Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Chín, 2021, 01:58:24 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 570 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« vào lúc: 12 Tháng Tám, 2021, 10:50:10 am »

- Tên sách: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 4
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia - Sự thật
- Năm xuất bản: 2015
- Người thực hiện: giangtvx, quansuvn


CHỈ ĐẠO NỘI DUNG
   Thiếu tướng, PGS.TS. VŨ QUANG ĐẠO
   Đại tá, PGS.TS. HỒ KHANG
   Đại tá, PGS.TS. TRẦN NGỌC LONG

CHỦ BIÊN
   Đại tá, PGS.TS. HỒ KHANG

TÁC GIẢ
   Thiếu tướng, PGS.TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG
   Thiếu tướng, TS. PHẠM VĂN THẠCH
   PGS.TS. NGUYỄN MẠNH HÀ
   Đại tá, PGS.TS. TRẦN NGỌC LONG
   Đại tá, PGS.TS. HỒ KHANG

HOÀN THIỆN BẢN THẢO
   Đại tá, PGS.TS. HỒ KHANG
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #1 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2021, 07:16:16 am »

LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Bằng cuộc Tổng khởi nghĩa long trời lở đất trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc ta đánh đổ ách thống trị của phát xít Nhật, thực dân Pháp và chế độ phong kiến nhà Nguyễn, thiết lập nhà nước kiểu mới - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á - Nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam vào ngày 2-9-1945 lịch sử.


Vừa giành được độc lập, tự do sau gần một thế kỷ bị ngoại bang đô hộ, dân tộc ta thiết tha mong muốn có hòa bình để xây dựng lại đất nước. Trong tình thế thù trong, giặc ngoài, “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”. Chỉ ba tuần sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhân dân Sài Gòn - Gia Định, nhân dân Nam Bộ đã buộc phải cầm vũ khí đứng lên chống lại quân Pháp tái vũ trang xâm lược và để rồi hơn một năm sau đó, Hà Nội mở đầu cho toàn quốc kháng chiến vào đêm 19-12-1946. Sau chín năm kháng chiến trường kỳ gian khổ, tự lực cánh sinh, sức mạnh của cả dân tộc hội tụ về Điện Biên để làm nên chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".


Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, nhưng dân tộc ta mới giải phóng được nửa đất nước, miền Nam thành đồng Tổ quốc đi trước về sau vẫn còn bị rên xiết dưới gót giày xâm lược của đế quốc Mỹ - tên đế quốc đầu sỏ và bè lũ tay sai bán nước. Dân tộc ta phải tiếp tục cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt, đầy hy sinh, gian khổ suốt 21 năm ròng rã mới quét sạch quân viễn chinh Mỹ và quân các nước phụ thuộc ra khỏi miền Nam, đánh đổ ngụy quân, ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu, thống nhất Tổ quốc.


Cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài 30 năm (1945- 1975) với hai cuộc kháng chiến thần thánh đánh thắng hai tên đế quốc xâm lược đầu sỏ, đã làm rạng rỡ, sáng ngời học thuyết và tư tưởng quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, thể hiện sự kết tinh, hội tụ văn hóa dựng nước, văn hóa giữ nước Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử được nhân lên bởi tư tưởng tiến bộ của thời đại - chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh hoa các học thuyết quân sự cổ - kim - Đông - Tây mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa, chọn lọc.


Trong bộ Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam gồm 5 tập, tập IV được dành riêng để trình bày tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và tư tưởng quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam qua 30 năm chiến tranh cách mạng. Giai đoạn lịch sử quang vinh nhưng nhiều hy sinh, mất mát, đau thương này đã được nghiên cứu, phản ánh trong nhiều bộ sử lớn đã được công bố: Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quốc hội Việt Nam, Lịch sử Chính phủ Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) và lịch sử các quân binh chủng, các quân khu, quân đoàn, các địa phương, đơn vị... Bộ Lịch sử quân sự Việt Nam 14 tập đã dành tập 10, tập 11, tập 12 để viết về hai cuộc kháng chiến vĩ đại này. Đặc biệt, bộ tổng kết chiến tranh gồm: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954) - Thắng lợi và bài học; Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) - Thắng lợi và bài học; 30 năm chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975) - Thắng lợi và bài học của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị đã được xuất bản nhiều năm qua.


Đây vừa là thuận lợi rất cơ bản, nhưng đồng thời cũng là thách thức mà các tác giả của tập sách phải vượt qua để vừa kế thừa những kết quả nghiên cứu đã được công bố, vừa trình bày những kết quả nghiên cứu mới có sức thuyết phục trong yêu cầu chung của bộ Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam.


Mặc dù các tác giả đã rất nỗ lực để cấu trúc hợp lý những nội dung cần truyền tải nhưng khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cùng các tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình của bạn đọc.


Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.


Tháng 7 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #2 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2021, 07:16:58 am »

MỞ ĐẦU


Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước gắn liền với giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc chống lại các kẻ thù xâm lược mạnh hơn, lớn hơn gấp nhiều lần về sức mạnh kinh tế, quân sự. Quá nửa thời gian trong lịch sử hàng nghìn năm đó, các thế hệ người Việt Nam phải dồn tâm lực vào các hoạt động quân sự để giành và giữ vững nền tự do, độc lập, vẹn toàn lãnh thổ. Tiến trình lịch sử đầy gian khó, thử thách, hy sinh ấy đã hun đúc tinh thần đấu tranh bất khuất, ý chí tự lực, tự cường và truyền thống đánh giặc của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Xuất hiện do nhu cầu chống ngoại xâm, đặt trong mối quan hệ giữa chiến tranh và hoà bình, giữa dựng nước và giữ nước, tài thao lược, tư tưởng và nghệ thuật quân sự Việt Nam không ngừng phát triển đạt đến đỉnh cao trong 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc (1945-1975).


Là một nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định thành - bại trong kháng chiến, tư tưởng quân sự Việt Nam trong 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc (1945-1975) là sự kết hợp nhuần nhuyễn, sự kế thừa, hấp thụ tinh hoa quân sự của dân tộc và thế giới; là bước phát triển mới, đạt tới đỉnh cao; vừa hàm chứa tính hiện đại của hoạt động chiến tranh ở thế kỷ XX, vừa mang nét đặc trưng nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc. Tư tưởng quân sự Việt Nam trong 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc (1945-1975) vừa mang nội dung rộng lớn, có tính toàn diện và tổng hợp cao, vừa nối kết lĩnh vực quân sự với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đối ngoại... Đó là tư tương quân sự về chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, kết hợp chặt chẽ quân sự với chính trị, tác chiến với binh vận, kết hợp tiêu diệt địch và phát động quần chúng giành quyền làm chủ, kết hợp đánh du kích và đánh tập trung, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Đó còn là tư tưởng về hoạt động xây dựng hậu phương căn cứ địa kháng chiến; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc... Những nội dung cơ bản trên đây của tư tưởng quân sự Việt Nam trong 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc (1945-1975) làm giàu thêm kho tàng lý luận và tư tưởng quân sự Việt Nam - kho tàng ấy cần được giữ gìn, nghiên cứu, khai thác, vận dụng và phát triển trong điều kiện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Dựa trên việc khai thác và xử lý tư liệu một cách khoa học, phân tích cẩn trọng các nguồn tư liệu, cập nhật những quan điểm, thành tựu nghiên cứu mới nhất, công trình Tư tưởng quân sự Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) làm rõ những nội dung cơ bản, cốt yếu của tư tưởng quân sự Việt Nam hiện đại trên mọi chiều cạnh, chỉ ra tính độc đáo, đặc sắc và vận dụng những giá trị của nó vào bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nền quốc phòng toàn dân.


Trên tinh thần khách quan, trung thực, cố gắng khai thác tối đa các nguồn tư liệu, nhất là các tư liệu gốc, tư liệu lưu trữ, mục tiêu xuyên suốt mà tập thể tác giả đặt ra khi bắt tay nghiên cứu và hoàn thành là công trình làm sáng rõ một số vấn đề hoặc liên quan, hoặc thuộc về tư tưởng quân sự Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đạt được mục tiêu đặt ra không phải đơn giản, với tinh thần thực sự cầu thị, chúng tôi mong nhận được những đóng góp và phê bình của độc giả.


Nhân dịp cuốn sách Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập IV (từ năm 1945 đến năm 1975) ra mắt bạn đọc, tập thế tác giả xin chân thành cám ơn Lãnh đạo Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, các cơ quan chức năng, bạn bè, đồng nghiệp đã cộng tác và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu, nghiệm thu và xuất bản công trình.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #3 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2021, 02:42:31 pm »

Chương I
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC (1945 -1975)


Trong thế kỷ XX, loài người đã chứng kiến những biến động nhanh chóng và dữ dội nhất trong lịch sử. Nếu trong nửa đầu thế kỷ XX, hai cuộc đại chiến thế giới cùng sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã ảnh hưởng trực tiếp tới gốc nền của thế giới cũ, thì trong nửa cuối thế kỷ XX, lại là thời gian diễn ra sự sụp đổ cơ bản của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và kiểu mới lẫn chủ nghĩa xã hội hiện thực - vốn là mô hình chưa hoàn thành của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản trong hình thái chủ nghĩa thực dân, bắt đầu bị tan rã từ những thất bại trước phong trào dân tộc của Thế giới thứ ba. Bất ngờ, nhưng không ngẫu nhiên, hai trụ cột của chủ nghĩa thực dân là Pháp và Mỹ đều lần lượt bắt đầu sự suy tàn của mình tại Việt Nam. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thống nhất đất nước đã để lại những trang sử có ý nghĩa sâu sắc không chỉ đối với bản thân dân tộc Việt Nam, mà còn với lịch sử nhân loại. Bao giờ cũng vậy, có những sự kiện trong lịch sử đánh dấu sự mở đầu cho những thời đại mới - trong chừng mực đó, nó có tầm vóc vượt ra ngoài bản thân nó, cũng như có sức sống vượt ra khỏi giới hạn sự kiện. Như vậy, có thế nói rằng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam (1945-1975) kết thúc thắng lợi là một biểu tượng về sự toàn thắng của chủ nghĩa dân tộc chân chính và trí tuệ con người, sẽ đi vào lịch sử thế giới như một sự kiện có tầm quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.


Trong khoảng thời gian 30 năm ấy, chiến tranh nhân dân từng bước phát triển, vượt qua các thách thức lịch sử, vươn tới đỉnh cao, đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn: lần lượt đánh bại quân xâm lược Pháp và Mỹ, giữ vững và phát triển thành quả cách mạng, giành lại độc lập dân tộc, mang lại tự do trọn vẹn cho Tổ quốc. Chiến thắng ấy đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam: chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở Việt Nam. Quá trình ấy trải qua hai chặng đường liên tục kế tiếp nhau đầy gian nan, thử thách - từ cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp (1945-1954) đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ 21 năm trường kỳ (1954-1975).


Công tác tìm hiểu bối cảnh lịch sử của tư tưởng, học thuyết là cần thiết để thấy được những nhân tố lịch đại, đồng đại cấu thành nên đặc tính của mỗi tư tưởng, học thuyết. Trên cơ sở đó, nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong 30 năm kháng chiến sẽ cho thấy vai trò lịch sử và sự phát triển của tư tưởng quân sự Việt Nam nói chung, tư tưởng quân sự Việt Nam hiện đại nói riêng. Dĩ nhiên, học thuyết chiến tranh, tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự có mối quan hệ mật thiết, nhưng sự phát triển về mặt lịch đại của từng lĩnh vực là không đồng nhất với nhau. Việc làm rõ hoàn cảnh lịch sử sẽ chỉ ra hai phương diện khi nghiên cứu tư tưởng quân sự là: (a) những khuynh hướng chính trị quyết định đối tượng và phương pháp luận của học thuyết chiến tranh cùng tư tưởng quân sự; (b) những nền tảng thực tiễn đóng vai trò quyết định trong quá trình ra đời nghệ thuật quân sự, từ đó củng cố và mở rộng hơn nữa các nhân tố của tư tưởng quân sự. Với quan điểm này, mối quan hệ biện chứng giữa chính trị và quân sự, giữa nhà nước và quân đội, giữa thực tiễn và tư tưởng là tiền đề cho nhận thức và công tác nghiên cứu.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #4 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2021, 02:44:02 pm »

I- KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945-1954)

1. Những vận động, biến đổi chính trị trên thế giới và ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Tháng 5-1945, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc ở châu Âu, tháng 8-1945 kết thúc trên toàn thế giới với sự thất bại hoàn toàn của phe phát xít. Hai sự kiện ấy tạo nên những biến đổi quan trọng trên toàn cầu.


Tại châu Âu, cuối năm 1944, đầu năm 1945, khi Hồng quân Liên Xô truy kích quân phát xít, lực lượng vũ trang và nhân dân các nước Đông Âu đã phối hợp nổi dậy giành độc lập, thành lập nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân: Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Hunggari, Anbani, Nam Tư, Rumani, Cộng hoà Dân chủ Đức. Tại châu Á, dưới sự lãnh đạo của các đảng cộng sản, nhân dân nhiều nước đã giành lại được nền độc lập của mình như Việt Nam, Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Tại những nước này, sau khi giành được độc lập, Đảng Cộng sản đã lãnh đạo nhân dân lao động bắt tay ngay vào xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Như vậy, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thực tế đã hình thành với Liên Xô là trung tâm, là một trong những biến đổi to lớn nhất của lịch sử thế giới trong thế kỷ XX, ảnh hưởng đến bước đường phát triển của lịch sử thế giới nói chung và vận mệnh của nhiều dân tộc nói riêng.


Phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân, các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ đã bùng nổ ngày càng mạnh mẽ. Nhân dân các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc ở Á, Phi, Mỹ - Latinh đẩy mạnh phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc. Ở châu Á, các nước như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên..., dưới sự lãnh đạo của các chính đảng giai cấp công nhân bắt tay vào xây dựng chế độ dân chủ nhân dân theo con đường xã hội chủ nghĩa, ở nhiều nước khác (như Ấn Độ, Mianma, Inđônêxia, Ai Cập, Xyri...), các đảng phái của giai cấp tư sản dân tộc đã tập hợp, lãnh đạo nhân dân đứng lên giành độc lập và phát triển đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa mang tính dân tộc, thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình và trung lập.


Đảng Cộng sản và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản vì lợi ích chung của những người lao động; cũng như trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và phát xít vì hoà bình, dân sinh và dân chủ là hiện tượng đặc biệt của thế kỷ XX. Tại các nước tư bản Tây Âu đã xuất hiện nhiều Đảng Cộng sản với 3,1 triệu đảng viên, có vị trí vững chắc trong các tổ chức công đoàn và các tổ chức dân chủ khác. Đây thật sự là một lực lượng chính trị vững mạnh. Tại một số nước (như Pháp, Italia,...), các Đảng Cộng sản đã tham gia liên minh cầm quyền trong chính phủ của giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh trực diện của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân tiến bộ vào chủ nghĩa tư bản chính là động lực, đồng thời cũng là như đồng minh của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Góp phần to lớn vào thắng lợi chung của cách mạng thế giới chính là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, các nước mới giành được độc lập, trong đó có Việt Nam.


Trong khi đó, các nước phát xít bại trận. (Đức, Italia, Nhật Bản) phải đầu hàng quân Đồng minh không điều kiện, chịu những hậu quả chiến tranh tàn khốc, buộc phải bồi thường chiến phí hết sức nặng nề, khiến cho tình hình chính trị, kinh tế - xã hội ở các nước đó càng trở nên khủng hoảng nghiêm trọng.


Các nước đế quốc châu Âu khác tuy thắng trận nhưng cũng bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề. Sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đều giảm sút nghiêm trọng, góp phần đưa nền kinh tế của các nước này vào tình trạng trì trệ, đình đốn. Bên cạnh đó, các cuộc đấu tranh của phong trào công nhân và các tầng lớp nhân dân không ngừng phát triển, đặt giai cấp tư sản vào những thử thách nghiêm trọng. Bên cạnh đó, các nước này đang phải đối phó với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc thuộc địa đang ngày càng lên cao. Sau chiến tranh, các nước này đều trở thành con nợ của Mỹ và đều thiếu nguồn vốn để phục hồi nền sản xuất. Để duy trì sự thống trị của mình, đối phó với các cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, giai cấp tư sản ở các nước này phải dựa vào nguồn viện trợ của Mỹ (thông qua kế hoạch của Ngoại trưởng Mỹ Mácsan). Từ năm 1948 đến năm 1952, việc nhận viện trợ của Mỹ tới 15 tỉ đôla1 (Xem Nguyễn Anh Thái (Chủ biên): Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr.300), khiến các nước tư bản Tây Âu càng phụ thuộc Mỹ nhiều hơn về kinh tế, chính trị...


Mỹ là nước thu được những lợi nhuận khổng lồ từ việc buôn bán vũ khí và bồi thường chiến tranh (Mỹ đã thu được 114 tỉ đôla lợi nhuận chiến tranh), lại không bị chiến tranh thế giới tàn phá. Nhờ vậy, sau chiến tranh, Mỹ vươn lên trở thành cường quốc số một về kinh tế, tài chính, quốc phòng trong hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa1 (Về quân sự, lục quân Mỹ từ vị trí thứ 17 trước chiến tranh đã vươn lên hàng đầu; hải quân và không quân cũng chiếm ưu thế hơn hẳn so với các nước khác. Những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ lại độc quyền sử dụng bom nguyên tử, độc quyền vận chuyển vũ khí nguyên tử với đích xa. Về kinh tế, sản xuất công nghiệp của Mỹ đã chiếm hơn một nửa tổng sản lượng công nghiệp của toàn thế giới tư bản (56,4% năm 1948); sản lượng công nghiệp cũng tăng gấp 2 lần của Anh, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Italia, Nhật Bản cộng lại (năm 1949). Về tài chính, Mỹ có khối lượng vàng dự trữ lớn nhất thế giới (gần 25 tỉ đôla năm 1949, chiếm gần 3/4 khối lượng vàng của thế giới tư bản), trở thành trung tâm tài chính duy nhất trên thế giới). Với ưu thế vượt trội, giới cầm quyền Mỹ đã đề ra và theo đuổi chiến lược toàn cầu, thực hiện “sứ mệnh lãnh đạo thế giới". Ba mục tiêu chiến lược toàn cầu được Mỹ đặt ra là: ngăn chặn, đẩy lùi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa; ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc, phong trào hoà bình, dân chủ trên thế giới; củng cố quan hệ với các nước đồng minh. Để đạt được mục tiêu đó, Mỹ tiến hành cuộc chạy đua vũ trang, phát triển lực lượng hạt nhân, xúc tiến thành lập các khối liên minh quân sự, xây dựng các căn cứ quân sự ở nước ngoài. Tháng 3-1947, trong bài diễn văn đọc trước Quốc hội Mỹ, Tổng thống Tơruman đã đưa ra "học thuyết Tơruman"1 (Học thuyết Tơruman (Truman) dựa trên chính sách chống cộng bành trướng được thông qua ngày 22-5-1947, nêu rõ rằng, Mỹ sẽ viện trợ cho bất cứ nước nào bị đe dọa bởi chủ nghĩa cộng sản. Học thuyết này là một trong những cội nguồn của thuyết Domino về chiến tranh Việt Nam, một chiêu bài của chủ nghĩa thực dân mới, cho rằng nếu Mỹ không ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, thì các nước Đông Nam Á và sau đó là châu Á sẽ rơi vào tay chủ nghĩa cộng sản, đe dọa đến Mỹ và Tây Âu), chính thức phát động cuộc Chiến tranh lạnh2 ("Chiến tranh lạnh" là từ do Barút (Bernard Baruch) - tác giả giả Kế hoạch nguyên tử lực của Mỹ ở Liên hợp quốc sử dụng lần đầu tiên trong bài phát biểu của ông tại Nam Carolina, ngày 16-4-1947. Theo phía Mỹ, "Chiến tranh lạnh" là chiến tranh không nổ súng, không đổ máu nhưng "luôn luôn ở tình trạng chiến tranh" với mục tiêu là "ngăn chặn" rồi tiến tới tiêu diệt Liên Xô).


Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, theo thỏa thuận giữa các nước thắng trận, thuộc địa cũ của những nước thuộc phe Đồng minh được bảo đảm, trong đó, Đông Dương "chịu ảnh hưởng truyền thống của nước Pháp".


Ngay sau khi vừa giành lại nền độc lập, nước Việt Nam mới đã phải đối diện với tình thế hết sức hiểm nghèo: Chỉ 10 ngày sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công trong cả nước, theo quyết định của Hội nghị Pốtxđam, quân Đồng minh đã lần lượt kéo Việt Nam thực hiện nhiệm vụ giải giáp quân Nhật (giải giáp khoảng 6 vạn lính Nhật).


Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, dưới danh nghĩa quân Đồng minh, 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch đã tràn vào Hà Nội và hầu khắp các tỉnh miền Bắc. Có “kim bài” của Hội nghị Pốtxđam, quân Tưởng lộng hành, nuôi ý đồ thực hiện âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng và thành lập một chính phủ thân Tưởng. Do vậy, theo quân Tưởng vào Việt Nam là lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng (còn gọi là Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (còn gọi là Việt Cách). Được sự hậu thuẫn của quân Tưởng Giới Thạch, những lực lượng này giúp các thế lực phản cách mạng tiến hành chống phá, cướp chính quyền ở nhiều nơi như: Yên Bái, Móng Cái, Vĩnh Yên. Đội quân này gây ra nhiều vụ cướp bóc, giết người và tuyên truyền, kích động quần chúng chống lại chính quyền cách mạng... Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật, quân Anh tiến vào Việt Nam, nhưng thực chất là để dọn đường, tạo điều kiện cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương.


Về phía thực dân Pháp, ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng minh, chính phủ Đờ Gôn (De Gaulle) đã cử một đạo quân viễn chinh sang Đông Dương do tướng Lơcơléc (Leclerc) chỉ huy; đồng thời, cử Đô đốc Đácgiăngliơ (D' Argenlieu) sang làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương với "sứ mệnh đầu tiên của Cao ủy là khôi phục lại chủ quyền của Pháp trên lãnh thổ Liên bang Đông Dương. Tướng chỉ huy tối cao của các lực lượng quân sự tại Viễn Đông chịu trách nhiệm dưới quyền Cao ủy, thi hành mọi biện pháp quân sự cần thiết nhằm khôi phục chủ quyền đó"1 (Chỉ thị của Đờ Gôn gửi Đácgiăngliơ ngày 16-8-1945. Dẫn theo Ph.Devillers: Pari - Sài Gòn - Hà Nội, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.131). Ngày 2-9-1945, trong khi nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn tổ chức míttinh chào mừng ngày độc lập, quân Pháp đã nấp trong Nhà thờ Lớn và xả súng bắn, làm 47 người chết, nhiều người bị thương.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #5 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2021, 02:44:30 pm »

Khi đó, nền kinh tế Việt Nam vốn nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nạn lụt lớn vào tháng 8-1945 làm vỡ đê 9 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ khiến cho mùa màng thu được rất thấp. Sau lụt lớn lại là hạn hán kéo dài làm cho nhiều diện tích đất canh tác bị bỏ hoang, sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp vốn nhỏ bé, kiệt quệ nay càng trở nên đình đốn dẫn đến hàng hoá trên thị trường ngày càng khan hiếm, giá cả tăng vọt làm đời sống nhân dân gặp muôn vàn khó khăn. Đất nước tuy mới giành được độc lập, nhưng chính quyền mới lại không kiểm soát được Ngân hàng Đông Dương, nên vấn đề tài chính lúc này rất khó khăn. Ngân sách Trung ương chỉ có 1.230.0000 đồng, gần một nửa rách nát không lưu hành được. Ở miền Bắc, quân Tưởng tung ra các loại tiền quan kim, quốc tệ đã mất giá trị, làm cho nền tài chính Việt Nam thêm rối loạn.


Những di sản văn hoá của xã hội cũ như hơn 90% dân số không biết chữ, các tệ nạn xã hội như: rượu chè, cờ bạc, mại dâm, nghiện hút... vẫn còn phổ biến, cũng là một trở lực đối với cách mạng Việt Nam cũng như đối với sự phát triển nói chung của dân tộc.


Chính quyền dân chủ nhân dân vừa mới ra đời nên khả năng quản lý, điều hành còn hạn chế. Tại một số địa phương, cơ cấu tổ chức chính quyền không hợp lý dẫn đến tình trạng bao biện, nảy sinh mâu thuẫn, chồng chéo giữa các cơ quan, các cấp. Cơ cấu quản lý cán bộ còn lỏng lẻo, thiếu giám sát đối với công tác cán bộ nên ở một số nơi, bọn phản động đã chui được vào các tổ chức đảng, chính quyền cách mạng.


Quân đội quốc gia là lực lượng chủ yếu bảo vệ đất nước lúc này vừa được xây dựng, tổ chức lại. Cán bộ chỉ huy thiếu, đa số chưa trải qua những khóa huấn luyện quân sự, đào tạo cơ bản; chỉ một số ít được học trong các trường võ bị của thực dân Pháp, Trung Hoa dân quốc. Vũ khí, trang bị cho quân đội còn thiếu nhiều, lại rất lạc hậu. Kinh nghiệm chiến đấu của lực lượng vũ trang chưa nhiều, lại phải đối đầu với các đạo quân xâm lược nhà nghề, hung bạo.


Thực vậy, trong lịch sử, ngoại trừ các dân tộc phát triển bằng bạo lực quân sự để gia tăng chiến tranh và cướp bóc, thường thì sự phát triển của lực lượng quân sự là theo sau sự phát triển của nhà nước và các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Cho dù Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ được phát triển dựa vào một lực lượng cách mạng, nhưng mối quan hệ giữa Nhà nước và quân đội cho thấy bản chất hòa bình của dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh Nhà nước được thành lập dựa trên khát vọng tự do, hòa bình, độc lập của dân tộc, tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại có động lực và mục đích lớn lao nhất là: phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, vì nền độc lập, tự do của dân tộc, vì khát vọng dân tộc.


Tuy vận mệnh dân tộc lâm vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", nhưng bên cạnh đó, đất nước cũng có những điều kiện thuận lợi: nhân dân lao động đã giành được quyền làm chủ và bước đầu được hưởng những quyền lợi do chính quyền cách mạng đưa lại nên vô cùng phấn khởi, tin tưởng và ủng hộ Chính phủ. Ý thức tự hào dân tộc và mong muốn được sống trong chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy sự đoàn kết của các tầng lớp nhân dân nhằm bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ vững nền độc lập, tự do của nước nhà. Khắp nơi trên cả nước, các hoạt động, phong trào thi đua yêu nước, ủng hộ Chính phủ, thu hút được đông đảo tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi, mọi thành phần, tôn giáo tham gia. Trong đó, giai cấp công nhân, nông dân là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước. Nhiều công chức trong chế độ cũ đã tự nguyện xin tham gia phục vụ chính quyền cách mạng. Đồng bào ở nước ngoài đều mở nhiều hoạt động quyên góp, ủng hộ chính quyền nhân dân trong nước. Chính quyền đó do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo - một chính đảng đại diện cho sức mạnh dân tộc cũng như xu thế tiến bộ của thời đại. Trải qua quá trình hoạt động cách mạng, Đảng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu, là nhân tố quyết định đưa đến cuộc vận động giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Thêm nữa, sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp kháng chiến của nhân dân hai nước anh em Lào, Campuchia cùng chống lại kẻ thù chung. Liên minh đoàn kết chiến đấu của ba nước Đông Dương là nhân tố quan trọng góp phần vào sự thành công của cách mạng ba nước nói chung và của Việt Nam nói riêng.


Cũng cần thấy rằng, về phương diện quân sự, sự phát triển từ hiện thực quân lực còn hạn chế về mọi phương diện cho đến tư tưởng quân sự Việt Nam hiện đại trong 30 năm chiến tranh, là một quá trình đặc biệt diễn ra trong quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa điều kiện khó khăn của lực lượng quân sự Việt Nam với nhu cầu kháng chiến chống lại những thế lực quân sự hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Nằm trong tổng thể của thế chiến tranh nhân dân, quá trình chính quy hóa quân đội Giải phóng và các hoạt động quân sự là then chốt cho sự thành công của công cuộc vệ quốc trên phương diện quân sự.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #6 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2021, 09:45:31 am »

2. Các bước phát triển của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

a. Giai đoạn từ tháng 9-1945 đến tháng 12-1947

Đêm 22, rạng ngày 23-9-1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố Sài Gòn, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.


Sáng 23-9-1945, Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ họp tại phố Cây Mai (Chợ Lớn). Hội nghị xác định chủ trương phát động toàn Nam Bộ đứng lên kháng chiến. Sau Hội nghị, nhân dân miền Nam nổi dậy tiến công địch khắp mọi nơi. Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn anh dũng chiến đấu, đánh địch bằng mọi thứ vũ khí dưới mọi hình thức: triệt nguồn tiếp tế của quân đội Pháp ở thành phố; tiến hành tổng bãi công, bãi thị, bãi khóa, dựng chướng ngại vật, đắp chiến lũy trên khắp đường phố. Lực lượng vũ trang đột nhập tấn công sân bay Tân Sơn Nhất, phá hoại máy bay, đốt cháy tàu Pháp vừa cập bến Sài Gòn, phá khám lớn... Trước sự tiến công của quân và dân Việt Nam, quân Pháp lâm vào tình thế bị động, luôn lo sợ bị tập kích, đánh úp.


Để đối phó, Pháp buộc phải tăng cường viện binh. Ngày 5-10-1945, tướng Lơcơléc1 (Lơcơléc (Leclerc) chính là tướng dẫn đầu quân đội Đồng minh tiến vào Pari ngày 25-8-1944. Ông từng tuyên bố: việc chiếm lại Việt Nam chỉ là một "cuộc dạo mát quân sự". 40 năm sau, con gái ông gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hỏi, liệu có một cơ hội hòa bình bị bỏ lỡ hay không?) đến Sài Gòn cùng với các đơn vị bộ binh, xe bọc thép. Với sự giúp đỡ của quân Anh và quân Nhật, thực dân Pháp đã phá được vòng vây xung quanh Sài Gòn - Chợ Lớn, mở rộng ra đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Thực dân Pháp đẩy mạnh tiến hành công cuộc "bình định", lập ra bộ máy cai trị ở những vùng chúng chiếm đóng.


Vì thời gian chuẩn bị gấp, lại phải đương đầu với một đội quân xâm lược đông đảo, nhà nghề, được trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, nên lực lượng vũ trang Việt Nam gặp khó khăn. Trong tình hình đó, cuối tháng 10-1945, Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ mở rộng được triệu tập. Hội nghị tiến hành kiểm điểm, rút kinh nghiệm và đề ra đường lối, phương hướng giải quyết những vấn đề cấp bách, đặt trọng tâm chỉnh đốn tổ chức, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tiến hành xây dựng cơ sở bí mật trong những vùng địch kiểm soát; khôi phục lại chính quyền cách mạng ở những nơi bị tan vỡ. Chấp hành chủ trương trên, không quản ngại khó khăn, gian khổ, nhiều cán bộ, đảng viên trung kiên kiên trì bám sát quần chúng, gây dựng lại cơ sở chính trị và vũ trang, nhằm nhanh chóng đưa phong trào cách mạng phát triển.


“Đồng cam, cộng khổ” với đồng bào Nam Bộ “đi trước, về sau”, Trung ương Đảng, Chính phủ phát động phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến; đồng thời, tích cực chuẩn bị đối phó với tình huống chiến tranh lan rộng ra cả nước. Ngày 26-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ... "Thà chết tự do hơn sống nô lệ"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.4, tr.27).


Hưởng ứng lời kêu gọi ủng hộ Nam Bộ kháng chiến, hàng vạn thanh niên miền Bắc hăng hái lên đường nhập ngũ. Hầu hết các tỉnh ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều thành lập các chi đội (tương đương một tiểu đoàn hoặc một trung đoàn) gửi vào Nam sát cánh chiến đấu cùng đồng bào Nam Bộ. Những cán bộ, chiến sĩ hăng hái, có tinh thần và ít nhiều kinh nghiệm chiến đấu đều lên đường ra trận. Vũ khí, trang bị tốt nhất đều dành cho bộ đội Nam tiến. Nhân dân miền Bắc tổ chức vận động quyên góp tiền bạc, quần áo, thuốc men... ủng hộ đồng bào Nam Bộ.


Trong lúc đó, tại miền Bắc, Trung ương Đảng chủ trương hoà hoãn với quân Tưởng để tránh cùng một lúc phải đương đầu với nhiều kẻ thù. Tránh xung đột, giao thiệp thân thiện, đấu tranh khôn khéo, Đảng, Chính phủ tổ chức các cuộc míttinh, biểu tình tập hợp hàng ngàn người biểu dương lực lượng, nêu cao các khẩu hiệu: "Nước Việt Nam của người Việt Nam!", "Ủng hộ Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà!", "Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh!"...


Không công khai gây xung đột, song chỉ đạo chống phá từ bên trong, quân Tưởng yêu sách cải tổ chính phủ, gạt đảng viên cộng sản khỏi chính quyền... Để hạn chế sự chống phá của quân Tưởng, Chính phủ ta chủ trương “hòa để tiến”, nhượng bộ một số quyền lợi1 (Cụ thể: Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, ta đồng ý tăng thêm cho quân Tưởng 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử; nhường cho chúng 4 ghế bộ trưởng (ngoại giao, kinh tế, canh nông, xã hội) trong Chính phủ liên hiệp. Đồng thời ta cũng nhân nhượng một số quyền lợi về kinh tế như cung cấp cho quân Tưởng một phần lương thực, thực phẩm, chấp nhậ tiêu tiền "quan kim", "quốc tệ" của chúng...). Nhưng đối với các tổ chức phản động, tay sai của Tưởng (Việt Quốc, Việt Cách), chính quyền dựa vào quần chúng cách mạng kiên quyết vạch trần âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại của chúng. Những tên cầm đầu phá hoại khi ta có đủ bằng chứng đều bị trừng trị theo pháp luật. Chính quyền cách mạng kiên quyết ban hành nhiều sắc lệnh nhằm giải tán các tổ chức phản động tay sai của phát xít Nhật trước đây (như Đại Việt Quốc gia xã hội Đảng, Đại Việt Quốc dân Đảng), lập toà án quân sự để xét xử các phần tử phản động...


Về phía thực dân Pháp, sau khi chiếm đóng các đô thị, mở rộng quyền kiểm soát ở miền Nam, chúng đẩy mạnh việc chuẩn bị đưa quân ra miền Bắc. Tuy nhiên trong lúc này, Pháp gặp phải nhiều khó khăn. Lực lượng quân Pháp còn mỏng (3,5 vạn người), lại phải rải quân khắp chiến trường miền Nam để đối phó với các cuộc tiến công của quân và dân Nam Bộ, nếu chúng đưa quân ra miền Bắc thì sẽ khó đạt được mục đích trước sự kháng cự quyết liệt của ta. Hơn nữa, sự có mặt của quân Tưởng đang làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật trên miền Bắc là một trở ngại buộc Pháp không thể bỏ qua. Thực dân Pháp đã tiến hành điều đình, thỏa hiệp với Tưởng Giới Thạch để được thay thế quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, thực chất là đưa quân hợp pháp ra miền Bắc Việt Nam thực hiện âm mưu thôn tính cả nước. Trong khi đó, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc đang phát triển mạnh mẽ, đe dọa đến nền thống trị của Mỹ - Tưởng ở đại lục. Tưởng Giới Thạch và đế quốc Mỹ thấy cần phải tập trung lực lượng về đối phó với cách mạng trong nước, do đó đã đồng ý đề nghị thỏa hiệp của đế quốc Pháp để rút quân về nước. Ngày 28-2-1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết1 (Theo bản hiệp ước này, Pháp nhận trả một số tô giới của Pháp trên đất Trung Quốc và đường xe lửa Vân Nam, quân Tưởng được phép vận chuyển hàng hóa qua cảng Hải Phòng vào Hoa Nam không phải đóng thuế. Để đổi lại, Pháp được đưa quân ra miền Bắc thay thế quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #7 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2021, 09:46:43 am »

Thỏa hiệp giữa Tưởng - Pháp đặt ra cho cách mạng Việt Nam hai lựa chọn: một là, lập tức cầm súng, kiên quyết tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngay khi chúng đưa quân ra miền Bắc; hai là, chủ động đàm phán ngay với Pháp để nhanh chóng gạt 20 vạn quân Tưởng về nước và tranh thủ thời gian nhằm chuẩn bị những tiền đề cần thiết để bước vào cuộc kháng chiến với Pháp sau này.


Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã quyết định chọn giải pháp thứ hai. Ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ký với Xanhtơni2 (Xanhtơni (Jean Sainteny) là nhà ngoại giao người Pháp, có mối quan hệ đặc biệt với Hồ Chí Minh, từng thay mặt Chính phủ Pháp tháp tùng Hồ Chí Minh trong chuyến sang thăm Pháp. Sau năm 1954, Jean Sainteny trở thành Tổng Đại diện của Chính phủ Pháp tại nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ông thuộc nhóm chính khách ôn hòa đối với Việt Nam, cũng là một trong những người ủng hộ sự thành lập một "chính phủ dân tộc liên hiệp" ở miền Nam Việt Nam sau này) là đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ1 (Theo bản Hiệp định, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng nằm trong khối Liên hiệp Pháp; Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, số quân này sẽ rút dần về nước trong thời hạn 5 năm; hai bên thực hiện lệnh ngừng bắn ngay ở Nam Bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đàm phán chính thức giữa các bên ở Pari). Nhưng ngay sau khi ký Hiệp định, thực dân Pháp vẫn tiếp tục gây nên những cuộc xung đột vũ trang ở Nam Bộ, thành lập Chính phủ Nam Kỳ tự trị do Nguyễn Văn Thinh2 (Ngày 4-2-1946, Cao ủy Pháp tại Đông Dương ký sắc lệnh thành lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ. Ngày 26-3-1946, Hội đồng cử Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng lâm thời của Chính phủ lâm thời Nam kỳ tự trị) cầm đầu hòng thực hiện âm mưu tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam. Cuộc đàm phán giữa hai bên (được tổ chức tại Phôngtennơblô - Pháp), diễn ra rất gay go. Sau hơn hai tháng, cuộc đàm phán không đạt được bất kỳ kết quả nào. Trong khi đó, tại Đông Dương, quân đội Pháp tăng cường các hoạt động khiêu khích, quan hệ Việt - Pháp căng thẳng. Để có thêm thời gian hoà bình xây dựng lực lượng, chuẩn bị tiềm lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến, ngày 14-9-1946, Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước, tiếp tục nhượng bộ cho Pháp một số quyền lợi ở Việt Nam.


Tranh thủ thời gian hoà hoãn, nhân dân Việt Nam ra sức củng cố và phát triển lực lượng về mọi mặt. Nhằm củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, xây dựng nền móng của chế độ mới, ngay sau khi ra đời, Chính phủ đã công bô lệnh Tổng tuyển cử trong cả nước; ban hành sắc lệnh thành lập ủy ban dự thảo Hiến pháp ngày 20-9-1945. Ngày 6-1-1946, hơn 90% cử tri trong cả nước nô nức đi bầu những đại biểu ưu tú vào Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Có 333 đại biểu từ mọi miền đất nước, thuộc mọi thành phần tôn giáo, tầng lớp xã hội tượng trưng cho khối đại đoàn kết toàn dân đã được nhân dân lựa chọn. Ngày 2-3-1946, trong phiên họp đầu tiên tại Hà Nội, Quốc hội đã lập ra Ban dự thảo Hiến pháp, thông qua danh sách 70 đại biểu bổ sung vào Quốc hội, nhất trí bầu Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Chính phủ liên hiệp kháng chiến1 (Gọi là Chính phủ liên hiệp kháng chiến, gồm: Chủ tịch Hồ Chí Minh; Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Tường Tam; Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng; Bộ trưởng Bộ Kinh tế Chu Bá Phượng; Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh; Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, cứu tế và lao động Trương Đình Tri; Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đặng Thai Mai; Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hòe; Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính Trần Đăng Khoa; Bộ trưởng Bộ Canh nông Bồ Xuân Luật). Sau ngày bầu cử Quốc hội, các địa phương từ tỉnh đến xã ở Bắc Bộ và Trung Bộ đều tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, lập ra bộ máy chính quyền cách mạng (các Ủy ban nhân dân). Thắng lợi của Tổng tuyển cử cũng như bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp là một đòn giáng mạnh vào ầm mưu chia rẽ, lật đổ, xâm lược của kẻ thù; góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự tồn tại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tháng 10-1946, Quốc hội họp phiên thứ hai. Ngày 3-11-1946, Quốc hội đã thông qua danh sách thành viên chính phủ mới do Hồ Chí Minh đứng đầu1 (Danh sách chính phủ mới bao gồm 14 thành viên: Hồ Chí Minh Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp; Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên; Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến; Bộ trưởng Bộ Y tế Hoàng Tích Trí; Bộ trưởng Bộ Lao động Nguyễn Văn Tạo; Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hòe; Bộ trưởng Bộ Canh nông  Ngô Tấn Nhơn; Bộ trưởng Bộ Cứu tế Chu Bá Phượng; Bộ trưởng Bộ Kinh tế - một vị ở Nam Bộ; Bộ trưởng không bộ Nguyễn Văn Tố; Bộ trưởng không bộ Bồ Xuân Luật). Tiếp đó, ngày 9-11-1946, Quốc hội chính thức thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.


Trung ương Đảng tiếp tục chủ trương không ngừng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Tháng 5-1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) được thành lập nhằm đoàn kết rộng rãi các tổ chức, các đảng phái, cá nhân chưa tham gia mặt trận Việt Minh, đánh dấu bước phát triển mới của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #8 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2021, 09:48:00 am »

Để giải quyết nạn đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào lập các hũ gạo tiết kiệm, không dùng gạo, ngô để nấu rượu. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh "cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó để cứu dân nghèo", đồng bào đã tổ chức quyên góp, tiết kiệm được nhiều lương thực, góp phần cùng Chính phủ vượt qua nạn đói. Việc nhanh chóng chăm lo đến sản xuất là việc làm cấp thiết, là biện pháp cơ bản nhằm giải quyết nạn đói và xây dựng tiềm lực kinh tế nước nhà. Nhận thức đầy đủ ý nghĩa - vai trò của việc đó, Chính phủ đã phát động phong trào thi đua sản xuất. Nhiều khẩu hiệu cổ động sản xuất được đưa ra như "Không một tấc đất bỏ hoang!", "Tấc đất tấc vàng!", "Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!"... đã thật sự trở thành một động lực cho mọi người dân đẩy mạnh sản xuất hơn nữa. Trên khắp các địa phương, đồng bào hăng hái tham gia hưởng ứng. Ruộng đất hoang hoá nhanh chóng được đưa vào sản xuất, gieo trồng nhiều loại cây lương thực và hoa màu. Chính phủ cùng nhân dân đã đắp được những đoạn đê bị vỡ trong nạn lụt hồi tháng 8-1945, củng cố một số đoạn đê xung yếu. Trong các ngành sản xuất, nông nghiệp được ưu tiên hàng đầu. Nhà nước kêu gọi giai cấp công nhân, bộ đội, cán bộ, viên chức nhà nước tổ chức thành từng đội đi về nông thôn giúp bà con đắp đê, khai hoang, phòng, chống lụt bão... Chính phủ còn ban hành một số sắc lệnh để kích thích sản xuất như: tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho nông dân nghèo; chia lại ruộng đất công theo nguyên tắc công bằng, dân chủ; giảm tô 25%, bãi bở các thứ thuế vô lý khác... Nhờ những biện pháp đúng đắn của Chính phủ, sản xuất nông nghiệp Việt Nam nhanh chóng được khôi phục, sản lượng các loại cây lương thực tăng lên nhanh chóng. Miền Bắc cơ bản thoát khỏi nạn đói1 (Năm 1945, sản lượng lúa mùa ở Bắc Bộ đạt 1.155.000 tấn (năm 1944 đạt 832.000 tấn). Riêng sản lượng ngô năm 1946 đạt 217.000 tấn (năm 1939 đạt 140.000 tấn).


Song song với khôi phục sản xuất, Đảng và Chính phủ chủ trương đề ra các biện pháp nhằm nâng cao trình độ văn hoá cho nhân dân. Trong phiên họp ngày 3-9-1945, Hội đồng Chính phủ đã xem đây là một trong những nhiệm vụ cấp bách. Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, kêu gọi toàn dân tham gia xoá nạn mù chữ. Đến tháng 3-1946, ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã có gần 3 vạn lớp học với hơn 81 vạn học viên. Các trường tiểu học, trung học được khôi phục và phát triển. Nội dung và phương pháp giáo dục bước đầu được đổi mới theo tinh thần dân tộc, dân chủ.


Để khắc phục tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về ngân sách, Chính phủ chủ trương kêu gọi đồng bào tự nguyện quyên góp. Nhân dân khắp nơi trên cả nước đã hưởng ứng nhiệt liệt, tham gia tích cực vào xây dựng "Quỹ độc lập" cũng như phong trào "Tuần lễ vàng" do Chính phủ phát động. Chỉ trong thời gian ngắn, đồng bào cả nước đã đóng góp hơn 20 triệu đồng tiền Đông Dương và 370 kg vàng. Ngày 31-1-1946, Chính phủ ra sắc lệnh ban hành đồng tiền Việt Nam. Đến ngày 23-11-1946, Quốc hội chính thức thông qua cho lưu hành đồng tiền Việt Nam trên cả nước.


Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Từ các đoàn thể cứu quốc thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia, Nhà nước tuyển chọn những chiến sĩ có tinh thần cách mạng cao, đủ sức khỏe để xây dựng lực lượng bộ đội tập trung. Ngày 22- 5-1946, Nhà nước ra sắc lệnh quy định Vệ quốc quân chính thức trở thành Quân đội quốc gia của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Một số binh chủng kỹ thuật bước đầu được xây dựng. Đến cuối năm 1946, tổng quân số đạt hơn 82.000 quân, tăng 32.000 quân so với năm 1945. Toàn quốc có gần 1.000.000 tự vệ và du kích1 (Số liệu dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, t.4, tr.132). Bên cạnh đó, Chính phủ chủ trương đoàn kết chặt chẽ với nhân dân hai nước Campuchia và Lào để cùng chiến đấu. Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã giúp đỡ những chiến sĩ cách mạng Campuchia xây dựng cơ sở; liên quân hai nước Việt - Lào đã có sự đoàn kết chiến đấu trong một số trận đánh.


Nhờ những chủ trương, biện pháp đúng đắn trên đây, nhân dân Việt Nam đã tránh được tình trạng phải đối đầu với nhiều kẻ thù một lúc, tạm thời củng cố được tiềm lực về mọi mặt để sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến khi thực dân Pháp trở mặt.


Sau khi ký Hiệp định Sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9 với ta, thực dân Pháp cũng ráo riết đôn quân bắt lính đưa sang chiến trường Đông Dương, quyết tâm thực hiện mưu đồ tái chiếm toàn bộ bán đảo này. Sau khi được tăng viện, ngày 20-11-1946, quân Pháp cố tình tranh giành quyền thu thuế ở cảng Hải Phòng và gây xung đột với lực lượng vũ trang cách mạng. Tiếp đó, trong ngày 24-11, Pháp ngang nhiên cho quân đội bắn đại bác vào Hải Phòng để khiêu chiến. Ngày 27-11-1946, quân Pháp chính thức nhận lệnh chiếm Hải Phòng, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược miền Bắc Việt Nam.


Trước hành động đó của thực dân Pháp, Trung ương Đảng và Chính phủ chủ trương yêu cẩu thực dân Pháp tôn trọng những điều đã ký kết, kêu gọi tiến hành các cuộc tiếp xúc, đàm phán nhằm giải quyết các tranh chấp. Tuy nhiên, đáp lại những thiện chí của Việt Nam, thực dân Pháp tăng cường cho quân tiến hành các hoạt động khiêu khích. Tại Hà Nội, trong tháng 12-1946, quân Pháp liên tiếp gây xung đột với lực lượng vũ trang cách mạng. Ngang nhiên hơn, ngày 17-12-1946, quân Pháp đã bắn đại bác và súng cối vào khu phố Hàng Bún, cho quân chiếm trụ sở Bộ Tài chính và một số cơ quan trong thành phố. Ngày 18-12-1946, Pháp đã gửi tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam, yêu cầu giải tán lực lượng vũ trang và giao quyền kiểm soát Thủ đô cho chúng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #9 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2021, 09:49:23 am »

Hành động đó của thực dân Pháp buộc nhân dân Việt Nam chỉ có lựa chọn duy nhất: cầm vũ khí tiến hành cuộc kháng chiến để bảo vệ độc lập, tự do. Trong hai ngày 18 và 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp hội nghị phân tích tình hình, quyết định phát động toàn quốc kháng chiến. Hội nghị còn đề ra những đường lối cơ bản của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh của nhân dân Việt Nam. Ngay trong đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Sáng 20-12-1946, lời kêu gọi đó được truyền đi khắp đất nước. Toàn bộ văn bản Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến cũng chính là tuyên ngôn về tư tưởng quân sự Việt Nam hiện đại:

"... Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!"
1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.480).


Hình thức thực tiễn của cuộc chiến tranh vệ quốc, đúng như tên của văn bản quan trọng này, là “toàn quốc kháng chiến”. Cuộc kháng chiến toàn quốc đó gồm 3 nhân tố chính: a) mục đích hòa bình; b) lực lượng toàn dân; và c) trường kỳ kháng chiến. Thực vậy, đường lối quân sự và những quan điểm chỉ đạo chiến tranh về sau đều thể hiện những tính chất căn bản đã đề ra trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Khoảng 20 giờ ngày 19-12-1946, công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy, toàn Hà Nội tắt điện. Đó là hiệu lệnh chiến đấu. Pháo tại các pháo đài Láng, Xuân Canh liên tiếp bắn vào khu đồn trú của quân Pháp. Quân đội tổ chức vây hãm đối phương trong thành phố. Ngày 12-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến, nêu lên một cách khái quát những nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến. Tiếp đó, tháng 3-1947, Trường Chinh - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã viết một loạt các bài đăng trên báo Sự thật1 (Trong dịp kỷ niệm lần thứ hai ngày Nam Bộ kháng chiến, những bài viết này của Trường Chinh được tập hợp và in thành sách lấy tến là "Kháng chiến nhất định thắng lợi") để giải thích rõ thêm về đường lối kháng chiến.


Như vậy, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh đã xác định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh.


Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đồng loạt nổ súng. Cuộc chiến đấu lúc này chủ yếu ở các thành phố, thị xã. Tiêu biểu là cuộc chiến đấu của quân và dân tại Thủ đô Hà Nội trong 60 ngày đêm. Quân Pháp ở Hà Nội có 6.500 tên, ngoài ra còn có khoảng 13.000 Pháp kiều (số đông được trang bị vũ khí), về lực lượng vũ trang cách mạng gồm 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 trung đội công an xung phong; lực lượng tự vệ nội, ngoại thành khoảng 28.500 người và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia kháng chiến đánh địch. Quân đội cách mạng chiến đấu dũng cảm, kiên cường bám trụ giành giật từng căn nhà, từng góc phố. Những trận đánh diễn ra ác liệt tại chợ Đồng Xuân, Bắc Bộ phủ, nhà Bưu diện. Nhân dân đã dựng nhiều chướng ngại vật trên đường phố. Đến ngày 17-2-1947, sau gần 2 tháng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, giam chân địch trong thành phố, lực lượng vũ trang cách mạng đã rút ra khỏi thành phố, đã diệt trên 500 địch, phá hủy 30 xe cơ giới. Đến tháng 2-1947, thực dân Pháp tăng viện và tiến hành giải tỏa. Quân đội Việt Minh đã rút ra ngoại thành để chuyển sang một giai đoạn chiến đấu mới.


Thực hiện đường lối kháng chiến đã đề ra, song song với cuộc chiến đấu ở các đô thị nhằm tiêu hao, tiêu diệt và giam chân địch trong các thành phố, thị xã, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhanh chóng di chuyển các cơ quan, kho tàng, tổ chức cho nhân dân tản cư chuyển cả nước vào thời chiến. Các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận... di chuyển về phía Hà Đông, Sơn Tây và đến tháng 3-1947 đã lên đến căn cứ Việt Bắc. Quân và dân Việt Nam đã vận chuyền được hàng vạn tấn máy móc, gạo, muối, vải từ những vùng tạm chiếm về các khu căn cứ địa an toàn nhằm xây dựng cơ sở vật chất của kháng chiến. Riêng trong vòng 3 tháng đầu năm 1947, đã chuyển được khoảng 40.000 tấn máy móc, nguyên vật liệu. Chỉ tính tại Bắc Bộ, đã chuyển được gần 2/3 số máy móc lên chiến khu, nhờ đó mà đã xây dựng được 57 cơ sở sản xuất, đáp ứng nhu cầu bức thiết về kinh tế, quốc phòng. Bên cạnh đó, Đảng và Chính phủ đã phát động nhân dân tiến hành tiêu thổ kháng chiến để ngăn không cho thực dân Pháp chiếm dụng phục vụ cho mục đích chiến tranh. Trong những ngày đầu toàn quôc kháng chiến, ta đã phá hoại 1.060 km đường sắt, 5.640 km đường ôtô, 30.500 cầu cống, gần 60.000 nhà cửa, 84 đầu máy và 868 toa xe lửa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM