Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Trọn bộ
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 10 Tháng Tám, 2022, 12:46:56 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930-2007  (Đọc 2992 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4799



« Trả lời #110 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2022, 11:10:11 am »

II. NHỮNG THÀNH QUẢ CƠ BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM


1. Hai dân tộc Việt Nam, Lào sát cánh bên nhau cùng tiến hành khởi nghĩa tháng Tám 1945, giành độc lập dân tộc


Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (tháng 9 năm 1939), từ tháng 11 năm 1939 đến tháng 5 năm 1941, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã sớm đưa ra những luận điểm và chủ trương quan trọng chuẩn bị cho công cuộc khởi nghĩa giành độc lập, tự do cho các dân tộc Việt Nam, Lào, Miên. Do điều kiện cụ thể khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ có hai nước Việt Nam, Lào tiến hành khởi nghĩa giành được quyền độc lập.

Các luận điểm và chủ trương của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương được thể hiện ở các vấn đề sau:

a) Đánh giá xác đáng tình hình chính trị, xã hội Đông Dương và chỉ rõ mâu thuẫn cần giải quyết

Bằng cách nhìn nhận khách quan và cách mạng, tháng 11 năm 1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho rằng, Chiến tranh thế giới thứ hai làm cho mâu thuẫn giữa các nước đế quốc và các dân tộc thuộc địa càng phát triển gay gắt, các dân tộc bị áp bức sẽ vùng dậy đấu tranh chống đế quốc xâm lược để trút bỏ ách tôi đòi: “cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị gây nên bởi đế quốc chiến tranh lần này sẽ nung nấu cách mệnh Đông Dương nổ bùng và tiền đồ cách mệnh giải phóng Đông Dương nhất định sẽ quang minh rực rỡ” .

Lúc bấy giờ, thực dân Pháp thi hành ở Đông Dương chính sách phát xít. Bọn phong kiến Việt, Miên, Lào cam tâm làm tay sai cho đế quốc Pháp, hô hào thanh niên đi lính, vơ vét tài sản của nhân dân Đông Dương để cung phụng cho “mẫu quốc” khiến: “ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng mong muốn độc lập, tự do, và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ” .

Tháng 9 năm 1940, quân Nhật kéo vào chiếm Đông Dương, tròng thêm vào cổ nhân dân Đông Dương một ách thống trị, đẩy mâu thuẫn giữa các đế quốc Pháp, Nhật với các dân tộc, các giai cấp tại Việt Nam, Lào, Miên lên tới mức độ rất quyết liệt, đúng như nhận định của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 5 năm 1941: “Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng” . Đó chính là mâu thuẫn cơ bản và cũng là mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi cách mạng Đông Dương phải giải quyết. Quan điểm trên sẽ chi phối nhiều quyết định quan trọng của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng trong tiến trình lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành quyền độc lập, tự do của các dân tộc Việt Nam, Lào.

b) Xác lập các luận điểm về vấn đề dân tộc ở Đông Dương

Trong hoàn cảnh các dân tộc Đông Dương đang bị giam hãm trong ngục tù nô lệ của chế độ thuộc địa, bị tước bỏ mọi quyền tự do, dân chủ, một ước nguyện tha thiết nhất của nhân dân các dân tộc Đông Dương là đánh đổ chế độ thực dân, giành lại chủ quyền dân tộc. Do vậy, tại Hội nghị lần thứ sáu, tháng 11 năm 1939 và Hội nghị lần thứ tám, tháng 5 năm 1941, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đều quan niệm:

Một là, vấn đề giải phóng dân tộc là vấn đề hàng đầu trong hệ thống luận điểm vấn đề dân tộc ở Đông Dương. Nó phải được đặt ở vị trí cao nhất, bức thiết nhất; tất cả quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phương hại lợi ích dân tộc, thì phải gác lại giải quyết sau.

Hai là, giải quyết đúng quyền “dân tộc tự quyết” cho các dân tộc ở Đông Dương. Ngay từ tháng 11 năm 1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã chủ trương sau khi độc lập: “Mỗi dân tộc có quyền giải quyết vận mệnh theo ý muốn của mình, song sự tự quyết cũng không nhất định nghĩa là rời hẳn nhau ra” .

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh và mở rộng thêm: Quyền tự do, độc lập của mỗi dân tộc được thừa nhận và tôn trọng. Mỗi dân tộc đều có quyền bảo tồn, phát triển văn hoá của dân tộc mình. Đối với các dân tộc Lào, Miên, dân tộc Việt Nam có nghĩa vụ giúp đỡ trên bước đường đấu tranh vì độc lập, tự do.

Ba là, cần xây dựng khối đoàn kết của các dân tộc ở Đông Dương mới có đủ sức mạnh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Pháp, Nhật; đồng thời, cần mở rộng quan hệ đoàn kết với các lực lượng cách mạng và dân chủ chống phát xít trên thế giới.

Thực dân Pháp và quân phiệt Nhật dùng chính sách chia để trị giữa các dân tộc Việt, Miên, Lào, và nội bộ từng dân tộc. Mặt khác, ba dân tộc này ở Đông Dương đều nằm dưới ách thống trị của Pháp và Nhật. Vì thế, muốn đánh đổ ách thống trị đó, cần huy động lực lượng đoàn kết, thống nhất của ba dân tộc.

Nhìn rộng ra thế giới, cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới, đứng trong phe dân chủ chống phát xít và gắn bó chặt chẽ với cách mạng Trung Quốc 1, Liên Xô.

c) Quyết định thực hiện một nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc

Căn cứ vào sự chuyển biến tình hình thế giới và Đông Dương, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương xác định rõ: Đảng phải thay đổi chính sách, để đánh đổ chế độ thuộc địa giành quyền sống cho ba dân tộc Việt, Miên, Lào.

Nếu như Luận cương chính trị của Đảng tháng 10 năm 1930 cho rằng, trong cách mạng tư sản dân quyền (Đại hội II của Đảng gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) phải thi hành triệt để cách mạng ruộng đất và đánh đổ chủ nghĩa đế quốc làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, thì đến tháng 11 năm 1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đề xuất chủ trương mới: “Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao... cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết. Vì vậy,... trong lúc này chỉ mới tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc”  (BBS nhấn mạnh).

Tiến thêm một bước mới, tại Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đưa ra một quyết định quan trọng là thay đổi chiến lược cách mạng với hàm nghĩa “cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”” (BBS nhấn mạnh). Vì thế cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

d) Xúc tiến công tác xây dựng đảng và lực lượng cách mạng

Trong khi xác định các chủ trương mới của Đảng nhằm “dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mệnh giải phóng”  (BBS nhấn mạnh), Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác xây dựng đảng với trọng tâm là thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng; thắt chặt quan hệ Đảng với quần chúng; nâng cao trình độ lý luận và lựa chọn cán bộ để chỉ đạo thực hiện đường lối của Đảng; khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và mối liên hệ của các cấp bộ đảng từ chi bộ tới Trung ương; cần củng cố, mở rộng cơ sở đảng tại thành thị và trung tâm công nghiệp, đồn điền. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặc biệt chú trọng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ gây dựng cơ sở đảng ở Miên, Lào.

Giải thích nguyên do dẫn tới khó khăn lớn của cách mạng Đông Dương, trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản tháng 7 năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho biết Đảng còn quá yếu, vì phần lớn số cán bộ có kinh nghiệm đấu tranh hiện đang bị giam giữ trong nhà tù đế quốc.
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương kiểm điểm công tác xây dựng đảng từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ở châu Âu và cho rằng: tình hình Đông Dương biến đổi nhiều, Đảng đã lãnh đạo được nhiều cuộc đấu tranh nhưng cũng bỏ lỡ nhiều cơ hội lãnh đạo phong trào quần chúng phát triển để có thể đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. Hội nghị nhấn mạnh các công tác trọng tâm:

Công tác đào tạo cán bộ là công tác rất cấp bách và phải thực hiện bằng nhiều phương pháp như giáo dục lý luận, đào luyện trong công tác thực tiễn và trao đổi kinh nghiệm hoạt động trong các tầng lớp xã hội như công nhân, binh lính; phải nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng của giai cấp vô sản và kết nạp họ vào Đảng. Cần phát triển phong trào đấu tranh tại đô thị, nhà máy, hầm mỏ, lấy đó làm đầu tàu lôi kéo phong trào các nơi khác.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng phân công Đảng bộ Trung Kỳ chịu trách nhiệm tổ chức, gây cơ sở đảng ở Lào, Đảng bộ Nam Kỳ thực hiện nhiệm vụ đó tại Cao Miên. Đồng thời, phải lập những uỷ ban chuyên môn vận động các dân tộc thiểu số, làm cho họ trở thành lực lượng hậu thuẫn của cách mạng.

Cùng với các nhiệm vụ trên, Đảng phải chú trọng tổ chức hệ thống giao thông, liên lạc vững chắc, đa dạng giữa các cấp.

Trên bước đường hướng tới thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho các dân tộc Việt, Miên, Lào, lãnh tụ Hồ Chí Minh hướng dẫn các đảng bộ: “phải biết nhằm vào các công tác trung tâm mà tiến tới, phải nắm lấy thời cơ thuận lợi mà làm việc. Làm sao cho đủ năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng” .

Trong công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị, Mặt trận thống nhất dân tộc giữ một vị trí rất quan trọng. Theo quan điểm của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, để tiến hành giải phóng dân tộc, tự cứu sống mình, trước hết phải thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết các dân tộc, các giai cấp, các đảng phái và phần tử phản đế theo tinh thần: “Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên, vì quyền lợi sinh tồn của dân tộc mà sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản và những tầng lớp tư sản bổn xứ, trung tiểu địa chủ còn có căm tức đế quốc, vì sự căm tức ấy có thể làm cho họ có ít nhiều tinh thần chống đế quốc” .

Đến tháng 5 năm 1941, quán triệt luận điểm đại đoàn kết dân tộc của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định xây dựng tại mỗi quốc gia một mặt trận thống nhất dân tộc và mang “cái tên khác (tức Mặt trận thống nhất dân tộc - BBS) cho có tính chất dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại”. Theo đó, sẽ thành lập Mặt trận Việt Minh tại Việt Nam. Đồng thời, Đảng và Việt Minh phải hết sức giúp đỡ các dân tộc Lào, Miên thành lập Ai Lao độc lập đồng minhCao Miên độc lập đồng minh. Sau đó, lập ra Đông Dương độc lập đồng minh. Từ đây, bắt đầu xuất hiện ý tưởng hình thành tại ba dân tộc Việt Nam, Lào, Miên tầng Mặt trận thống nhất dân tộc trong mỗi quốc gia và tầng Mặt trận các dân tộc Đông Dương. Đó chính là lực lượng chính trị cơ bản nhất cùng với lực lượng vũ trang làm nòng cốt, tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng giải phóng của mỗi dân tộc và cả ba dân tộc ở Đông Dương.

Xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa và chiến khu cũng là một nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

e) Chỉ đạo phương pháp đấu tranh giành chính quyền

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang khi đã có đủ các điều kiện chủ quan và khách quan.

Khởi nghĩa sẽ diễn ra theo quy trình khởi nghĩa từng phần ở từng địa phương mở đường tiến tới tổng khởi nghĩa.

Trong thời gian từ cuối năm 1939 đến tháng 8 năm 1945, tuy cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào bị chính quyền Pháp - Nhật đàn áp, khủng bố rất khốc liệt, nhiều cán bộ cấp cao của Đảng và đảng viên bị cầm tù và hy sinh, nhưng dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, công tác chuẩn bị về nhiều mặt cho công cuộc khởi nghĩa giành chính quyền vẫn được xúc tiến.

Tại Việt Nam, căn cứ địa Việt Bắc, Mặt trận Việt Minh và nhiều tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo được thành lập; nhiều đơn vị vũ trang như Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân lần lượt ra đời. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945), Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, nhiều chiến khu xuất hiện, khởi nghĩa từng phần ở nhiều địa phương miền Bắc và miền Trung nổ ra thắng lợi.

Ở Lào, chính quyền thuộc địa Pháp - Nhật cũng khủng bố ráo riết các tổ chức cộng sản. Cuối năm 1943, Đảng bộ Trung Lào nhận được Nghị quyết lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tiếp sau là Chương trình, Điều lệ Việt Minh. Giữa lúc đó, số đảng viên hoạt động tại biên giới Lào - Thái chủ động thành lập Đội Tiên phong 2, nhằm chuẩn bị lập lại Xứ uỷ Lào. Tháng 2 năm 1945, “Hội Việt kiều cứu quốc”, một loại hình mặt trận thống nhất dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đội Tiên phong được thành lập. Hội chủ trương đoàn kết các tầng lớp nhân dân, công chức, binh lính, cảnh sát có tinh thần yêu nước, chuẩn bị xây dựng căn cứ địa trên đất Thái Lan.

Sau đó, Xứ uỷ Lào được lập lại lần thứ tư và xác định các đô thị lớn như Viêng Chăn, Thà Khẹc, Xavẳnnakhệt là địa bàn hoạt động chính. Sau ngày quân phiệt Nhật đảo chính Pháp, phong trào cứu nước càng phát triển mạnh mẽ. Tổ chức Lào Ítxalạ bao gồm công chức, học sinh có tinh thần yêu nước, chịu ảnh hưởng đường lối cứu nước của Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, nhiều căn cứ cách mạng xuất hiện. Tháng 6 năm 1945, đơn vị Việt Nam Độc lập quân được thành lập ở chiến khu trên đất Thái Lan.

Trung tuần tháng 8 năm 1945, thời cơ giành độc lập cho Đông Dương xuất hiện, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định Tổng khởi nghĩa và tiến hành Hội nghị toàn Đảng tại Tân Trào, Tuyên Quang (ngày 14, 15 tháng 8 năm 1945). Nghị quyết của Hội nghị nêu rõ: “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi; cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới” . Vào thời điểm này, Bác Hồ gặp các đồng chí đại biểu Xứ uỷ Lào, Người dặn: thời cơ rất thuận lợi cho nhân dân Đông Dương, ở đâu có điều kiện, phải giành được chính quyền trước khi Đồng minh vào. Pháp và Đồng minh Anh, Mỹ gắn bó với nhau. Pháp sẽ núp sau lưng Đồng minh để trở lại xâm lược Việt Nam, Lào, Miên, chúng ta phải đoàn kết để đánh kẻ thù chung.

Nhân dân hai nước Việt, Lào chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa thành công tháng 8 năm 1945.

Đó là kỳ tích đầu tiên của hai nước Việt Nam - Lào, của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.




-------------------------------------------------------------------
1. Báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản, tháng 7 năm 1939, cho biết: Dân chúng đã thấm nhuần tinh thần khẩu hiệu “Giúp đỡ Trung Quốc” và bằng chứng là, dù đói khổ, từ tháng 3 năm 1938 đến tháng 2 năm 1939, họ đã quyên góp 579 đồng vào cuộc lạc quyên ủng hộ các chiến sĩ Trung Quốc, do các báo cộng sản ở Bắc Kỳ tổ chức. Người còn cho biết thêm: những người cộng sản Đông Dương đã sáng tác bài hát “Giúp Trung Quốc tức là giúp mình”, bài hát này được phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Nhiều nơi đã tổ chức biểu diễn ban đêm và người biểu diễn là công nhân, nông dân, nhất là thanh niên. Họ thường phối hợp với thanh niên Trung Quốc để tiến hành. (Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.158).

2. Đội Tiên phong do đồng chí Chấn làm đội trưởng. Các đồng chí Long, Vịnh, Khanh, Khiếu là uỷ viên sinh hoạt gần như một cấp uỷ. Tài liệu do đồng chí Đinh Văn Khanh, Uỷ viên Xứ uỷ Ai Lao, Uỷ viên thường trực Ban Công tác miền Tây (CP38) cung cấp.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4799



« Trả lời #111 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2022, 04:30:44 pm »

2. Việt Nam, Lào đoàn kết, liên minh chiến đấu chống đế quốc xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc

Vượt qua khó khăn, thử thách, tạo dựng thực lực của liên minh chiến đấu chống thực dân Pháp

Hai dân tộc Việt Nam, Lào vừa giành được quyền độc lập, đã phải đối phó ngay với thực dân Pháp quay trở lại xâm lược.

Ở Lào, từ khi cuộc kháng chiến bùng nổ đến giữa năm 1950, cách mạng gặp rất nhiều khó khăn, lực lượng liên quân Lào - Việt mới được tổ chức, phong trào cách mạng của các tầng lớp nhân dân chỉ mới xuất hiện tại các đô thị lại phải chống chọi với đội quân xâm lược nhà nghề được trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. Dù tinh thần chiến đấu của liên quân và nhân dân rất cao, nhưng vẫn không thể cản nổi các cuộc hành quân xâm lược của kẻ thù.

Chính phủ Lào Ítxalạ trong tình thế khó khăn của cuộc chiến, phải chuyển sang Thái Lan và dần dần đã diễn ra sự phân hoá, bộ phận tích cực, đứng đầu là Hoàng thân Xuphanuvông, vẫn kiên định lập trường đoàn kết với Việt Nam tiến hành kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Bộ phận khác thoái chí, rời bỏ hàng ngũ kháng chiến hoặc cộng tác với đối phương.

Trên chiến trường Việt Nam, vận mệnh dân tộc đứng trước tình thế hiểm nghèo. Song Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương đã phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đặt lợi ích của đất nước, của dân tộc cao hơn hết thảy và thực thi những phương sách nội trị, ngoại giao hữu hiệu, đưa cách mạng vượt qua thác ghềnh, bảo vệ được thành quả Cách mạng tháng Tám 1945, bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào.

Ở đây cũng cần nói thêm rằng, vào thời điểm cuối năm 1945 đầu năm 1946, do những khó khăn vô cùng gay gắt của mình, Nhà nước và nhân dân Việt Nam chưa thể chi viện kịp thời, đầy đủ sức người, sức của cho cách mạng Lào. Dù vậy, những bước khởi đầu quan trọng cũng đã được tiến hành với tầm nhìn thiết thực, cơ bản cho trước mắt và tương lai lâu bền của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.

Một là, ngay từ khi mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến trường Việt Nam, Lào đã bị các thế lực đế quốc vây hãm trên biển Đông và lục địa, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương xác định nhiệm vụ “phải liên minh với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới, đặc biệt với các nước lân cận để củng cố công cuộc cách mạng của mình” . Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam chỉ đạo các cơ quan ngoại giao mở một con đường ngoại giao ở hướng tây nam từ Việt Nam qua Lào tới Thái Lan từ giữa năm 1946 đến giữa năm 1951. Được sự ủng hộ của Chính phủ dân tộc tiến bộ Thái Lan lúc bấy giờ, Chính phủ Việt Nam thành lập một cơ quan ngoại giao tại Băng Cốc gọi là Phái viên quán, nhằm từ đây mở rộng quan hệ ngoại giao với một số nước Đông Nam Á và tuyên truyền quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của các nước và các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào. Chính cơ quan này cũng là nơi tiếp xúc giữa phái viên Việt Nam với Hoàng thân Xuphanuvông và nhiều cán bộ yêu nước và tiến bộ của Lào. Nhờ vậy, hoạt động của Việt kiều và nhân dân, cán bộ, lực lượng vũ trang Lào tạm lánh sang Thái Lan hoạt động khá thuận lợi như lập chiến khu để huấn luyện quân sự, mở xưởng sản xuất, sửa chữa vũ khí chi viện cho chiến trường Lào và Việt Nam. Bằng con đường này, nhiều đoàn cán bộ, quân đội Việt Nam và Lào qua lại, trong đó có Hoàng thân Xuphanuvông, được đưa từ Thái Lan sang Việt Bắc.

Tháng 1 năm 1948, vào dịp Miến Điện tuyên bố độc lập, Chính phủ Việt Nam cử bác sĩ Phạm Ngọc Thạch làm phái viên của Chính phủ sang dự lễ độc lập của Miến Điện. Một tháng sau đó, Chính phủ Miến Điện đồng ý để Việt Nam lập cơ quan đại diện tại Rănggun và giúp đỡ cơ sở vật chất cho cơ quan này hoạt động. Cũng như tại Thái Lan, ở đây cơ quan ngoại giao Việt Nam lập phòng thông tin liên lạc với Việt Bắc bằng điện đài, cung cấp tin tức về tình hình quốc tế. Chính phủ Miến Điện cho phép kiều bào Việt Nam và lực lượng kháng chiến Lào cư trú và hoạt động chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ xây dựng khu kháng chiến tại Lào, cung cấp cho Việt Nam, Lào 500 khẩu súng và nhiều đạn dược để chuyển sang xây dựng chiến khu Tây Bắc Lào.

Cơ quan đại diện của Việt Nam tại Rănggun hoạt động đến năm 1959 thì chuyển thành Tổng lãnh sự quán .

Các hoạt động ngoại giao trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp đã hỗ trợ về nhiều mặt cho cuộc kháng chiến của hai dân tộc Việt Nam, Lào và ươm mầm cho sự phát triển của phong trào ủng hộ cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam, Lào ở những chặng đường nối tiếp.

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt đầu tiên của quan hệ Việt Nam - Lào.

Quá trình tạo lập quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào về tổ chức, cán bộ ngay từ khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời và Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập, công tác xây dựng các tổ chức quần chúng cách mạng và chi bộ đảng tại Lào đã được tiến hành với sự tham gia của người Lào và người Việt, nhằm mục tiêu đấu tranh giành độc lập, tự do cho nhân dân Lào mà thắng lợi của khởi nghĩa tháng Tám là một minh chứng hùng hồn. Đến khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, quân và dân Lào, Việt Nam cùng chung sức chống ngoại xâm là bước phát triển của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong thực tiễn của chiến tranh cách mạng trên quy mô rộng lớn.

Song hành với những hoạt động trên, việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt đầu tiên cho nhiệm vụ tăng cường quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trở nên rất cấp bách. Phía Việt Nam, Đảng, Nhà nước và quân đội vừa sử dụng những cán bộ, đảng viên cộng sản từng hoạt động tại Lào, Thái Lan, vừa tiếp tục điều động nhiều cán bộ chính trị, quân sự bổ sung cho đội ngũ này. Đồng thời, trong phong trào cách mạng của dân tộc Lào cũng xuất hiện nhiều cán bộ lãnh đạo xuất sắc, chủ chốt đầu tiên mà tiêu biểu là đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Hoàng thân Xuphanuvông và một đội ngũ cán bộ tiếp nối giàu tài năng, đạo đức cách mạng.

Con đường đồng chí Cayxỏn Phômvihản hoà nhập phong trào cách mạng và tổ chức cách mạng đến với đồng chí diễn ra tại Hà Nội, một địa bàn đấu tranh rất sôi nổi trong giai đoạn chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh đế quốc, đòi quyền tự do dân chủ, cơm áo và hoà bình những năm 1936 - 1939 và tiếp nối sau đó là cuộc vận động tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (tháng 11 năm 1939) đến Cách mạng tháng Tám 1945.

Vốn là một thanh niên yêu nước, tiến bộ, đồng chí Cayxỏn Phômvihản lại sớm được tiếp xúc với nhiều bạn bè cùng chí hướng tại trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An, Hà Nội) và trường Đại học Luật Hà Nội. Được đọc nhiều sách, báo, văn kiện của Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí Cayxỏn Phômvihản sớm giác ngộ cách mạng, tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường cách mạng giải phóng Đông Dương do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Đông Dương vạch ra. Tiến bước theo hướng đó, trong cao trào kháng Nhật, cứu nước, cuối năm 1944, đồng chí được kết nạp vào Đoàn Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu (Hà Nội).

Trong các chặng đường cách mạng tiếp theo, với trọng trách của người lãnh đạo cách mạng Lào và chung sức với các đồng chí lãnh đạo cách mạng Việt Nam vun đắp, phát triển quan hệ Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào, đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã đảm đương xuất sắc hai sứ mệnh đó.

Cuộc gặp gỡ thân tình giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xuphanuvông diễn ra gần trọn tháng 9 năm 1945, tại Hà Nội, đã tác động tích cực tới sự phát triển sâu rộng, vững bền của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

Chúng ta có thể biết giá trị của những ý kiến mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với Hoàng thân và nhận thức của ông về cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945 của nhân dân Việt Nam do chính ông thuật lại cho nhà văn, nhà báo Ba Lan Vôixếch Xúcrauxki:

“Tôi bắt đầu sự nghiệp đấu tranh vào năm 1945... Nhờ có dịp được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội, tôi đã học được rất nhiều điều bổ ích. Tôi tham gia cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám chống bọn phát xít Nhật và nhận thấy rằng người Việt Nam đã dựa hẳn vào phong trào toàn dân mà giành được thắng lợi về cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Mọi vấn đề đã trở nên rất dễ hiểu đối với tôi. Sau đó tôi về nước để lãnh đạo đấu tranh giải phóng cho nhân dân Lào” .

Ngoài những điều trên, những ngày ở Hà Nội cũng là dịp Hoàng thân Xuphanuvông và phu nhân được sống trong tình cảm đầm ấm, thân tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho ông bà, đồng thời cũng được chứng kiến những hành vi đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của Người.

Hai ông bà Hoàng thân cùng có chung một ý nghĩ: “Và chính mình quan sát được từng bữa cơm ăn, cái áo mặc, và chỗ ngủ của Bác Hồ, thấy Bác sống giản dị chẳng khác người dân thường mà chúng tôi càng gần gũi kính yêu Người, giống như người thân trong gia đình mình vậy” .

Với những tố chất yêu nước, thương dân và lòng mong muốn làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Lào, từ nô lệ sang độc lập, tự do và thịnh vượng, Hoàng thân Xuphanuvông tiếp nhận rất nhanh chóng tư tưởng Hồ Chí Minh và noi theo tấm gương đạo đức cách mạng cao cả của Người. Điều đó đã tạo nên sự chuyển biến tất yếu từ vị Hoàng thân trở thành nhà cách mạng chân chính trong các lãnh tụ nổi bật nhất của nhân dân Lào và là người có nhiều cống hiến to lớn cho quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam. Về sự biến đổi quan trọng đó, kỹ sư Xinava Xuphanuvông, con trai út của Hoàng thân, cho biết trong Hồi ký của mình: “Cha tôi luôn luôn kể cho chúng tôi nghe về những ngày hệ trọng trong cuộc đời ông, trong đó ông nhớ nhất lần đầu gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính cuộc gặp gỡ đó đã biến ông từ một Thái tử của Hoàng gia Lào thành người chiến sĩ cách mạng”.

Từ tháng 10 năm 1945, thời điểm mở đầu quan hệ liên minh chiến đấu Lào - Việt, tại Xê Pôn, sau khi kêu gọi nhân dân Lào đoàn kết cứu nước, Hoàng thân Xuphanuvông đề cập ngay quan hệ Lào - Việt Nam: “Lào và Việt Nam cùng chung một nguyện vọng duy nhất là có nền độc lập dân tộc và quyền dân chủ thực sự, cùng chung kẻ thù là thực dân Pháp muốn trở lại thống trị hai nước chúng ta. Do đó, nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam anh em phải đoàn kết nhau lại tiếp tục chiến đấu. Nền độc lập của Lào muôn năm! Tình đoàn kết Lào - Việt Nam muôn năm!” .

Tiếp tục bồi dưỡng lý luận chính trị, phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ cách mạng Lào là một nhiệm vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, mỗi khi có dịp là Người khẩn trương tổ chức thực hiện. Đồng chí Phumi Vôngvichít cho biết, sau khi Đại hội đại biểu toàn quốc Neo Lào Ítxalạ bế mạc tại chiến khu Việt Bắc, tháng 8 năm 1950: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành bốn ngày đêm liền để nói chuyện với đoàn đại biểu chúng tôi. Người giảng giải chủ nghĩa Mác - Lênin cho chúng tôi nghe rất dễ hiểu, rõ ràng, giúp cho chúng tôi thấy rõ hơn con đường mình đi và tin tưởng vào thắng lợi một cách vững chắc hơn trước. Càng nghe càng thấy hấp dẫn, phấn khởi, đến nỗi ngồi nghe đến khuya cũng không buồn ngủ. Hết hạn ở thăm, chúng tôi không muốn xa Người. Chúng tôi được dự hội nghị bồi dưỡng chính trị cho cán bộ Việt Nam, lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện, làm cho chúng tôi càng hiểu rõ thêm lý luận cách mạng và nhiệm vụ cách mạng của mình. Sau đó, chúng tôi lại được gặp Chủ tịch ở Hội nghị nông dân. Những lời Người nói đã giúp chúng tôi biết cách vận động nhân dân đoàn kết để đấu tranh cứu nước”.

... “Tôi rất sung sướng được Chủ tịch Hồ Chí Minh giảng giải về lý luận chính trị, rất hấp dẫn và rất sáng. Tôi cũng học được ở Người về cách nói giản dị, sát thực tế, đầy sức thuyết phục và sự kiên trì giáo dục không biết mệt mỏi của Chủ tịch”.

Cùng với những bài giảng về lý luận cách mạng, lối sống và đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là những bài học lớn của đội ngũ cán bộ cách mạng Lào: “Tôi thích nhất lối sống, sinh hoạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người rất giản dị, cởi mở, chân tình, rất thân mật nên rất dễ hoà nhập vào dân chúng...”. “Từ biệt Người, tôi trở về, nhưng thái độ cử chỉ, lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi không bao giờ quên được. Người thật sự là người thầy vĩ đại kính yêu, là kho lý luận cách mạng không bao giờ cạn, là tấm gương sáng, là vị lãnh đạo kính yêu không những của nhân dân Việt Nam anh hùng, mà còn của nhân dân Lào, nhân dân Khơme và các dân tộc khác nữa.

Khi chúng tôi trở về nơi họp đại hội gặp anh em đang nghiên cứu đường lối, chủ trương cách mạng Lào, chúng tôi đã kể lại những bài học vô giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà chúng tôi đã thu nhận được. Tất cả mọi người đều rất phấn khởi và thêm tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng Lào chúng tôi” .
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4799



« Trả lời #112 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2022, 04:45:59 pm »

Ba là, gây dựng cơ sở chính trị, phát triển chiến tranh du kích và thắt chặt quan hệ đoàn kết Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào.

Đây là một nhiệm vụ cơ bản, rất quan trọng của cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc Lào và cũng là một nhiệm vụ trọng yếu của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào mà phía Việt Nam tự nguyện góp phần thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả đó.

Tư tưởng chủ đạo mở hướng thực hiện nhiệm vụ trên được nêu ra rất sớm tại Chỉ thị Về kháng chiến kiến quốc của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 11 năm 1945. Trong đó chỉ rõ cần vận động nhân dân ở vùng nông thôn Lào tiến hành chiến tranh du kích.

Đến cuối năm 1947, chiến thắng của quân và dân Việt Nam tại chiến dịch Việt Bắc kéo theo sự phá sản kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp. Để tạo thêm thế và lực cho sự phát triển cuộc kháng chiến trong giai đoạn mới trên chiến trường Việt Nam và Lào, cuối tháng 2 năm 1948, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập Đội xung phong Lào Bắc, làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị, tổ chức lực lượng vũ trang, xây dựng khu căn cứ Bắc Lào. Tháng 3 cùng năm, Bộ Tổng chỉ huy ra Chỉ thị Về phương châm, phương hướng hoạt động trên các mặt trận Lào, Miên, xác định nhiệm vụ giúp đỡ bạn xây dựng cơ sở chính trị là việc cần trước nhất. Nhiệm vụ đó cần thực hiện bằng cách chọn cử cán bộ chính trị hoặc sử dụng lực lượng vũ trang tuyên truyền.

Giữa năm 1948, đồng chí Võ Nguyên Giáp - được Thường vụ Trung ương phân công chỉ đạo giúp cách mạng Lào và theo dõi việc giúp cách mạng Miên - gặp đồng chí Cayxỏn Phômvihản để trình bày một số kinh nghiệm vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị, tổ chức dân quân, đào tạo cán bộ, xây dựng lực lượng vũ trang và vùng giải phóng.

Sau đó một thời gian, theo quyết định của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí Cayxỏn Phômvihản cùng đồng chí Ma Khảy Khămphithun lãnh đạo một đội vũ trang tuyên truyền gồm mấy chục chiến sĩ người Lào từ Tây Bắc Việt Nam vào Thượng Lào hoạt động, gây dựng cơ sở của khu kháng chiến.

Tại Thái Lan năm 1947, phái cực hữu lên nắm quyền, thi hành chính sách chống phá lực lượng kháng chiến Lào đang hoạt động tại đây. Các nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến Lào tổ chức Hội nghị tại Băng Cốc với sự tham dự của Hoàng thân Xuphanuvông và các đồng chí Phumi Vôngvichít, Khăm Tày Xiphănđon,... bàn việc giải quyết những khó khăn và mở hướng phát triển cho cuộc kháng chiến của nhân dân Lào. Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Khăm Tày Xiphănđon đưa ra giải pháp: “Hoạt động của chúng ta nếu dựa vào đất Thái để hoạt động như thời gian qua sẽ tiếp tục gặp khó khăn, do đó chúng ta phải đưa lực lượng vào hoạt động xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng căn cứ địa ở trong đất Lào mà nắm lấy dân, dựa vào dân để tiến hành kháng chiến mới làm cho phong trào kháng chiến càng lớn mạnh, phát triển và giành thắng lợi” .

Tháng 2 năm 1949, Chính phủ Lào độc lập đưa một số cán bộ cấp cao và một đơn vị liên quân Lào - Việt mang thư của Hoàng thân Xuphanuvông sang Liên khu 5 đề nghị Việt Nam giúp đỡ thành lập khu kháng chiến Hạ Lào.

Đồng chí Phạm Văn Đồng và đại diện Chính phủ Lào độc lập tiến hành thảo luận, thống nhất ý kiến về phương án thực hiện đề nghị trên của Hoàng thân Xuphanuvông.

Khu kháng chiến Tây Bắc Lào cũng được ra đời trong quá trình thành lập hệ thống khu kháng chiến của nhân dân Lào .

Trong quá trình thành lập các khu kháng chiến, lãnh đạo hai dân tộc Lào và Việt Nam đã huy động nhiều lực lượng cán bộ Lào, Việt Nam, bao gồm cả một số lượng khá đông Việt kiều ở Thái Lan, thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, mà công tác vận động quần chúng được đặt ở vị trí hàng đầu, như đồng chí Phạm Văn Đồng, đại diện của Trung ương và Chính phủ tại Nam Trung Bộ đã nói với các đồng chí cán bộ Việt Nam sang Lào làm nghĩa vụ quốc tế: “chỉ có vận động nhân dân Lào kháng chiến, thì ta mới có thể đánh Pháp”.

Phương pháp vận động quần chúng phổ biến nhất được áp dụng là cán bộ, chiến sĩ thực hiện “ba cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân, và cao hơn nữa là nhiều đồng chí đã tự thay đổi màu da, mái tóc, luyện tiếng nói như người Lào, mặc quần áo không khác gì dân bản địa, khiến binh lính đối phương không thể phát hiện được họ là người Việt Nam. Bằng cách đó, đội quân dân vận đi vào các vùng bị địch kiểm soát tiến hành tuyên truyền, giải thích cho dân hiểu rõ thực dân Pháp là kẻ thù xâm lược, chúng đến Lào để chém giết, cướp bóc và cai trị người Lào, đồng thời chỉ rõ cho dân thấy con đường giải phóng là đoàn kết tất cả người Lào yêu nước, không phân biệt bộ tộc, tôn giáo, giàu nghèo, người có chức quyền hay dân nghèo, đoàn kết quân dân Lào, Việt mới có thể đánh đuổi được thực dân Pháp xâm lược. Từ chỗ giác ngộ từng người dân, từng vị sư sãi đến giác ngộ những người trưởng tộc, những người nắm giữ quyền hành tại bản, tàxẻng (tổng), huyện và các sư sãi, nhân sĩ, các tầng lớp trung gian 1, cô lập bọn tề phản động.

Hiệu quả rất quan trọng và cơ bản của công tác vận động quần chúng ở nhiều nơi là đã xoá bỏ được những mối bất hoà, hiềm khích giữa các nhóm người Lào Lùm và Lào Thơng, giữa các bộ tộc, thay vào đó là tình thương yêu, đoàn kết 2.

Gắn liền với hoạt động tuyên truyền, giáo dục chính trị, xây dựng khối đoàn kết các bộ tộc, công tác dân vận còn hướng vào thực hiện nhiệm vụ cải thiện đời sống kinh tế, văn hoá của cư dân, trước hết là đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm như: hướng dẫn cải tiến phương pháp canh tác lương thực, hoa màu và cách chăn nuôi gia súc, gia cầm cho năng suất cao hơn. Tại những vùng có muối mỏ, cán bộ kỹ thuật chỉ dẫn cho dân cách nấu muối mỏ đạt chất lượng cao hơn, kết hợp với muối từ Việt Nam đưa sang, giúp khắc phục nạn khan hiếm muối. Đồng thời, nhân viên kỹ thuật còn phổ biến cách sản xuất giấy, cách rèn nông cụ và cải tiến phương pháp dệt vải...

Các lớp học chữ Lào và phổ biến kiến thức văn hoá, chính trị được mở ra tại bản làng thu hút nhiều thanh niên, thiếu niên học tập, là một nét sinh hoạt mới của vùng giải phóng. Đời sống văn hoá và nếp sống mới tại nhiều bản làng như vệ sinh nhà cửa, thân thể, chữa bệnh bằng thuốc, hạn chế những hủ tục, tập quán có hại cho đời sống vật chất và tinh thần đều được cán bộ dân vận và bộ đội chú trọng hướng dẫn cho dân thực hiện.

Hệ thống chính quyền từ cấp cơ sở đến cấp khu được thành lập. Nhiều đoàn thể quần chúng và tổ chức Neo Lào Ítxalạ ra đời. Trên đà phát triển đó, các khu du kích liên hoàn xuất hiện với quy mô rộng lớn, lấy nhân dân và lực lượng dân quân, du kích, các đơn vị vũ trang địa phương làm nền tảng. Các phương pháp đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang và binh vận được sử dụng khá rộng rãi và đem lại nhiều hiệu quả.

Cũng trong quá trình tạo dựng cơ sở chính trị, phát triển chiến tranh du kích, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, ngày 20 tháng 1 năm 1949, tại đơn vị Látxavông ở Xiêng Khọ (Sầm Nưa), đồng chí Cayxỏn Phômvihản tuyên bố thành lập Quân đội Lào Ítxalạ, tiền thân của Quân đội nhân dân Lào.

Bốn là, xây dựng tại mỗi nước Việt, Miên, Lào một đảng mácxít - lêninnít và thành lập Mặt trận liên minh Việt - Miên - Lào để nâng cao sức mạnh quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam  trong quan hệ đoàn kết Việt - Miên - Lào.

Đến năm 1951, Đảng Cộng sản Đông Dương đã trải qua 21 năm xây dựng và phát triển, lãnh đạo nhân dân Đông Dương đấu tranh chống chế độ thuộc địa của đế quốc Pháp, phát xít Nhật, tiến hành khởi nghĩa giành độc lập cho hai dân tộc Việt Nam, Lào và tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đánh chiếm Đông Dương lần thứ hai, làm thất bại nhiều kế hoạch xâm lược của chúng.

Trong thời gian chuẩn bị tiến tới Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nghiên cứu thấy rằng việc xây dựng ở mỗi nước Việt Nam, Lào và Campuchia một đảng mácxít - lêninnít trên cơ sở kế thừa bản chất và năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã có đủ điều kiện thực hiện.

Tại Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 2 năm 1951, đồng chí Hồ Chí Minh đề nghị thành lập tại mỗi nước Đông Dương một Đảng Cộng sản.

Về chủ trương này, đồng chí Cayxỏn Phômvihản phát biểu: “Tôi thấy từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập đến nay đã được 21 tuổi, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo Cách mạng tháng Tám thành công và đưa cách mạng Miên, Lào tiến mạnh trên con đường thắng lợi.

Đến nay, tình hình ngoài nước cũng như trong ba nước Việt, Miên, Lào đã thay đổi, chứng tỏ Đảng Cộng sản Đông Dương đã làm tròn nhiệm vụ do ba dân tộc và giai cấp giao phó cho.

... Như vậy là đề nghị của Hồ Chủ tịch tách Đảng Cộng sản Đông Dương ra Đảng Lao động Việt Nam và ở Miên, Lào có hai tổ chức khác là rất đúng và thích hợp với tình hình mới, ba dân tộc có ba quốc gia rõ rệt.

... Chúng tôi, người cộng sản Lào hiểu rõ và tán thành đề nghị đó không chút thắc mắc” .

Đại biểu Đảng bộ Campuchia phát biểu: “Tôi nhận thấy rằng từ trước tới nay, Đảng Cộng sản Đông Dương rất có thành tích trong lãnh đạo cách mạng Việt, Miên, Lào. Nhưng nay cách mạng ba nước đã có đặc tính riêng khác nhau, không thể có một Đảng bao trùm được mà Miên, Lào sẽ lập hai Đảng khác nhau. Vì thế chúng tôi rất hoan nghênh đề nghị sáng suốt của Báo cáo chính trị”.

Đồng chí Hồ Chí Minh nói: “Sau khi nghe các đồng chí Miên, Lào phát biểu ý kiến, chắc Đại hội cũng như tôi, chúng ta rất cảm động. Nhưng cảm động đây không phải là buồn, trái lại là cảm động vui. Vì chúng ta như con một nhà, một nhà cộng sản, một nhà cách mạng. Bây giờ con cái đã khôn lớn rồi phải chia nhà, chia cửa ở riêng. Con trai có vợ, con gái có chồng (vỗ tay), sau này đẻ con, đẻ cháu đông đúc, từ gia đình nhỏ tiến lên gia đình lớn rất mạnh, từ gia đình lớn đến họ hàng, họ hàng càng to, càng mạnh, đông người nhiều việc, nhất định thành công”.

Theo Nghị quyết Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Cộng sản ở Việt Nam lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam; Ban Vận động thành lập Đảng Nhân dân Lào có sự giúp đỡ của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, tiến hành những công tác chuẩn bị các văn kiện và nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Thực hiện Nghị quyết trên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết số 19/NQTƯ, ngày 22 tháng 3 năm 1953, điều động đồng chí Nguyễn Khang, Uỷ viên Trung ương Đảng, đi phụ trách công tác Lào với các nhiệm vụ: chịu trách nhiệm trước Trung ương về việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng trong việc giúp đỡ cách mạng và kháng chiến Lào; về mặt công khai, đồng chí là cố vấn của Việt Nam, giúp Chính phủ Kháng chiến và Mặt trận Ítxalạ Lào; về mặt nội bộ, đồng chí phụ trách công tác đảng ở toàn Lào, kiêm Bí thư Ban Cán sự Thượng Lào... . Từ đó, các hoạt động của Việt Nam giúp bạn Lào chuẩn bị thành lập Đảng Nhân dân Lào do đồng chí Nguyễn Khang chỉ đạo thực hiện.

Hội nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam, ngày 19 tháng 10 năm 1953, đã thảo luận và nêu ý kiến cần xúc tiến thành lập Đảng và gợi ý xác định các tiêu chuẩn của đảng viên Lào, chú trọng tiêu chuẩn trung thành với kháng chiến và tinh thần phục vụ nhân dân. Tiến tới thành lập Đảng, trước hết nên tổ chức chi bộ ở cơ sở; nên mạnh dạn đề bạt cả những đảng viên thường nhưng vững vàng vào Ban Trù bị (tên gọi này ghi tại biên bản Hội nghị) thành lập Đảng; tiến hành Hội nghị cán bộ trước Đại hội thành lập Đảng .

Từ ngày 22 tháng 3 đến 6 tháng 4 năm 1955, tiến hành Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào. Đây là đảng mácxít - lêninnít kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương, phấn đấu vì độc lập và phồn vinh của nước Lào, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân Lào, là thành quả chính trị của quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào, là một nhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự phát triển của quan hệ đó. Từ đây, trên bán đảo Đông Dương, mỗi dân tộc có một đảng mácxít - lêninnít, đảm đương vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc mình và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế.

Nối tiếp quyết định của Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương về việc thành lập tại mỗi nước Việt, Miên, Lào một đảng mácxít - lêninnít, cũng tại Việt Bắc, diễn ra Hội nghị thành lập Mặt trận liên minh Việt - Miên - Lào. Trước đó không lâu, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ đạo thành lập Chính phủ Lào kháng chiến và Mặt trận dân tộc thống nhất Lào (lấy tên là Neo Lào Ítxalạ); đồng thời, tổ chức một đơn vị cán bộ, chiến sĩ sang Thái Lan và Lào đón Hoàng thân Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo cách mạng Lào tới Việt Bắc để thực hiện chủ trương trên.

Giữa tháng 8 năm 1950, tại tỉnh Tuyên Quang (Việt Nam), Đại hội quốc dân Lào quyết định những vấn đề quan trọng về đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, thành lập nước Lào độc lập, thống nhất và Chính phủ liên hiệp quốc gia; phát triển kinh tế, cải thiện dân sinh; thực hiện các quyền dân chủ về chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, bình đẳng dân tộc... cho nhân dân; thắt chặt tình đoàn kết với Việt Nam và Khơme. Đại hội thành lập Neo Lào Ítxalạ và Chính phủ Kháng chiến.

Sự kiện đó không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với bước chuyển biến mới trong sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Lào, mà còn là sự kiện lớn thúc đẩy sự phát triển liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam. Đây cũng là một hoạt động tích cực chuẩn bị thực hiện chủ trương thành lập Mặt trận liên minh Việt - Miên - Lào vào tháng 3 năm 1951, tại Việt Bắc (Việt Nam).

Việc thành lập Mặt trận liên minh Việt - Miên - Lào dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau để tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, thực hiện nhiệm vụ chung đã nêu trên; tăng cường khối liên minh, chống lại âm mưu chia rẽ của địch, làm cho ba dân tộc hiểu nhau, đoàn kết chặt chẽ với nhau; hết sức giúp nhau về mọi mặt; giúp nhau thiết lập và tăng cường mối liên hệ với các nước dân chủ, làm cho thế giới hiểu rõ và ủng hộ cuộc kháng chiến của ba dân tộc.

Sự kiện này ghi nhận sự phát triển trong quan hệ đoàn kết của nhân dân ba nước để nâng cao hơn nữa sức mạnh chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Sự thống nhất ý chí của Hội nghị đã biểu thị rõ trong bản nghị quyết: ba nước Việt Nam - Miên - Lào đều có kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng ba nước là đánh đuổi xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, làm cho ba nước Việt Nam, Cao Miên, Lào hoàn toàn độc lập; xây dựng ba quốc gia mới, làm cho nhân dân ba nước được tự do, sung sướng và tiến bộ.




-----------------------------------------------------------------
1. Ạt nha Xỏn đã làm chạu mường, tri huyện, thời thuộc Pháp trở thành chủ tịch huyện Xánẳmxay. Nhiều chủ tịch xã, bản ở Xánẳmxay là nại bản cũ. Một người anh em họ gần của Bun Ùm là Chao Xíxảy đi vào vùng kháng chiến, làm cho bè lũ Bun Ùm hoảng sợ phải bỏ chạy vào Pạc Xê.

2. Ở Hạ Lào, nhóm Lào Lùm ở vùng thấp, trình độ kinh tế phát triển hơn, chủ yếu làm ruộng nước, trồng cà phê và buôn bán ở thị trấn. Còn nhóm người Lào Thơng trình độ kinh tế, dân trí chậm phát triển hơn. Các chúa đất thống trị hai nhóm người đó thường khiến họ xung đột với nhau, dẫn tới những mâu thuẫn gay gắt. Giải quyết tình trạng trên, chính quyền địa phương và cán bộ Lào, Việt tiến hành vận động nhóm Lào Lùm nhường ruộng đất, giúp người dân Lào Thơng làm ruộng, dạy họ dệt vải, xoá, giảm nợ cho họ, làm cho quan hệ giữa người Lào Lùm và Lào Thơng được cải thiện rõ rệt.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4799



« Trả lời #113 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 07:47:59 am »

Năm là, Việt Nam, Lào đồng tâm, hiệp lực giúp nhau trong chiến đấu, lập nhiều chiến công.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp:


Cuộc chiến tranh xâm lược do thực dân Pháp tiến hành hòng đặt ách thống trị của chúng lên toàn cõi Đông Dương, bằng thủ đoạn chia cắt, cô lập từng nước, dùng địa bàn, nhân lực, của cải của nước này để đánh chiếm nước kia. Khi phải đối đầu với mưu đồ và hành động xâm lược của thực dân Pháp, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã đưa ra một quyết định quan trọng: “Về quân sự, Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao là một chiến trường, phải đánh theo một chiến lược chung” . Đối sách đó tạo cơ sở cho khối đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc càng thêm củng cố và tăng cường trên cùng một trận tuyến chống kẻ thù chung, thực hiện những mục tiêu chiến lược và kế hoạch tác chiến trên các chiến trường Đông Dương.

Quán triệt và thực hiện quyết định đó, tại chiến trường Việt Nam và Lào, xuất hiện liên minh chiến đấu giữa các đơn vị vũ trang Lào - Việt, các mặt trận phối hợp giữa các địa phương Việt Nam, Lào như Liên khu 10 với Thượng Lào, Liên khu 4 với Trung Lào, Liên khu 5 với Hạ Lào, tiến tới quy mô phối hợp lớn hơn về mặt chiến lược, về tổ chức chiến trường, bố trí lực lượng tác chiến và sử dụng các phương pháp đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận buộc địch phải bị động đối phó. Còn ta thì giành quyền chủ động chiến lược.

Chiến dịch Thượng Lào diễn ra từ nửa sau tháng 4 đến giữa tháng 5 năm 1953 do các cơ quan lãnh đạo và chỉ huy Việt Nam, Lào chỉ đạo thực hiện giành thắng lợi lớn: giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và Phôngxalỳ, mở rộng căn cứ địa của cách mạng Lào. Đối với Việt Nam, chiến dịch Thượng Lào đã góp phần phân tán lực lượng địch, phá âm mưu củng cố vùng Tây Bắc và bình định đồng bằng Bắc Bộ của chúng.

Sau chiến dịch Thượng Lào, liên quân Lào - Việt mở chiến dịch Trung - Hạ Lào (diễn ra từ ngày 21 tháng 12 năm 1953 đến tháng 5 năm 1954). Thắng lợi của chiến dịch này thực hiện được một yêu cầu chiến lược hàng đầu là buộc Nava phải tiếp tục phân tán khối cơ động chiến lược của chúng, góp phần làm giảm khối chủ lực của địch trên chiến trường chính Bắc Bộ, nhất là đối với hướng chính Điện Biên Phủ. Đó cũng là minh chứng về giá trị đặc sắc của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được thể hiện trong kế sách tiến công làm thất bại kế hoạch Nava, theo cách diễn đạt độc đáo của Người, tại Hội nghị Bộ Chính trị ở Tỉn Keo (Thái Nguyên), tháng 10 năm 1953. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết:

“Bác ngồi họp, thái độ bình thản, điếu thuốc lá kẹp giữa hai ngón tay. Đôi mắt Người chợt lộ vẻ chăm chú. Bàn tay Bác đặt trên bàn bỗng giơ lên và nắm lại. Người nói:

Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn.

Bàn tay Bác mở ra, mỗi ngón tay trỏ về một hướng” .

Thắng lợi của các chiến dịch Thượng Lào, Trung - Hạ Lào là thắng lợi rất to lớn của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam dưới sự chỉ huy của Bộ Tổng Tư lệnh quân đội hai nước và nhiều tướng lĩnh cấp cao; tập hợp nhiều đơn vị quân đội Việt Nam, Lào cùng tham gia chiến đấu, được hậu phương hai nước Việt Nam, Lào cung cấp một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm. Điều đó thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân hai nước trong công cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược.

Hạ tuần tháng 1 năm 1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy chiến dịch và Đảng uỷ chiến dịch Điện Biên Phủ quyết định thay đổi phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đồng thời, Đảng uỷ chiến dịch quyết định đưa Đại đoàn 308 tiến công sang hướng Thượng Lào , nhằm cô lập hơn nữa địch ở Điện Biên Phủ, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, không cho địch đánh vào sau lưng, vừa nghi binh thu hút sự chú ý của chúng, bảo đảm cho bộ đội ở Điện Biên Phủ rút ra tập kết an toàn.

Một đặc điểm của chiến dịch này là thời gian chuẩn bị gấp, nên khó khăn lớn nhất là thiếu thuốc men và lương thực. Với sự giúp đỡ của nhân dân vùng Thượng Lào, trong hơn 10 ngày tiến công, truy kích địch trên chặng đường dài 200 km, Đại đoàn 308 phối hợp chiến đấu cùng bộ đội Lào Ítxalạ, dân quân du kích và nhân dân địa phương đánh bại đội quân địch tại phòng tuyến này. Toàn bộ phòng tuyến sông Nặm U của địch bảo vệ cứ điểm Điện Biên Phủ bị phá vỡ. Một vùng rộng lớn lưu vực sông Nặm U được giải phóng, thắng lợi này đẩy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vào thế hoàn toàn bị cô lập.

Ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân và dân Việt Nam mở màn cuộc quyết chiến chiến lược ở Điện Biên Phủ, cũng là mở đầu đợt ba của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 trên chiến trường Đông Dương. Quân và dân Lào đã anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chiến lược của địch chi viện cho Điện Biên Phủ, góp phần cô lập Điện Biên Phủ, tạo thuận lợi cho quân và dân Việt Nam giành thế chủ động tấn công địch. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của quân đội viễn chinh Pháp bị tiêu diệt. Nói về sự phối hợp hành động trong chiến dịch này, đồng chí Cayxỏn Phômvihản khẳng định: “Các hoạt động quân sự trên chiến trường Lào đã phối hợp nhịp nhàng với chiến dịch Tây Bắc Việt Nam tiêu diệt địch tại Điện Biên Phủ, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chung của nhân dân ba nước Đông Dương chống đế quốc Pháp” . Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết. Tuy chưa phản ảnh đầy đủ thắng lợi của quân và dân ba nước, song Hiệp định Giơnevơ đã công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược:

Đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, hai dân tộc Việt Nam, Lào đã có nhiều thay đổi so với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau Hiệp định Giơnevơ, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Miền Bắc xã hội chủ nghĩa là hậu phương của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam và chiến trường Lào, Campuchia; có quan hệ rộng rãi với các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc, hoà bình và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Pathết Lào có vùng tập kết, có Đảng, Mặt trận, lực lượng vũ trang và các đoàn thể cách mạng. Ở Lào tồn tại chính quyền Vương quốc.
Đông Dương trở thành chiến trường chống Mỹ; miền Nam Việt Nam là chiến trường chính.

Nhiệm vụ chiến lược quan trọng nhất của hai nước là đoàn kết rộng rãi tất cả các lực lượng yêu nước, yêu hoà bình và thắt chặt hơn nữa quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu, đáp ứng cao nhất, hữu hiệu nhất yêu cầu cách mạng và kháng chiến của mỗi bên và tăng cường sức mạnh đoàn kết đặc biệt của hai dân tộc để đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Hai mươi mốt năm chống đế quốc Mỹ là một chặng đường kế tục, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã trở thành giá trị thiêng liêng của hai dân tộc. Hoạt động phối hợp đấu tranh của các cơ quan lãnh đạo cùng quân và dân Việt Nam, Lào đều xuất phát từ tình cảm sâu đậm, trách nhiệm cao cả của hai phía Việt Nam, Lào dành cho nhau, tạo nên những nguồn lực mới, những nấc thang phát triển mới của nội lực từng dân tộc, của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong cuộc chiến chống kẻ thù chung và mở đường đi tới toàn thắng. Trong đó, nổi bật lên những hoạt động tiêu biểu, điển hình.

Một là, sự phối hợp giữa lãnh đạo, quân và dân hai nước Việt Nam, Lào phá vỡ mưu đồ tiêu diệt lực lượng vũ trang nòng cốt Pathết Lào và hãm hại bộ phận đầu não cơ quan lãnh đạo cách mạng Lào do đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai tiến hành.

Sau một thời gian đàm phán, đến cuối năm 1957, Chính phủ Vương quốc và Pathết Lào thoả thuận thành lập Chính phủ liên hiệp quốc gia, trong đó có hai đại biểu Pathết Lào làm bộ trưởng, tiến hành Tổng tuyển cử bầu bổ sung đại biểu Quốc hội, Neo Lào Hắc Xạt ra hoạt động công khai, hai tiểu đoàn Pathết Lào gia nhập quân đội quốc gia, hai tỉnh tập kết của Pathết Lào là Hủa Phăn và Phôngxalỳ đặt dưới quyền kiểm soát của Chính phủ Vương quốc.

Ngay sau khi nghe báo cáo tình hình trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao những kết quả mà Pathết Lào giành được. Mặt khác, Người chỉ rõ: việc đưa hai tỉnh tập kết của Pathết Lào vào Vương quốc là âm mưu của Mỹ “điệu hổ ly sơn” để đi đến tiêu diệt lực lượng Pathết Lào. Không thể xem thường âm mưu đó được. Lực lượng Pathết Lào bị thôn tính thì phong trào đấu tranh của nhân dân khó giữ vững được. Người chỉ dẫn phương pháp hoạt động mới và cách đối phó với địch. Phải làm cho bạn thấy rõ âm mưu của Mỹ và tay sai để khỏi chủ quan. Neo Lào Hắc Xạt ra công khai, chỉ nên đưa vài người tượng trưng ở cấp trung ương thôi. Phần lớn lực lượng phải rút vào bí mật, bộ đội Pathết Lào phải phục viên tại hai tỉnh và cất giấu vũ khí tại đó, phải đấu tranh giữ vững hai tỉnh...

Người dự báo tình hình sắp tới của cách mạng Lào: “Cuộc đấu tranh sắp tới sẽ quyết liệt đấy. Mỹ còn cố giữ miền Nam Việt Nam thì chúng chưa bỏ Lào đâu. Dùng bánh vẽ để đưa hai ông vào Viêng Chăn rồi tăng cường đàn áp, khủng bố cán bộ ở các tỉnh. Chúng sẽ phá tan phong trào quần chúng ở 10 tỉnh, nếu ta buông lỏng hai tỉnh thì nó sẽ thôn tính ngay và lực lượng Pathết Lào tan rã thì sẽ dùng đất Lào để uy hiếp miền Bắc và phối hợp với cuộc chiến chiếm đóng miền Nam nước ta” .

Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho đồng chí Võ Nguyên Giáp bố trí ngay một tổ quân báo theo dõi tình hình hoạt động của bạn và đối phương để xử lý kịp thời, khi lãnh đạo bạn cần thì giúp đưa họ sang Việt Nam an toàn.

Những lời phát biểu chân tình và quý báu, kịp thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các cơ quan có trách nhiệm của hai nước lĩnh hội và thực hiện.

Do sự phối hợp giữa hai phía Lào, Việt Nam, Tiểu đoàn 2 Pathết Lào đã mưu trí, anh dũng chiến đấu thoát khỏi vòng vây của địch tại Xiêng Khoảng vào tháng 5 năm 1959, sau 15 ngày trở về căn cứ an toàn.

Cũng vào thời điểm đó, nhiệm vụ giải thoát cho Hoàng thân Xuphanuvông và nhiều nhà lãnh đạo cao cấp chủ chốt của cách mạng Lào khỏi trại giam cũng được xúc tiến chuẩn bị, có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều lực lượng phía Lào và phía Việt Nam.

Cuối cùng, đêm 23 rạng ngày 24 tháng 5 năm 1960, các đồng chí lãnh đạo Lào và cán bộ bị bắt vượt khỏi trại giam Phôn Khêng tại Viêng Chăn, ghi nhận thêm một thắng lợi mới trong cuộc đấu tranh phá vỡ mưu đồ xảo quyệt, nguy hiểm của Mỹ và tay sai của chúng. Đánh giá sự kiện lịch sử này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người trực tiếp chỉ đạo tổ công tác đặc biệt từ Việt Nam sang Viêng Chăn, phối hợp với cán bộ và quân đội Pathết Lào thực hiện nhiệm vụ này, viết:

“Cuộc giải thoát Chủ tịch Xuphanuvông là một chiến công đặc biệt, tiêu biểu cho tình hữu nghị anh em giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào. Chúng ta hãy giữ vững và phát triển tình hữu nghị đặc biệt ấy” .

Hai là, sự hợp lực giữa lãnh đạo Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt Nam trong quá trình xác định phương pháp đấu tranh vũ trang là chủ yếu kết hợp với đấu tranh chính trị chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở Lào.

Từ đầu năm 1958, xu thế phát triển của tình hình Lào ngày càng thể hiện rõ sự can thiệp, xâm nhập mạnh mẽ và toàn diện của Mỹ.

Được chính quyền Ngô Đình Diệm giúp đỡ, bọn Xánánicon tăng cường khủng bố lực lượng cách mạng, gây căng thẳng tại nhiều vùng biên giới Lào và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Điều đó đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh dự đoán vào tháng 3 năm 1958, khi Người đến thăm chuyên gia Việt Nam từ Lào về Hà Nội: “Tình hình Lào sắp tới sẽ trở lại phức tạp và căng thẳng hơn trước. Các chú tập kết về thì nghỉ ngơi, bồi dưỡng về vật chất và tinh thần, khi bạn yêu cầu, Ban Bí thư sẽ điều động trở lại giúp bạn, vì hoạt động ở nước bạn phải biết tiếng, biết tình hình, biết cán bộ bạn, điều người mới sang thì không kịp đối phó với âm mưu của địch... Các chú là vốn quý để giúp cách mạng Lào” .

Trước tình hình đó, ngày 30 tháng 1 năm 1959, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam gửi thư cho Trung ương Đảng Nhân dân Lào trao đổi ý kiến về phương hướng và phương pháp đấu tranh:

- Cần tổ chức ngay một bộ phận bí mật chuyển ra vùng cơ sở vững hoặc vùng căn cứ để lãnh đạo phong trào đấu tranh; nhanh chóng khôi phục, củng cố phong trào ở cơ sở; kiên quyết bảo vệ lực lượng cách mạng.

- Trong bộ phận hoạt động công khai, đồng chí nào có điều kiện thì ở lại đấu tranh cho đến cùng để giữ vững địa vị hợp pháp, nhưng phải luôn luôn cảnh giác.

- Nên tăng cường cho bộ phận trung ương bí mật lãnh đạo. Nếu chuẩn bị đầy đủ và nội bộ nhất trí thì rút anh Viêngxay (đồng chí Cayxỏn Phômvihản) ra vùng căn cứ, bổ sung cho bộ phận bí mật này .

Khoảng tháng 5 năm 1959, đáp ứng yêu cầu của đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Lào, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cử đoàn cán bộ tham gia chuẩn bị nội dung và công tác tổ chức Hội nghị lần thứ nhất (khoá I) Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào vào ngày 3 tháng 6 năm 1959. Đánh giá tình hình Lào lúc bấy giờ, Hội nghị nhận định: đế quốc Mỹ và tay sai đã xoá bỏ Hiệp định Giơnevơ năm 1954 và các hiệp nghị Viêng Chăn, xoá bỏ chính phủ liên hiệp..., gây nội chiến, làm cho đời sống chính trị nước Lào mất khả năng phát triển hoà bình.

Hội nghị vạch rõ phương pháp đấu tranh mới: “Trong phạm vi cả nước, trong giai đoạn mới, từ hình thức đấu tranh công khai hợp pháp là chủ yếu chuyển sang hình thức đấu tranh vũ trang là chủ yếu (BBS nhấn mạnh), đồng thời kết hợp vận dụng hình thức đấu tranh chính trị hợp pháp trong phạm vi nhất định” .

Cũng đúng ngày 3 tháng 6 năm 1959, tại Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp bàn về vấn đề Lào. Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên những quan điểm hướng dẫn phương pháp đánh giá tình hình toàn diện và vạch rõ các khuyết điểm cần sửa chữa như nóng vội, thấy thắng lợi nhưng không nhìn hết khó khăn. Người cho rằng: ta phải hết sức giúp cách mạng Lào; giúp xây dựng kinh tế và nhấn mạnh vấn đề sản xuất lương thực; giúp bạn theo kế hoạch lâu dài. Về phương pháp đấu tranh chống địch, Người chỉ dẫn: “Phải dùng du kích (BBS nhấn mạnh) phong trào sẽ lan rộng”... “Phải trường kỳ gian khổ, phải chú ý dân vận, địch vận”.

Tiếp sau đó, đầu tháng 7 năm 1959, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam đề xuất sách lược đấu tranh “cần chuyển từ hình thức đấu tranh công khai hợp pháp là chủ yếu sang hình thức đấu tranh vũ trang là chủ yếu, đồng thời kết hợp với hình thức đấu tranh khác” .

Sau quá trình nghiên cứu, trao đổi ý kiến, tại cuộc hội đàm tháng 7 năm 1959, hai Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào quyết định phát động cuộc đấu tranh vũ trang trong mùa mưa năm 1959 nhằm:

- Phát lệnh chiến đấu trong toàn quốc, chuyển từ đấu tranh công khai hợp pháp sang đấu tranh vũ trang, lấy trọng tâm là chiến tranh du kích, phát động phong trào quần chúng nổi dậy, giành chính quyền tại thôn xã.

- Phục hồi và củng cố các căn cứ kháng chiến và lực lượng du kích cũ.

- Vận động thanh niên tham gia dân quân, du kích và bộ đội địa phương và chủ lực .

Phía Việt Nam, Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho Quân khu Tây Bắc và Quân khu 4 điều động một số đại đội, tiểu đoàn phối hợp với quân đội Lào tiến công một số cứ điểm của địch ở sát biên giới, vừa vận động quần chúng, vừa khôi phục cơ sở.

Tiếp đó, trung tuần tháng 7 năm 1959, bộ đội Lào mở ba hướng tấn công, hướng chính từ đông nam Sầm Nưa tới đông nam Xiêng Khoảng với lực lượng chiến đấu là Tiểu đoàn 2 do đồng chí Cayxỏn Phômvihản chỉ huy, có sự hỗ trợ của đồng chí Lê Chưởng, Đoàn trưởng giúp Lào. Hướng thứ hai do đồng chí Khăm Tày Xiphănđon chỉ huy một tiểu đoàn, hoạt động chủ yếu tại vùng Mương Xon - bắc Sầm Nưa đến Phôngxalỳ, Luổng Phạbang đến Xiêng Ngân. Hướng thứ ba có nhiệm vụ phối hợp, do một đại đội đảm nhiệm, tại địa bàn từ bắc đường 8 đến đường 12 Khăm Muộn.

Các đòn tấn công đó là những đòn bất ngờ khiến chúng không kịp đối phó, sa vào tình trạng hoảng loạn, rã ngũ hoặc gây binh biến; cổ vũ, hỗ trợ nhân dân trong vùng nổi dậy cùng phối hợp với bộ đội tấn công giải phóng nhiều huyện, xã tại các tỉnh Hủa Phăn, Phôngxalỳ, Xiêng Khoảng, Luổng Phạbang, Khăm Muộn.

Những thắng lợi trên là minh chứng về hiệu quả thực tiễn của phương pháp đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị chống chế độ thực dân mới của đế quốc Mỹ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4799



« Trả lời #114 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 07:49:36 am »

Ba là, tuyến đường chiến lược Trường Sơn, một công trình vĩ đại của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

Năm 1959, lịch sử cuộc kháng chiến của nhân dân Đông Dương chống đế quốc Mỹ ghi nhận hai sự kiện quan trọng. Đó là sự ra đời của Nghị quyết lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khoá II) về đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam Việt Nam, chiến trường chính chống Mỹ của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, và mở tuyến đường chiến lược Trường Sơn nối liền hậu phương miền Bắc với các chiến trường Việt Nam, Lào và Campuchia.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là giải phóng miền Nam; nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ; phương pháp đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; dự kiến cũng có thể phát triển theo xu hướng từ khởi nghĩa tiến lên đấu tranh vũ trang trường kỳ.

Sự chuyển hướng từ đấu tranh công khai hợp pháp sang đấu tranh vũ trang mà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào đã nhất trí thực hiện tại Lào cũng thể hiện sự đồng thuận cao về phương pháp đấu tranh chống Mỹ xâm lược Việt Nam và Lào.
Một yêu cầu cơ bản cần phải giải quyết để thực hiện nhiệm vụ trên là mở tuyến đường chiến lược xuyên Trường Sơn, chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc vào miền Nam và Lào. Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương Đảng Nhân dân Lào đều nhất trí mở con đường đó.

Tuyến đường Trường Sơn xuyên qua triền phía đông và phía tây dãy Trường Sơn. Công trình này được tiến hành từ những tháng cuối năm 1959, đến tháng 1 năm 1964 thì chuyển hẳn sang phía tây Trường Sơn. Nơi đây cũng là khu căn cứ hậu cần của chiến trường Nam Việt Nam, Lào và Campuchia.

Ngay từ khi khởi đầu, cũng là lúc kết hợp chặt chẽ giữa đội ngũ cán bộ, quân đội Việt Nam và Lào nhằm tiến hành xây dựng cơ sở về chính trị và tổ chức đấu tranh chống chính quyền và quân đội Vương quốc Lào đàn áp, khủng bố những người yêu nước và cách mạng tại tỉnh Xavẳnnakhệt.

Tổ chuyên gia Việt Nam và Tỉnh uỷ Xavẳnnakhệt đã nhất trí phát động nhân dân nổi dậy đấu tranh với nhiều hình thức như mít tinh, biểu tình tuần hành, trừ diệt ác ôn, rải truyền đơn; xúc tiến khôi phục các tổ chức quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang: dân quân du kích, bộ đội địa phương huyện, tỉnh; vừa tấn công địch vừa tiến hành địch vận.

Cũng vào lúc này, Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam lập nhiều kho vũ khí dọc biên giới Việt Nam để chi viện cho cách mạng Lào.

Cùng với hoạt động trên, các đồng chí lãnh đạo của Tỉnh uỷ Xavẳnnakhệt còn lấy danh nghĩa cán bộ chỉ huy Tiểu đoàn 2 Pathết Lào kêu gọi các trưởng đồn chấp nhận đàm phán với lực lượng vũ trang Pathết Lào. Một điển hình tiêu biểu đạt hiệu quả của hoạt động này là viên thiếu tá chỉ huy trưởng đồn Nặm Cha Lộ, một đồn lớn trong vùng, đã nhận lời tới đàm phán và cam kết không bắn bừa bãi, không bắt bớ nhân dân; không được ra khỏi đồn mười cây số... Do áp lực đấu tranh của lực lượng vũ trang và quần chúng, nhiều đồn bốt của đối phương cũng phải chấp nhận những yêu cầu của cách mạng. Ảnh hưởng của những thắng lợi đó lan rộng nhanh chóng tới các tỉnh khác vùng tây Trường Sơn.

Để tiếp tục tấn công địch và mở rộng hành lang tuyến đường tây Trường Sơn, Bộ Chỉ huy tối cao quân đội Lào và Bộ Chỉ huy Quân khu 4 quyết định mở chiến dịch giải phóng đường 9 - Nam Lào vào đầu mùa khô năm 1961 do lực lượng của Việt Nam và Lào phối hợp thực hiện, tiến công giải phóng vùng ven đường 9 dài khoảng 70 km, tạo thế an toàn cho đoạn đường chiến lược này tại hai phía đông và tây Trường Sơn. Chính quyền và các lực lượng vũ trang nhanh chóng được thiết lập trong vùng giải phóng. Hoạt động tiếp tế hàng hoá của Việt Nam bằng máy bay tới sân bay dã chiến Xê Pôn để cung cấp cho cán bộ, bộ đội hành quân đến các chiến trường miền Nam khá nhộn nhịp .
Những phương pháp đầu tiên mở đường Trường Sơn nhanh chóng được nhân rộng và phát triển khi chiến trường miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia đòi hỏi sự chi viện ngày càng lớn để đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ. Địa bàn tuyến đường này đi qua bị đế quốc Mỹ coi là trọng điểm đánh phá, hòng ngăn chặn, cắt đứt nguồn chi viện từ hậu phương miền Bắc chuyển vào chiến trường. Từ mặt đất đến trên không, quân đội Việt Nam và Lào sát cánh bên nhau chiến đấu bảo vệ tuyến đường, kho tàng vũ khí, lương thực, thực phẩm và nhiều loại hàng hoá khác, trong đó có nhiều chiến dịch lớn như giải phóng và bảo vệ Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (trong các năm 1964, 1969, 1970, 1972), đặc biệt là chiến dịch phản công cuộc hành quân “Lam Sơn 719” năm 1971 của Mỹ - nguỵ... Dù đối phương tập trung ở đó nhiều lực lượng tinh nhuệ và vũ khí hiện đại, nhưng cũng phải cam chịu thất bại.

Nhân dân Lào đã phải chịu đựng biết bao hy sinh, mất mát do kẻ thù xâm lược gây ra. Trong cuộc chiến tranh đó, những tình cảm thân thương, quý mến của nhân dân Lào dành cho cán bộ, chiến sĩ Việt Nam không sao kể xiết.

Tuyến đường chiến lược Trường Sơn được xây dựng, bảo vệ và khai thác, sử dụng kéo dài trong 16 năm chiến tranh chống đế quốc xâm lược là sản phẩm của sự đồng thuận sâu sắc, sự hy sinh lớn lao vì nghĩa tình quốc tế cao cả của hai dân tộc Lào, Việt Nam; là minh chứng hùng hồn của văn minh, nhân nghĩa chiến thắng xâm lược, bạo tàn.

Có thể nói, trong suốt 21 năm chống Mỹ, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Lào luôn hết lòng giúp đỡ, ủng hộ nhân dân Việt Nam. Đáp lại, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam cũng dốc hết sức vì sự nghiệp cách mạng Lào. Trên tinh thần “giúp bạn là mình tự giúp mình”, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã có mặt ở hầu hết mọi nơi trên chiến trường Lào, cùng nhân dân và quân đội Lào đánh địch.

Thắng lợi vĩ đại của hai dân tộc Việt Nam, Lào diễn ra năm 1975 đã kết thúc 30 năm chiến tranh cách mạng, lập hai kỳ tích chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Thắng lợi đó đánh dấu sự tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ và sự thất bại của chủ nghĩa thực dân mới dù thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã gắng hết sức nhưng không thể nào cứu vãn nổi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4799



« Trả lời #115 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 08:00:32 am »

3. Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiếp tục phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của hai dân tộc Việt Nam, Lào (1976 - 2007)

a) Trên lĩnh vực chính trị

Sự kiện mở đầu sự phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam sau khi hai dân tộc kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, được đánh dấu bằng Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, ngày 18 tháng 7 năm 1977, mang tính chính trị, pháp lý cơ bản, bền vững lâu dài trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Từng trải qua những thử thách, biến động của thời cuộc trong hơn 30 năm, tinh thần và nội dung của Hiệp ước ấy vẫn được tôn trọng, thực hiện với nhiều sáng tạo, đáp ứng yêu cầu cách mạng của mỗi nước và nâng cao thêm giá trị của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong những hoàn cảnh và điều kiện mới.

Tinh thần đó chỉ đạo sự hợp tác, liên minh Việt Nam, Lào trong việc giải quyết nhiều vấn đề, điển hình là việc Việt Nam giúp cách mạng Campuchia xoá bỏ chế độ diệt chủng của Khơme đỏ và hồi sinh dân tộc, nhưng lại bị các thế lực thù địch bóp méo sự thật, chống đối quyết liệt. Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Chính phủ Lào hết lòng ủng hộ lập trường đúng đắn và thiện chí của Việt Nam, góp phần tích cực cùng Việt Nam đấu tranh, thuyết phục tại nhiều diễn đàn quốc tế và khu vực để giải quyết thoả đáng vấn đề Campuchia, tạo sự ổn định và hợp tác giữa các nước Đông Nam Á và mở ra thuận lợi cho việc bình thường hoá quan hệ với nhiều quốc gia khác.

Khi Lào bị đóng cửa biên giới phía tây không bao lâu, lương thực và một số mặt hàng trở nên khan hiếm, theo yêu cầu của Chính phủ Lào, Việt Nam đã đưa lương thực sang giúp kịp thời, góp phần ổn định tình hình xã hội, hạn chế số người Lào di cư ra nước ngoài.

Việc ký kết Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam - Lào và hoàn thành hoạch định, cắm mốc trên toàn tuyến biên giới cùng với hoạt động của các tỉnh hai bên đường biên giới trên lĩnh vực an ninh, quốc phòng, kinh tế, giao lưu văn hoá đã xây dựng nên một biên giới hoà bình, hợp tác và phát triển Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

Trong quá trình nghiên cứu lý luận và chỉ đạo thực tiễn sự nghiệp xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Lào, hai bên thường xuyên hợp tác trao đổi ý kiến về nhiều vấn đề qua đội ngũ chuyên gia và hội đàm, hội thảo giữa lãnh đạo của hai Đảng như: về mô hình chủ nghĩa xã hội; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội... và những chuyên đề cụ thể trên từng lĩnh vực. Kết quả của những hoạt động đó được vận dụng thực hiện ở mỗi nước đã đưa đến công cuộc đổi mới toàn diện, có nguyên tắc, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khơi dậy tinh thần lao động sáng tạo của nhân dân, khai thác đạt hiệu quả tốt nhiều tiềm năng của đất nước và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Nhờ vậy, thành quả cách mạng của mỗi nước và quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam được bảo vệ vững chắc và phát triển trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào thoái trào. Hai nước thoát khỏi những khó khăn gay gắt về kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế, giữ vững an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước.

b) Về quốc phòng, an ninh

Từ năm 1976 đến những năm đầu thế kỷ XXI, Việt Nam và Lào bị nhiều thế lực thù địch từ bên ngoài vừa tấn công, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, vừa sử dụng những phần tử phản động lưu vong quay trở về phá hoại an ninh quốc gia. Một lần nữa, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc đặt ra cho ngành quốc phòng, an ninh và nhân dân hai nước Việt Nam, Lào nhiều nhiệm vụ mới, đòi hỏi phải nâng cao bản lĩnh và năng lực trong thế trận đấu tranh mới, đánh bại mọi âm mưu, hành động xâm lược và phá hoại của kẻ thù. Hiện thực lịch sử đấu tranh trong mấy chục năm qua sau khi kết thúc cuộc kháng chiến của hai dân tộc chống đế quốc xâm lược cho thấy, lực lượng vũ trang và nhân dân Lào đã đứng vững ở vị trí tiền tiêu đánh bại các cuộc xâm nhập vũ trang qua lãnh thổ Lào để vào Việt Nam.

Theo tinh thần các văn bản đã ký kết giữa hai chính phủ, lực lượng vũ trang và lực lượng an ninh Lào, Việt Nam phối hợp chặt chẽ thực hiện các nhiệm vụ được giao trên mặt trận chống ngoại xâm, chống phỉ, dẹp bạo loạn, trừ diệt bọn phản động vượt qua lãnh thổ Lào xâm nhập lãnh thổ Việt Nam...

Sự phối hợp hoạt động của hai bên trong chiến đấu đã đưa lại nhiều chiến công lớn. Chiến dịch truy quét, phá tan trung tâm phỉ tại Phu Bia (năm 1977 - 1978) và trận tiêu diệt nhóm phản động Võ Đại Tôn và Hoàng Cơ Minh (năm 1987) khi chúng đang xuyên qua đất Lào để vào Việt Nam là những chiến công tiêu biểu của sự hợp tác Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, góp phần quyết định triệt phá các mưu đồ và thủ đoạn của kẻ thù chống phá chủ quyền quốc gia và an ninh của hai nước Lào, Việt Nam, làm thất bại các thủ đoạn của chúng, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước.

Thời kỳ này, ngoài việc phối hợp giúp nhau chống phá các thế lực thù địch, các cơ quan quốc phòng và an ninh của hai nước còn phối hợp chặt chẽ trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; giúp đỡ nhau về hậu cần - kỹ thuật; giúp nhau biên soạn giáo trình, giáo án trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh; đặc biệt là việc tìm kiếm các hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trên đất Lào.

Tầm quan trọng của mối quan hệ trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh còn được thể hiện qua các cuộc gặp gỡ đoàn cấp cao giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hai nước. Trong tất cả các chuyến thăm viếng lẫn nhau, hai nước đều thể hiện nhất quán quan điểm tiếp tục hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh. Đặc biệt, trong các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước, vấn đề hợp tác quốc phòng, an ninh giữa hai nước cũng luôn được đề cập, coi hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh là một trong những điểm mấu chốt của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

c) Hợp tác phát triển kinh tế, giáo dục, đào tạo cán bộ

Lãnh đạo hai nước Việt Nam, Lào đều nhất trí coi trọng sự hợp tác kinh tế, văn hoá và đào tạo cán bộ.

Trên lĩnh vực kinh tế, hai bên cũng chấp hành nguyên tắc hợp tác là bình đẳng, tôn trọng chủ quyền quốc gia, cùng có lợi và hết lòng giúp đỡ nhau; mặt khác, còn căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi nước mà dành ưu tiên, ưu đãi cho nhau.

Phương thức hợp tác ngày càng được mở rộng và nâng cao về quy mô, chất lượng và hiệu quả. Có thể thấy điều đó qua các cuộc hội đàm và gặp gỡ giữa lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước về những quan điểm kinh tế xoay quanh các chủ đề: thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, Lào và các vấn đề như cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư và các thành phần kinh tế; cơ chế quản lý kinh tế; kinh tế thị trường; những kinh nghiệm chỉ đạo thực hiện tại hai nước. Trên thực tế, sự hợp tác của hai nước diễn ra từ trung ương đến tỉnh, thành phố và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ... trên các lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, công thương, nông nghiệp...

Nội dung hợp tác kinh tế được chuyển dần theo cấp độ từ thấp lên cao: ban đầu là viện trợ, cho vay, tiến đến hợp tác sản xuất; kinh doanh phù hợp công thức: tài nguyên Lào, lao động kỹ thuật Việt Nam, vốn hợp tác hoặc vay của nước thứ ba. Tiếp đó, từ năm 1996 trở đi, một công thức hợp tác mới được áp dụng, đó là hợp tác hai bên cùng có lợi theo thông lệ quốc tế, ưu tiên, ưu đãi cho nhau.

Điều đặc sắc nổi bật trong quan hệ hợp tác kinh tế Lào - Việt Nam là tinh thần giúp đỡ nhau mỗi khi nước bạn gặp khó khăn mà không thể tự giải quyết được. Hành động Việt Nam giúp Lào chống lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô năm 1999 là một mẫu hình tiêu biểu.

Năm 1999, tình hình kinh tế Lào rất khó khăn do tỷ lệ lạm phát cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút, đầu tư kém hiệu quả, nhập siêu cao, đời sống của nhân dân, nhất là công nhân, viên chức giảm đến 50 - 60%. Trước tình hình đó, theo đề nghị của lãnh đạo Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cử một đoàn chuyên gia cấp cao sang giúp Lào với quyết tâm giúp bạn ngăn chặn được lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô của Lào trong thời gian sớm nhất.

Trong thời gian làm việc, Đoàn chuyên gia Việt Nam phối hợp chặt chẽ với các chuyên gia Lào để có thể biến đề án của Đoàn chuyên gia Việt Nam thành đề án của Lào và đưa vào thực tiễn chống lạm phát, ổn định tình hình kinh tế vĩ mô của Lào. Kết quả hoạt động của Đoàn chuyên gia Việt Nam kết hợp với sự nỗ lực cộng tác của các chuyên gia Lào đã cải thiện được tình hình kinh tế - xã hội Lào, lạm phát được ngăn chặn. Từ sau năm 1999, nền kinh tế Lào đã phát triển theo chiều hướng tích cực, tốc độ tăng trưởng cao, giá cả và tỷ giá hối đoái được kiểm soát và ổn định, giá trị đồng Kíp được bảo đảm, đời sống nhân dân được cải thiện ngày càng tốt hơn.

Lời đánh giá của đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Xỉxávạt Kẹo Bunphăn trong thư gửi Thủ tướng Phan Văn Khải, ngày 16 tháng 11 năm 1999, thể hiện rõ tinh thần làm việc của Đoàn chuyên gia Việt Nam và sự hợp tác giữa chuyên gia Việt Nam với chuyên gia Lào trong nhiệm vụ chống lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô Lào:

“Đoàn chuyên gia đã làm việc với trách nhiệm cao, thật sự quan tâm đến tình hình đang khó khăn của kinh tế Lào và hợp tác chặt chẽ với chúng tôi trong việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề có liên quan, đã đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ.

Qua công tác với nhau, Đoàn chuyên gia đã cùng với chúng tôi nghiên cứu sâu thêm trong việc tìm ra nguyên nhân lạm phát, cũng như trong việc đề ra các biện pháp giải quyết vấn đề lạm phát trong thời gian trước mắt và lâu dài tại Lào. Đoàn chuyên gia đã giúp chúng tôi củng cố việc quản lý kinh tế vĩ mô, giúp các ngành hữu quan tu sửa, chỉnh lý và đề ra các chế độ, quy chế cần thiết.

Đến nay, kinh tế Lào rõ ràng có phần tốt lên, nhất là tỷ giá hối đoái có sự ổn định, tỷ số lạm phát giảm, sự linh hoạt trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng được củng cố, kinh tế vĩ mô bước đầu có sự ổn định.

Kết quả đạt được đó có sự đóng góp của Đoàn chuyên gia kinh tế cao cấp của Việt Nam. Thay mặt Chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, tôi xin biểu dương tất cả các đồng chí trong Đoàn và xin đánh giá cao sự đóng góp của Đoàn chuyên gia trong việc cùng chúng tôi giải quyết lạm phát tại Lào đợt này.

Chúng tôi thấy rằng, kết quả trên đây còn có sự thể hiện mối tình trong sáng, thuỷ chung của tình đoàn kết đặc biệt Lào - Việt, thể hiện sự quan tâm tận tình, tinh thần quốc tế cao cả của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam anh em một mực thuỷ chung lúc nào cũng sẵn sàng hợp tác, tương trợ, giúp đỡ sự nghiệp cách mạng Lào chúng tôi”
.

Sự hợp tác Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trên lĩnh vực giáo dục, đào tạo cán bộ được đặt ở tầm chiến lược, tác động trực tiếp tới sự phát triển của quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc, được mở đầu từ thập niên 1950.

Ngay từ năm 1955, Lào đã gửi sang Việt Nam 150 học sinh phổ thông cấp I, cấp II để đào tạo trở thành lực lượng cán bộ mà cách mạng Lào đang đòi hỏi phải đáp ứng. Từ đó, cũng bắt đầu xây dựng hệ thống trường đào tạo cán bộ Lào tại Việt Nam với nhiều cấp học, nhiều chuyên ngành và số lượng người học ngày càng tăng. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, có tới hàng vạn lưu học sinh Lào được đào tạo và sinh sống trong sự chăm sóc rất tận tình của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam 1.

Sự hợp tác giữa hai dân tộc trong công tác giáo dục còn diễn ra dưới hình thức Việt Nam gửi chuyên gia giáo dục sang giúp Lào xây dựng nền giáo dục mới theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước Lào. Từ năm 1961, vùng giải phóng Lào mở rộng đến mức 2/3 rồi 3/4 lãnh thổ quốc gia. Cũng từ đó, những vấn đề cơ bản của nền giáo dục cách mạng Lào được đặt ra, và năm 1962 Việt Nam gửi sang Lào gần 400 chuyên gia để hợp tác với bạn.

Quan hệ hợp tác giáo dục, đào tạo cán bộ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam sau năm 1975 phát triển theo hướng đào tạo cán bộ đạt trình độ đại học, trên đại học. Theo đó, hàng năm có hơn 1.000 cán bộ, sinh viên Lào được bồi dưỡng, học tập tại nhiều học viện, trường đại học Việt Nam. Về phía Việt Nam, hàng năm có từ 15 - 20 lưu học sinh sang học tại Đại học Quốc gia Lào.

Bên cạnh đó, hình thức hợp tác Việt Nam - Lào thực hiện nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Từ năm 1963, hệ thống trường Đảng Việt Nam được giao trọng trách này 2. Đến sau năm 1990, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - BT) theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước Lào nâng cấp độ đào tạo lên bậc thạc sĩ, tiến sĩ và mở thêm nhiều chuyên ngành đào tạo cử nhân chính trị, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các chuyên ngành công tác đảng.

Ngoài hình thức đào tạo cán bộ như đã trình bày trên, trong những năm sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đội ngũ chuyên gia Việt Nam hoạt động tại Lào trên các lĩnh vực cũng là những người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ nhiều cán bộ Lào nắm bắt kiến thức và phương pháp công tác trong các lĩnh vực hoạt động của họ, góp phần khắc phục ở mức độ nhất định tình trạng thiếu cán bộ lúc bấy giờ.

Cần nhấn mạnh rằng, đội ngũ chuyên gia Việt Nam trong nhiều giai đoạn, ở nhiều lĩnh vực đã trở thành những người bạn tin cậy của các cấp lãnh đạo Lào tại trung ương cũng như địa phương và các ngành, trở thành bộ phận nòng cốt trong quá trình xây dựng, củng cố mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.

d) Hợp tác trong lĩnh vực ngoại giao

Căn cứ vào sự phát triển của ngoại giao Việt Nam - Lào trong tình hình mới sau khi hai dân tộc hoàn toàn độc lập, thống nhất, có thể phân định quan hệ hợp tác trong hoạt động ngoại giao Việt Nam - Lào thành hai giai đoạn: 1976 - 1991 và 1992 - 2007.

Giai đoạn 1976 - 1991, năm 1975 đánh dấu kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến kéo dài 30 năm của hai dân tộc Việt Nam, Lào chống thực dân, đế quốc xâm lược, mở ra thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, hai nước cũng biểu thị mong muốn góp phần xây dựng Đông Nam Á trở thành khu vực hoà bình, tự do và trung lập.

Đặt cơ sở pháp lý cho sự phát triển thuận lợi, vững chắc của quan hệ Việt Nam - Lào khi ở mỗi nước đã thiết lập hoàn chỉnh một nhà nước độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai Nhà nước Việt Nam và Lào ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác. Cùng ngày, Hiệp ước về hoạch định biên giới cũng được ký kết như trên đã viết.

Trong khi quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đang diễn ra suôn sẻ thì tập đoàn Pôn Pốt cầm quyền tại Campuchia lại thi hành chính sách cực kỳ phản động, tàn bạo: diệt chủng đồng bào của mình và đưa quân sang xâm lược Việt Nam, phá vỡ quan hệ đoàn kết của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia.

Cuối tháng 12 năm 1978, Bộ Chỉ huy quân đội cách mạng Campuchia phát động phong trào nổi dậy của quần chúng và kêu gọi quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Campuchia lật đổ chính quyền diệt chủng của bè lũ Pôn Pốt - Iêngxari. Đáp lại nguyện vọng chính đáng đó, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với nhân dân Campuchia nổi dậy đánh đổ chế độ diệt chủng và giúp cách mạng Campuchia hồi sinh dân tộc.

Viện cớ Việt Nam đưa quân vào Campuchia, phương Tây và một số quốc gia khác thi hành chính sách bao vây, cấm vận Việt Nam. Đây là thời điểm quan hệ đoàn kết Việt Nam - Lào - Campuchia được khôi phục và cơ quan ngoại giao ba nước thiết lập được cơ chế phối hợp hoạt động hợp lý với nhiều sáng kiến đấu tranh đạt hiệu quả cao trong việc giải quyết xong vấn đề Campuchia, tháng 10 năm 1991. Kết quả đó có phần đóng góp xứng đáng của sự phối hợp đấu tranh ngoại giao của ba nước Đông Dương.

Bước đột phá vấn đề Campuchia kéo theo sự tháo gỡ bao vây, cấm vận, tạo điều kiện cho ba nước Đông Dương cải thiện quan hệ với ASEAN và nhiều quốc gia khác.

Giai đoạn 1992 - 2007, thế giới có nhiều biến động lớn. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu tan rã, Chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển chiếm vị trí ưu thế. Cách mạng khoa học và công nghệ phát triển rất mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, toàn cầu hoá trên nhiều lĩnh vực trở thành xu thế tất yếu khách quan. Mặt khác, tình hình thế giới vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp, khó lường như xung đột lợi ích, ảnh hưởng của nhiều quốc gia dân tộc, chiến tranh cục bộ, khủng bố quốc tế,... Khu vực Đông Nam Á, châu Á - Thái Bình Dương là nơi ổn định và phát triển nhanh về kinh tế, song vẫn tồn tại những vụ tranh chấp lãnh thổ, nhất là biển đảo, khủng hoảng tài chính...

Trước tình hình đó, Việt Nam, Lào vẫn rất coi trọng, bảo vệ và phát triển quan hệ đặc biệt giữa hai nước; đồng thời đổi mới quan hệ ngoại giao: giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá, tích cực hội nhập quốc tế và khu vực.

Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiếp tục phát triển sâu rộng, được thể hiện ở những cuộc thăm viếng, thông báo cho nhau tình hình nước mình, trao đổi ý kiến giữa các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước về những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm, trong đó có nhiều nội dung thuộc lĩnh vực ngoại giao, góp phần định hướng cho ngành ngoại giao hai nước triển khai các hoạt động của mình. Hai bên phối hợp với nhau và trao đổi thông tin, kinh nghiệm về hoạt động quốc tế và khu vực. Cũng trong giai đoạn này, hai Bộ Ngoại giao đã tiến hành ký kết các hiệp định hợp tác dài hạn, tổ chức giao lưu và ký thoả thuận phối hợp hoạt động giữa hai bên; hỗ trợ nhau tổ chức các hội nghị cấp cao ASEAN tại Viêng Chăn.

Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngoại giao, Việt Nam và Lào đã tiến hành từ nhiều năm trước đổi mới tại hai nước. Đến thời kỳ đổi mới, công tác này càng được mở rộng và nâng cao ở trình độ đại học và trên đại học.

Các hoạt động nói trên đều đạt hiệu quả tốt, tác động tích cực đối với sự phát triển của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.



------------------------------------------------------------------
1. Em Balia, 17 tuổi, quê ở Xiêng Khoảng, học sinh lớp 6, trường T1 Vĩnh Phúc, ngày 7 tháng 6 năm 1976, khi từ giã trường về nước, đã nói những lời sau đây: “Tuy phải sống xa cha mẹ, quê hương nhưng em đã được người cha, người mẹ thứ hai chăm sóc và dạy dỗ. Trở về Tổ quốc, chúng em luôn nhớ nơi đây, nơi đã chắp cánh cho chúng em. Nơi đây chúng em từ những đứa trẻ đến việc ăn ngủ còn lúng túng... nay đã khôn lớn cả về thể lực lẫn tâm hồn, trí tuệ. Nơi đây em đã từng sống trong tình thương bao la... Mai đây chúng em trở thành những cán bộ tốt của đất nước Lào anh hùng thì nhân dân Lào sẽ nói rằng: “Đó là công ơn của nhân dân Việt Nam””.

2. Từ năm 1977 đến 1989, là Trường Nguyễn Ái Quốc 10, Trường Nguyễn Ái Quốc đặc biệt, và từ năm 1990 trở đi Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ này.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4799



« Trả lời #116 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 08:08:36 am »

4. Đặc điểm của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

a) Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống lên quan hệ đặc biệt

Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng. Trong lịch sử chế độ phong kiến, điểm nổi bật về quan hệ giữa hai dân tộc và mối bang giao giữa các triều đại là thân thiện, hữu hảo; không có sự áp bức và nô dịch nhau, không có hiềm khích dân tộc, mặt khác, lại đã từng giúp đỡ nhau trong nhiều cuộc đấu tranh chống xâm lược. Nhân dân cư trú tại hai bên biên giới Việt Nam, Lào thường qua lại trao đổi sản vật hàng hoá và giao lưu, thăm viếng, do họ là những người cùng dòng họ.

Từ nửa sau thế kỷ XIX, hai nước đều bị thực dân Pháp xâm lược và đặt dưới sự thống trị của chế độ thuộc địa. Chúng thi hành chính sách bóc lột rất nặng nề bằng thuế khoá, kể cả thuế thân thời phong kiến mà cách mạng Pháp đã xoá bỏ, nhưng chúng vẫn áp dụng tại Đông Dương 1.

Thực dân Pháp còn ra sức vơ vét tài nguyên khoáng sản, nông sản, lâm sản; độc chiếm thị trường mua bán hàng hoá, cướp đoạt ruộng đất của nông dân, chiếm đoạt nguồn nhân công rẻ mạt. Đồng thời, chúng chèn ép sự phát triển kinh tế của các dân tộc tại Đông Dương. Bên cạnh đó, chúng thi hành chính sách đầu độc người Đông Dương bằng rượu cồn, thuốc phiện đi liền với thủ đoạn làm ngu dân và đàn áp khốc liệt những người yêu nước đấu tranh chống chế độ thuộc địa hà khắc, khiến “nhà tù nhiều hơn trường học”.

Nhân dân hai nước Việt Nam, Lào vốn có truyền thống yêu nước, kiên cường chống ngoại xâm, căm ghét chế độ thuộc địa đã liên tục nổi dậy và ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau để cùng chống kẻ thù chung.

Từ khi phong trào Cần Vương bùng nổ dưới ngọn cờ yêu nước của Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết (tháng 7 năm 1885) đến những năm 20 thế kỷ XX, diễn ra nhiều cuộc khởi nghĩa và các hoạt động đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Nhiều phong trào trong số đó nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân Lào tại vùng sát biên giới Lào - Việt chạy dài từ Hạ Lào, Trung Lào lên Thượng Lào. Đặc biệt, trong những năm đầu thế kỷ XX, cuộc khởi nghĩa của người Lào do ông Kẹo và ông Cômmađăm lãnh đạo (kéo dài từ năm 1901 đến 1937) đã phối hợp với nghĩa quân dân tộc Xơđăng ở Tây Nguyên (Việt Nam) do tù trưởng Irê lãnh đạo cùng tấn công phá vỡ đồn canh Công cơ tu của thực dân Pháp (ngày 27 tháng 5 năm 1901).

Các phong trào đó bị chính quyền thực dân đàn áp, dập tắt. Song mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào trong những năm đầu chống sự xâm lược và ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp cũng cho thấy nhận thức của hai dân tộc về xây dựng khối đoàn kết đấu tranh đã trở thành một nhu cầu khách quan cấp bách. Việc xác định con đường cứu nước đúng đắn và mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc trên bán đảo Đông Dương vẫn là những nhiệm vụ đặt ra cho các nhà lãnh đạo phong trào yêu nước và cách mạng tại xứ này.

Chính Nguyễn Ái Quốc, với lòng yêu nước nồng nàn và nghị lực phi thường vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đã tự mình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và các dân tộc thuộc địa, nhằm phát hiện chân lý cứu nước. Bằng cách đó, Người tiếp nhận và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Đông Dương để xác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia theo quỹ đạo cách mạng vô sản. Người chỉ đạo Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930, đến tháng 10 cùng năm đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, lãnh đạo cách mạng Đông Dương. Những sự kiện trên đưa quan hệ đoàn kết Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam từ truyền thống lên quan hệ đặc biệt.

Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng hai dân tộc Việt Nam, Lào, trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt, đầy hy sinh gian khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước, đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới nhiều thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới đưa hai nước cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

b) Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước dày công vun đắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam

Vào nửa sau những năm 20 thế kỷ XX, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc phát hiện tính tất yếu và phương pháp hữu hiệu để nhân dân Đông Dương lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp, giành độc lập, tự do như trên đã viết. Trên các chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tiếp tục đưa ra những quyết định quan trọng nhằm thắt chặt quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam và dẫn đường cho khởi nghĩa tháng Tám 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược thu được thắng lợi.

Những quan điểm và chủ trương của Người được lãnh đạo và nhân dân Việt Nam, Lào lĩnh hội, thực hiện như: giúp bạn là mình tự giúp mình; đem sức ta mà tự giải phóng cho ta; Việt, Lào đoàn kết, trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh; thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ; không có gì quý hơn độc lập tự do... đã là ánh sáng và nguồn cổ vũ nhân dân Việt Nam, Lào chiến đấu và chiến thắng. Trong thời kỳ đổi mới, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên những giá trị cao quý, chỉ đường cho hai Đảng và hai dân tộc Việt Nam, Lào tiến bước.

Trong tư tưởng, tình cảm của mình, lãnh tụ Hồ Chí Minh coi nhân dân Lào cũng như đồng bào của mình. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, tháng 6 năm 1959, Người nói: Đồng bào (tức nhân dân Lào - BBS) đói, ta phải giải quyết sớm hơn. Phải săn sóc chu đáo... Trước mắt chú ý gạo, muối. Lãnh tụ Hồ Chí Minh rất chú trọng những vấn đề cơ bản của cách mạng Lào như: công tác xây dựng đảng về tư tưởng, tổ chức và cán bộ. Người vừa góp ý kiến, vừa trực tiếp chỉ đạo nhiều hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào để cùng thực hiện... Đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã từng trân trọng viết về công lao của Người đối với cách mạng Lào: “Tư tưởng và tình cảm của Bác là ngọn đuốc soi đường, là nguồn cổ vũ sức mạnh đoàn kết đấu tranh của nhân dân các bộ tộc Lào chúng tôi. Từ ngày cách mạng Lào còn trứng nước cho đến lúc đã trưởng thành, Bác Hồ luôn quan tâm dẫn đường chỉ lối” .

Tiếp thụ ý kiến chỉ đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, đội ngũ cán bộ Đảng, Mặt trận, Chính phủ kháng chiến của Lào và Việt Nam luôn luôn sát cánh bên nhau trao đổi ý kiến, xác lập chủ trương, biện pháp tiến hành các nhiệm vụ chung của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Phương pháp hoạt động đó ngày càng được phát huy, cải tiến và phát triển, nhất là khi thực hiện những nhiệm vụ lịch sử quan trọng như: khởi nghĩa tháng 8 năm 1945; xây dựng khu kháng chiến trong kháng chiến chống Pháp; xây dựng căn cứ địa trung ương của cách mạng Lào trong giai đoạn chống Mỹ; những chiến dịch lớn diễn ra trên đất Lào có tác động tích cực trực tiếp tới chiến trường Việt Nam; Hội nghị thành lập Mặt trận Lào Ítxalạ và Chính phủ kháng chiến Lào Ítxalạ... Khi Đảng Cộng sản Đông Dương phát triển thành ba đảng từ sau Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục thắt chặt và mở rộng quan hệ đặc biệt trong quá trình lãnh đạo hai dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược lâu dài (21 năm), ác liệt. Mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam được thể hiện ở các lĩnh vực thống nhất chủ trương chiến lược, sách lược đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, binh vận, ngoại giao, xây dựng lực lượng kháng chiến; giúp đỡ lẫn nhau trong tác chiến, giao thông vận tải, trong kinh tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo cán bộ...

Thời kỳ hai nước Việt Nam, Lào sau khi hoàn thành thắng lợi sự nghiệp chống ngoại xâm, những bản chất tốt đẹp của quan hệ đặc biệt lại được mở rộng và phát triển lên tầm cao mới, bên cạnh lĩnh vực quốc phòng, an ninh, các lĩnh vực khác như kinh tế, tài chính, đào tạo cán bộ, nhân lực, hợp tác ngoại giao theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, hội nhập khu vực và quốc tế, hợp tác nghiên cứu khoa học và lý luận chính trị... càng phát triển.




-----------------------------------------------------------------
1. Riêng ở Việt Nam, thời nhà Nguyễn, trước khi bị Pháp chiếm, số tiền thuế mỗi năm khoảng 30 triệu phơrăng, đến thời Toàn quyền Đume (những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX) đã tăng lên 90 triệu phơrăng. Xem Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Lịch sử Việt Nam, 1858 - 1945, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, t.II, tr.129.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4799



« Trả lời #117 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 08:17:34 am »

c) Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là sự nghiệp của nhân dân Việt Nam, Lào

Hoạt động lý luận và tổ chức thực tiễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ những năm 20 thế kỷ XX đã mở đường tiến tới hình thành quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, lấy nền tảng là sức mạnh đoàn kết to lớn của nhân dân hai nước được khơi dậy như Người đã chỉ dẫn trong tác phẩm “Đường cách mệnh”: “Dân khí mạnh, thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại” .

Ý nghĩa và giá trị quý báu của luận điểm ấy đã được đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào khẳng định trong Điếu văn truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dù ở đâu và lúc nào Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn luôn nhắc nhở những người cách mạng là muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải đoàn kết trong nội bộ Đảng, phải đoàn kết toàn dân. Đồng chí đã nói là ba dân tộc Việt Nam, Khơme, Lào phải đoàn kết để cùng nhau đấu tranh, đồng thời phải đoàn kết rộng rãi với các dân tộc bị áp bức trên thế giới, kết hợp chặt chẽ tinh thần yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế vô sản, đó là sức mạnh hùng hậu để đấu tranh với địch, đưa thắng lợi lại cho cách mạng. Đây là lời giáo huấn rất quý báu mà những người cộng sản chúng ta phải ghi nhớ và thực hiện thật đúng đắn” .
Những mục tiêu phấn đấu của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam bao quát những nguyện vọng tha thiết của nhân dân Việt Nam và Lào. Đó là đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng chống kẻ thù đế quốc xâm lược và tay sai của chúng, giành độc lập, tự do cho dân tộc và nhân dân hai nước, xây dựng quan hệ bình đẳng, tự chủ, hữu nghị, hợp tác giữa hai quốc gia.

Nhân dân hai nước cũng hiểu rằng chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ có Đảng Cộng sản chân chính với đường lối cách mạng và phương pháp đoàn kết chân thành, tôn trọng quyền độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia, dân tộc mới có thể thực hiện những nguyện vọng đó.

Xuất phát từ nhận thức chính trị và niềm tin ấy mà nhân dân hai nước đã không quản gian khổ, hy sinh, đóng góp sức người, sức của để thực hiện những mục tiêu của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Trong gần một thế kỷ qua, họ chung sức, chung lòng, vừa xây dựng lực lượng, vừa anh dũng, sáng tạo, giữ vững mục tiêu cách mạng, đương đầu với nhiều kẻ thù hùng mạnh và giành thắng lợi hoàn toàn, mà không tính thiệt hơn, chỉ dành cho nhau sự quý mến, trân trọng và biết ơn sâu nặng.

Truyền thống tốt đẹp đó tiếp tục được phát huy trên trận tuyến bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trên con đường đổi mới của hai nước.

d) Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam mang tính xuyên suốt, toàn diện và bền vững

Dân tộc độc lập, nhân dân được hưởng quyền tự do, hạnh phúc, đất nước giàu mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa là mục tiêu song trùng của hai dân tộc Việt Nam, Lào. Đó cũng là phương hướng, là động lực xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

Trong sự nghiệp đấu tranh lâu dài của hai dân tộc, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là nhân tố xuyên suốt các chặng đường, bước trước chuẩn bị cho bước sau nối tiếp phát triển, từ đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược đến bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước với nhiều gian khổ và hy sinh để đi tới những kỳ tích lịch sử của hai nước Việt Nam, Lào.

Mỗi thời kỳ lịch sử tương ứng với một nhiệm vụ chiến lược cách mạng của hai nước và gắn bó chặt chẽ với sự vận động của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trên các lĩnh vực tư tưởng, đường lối, chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hoá. Tuy mỗi thời kỳ có những nhiệm vụ trọng tâm, song nhìn tổng thể, vẫn nhận rõ tính toàn diện, phong phú mang bản chất cách mạng, nhân văn trong tư tưởng và hoạt động thực tiễn, trong lý trí và tình cảm thắm thiết của hai dân tộc.

Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trải qua nhiều thay đổi của lịch sử và những mưu đồ phá hoại của nhiều thế lực thù địch từ bên trong và bên ngoài, vẫn giữ nguyên tính bền vững và sức mạnh phi thường của nó. Các kỳ tích do hai dân tộc lập nên trong Cách mạng tháng Tám 1945, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cùng thành tựu có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới đều là minh chứng hùng hồn về độ bền vững của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

Tất cả các nhân tố ấy đều lắng đọng, kết tinh và qua kiểm nghiệm trên nhiều bước đường gian khó, hiểm nghèo để biến quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam thành giá trị văn hoá nhân văn trường tồn và phát triển cùng thời gian, là tài sản thiêng liêng, cao quý nhất cho mọi thế hệ nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào.

Ngọn nguồn giá trị đó là do nhận thức của các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước về quy luật sống còn của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đối với vận mệnh hai dân tộc; về những quan điểm lý luận, tư tưởng và phương pháp xây dựng, phát triển quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam dựa trên nguyên tắc dân tộc tự quyết được thể hiện ở lời dạy của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là mình tự giúp mình”, tuyệt đối tôn trọng chủ quyền của bạn, giúp bạn để bạn mạnh lên và tự giải quyết các nhiệm vụ cách mạng của dân tộc mình, không được áp đặt, làm thay... Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, cán bộ và nhân dân hai nước đều chấp hành đúng tư tưởng chỉ đạo và nguyên tắc hoạt động đó trong quan hệ hai nước. Căn cứ vào thực tế lịch sử lâu dài của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào Cayxỏn Phômvihản đã phân tích, đánh giá và khắc hoạ sâu sắc những nét tiêu biểu, điển hình về tính toàn diện, xuyên suốt, bền vững của mối quan hệ đó: “Việt Nam đã giúp Lào từ khi có Đảng Cộng sản Đông Dương, nhất là từ năm 1945, Việt Nam đã có quân tình nguyện ở Lào và liên tục giúp Lào tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đến thắng lợi ngày nay. Có thể nói không lúc nào các đồng chí không ở bên cạnh chúng tôi, những lúc cách mạng gặp khó khăn, gay go nhất, đều có mặt các đồng chí. Các đồng chí đã giúp tận tình không nề hà gì, không tiếc xương máu con em mình. Như Bác Hồ đã nói giúp Lào là vì nghĩa vụ đối với dân tộc mình và nhiệm vụ quốc tế, các đồng chí đã làm được cả hai việc. Điều quý báu nhất, thành công lớn nhất của các đồng chí là đã giúp cho Lào, tạo cho Lào những nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Đó là các đồng chí giúp hình thành nên lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, hình thành nên Mặt trận dân tộc thống nhất, giúp giành, giữ và xây dựng khu giải phóng. Nhưng điều quan trọng nhất là các đồng chí đã giúp xây dựng đảng Mác - Lênin chân chính. Trong tình hình phức tạp hiện nay không có đảng Mác - Lênin thì cách mạng không thể thắng lợi được. Nhờ sự giúp đỡ của các đồng chí mà đội ngũ cán bộ, đảng viên chúng tôi đã phát triển từ ít đến nhiều. Đến nay, cán bộ chúng tôi đã tiến bộ một bước dài, tự đảm đương được nhiều mặt công việc so với trước. Tinh thần tự lực, tự cường tiến lên một bước sâu hơn. Các đồng chí cũng giúp chúng tôi đặt quan hệ với các đảng anh em, mở rộng quan hệ quốc tế của Đảng, và do đó, địa vị quốc tế của Đảng chúng tôi được nâng cao” .

Về phía Việt Nam, tại cuộc mít tinh kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào và 30 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nói: “Trong quá trình cùng nhân dân các bộ tộc Lào sát cánh bên nhau, chia ngọt sẻ bùi, đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, nhân dân Việt Nam luôn luôn nhận thức sâu sắc rằng, mỗi thắng lợi của Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay đều gắn liền với tinh thần đoàn kết, sự ủng hộ và giúp đỡ chí tình của nhân dân các bộ tộc Lào anh em. Nhân dịp này, thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào anh em về sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu đó” .

Với niềm tin sắt đá ở sự phát triển bền vững của quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào đồng chí Chummaly Xaynhaxỏn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào đã phát biểu tại cuộc mít tinh trọng thể kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào và 30 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Trên cơ sở các nguyên tắc và kinh nghiệm cũng như truyền thống đoàn kết đặc biệt Lào - Việt Nam, chúng ta sẽ tăng cường hợp tác mọi mặt, khuyến khích các tổ chức Đảng, Nhà nước, bộ, ngành, địa phương, tổ chức quần chúng và các đơn vị kinh tế - doanh nghiệp hợp tác chặt chẽ, làm cho quan hệ hợp tác Lào và Việt Nam đi vào thực chất, phù hợp với đường lối đổi mới và vì sự phát triển phồn vinh của cả hai nước, vì sự nghiệp hoà bình, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới” .
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4799



« Trả lời #118 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 08:24:44 am »

III. Ý NGHĨA LỊCH SỬ

1. Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh vô địch của hai dân tộc Việt Nam, Lào

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hoạt động thực tiễn của các lực lượng cách mạng, quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam từng bước được xây dựng và phát triển, là nhân tố cơ bản gắn bó hai dân tộc, tạo nên sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù, khắc phục nhiều khó khăn, trở lực trên con đường cách mạng. Đó là quá trình hai dân tộc tự nguyện đến với nhau trên cơ sở cùng giác ngộ lý tưởng cách mạng giải phóng dân tộc, giành tự do, hạnh phúc cho nhân dân, xác lập quyền bình đẳng dân tộc, giúp đỡ lẫn nhau tự vươn lên và trưởng thành. Đó cũng là những chặng đường nhân dân hai nước vượt qua nhiều khác biệt về phong tục tập quán và những hậu quả chia rẽ Việt Nam, Lào do kẻ thù gây ra, để đi tới đồng tâm nhất trí, kề vai sát cánh cùng chống kẻ thù chung.

Biết bao tấm gương chịu đựng khó khăn, gian khổ và tự nguyện hy sinh cho nhau của cán bộ, bộ đội và nhân dân hai nước để sự nghiệp cách mạng của hai dân tộc Việt Nam, Lào giành thắng lợi đã diễn ra và trở thành lẽ sống của họ. Đây là một nhân tố cơ bản tạo nên mọi thắng lợi của những mục tiêu đấu tranh cách mạng mà hai dân tộc cùng hợp sức thực hiện.

Nét nổi bật có tác dụng giáo dục nhân dân hai nước là lòng trung thành của các nhà lãnh đạo Việt Nam, Lào đối với quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào và quan hệ Việt Nam, Lào và Campuchia mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên, Lào cùng kháng chiến. Bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ là kẻ thù của ta và của dân tộc Miên, Lào. Vì vậy, ta phải ra sức giúp đỡ anh em Miên, Lào, giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào; và tiến đến thành lập Mặt trận thống nhất các dân tộc Việt - Miên - Lào” .

Về phía Lào, trong những tình huống rất khó khăn và phức tạp của cách mạng, các nhà lãnh đạo, đại biểu cho ý chí của nhân dân Lào, đã thể hiện rõ sự kiên định của mình đối với quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào. Hai sự kiện sau đây đã biểu thị phẩm chất, bản lĩnh ấy của họ.

Một là, cuối năm 1949, Chính phủ Khăm Mạo đầu hàng thực dân Pháp, chỉ còn Hoàng thân Phếtxarạt và Hoàng thân Xuphanuvông vẫn giữ lập trường chống đế quốc Pháp xâm lược. Lúc bấy giờ Hoàng thân Xuphanuvông tổ chức cuộc họp báo, ra tuyên bố: “Tôi không đồng tình với những người trong Chính phủ trở về đầu hàng kẻ thù. Tôi sẽ cùng với nhân dân Lào, nhân dân Việt Nam, nhân dân Campuchia tiến hành cuộc đấu tranh cứu nước cho đến thắng lợi hoàn toàn” .

Hai là, cũng vào khoảng thời gian đó, Khăm Mạo lôi kéo đồng chí Phumi Vôngvichít đang làm chủ tịch Khu 1, Khu 2 của khu kháng chiến Tây Bắc Lào theo chúng đầu hàng Pháp. Đồng chí trả lời: “Chúng tôi không đồng ý về với Pháp, vì làm như thế là đầu hàng kẻ thù và Tổ quốc ta sẽ không bao giờ giành được độc lập”2. Đồng thời, đồng chí cũng kịch liệt bác bỏ những luận điệu của chúng - đòi không hợp tác với Việt Nam: “Nếu như vậy thì các anh nhất định không bao giờ thắng lợi. Vì các anh lấy tiền của, vũ khí, trang bị, kinh nghiệm ở đâu ra để chống Pháp? Nếu các anh không hợp tác với nước đang đánh kẻ thù chung thì các anh không bao giờ thắng lợi và không bao giờ độc lập. Như vậy tôi thấy con đường các anh đi là tách khỏi Việt Nam để đi đầu hàng thực dân Pháp, do đó tôi không đi theo cùng đường với các anh”.

Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam nảy sinh, phát triển trong sự trùng hợp mục tiêu cách mạng và tình nghĩa của hai dân tộc láng giềng ruột thịt là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; bình đẳng, hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau. Điều đó đã trở thành động lực mạnh mẽ, vượt lên mọi thử thách trên các chặng đường cách mạng, là cội nguồn sáng tạo trong chiến đấu và lao động, nhân lên sức mạnh đoàn kết, hợp tác giữa hai bên để chiến thắng các kẻ thù lớn mạnh, hung bạo; phá vỡ những mưu đồ chia rẽ, phá hoại của các thế lực xâm lược, thù địch, phát hiện con đường đổi mới thích hợp cho hai nước. Do vậy, những thắng lợi quan trọng nhất của hai dân tộc đánh dấu những bước ngoặt lịch sử của mình như Cách mạng tháng Tám 1945; kháng chiến chống Pháp, tháng 7 năm 1954; chống Mỹ năm 1975 và mở đầu sự nghiệp đổi mới năm 1986, hầu như diễn ra song hành.

2. Đứng ở vị trí chiến lược của vùng Đông Nam Á, nơi đối đầu quyết liệt giữa phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, hoà bình và tiến bộ xã hội với các thế lực xâm lược, khối đại đoàn kết Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt, chặn đứng, làm thất bại những mưu đồ và hành động của kẻ thù, góp phần quan trọng tạo dựng môi trường hoà bình, hợp tác, hữu nghị giữa các quốc gia Đông Nam Á

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa vùng Đông Nam Á phát triển mạnh. Nhiều nước đã giành được độc lập, bước vào thời kỳ xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội.

Việt Nam và Lào tuy đã giành được độc lập, nhưng ngay sau đó, bị quân đội Pháp kéo tới xâm lược. Chúng đã vấp phải sự chiến đấu kiên cường của nhân dân Việt Nam và Lào cùng đứng trên một trận tuyến. Chiến tranh xâm lược kéo dài và hiện rõ sự thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ tìm cách can thiệp và thay chân Pháp hòng áp đặt chủ nghĩa thực dân mới tại miền Nam Việt Nam và Lào từ sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết (tháng 7 năm 1954). Mỹ tìm mọi cách lôi kéo nhiều nước đồng minh của họ để thành lập liên minh quân sự chống phe xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc. Tại châu Á, ngày 8 tháng 9 năm 1954, Mỹ thành lập “tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á” (SEATO) nhằm ngăn chặn chủ nghĩa xã hội tràn qua vĩ tuyến 17 xuống Đông Nam Á, đặt miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia nằm trong phạm vi bảo hộ của Mỹ.

Ở miền Nam Việt Nam, trong thập niên 1960, Mỹ áp dụng từ chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đến chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam và đánh phá miền Bắc, một thành viên của phe xã hội chủ nghĩa, bằng không quân và hải quân. Tại Lào, Mỹ cũng thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” với cường độ ác liệt ngày càng gia tăng. Bằng những hành động đó, đế quốc Mỹ biến cuộc chiến tranh này thành cuộc “đối đầu lịch sử” giữa họ với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, phong trào xã hội chủ nghĩa và phong trào hoà bình, tiến bộ xã hội.

Với sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam và ý chí đấu tranh kiên cường, sáng tạo, quân dân Việt Nam, Lào đã đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ; đồng thời cũng làm thất bại những mưu đồ của các thế lực thù địch gây chia rẽ, đối địch giữa ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia; góp phần tạo lập môi trường hoà bình, hợp tác, hữu nghị giữa các quốc gia Đông Nam Á.

3. Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một tấm gương mẫu mực, thuỷ chung, trong sáng, vững bền, chưa từng có trong quan hệ giữa các dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do, hoà bình và tiến bộ xã hội

Trong lịch sử thế giới từ xưa tới nay, đã xuất hiện nhiều hình thức liên minh, đồng minh, hợp tác hoặc hình thành các cộng động quốc gia với nhiều thể chế đa dạng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Riêng quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam được gọi là quan hệ đặc biệt bởi khái niệm đó là sự tổng hợp, khái quát đúng đắn về truyền thống lịch sử, địa lý, về lý luận và thực tiễn của sự kết hợp nguyên tắc dân tộc tự quyết và tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, chủ nghĩa nhân văn cao cả, tính tất yếu và quy luật dẫn tới thắng lợi và thành công của hai dân tộc Việt Nam, Lào.

Nói cách khác, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là khối đoàn kết chặt chẽ của hai dân tộc phấn đấu cho những lợi ích cơ bản và nguyện vọng chính đáng thiết tha nhất của nhân dân hai nước như trên đã viết, đó là niềm tin tất thắng của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam thấm sâu vào lòng nhân dân hai nước.

Cảm nhận của đồng chí Phumi Vôngvichít sau khi đi khảo sát nhiều vùng ở Thái Lan, nơi người Lào và người Việt cùng tản cư sang để tránh sự tàn sát của quân đội Pháp và xây dựng lực lượng kháng chiến đầu năm 1946, cho chúng ta hiểu rõ điều đó: “Để thực hiện nhiệm vụ, tôi đề ra chương trình đi những nơi cần thiết... Tôi đến Băng Cốc để gặp Chính phủ Lào độc lập sang tạm lánh ở đây và gặp đại biểu Việt Nam nhằm tìm hiểu cách thức tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng đất nước Lào...”. Sau khi đi xem xét tình hình tại nhiều nơi khác, đồng chí nhận xét: “Chuyến đi lần này đã giúp tôi có những nhận thức mới, mở tầm nhìn cho tôi vào con đường cách mạng của dân tộc. Nó còn cho thấy nhân dân Lào ở khắp các miền đều đứng dậy đấu tranh chống bọn thực dân Pháp để giải phóng Tổ quốc khỏi ách thống trị thực dân và phong kiến thống trị thối nát. Một điều nữa mà tôi cũng thấy là khắp mọi nơi ở Campuchia hay ở Lào nếu có người Việt Nam thì họ đều hợp tác chiến đấu với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược”... “Nhận thức rõ nhất là muốn làm cuộc kháng chiến chống quân thù ở Lào, chúng tôi phải hợp tác với người Việt Nam, đang thực hiện nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh” .

Đối với hai dân tộc Việt Nam, Lào, quan hệ đặc biệt được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm đến chừng nào cũng không thể chia tách được. Nó vượt lên mọi thử thách để giữ trọn “Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” như Bác Hồ đã viết. Cùng mạch nguồn của tư duy trên, đồng chí Cayxỏn Phômvihản cho rằng, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam “quý hơn ngọc quý nhất”, cần phải bảo vệ và phát huy mãi mãi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4799



« Trả lời #119 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 08:51:12 am »

IV. BÀI HỌC LỊCH SỬ

1. Xác định đúng đắn hệ thống quan điểm lý luận về mối quan hệ dân tộc và quốc tế trong thời đại mới giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình xây dựng, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Trên con đường khám phá chân lý cứu nước, cứu dân, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã từng biết quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc thuộc địa do Tổng thống Mỹ Uynxơn (Wilson) nêu ra tại điểm 5 Chương trình 14 điểm, công bố đầu năm 1918: “Giải quyết công tâm những vấn đề thuộc địa, chiếu cố các dân tộc bản xứ và các chính phủ”. Chương trình đó được coi là nguyên tắc thảo luận tại Hội nghị hoà bình Vécxây (Pháp), năm 1919, của các nước đế quốc chiến thắng đế quốc Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) với mục tiêu của Mỹ là tranh giành thuộc địa với các nước đế quốc khác, tấn công nước Nga Xôviết và nêu cao vai trò của Mỹ trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Nhân dịp đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thay mặt Nhóm những người Việt Nam yêu nước gửi tới Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm:

“1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4. Tự do lập hộihội họp;

5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ” .

Người viết rõ, đây chỉ là những yêu sách khiêm tốn trong khi chờ nguyên tắc dân tộc được hiện thực hoá, quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thực sự. Người mong những yêu sách đó được các nước Đồng minh, trong đó có Chính phủ Mỹ, ủng hộ nhưng không nhận được ý kiến trả lời. Từ hiện tượng ấy, Người nêu rõ bản chất của chủ nghĩa Uynxơn về quyền dân tộc tự quyết trong bài “Cuộc kháng chiến” thuộc chủ đề Đông Dương (1923 - 1924): “Nhưng sau một thời gian nghiên cứu và theo dõi, chúng tôi nhận thấy rằng “chủ nghĩa Uynxơn” chỉ là một trò bịp bợm lớn. Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”. Điều cốt yếu của luận điểm này là sự nghiệp giải phóng dân tộc gắn liền với sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng con người theo quy luật phát triển của xã hội loài người để đi tới chỗ “xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”  như Mác - Ăngghen viết trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Đó chính là định hướng phát triển của cách mạng Đông Dương theo tinh thần cách mạng triệt để mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc xác định.

Từ khi bị thực dân Pháp xâm lược và thiết lập chế độ thuộc địa tại Việt Nam và Lào, nhân dân hai nước đã giúp đỡ nhau chống kẻ thù chung. Song do chưa xác định được những luận điểm cách mạng đúng đắn về mối quan hệ dân tộc và quốc tế, làm cơ sở xây dựng quan hệ đoàn kết Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, nên mối quan hệ đó vẫn là quan hệ truyền thống.

Với trách nhiệm cao đối với cách mạng Đông Dương và năng lực sáng tạo lý luận cách mạng kiệt xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất những quan điểm cơ bản về cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, Miên, Lào. Trong đó, bao hàm cả nội dung quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam:

Cách mạng Đông Dương là cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Sự nghiệp cách mạng của ba nước Đông Dương phải do nhân dân ba nước Đông Dương cùng đồng tâm, nhất trí tiến hành. Thắng lợi của sự nghiệp cách mạng đó sẽ hỗ trợ đắc lực cho công cuộc cách mạng của giai cấp vô sản Pháp.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập đã thể hiện mối quan hệ dân tộc và quốc tế đúng đắn trong Sách lược vắn tắt: “trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp” .

Tiếp tục phát triển dòng tư duy về vấn đề trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến thêm cho nhân dân ba nước Đông Dương một quan điểm mới, thống nhất với quan điểm của Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ tám, tháng 5 năm 1941: các dân tộc Đông Dương đều phải chịu chung một ách thống trị của phát xít Pháp - Nhật, cho nên phải đoàn kết lại đánh đuổi kẻ thù chung. Song Đảng phải hết sức tôn trọng và thi hành đúng quyền “dân tộc tự quyết” đối với các nước ở Đông Dương. Sau khi giành được độc lập: “Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng” .

Việt Nam giúp bạn Lào là thực hiện nghĩa vụ quốc tế với tinh thần “giúp bạn là mình tự giúp mình”.

Những quan điểm trên thể hiện rõ ràng, đúng đắn nguyên tắc dân tộc tự quyết và chủ nghĩa quốc tế trong sáng mà nội dung chính yếu là mỗi dân tộc ở Đông Dương có quyền tiến hành công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tự quyết định chế độ chính trị của quốc gia; có quyền lựa chọn con đường xây dựng, phát triển đất nước; có quyền bình đẳng, hợp tác với các dân tộc khác vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; đồng thời tôn trọng độc lập, chủ quyền và an ninh của các dân tộc; ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau và đoàn kết chặt chẽ trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước... Tất cả đều thể hiện rõ sự gắn kết và tác động tích cực giữa chủ nghĩa quốc tế trong sáng và chủ nghĩa yêu nước chân chính trong tiến trình cách mạng của ba dân tộc; hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa sôvanh, dân tộc vị kỷ.

Điều rất đáng trân trọng nữa là những quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương được các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước của hai dân tộc Việt, Lào quán triệt và vận dụng trong quá trình tạo dựng và phát huy sức mạnh của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

Về phía Lào, Nghị quyết Đại hội lần thứ II Đảng Nhân dân cách mạng Lào nhất trí khẳng định:

“Sự thật đã chứng minh mỗi bước đi đến thắng lợi của cách mạng Lào đều kết hợp chặt chẽ giữa sự nỗ lực cố gắng chủ quan của Đảng ta, của dân tộc ta với sự giúp đỡ của phe xã hội chủ nghĩa, của mọi phong trào cách mạng dân tộc dân chủ và hoà bình thế giới, trong đó khối lực lượng liên minh chiến đấu giữa Đảng ta với Đảng Lao động Việt Nam luôn luôn là điều kiện cơ bản mà chúng ta rất coi trọng như một yếu tố thắng lợi” .

Nhấn mạnh giá trị của chủ nghĩa yêu nước kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản qua thực tiễn cách mạng Lào, đồng chí Cayxỏn Phônvihản nói: “Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta phải do nhân dân ta tự làm lấy.

Đảng ta là một Đảng lãnh đạo cách mạng thực sự, do đó phải giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, mỗi một đảng có độc lập, tự chủ thì mới chứng minh một cách đầy đủ chủ nghĩa yêu nước nồng nàn, kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản chân chính.

Căn cứ vào những điều nói trên, chúng ta mới vững vàng có đầy đủ tinh thần quyết chiến, quyết thắng” .

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và thấu hiểu bản chất hai dân tộc Việt Nam, Lào, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết hợp lý, hài hoà nguyên tắc dân tộc tự quyết và quan hệ quốc tế vô sản trong sáng, biến nó thành nền tảng tư tưởng đúng đắn của hai dân tộc. Điều đó vừa là kinh nghiệm, vừa là lý luận của lãnh tụ Hồ Chí Minh, của hai Đảng, hai dân tộc Việt Nam, Lào cống hiến cho các dòng thác cách mạng thế giới.

Từ đầu thập niên 90 thế kỷ XX, hai nước Việt Nam và Lào đều thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn và đối tác tin cậy của các nước, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực Đông Nam Á. Đồng thời, cần tiếp tục nâng cao hiệu quả quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trên mọi lĩnh vực, giữ vững các quan điểm và nguyên tắc hợp tác mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh đạo Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra, coi đó là nhân tố bất biến trong ứng xử với mọi đổi thay, biến động của thế giới và khu vực.

2. Xác định nội dung, phương thức xây dựng quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là cụ thể hoá hệ thống quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ quốc gia và quốc tế trong điều kiện cụ thể của hai nước để hướng dẫn hoạt động của Đảng, của hệ thống chính trị và quân, dân hai nước Việt Nam, Lào nhằm đạt tới mục tiêu cách mạng do hai bên xác lập

Trên lĩnh vực này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, kế tiếp là Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đề xuất và lãnh đạo các cấp bộ đảng, hệ thống chính trị và nhân dân Việt Nam thực hiện nghĩa vụ xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt hai nước Việt Nam, Lào theo tinh thần:

Giúp bạn một cách vô tư, với cố gắng cao nhất của mình.

Không được áp đặt, rập khuôn máy móc những kinh nghiệm và cách làm ở Việt Nam, không phù hợp với điều kiện cụ thể của bạn.
Tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam phê bình một đồng chí phụ trách cơ quan của Việt Nam giúp Lào đã tự ý đề ra kế hoạch và phổ biến xuống các cấp về phát động quần chúng đấu tranh xoá bỏ chế độ cuông, lam . Làm như vậy là không đúng với hoàn cảnh, điều kiện của bạn Lào và mang tính chất bao biện. Bộ Chính trị chỉ thị: đã sai thì phải kịp thời sửa sai, thu ngay chỉ thị và kế hoạch đã phổ biến.

Giúp bạn để bạn tiến bộ và có thể tự làm lấy. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn cán bộ Việt Nam đi làm nghĩa vụ quốc tế tại Lào: giúp nhiều nhất cũng chỉ được 1/10, còn tự lực là 9/10.

Về sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam, Lào, các đồng chí lãnh đạo hai nước đã nhiều lần khẳng định giá trị đặc biệt của mối quan hệ đó. Trong cuộc hội đàm giữa đại diện hai Trung ương Đảng năm 1971, đồng chí Cayxỏn Phômvihản nói: “Sự giúp đỡ của Việt Nam ba năm qua là hết lòng hết sức, trong hoàn cảnh khó khăn nhưng đã hết sức giúp đỡ, không tiếc xương máu. Đó là điều rất quý, đã làm cho Đảng Lào, cách mạng Lào trưởng thành, đặc biệt nhất là sự giúp đỡ về kinh nghiệm, đường lối. Về mặt này, giữa hai Đảng ta sự nhất trí ngày càng cao chẳng những chiến lược mà cả sách lược nữa. Thay mặt Đảng Nhân dân Lào, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Đảng và nhân dân Việt Nam.

Các đồng chí sang giúp, đã giữ được phương châm hai Trung ương đã bàn bạc với nhau, phương pháp giúp nói chung cũng tốt.

Tóm lại, trong việc giúp đỡ mặt tốt là cơ bản, tận tình, tuy Việt Nam có khó khăn nhưng đã không tiếc gì với Lào, chính cái đó đã góp phần tăng cường đoàn kết giữa hai Đảng. Đây là quan hệ đặc biệt trên thế giới không đâu có”  (BBS nhấn mạnh).

Cũng tại cuộc hội đàm này, đồng chí Lê Duẩn phát biểu: “Thay mặt Đảng Lao động Việt Nam, chúng tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của Đảng Nhân dân Lào và của nhân dân Lào anh em đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân chúng tôi. Đây là những lời nói chân thật tự đáy lòng. Chúng tôi xin cảm ơn các đồng chí với sự hiểu biết sâu sắc mối quan hệ đặc biệt đã gắn bó hai Đảng, hai dân tộc Lào, Việt Nam chúng ta suốt 25 năm chiến đấu sống chết có nhau chống kẻ thù chung. Nhân dân Việt Nam hy sinh xương máu cho cách mạng Lào, nhân dân Lào cũng hy sinh tính mạng và của cải để giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Hai Đảng, hai dân tộc chúng ta giúp đỡ lẫn nhau, nếu chỉ thấy sự giúp đỡ của một bên là không đúng (BBS nhấn mạnh). Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên Việt Nam hiểu rõ điều đó” .

Trong mối quan hệ công tác giữa cán bộ Việt Nam và cán bộ Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:

“Thật thà đoàn kết về tinh thần và trong công tác;
Thật thà tự phê bình và phê bình lẫn nhau;
Cán bộ Việt Nam tuyệt đối tránh bao biện;
Cán bộ Lào thì nên tránh khách khí”

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, Người thường xuyên nhấn mạnh việc thực hiện tự phê bình của các tổ chức và cán bộ Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế tại Lào.

Tại Hội nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam, ngày 3 tháng 6 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Về Lào, ta phải thấy phe đế quốc nó có cả một kế hoạch. Viện trợ Mỹ (cho phe hữu ở Lào - BBS) tính theo đầu người là cao nhất.

Ta giúp (bạn Lào - BBS) không quán xuyến, thiếu liên tục phải giúp có tổ chức, giúp hết sức chặt chẽ, phải có kế hoạch giúp trước mắt và giúp lâu dài.

Đối với Lào, ta còn nóng vội, thấy thắng lớn, không nhìn hết khó khăn”.

Thực hiện lời chỉ giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, noi theo tấm gương tự phê bình, phê bình của Người, cơ quan lãnh đạo tối cao của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã nhiều lần nêu ý kiến tự phê bình và phê bình trong hội đàm giữa hai bên về những khuyết điểm của mình, của bạn; đồng thời trình bày phương pháp khắc phục. Tại cuộc hội đàm năm 1971, đồng chí Cayxỏn Phômvihản sau khi nói về sự giúp đỡ hết lòng, hết sức của Việt Nam đối với Lào, đã nêu lên những nhận xét về sự giúp đỡ của Việt Nam trong công tác đào tạo cán bộ và hoạt động của đội ngũ chuyên gia: “Giúp xây dựng, đào tạo cán bộ về chính trị tương đối được nhưng chuyên môn chưa được sâu, còn nặng bồi dưỡng về những vấn đề trước mắt, chưa chú trọng đi vào bồi dưỡng cơ bản, toàn diện để từng bước anh em Lào tự làm chủ lấy. Còn coi nhẹ giúp xây dựng cán bộ chủ trì, cán bộ quản lý, chỉ đạo kinh tế. Giúp xây dựng cơ quan mới được phần giải quyết việc trước mắt, chưa đi sâu bồi dưỡng cho anh em nắm được công việc một cách cơ bản, lâu dài, đủ sức làm tham mưu cho Trung ương...”.

Về hoạt động của chuyên gia Việt Nam, đồng chí Cayxỏn cho rằng: “Đội ngũ chuyên gia sang giúp có hai loại: loại cũ đã 5, 7, 10 năm trở lên, nhiệt tình rất cao, gắn bó với cách mạng Lào, tin tưởng vào khả năng cách mạng của nhân dân Lào, cán bộ Lào, hiểu biết tình hình, tâm lý của anh em Lào, phương pháp cũng tốt, dễ thâm nhập, đoàn kết Lào - Việt tốt. Nhưng bên cạnh đó có chỗ yếu là sức khoẻ kém... nhiều người không học tập được những vấn đề lý luận cơ bản, công tác chuyên môn... nên hạn chế việc giúp. Anh em mới sang thì nhiệt tình cũng có, tốt, sức khoẻ đỡ hơn, được học tập bên nước, nhưng bên cạnh đó, có những chỗ yếu như chưa hiểu nhiều tình hình Lào, có số chỉ biết kỹ thuật đơn thuần, tâm tư tình cảm anh em Lào không rõ. Đáng chú ý là về tư tưởng có khi chưa thật sự tin vào khả năng cán bộ và nhân dân Lào...”.

“... Về phía chúng tôi, nói chung tin tưởng sự giúp đỡ của Việt Nam, tin tưởng các đồng chí Việt Nam, tích cực tranh thủ sự giúp đỡ của các đồng chí, học hỏi các đồng chí, do đó đã từng bước trưởng thành lên, đoàn kết với anh em Việt Nam tốt. Bên cạnh những ưu điểm cũng có một số khuyết điểm:

Khuyết điểm chính là còn ỷ lại, chưa tích cực vươn lên, thực sự tự lực, làm chủ, có những bộ phận, những đồng chí chưa thực sự tranh thủ sự giúp đỡ của các đồng chí Việt Nam. Chủ quan, nghĩ là đoàn kết Việt - Lào đã có sẵn từ lâu rồi, coi thường chia rẽ của địch, không thường xuyên giáo dục nội bộ nên có nơi đã xảy ra vấn đề. Mặt khác cũng chưa tích cực giúp đỡ các đồng chí Việt Nam mọi điều kiện thuận lợi để làm nhiệm vụ” .

Theo ý kiến của đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đề cập những ưu, khuyết điểm trên là để đúc kết kinh nghiệm trong thời gian tới Việt Nam giúp Lào đạt hiệu quả cao hơn.

Tiếp đó, đồng chí nêu ra cách giúp, đại ý: vấn đề vừa cơ bản, vừa lâu dài là Việt Nam giúp cho lực lượng cách mạng Lào trưởng thành để người Lào có thể tự lực được, làm chủ được; giúp thế nào để củng cố, tăng cường tình đoàn kết chiến đấu giữa hai Đảng, quân đội và nhân dân hai nước ngày càng chặt chẽ.

Nguyên tắc giúp là theo yêu cầu của Lào và khả năng của Việt Nam, tôn trọng chủ quyền của Lào, tạo điều kiện để Lào tự quyết định lấy, giúp toàn diện và có trọng điểm, giúp trước mắt và lâu dài, giúp xây dựng đảng và đào tạo cán bộ...

Đối với chuyên gia sang giúp, cần chất lượng là chính, số lượng vừa phải và làm thế nào giáo dục anh em như lời Bác Hồ: anh em chuyên gia sang bên đó phải tin tưởng nhân dân Lào, tin tưởng khả năng cán bộ Lào, tôn trọng chủ quyền của Lào...

Cần giúp theo phương pháp, cán bộ Lào nêu vấn đề trước, hay cán bộ Việt Nam nêu vấn đề trước, vừa gợi mở, vừa bồi dưỡng từng bước, từ những vấn đề trước mắt đến những vấn đề lâu dài, từ đơn giản đến phức tạp một cách thoải mái nhằm phát huy tinh thần cố gắng suy nghĩ và nêu ý kiến của mình, qua đó mà bồi dưỡng nâng cao trình độ của cán bộ Lào. Như vậy, vừa được việc, vừa được con người.

Đáp lời đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí Lê Duẩn nói: “Làm cách mạng ở Lào cũng như làm cách mạng ở Việt Nam, chỉ sợ anh em làm sai. Trong Đảng, trong nước chúng tôi, có làm sai cũng là việc nội bộ, sang Lào làm sai là người Việt Nam làm sai. Điều rất tốt, rất quý là các đồng chí Lào đã bỏ qua cho nhiều lắm. Nhưng về phía mình, chúng tôi cũng cần soát xét lại, ai tốt, tình nguyện thì để ở lại, ai không tốt, không tình nguyện thì cho về chiến đấu tại Việt Nam, đã tình nguyện thì nhất thiết phải làm cho tốt...”.

“Hai Đảng chúng ta rất thực tình với nhau, chúng ta hiểu nhau, có gì nói hết, nói với nhau như trong một nhà. Đây là điều rất đáng mừng. Trên thế giới ít có những đảng hiểu nhau sâu sắc, đoàn kết với nhau chặt chẽ, ruột thịt như hai Đảng chúng ta. Có thể nói đây là một mẫu mực trong quan hệ giữa các đảng anh em” .

Những ý kiến tự phê bình và phê bình của hai đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt Nam bao hàm nội dung và phương pháp tự phê bình và phê bình mẫu mực, chân tình, hướng vào những vấn đề cơ bản của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam; nêu ra các biện pháp thiết thực sát hợp với trình độ nhận thức và năng lực của cán bộ hai nước Lào, Việt Nam lúc bấy giờ. Đây là một kinh nghiệm quý báu được tạo nên trong môi trường quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, gây tác động tích cực đến sự phát triển của mối quan hệ đó.

Một hoạt động rất hữu ích nữa mà hai Đảng thường xuyên tiến hành là trao đổi kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng từ trong kháng chiến chống đế quốc xâm lược ngay trên chiến trường hoặc trong các cuộc hội đàm giữa các cấp lãnh đạo đảng và quân đội. Vận dụng kinh nghiệm ấy vào thời điểm hai Đảng đang tiến tới đại hội đề xướng chủ trương đổi mới: Đại hội IV Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 27 tháng 9 năm 1986, diễn ra buổi gặp và làm việc giữa Tổng Bí thư Trường Chinh và Tổng Bí thư Cayxỏn Phômvihản tập trung vào chủ đề quan trọng đó.

Đồng chí Cayxỏn Phômvihản thông báo ngắn gọn, súc tích tinh thần, nội dung cơ bản Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào sẽ trình bày tại Đại hội lần thứ IV của Đảng.

Trong bài phát biểu của mình, đồng chí Trường Chinh biểu thị sự tán thành đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, đường lối quốc tế của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Tiếp đó, đồng chí trình bày những quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chặng đường đầu tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Về kinh tế, điều then chốt là phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; từng bước xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển hoạt động kinh tế sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kế hoạch hoá.

Về công tác xây dựng đảng và công tác cán bộ, đồng chí nhấn mạnh, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào đều xuất thân từ Đảng Cộng sản Đông Dương do Bác Hồ sáng lập. Hai Đảng đã gắn bó chặt chẽ với nhau trải qua mấy chục năm đấu tranh kiên cường, vững vàng về chính trị. Đó là truyền thống cực kỳ quý báu và là bản chất của hai Đảng.

Để nâng cao vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn mới của cách mạng, đồng chí nêu rõ: “Đảng chúng tôi xác định phải đổi mới công tác của Đảng về nhiều mặt: đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, đổi mới bộ máy và hình thức tổ chức, đổi mới việc đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn và bố trí cán bộ, đổi mới phong cách và lề lối làm việc” .

Nói về sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đồng chí nói: Đảng phải hết sức quan tâm xây dựng, củng cố sự điều hành của bộ máy nhà nước, nâng cao vai trò, vị trí của các đoàn thể quần chúng, tăng cường sức mạnh của toàn hệ thống chính trị mà Đảng là hạt nhân lãnh đạo.

Việc trao đổi ý kiến về những vấn đề cơ bản mở đường cho công cuộc đổi mới tại Lào và Việt Nam là một hoạt động rất quan trọng, vừa có lợi cho sự tăng cường vai trò lãnh đạo của hai Đảng, vừa góp phần củng cố, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiến bước trên con đường cách mạng mà Bác Hồ và Đảng Cộng sản Đông Dương đã lựa chọn cho hai dân tộc Việt Nam, Lào, dù cho trong hơn 10 năm cuối thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Hoạt động này làm phong phú thêm kinh nghiệm của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM