kết hợp có vũ trang. Đến giữa năm 1959, miền Nam ở trong quá trình xuất hiện khởi nghĩa từng phần. Trong điều kiện đó, Nghị quyết 15 đã thổi bùng lên ngọn lửa Đồng khởi, làm tan rã hàng loạt bộ máy kìm kẹp của chính quyền cơ sở, giành quyền làm chủ hàng nghìn xã, ấp, thôn, bản, đẩy quân đội và chính quyền Ngô Đình Diệm lâm vào thế bị động, lúng túng, khủng hoảng trầm trọng. Sau cao trào Đồng khởi, Đảng bộ miền Nam được khôi phục, đội quân chính trị, "đội quân tóc dài" của phụ nữ Nam Bộ ra đời; lực lượng vũ trang ba thứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp hình thành, các căn cứ địa tại chỗ được khôi phục, mở rộng... Trên đà thắng lợi, ngày 20-12-1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Đại hội thông qua Tuyên ngôn và Chương trình hành động. Cách mạng miền Nam đã từ tình trạng thoái trào và thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công.


Nghị quyết 15, tiếp đó là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam nói chung, đường lối và phương pháp cách mạng miền Nam nói riêng.


Nhìn chung lại, từ tháng 7-1954 đến tháng 12-1960 là giai đoạn Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm gây ra muôn vàn tổn thất, phức tạp và khó khăn cho cách mạng miền Nam. Đây cũng là giai đoạn Đảng phải tính toán, cân nhắc, lựa chọn để tìm ra con đường và phương pháp đúng đắn cho cách mạng miền Nam, đưa cách mạng miền Nam vượt qua tổn thất hiểm nghèo, tiếp tục phát triển trong những điều kiện mới. Về phương diện đó, Nghị quyết 15 và phong trào Đồng khởi chiếm giữ một vị trí rất quan trọng trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một thành công điển hình của Đảng và nhân dân Việt Nam trong tiến hành cách mạng bạo lực, trong nghệ thuật chỉ đạo khởi sự chiến tranh ở miền Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2021, 01:59:55 pm »

b) Giai đoạn từ năm 1961 đến giữa năm 1965

Phong trào Đồng khởi đã khiến Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm lúng túng, buộc Mỹ phải bị động chuyển sang dùng "Chiến tranh đặc biệt" để đối phó với cách mạng miền Nam. Đây là một loại hình chiến tranh trong khuôn khổ chiến lược quân sự toàn cầu "Phản ứng linh hoạt" của đế quốc Mỹ1 (Chiến lược quân sự toàn cầu "Phản ứng linh hoạt" do Mắcxoen Taylo đề xướng và được Tổng thống Mỹ Kennơđi chấp thuận, thay thế cho chiến lược "Trả đũa ồ ạt" trước đó của Mỹ. Theo đó, Mỹ vẫn duy trì, phát triển lực lượng hạt nhân chiến lược, đồng thời phát triển lực lượng thông thường để tiến hành chiến tranh hạn chế. Chiến tranh hạn chế gồm hai hình thức: chiến tranh đặc biệt và chiến tranh cục bộ. Cả hai loại hình này là bộ phận hợp thành chiến lược quân sự toàn cầu "Phản ứng linh hoạt"). Đặc điểm của loại chiến tranh này là sử dụng quân đội bản xứ làm công cụ tiến hành chiến tranh với sự hỗ trợ của đôla, vũ khí của Mỹ, do Mỹ chỉ huy. Vận dụng vào miền Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã triển khai thực hiện các nội dung lớn sau:

- Dồn dân vào ấp chiến lược trên quy mô lớn hòng "tát nước bắt cá", tách lực lượng cách mạng ra khỏi nhân dân. Nội dung này được xem là "xương sống" của chiến lược Chiến tranh đặc biệt.

- Tăng cường quân đội Sài Gòn, mở các cuộc hành quân càn quét để tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng và hỗ trợ cho việc dồn dân lập ấp chiến lược.

- Tiến hành các hoạt động chiến tranh bí mật phá hoại miền Bắc.

Để thực hiện chiến tranh đặc biệt, Mỹ tập trung vào việc tăng cường lực lượng quân đội Sài Gòn, bộ máy cảnh sát; tăng cường viện trợ (quân sự và kinh tế), cố vấn, lực lượng yểm trợ... nhằm "bình định" miền Nam trong 18 tháng (từ giữa năm 1961 đến hết năm 1962) theo kế hoạch Xtalây - Taylo; sau đó là hai năm (1963-1964) theo kế hoạch Giônxơn Mắc Namara.


Với sự tăng viện về đôla, vũ khí, thiết bị chiến tranh, đội ngũ cố vấn của Mỹ, trong những năm "Chiến tranh đặc biệt", Mỹ, chính quyền và quân đội Sài Gòn đã dồn sức vào việc gom dân lập ấp chiến lược bằng nhiều thủ đoạn và biện pháp khốc liệt, đẫm máu; mở nhiều cuộc hành quân càn quét, sử dụng các loại vũ khí hiện đại và triển khai các chiến thuật "tân kỳ" như "thiết xa vận", vận dụng thành công các thủ đoạn chiến thuật được mệnh danh là "bủa lưới phóng lao", "trên đe dưới búa", "phượng hoàng vồ mồi"... đánh phá phong trào cách mạng, đánh sâu vào toàn bộ hệ thống căn cứ kháng chiến, bịt kín vùng biên giới nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam...


Để đánh bại chiến lược chiến tranh mới của Mỹ, Đảng chủ trương, trên cơ sở thế và lực mới do phong trào Đồng khởi tạo ra, chuyển cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng trên quy mô toàn miền.


Thực hiện chủ trương chuyển hướng chiến lược đó, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, ta đã:

- Tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang (cả khối cơ động và lực lượng tại chỗ trên chiến trường miền Nam.

- Phát triển mạnh chiến tranh du kích trên cả ba vùng chiến lược đi đôi với tăng cường đánh phá các vị trí xung yếu, nâng dần trình độ tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực.

- Quân ủy Trung ương cùng Ban Thống nhất Trung ương được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ giúp Trung ương trực tiếp chỉ đạo công tác quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam; tăng cường các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy ở miền Nam như Trung ương Cục, Khu ủy, Bộ chỉ huy Miền và Bộ chi huy quân sự các quân khu.

- Phân chia lại chiến trường theo yêu cầu phát triển của chiến tranh.

- Tăng cường sự chi viện từ miền Bắc cho cách mạng miền Nam (mở rộng hành lang vận chuyển chiến lược bằng đường bộ, đường biển).

- Đẩy mạnh công cuộc xây dựng miền Bắc, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất về kinh tế - xã hội và kế hoạch 5 năm lần thứ hai về xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng.


Ở miền Nam, thực hiện chỉ thị ngày 31-1-1961 của Quân ủy Trung ương, ngày 15-2-1961, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam họp bàn về việc nâng đấu tranh vũ trang lên ngang tầm với đấu tranh chính trị, quyết định lấy ngày 15-2-1961 là ngày thành lập Quân giải phóng thống nhất trên toàn miền Nam.


Tiếp đó, chiến thắng Ấp Bắc (Cai Lậy, Mỹ Tho) ngày 2-1-1963 là sự kiện quan trọng, cho thấy khả năng quân và dân miền Nam hoàn toàn có thể đánh bại các biện pháp chiến lược của địch trong chiến tranh đặc biệt. Với phương châm chiến lược "hai chân", "ba mũi", "ba vùng", "bốn bám", phong trào phá ấp chiến lược dâng cao kề từ sau chiến thắng Ấp Bắc. Kế hoạch "bình định" miền Nam trong 18 tháng của Xtalây - Taylo bị phá sản. Đồng thời, mặt trận đấu tranh vũ trang có bước phát triển mới. Lực lượng vũ trang ba thứ quân không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng. Chiến tranh du kích phát triển rộng khắp, kết hợp chặt chẽ với phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Tác chiến của bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực ngày càng phát triển. Nhiều trận đánh tiêu diệt gọn cả đại đội, tiểu đoàn địch đã chứng tỏ khả năng tác chiến tập trung với quy mô ngày càng lớn của bộ đội chủ lực. Trong khi đó, phong trào đấu tranh ở các đô thị đòi quyền dân sinh, dân chủ, bình đẳng tôn giáo, chống bắt lính... dâng cao.


Tình hình đó khiến cho nội bộ Mỹ và quân đội Sài Gòn lâm vào cuộc khủng hoảng ngày càng sâu sắc. Mỹ buộc phải "thay ngựa giữa đường", phế bỏ Diệm - Nhu (11-1963). Nhưng với ngay cả cố gắng này, Mỹ cũng không cứu vãn nổi tình hình.


Công cuộc xây dựng miền Bắc vững mạnh tiếp tục thu được những thành tựu trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng. Trong khi đó, cách mạng Lào có những bước phát triển mới với việc thiết lập chính quyền liên minh ba phái gồm cả Pathét Lào. Song, bối cảnh quốc tế liên quan đến sự nghiệp cách mạng Việt Nam bấy giờ lại diễn biến phức tạp, đặc biệt là mâu thuẫn Xô - Trung trở nên gay gắt, tác động không nhỏ tới tư tưởng, tâm lý của cán bộ, đảng viên...


Trong bối cảnh trên đây, tháng 11-1963, Hội nghị Trung ương lần thứ chín của Đảng đã kịp thời xác định nhiều vấn đề quan trọng về đường lối đoàn kết quốc tế của Đảng, về đường lối cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam.


Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, miền Bắc nỗ lực đẩy mạnh sản xuất, phấn đấu đạt các mục tiêu về kinh tế, văn hoá, xã hội của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất; đồng thời ra sức chuẩn bị mọi mặt nhằm bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc, chi viện tiền tuyến miền Nam.


Trước sự lớn mạnh của cách mạng miền Nam, Mỹ càng tăng cường các hoạt động chống phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Mỹ dùng hạm tàu Mađôc vi phạm lãnh hải Việt Nam, dựng lên sự kiện Vịnh Bắc Bộ (5-8-1964), để tạo có ném bom miền Bắc và tạo điều kiện cho Quốc hội Mỹ thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ (7-8-1964) trao cho Tổng thống Mỹ Giônxơn quyền sử dụng lực lượng quân sự Mỹ trực tiếp tiến hành chiến tranh ở Việt Nam.


Hành động trên đây của Mỹ khiến cho tình hình diễn biến ngày càng thêm căng thẳng. Tháng 3-1964, Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt, biểu thị ý chí đoàn kết chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc Việt Nam. Cũng trong năm 1964 và đầu năm 1965, một số hội nghị lớn được tổ chức nhằm chuẩn bị mọi mặt cho miền Bắc sẵn sàng và có đủ sức mạnh đánh thắng mọi âm mưu và hành động mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.


Trên chiến trường miền Nam, năm 1964 và những tháng đầu năm 1965, chiến tranh nhân dân phát triển rộng khắp cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn, đồng bằng, đô thị). Tiếp tục vận dụng các phương châm chiến lược trong cuộc đấu tranh chống phá bình định, quân, dân các chiến trường đã làm thất bại "quốc sách" ấp chiến lược của Mỹ và tay sai. Bộ đội chủ lực ta mở nhiều trận đánh và một số chiến dịch tiến công. Các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài thắng lợi, đánh dấu bước tiến mới về trình độ tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo ra bước ngoặt cho hình thái đấu tranh vũ trang của chiến tranh cách mạng miền Nam. Chiến tranh du kích tiếp tục phát triển rộng khắp, đặc biệt là hoạt động của bộ đội đặc công, biệt động ở sâu trong vùng hậu cứ, hậu phương của địch. Các nỗ lực chống phá miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngày càng tỏ ra không hiệu quả. Trong khi đó, chính quyền Sài Gòn tiếp tục lún sâu vào cuộc khủng hoảng nội bộ với 14 lần đảo chính và phản đảo chính trong hơn 1 năm rưỡi kể từ ngày Diệm và Nhu bị lật đổ (từ 11-1963 đến 6-1965).


Như thế, đến giữa năm 1965, hơn 50 vạn quân Việt Nam cộng hòa - nòng cốt của chiến tranh đặc biệt, không đủ sức đương đầu với Quân giải phóng miền Nam; chương trình "bình định" được coi là xương sống của cuộc chiến tranh này cũng bị phong trào tiến công và nổi dậy của nhân dân miền Nam làm phá sản. Cuối cùng, chính quyền Sài Gòn - chỗ dựa về chính trị để Mỹ tiến hành chiến tranh đặc biệt, ngày càng lâm vào tình trạng khủng hoảng. Chiến lược Chiến tranh đặc biệt, sau 4 năm triển khai thực hiện, về cơ bản đã bị đánh bại trên chiến trường miền Nam.


Nhìn chung lại, trong giai đoạn này, thực hiện chiến lược Chiến tranh đặc biệt, một trong ba hình thức chiến tranh của chiến lược quân sự toàn cầu "Phản ứng linh hoạt", Mỹ quyết định dùng chiến tranh bằng quân đội bản xứ do Mỹ trang bị với hệ thống cố vấn Mỹ chỉ huy, dùng biện pháp chiến lược "càn quét và bình định" để tiêu diệt cách mạng miền Nam...


Trước tình hình đó, quân, dân miền Nam kịp thời chuyển cuộc đấu tranh từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng, tập trung đánh bại các biện pháp lớn của chiến lược Chiến tranh đặc biệt; đồng thời, ra sức xây dựng miền Bắc, kiềm chế và thắng địch ở miền Nam, sẵn sàng đối phó với chiến lược Chiến tranh cục bộ. Đây là thời kỳ mà hình thái cuộc đấu tranh kết hợp chính trị và quân sự, tiến công và nổi dậy, tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ phát triển rất cao; đấu tranh quân sự có bước phát triển mới với sự xuất hiện một số chiến dịch khởi đầu.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2021, 02:00:55 pm »

c) Giai đoạn từ giữa năm 1965 đến hết năm 1968

Thất bại trong Chiến tranh đặc biệt, từ giữa năm 1965, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ bằng việc đưa quân chiến đấu Mỹ vào tham chiến ở miền Nam và dùng không quân, hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Mục tiêu chiến lược của Mỹ là sử dụng sức mạnh quân sự trực tiếp đánh bại cách mạng miền Nam dự định chỉ trong vòng khoảng từ 25 đến 30 tháng (từ giữa năm 1965 đến hết năm 1967). Kế hoạch giành thắng lợi quyết định ở miền Nam của quân Mỹ được phân thành ba giai đoạn: Giai đoạn đầu, triển khai quân Mỹ, chặn thế thua của quân đội Sài Gòn; giai đoạn hai, mở các cuộc tiến công chiến lược "tìm diệt" Quân giải phóng và kiểm soát vùng nông thôn; giai đoạn ba, hoàn tất các mục tiêu, rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam. Hỗ trợ cho các hoạt động quân sự ở miền Nam, không quân và hải quân Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc nhằm khủng bố tinh thần kháng chiến của nhân dân Việt Nam, ngăn chặn nguồn tiếp tế từ ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam, củng cố tinh thần quân đội Sài Gòn...


Đây là nỗ lực quân sự lớn nhất, bước leo thang chiến tranh cao nhất của đế quốc Mỹ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Hành động chiến tranh mới này của Mỹ đã đặt cuộc kháng chiến của quân dân Việt Nam trước những thử thách lớn lao và tình thế rất hiểm nghèo, cả thế giới lo lắng dõi theo diễn biến chiến tranh ở Việt Nam.


Trước tình thế hiểm nghèo đó, các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 11 (3-1965) và 12 (12-1965) trên cơ sở so sánh đúng lực lượng ta - địch, chỉ ra chính xác chỗ mạnh, chỗ yếu và khả năng thực tế của cả hai bên trong cuộc đối đầu trực tiếp này, lượng định xu hướng diễn biến của tình hình... đã hạ quyết tâm động viên cao độ sức mạnh của cả nước, ra sức tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân tiến bộ thế giới, trước hết là các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, tiếp tục giữ vững và phát huy tư tưởng chiến lược tiến công, ghìm chân và đánh thắng quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, bảo vệ vững chắc miền Bắc, làm thất bại chiến lược Chiến tranh cục bộ của Mỹ.


Theo phương hướng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 11 và 12, từ năm 1965, miền Bắc chuyển nhanh mọi mặt từ thời bình sang thời chiến: chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức; chuyển hướng về kinh tế; tăng cường sức mạnh quân sự. Đó là một quyết định kịp thời và đúng đắn, bảo đảm cho miền Bắc có đủ điều kiện và sức mạnh để cùng một lúc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ, duy trì và giữ vững sản xuất, tăng sức chi viện cho chiến trường. Khắp nơi trên miền Bắc dấy lên các phong trào thi đua sôi nổi trong mọi tầng lớp nhân dân: "Thanh niên ba sẵn sàng", "Phụ nữ ba đảm đang", "Tay cày, tay súng", "Tay búa, tay súng", "Thiếu nhi làm nghìn việc tốt chống Mỹ, cứu nước", "Tiếng hát át tiếng bom", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "Sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm"... Dưới đạn bom đánh phá của máy bay, tàu chiến Mỹ, miền Bắc vẫn vững vàng, không nao núng quyết tâm; sản xuất nông nghiệp, công nghiệp vẫn được giữ vững. Đời sống nhân dân nhìn chung vẫn ổn định mặc dù thiếu thốn, khó khăn hơn. Lực lượng phòng không ba thứ quân trên miền Bắc phát triển nhanh chóng, đánh trả quyết liệt, hiệu quả không quân, hải quân Mỹ. Giao thông vận tải chẳng những không bị ngừng trệ mà hơn thế, ngày càng vươn sâu, vươn xa về phía Nam. Sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến tăng nhanh theo từng năm, đáp ứng kịp thời và tương đối đầy đủ nhu cầu về người, vũ khí, phương tiện chiến tranh của cách mạng miền Nam...


Được miền Bắc chi viện sức người, sức của và dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân phát triển mạnh trong những năm đánh bại chiến lược Chiến tranh đặc biệt, ngay từ những ngày đầu Chiến tranh cục bộ và trong những năm sau đó, lực lượng vũ trang ba thứ quân của cách mạng miền Nam đã đón đánh quyết liệt quân viễn chinh Mỹ. Tiếp theo là các trận đánh phủ đầu quân Mỹ ở Núi Thành (Quảng Nam) đêm 25 rạng 26-5-1965, Vạn Tường (Quảng Ngãi) hạ tuần tháng 8-1965, Đất Cuốc (phía bắc Biên Hoà) ngày 8-11-1965, Bầu Bàng ngày 12-11-1965, Plây Me (tây nam thị xã Plâyku) từ ngày 19-10 đến ngày 20-11-1965, trong mùa khô 1965-1966, quân dân miền Nam đã đánh thắng cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, làm thất bại chương trình bình định của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Tháng 6-1966, Quân uỷ Trung ương quyết định mở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, tạo hướng tiến công chiến lược mới vào mắt xích yếu nhất trên chiến trường, buộc đối phương phải tiếp tục phân tán binh lực lên vùng rừng núi - nơi lực lượng quân giải phóng có điều kiện tiêu diệt lực lượng lớn cơ động chủ lực của đối phương bằng chủ lực mạnh của miền Bắc, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của đối phương ở miền Nam, ngăn chặn không đế Mỹ và quân đội Sài Gòn mở rộng cuộc tiến công trên bộ ra khu vực Nam Quân khu IV.


Tháng 1-1967, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 13 họp và quyết định mở mặt trận đấu tranh ngoại giao. Nghị quyết Hội nghị nhấn mạnh: Mở mặt trận đấu tranh ngoại giao lúc này là đúng lúc nhằm phối hợp với mặt trận quân sự, chính trị, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, đánh bại các cố gắng chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.


Bước vào mùa khô 1966-1967, Mỹ và chính quyền Sài Gòn dồn sức mở liên tiếp ba cuộc hành quân lớn là Áttơnborơ, Xiđaphôn, Gianxơn Xity, tập trung đánh vào miền Đông Nam Bộ. Đặc biệt trong cuộc hành quân Gianxơn Xity, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) đã sử dụng tối 45.000 quân nhằm chụp bắt cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam bấy giờ ở chiến khu Dương Minh Châu...


Dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân được chuẩn bị sẵn sàng, sự kết hợp tác chiến của lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, quân và dân trên khắp chiến trường miền Nam nói chung, ở Đông Nam Bộ nói riêng, đã mở các trận đánh, các chiến dịch phản công, tiến công, đánh bại các nỗ lực quân sự trên đây của Mỹ. Đồng thời, lực lượng đặc biệt tinh nhuệ của ta đẩy mạnh các hoạt động sâu trong nội đô, tiến công vào nhiều mục tiêu hiểm yếu ở hậu phương, hậu cứ của đối phương.


Thất bại trong hai cuộc phản công chiến lược ở miền Nam cùng với sự bất lực của không quân, hải quân trong việc ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam đã đặt giỏi lãnh đạo hiếu chiến Mỹ vào thế "tiến thoái lưỡng nan" về chiến lược, làm cho nội bộ nước Mỹ, đặc biệt trong giới cầm quyền, bị chia rẽ.


Theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến của tình hình chiến trường trong nước và trên thế giới, từ giữa năm 1967, các cơ quan chiến lược tại Hà Nội bắt tay xây dựng kế hoạch quân sự Đông - Xuân 1967-1968. Tháng 10-1967, Bộ Chính trị họp Hội nghị mở rộng, quyết định chuyển hướng tiến công chiến lược vào các đô thị miền Nam. Bắt đầu từ đó, các chiến trường, các mặt trận khẩn trương và bí mật chuẩn bị theo phương hướng này. Tháng 1-1968, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp thông qua Nghị quyết của Hội nghị Bộ Chính trị tháng 12-1967, chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang thời kỳ mái - thời kỳ giành thắng lợi quyết định bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân năm 1968.


Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đêm 20, rạng ngày 21-1-1968, bộ đội chủ lực bất ngờ nổ súng đánh vào tập đoàn cứ điểm Khe Sanh, một vị trí có tầm quan trọng chiến lược phía tây phòng tuyến Mắc Namara mà Mỹ lập ra nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam.


Trong khi quân Mỹ và quân đội Sài Gòn buộc phải tăng cường cho Khe Sanh và dồn mối quan tâm vào chiến sự ở nơi này, thì vào đêm giao thừa và đêm mồng Một Tết Mậu Thân (30 và 31-1-1968), bộ đội giải phóng đồng loạt tiến công vào 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn; đánh thẳng vào hầu hết các cơ quan đầu não trung ương, địa phương của chính quyền Sài Gòn trên toàn miền Nam. Ở vùng nông thôn đồng bằng, với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ trên những khu vực rộng lớn...


Cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt, bất ngờ, táo bạo Tết Mậu Thân đã giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng trên chiến trường, làm bất lực một đội quân đông tới hơn một triệu quân.


Hai tháng kể từ ngày xảy ra "biến cố Tết Mậu Thân", sau rất nhiều tính toán và lượng định tình hình, đến ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn đơn phương tuyến bố: chấm dứt thời kỳ đưa quân Mỹ vào tham chiến ở miền Nam Việt Nam, ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, sẵn sàng cử đại diện đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và không ra tranh cử nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo... Những quyết định trên đây đã cho thấy Mỹ mặc nhiên thừa nhận sự phá sản hoàn toàn của chiến lược Chiến tranh cục bộ.


Tháng 5 và tháng 8-1968, bộ đội giải phóng mở tiếp các đợt tiến công mà hướng chính vẫn là mặt trận đô thị. Mặc dù bồi tiếp đòn mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ nhưng việc mở các cuộc tiến công trên đây cũng gây cho ta những hao tổn nặng nề về lực lượng, thế trận chiến tranh nhân dân trên ba vùng chiến lược bị suy giảm mạnh. Chủ lực ta bị đánh bật khỏi nhiều vùng ven đô, đồng bằng; phải lùi lên vùng rừng núi, thậm chí ra khỏi ranh giới miền Nam, nhiều vùng giải phóng bị quân đội Sài Gòn chiếm lại... Dù vậy, ngày 1-11-1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn vẫn buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện mọi hành động chống phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chấp nhận Hội nghị 4 bên ở Pari.


Nhìn chung, Chiến tranh cục bộ là cố gắng cao nhất trong toàn bộ nỗ lực chiến tranh xâm lược miền Nam của Mỹ. Những năm tháng ấy, khắp hai miền Nam, Bắc Việt Nam, khí thế và quyết tâm đánh Mỹ dâng cao. Đây là giai đoạn mà bản lĩnh, sức mạnh và sự sáng tạo của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam được thể hiện đầy đủ nhất qua việc đương đầu và chiến thắng nỗ lực chiến tranh cao nhất của lục quân, không quân và hải quân Mỹ.


Thất bại này, xét trên nhiều khía cạnh, là sự khởi đầu cho cả một quá trình đi xuống về chiến lược trong cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ và quá trình đó là không thể đảo ngược. Thất bại ở Việt Nam và những hệ lụy của nó là một nhân tố quan trọng buộc Mỹ phải từ bỏ chiến lược quân sự toàn cầu "Phản ứng linh hoạt". Với cách mạng miền Nam, những thắng lợi có ý nghĩa quyết định trong giai đoạn này đã tạo điều kiện thực hiện vừa đánh vừa đàm trong những năm tiếp sau.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2021, 02:02:09 pm »

d) Giai đoạn từ năm 1969 đến tháng 1-1973

Thất bại trên chiến trường Việt Nam đã đẩy nước Mỹ lâm vào thời kỳ khủng hoảng kéo dài nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội và đối ngoại. Trong bối cảnh đó, trong nhiệm kỳ 1969-1972, Níchxơn và giới cầm quyền Mỹ quyết định điều chỉnh chiến lược hòng tiếp tục thực hiện chính sách bá chủ toàn cầu và duy trì sự thống trị ở miền Nam Việt Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới. Chiến lược toàn cầu mới này mang tên "Học thuyết Níchxơn" và chiến lược quân sự "Răn đe thực tế" thay thế cho chiến lược "Phản ứng linh hoạt" đã bị phá sản. Với chiến lược mới này, Mỹ chủ trương duy trì lực lượng quân sự mạnh để "răn đe", giữ vững cam kết với Đồng minh trên cơ sở "chia sẻ trách nhiệm" và Mỹ tiếp tục khẳng định vị trí "lãnh đạo thế giới tự do". Đồng thời, chiến lược mới này còn chủ trương lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là giữa Liên Xô và Trung Quốc, cũng như triệt để khai thác tính đa cực về chính trị trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế để chia rẽ, lôi kéo các nước lớn; mua chuộc, uy hiếp các nước nhỏ...


Ứng dụng Học thuyết Níchxơn vào Việt Nam, chính quyền Mỹ điều chỉnh chủ trương "Phi - Mỹ hoá" của thời Giônxơn thành chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Nhưng khác với "Phi - Mỹ hoá" là một kế hoạch thuần túy về quân sự nhằm đảm bảo cho quân đội Mỹ trên chiến trường Việt Nam giảm thiểu tổn thất bằng cách trút dần gánh nặng chiến tranh lên vai quân đội Sài Gòn. "Việt Nam hoá" là một chiến lược hoàn chỉnh về quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu cơ bản của Mỹ là bám giữ miền Nam Việt Nam, giảm bớt sự dính líu quân sự trực tiếp trên bộ nhưng vẫn phải giành thế mạnh trên chiến trường để ép đối phương ở bàn hội nghị theo những điều kiện của Mỹ. Về thực chất, đây là một chiến lược chiến tranh "thay đổi màu da trên xác chết". Chiến lược này dự định trải qua 3 giai đoạn và mỗi giai đoạn gắn liền với việc trao dần gánh nặng chiến tranh lên vai chính quyền và quân đội Sài Gòn trên cơ sở đánh giá những tiến bộ của chương trình "Việt Nam hoá".


Thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", Mỹ đã tiến hành một loạt các biện pháp về quân sự, chính trị, ngoại giao mà tựu trung, các biện pháp đó được mệnh danh là "chiến tranh hủy diệt", "chiến tranh giành dân", "chiến tranh bóp nghẹt".


Âm mưu, thủ đoạn và những hành động chiến tranh mới của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đặt sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam trước tình thế mới, vừa thuận lợi nhưng cũng nhiều phức tạp, khó khăn.


Trên thực tế, từ giữa năm 1968 đến những tháng đầu năm 1970, cách mạng miền Nam lâm vào thời kỳ rất khó khăn, các lực lượng cách mạng, yêu nước ở miền Nam phải đổỉ mặt với những thử thách nặng nề trước sự đánh phá dữ dội và những âm mưu, thủ đoạn "bình định" thâm độc, tàn bạo của kẻ thù1 (Sau Tết Mậu Thân 1968, quân đội Mỹ trên chiến trường công khai bộc lộ sự tàn bạo của họ bằng cách gây ra nhiều vụ tàn sát dã man đối với đồng bào ta ở miền Nam, mà Mỹ Lai là một điển hình. Từ những tháng cuối năm 1968, địch triển khai mạnh mẽ các hoạt động gián điệp, tình báo. Thông qua chương trình Phượng Hoàng khét tiếng, chúng tăng cường phát hiện, chỉ điểm, ám sát thủ tiêu, bắt bớ, tra khảo cán bộ, du kích và những người dân bị tình nghi ủng hộ, che giấu lực lượng cách mạng. Chương trình Phượng Hoàng đã gây bao tang tóc, đau thương cho nhân dân Việt Nam...). Cơ sở chính trị ở vùng địch tạm chiếm bị hao tổn; vùng giải phóng, vùng làm chủ bị thu hẹp dần. Mất chỗ đứng chân, các đơn vị chủ lực Quân giải phóng phải lùi dần lên vùng rừng núi, thậm chí bật sang biên giới Campuchia, một số đơn vị phải ra Nam Quân khu IV để củng cố lực lượng...


Giữa những ngày tháng gian nan đó, ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời tại Thủ đô Hà Nội. Trong tình hình đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tăng cường các hoạt động tâm lý chiến nhằm làm lung lạc tinh thần kháng chiến của quân và dân Việt Nam.


"Lửa thử vàng, gian nan thử sức", trong khó khăn ác liệt, quân dân ở cả hai miền Nam, Bắc vẫn giữ vững ý chí, quyết tâm, kiên cường và bền bỉ kháng chiến.


Từ tháng 4-19691 (Tháng 4-1969, Hội nghị Bộ Chính trị họp, phân tích, chỉ ra những mâu thuẫn không thể nào khắc phục được của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và khẳng định phương châm chiến lược: trong khi đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, phải sáng tạo và nắm vững thời cơ để giành thắng lợi trong một thời gian tương đối ngắn. Hội nghị yêu cầu các chiến trường, các địa phương miền Nam, trong khi giữ vững thế tiến công bao vây thành thị, phải đẩy mạnh việc giải phóng vùng nông thôn. Tháng 1-1970, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 18 xác định: nông thôn là hướng tiến công chính của quân và dân ta ở miền Nam), nhất là từ đầu năm 1970, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã từng bước đúc kết, chỉ ra những khuyết điểm của cuộc Tổng tiến công, chủ trương chuyển hướng tiến công, lấy nông thôn làm hướng chính, tập trung nỗ lực ngăn chặn và đẩy lùi các chương trình bình định nông thôn của địch, ra sức chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng đối phó có hiệu quả nếu địch liều lĩnh mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào...


Trên cơ sở đánh giá tình hình nội bộ miền Nam cơ bản đã được ổn định, tháng 4-1970, Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng 10 vạn quân tràn qua biên giới Campuchia, phối hợp với quân đội Lon Non đánh vào hai khu vực Moóc Câu và Mỏ Vẹt nhằm tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng và chụp bắt cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam. Cùng lúc đó, Mỹ tăng cường chiến tranh ở Lào, dùng máy bay ném bom ở các tỉnh Nam Quân khu IV.


Theo dõi sát diễn biến của tình hình, Bộ Chính trị kịp thời nhận định: từ đây, Đông Dương đã trở thành một chiến trường thống nhất, trong đó, chiến trường chính vẫn là miền Nam Việt Nam; Campuchia là chiến trường yếu của địch; Lào ngày càng có vị trí hiểm yếu; miền Bắc là hậu phương chung của cách mạng ba nước Đông Dương. Bộ Chính trị chủ trương phối hợp chặt chẽ với nước bạn đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch, giải phóng đất đai; đồng thời phá kế hoạch "bình định" ở chiến trường miền Nam.


Theo phương hướng đó, lực lượng vũ trang giải phóng Việt Nau phối hợp với lực lượng vũ trang Lào và Campuchia hành động kiên quyết, dũng cảm, giành thắng lợi quyết định ở chiến trường Campuchia, ở Lào1 (Trong vòng 7 tháng của năm 1970, ta và nước bạn Campuchia đã loại khỏi vòng chiến đấu 54.000 quân địch, giải phóng hoàn toàn 5 tỉnh miền Đông và phần lớn nông thôn thuộc 10 tỉnh của Campuchia. Ta và nước bạn Lào giải phóng Atôpơ và Xaravan, tạo thành một địa bàn chiến lược rộng lớn, hiểm yếu ở khu vực biên giới ba nước Đông Dương) và ở Nam Việt Nam.


Phát huy thắng lợi đã giành được trong năm 1970, những tháng đầu năm 1971, quân giải phóng tiến hành thắng lợi chiến dịch phản công có ý nghĩa chiến lược, đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 - một cuộc hành quân nhằm đánh chiếm Sêpôn, phá tận gốc đường vận chuyển chiến lược Bắc - Nam, chia cắt ba nước Đông Dương và thử nghiệm công thức chiến lược: quân đội Sài Gòn (bộ binh) + hoả lực + hậu cần Mỹ. Đây là cố gắng quân sự cao nhất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong giai đoạn Việt Nam hoá chiến tranh. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào đã chấm dứt thời kỳ mà ở đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tổ chức các cuộc hành quân quy mô lớn tiến công và phản kích ra vòng ngoài trên chiến trường 3 nước Đông Dương.


Thắng lợi to lớn, toàn diện của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ trong 2 năm 1970, 1971 đã tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, năm nước Mỹ bước vào cuộc vận động tranh cử tổng thống nhiệm kỳ mới. Đây là thời điểm rất nhạy cảm trong đời sống chính trị nước Mỹ mà bộ não lãnh đạo cách mạng Việt Nam cần phải và có thể lợi dụng để làm thay đối cục diện chiến tranh.


Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 bắt đầu từ ngày 30-3-1972, bằng 3 chiến dịch tiến công của quân chủ lực ta trên 3 hướng (Đường 9 - Tri Thiên, bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ), kết hợp với các chiến dịch tiến công tổng hợp (ở đồng bằng Nam Bộ và đồng bằng Khu 5). Thời gian mở màn, hướng tiến công, quy mô sử dụng lực lượng và cường độ của cuộc tiến công chiến lược đã khiến Mỹ và quân đội Sài Gòn bất ngờ, choáng váng, bị thiệt hại nặng. Quân giải phóng đập vỡ nhiều tuyến phòng ngự cơ bản của quân đội Sài Gòn, chiếm giữ thêm những địa bàn xung yếu có sức uy hiếp các căn cứ, chi khu, đô thị; giải phóng nhiều vùng rộng lớn gồm hầu hết các tỉnh Quảng Trị, Kon Tum, Bắc Bình Định; hoàn chỉnh vùng giải phóng Đông Nam Bộ (Tây Ninh, Bình Long, Phước Long), mở ra vùng giải phóng mới ở đồng bằng Khu 5, đồng bằng sông cửu Long.


Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 nổ ra, Mỹ bị động phải dùng không quân, hải quân đánh phá ác liệt ở miền Nam và mở lại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đi đôi với sự phản ứng quyết liệt về quân sự, Mỹ đồng thời xúc tiến mạnh mẽ các hoạt động ngoại giao hòng gây sức ép buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải dừng cuộc tiến công. Tiếp đó, tháng 12-1972, Mỹ mở cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng hòng buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chấp nhận điều kiện đàm phán của Mỹ. Song, những nỗ lực quân sự, ngoại giao trên đây của Mỹ đều bị thất bại. Mỹ buộc phải ký kết Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thố của Việt Nam, rút hết quân đội ra khỏi miền Nam, chấp nhận việc quân đội miền Bắc vẫn ở lại chiến trường.


Nhìn chung lại, khoảng thời gian từ năm 1969 đến năm 1972 là giai đoạn Mỹ và chính quyền Sài Gòn tuy phải xuống thang chiến tranh nhưng lại thay đổi chiến lược, dồn sức phản công quyết liệt, toàn diện, bằng những biện pháp thâm độc, tàn bạo hòng gỡ thể diện cho việc buộc phải rút dần quân chiến đấu Mỹ ra khỏi miền Nam, chấm dứt sự dính líu quân sự trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam.


Thời kỳ đầu, Bộ Tổng tư lệnh có khuyết điểm trong chỉ đạo chiến lược, đặc biệt là tình huống kéo dài tập trung chiến tranh ở đô thị, bỏ trống vùng nông thôn. Địch đã kịp thời lợi dụng sơ hở, dồn sức thực hiện kế hoạch bình định nông thôn, đẩy lùi thế tiến công của cách mạng miền Nam. Nhưng, từ giữa năm 1970 trở đi, ta đã kịp thời lợi dụng sai lầm của đối phương đưa quân tràn sang biên giới Campuchia, tổ chức phản công và tiến công giành thắng lợi to lớn, toàn diện; kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các mặt đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari mà nội dung cơ bản nhất là "Quân Mỹ phải ra, còn quân ta thì ở lại" như nhận định của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, mở ra giai đoạn mới - giai đoạn "đánh cho ngụy nhào".
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM