Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 01 Tháng Mười Hai, 2021, 01:03:34 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930-2007  (Đọc 1212 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4600



« Trả lời #80 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2021, 10:00:00 am »

Thực hiện chủ trương của hai Đảng trong cuộc hội đàm tháng 12 năm 1973, Việt Nam từng bước rút chuyên gia ở tỉnh và huyện về nước (rút trước tháng 5 năm 1974), đồng thời điều chỉnh lại các lực lượng chuyên gia và quân tình nguyện còn lại để giúp Lào thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Đoàn chuyên gia quân sự 959 rút phần lớn cán bộ về nước, chỉ còn lại 100 đồng chí. Đoàn không còn hệ thống tổ chức giúp từ trung ương đến các đơn vị cơ sở nữa, mà chỉ hình thành các bộ phận nghiên cứu giúp Quân uỷ Trung ương và Bộ Chỉ huy tối cao Lào những vấn đề cơ bản về chủ trương, chính sách và sau đó giúp tổ chức thực hiện, rút kinh nghiệm để chỉ đạo chung.

Cũng trên tinh thần cuộc hội đàm giữa hai Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Lao động Việt Nam (tháng 12 năm 1973), tháng 4 năm 1974, tại Mương Viêng Xây (Sầm Nưa), Đoàn đại biểu Neo Lào Hắc Xạt và Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tiến hành hội đàm để giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước. Hai bên đã thống nhất nhận định: do quyền lợi thiết thân trong đời sống hằng ngày, cán bộ, bộ đội và nhân dân ở dọc biên giới hai nước có khi còn hiểu lầm hoặc chưa hiểu sâu sắc về nhau. Trong lúc đó, một số kẻ có ý đồ xấu, nhất là do âm mưu chia rẽ của địch, nên đã có dư luận không tốt làm tổn thương đến tình đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng và nhân dân hai nước.

Hai bên nhất trí rằng việc giải quyết vấn đề biên giới nhằm mục đích: bảo vệ, củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị anh em đặc biệt vốn có từ lâu đời giữa nhân dân hai nước, để cùng nhau tiến lên giành thắng lợi to lớn hơn nữa cho cách mạng của hai nước; để cho nhân dân dọc biên giới hai nước có trách nhiệm cùng nhau bảo vệ biên giới, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc qua lại, làm ăn của nhân dân dọc biên giới hai nước được ổn định, góp phần đập tan âm mưu chia rẽ và phá hoại của địch. Cuối cùng, hai bên thống nhất đề ra những nguyên tắc cần thiết để giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước một cách công bằng và bình đẳng.

Tháng 2 năm 19741, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào tiến hành Hội nghị toàn thể lần thứ hai để xác định nhiệm vụ trong tình hình mới. Hội nghị đã cụ thể hoá đường lối của Đại hội Đảng lần thứ II (năm 1972), nhằm hoàn thành thắng lợi cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước. Hội nghị cũng phổ biến về nội dung cuộc hội đàm tháng 12 năm 1973 giữa hai Đảng và bàn những nội dung cần tiến hành để thực hiện các thoả thuận giữa hai Đảng.

Nhằm quán triệt Nghị quyết Trung ương tháng 2 năm 1974 và nội dung hội đàm giữa hai Đảng, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào triệu tập Hội nghị cán bộ toàn quốc từ ngày 18 tháng 3 đến 8 tháng 5 năm 1974  (có tài liệu nói ngày 13 tháng 5 năm 1974). Về dự Hội nghị có 145 đại biểu, gồm các đồng chí thường vụ tỉnh uỷ, trưởng, phó ban, ngành trung ương trở lên. Hội nghị đã dành nhiều thời gian để các đại biểu bộc lộ tâm tư nhằm củng cố tình cảm đặc biệt Việt Nam - Lào. Hội nghị đã thống nhất đánh giá những thành tích, ưu điểm to lớn của Việt Nam trong việc giúp đỡ cách mạng Lào, đồng thời cũng chỉ ra những thiếu sót cần khắc phục trong thời gian tới. Tại Hội nghị, đồng chí Cayxỏn Phômvihản phát biểu một số nội dung xoay quanh vấn đề quan điểm của Đảng Nhân dân cách mạng Lào về mối quan hệ Lào - Việt Nam.

Đồng chí khẳng định: mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam được hình thành, vun đắp và thử thách trong quá trình cách mạng. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gay go ác liệt chống đế quốc Mỹ, mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam không những được củng cố, tăng cường mà còn tạo một sức mạnh và niềm tin vào chiến thắng. Mỗi bước đi đến thắng lợi của cách mạng Lào đều kết hợp chặt chẽ giữa sự nỗ lực chủ quan của Đảng ta, dân tộc ta với sự giúp đỡ của phe xã hội chủ nghĩa, phong trào cách mạng dân tộc dân chủ và hoà bình thế giới, trong đó liên minh chiến đấu giữa Đảng ta, nhân dân ta với Đảng Lao động Việt Nam, nhân dân Việt Nam là điều kiện cơ bản mà chúng ta coi trọng như một yếu tố của thắng lợi. Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào không những do yêu cầu khách quan, mà còn do lợi ích gắn bó với nhau bởi truyền thống tốt đẹp hiếm có trong lịch sử đấu tranh cách mạng lâu dài từ trước đến nay, cũng như từ nay về sau, vẫn còn là một yêu cầu thiết thân sống còn của mỗi nước. Thái độ của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối với quan hệ Lào - Việt Nam là: chân thành, trung thực, không ích kỷ; tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau; thông cảm và thương yêu nhau; tự phê bình và phê bình đúng đắn; chủ động lãnh đạo quần chúng.

 Về mối quan hệ giữa tự lực cánh sinh với sự giúp đỡ của Việt Nam, phải tự lực cánh sinh như thế nào trước sự cải tiến cách giúp của chuyên gia Việt Nam, đồng chí nhấn mạnh mặt nhận thức tư tưởng: phát huy mạnh mẽ tinh thần tự lực, tự cường, khắc phục hạn chế tư tưởng tự ty, ỷ lại vào sự giúp đỡ của nước ngoài; có ý thức phấn đấu vươn lên, khắc phục mọi khó khăn, bi quan, dao động, đa nghi khi gặp khó khăn; nâng cao tinh thần chủ động, tích cực, tinh thần dám nghĩ dám làm...

Cuối cùng, đồng chí Cayxỏn Phômvihản đề ra một số công tác trước mắt cho các ngành, các địa phương phải tiến hành một cách khẩn trương trước tình hình đang thay đổi hiện nay.

Sau khi các tiểu đoàn quân giải phóng Lào vào hai thành phố trung lập bảo đảm an ninh, ngày 3 tháng 4 năm 1974, Hoàng thân Xuphanuvông, Chủ tịch Neo Lào Hắc Xạt và đoàn cán bộ Lào vào Viêng Chăn xúc tiến việc thành lập Chính phủ liên hiệp và Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp Lào. Ngày 5 tháng 4, Chính phủ liên hiệp do Hoàng thân Xuvănna Phuma làm thủ tướng, Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp do Hoàng thân Xuphanuvông làm chủ tịch chính thức ra mắt nhân dân cả nước. Các bộ chủ chốt được chia đều cho các bên, các thứ trưởng đều là người của phía bên kia tham gia. Quá trình thực hiện các điều khoản chủ yếu được diễn ra theo đúng tinh thần Hiệp định. Tháng 5 năm 1974, Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp thông qua báo cáo chính trị khẳng định: việc ký kết văn bản Hiệp định Viêng Chăn thành lập Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp và Chính phủ liên hiệp lâm thời là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử quan trọng, tạo ra bước ngoặt lớn trên con đường tiến lên của dân tộc Lào; phải tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ và những phần tử phản động... Tiếp đó, ngày 25 tháng 5 năm 1974, Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp thông qua Cương lĩnh chính trị 18 điểm do Neo Lào Hắc Xạt đưa ra nhằm xây dựng một nước Lào hoà bình, trung lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng.

Trước sự đấu tranh kiên quyết và mạnh mẽ của nhân dân Lào, tháng 5 năm 1974, Mỹ và Thái Lan đã phải rút hết quân ra khỏi lãnh thổ Lào. Sự kiện này làm cho quân phái hữu vốn đã yếu nay lại càng suy yếu hơn. Trong khi đó, phong trào đấu tranh của nhân dân và sinh viên ngày càng phát triển, tạo thành cao trào trong toàn quốc. Ngày 9 tháng 7, học sinh, sinh viên và quần chúng cách mạng ở Thủ đô Viêng Chăn mít tinh trước trụ sở “Quốc hội Viêng Chăn”, đốt các biểu ngữ và áp phích phản động của bọn cực hữu. Sĩ quan và binh lính ở Phôn Khêng chống lại lệnh, không đi đàn áp cuộc biểu tình của nhân dân. Ngày 10 tháng 7, Chính phủ liên hiệp ra một quyết định quan trọng: giải tán “Quốc hội Viêng Chăn” - thành luỹ chính trị của giai cấp tư sản phản động thân Mỹ.

Ngoài việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại Lào về quân sự, chính trị, sau ngày ký kết các hiệp định hoà bình, Việt Nam đã tập trung cùng Lào giải quyết những yêu cầu cấp bách để mau chóng ổn định sản xuất, đời sống của nhân dân, đồng thời xúc tiến công tác điều tra cơ bản để chuẩn bị các mặt cho việc phát huy kinh tế của vùng giải phóng trong những năm tới.

Trong nông nghiệp, Việt Nam đã giúp đẩy mạnh sản xuất ở vùng giải phóng lên một bước. Ở Sầm Nưa, Phôngxalỳ, nhân dân Lào đã làm vụ chiêm, làm ruộng nương bậc thang, định canh định cư, giảm bớt tình trạng phá rừng. Chuyên gia Việt Nam giúp xây dựng được 20 tổ nông nghiệp cơ sở để xây dựng xã, bản có sản xuất khá và vững mạnh về các mặt; giúp tổ chức mạng lưới thú y, giúp một trại sản xuất tổng hợp nuôi lợn, bò, gà, cá và trồng rau, cây ăn quả; giúp khảo sát vùng cao nguyên Bôlavên...

Về thuỷ lợi, đã giúp phát triển mạng lưới thuỷ lợi nhỏ ở các địa phương, xây dựng 131 cơ sở thuỷ lợi nhỏ, tưới được 16.000 ha, trên tổng số 40.000 ha ruộng nước, xây dựng ba trạm thuỷ điện nhỏ.

Về lâm nghiệp, xây dựng một số lâm trường khai thác gỗ ở Sầm Nưa, mỗi năm khai thác từ 700 - 800 m3. Mở rộng cơ sở nghiên cứu kiến đỏ ở Sầm Nưa, xây dựng một cơ sở xẻ gỗ 1.000m3/năm ở Mương Xôi. Tiến hành nghiên cứu điều tra để tổ chức khai thác, chế biến gỗ ở Trung Lào.

Về công nghiệp và thủ công nghiệp, khôi phục một số nghề truyền thống trong nhân dân như dệt, rèn, gốm, cải tiến kỹ thuật nấu đường mía, nấu muối... Trong khu vực quốc doanh, giúp xây dựng được 26 cơ sở rèn, ba xưởng cơ khí thông dụng từ 20 - 50 tấn/năm, một xưởng trùng tu xe ôtô 50 xe/năm, một xưởng bảo dưỡng xe cấp ba, một xưởng mộc 300 m3/năm, một xưởng dệt có phân xưởng dệt kim (24 máy), 10 cơ sở dệt cải tiến (quy mô 10 - 20 khung cửi dệt), hai cơ sở may mặc (10 - 40 máy), tám cơ sở xay xát gạo (34 máy), ba cơ sở sản xuất bánh kẹo, một cơ sở sản xuất bánh mì nhỏ.

Về thăm dò địa chất, Việt Nam giúp điều tra phát hiện được 200 điểm báo quặng trong vùng giải phóng; giúp tìm nguồn nước ngầm phục vụ khu trung ương, điều tra quặng sắt vùng Xiêng Khoảng, fêrít sắt vùng Sầm Nưa, than đá vùng Xalavăn.

Về giao thông vận tải, phía Việt Nam giúp bảo đảm giao thông vận tải trên các đường chiến lược, giúp Lào thêm 1.240 km đường mới bảo đảm chạy vào mùa khô và đang giúp rải nhựa nâng cấp đường 6 và 17B. Ngoài ra, còn giúp công cụ, kỹ thuật để nhân dân vùng giải phóng tự làm khoảng 2.000 km đường nhỏ ngắn đi lại giữa các địa phương. Từ năm 1971 trở về trước, ngành vận tải Việt Nam vận chuyển khoảng 13 - 18 ngàn tấn hàng hoá, vũ khí đạn dược phục vụ kịp thời cho sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Lào. Sang năm 1972 - 1973, khối lượng vận chuyển được tăng dần. Riêng mùa khô 1972 - 1973 đã chuyển được 28.000 tấn, mùa khô 1973 - 1974 tăng lên 340 tấn và 300 tấn hàng theo yêu cầu đột xuất cho các tỉnh phía Bắc.

Về bưu điện, giúp xây dựng xong đường tải ba Na Mèo - Sầm Nưa - Hà Nội, giúp công tác bưu chính, điện báo bảo đảm liên lạc từ trung ương xuống các tỉnh, giữa tỉnh tới huyện, giữa Viêng Chăn tới trung ương.

Về xây dựng cơ bản, giúp xây cất được khoảng 57.400 m2 nhà các loại. Giúp cải tạo và xây dựng 7.000 m2 hang đá làm bệnh viện và cơ quan của Đảng, Mặt trận ở Sầm Nưa.

Về tài mậu, giúp xây dựng các ngành tài chính, ngân hàng, thương nghiệp từ trung ương xuống các tỉnh, hình thành mạng lưới thương nghiệp trong toàn vùng giải phóng. Giúp hình thành một số chế độ, thể lệ đưa dần công tác tài mậu vào nền nếp. Giúp phát hành đồng kíp mới (đồng kíp giải phóng), giữ vật giá tương đối ổn định, doanh số hàng năm đều tăng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.

Về văn hoá, giáo dục, y tế, dù trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt gặp nhiều khó khăn, ngành giáo dục Việt Nam vẫn giúp vùng giải phóng Lào duy trì và phát triển giáo dục cả ba hệ thống phổ thông, bổ túc và bình dân. Số học sinh chiếm 8% số dân trong vùng giải phóng. Ngoài ra, còn giúp xây dựng một số trường chuyên nghiệp trung cấp, sơ cấp như giao thông, bưu điện, nông nghiệp, thương nghiệp, y tế, sư phạm. Đặc biệt trong thời gian này, Việt Nam đã giúp Lào mở Trường Đại học Sư phạm Viêng Xây - trường đại học đầu tiên trong vùng giải phóng Lào. Một mạng lưới y tế được hình thành và hoạt động đều từ trung ương xuống đến xã. Trong toàn vùng giải phóng đã xây dựng 20 bệnh viện, 76 bệnh xá (với 1.949 giường bệnh), 2/3 số xã có trạm xá, 1/2 số bản có tủ thuốc, thành lập 11 trại chữa bệnh hủi, một xưởng sản xuất thuốc chữa bệnh ở trung ương.

Bộ Văn hoá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà giúp xây dựng Đoàn văn công ở trung ương và một số tỉnh, một đoàn xiếc trung ương, xây dựng ngành điện ảnh và đã quay được một số bộ phim thời sự, tài liệu phục vụ kịp thời cho công tác tuyên truyền, giáo dục; giúp công tác sáng tác văn học, âm nhạc, xuất bản, in các tài liệu tuyên truyền, giáo dục, sách giáo khoa... giúp xây dựng Đài Phát thanh Pathết Lào và đài trung lập, đảm bảo hoạt động liên tục trong mọi tình huống.

Công tác đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật: từ năm 1960, Lào bắt đầu gửi học sinh sang học tập ở Việt Nam. Các trường chuyên nghiệp Việt Nam (trừ các trường quân sự, công an) đã đào tạo hàng nghìn cán bộ thuộc đủ mọi ngành, nghề thuộc lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục. Số học sinh Lào đang học tập tại Việt Nam có 1.917 người thuộc các trường chuyên nghiệp, 4.318 học sinh phổ thông các cấp.
Ngoài ra, từ năm 1968, các tỉnh có biên giới với Lào cũng được Trung ương Đảng Lao động Việt Nam giao nhiệm vụ trực tiếp giúp các tỉnh thuộc vùng giải phóng Lào có chung biên giới với Việt Nam. Riêng Đoàn 559 có nhiệm vụ giúp đỡ toàn diện 14 huyện dọc tuyến đường miền Nam Lào.

Tại Việt Nam, cuối năm 1974, trước tình hình nhiệm vụ chuyên gia giúp Lào có sự thay đổi, từ ngày 5 đến 17 tháng 12, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã tổ chức Hội nghị chuyên gia chính trị, kinh tế, văn hoá để tổng kết, đánh giá sự đóng góp của chuyên gia Việt Nam trong 10 năm qua đối với cách mạng Lào (1964 - 1974), bàn phương hướng, nội dung giúp cách mạng Lào trong tình hình mới. Hơn 100 đại biểu thuộc các ngành công tác ở các địa phương của Lào đã về họp. Đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã đến thăm và nói chuyện với Hội nghị.

Hội nghị tập trung thảo luận các vấn đề như: cuộc chiến tranh xâm lược Lào của đế quốc Mỹ trong 10 năm qua (1964 - 1974); sự giúp đỡ của chuyên gia, ưu khuyết điểm và những bài học kinh nghiệm. Hội nghị thống nhất nhận định: trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vừa qua, ngoài sự nỗ lực vượt bậc của quân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Neo Lào Hắc Xạt, còn có lực lượng chuyên gia Việt Nam được Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, cử sang sát cánh cùng quân dân Lào trong cuộc đấu tranh kiên cường chống kẻ thù chung. Phong trào cách mạng Lào càng phát triển mạnh mẽ, do yêu cầu của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, số lượng chuyên gia Việt Nam thuộc các ngành chính trị, kinh tế, văn hoá ngày càng tăng, nhất là từ năm 1964 đến 1972.

Đánh giá về thành tựu của chuyên gia, báo cáo tổng kết nhắc lại nhận định của đồng chí Cayxỏn tại cuộc hội đàm hai Đảng tháng 12 năm 1973: “Chuyên gia đã giúp tạo cho Lào những nhân tố quyết định để đảm bảo đi tới thắng lợi cuối cùng; giúp hình thành lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, mặt trận dân tộc thống nhất; giúp giành, giữ và xây dựng vùng giải phóng... Quan trọng và quyết định nhất là đã giúp xây dựng đảng Mác - Lênin chân chính, đội ngũ cán bộ, đảng viên từ ít đến nhiều, đã tiến bộ một bước khá dài, tự đảm đương được nhiều mặt công tác, tinh thần tự lực, tự cường tiến lên từng bước sâu hơn” .

Hội nghị xác định: có được những thành tựu trên của đội ngũ chuyên gia, trước hết là nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng ta, sự tin cậy và giúp đỡ tận tình của các cấp ủy đảng, cán bộ và nhân dân Lào; đa số chuyên gia đã nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng, kiên định lập trường chiến đấu, nhiệt tình cách mạng, chân thành, thuỷ chung, chí tình, chí nghĩa với bạn, coi sự nghiệp cách mạng của bạn như sự nghiệp của mình; có phẩm chất, năng lực và kinh nghiệm công tác, nhiều đồng chí lăn lộn nhiều năm với phong trào cách mạng Lào...

Hội nghị cũng thẳng thắn nêu ra các khuyết điểm của đội ngũ chuyên gia, đó là: trong giữ nguyên tắc, một số chuyên gia đã không thực hiện đúng lời dạy của Bác Hồ trong cuộc hội đàm giữa hai Đảng năm 1961 là “Chuyên gia phải đặt dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng bạn”, nên có đồng chí coi nhẹ sự chỉ đạo của cấp trên bạn, ít lắng nghe bạn, gò ép bạn theo ý định có sẵn của mình. Một số chuyên gia rập khuôn máy móc, thường đem kinh nghiệm, kiểu cách Việt Nam áp dụng máy móc vào Lào, không chịu khó nghiên cứu đặc điểm Lào, kể cả đặc điểm từng địa phương, từng dân tộc để vận dụng cho phù hợp; chưa làm tốt công tác điều tra, nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm.
Về bộ máy tổ chức, lẽ ra chuyên gia phải thu hẹp từng bước theo sự trưởng thành của bạn như đồng chí Lê Duẩn đã chỉ đạo: “Bộ máy của bạn càng được kiện toàn bao nhiêu thì bộ máy của ta càng phải nhỏ bấy nhiêu”, nhưng chúng ta đã tính toán chủ quan, theo ý muốn được việc, không ngừng tăng cường đội ngũ chuyên gia, bố trí còn dàn trải, chưa tập trung vào những khâu cơ bản...

Về nguyên nhân của những khuyết điểm trên, Hội nghị xác định: nguyên nhân cơ bản là một số chuyên gia chưa quán triệt đầy đủ tính chất đặc biệt và những nguyên tắc trong quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước. Nhiều đồng chí thường nhấn mạnh tính đặc biệt mà lãng quên mặt nguyên tắc của quan hệ.  

Cuối cùng, Hội nghị xác định: cách mạng Lào đã giành được thắng lợi to lớn, vượt bậc toàn diện, có cơ sở vững chắc, có ý nghĩa chiến lược, lịch sử và tính thời đại (năm 1973), nhiệm vụ của chuyên gia Việt Nam cũng góp phần kết thúc một giai đoạn lịch sử. Nhưng cuộc đấu tranh của nhân dân Lào còn đang tiếp diễn, ta còn phải tiếp tục giúp đỡ. Chúng ta cần khắc phục thiếu sót, tìm những hình thức mới cho phù hợp với bước ngoặt của cách mạng Lào nhằm đạt những thành tích cao hơn nữa.

Hội nghị chuyên gia chính trị, kinh tế, văn hoá là một dịp quan trọng để tổng kết, đánh giá sự đóng góp của chuyên gia Việt Nam trong 10 năm qua đối với cách mạng Lào. Tuy còn có những khuyết điểm, nhưng thành tích và ưu điểm của chuyên gia Việt Nam vẫn là mặt cơ bản. Đội ngũ chuyên gia đã không phụ lòng tin của Trung ương Đảng Nhân dân Lào, hoàn thành tốt nhiệm vụ của hai Đảng giao phó, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân các bộ tộc Lào, góp phần vun đắp tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4600



« Trả lời #81 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2021, 02:55:04 pm »

2. Phối hợp đẩy mạnh đấu tranh giành thắng lợi hoàn toàn năm 1975

Tại Lào, trước những thắng lợi cơ bản của cách mạng, tháng 11 năm 1974, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã họp đánh giá thắng lợi của hơn một năm thực hiện Hiệp định và đề ra nhiệm vụ của cách mạng Lào trong thời gian tới. Hội nghị đánh giá: phong trào cách mạng trong các tầng lớp nhân dân, công nhân, sinh viên, công chức và một bộ phận quân đội, cảnh sát thuộc phái hữu được cách mạng giác ngộ ngày càng lên cao. Phạm vi kiểm soát tạm thời của phái Viêng Chăn bị thu hẹp (chỉ còn dọc bờ sông Mê Công), nhưng lại bị chia thành hai khu (khu trung lập và khu chính quyền Viêng Chăn quản lý) và cả hai khu đều có cơ sở của cách mạng.

Trên cơ sở phân tích, nhận định, đánh giá đầy đủ tình hình, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào đề ra nhiệm vụ và mục tiêu trước mắt là: “Phải kiên quyết đấu tranh xoá bỏ sự thao túng và khống chế của đế quốc Mỹ; tranh thủ phân hoá lực lượng phái hữu làm cho chúng bị cô lập... kiên quyết không để cho bọn phản động lật đổ Chính phủ liên hiệp và gây lại xung đột vũ trang. Đấu tranh làm cho bộ máy chính quyền Viêng Chăn từ trung ương tới cơ sở bị tê liệt, không có điều kiện thực hiện các chủ trương phản động. Tranh thủ sự viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, từng bước cải tiến cơ cấu kinh tế, tài chính ngày càng có lợi cho sự phát triển kinh tế của cả nước...”.
Phương châm hành động trong giai đoạn tới được xác định là: giương cao ngọn cờ hoà bình, độc lập, dân chủ, hoà hợp dân tộc, thống nhất quốc gia. Tranh thủ tiến công địch nhưng phải biết nhân nhượng, nhằm tranh thủ mọi lực lượng (có thể được), trung lập hoá mọi lực lượng, kể cả tranh thủ Nhà vua và Hoàng tộc...

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, phong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng lan rộng và sôi nổi. Từ cuộc đấu tranh vì sự công bằng, đòi quyền sống trong hoà bình, quyền dân chủ tiến tới cuộc nổi dậy giành chính quyền từng phần.
Ở Viêng Chăn, sau nhiều phiên họp, cuối tháng 12 năm 1974, Chính phủ liên hiệp và Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp buộc phải chấp nhận Cương lĩnh chính trị 18 điểm và Chương trình hành động 10 điểm của phía cách mạng đưa ra và coi Cương lĩnh 18 điểm là nguyên tắc hoạt động đối nội, đối ngoại của Chính phủ liên hiệp lần này.

Những thành công của Lào trên mặt trận đấu tranh pháp lý và sự có mặt của lực lượng vũ trang cách mạng ở hai thành phố trung lập đã làm hậu thuẫn cho nhân dân sôi nổi đứng lên đấu tranh. Ngụy quân, ngụy quyền hoang mang dao động và xuất hiện sự phân hoá sâu sắc. Nội bộ địch vốn đã có nhiều mâu thuẫn, nay những mẫu thuẫn đó lại càng sâu thêm, nhiều nơi chúng đã dùng lực lượng quân sự để tranh giành quyền lực, đem quân thanh toán lẫn nhau, như ở bắc và nam Thà Khẹc.

Tháng 12 năm 1974, binh lính và sĩ quan tiến bộ của Tiểu đoàn BC102 ở Huội Xài do Chăn Xúc chỉ huy đã nổi dậy đấu tranh chống các phần tử thân Mỹ, đòi thi hành Hiệp định và Nghị định thư, đòi trừng trị bọn phá hoại Hiệp định và bọn tham nhũng. Được sự phối hợp của lực lượng cách mạng, lực lượng này đã ly khai khỏi sự điều hành của Phân khu Huội Xài và xin được hợp tác với Neo Lào Hắc Xạt. Quân dân Huội Xài đã nhanh chóng kết hợp cùng lực lượng binh biến nổi dậy giành chính quyền huyện và tỉnh. Bọn địch ở đây bị bất ngờ, tháo chạy, lực lượng cách mạng làm chủ toàn bộ khu vực Huội Xài. Tại Quân khu 1, quân nguỵ đưa lực lượng từ Luổng Phạbang đến để phản kích. Neo Lao Hắc Xạt sử dụng thế hợp pháp của Chính phủ liên hiệp yêu cầu địch phải rút về, tình hình trở lại ổn định.

Từ thắng lợi Huội Xài, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào rút ra kết luận: với tình thế cách mạng hiện nay, chủ trương kết hợp tiến công địch bằng ba đòn chiến lược (nổi dậy của quần chúng, binh biến ly khai trong binh lính địch, áp lực quân sự của các lực lượng vũ trang cách mạng) và mũi đấu tranh pháp lý để giành chính quyền từng khu vực là đúng đắn và sáng tạo. Bộ Chính trị quyết định phổ biến kịp thời kinh nghiệm Huội Xài cho các địa phương trong cả nước, yêu cầu các địa phương học tập để đẩy mạnh đấu tranh.

Tại Việt Nam, vào nửa cuối năm 1974, thế và lực cách mạng ở miền Nam đã mạnh hơn hẳn, quân nguỵ ngày càng suy yếu rõ rệt, nội bộ nước Mỹ đang khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, về điều kiện quốc tế, Việt Nam có những khó khăn mới: cả Liên Xô và Trung Quốc đều chấm dứt viện trợ quân sự cho Việt Nam.

Căn cứ vào tình hình trong nước và quốc tế, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương Đảng Lao động Việt Nam hạ quyết tâm: phải nhanh chóng giải phóng miền Nam với thời gian nhanh nhất có thể. Từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến 8 tháng 1 năm 1975, Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã xác định: giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976 và nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Sau khi hoàn thành các mặt chuẩn bị cả về thế và lực, đầu tháng 3, Việt Nam bắt đầu tiến hành cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975. Mở đầu là chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4 tháng 3 đến 3 tháng 4 năm 1975), tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2 - Quân khu 2 nguỵ, giải phóng Tây Nguyên, tạo sự thay đổi cơ bản về so sánh lực lượng và thế chiến lược, dẫn tới sự sụp đổ về chiến lược và tinh thần của địch. Đồng thời với hướng Tây Nguyên, tại Quân khu Trị - Thiên và Quân khu 5, quân dân Việt Nam mở chiến dịch Trị - Thiên - Huế (từ ngày 5 đến 26 tháng 3), chiến dịch Đà Nẵng (từ ngày 26 đến 29 tháng 3), diệt và làm tan rã phần lớn Quân đoàn 1 - Quân khu 1, giải phóng năm tỉnh miền Trung, trong đó có hai thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng, đập tan âm mưu co cụm chiến lược của địch, tạo bước phát triển nhảy vọt về cục diện chiến tranh. Tiếp đó, sau khi quét sạch địch ở Phan Rang (ngày 16 tháng 4), Xuân Lộc (ngày 21 tháng 4), các quân đoàn chủ lực Việt Nam từ nhiều hướng tiến về tập trung mở chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26 đến 30 tháng 4), tiến công giải phóng Sài Gòn. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đã tung bay trên nóc Dinh Độc lập. Chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam toàn thắng.

Trải qua cuộc trường chinh 30 năm với ba mốc son chói lọi: Cách mạng tháng Tám 1945, Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 và Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975 toàn thắng, dân tộc Việt Nam đã hoàn thành vẻ vang sự nghiệp cứu nước. Ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới kéo dài hơn một thế kỷ trên đất nước Việt Nam đã vĩnh viễn chấm dứt. Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trên thế giới, đây là lần đầu tiên trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc nhỏ, vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế kém phát triển đã vùng lên tự giải phóng và liên tiếp đánh thắng những cường quốc đế quốc chủ nghĩa, chủ yếu bằng sức của chính mình, nêu một tấm gương anh dũng, bất khuất, trí tuệ, tài năng trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Cụm từ “Việt Nam - Hồ Chí Minh” đi vào ngôn ngữ các dân tộc, đồng nghĩa với lương tri và phẩm giá con người, với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

   Tại Lào, bước sang năm 1975, khí thế đấu tranh chính trị của quần chúng ngày càng lên cao, mở đầu là cuộc biểu tình của 300 học sinh Pạc Xê diễn ra trong nhiều tuần lễ. Tiếp đến là cuộc đấu tranh của nhân dân mường Noỏng Bốc từ ngày 4 tháng 1 đến ngày 21 tháng 2 năm 1975, dưới sự lãnh đạo của chi bộ đảng ở địa phương. Trước sự đàn áp của địch, nhiều đảng viên đã anh dũng hy sinh, nhưng cuộc đấu tranh vẫn được giữ vững. Chính phủ liên hiệp phải chấp nhận giải quyết mọi yêu sách của quần chúng. Cuộc nổi dậy của nhân dân Noỏng Bốc đã châm ngòi nổ cho một cao trào mới của cách mạng Lào.

Trước thắng lợi dồn dập to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia trong tháng 4 năm 1975 và tình hình thuận lợi của cách mạng Lào, sau khi tới Hà Nội trao đổi với đồng chí Lê Duẩn về vấn đề tiến hành khởi nghĩa ở Lào và hành động phối hợp của Việt Nam, đồng chí Cayxỏn Phômvihản triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị vào tháng 4 năm 1975, quyết định đẩy mạnh công tác chuẩn bị mọi mặt để tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, dự kiến vào mùa khô 1975 - 1976.

   Thắng lợi của hai nước Việt Nam và Campuchia, đặc biệt là thắng lợi ngày 30 tháng 4 năm 1975 của nhân dân Việt Nam đã cổ vũ to lớn đối với quân, dân Lào, đồng thời làm cho bọn phái hữu ngày càng hoang mang lo sợ. Ngày 1 tháng 5, hàng vạn công nhân viên chức, học sinh, sinh viên cùng các tầng lớp nhân dân ở Viêng Chăn xuống đường biểu tình, thị uy đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định, yêu cầu bọn cực hữu ra khỏi Chính phủ liên hiệp. Khí thế đấu tranh cách mạng sục sôi lan rộng khắp mọi miền đất nước Lào.

   Trước thời cơ cách mạng đang chín muồi, ngày 5 tháng 5 năm 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào tổ chức Hội nghị mở rộng. Hội nghị đã nhất trí hoàn toàn với nhận định của đồng chí Tổng Bí thư Cayxỏn Phômvihản: “Cách mạng Lào đang đứng trước thời cơ thuận lợi; vấn đề giành chính quyền về tay nhân dân cần được tiến hành gấp rút. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, chúng ta có đủ khả năng hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi toàn quốc chỉ trong thời gian ngắn”. Bộ Chính trị đã thống nhất kế hoạch giành chính quyền trên toàn quốc và kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên cả ba vùng chiến lược nắm vững thời cơ ngàn năm có một “nổi dậy đồng loạt và tiến công toàn diện, liên tục, mạnh mẽ giành chính quyền về tay nhân dân trong thời gian ngắn nhất bằng ba đòn chiến lược và một mũi đấu tranh pháp lý” .

   Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về việc giành chính quyền, các cấp uỷ đảng đã lãnh đạo các cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân dưới mọi hình thức, như: mít tinh, tuần hành biểu dương lực lượng, đưa kiến nghị... làm cho bộ máy nguỵ quân, nguỵ quyền bị uy hiếp. Về quân sự, ngày 6 tháng 5, một cánh quân lớn quân giải phóng nhân dân Lào, gồm các tiểu đoàn 1, 2, 13, 701 và 705 cùng các đại đội pháo binh, xe tăng do các đồng chí Chummaly Xaynhaxỏn và Khẻm Phon chỉ huy, đã đập tan cụm phòng ngự của Lữ đoàn 2 quân đặc biệt Vàng Pao ở ngã ba Xála Phu Khun, sau đó phát triển lực lượng về hai hướng Viêng Chăn và Luổng Phạbang. Nguỵ quyền Viêng Chăn lâm vào tình trạng hoang mang, dao động đến cực điểm.

   Đêm 7 tháng 5 năm 1975, Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào họp khẩn cấp xem xét tình hình, hạ quyết tâm: “đưa toàn bộ lực lượng vũ trang ở các hướng nhanh chóng tràn vào vùng đối phương đang kiểm soát”, kiềm chế địch, hỗ trợ phong trào nổi dậy của quần chúng, phong trào binh biến của binh lính địch, giành chính quyền tại chỗ. Thường vụ Bộ Chính trị cũng có kế hoạch hiệp đồng với phía Việt Nam, nhờ Việt Nam làm hậu thuẫn bảo vệ vùng giải phóng và hỗ trợ khi cần thiết.

   Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, ngày 8 tháng 5, Bộ Chỉ huy tối cao Lào ra lệnh cho các hướng đưa bộ đội nhanh chóng áp sát địch, chiếm lĩnh các vị trí xung yếu trong thành phố, thị xã. Trên hướng đường 13 - Xála Phu Khun, sau khi chiếm Phôn Xỉ Đa, quân giải phóng nhân dân Lào thọc xuống thị trấn Ka Xỷ và ngày 8 tháng 5, chiếm Phả Hom, truy kích địch về Văng Viêng. Hướng lên Luổng Phạbang, Tiểu đoàn 13 chiếm Phả Đeng, Phả Khêm, sau đó phối hợp với lực lượng trong thành phố, vận động Tiểu đoàn (BI) 106 của nguỵ nổi dậy làm nội ứng, cùng bộ đội chiếm thị trấn Xiêng Ngân, cắt đứt con đường chiến lược nối hai thành phố lớn Viêng Chăn và Luổng Phạbang. Cánh quân thứ hai của Quân khu Xiêng Khoảng, gồm các tiểu đoàn 24, 15, 16, 48 và Pắtchây do đồng chí Koong Xỉ chỉ huy, tiến vào áp sát Xảm Thông - Loòng Chẹng, Xa Nu. Cánh quân thứ ba, gồm Tiểu đoàn 613 cùng đại đội đặc công và các đơn vị địa phương, do đồng chí Khăm Pha chỉ huy tiến qua khu du kích Phu Phalavẹc - Loọng Xan vào chiếm Phu Khẩu Khoai - một vị trí quan trọng trong tuyến phòng thủ vòng ngoài của Thủ đô Viêng Chăn. Cánh quân thứ tư gồm các đơn vị đặc công, một số đơn vị địa phương do đồng chí Xa Thiến chỉ huy tiến qua Thà Thôm, xuống Mương Cầu vào chiếm thị xã Pạc Xan (tỉnh lỵ Bolikhămxay và là sở chỉ huy Phân khu nam Viêng Chăn thuộc Quân khu 5 của địch).

   Sau khoảng hơn 10 ngày thực hiện mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy tối cao, các lực lượng vũ trang quân giải phóng nhân dân Lào đã triển khai xong lực lượng tạo thế bao vây, chia cắt trên chiến trường cả nước, từng khu vực và cả ở các thành phố, thị xã. Việc triển khai lực lượng vũ trang đã tạo ra sự áp đảo đối với địch ở vùng chúng kiểm soát, có tác dụng to lớn thúc đẩy khí thế của quần chúng thành cao trào cách mạng, làm chỗ dựa cho phong trào binh biến nổi dậy của binh lính địch.

Để đối phó với tình hình, đế quốc Mỹ âm mưu lùi một bước để bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ phản kích lại bằng cách cho bọn tay sai đầu sỏ như Xỉ Xúc Ná Chămpaxắc, Ngồn Xánánicon, Vàng Pao xin từ chức, đồng thời cho bọn tay sai trong quân đội làm binh biến giả, tuyên bố ly khai, xin trực thuộc Chính phủ liên hiệp và hợp tác với các lực lượng Pathết Lào.

Nhưng trước cao trào đấu tranh sôi sục của quần chúng, sau thất bại của bọn tay sai ở Sài Gòn, Phnôm Pênh, bọn phái hữu vô cùng hoang mang, dao động. Từ ngày 9 tháng 5, nhiều tên phản động đầu sỏ trong bộ máy nguỵ quân, nguỵ quyền bỏ trốn sang Thái Lan, nên bọn phản động còn lại như rắn mất đầu, bị tan rã từng mảng.

Nắm vững thời cơ, Đảng Nhân dân cách mạng Lào, một mặt, lãnh đạo nhân dân đưa kiến nghị yêu cầu quân giải phóng nhân dân Lào vào bảo vệ các thành phố, đồng thời ép Phuma chấp nhận yêu sách trên của quần chúng và giao cho tướng Khăm Uộn Búpphả (thuộc lực lượng Trung lập yêu nước, ở Phôngxalỳ) giữ chức quyền Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (bộ trưởng là Xixúc đã bỏ chạy) phụ trách trực tiếp và toàn diện quân đội phía Viêng Chăn.

   Ngày 13 tháng 5, Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 1 quân giải phóng nhân dân Lào chiếm trại lính Chinaimô, một trung tâm quân sự lớn nhất ở Viêng Chăn. Ngày 14 tháng 5, nhân dân, học sinh và binh lính cùng cảnh sát, gồm hơn 1 vạn người đã tuần hành lên án chính quyền phản động, đòi cơ quan USAID của Mỹ phải chấm dứt hoạt động. Cùng ngày, Tiểu đoàn 1 tiếp tục chiếm cơ quan và trường hiến binh ở Km 5.

    Ở Xavẳnnakhệt, trên 4.000 học sinh, sinh viên cùng nhân dân và binh lính đã biểu tình thị uy đòi cơ quan USAID của Mỹ phải cút về nước. Ngày 15 tháng 5, hàng ngàn nhân dân thị xã Văng Viêng, đã nổi dậy lật đổ chính quyền cũ. Bộ đội địa phương Viêng Chăn chiếm được thị trấn Phôn Hoộng. Cùng ngày, quân và dân Chămpaxắc nổi dậy làm chủ Pạc Xê, trung tâm của Quân khu 4.

   Đến giữa tháng 5, lực lượng vũ trang cách mạng Lào đã hình thành thế bao vây, chia cắt chiến lược đối với hai phân khu xung yếu của địch. Bọn đầu sỏ và bọn ác ôn tìm cách bỏ chạy sang Thái Lan. Ngày 16 tháng 5, các tiểu đoàn 24, 46, Pắtchây đánh chiếm căn cứ Xảm Thông - Loòng Chẹng sào huyệt cuối cùng của lực lượng đặc biệt Vàng Pao. Ngày 17 tháng 5, nhân dân, học sinh biểu tình thị uy ở thị xã Thà Khẹc và Noỏng Bốc... Cùng ngày, các tiểu đoàn 407, 406, 409 chiếm một số mục tiêu quan trọng ở Luổng Phạbang. Ngày 18 tháng 5, các tiểu đoàn 705, 701, 586, có pháo binh, xe tăng đi cùng đã tiến vào nội đô Viêng Chăn. Ngày 19, quân và dân Lào làm chủ Thà Khẹc; ngày 21, làm chủ Xavẳnnakhệt - trung tâm của Quân khu 3. Trước áp lực đang gia tăng của cách mạng, ngày 22 tháng 5, Chính phủ liên hiệp ra quyết định giải tán cơ quan USAID và ngày 27 tháng 5, đại diện Mỹ tại Lào phải ký Văn bản bảy điểm, chấp nhận rút toàn bộ cơ quan USAID ra khỏi Lào. Bộ máy thực dân kiểu mới của Mỹ ở Lào bị xoá bỏ hoàn toàn.

   Cũng trong thời gian này, trên hướng đường 23 (Hạ Lào), các đơn vị thuộc Mặt trận 23 gồm: ba tiểu đoàn chủ lực số 10, 11, 12; tiểu đoàn pháo binh, đại đội xe tăng và các đại đội địa phương của các tỉnh Chămpaxắc, Xalavăn, Áttapư... đã phối hợp với lực lượng thanh niên và hàng chục ngàn nhân dân địa phương nổi dậy giải phóng các tỉnh ở Hạ Lào.

   Dựa vào áp lực quân sự, cao trào đấu tranh giành chính quyền của quần chúng diễn ra bằng “ba đòn chiến lược” tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở nhiều nơi. Phong trào binh biến cũng diễn ra ở nhiều đơn vị, tính đến ngày 31 tháng 5, đã có 45 nơi có binh lính nguỵ nổi dậy ly khai quân đội Vương quốc, trở về hợp tác với chính quyền cách mạng. Làn sóng đấu tranh của quần chúng trong tháng 5 đã có tới hàng vạn lượt người tham gia. Tính đến 28 tháng 5, lực lượng cách mạng Lào đã thành lập chính quyền ở 15 tỉnh, thành và 67 huyện, thị.

   Phối hợp với phong trào nổi dậy của quần chúng, Neo Lào Hắc Xạt đã tận dụng cơ sở pháp lý, cách chức bọn chỉ huy phái hữu phản động, tạm giữ một số sĩ quan cao cấp, tập trung vũ khí, không cho địch điều động lực lượng, đồng thời mở phiên toà xét xử bọn phản động. Đến thời điểm này, lực lượng cảnh sát, quân đội Viêng Chăn gần như đã bị xoá bỏ, vũ khí, phương tiện kỹ thuật của chúng đã thuộc lực lượng yêu nước quản lý. Chính quyền Viêng Chăn cùng quan thầy Mỹ lâm vào tình thế bế tắc hoàn toàn.

 Ngày 7 và 8 tháng 7, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào ra chỉ thị xoá bỏ hoàn toàn chính quyền và quân đội của địch, đồng thời thành lập chính quyền cách mạng trong cả nước. Sau khi họp Bộ Chính trị, đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã có cuộc hội đàm với đồng chí Lê Duẩn tại thành phố Hồ Chí Minh, trong hai ngày 10 và 11 tháng 7 năm 1975. Đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã thông báo về diễn biến của cuộc nổi dậy đầy mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân Lào và một số chủ trương của Bộ Chính trị, như: sau khi cải tổ Chính phủ liên hiệp xong (tháng 10 năm 1975), Đảng Nhân dân cách mạng Lào dự định phát động một phong trào dân chủ trong cả nước để bầu ra các cơ quan chính quyền địa phương, rồi tiến tới tổ chức tổng tuyển cử vào năm 1976, lập một chính phủ chính thức do người của Đảng làm thủ tướng, Phuma thôi giữ chức thủ tướng; Trong Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào có một số đồng chí chủ trương duy trì Chính phủ liên hiệp vì cho rằng Phuma từ chức, Mỹ sẽ cắt viện trợ. Nhưng Bộ Chính trị đã họp thảo luận đi đến kết luận phải làm triệt để; Bộ Chính trị dự định khoảng từ tháng 3 hoặc tháng 4 năm 1976, sẽ tiến hành bầu cử quốc hội và lập chính phủ do cách mạng nắm hoàn toàn.

Đồng chí Lê Duẩn thay mặt Đoàn đại biểu Việt Nam nhất trí với chủ trương của Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Đồng chí nêu một số vấn đề cần nghiên cứu quyết định cho phù hợp, đó là: ta nắm được chính quyền các tỉnh, quân đội phái hữu không còn nữa, vậy ta có thể không cần cải tổ chính phủ mà Hội đồng chính phủ do ta làm thủ tướng, còn ông Phuma làm chủ tịch hội đồng; dự định tiến hành tổng tuyển cử vào đầu năm 1976 có chậm không; phải đề phòng họ phản kích ta, phá ta.

   Sau cuộc hội đàm, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã đẩy nhanh tiến trình giành chính quyền ở Lào. Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1975, nhân dân ở các tỉnh Bolịkhăn (Bolikhămxay), Xiêng Khoảng, Chămpaxắc, Xaynhabuli, Luổng Phạbang dưới sự lãnh đạo của đảng bộ cơ sở đã lần lượt nổi dậy giành chính quyền. Ngày 23 tháng 8, hàng vạn nhân dân Thủ đô Viêng Chăn mít tinh trọng thể tại quảng trường Thạt Luổng đón nhận sự ra đời của chính quyền thủ đô. Ngay sau khi giành được chính quyền ở Viêng Chăn, Trung ương Đảng Lào chỉ đạo các địa phương tiến hành vận động bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM