Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Năm, 2022, 01:48:27 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930-2007  (Đọc 2463 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4767



« Trả lời #90 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2022, 10:29:10 am »

II. QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TÌM TÒI,
KHẢO NGHIỆM CON ĐƯỜNG ĐỔI MỚI (1982 - 1986)


1. Quan điểm và chủ trương của hai Đảng, hai Nhà nước tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong tình hình mới

Những năm đầu thập niên 1980, sau chiến sự biên giới, Việt Nam ở trong tình trạng phải đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch hòng gây hoang mang trong nhân dân, làm giảm lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước. Lợi dụng vấn đề Campuchia, các thế lực thù địch, phản cách mạng trên thế giới tìm mọi cách bao vây, cô lập Việt Nam trên trường quốc tế. Mỹ vẫn tiếp tục thi hành chính sách bao vây cấm vận. Tình hình trong khu vực vẫn diễn biến phức tạp, bất lợi cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước. 

Đây là những khó khăn, thách thức thu hút phần lớn nhân lực và vật lực của Việt Nam trong thời điểm này.

Ở trong nước, Việt Nam cũng đứng trước những khó khăn gay gắt. Những năm 1976 - 1980, Việt Nam đẩy mạnh chủ trương công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ tiền đề cần thiết. Đặc biệt là quá trình lãnh đạo đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội sau chiến tranh đã phạm phải một số sai lầm, hạn chế, vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa, chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế khi không còn phù hợp. Từ cuối thập niên 1970 trở đi, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa dần bị thu hẹp, viện trợ bị cắt giảm và đến giữa thập niên 1980 thì hầu như không còn. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp tuy có tác dụng và cần thiết trong thời chiến, nhưng do duy trì quá lâu nên đã bộc lộ sự trì trệ ngày càng trầm trọng. Sản xuất nông nghiệp giảm sút, sản xuất công nghiệp trì trệ, năng suất, chất lượng thấp; lưu thông phân phối rối ren. Đời sống nhân dân ngày càng lâm vào khó khăn. Năng lực hiệu quả lãnh đạo, quản lý kinh tế yếu kém...

Trên đất nước Lào anh em, đến đầu những năm 80 thế kỷ XX, với sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, sự giúp đỡ và hợp tác đoàn kết chặt chẽ với Việt Nam, tình hình kinh tế - xã hội đang dần đi vào ổn định. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã hoàn thành kế hoạch ba năm (1978 - 1980) khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Âm mưu và hoạt động phiến loạn của bọn phản động trong nước được các thế lực phản động nước ngoài bảo trợ bị chặn đứng, độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia, trật tự xã hội được giữ vững; chế độ dân chủ nhân dân, chính quyền cách mạng non trẻ được bảo vệ.

Tuy nhiên, cho đến những năm đầu thập niên 1980, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào vẫn phải đối phó với chính sách thù địch của lực lượng phản động ở Thái Lan luôn muốn phá hoại cách mạng Lào, kìm hãm Lào trong thế yếu. Tháng 7 năm 1982, Thái Lan trực tiếp hỗ trợ cho lực lượng phản động Phumi Nòxavẳn lập cái gọi là “Chính phủ liên minh giải phóng dân tộc”; không ngừng dùng sức ép chính trị, kinh tế, quân sự đòi sửa đổi lại đường biên giới hiện tại. Trong hai năm 1983, 1984, Thái Lan liên tục tập trung nhiều lực lượng quân sự ở biên giới với Lào, tiến hành tập trận với mục tiêu giả định là Viêng Chăn, tiến hành các hành động xâm phạm lãnh thổ Lào. Tháng 6 năm 1984, Thái Lan đã đưa quân đội mở đợt tấn công chiếm ba bản của Lào là Bạn Mầy, Bạn Cang và Bạn Xávàng thuộc huyện Pạc Lai, tỉnh Xaynhabuli  và duy trì sự chiếm đóng ở đó đến năm 1985 vẫn chưa rút quân. Cũng như Việt Nam, Lào phải đối mặt với các kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực phản động khu vực và quốc tế, tác động tiêu cực đến sự ổn định kinh tế - xã hội, mặt khác tạo sức ép nhằm tách Lào ra khỏi Việt Nam, khỏi quỹ đạo xã hội chủ nghĩa, chia rẽ sự đoàn kết giữa ba nước Đông Dương.

Về kinh tế, Thái Lan gây khó khăn cho Lào bằng việc tuỳ tiện đóng mốc biên giới; đưa ra những hạn chế đơn phương về các loại hàng quá cảnh, giữ lại hàng viện trợ của các nước giúp Lào; gây rối loạn thị trường bằng việc in tiền giả tung sang phá kinh tế Lào.

Cũng như Việt Nam, thời gian này Lào rất cần sự giúp đỡ, viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa, nhưng thời điểm này các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới thực hiện cơ chế cũ cũng đang lâm vào trì trệ, khủng hoảng. Tác động tiêu cực của phong trào cách mạng thế giới nói chung và của các nước xã hội chủ nghĩa nói riêng đã trở thành yếu tố bất lợi cho cách mạng Lào. Đứng trước tình hình ấy, từ những năm cuối thập niên 70 thế kỷ XX, Lào đề ra đường lối chuyển từ nền kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên sang kinh tế sản xuất hàng hoá, khuyến khích sản xuất, lưu thông nên đã hạn chế tình trạng cấm chợ, ngăn sông, mở rộng thương mại khắc phục sự khan hiếm hàng hoá. Đây là giai đoạn Lào từng bước thử nghiệm cơ chế quản lý kinh tế mới ở một số cơ sở quốc doanh. Việt Nam cũng đang trong quá trình từng bước nghiên cứu tìm tòi, khảo nghiệm để đổi mới cơ chế quản lý từ quan liêu bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa: thực hiện khoán trong nông nghiệp, giao quyền tự chủ cho doanh nghiệp trong công nghiệp, v.v. nhằm giải quyết những khó khăn về kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, tiếp tục tìm con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm của dân tộc Việt Nam và xu thế chung của thế giới. Tình hình phát triển của mỗi nước tác động tới mối quan hệ hợp tác trong điều kiện mới.

Quan hệ hợp tác giữa hai nước trước yêu cầu mới của sự phát triển trong từng nước đã từng bước chuyển dần từ hợp tác từng vụ việc theo yêu cầu của Lào sang hợp tác theo chương trình kế hoạch hàng năm giữa hai Chính phủ, bước đầu nghiên cứu kế hoạch hợp tác dài hạn giữa hai nước. Chính vì vậy, quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước bắt đầu có sự thay đổi: từ viện trợ và cho vay là chủ yếu sang giảm dần viện trợ và cho vay, hai nước đẩy mạnh hợp tác sản xuất và kinh doanh bình đẳng cùng có lợi. Thời gian này, Lào đề ra công thức hợp tác: Tài nguyên Lào, lao động kỹ thuật Việt Nam, vốn hợp tác hoặc vay của nước thứ ba. Trong bối cảnh đó, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam chuyển sang một nấc thang mới, có sự thay đổi dần về chất phù hợp với tình hình mới.

Bước sang năm 1982, một sự kiện quan trọng đã diễn ra trong đời sống xã hội Việt Nam. Đó là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 3 năm 1982). Đại hội xác định phương hướng, nhiệm vụ của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam trong kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội tiếp theo. Trong đó đã bắt đầu điều chỉnh quy mô, tốc độ, chặng đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là xác định chặng đường đầu tiên quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với những nhiệm vụ cơ bản, trước mắt phù hợp với đặc điểm xuất phát của nền kinh tế Việt Nam. Trong đó, xác định đối với Việt Nam phải coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Về đường lối đối ngoại: trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và nhìn lại chính sách đối ngoại trong thời gian trước 1982, Đại hội xác định đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong thời gian tới là: Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô; quan hệ đặc biệt với Lào, Campuchia; thúc đẩy quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa; chủ trương quan hệ bình thường với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.

 Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Lào do Tổng Bí thư, Thủ tướng Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Cayxỏn Phômvihản dẫn đầu sang dự Đại hội lần thứ V Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có cuộc hội đàm với Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 26 tháng 3 năm 1982). Hai bên đã thông báo cho nhau tình hình mỗi nước, trao đổi các vấn đề mà hai Đảng cùng quan tâm. Hai bên hoàn toàn nhất trí về các vấn đề được nêu trong cuộc hội đàm và nhất trí rằng tình đoàn kết chiến đấu và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và nhân dân hai nước đang không ngừng được củng cố và phát triển 1.

Một tháng sau (tháng 4 năm 1982), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Nhân dân cách mạng Lào được triển khai tại Thủ đô Viêng Chăn. Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Trường Chinh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam dẫn đầu sang dự Đại hội.

Báo cáo chính trị của Đại hội do đồng chí Cayxỏn Phômvihản trình bày đã nêu rõ đặc điểm của cách mạng Lào trong giai đoạn tới là: “Lào cùng với Việt Nam và Campuchia đã trở thành tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á, vì vậy cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập, chủ quyền và xây dựng chế độ mới là rất quyết liệt và lâu dài” .

Về quan hệ với Việt Nam, Báo cáo chính trị chỉ rõ: “Trước sau như một, chúng ta làm hết sức mình để củng cố và tăng cường tình đoàn kết chiến đấu, mối quan hệ đặc biệt, sự hợp tác toàn diện Việt - Lào, Việt - Lào - Campuchia trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng tin cậy và giúp đỡ lẫn nhau trên tình đồng chí”. Báo cáo khẳng định phải tiếp tục phát triển mối quan hệ Lào - Việt lên một bước mới vì lợi ích sống còn của mỗi nước.

Đường lối đối ngoại của hai Đảng được khẳng định trong Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội III Đảng Nhân dân cách mạng Lào, một lần nữa khẳng định sự tất yếu khách quan phải tăng cường quan hệ đoàn kết đặc biệt, hữu nghị hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước trong giai đoạn cách mạng mới.

Tiếp tục tăng cường phối hợp trên lĩnh vực đối ngoại, để có sự nhất trí trong lập trường quan điểm về vấn đề này, trong năm 1982, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia được tổ chức thường kỳ như đã thoả thuận. Hội nghị lần thứ năm họp ngày 16 và 17 tháng 2 năm 1982 tại Phnôm Pênh và Hội nghị lần thứ sáu họp ngày 6 và 7 tháng 7 năm 1982 tại thành phố Hồ Chí Minh. Tại các hội nghị này, ba bộ trưởng đã thảo luận và nhất trí quan điểm đối với một số vấn đề quan trọng về tình hình thế giới và khu vực.

Để đáp ứng yêu cầu giúp Lào trong tình hình mới, Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam ra Quyết định số 08-QĐ/TW ngày 22 tháng 10 năm 1982 về chức năng, nhiệm vụ của Ban Công tác giúp Lào, trong đó quyết định chuyển Ban Cán sự Đảng về công tác giúp Lào thành Ban Công tác giúp Lào, cũng như về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Ban. Tiếp đó, ngày 25 tháng 10 năm 1982, Ban Bí thư có Quyết định 09-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Uỷ ban Hợp tác kinh tế, văn hoá Việt Nam - Lào - Campuchia được hình thành từ Uỷ ban Liên lạc kinh tế, văn hoá với nước ngoài.

Sau một thời gian chuẩn bị, trong hai ngày 22 và 23 tháng 2 năm 1983, Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương đã diễn ra tại Thủ đô Viêng Chăn. Tham dự Hội nghị có các đồng chí lãnh đạo cấp cao của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Hội nghị tập trung thảo luận về tình hình ba nước Đông Dương, tình hình quốc tế và khu vực; xem xét đề ra những nguyên tắc, phương hướng, biện pháp nhằm tăng cường đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa ba nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của mỗi nước, tạo nhân tố quan trọng đối với hoà bình và ổn định ở Đông Nam Á và thế giới; vấn đề quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia.

 Hội nghị đã nhất trí đề ra bốn nguyên tắc cơ bản chỉ đạo mối quan hệ giữa ba nước 2.

Hội nghị đã đưa ra hai bản tuyên bố: Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao ba nước, khẳng định mối quan hệ hữu nghị giữa ba nước trong lịch sử hoàn toàn tốt đẹp, và trong những năm gần đây ngày càng được củng cố; Tuyên bố về vấn đề quân tình nguyện ở Campuchia nêu rõ chính sách của Campuchia và Việt Nam quyết bảo vệ công cuộc hồi sinh của nhân dân Campuchia, mong muốn của hai nước góp phần vào sự nghiệp hoà bình và ổn định ở khu vực Đông Nam Á.

Những nguyên tắc và các bản tuyên bố được Hội nghị thông qua đã đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ giữa ba nước, qua đó tăng cường đoàn kết với Liên Xô và các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, với các lực lượng cách mạng và tiến bộ, cùng đấu tranh vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Để phù hợp với tình hình đã thay đổi, ngày 11 tháng 4 năm 1983, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia trong giai đoạn mới.

Nghị quyết xác định đoàn kết với cách mạng Lào, Campuchia là đường lối đối ngoại nhất quán, là nghĩa vụ quốc tế hàng đầu của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Đối với nhiệm vụ đoàn kết, hợp tác cách mạng Lào, Campuchia, tư tưởng chủ đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: luôn nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, coi sự nghiệp cách mạng của Lào như của chính mình; tự nguyện hết lòng gánh vác phần trách nhiệm của mình; có sự phối hợp chặt chẽ về đường lối, chiến lược với Đảng Lào, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của Lào; giúp Lào tăng cường thực lực cách mạng về mọi mặt mà trước hết là về xây dựng đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ; phát triển sự hợp tác một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực, trong đó coi trọng hợp tác kinh tế và văn hoá, tạo nền tảng để củng cố liên minh ba nước.

Song song với hợp tác ba bên, hợp tác hai bên Việt - Lào vẫn luôn được lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm. Tháng 7 năm 1983, Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã tiến hành hội đàm, thông báo tình hình của mỗi nước; trao đổi về tình hình thế giới và khu vực; xem xét kết quả hợp tác về các mặt giữa hai Đảng, hai nước trong thời gian qua; thống nhất cần tăng cường và mở rộng hơn nữa hợp tác toàn diện giữa hai nước.

Cùng chung nguyện vọng và quan điểm với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 4 tháng 9 năm 1983, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào ra Nghị quyết số 33 về tăng cường đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Lào - Việt Nam - Campuchia và đã tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc nghiên cứu quán triệt Nghị quyết này.

Cuối tháng 1 năm 1984, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ cách mạng của hai nước trong giai đoạn hiện tại, Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Chính trị của Đảng Nhân dân cách mạng Lào tiến hành hội đàm, hoàn toàn nhất trí rằng cần phải tăng cường và mở rộng hơn nữa hợp tác toàn diện giữa hai nước, nhất là hợp tác kinh tế, văn hoá; cùng xác định phương hướng, nội dung hợp tác về mọi mặt giữa hai nước, đặc biệt là các vấn đề có tính chất chiến lược về kinh tế.

Những quyết định mà cuộc hội đàm giữa hai Bộ Chính trị đưa ra sẽ có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế của mỗi nước trong kế hoạch năm năm 1985 - 1990 cũng như về lâu dài và phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 9 tháng 2 năm 1984, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 37-CT/TW về việc tổ chức thực hiện những thoả thuận giữa hai Bộ Chính trị.

Chỉ thị lưu ý các ngành, các địa phương cần quán triệt tư tưởng chỉ đạo và tổ chức thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ mà Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra, đồng thời nhấn mạnh: phương thức hợp tác và giúp đỡ giữa hai nước chủ yếu vẫn là ngành hợp tác và giúp đỡ ngành, địa phương hợp tác và giúp đỡ địa phương, do đó lãnh đạo các ngành, các địa phương, các địa phương kết nghĩa với các tỉnh Lào phải coi trọng nhiệm vụ giúp Lào, có kế hoạch mở rộng hợp tác tiến đến liên kết hợp tác chặt chẽ với nhau một cách hiệu quả, thiết thực. Ban Bí thư giao cho Ban Công tác giúp Lào, Uỷ ban Hợp tác kinh tế và văn hoá với Lào và Campuchia những nhiệm vụ cụ thể để thực hiện tốt thoả thuận giữa hai Bộ Chính trị; giao cho Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ nghiên cứu, triển khai các vấn đề hợp tác về an ninh và phòng thủ giữa hai nước - xây dựng kế hoạch bảo vệ đất nước, bảo vệ an ninh chung... Để xúc tiến thực hiện Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và thoả thuận giữa ba Đảng, ba nước tại Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương, ngày 28 tháng 5 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị quyết số 80-HĐBT về việc tăng cường hợp tác kinh tế, văn hoá với Lào, Campuchia trong giai đoạn mới. Về hình thức có hợp tác ba bên, có hợp tác hai bên, từ hợp tác từng việc tiến tới phối hợp kế hoạch và liên kết kinh tế, kết hợp xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá với củng cố quốc phòng và an ninh.

Theo tinh thần Nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng, ngay trong tháng 6 năm 1984, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Cộng hòa Nhân dân Campuchia đã ký thoả thuận hợp tác trên lĩnh vực ngoại thương.

Xác định quan hệ hợp tác giữa ngành với ngành, địa phương với địa phương là phương thức chủ yếu trong quan hệ hợp tác giữa ba nước cũng như giữa Việt Nam - Lào, ngày 20 tháng 6 năm 1984, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 45-CT/TW về tăng cường quan hệ hợp tác giữa các ngành và địa phương của ta với các ngành và địa phương của Lào, Campuchia. Chỉ thị nêu ra những yêu cầu trong quan hệ hợp tác; những nội dung trong quan hệ hợp tác; về tổ chức thực hiện và một số quy định trong quan hệ công tác nhằm giúp cho các ngành, các địa phương làm tốt nhiệm vụ hợp tác, giúp đỡ các ngành và địa phương Lào.

Riêng đối với các địa phương có chung biên giới cần thực hiện tốt Hiệp định về quy chế biên giới, cùng nhau củng cố cơ sở chính trị, bảo đảm an ninh, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị.

Về việc tổ chức thực hiện, Chỉ thị lưu ý các ngành, địa phương phải căn cứ vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phải nghiên cứu các vấn đề mà Lào đề ra để có chương trình, nội dung hợp tác và biện pháp thực hiện cho sát với khả năng và điều kiện của Việt Nam và Lào; phải chủ động phối hợp chặt chẽ với phía Lào để theo dõi việc thực hiện các vấn đề đã ký kết, có tổng kết, rút kinh nghiệm và phải xem việc hợp tác với Lào là một bộ phận quan trọng thường xuyên trong nhiệm vụ chính trị của ngành, của địa phương.

Cuối tháng 1 năm 1985, diễn ra cuộc  hội đàm giữa Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, mà một phần việc là đánh giá kết quả thực hiện thoả thuận giữa hai Bộ Chính trị tháng 1 năm 1984. Đồng thời, hai bên đã bàn thảo và nhất trí những công việc chính cần làm trong những năm trước mắt nhằm tăng cường liên minh, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai nước. Ngày 20 tháng 5 năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam ra Nghị quyết số 138-HĐBT về tổ chức và phân công nhằm thực hiện các nhiệm vụ về liên kết, hợp tác kinh tế trong năm 1985 và những năm tới theo thoả thuận giữa hai Bộ Chính trị hai Đảng (tháng 1 năm 1985).

Nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả thoả thuận giữa hai Bộ Chính trị và Nghị quyết số 138-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 63-CT/TW ngày 1 tháng 6 năm 1985 về việc thực hiện các thoả thuận giữa Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào, tháng 1 năm 1985, trong đó Ban Bí thư yêu cầu các địa phương, các ngành có liên quan có kế hoạch, biện pháp cụ thể để thực hiện Nghị quyết số 138-HĐBT một cách khẩn trương. Các cấp uỷ địa phương tăng cường lãnh đạo công tác kết nghĩa, phát huy nỗ lực, sáng tạo của địa phương để giúp Lào đạt hiệu quả cao nhất.




-------------------------------------------------------------------
1. Tại Lào, một cuộc mít tinh được Hội Hữu nghị Lào - Việt tổ chức tại Thủ đô Viêng Chăn (ngày 1 tháng 4 năm 1982), nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước Lào đã tới dự để chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Một là, đoàn kết hợp tác giữa ba nước nhằm giúp đỡ nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ đất nước, góp phần bảo vệ hoà bình và ổn định ở Đông Nam Á và trên thế giới.

Hai là, tăng cường tình đoàn kết và sự hợp tác trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa. Mọi vấn đề thuộc quan hệ giữa ba nước sẽ được giải quyết bằng thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, với tinh thần hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi nước và vì lợi ích chung của ba dân tộc.

Ba là, phát triển sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau giữa hai bên hoặc ba bên về mọi mặt trên tinh thần hữu nghị anh em, hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi.

Bốn là, tăng cường tình đoàn kết giữa ba dân tộc, chống mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, mọi biểu hiện của tư tưởng dân tộc nước lớn và dân tộc hẹp hòi. Không ngừng giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ba nước về tình hữu nghị truyền thống và quan hệ đặc biệt giữa nhân dân ba nước, chống mọi hành động có hại cho tình hữu nghị giữa nhân dân ba nước.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4767



« Trả lời #91 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2022, 10:34:19 am »

2. Hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trên các lĩnh vực được triển khai trong bối cảnh tìm tòi, khảo nghiệm, từng bước đổi mới (1982 - 1986)

Từ năm 1982, nền kinh tế Việt Nam và Lào đã bắt đầu có sự chuyển biến đổi mới từng bước; tình hình chính trị - kinh tế - xã hội của hai nước bắt đầu ổn định, công tác khôi phục kinh tế sau chiến tranh căn bản đã hoàn thành. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 3 năm 1982) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Nhân dân cách mạng Lào (tháng 4 năm 1982), cả hai nước từng bước chuyển mạnh sang trọng tâm phát triển sản xuất nông nghiệp, đổi mới từng bước các thành phần kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế, nhằm xây dựng kinh tế, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá cho nhân dân, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển so với các nước trong khu vực. Cùng với sự chuyển biến đổi mới từng phần về cơ chế quản lý kinh tế, quan hệ hợp tác giữa hai nước cũng bắt đầu có sự thay đổi: từ viện trợ và cho vay là chủ yếu sang giảm dần viện trợ và cho vay, đẩy mạnh hợp tác sản xuất và kinh doanh bình đẳng cùng có lợi.

Hợp tác về chính trị: Hai Đảng, hai Nhà nước khẳng định sự tất yếu khách quan tăng cường mối quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện trong giai đoạn mới, có sự đồng thuận, phối hợp tổ chức thực hiện các đường lối, chủ trương hợp tác giữa hai Đảng, hai Nhà nước, có sự tổng kết, đánh giá thường niên kết quả thực hiện.

Sau 10 năm giành được độc lập tự do cho dân tộc, chế độ dân chủ nhân dân được thiết lập và ngày càng chứng tỏ sức sống của mình trên đất nước Lào anh em, cũng là năm Đảng Nhân dân cách mạng Lào tròn 30 tuổi, quan hệ giữa hai Đảng, hai nước Việt - Lào ngày càng gắn bó khăng khít. Nhiều hoạt động do các tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân tổ chức đã diễn ra rất sôi nổi ở Việt Nam. Các cuộc mít tinh kỷ niệm được tổ chức trọng thể tại thủ đô, ở các tỉnh kết nghĩa với các tỉnh Lào... Các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, đài phát thanh và truyền hình tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giới thiệu sâu rộng khắp nơi về Đảng Nhân dân cách mạng Lào, về những thắng lợi to lớn của nhân dân Lào trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, về những thành tựu 10 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân Lào, về tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa Đảng và quân đội, nhân dân hai nước, về đất nước và con người Lào... góp phần nâng cao sự hiểu biết, tình đoàn kết, ủng hộ lẫn nhau giữa cán bộ, nhân dân hai nước. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đại diện các cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và Hà Nội, đại biểu các lực lượng vũ trang và nhân dân thủ đô, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam đến dự các cuộc mít tinh kỷ niệm và chúc mừng toàn thể đảng viên và nhân dân các dân tộc Lào anh em nhân ngày lịch sử vẻ vang này của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Trong bức điện mừng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, có đoạn viết: “Mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng đầu tiên và dày công vun đắp ngày càng không ngừng được củng cố tăng cường và trở thành sức mạnh vô địch, không kẻ thù nào phá vỡ nổi. Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương và những nghị quyết của hai Đảng về tăng cường quan hệ Việt Nam - Lào gần đây có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng, đánh dấu một bước phát triển mới của sự liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam - Lào... Chúc tình đoàn kết chiến đấu, tình hữu nghị vĩ đại và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và nhân dân hai nước chúng ta đời đời bền vững” .

Để giáo dục, quán triệt sâu sắc về quan hệ Lào - Việt Nam, Đảng Nhân dân cách mạng Lào có Nghị quyết chuyên đề về tăng cường, bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, coi quan hệ Lào - Việt là một tiêu chuẩn về đạo đức của cán bộ, đảng viên. Các tổ chức đoàn thể giữa hai nước đã tổ chức nhiều hình thức thể hiện quyết tâm cao của đường lối đối ngoại hai nước trong điều kiện lịch sử mới, vì lợi ích của hai quốc gia và vì sự ổn định phát triển của khu vực.

Nhiều cuộc trao đổi, toạ đàm các đoàn cấp cao hai Đảng và hai Nhà nước được tổ chức, nhằm thông báo cho nhau về tình hình mỗi nước; trao đổi ý kiến tiếp tục phát triển và củng cố mối quan hệ giữa hai nước; trao đổi ý kiến về các vấn đề khu vực và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm. Chủ tịch nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Xuphanuvông luôn nêu những thành tựu đạt được từ sự hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào, và khẳng định đoàn kết, hợp tác tạo nên sức mạnh to lớn để hai dân tộc vượt qua mọi trở ngại, đánh thắng mọi kẻ thù. Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào làm hết sức mình để không ngừng củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào.

Năm 1985, nhân dịp thăm hữu nghị chính thức Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hai bên đã ra Tuyên bố chung Việt Nam - Lào, khẳng định quyết tâm củng cố hơn nữa tình hữu nghị vĩ đại và tình đoàn kết chiến đấu truyền thống, đồng thời hai bên cho rằng cần mở rộng quy mô và nâng cao tính hiệu quả của sự hợp tác nhằm đáp ứng tốt hơn nữa những yêu cầu phát triển kinh tế của hai nước.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của mỗi nước, sự hợp tác, sự nhất trí cao về lập trường, quan điểm giữa ba nước cũng như giữa Việt Nam và Lào trên lĩnh vực đối ngoại ngày càng được củng cố, tăng cường thông qua các hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam - Lào - Campuchia được tiến hành mỗi năm hai lần: Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ba nước lần thứ 10 (tháng 1 năm 1985), lần thứ 11 (tháng 8 năm 1985), lần thứ 12 (tháng 1 năm 1986) và lần thứ 13 (tháng 8 năm 1986).

Đối với vấn đề Campuchia, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Campuchia khẳng định tiếp tục rút quân tình nguyện trong năm 1986 và hoàn thành vào năm 1990. Ba nước tiếp tục khẳng định lập trường năm điểm và các đề nghị đã nêu trong Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Đông Dương lần thứ 10 và 11. Hội nghị đi đến thống nhất cần phân biệt hai mặt của một giải pháp chính trị về vấn đề Campuchia: mặt nội bộ và mặt quốc tế. Việc giải quyết vấn đề nội bộ của Campuchia do nhân dân Campuchia tự giải quyết, không có sự giải quyết từ bên ngoài. Việc giải quyết mặt quốc tế của vấn đề Campuchia bao gồm thoả thuận về việc rút quân tình nguyện Việt Nam đi đôi với việc chấm dứt viện trợ, vũ khí và dùng lãnh thổ Thái Lan làm “đất thánh” cho bọn Pôn Pốt và các lực lượng Khơme phản động khác, chấm dứt sự can thiệp từ bên ngoài vào công việc nội bộ của Campuchia. Chấm dứt các hoạt động quân sự thù địch của nước ngoài chống Cộng hoà Nhân dân Campuchia.

Đi đôi với giải pháp hoà bình cho vấn đề Campuchia, ba nước thoả thuận lập một khu vực hoà bình, ổn định ở Đông Nam Á trong đó các nước có chế độ xã hội khác nhau cùng tồn tại hoà bình. Đối với Thái Lan, ba nước mong muốn và sẵn sàng đàm phán để giải quyết các vấn đề tồn tại giữa các bên vì hoà bình và ổn định ở Đông Nam Á.

Sự thoả thuận các hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước trong bốn kỳ họp liên tiếp trong hai năm (1985 - 1986) đã thể hiện sự nhất trí cao về lập trường, quan điểm giữa ba nước cũng như giữa Việt Nam và Lào trên lĩnh vực đối ngoại ngày càng được củng cố, tăng cường.
Mối quan hệ hợp tác về chính trị trong giai đoạn này thể hiện ở sự nỗ lực vươn lên của Lào để cùng Việt Nam hiện thực hoá mục tiêu mà cả hai nước cùng lựa chọn: con đường xã hội chủ nghĩa. Hai nước cùng nhau học hỏi, trao đổi kinh nghiệm của quá trình tìm tòi khảo nghiệm các bước đi, giải pháp đổi mới từng phần về cơ chế quản lý kinh tế, cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu các ngành kinh tế, vấn đề lưu thông phân phối, vấn đề khoán... phù hợp với đặc điểm cụ thể của mỗi nước. Lào trao đổi kinh nghiệm với Việt Nam về chủ trương từng bước xóa bỏ tình trạng cấm chợ, ngăn sông, mở rộng thương mại khắc phục sự khan hiếm hàng hoá, về lưu thông phân phối...

Đối với Việt Nam, đây là thời điểm cả nước sôi động tìm tòi cơ chế mới trong quản lý kinh tế. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 8 (khóa V) tháng 6 năm 1985 quyết định xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, lấy giá - lương - tiền làm khâu đột phá; và Kết luận đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế của Bộ Chính trị (tháng 8 năm 1986)1  là kết quả của quá trình đổi mới từng phần trong tư duy kinh tế ở Việt Nam. Những kết quả đó cũng tác động đến quá trình tìm tòi, khảo nghiệm con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Các đồng chí trong Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào tích cực cố gắng tìm tòi học hỏi về kinh nghiệm, nghiên cứu lý luận để hoàn thiện chế độ dân chủ nhân dân, tạo tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cụ thể của Lào. Các ủy viên Bộ Chính trị của Đảng Nhân dân cách mạng Lào thường xuyên sang nghiên cứu thực tiễn tìm tòi khảo nghiệm của Việt Nam. Đây cũng là thời điểm Lào tăng cường số lượng đội ngũ cán bộ lý luận sang đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam. Đồng chí Cayxỏn Phômvihản tự mình hướng dẫn chuyên gia chọn lọc dịch những phần cần thiết trong “Tuyển tập Mác - Lênin” để nghiên cứu. Mỗi dịp đi nghỉ hè hằng năm, ngoài việc đề nghị Liên Xô giới thiệu những giáo sư, những nhà lý luận giỏi, giới thiệu cho một số chuyên đề, đồng chí còn đề nghị Trường Nguyễn Ái Quốc Việt Nam gửi các bài giảng của các lớp cao cấp sang để đọc, nghiên cứu. Khi có điều kiện, đồng chí đề nghị Việt Nam cử chuyên gia sang trực tiếp giới thiệu một số chuyên đề mà đồng chí cần nghiên cứu sâu để vận dụng vào thực tiễn Lào. Vấn đề nào thấy cần thiết đồng chí đề nghị mở tập huấn giới thiệu cho Ban Chấp hành Trung ương mở rộng cùng nghe. Qua đó Lào chủ trương phải học tập và đổi mới tư duy trong hàng ngũ cán bộ trên các lĩnh vực, trong lãnh đạo, trong lề lối làm việc. Bản thân đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã đọc đi đọc lại tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để vận dụng vào công tác xây dựng đảng ở Lào.

Khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, Đài Phát thanh, Đài Truyền hình Việt Nam thường trú tại Lào, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào Cayxỏn Phômvihản nhấn mạnh: “Những năm qua, sự hợp tác đầy tình anh em, tình đồng chí giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước đã phát triển trên mọi lĩnh vực, với nhiều hình thức phong phú và có hiệu quả. Ngoài việc cử chuyên gia và quân tình nguyện sang giúp cách mạng Lào, Việt Nam còn đẩy mạnh hợp tác về lao động và kỹ thuật giúp Lào khai thác tiềm năng của mình; mở rộng quan hệ kết nghĩa giữa các địa phương của hai nước, lấy hợp tác về kinh tế và văn hoá làm cơ sở cho các mặt hợp tác khác. Sự hợp tác và giúp đỡ to lớn của Việt Nam góp phần rất quan trọng tạo thế chiến lược vững chắc cho sự phát triển của cách mạng Lào.

Đoàn kết liên minh hợp tác Lào - Việt Nam đã trở thành đường lối chiến lược, tình cảm thiêng liêng và nghĩa vụ quốc tế của Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào, là một trong những tiêu chuẩn rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân Lào”.




------------------------------------------------------------------
1. Tổng kết 20 năm đổi mới, Việt Nam coi Hội nghị Trung ương 8 khóa V (tháng 6 năm 1985) là bước đột phá thứ hai đổi mới tư duy lý luận; Kết luận của Bộ Chính trị tháng 8 năm 1986 là bước đột phá thứ ba trong đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4767



« Trả lời #92 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2022, 10:42:58 am »

Hợp tác quốc phòng - an ninh: Mối quan hệ, hợp tác ngày càng đi vào chiều sâu, nhằm bồi dưỡng, xây dựng lực lượng, tập trung giải quyết vấn đề biên giới thành đường biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định và phát triển lâu dài giữa hai nước.

Thực hiện Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện Lào - Việt Nam ký ngày 18 tháng 7 năm 1977, ngày 29 tháng 3 năm 1981, Bộ Nội vụ Lào và Bộ Nội vụ Việt Nam đã ký Hiệp định hợp tác toàn diện giữa hai Bộ. Phía Lào do Đại tướng Xỉxávạt Kẹo Bunphăn, Bộ trưởng Bộ Nội vụ làm trưởng đoàn. Phía Việt Nam do đồng chí Phạm Hùng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ làm trưởng đoàn. Nội dung của Hiệp định cho phép lực lượng an ninh của hai nước, ở cả Trung ương và các địa phương, quan hệ hợp tác, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, trao đổi các đoàn đại biểu, các đoàn cán bộ lão thành...

Ngày 23 tháng 6 năm 1984, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam ra Quyết định số 932-QĐ/QP giao cho Quân khu 5 có nhiệm vụ liên minh chiến đấu với lực lượng vũ trang và nhân dân Lào trên địa bàn các tỉnh Xalavăn, Chămpaxắc, Áttapư và tỉnh mới tách ra từ Xalavăn, tăng cường khả năng phòng thủ bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ địa bàn Nam Lào.

Tháng 4 năm 1985, các thế lực phản động nước ngoài chỉ huy tiếp tế cho Chư Pao Mùa thu gom được khoảng 1.200 tên phỉ hoạt động quấy phá ở khu vực Buôm Loộng. Trước yêu cầu cấp bách phải tiêu diệt cụm phỉ ở Buôm Loộng để ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, Tỉnh uỷ Xiêng Khoảng đã đề nghị cấp trên tăng cường lực lượng cùng tỉnh giải phóng vùng đất bị Chư Pao Mùa chiếm đóng. Bộ chỉ huy liên quân do đồng chí Uđôm Khắttinhạ, Uỷ viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Bí thư Tỉnh uỷ Xiêng Khoảng làm chỉ huy trưởng. Theo yêu cầu của Lào, từ ngày 13 đến 15 tháng 5 năm 1985, Quân khu 4 Việt Nam đã sử dụng Tiểu đoàn 31 đặc công quân khu và một số đơn vị bộ binh cùng các đơn vị bạn tiêu diệt quân phỉ ở Buôm Loộng, phá tan sào huyệt phỉ lớn nhất của địch, góp phần ổn định tình hình an ninh của Lào.

Để tiếp tục giúp Lào về các mặt xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị, đào tạo cán bộ, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và xây dựng kinh tế, năm 1984, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Lào đã thống nhất kế hoạch chiến lược phòng thủ đối phó với các tình huống chiến tranh và triển khai kế hoạch chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch... Hai Bộ Quốc phòng và hai Bộ Tổng Tham mưu còn tiến hành hội đàm để giải quyết những vấn đề cơ bản về quân sự. Trong kế hoạch phát động quần chúng, củng cố cơ sở chính trị, Lào và Việt Nam ngày càng phối hợp chặt chẽ. Lào đã củng cố ban lãnh đạo và chính quyền ở các tỉnh trọng điểm. Việt Nam cũng kiện toàn 60 đội công tác ở cơ sở (trong đội hình quân tình nguyện) với hơn 1.500 cán bộ phối hợp với bạn về các mặt khác, chỉ đạo công tác vận động quần chúng xây dựng cơ sở, củng cố quốc phòng - an ninh.

Tính riêng trong năm 1984, Việt Nam đã giúp Lào hoàn thành đào tạo 407 cán bộ, 1.381 cán bộ và nhân viên kỹ thuật được đào tạo tại 28 trường; 32 chuyên gia thường trú ở cơ quan Bộ Quốc phòng trong đó có công tác quân sự địa phương, 350 chuyên gia kỹ thuật về các xí nghiệp quốc phòng và các nông trường. Ngày 25 tháng 12 năm 1985, Trường Trung cấp An ninh được thành lập. Sau đó, Trường Đại học An ninh và Trường Đại học Công an nhân dân của Việt Nam đã cử nhiều cán bộ, giảng viên sang giúp giảng dạy, chuyển giao kiến thức cho cán bộ, học viên Lào. Nhờ đó, hàng năm Lào đã đào tạo được một lực lượng lớn cán bộ, chiến sĩ làm công tác an ninh.

Nét nổi bật của hợp tác quốc phòng, an ninh giai đoạn này là hợp tác giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước. Đường biên giới Việt - Lào được hình thành từ khá sớm trong lịch sử 1. Tuy nhiên, sau này do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, được sự đồng ý của Lào, Việt Nam đã mở tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn, phần phía tây chạy trên đất Lào, vì vậy việc hoạch định, phân chia biên giới trong giai đoạn này bị gián đoạn. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, hai nước lại tiếp tục bắt tay vào việc hoạch định, phân chia lại đường biên giới. Xuất phát từ tình đồng chí anh em, hai nước đã thoả thuận lấy đường biên giới mà Pháp vẽ trên bản đồ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương làm cơ sở đối chiếu, so sánh cho việc phân chia biên giới trên thực địa. Theo Hiệp định hai nước ký kết năm 1977, từ ngày 25 tháng 7 năm 1978 - ngày cắm mốc đầu tiên - đến ngày 24 tháng 8 năm 1984 đã cơ bản hoàn thành hệ thống quốc mốc. Sau tám năm tiến hành, đến ngày 24 tháng 1 năm 1986, việc phân vạch và cắm mốc trên thực địa toàn tuyến biên giới Việt - Lào dài 2.067 km đã hoàn thành. Những điểm mới được hai bên nhất trí điều chỉnh đã được ghi nhận trong Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới. Cũng với Hiệp ước bổ sung, Nghị định thư về việc phân giới trên thực địa và cắm mốc toàn tuyến biên giới Việt Nam - Lào đã được hai nước ký ngày 24 tháng 1 năm 1986. Hai nước khẳng định: “Xác định chính thức đường biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nhằm xây dựng đường biên giới hữu nghị anh em lâu dài giữa hai nước” .

Hai nước đưa ra quan điểm giải quyết vấn đề biên giới ở những điểm khó khăn: “ở những nơi nào cả hai bên đều thấy cần thiết phải điều chỉnh đường biên giới và ở những nơi đường biên giới chưa được vẽ trên các bản đồ Pháp nói ở đoạn trên, hai bên đã hoạch định đường biên giới trên cơ sở hoàn toàn nhất trí, tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào”.

Từ thời điểm này, giữa hai nước đã có đường biên giới chính thức, được hoạch định bằng Hiệp ước, phân vạch trên thực địa và đánh dấu bằng một hệ thống mốc chính quy.

Việc phân định chính thức đường biên giới quốc gia giữa hai nước thể hiện nguyên tắc trong quan hệ hai nước: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như lợi ích chính đáng của mỗi bên phù hợp với luật pháp quốc tế và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước muốn có một đường biên giới hữu nghị lâu dài. Đồng thời cũng là một biểu hiện của mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào, góp phần tích cực vào việc củng cố và tăng cường tình đoàn kết chiến đấu, sự hợp tác toàn diện giữa hai nước.

Sự kiện này đã mở ra cho hai nước sớm đi đến ký kết quy chế biên giới bao gồm việc đi lại của nhân dân, quy định các cửa khẩu qua lại... nhằm bảo đảm chủ quyền của mỗi nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm ăn, sinh sống của nhân dân hai bên và việc hợp tác mọi mặt giữa hai nước.

 Mười năm sau giải phóng, Quân đội nhân dân Lào và Quân đội nhân dân Việt Nam đã đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với nhau trong nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Căn cứ vào yêu cầu của Lào, theo tinh thần ngành giúp ngành, địa phương giúp địa phương, ngày 24 tháng 6 năm 1985, Bộ Quốc phòng ra Chỉ thị về việc cử chuyên gia chính trị, kinh tế, chuyên môn, kỹ thuật quân sự, an ninh từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở, chuyên gia giúp lãnh đạo các bộ, ngành Lào nhanh chóng nắm bắt công việc. Bên cạnh đó Việt Nam còn cử cán bộ, kỹ sư, công nhân kỹ thuật lành nghề sang giúp Lào khảo sát, lập quy hoạch, thiết kế, thi công một số công trình trọng điểm...

Ghi nhận sự giúp đỡ to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam đối với cách mạng Lào nói chung và Quân đội nhân dân Lào nói riêng trong suốt những năm tháng chiến tranh trước đây cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 18 tháng 12 năm 1984, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào  Xuphanuvông đã ký quyết định tặng Huân chương Vàng quốc gia, phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước Lào cho Quân đội nhân dân Việt Nam.




-----------------------------------------------------------------
1. Đến thời thuộc Pháp, đường biên giới này trở thành biên giới hành chính trong Đông Dương thuộc Pháp. Tuy nhiên, nó không phải là quốc giới do hai nước hoạch định. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, nhận thức sâu sắc việc phân định và cắm mốc biên giới giữa hai nước có liên quan trực tiếp đến sự hòa bình, ổn định của mỗi nước và trong khu vực, từ ngày 25 tháng 9 đến 10 tháng 11 năm 1955, được sự ủy nhiệm của Chính phủ Việt Nam, Bộ Nội vụ đã tiến hành điều tra biên giới Việt - Lào trên thực địa. Tháng 9 năm 1956, theo thư mời của Chính phủ Vương quốc Lào và theo tinh thần hội đàm giữa phái đoàn Chính phủ hai nước, Việt Nam đã cử một phái đoàn sang Lào điều tra biên giới vùng Mương Sốc, Nặm Cắn (phần nằm giữa hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4767



« Trả lời #93 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2022, 10:46:33 am »

Hợp tác kinh tế: Thời kỳ này, ngoài sự trao đổi kinh nghiệm thực tiễn, tri thức về đổi mới từng phần trong cơ chế quản lý kinh tế (thông qua trao đổi, làm việc giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, chuyên gia, đào tạo cán bộ), quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước đã từng bước chuyển dần từ viện trợ và cho vay là chủ yếu sang hợp tác sản xuất kinh doanh cùng có lợi, đồng thời giúp nhau phát huy khả năng và tiềm năng của mỗi nước để giải quyết những nhu cầu cấp bách về đời sống và sản xuất. Đây là những định hướng phù hợp với điều kiện hai nước trong những năm đầu chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.

Chính phủ Việt Nam đã viện trợ không hoàn lại và cho vay không trả lãi giúp Lào về: khảo sát, thiết kế 17 công trình thuỷ lợi, trong đó xây dựng 7 công trình loại vừa; lập luận chứng kỹ thuật xây dựng 12 trạm thuỷ điện và xây dựng 4 trạm; thiết kế, xây dựng 11 bệnh viện, bệnh xá, 6 cửa hàng và nhà làm việc, 8 trường học các cấp; khảo sát thiết kế đường ôtô, xây dựng đường nhựa, đường cấp phối; gia công đóng tàu hàng, tàu chở khách; giúp vận tải hàng trăm tấn hàng hoá quá cảnh .

Chỉ tính riêng hai năm 1984 - 1985, trên lĩnh vực công nghiệp, Việt Nam đã giúp đỡ Viêng Chăn khảo sát xây dựng 18 công trình. Ngoài ra còn cử chuyên gia, giúp thiết bị và hoàn thành lắp đặt hệ thống 400 loa truyền thanh và 41 km đường dây. Đến năm 1986, Liên hiệp Các xí nghiệp giao thông 8 thuộc Bộ Giao thông vận tải đã khảo sát gần 2.000 km đường, xây dựng gần 300 km đường nhựa, 40 cầu vĩnh cửu dài 1.778 m trên tuyến đường 217, đường 6, đường 7, đường 8..., 16.000 m cống bêtông các loại cùng nhiều khu công nghiệp khác.

Ngoài những công trình xây dựng theo Hiệp định giữa hai Chính phủ trong những năm 1976 - 1986 theo yêu cầu của ngành giao thông Lào và các địa phương cơ sở, Liên hiệp Các xí nghiệp giao thông 8 còn thiết kế cho Lào 50 km đường 10, xây dựng một số cầu tại các tỉnh, xây dựng trạm trộn bêtông để rải nhựa đường Viêng Chăn, xây dựng xưởng sản xuất đất đèn, cử nhiều chuyên gia giúp về tổ chức sản xuất và phối hợp quản lý các công trình quan trọng . Liên hiệp Các xí nghiệp giao thông 8, thuộc Bộ Giao thông vận tải - tiền thân là đơn vị Việt Nam đầu tiên làm nghĩa vụ quốc tế tại Lào về giao thông - được thành lập từ ngày 23 tháng 7 năm 1965, sau giải phóng, đơn vị này đã chuyển sang trọng tâm xây dựng cầu đường phục vụ công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Lào. Từ năm 1982, khi nền kinh tế Việt Nam bắt đầu có sự chuyển hướng sang hạch toán kinh doanh mới, Liên hiệp đã luôn hoàn thành kế hoạch nhà nước giao, nhận được những phần thưởng cao quý hai bên trao tặng. Đây là đơn vị làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào thực sự có uy tín, luôn đạt chất lượng, hiệu quả cao trên lĩnh vực giao thông vận tải, góp phần tô thắm mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào không chỉ trong kháng chiến mà cả trong xây dựng đất nước. Đồng thời, qua các công trình, dự án hợp tác cụ thể giữa Việt Nam và Lào, phía Lào đã góp phần hết sức quan trọng tạo điều kiện cho đội ngũ công nhân có việc làm trong bối cảnh kinh tế trong nước đang còn nhiều khó khăn, góp phần nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn cho đội ngũ kỹ sư, cán bộ chuyên môn của Việt Nam toàn diện hơn trên các lĩnh vực thiết kế, thi công, xây dựng....

Hợp tác thương mại: Nhờ vào vị trí tiếp nối tự nhiên, quan hệ buôn bán giữa Lào và Việt Nam được hình thành khá sớm 1. Từ năm 1976 - 1981, trao đổi hàng hoá chính ngạch được bắt đầu theo phương thức bao cấp bằng ngân sách nhà nước mỗi bên. Từ năm 1981 - 1985: kim ngạch tăng nhanh hơn (do Thái Lan bao vây cấm vận Lào 273 mặt hàng, nên Lào chuyển hướng sang phía đông). Hàng hoá chủ yếu là nhu yếu phẩm phục vụ đời sống nhân dân. Hiệp định thương mại Việt - Lào năm năm được ký kết và Nghị định thư thương mại hàng năm đã tạo hành lang pháp lý cho việc trao đổi buôn bán giữa hai nước... Trước năm 1986, Việt Nam và Lào chủ yếu có quan hệ thương mại với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước láng giềng Đông Nam Á và Nhật Bản. Lào nhập khẩu chủ yếu là thiết bị công nghiệp, sản phẩm dầu mỏ, lương thực, phương tiện giao thông, xi măng, sắt, thép, hàng dệt... Hàng xuất của Lào chủ yếu là gỗ xẻ, điện, thiếc, cà phê, thuốc lá. Việt Nam nhập chủ yếu gồm: máy móc, thiết bị giao thông, xăng dầu, phân bón, sắt thép, bông, sợi dệt, hàng tiêu dùng.

Việt Nam giúp Lào vận tải quá cảnh đại bộ phận hàng hoá xuất nhập của Lào theo sự thoả thuận ký kết giữa các nước có hàng viện trợ với Việt Nam, bảo đảm cho Lào con đường thông thương ra biển, đồng thời bảo đảm cung cấp qua đường ngoại thương những hàng tiêu dùng Lào còn chưa sản xuất được, nhất là một số vùng có tính chất chiến lược và các ngành liên quan đến kinh tế hai nước.

Ngoài ra, Việt Nam còn hỗ trợ Lào sử dụng các nguồn viện trợ chủ yếu từ các nước xã hội chủ nghĩa và các tổ chức quốc tế 2. Theo thoả thuận của hai nước, Việt Nam cử chuyên gia cao cấp có kinh nghiệm của Uỷ ban Kế hoạch nhà nước sang nghiên cứu, giúp Lào bố trí kế hoạch tiếp nhận, phân phối sử dụng các nguồn viện trợ, nhất là vật tư thiết bị của Liên Xô một cách kịp thời, có hiệu quả, xây dựng các công trình đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng.

Qua đó, chứng tỏ sự tin cậy một cách đặc biệt của Lào đối với Việt Nam và đáp lại Việt Nam cũng chứng tỏ sự hết lòng của mình với Lào - nước láng giềng gần gũi thân thiện, đồng thời luôn bảo đảm nguyên tắc tôn trọng độc lập, tự chủ và quyền tự quyết của Lào 3.




-----------------------------------------------------------------
1. Trước năm 1975, Việt Nam - Lào có hiệp định trao đổi thương mại nhưng mới chỉ dừng lại ở quy định một số nguyên tắc, thể lệ và danh mục chung, không quy định kim ngạch. Trao đổi chủ yếu diễn ra giữa các địa phương và các tỉnh của Việt Nam với vùng giải phóng Lào. Tổng kim ngạch hai chiều từ năm 1961 - 1975 đạt khoảng 67 triệu đồng Việt Nam.

2. Từ năm 1976 đến 1985, các nước và các tổ chức này đã viện trợ không hoàn lại cho Lào 547,89 triệu rúp, 126,57 triệu USD và cho vay 594,583 triệu rúp.

3. Tổng kết thành quả kinh tế trong hơn 10 năm (1975 - 1986) của Lào đã khẳng định: tổng sản phẩm trong nước tăng gấp đôi và thu nhập tính trung bình đầu người tăng 60%. Nông nghiệp: sản lượng thóc của năm 1985 tăng gấp đôi so với năm 1976 và về cơ bản tự túc được lương thực. Về chăn nuôi, số lượng trâu, bò tăng 60% so với thời kỳ mới giải phóng. Về việc trồng cây công nghiệp: so với năm 1976 sản lượng cà phê năm 1985 tăng gấp đôi, thuốc lá tăng lên ba lần. Công nghiệp: trong 10 năm sản lượng công nghiệp tăng 4,4%, có nhiều sản phẩm mới và có loại hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài. Giao thông vận tải: đã có con đường thông 80% các huyện trên toàn quốc, khả năng chuyên chở hàng hóa nội bộ và quá cảnh tăng nhiều lần. Đối với kinh tế đối ngoại: nước ta nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ và hợp tác ngày càng nhiều hơn từ các nước anh em và bạn bè trên thế giới. Tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu tăng gấp 5 lần so với năm 1976.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4767



« Trả lời #94 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2022, 10:51:40 am »

Trên lĩnh vực văn hoá - giáo dục: Hai nước luôn hợp tác trong chương trình trao đổi giao lưu văn hoá nghệ thuật với các loại hình trao đổi đoàn biểu diễn, tổ chức sáng tác mỹ thuật, tìm hiểu về chủ đề đất nước và con người, hợp tác xuất bản, in và phát hành sách báo, văn hoá phẩm, phim ảnh. Đồng thời phối hợp tuyên truyền giáo dục nhân dân hai nước về mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào 1. Việt Nam giúp Lào một số chương trình, giáo trình giảng dạy của một số trường nghệ thuật của Việt Nam để Lào làm tài liệu nghiên cứu tham khảo; cử chuyên gia giúp về kinh nghiệm làm quy hoạch, kế hoạch đào tạo cán bộ; xây dựng giáo trình giảng dạy văn hoá nghệ thuật của Lào; cử chuyên gia giúp Lào xây dựng phim tài liệu, thời sự và sửa chữa các loại máy móc thiết bị; cử chuyên gia giúp Lào về phương pháp chuyển từ phòng trưng bày truyền thống thành Viện Bảo tàng cách mạng. Việt Nam giúp Lào xây dựng Viện Bảo tàng cách mạng, hoàn thành trước ngày Quốc khánh 2 tháng 12 năm 1985 tại Viêng Chăn. Bộ Văn hoá Lào cử đoàn cán bộ sang Việt Nam nghiên cứu, khảo sát tìm hiểu về tổ chức, nghiệp vụ, trang bị vật tư về kịch nói để về xây dựng Đoàn kịch nói Lào. Việt Nam còn hợp tác giúp Lào khảo sát tình hình Đoàn xiếc quốc gia; xây dựng kế hoạch củng cố, quản lý điều hành theo tình hình mới; giúp Lào giảng dạy một số bộ môn tại Trường Nghệ thuật và Mỹ thuật Viêng Chăn; nâng cao chất lượng nghệ thuật Đoàn ca múa Trung ương Lào. Ngoài ra, công tác hoạt động văn hoá của hai nước còn diễn ra sôi nổi ở nhiều địa phương kết nghĩa có chung biên giới hữu nghị với nhau .

Về nghiên cứu khoa học, đây là cũng là giai đoạn thực hiện chủ trương hai nước tăng cường trao đổi, hợp tác giữa các nhà khoa học Việt Nam và Lào. Đặc biệt trên lĩnh vực khoa học xã hội, từ khi thành lập Ban Đông Nam Á - tiền thân của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, các nhà khoa học xã hội giữa hai nước càng có điều kiện gặp gỡ, trao đổi những thành quả nghiên cứu toàn diện hơn. Kết quả cụ thể hợp tác của các nhà khoa học trong thời gian này là triển khai nghiên cứu Lịch sử Lào, Văn học Lào, Địa lý Lào. Ba công trình này đã được xuất bản ở Lào, bằng tiếng Lào. Riêng công trình Lịch sử Lào đã được xuất bản bằng tiếng Việt .

Về giáo dục - đào tạo: Hằng năm, Bộ Giáo dục hai nước ký kết các văn bản hợp tác, đã tổ chức hai lần Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục của ba nước Lào, Campuchia, Việt Nam họp tại Hà Nội và Viêng Chăn. Hàng loạt hệ thống trường lớp ở Lào với sự giúp đỡ của Việt Nam đã được xây dựng: các trường phổ thông, trung cấp sư phạm, Đại học Sư phạm Viêng Chăn. Hàng loạt lưu học sinh Lào, chủ yếu là sinh viên đại học, thực tập sinh, nghiên cứu sinh trên đại học liên tục có mặt ở 36 trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ở Việt Nam như Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Bách khoa, Đại học Y, Đại học Quân sự, Đại học Sư phạm,... Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn tiếp tục đào tạo một số học sinh phổ thông cho Lào. Riêng “Trường Bổ túc hữu nghị Việt - Lào” được thành lập từ năm 1980 với nhiệm vụ đào tạo con em nhân dân các bộ tộc Lào gửi sang từ phổ thông cơ sở đến phổ thông trung học. Năm học 1980 - 1981 có 191 học sinh Lào tốt nghiệp cấp III (đạt 100%). Số lượng học sinh Lào được đào tạo tại Việt Nam ở các loại trường kể cả phổ thông, trung học chuyên nghiệp, đại học các ngành kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, an ninh thời kỳ này rất đông, chiếm khoảng 50% số người được gửi ra nước ngoài. Năm 1983 - 1984 có 206 học sinh tốt nghiệp cấp II, III (100%); năm học 1985 - 1986 có gần 200 học sinh tốt nghiệp (trong đó 95% tốt nghiệp cấp III và 70% đạt loại khá, giỏi) . Kết quả này là sự nỗ lực cao độ của cả hai phía, mặc dù chất lượng đào tạo chưa cao, nhưng đã góp phần thanh toán dần nạn mù chữ, nâng cao trình độ dân trí ở một mức độ nhất định, hình thành đội ngũ cán bộ, trí thức đặt nền móng khoa học - kỹ thuật cho đất nước Lào phát triển 2.

Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ lý luận chính trị của Đảng là một nhiệm vụ chiến lược cơ bản thường xuyên của Đảng, Nhà nước của cả hai nước. Mặc dù các thế lực thù địch chống phá cách mạng hai nước tìm mọi cách chia rẽ, phá hoại tình đoàn kết giữa hai nước, nhưng với sự tin cậy trong quan hệ hợp tác toàn diện với Việt Nam, Lào vẫn tiếp tục tăng cường việc gửi cán bộ sang đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn ở Việt Nam. Các đồng chí từ Thường vụ Tỉnh uỷ đến Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, sĩ quan cấp tướng, bộ trưởng, thứ trưởng sang học ở Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc; các đồng chí cán bộ Tỉnh uỷ, Huyện uỷ sang học Trường Nguyễn Ái Quốc 10.

Đối với đối tượng cán bộ cần bồi dưỡng nâng cao trình độ tại chỗ, Lào mời chuyên gia Việt Nam sang giảng dạy ở Trường Lý luận Trung ương. Trong các hội nghị Trung ương, nhất là các hội nghị bàn về các vấn đề chuyên đề như: cải tiến cơ chế quản lý tài chính, ngân hàng, nông lâm nghiệp, giao thông vận tải, Lào đều mở rộng, biến hội nghị thành một lớp vừa tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, vừa quán triệt nghị quyết.

Việt Nam còn cử nhiều chuyên gia đầu ngành, có kinh nghiệm sang giúp Lào xây dựng chương trình giảng dạy cho Trường Đảng cao cấp của Đảng và Nhà nước Lào. Tính riêng về đào tạo cán bộ giúp Đảng và Nhà nước Lào, từ năm 1977 - 1989, Trường Nguyễn Ái Quốc 10 và Trường Nguyễn Ái Quốc đặc biệt (Việt Nam) đã phối hợp cùng các cơ quan của hai nước đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và chuyên môn cho khoảng 1.000 cán bộ trung, cao cấp; cán bộ các ngành tuyên huấn, tổ chức, kiểm tra; phóng viên; giảng viên Trường Đảng của Lào .

Việt Nam giúp Lào về chuyên gia, cán bộ, công nhân kỹ thuật, đào tạo cán bộ, công nhân cho Lào, giúp Lào tiến lên tự đào tạo một phần. Theo số liệu của Lào thì tính trong sáu năm, từ khi hai nước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, trung bình mỗi năm Việt Nam cử 900 chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau sang giúp Lào và đã đào tạo 1/2 tổng số cán bộ của Lào được đào tạo ở nước ngoài. Thời kỳ 1976 - 1985, Việt Nam cử 5.957 chuyên gia các lĩnh vực giúp Lào .

 Đi đôi với quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước, các bộ, ngành trung ương, giữa các tỉnh Việt Nam với 12 tỉnh và thành phố của Lào cũng có nhiều hình thức hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau phong phú và có hiệu quả.

 Uỷ ban Trung ương Mặt trận, Ban Chấp hành Trung ương Hội của hai nước gồm đại diện của các cơ quan, ban, ngành ở Trung ương và đại diện các địa phương, cơ sở có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đã có nhiều chi hội như Chi hội Cựu chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt - Lào, Chi hội Mỹ thuật Việt - Lào, Chi hội Nghệ sĩ tạo hình Việt - Lào, Chi hội Tuyên - Văn - Giáo - Huấn Việt - Lào, 16 hội ở các tỉnh, thành phố của Nghệ An, Quảng Nam, Hà Nội, Thừa Thiên - Huế, Sơn La, Hải Dương, Cần Thơ, Bắc Giang... Trong đó, mỗi hội địa phương lại thành lập hàng chục chi hội hữu nghị Việt - Lào ở huyện hoặc cơ sở. Có hàng trăm chi hội hoạt động với hàng nghìn hội viên, nhiệm vụ chủ yếu là giới thiệu, thông tin cho các tầng lớp nhân dân hai nước về lịch sử đất nước, con người, nền văn hoá, thành tựu xây dựng và bảo vệ đất nước; làm cầu nối vận động và thúc đẩy các hoạt động hữu nghị và hợp tác, giao lưu kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật một cách có hiệu quả, thiết thực; tổ chức các đoàn hữu nghị, giao lưu trao đổi thông tin với các tổ chức xã hội - kinh tế - văn hoá của hai nước.

Với sự giúp đỡ tận tình, toàn diện của Việt Nam, đặc biệt là với sự nỗ lực phát huy nội lực, tìm tòi sáng tạo, sau 10 năm thắng lợi của cách mạng Lào, Việt Nam đã lần lượt rút hết chuyên gia thường trú, chuyển sang chuyên gia vụ việc ngắn hạn. Điều này chứng minh cho sự trưởng thành vượt bậc của Lào và kết quả sự giúp đỡ của Việt Nam trong những năm đầu thực hiện Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào, trong đó quan trọng là qua thực tiễn Lào đã từng bước tìm tòi, sáng tạo và mạnh dạn thực hiện đường lối đổi mới có nguyên tắc dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào để tiếp tục hoàn thành chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự trưởng thành về mọi mặt của Lào đã thể hiện sự tin cậy của Lào đối với Việt Nam và hiệu quả của mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Lào. Đó chính là kết quả của sự nỗ lực phi thường của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai quốc gia, đưa quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam không những đã vượt qua được các thử thách khó khăn chồng chất sau chiến tranh, mà còn giữ vững, mở rộng và nâng mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam lên một tầm cao mới, phù hợp với thời kỳ mới. Hai nước không chỉ tiếp tục giúp nhau giữ vững được chủ quyền lãnh thổ mỗi nước trong những năm đầu mới giải phóng, mà còn giữ vững được chế độ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, từng bước duy trì ổn định đời sống nhân dân, tìm tòi con đường xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, không lệ thuộc nước ngoài, chuẩn bị tiền đề cho những bước đổi mới tiếp theo. Đó cũng chính là cơ sở lịch sử để tăng cường, củng cố quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới.




-----------------------------------------------------------------
1. Việt Nam giúp Lào làm phim về Đại hội Phụ nữ Lào lần thứ nhất (1984), phim 10 năm nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (thực hiện từ năm 1984), phim về thành tựu 16 năm của cách mạng Lào phát hành vào dịp Quốc khánh lần thứ 10 (ngày 2 tháng 12 năm 1985).

2. Tổng kết giáo dục của Lào đến năm 1985 nhận định về cơ bản đã hoàn thành việc xóa nạn mù chữ, số học sinh, sinh viên các cấp đều tăng, số sinh viên đi du học nước ngoài ngày càng nhiều. Cho đến nay, cứ bốn người thì có một người được vào học, đến cuối năm 1985 Lào có 6.000 cán bộ tốt nghiệp đại học, trung học dạy nghề 22.200 người, con em các dân tộc tốt nghiệp phổ thông cơ sở, trường dạy nghề và đại học ngày càng nhiều.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4767



« Trả lời #95 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2022, 10:55:10 am »

*
*     *

Những thành tựu to lớn đạt được trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước ở Việt Nam và Lào thời kỳ 1976-1986 đánh dấu sự nỗ lực phi thường của cả hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào để vượt qua vô vàn khó khăn, thử thách của đất nước sau 30 năm chiến tranh. Trong đó, trước hết là sự nhận thức sâu sắc của cả hai nước về việc không ngừng tăng cường liên minh và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, coi đó là nhiệm vụ chiến lược sống còn, quy luật tồn tại và phát triển của cách mạng mỗi nước. Việc ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (năm 1977) là bước phát triển có ý nghĩa lịch sử, mang tầm chiến lược, là cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường tình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào một cách bền vững, toàn diện trong giai đoạn mới. Đồng thời, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác là động lực và tạo điều kiện để Lào vươn lên tự lực một cách mạnh mẽ về mọi mặt, cả về mặt tư tưởng, tổ chức cũng như về nhân lực, cơ sở vật chất, tạo tiền đề để bước vào công cuộc đổi mới. Tình đoàn kết hữu nghị và hợp tác giữa hai nước thể hiện nổi bật ở thời kỳ này là việc ký và cùng nhau thực hiện Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia, xây dựng đường biên giới hữu nghị lâu dài giữa hai nước - một văn bản pháp lý nhằm khẳng định chủ quyền lãnh thổ giữa hai nhà nước độc lập có chung đường biên giới và cũng là một sự kiện chính trị lịch sử với nội dung phù hợp với lợi ích trước mắt và lâu dài của nhân dân hai nước. Đây là một biểu hiện tốt đẹp của việc giải quyết lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, hai bên đã từng bước thay đổi cả nội dung và phương thức hợp tác cho phù hợp với tình hình mới. Đây là thời kỳ quan hệ giữa hai nước chuyển dần từ hợp tác vụ việc theo yêu cầu của Lào (trong những năm đầu sau chiến tranh) sang hợp tác theo chương trình, kế hoạch hàng năm giữa hai Chính phủ, gắn với kế hoạch phát triển năm năm và hàng năm của mỗi nước và bước đầu nghiên cứu kế hoạch hợp tác dài hạn giữa hai nước. Quan hệ hợp tác về chính trị được tăng cường, có sự đồng thuận, phối hợp thực hiện về chủ trương, đường lối, gắn bó chặt chẽ, hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước. Quan hệ hợp tác ngoại giao từng bước được mở rộng trong khuôn khổ hợp tác đa chiều, trong đó hợp tác giữa Việt Nam - Lào với Campuchia trở thành nhân tố quan trọng góp phần vào sự ổn định, hoà bình và hợp tác ở Đông Nam Á. Hợp tác quốc phòng, an ninh ngày càng đi vào chiều sâu trên tinh thần đoàn kết liên minh chiến đấu phù hợp với tình hình mới, tập trung giải quyết bồi dưỡng, xây dựng lực lượng của mỗi nước và vấn đề biên giới giữa hai nước, góp phần tích cực bảo đảm quốc phòng, an ninh ổn định cho mỗi nước. Hợp tác giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là một trong những thành tựu đặc biệt, không có nơi nào trên thế giới có được - đó là sự tin cậy lẫn nhau, cùng giúp nhau xây dựng, củng cố nhân tố bên trong hết sức cần thiết cho công cuộc xây dựng và bảo vệ của mỗi nước. Hợp tác kinh tế giữa hai nước trong thời kỳ này đã chuyển dần từng bước từ viện trợ và cho vay là chủ yếu, sang hợp tác sản xuất kinh doanh cùng có lợi, đồng thời giúp nhau phát huy khả năng và tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước để giải quyết những nhu cầu cấp bách về đời sống và sản xuất. Đây là những định hướng phù hợp với điều kiện hai nước trong những năm đầu chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế. Tuy nhiên, quan hệ hợp tác giai đoạn này trên cơ sở tinh thần quốc tế vô sản, với phương thức chủ yếu là viện trợ và cho vay theo cơ chế tập trung bao cấp, chưa tương xứng với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân hai nước và tầm cao của quan hệ chính trị giữa hai Đảng và hai Nhà nước Việt Nam và Lào. Hiệu quả hợp tác thời kỳ này tuy chưa cao, chưa sát thực tế, mang nặng tính bao cấp, tương trợ, giúp đỡ hơn là hợp tác cùng có lợi, nhưng là sự nỗ lực cố gắng theo khả năng có thể cho nhau.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4767



« Trả lời #96 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2022, 11:03:28 am »

Chương VIII
QUAN HỆ ĐOÀN KẾT ĐẶC BIỆT, HỢP TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM
 THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ (1986 - 2007)



I. CỦNG CỐ VÀ TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ HỢP TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 - 1996)


1. Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động đến quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Từ giữa những năm 80 đến đầu những năm 90 thế kỷ XX, thời kỳ Chiến tranh lạnh với tư cách là một cuộc tranh đua, đối đầu về ý thức hệ chính trị, đứng đầu bởi hai siêu cường Liên Xô và Mỹ đã đến hồi kết thúc. Liên Xô và các nước Đông Âu đã không cứu vãn nổi sự trì trệ và bất cập của mô hình phát triển chủ nghĩa xã hội ở các nước này. Từ cuối những năm 80 thế kỷ XX đến tháng 12 năm 1991 đã chứng kiến sự khủng hoảng, tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô, từ đây trật tự quốc tế hai cực không còn cơ sở để tồn tại nữa. Tương quan lực lượng và cơ cấu địa - chính trị toàn cầu hoàn toàn bị đảo lộn. Chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào. Chủ nghĩa tư bản, đứng đầu là Mỹ lợi dụng ưu thế về so sánh lực lượng, đẩy mạnh âm mưu thao túng thế giới trong quỹ đạo của mình.

Trên bình diện an ninh - chính trị, xu thế hoà dịu, đối thoại và hợp tác tỏ ra chiếm ưu thế trong các quan hệ quốc tế. Quá trình toàn cầu hoá được xúc tiến mạnh mẽ, đan xen cùng với quá trình khu vực hoá, hình thành nhiều mối quan hệ hợp tác, liên kết mới trên các lĩnh vực theo xu hướng chú trọng đến các mục tiêu phát triển. Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, thế giới vẫn luôn bị chấn động bởi các cuộc xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo... Chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở khắp nơi.

Cùng với những biến đổi nhạy cảm về an ninh - chính trị, thế giới cũng trở nên sôi động trên bình diện kinh tế. Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ lần thứ ba, nền kinh tế thế giới đạt tốc độ và quy mô thay đổi nhanh chóng chưa từng thấy. Cách mạng khoa học - công nghệ trở thành tác nhân chủ yếu thúc đẩy nhanh chóng quốc tế hoá sản xuất và tư bản, làm xuất hiện những hình thức chuyên môn hoá cao, gắn liền với các hình thức hợp tác đa dạng, vượt qua khuôn khổ biên giới quốc gia dân tộc. Đồng thời, chưa bao giờ kinh tế trở thành yếu tố có tỷ trọng lớn và có ý nghĩa chi phối mạnh các quan hệ quốc tế trên nhiều cấp độ như hiện nay. Để tiếp tục phát triển và giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế thế giới, Mỹ, EU, Nhật Bản... đã quyết định cải cách cơ cấu kinh tế, vốn vẫn dựa vào các ngành công nghiệp tập trung lao động, chuyển sang phát triển các ngành kinh tế tri thức, nhằm khai thác các thành quả của cách mạng khoa học - công nghệ. Do vậy, các trung tâm kinh tế lớn trên đều có nhu cầu chuyển giao những ngành tập trung lao động sang các nước đang phát triển. Ngược lại, các nước đang phát triển với các lợi thế so sánh về giá tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động dồi dào và khả năng tiếp thu công nghệ còn hạn chế, đã xem sự chuyển giao những ngành công nghiệp trên là cơ hội phát triển của mình.

Bước vào thế kỷ XXI, trung tâm kinh tế thế giới đang có sự dịch chuyển từ châu Âu - Đại Tây Dương sang châu Á - Thái Bình Dương. Dưới tác động của toàn cầu hoá, hợp tác về kinh tế để cùng phát triển đã trở thành một xu thế tất yếu khách quan trong nền kinh tế thế giới. Xu thế này tạo cơ hội cho các nước đang phát triển, trong đó có các nước Đông Nam Á, nâng cao vị thế kinh tế của mình trong quan hệ với các nước lớn. Tính chất của mối quan hệ giữa các nước đang phát triển và các cường quốc kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản... đã thay đổi từ quan hệ phụ thuộc sang quan hệ tùy thuộc lẫn nhau.

Vốn từng chịu ảnh hưởng trực tiếp của cuộc đối đầu Đông - Tây, khi Chiến tranh lạnh kết thúc, vị trí chiến lược của Đông Nam Á cũng có những thay đổi nhất định. Cùng với thắng lợi vẻ vang của quân và dân Lào chống lại hai cuộc xung đột vũ trang lấn chiếm biên giới tại Xaynhabuli; quyết định thiện chí của Việt Nam hoàn thành rút hết quân khỏi Campuchia vào ngày 26 tháng 9 năm 1989; cũng như những hoạt động phối hợp ngoại giao bền bỉ và tích cực giữa các nước Đông Dương với các nước Đông Nam Á trong việc tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia, buộc chính giới Thái Lan phải cam kết tôn trọng chủ quyền của Lào và chuyển hướng chiến lược nhằm “biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường”. Trong khi lợi ích chiến lược bị suy giảm ở Đông Nam Á, Mỹ vẫn tiếp tục gây sức ép và thực hiện chính sách bao vây cấm vận với các nước Đông Dương kể từ năm 1975. Hành động này của Mỹ khiến Việt Nam không thể tiếp cận được các nguồn lực bên ngoài và khai thác làn sóng đầu tư từ Đông Á đang tràn vào Đông Nam Á 1. Trung Quốc là nước xã hội chủ nghĩa lớn nhất châu Á đang trỗi dậy thành công như một công xưởng của nền kinh tế thế giới bằng chính sách mở cửa với bên ngoài. Trên tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai,” Trung Quốc và Việt Nam đang nỗ lực giảm căng thẳng, tiến tới bình thường hoá và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhau.

Nhờ những thuận lợi trong môi trường kinh tế thế giới, sự giúp đỡ của các nước lớn và nhất là bản thân những nỗ lực của chính phủ và nhân dân các nước ASEAN, khi bước vào thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia, Philíppin đã tiến sát trình độ của một nước công nghiệp hoá mới (NICs). Mặt khác, vị trí của Đông Nam Á trong chính sách của các nước lớn đã hoàn toàn thay đổi, những ưu đãi mà các nước lớn dành cho các nước Đông Nam Á đã giảm mạnh, thậm chí không còn nữa. Vì thế, các nước Đông Nam Á đứng trước nhiều khó khăn hơn trong quá trình phát triển kinh tế. Tuy việc tiếp cận với các nguồn lực bên ngoài có vẻ dễ dàng hơn dưới tác động của toàn cầu hoá, nhưng trong thực tế, các quốc gia ở khu vực này lại không mấy dễ tiếp cận được với FDI, thị trường và kỹ năng quản lý.

Về phía các nước ASEAN, nguyên nhân chính là do các nước này đã mất các lợi thế so sánh trong các ngành công nghiệp tập trung lao động, nhưng lại chưa tạo ra được những lợi thế trong các ngành tập trung tư bản. Vì thế, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu tìm cách chuyển vốn đầu tư sang Trung Quốc, Ấn Độ hoặc sang các thị trường Âu, Mỹ, nơi có thể giúp vốn đầu tư của họ sinh lời nhiều hơn, nhanh hơn. Về phía các nước Đông Dương, nguyên nhân chủ yếu là do chính sách cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam, hoặc do mức độ chưa sẵn sàng đối với đầu tư nước ngoài của Lào, Campuchia và Mianma.

 Như vậy, khi các nước lớn điều chỉnh quan hệ với nhau trong khu vực và điều chỉnh chính sách đối với Đông Nam Á, các nước ASEAN và các nước Đông Dương đã có thể cùng tồn tại hoà bình với nhau. Trong bối cảnh khu vực trên, các mong muốn hợp tác giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Á vì hoà bình, an ninh và phát triển đã có cơ hội hồi sinh. Việc Trung Quốc, Nga xích lại gần ASEAN; Nhật Bản, EU hợp tác với Đông Dương cho thấy sự trùng hợp lợi ích giữa Đông Nam Á và các nước lớn trong việc thúc đẩy hợp tác khu vực ở Đông Nam Á.

Một sự kiện quan trọng đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình hội nhập khu vực Đông Nam Á là việc Hội nghị thường niên của Ngoại trưởng ASEAN tổ chức tại Brunây tháng 7 năm 1995 tuyên bố tiếp nhận Việt Nam chính thức là thành viên thứ bảy của Hiệp hội. Sự kiện trọng đại này không những đánh dấu kết thúc sự đối đầu ý thức hệ tư tưởng chính trị - quân sự giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Á là ASEAN và ba nước Đông Dương, mà còn mở ra trang sử mới của ASEAN với tư cách là tổ chức của tất cả 10 nước trong khu vực.

Trong không khí hội nhập và cởi mở của khu vực, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ V tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) trong hai ngày 14 và 15 tháng 12 năm 1995 đã thông qua hai văn kiện quan trọng là Tuyên bố Hội nghị Thượng đỉnh Băng Cốc và Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ). Điều đáng lưu ý là Tuyên bố này chú trọng đến hợp tác giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông và hiện thực hoá Hiệp ước Khu vực hoà bình, tự do và trung lập (ZOPFAN). Lần đầu tiên trong lịch sử của mình, Hiệp hội kêu gọi các nước nằm ngoài khu vực Đông Nam Á tham gia ký Hiệp định Bali 1976 về thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á. Về kinh tế, Tuyên bố Băng Cốc nhấn mạnh đến việc khẩn trương thực hiện Hiệp định về thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) được ký từ năm 1992, để tiến trình AFTA nhanh trở thành hiện thực 2, đồng thời đưa ra lộ trình thực hiện các hợp tác chuyên ngành. Về quan hệ đối ngoại, Tuyên bố Băng Cốc tiếp tục khẳng định chính sách mở cửa, hợp tác và hội nhập quốc tế của ASEAN trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi.

Bối cảnh quốc tế và khu vực thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh vận động hết sức phức tạp và nhanh chóng đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Một mặt, nó mở ra những cơ hội và điều kiện thuận lợi chưa từng có để thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiếp tục phát triển; mặt khác, nó cũng đặt ra không ít những thách thức, khó khăn đối với quan hệ hai nước trong thời gian này.

Thuận lợi cơ bản nhất đối với việc củng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là hai nước có nhiều lợi ích chiến lược và thể chế chính trị - xã hội tương đồng. Hai nước gắn bó chặt chẽ với nhau về chính trị; hợp tác mật thiết, với độ tin cậy cao trên lĩnh vực an ninh, quốc phòng; chi viện rất to lớn giúp nhau bảo vệ và giữ vững an ninh chính trị, an toàn và trật tự xã hội, quản lý đường biên giới. Cả Việt Nam và Lào đều coi nhau thuộc ưu tiên số một trong chính sách đối ngoại của mỗi nước. Quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước được triển khai đều khắp, ngày càng sâu rộng và khăng khít trên cả ba kênh Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, từ Trung ương tới các địa phương, nhất là các địa phương có chung biên giới. Hai nước luôn luôn coi trọng, dành ưu tiên cho nhau và đang tìm cách khắc phục mọi khó khăn, yếu kém trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư. Đây chính là yếu tố tiên quyết, là lợi thế riêng cho việc triển khai toàn diện quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước.

Dựa vào Hiệp ước hữu nghị và hợp tác (ngày 18 tháng 7 năm 1977), hằng năm, Chính phủ hai nước đều ký Hiệp định hợp tác kinh tế, làm cơ sở pháp lý cho các ngành và địa phương hai nước triển khai thực hiện hợp tác trong từng lĩnh vực. Trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế, hai nước không những phải đối mặt với những vấn đề bao trùm mang tính toàn cầu trong bối cảnh khu vực hoá và quốc tế hoá, mà còn phải vượt qua những cạnh tranh, thách thức từ các nước láng giềng có quan hệ gắn bó với Lào và Việt Nam, từ các chương trình hợp tác đa phương mà cả Việt Nam và Lào đều là thành viên.

Tuy nhiên, các thách thức đến từ bên trong đối với quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam nhiều khi còn lớn hơn, khó giải quyết hơn các thách thức đến từ bên ngoài. Bởi vì đây là những khó khăn, thách thức mang tính chất chủ quan, bắt nguồn từ hạ tầng cơ sở, trình độ và cơ chế của nền kinh tế hai nước. Trước hết, khó khăn, thách thức có tính chất bao trùm và cơ bản là Việt Nam và Lào vừa mới bắt tay xây dựng lại đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cả hai nước đều đứng trong danh sách những nước nghèo nhất thế giới, lực lượng sản xuất chưa phát triển, hạ tầng cơ sở rất yếu kém, vốn đầu tư sản xuất và kinh doanh đều thiếu nghiêm trọng, trình độ khoa học - kỹ thuật và công nghệ còn rất thấp.

Trước lúc hội nhập được với khu vực và thế giới, Việt Nam và Lào đã trải qua 15 năm bị bao vây, cô lập (1975 - 1990) do Mỹ đứng đầu, luôn phải đối phó với thù trong và giặc ngoài. Trong khi đó, mô hình chủ nghĩa xã hội của các nước nguyên là xã hội chủ nghĩa được áp dụng vào hai nước một cách máy móc; nội dung của nó lại không công nhận sản xuất hàng hoá và thị trường, coi kế hoạch là biểu tượng quan trọng nhất của kinh tế xã hội chủ nghĩa. Việc phân phối mọi nguồn lực lao động theo kế hoạch là chính, coi thị trường chỉ là công cụ bổ trợ cho kế hoạch. Muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế không phải của chủ nghĩa xã hội, coi kinh tế nhà nước và tập thể là chủ đạo, muốn xoá bỏ ngay sở hữu tư nhân. Xây dựng kinh tế kiểu đóng cửa, theo hướng phục vụ trong nước là chủ yếu bằng cách dựa vào thế mạnh về lao động, tài nguyên, đất đai và sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa đi trước. Tiến hành chế độ phân phối sản phẩm theo lao động trừu tượng, nhưng trên thực tế là chia theo kiểu bình quân, không quan tâm tới các lợi ích cá nhân. Thực hiện chế độ bao cấp tràn lan, gây tâm lý ỷ lại, trông chờ vào nhà nước, không phát huy được tính chịu thương, chịu khó và sáng kiến của người lao động.

Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dũng cảm thừa nhận những sai lầm chủ quan “là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện3.
 
Đồng thời với Việt Nam, Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã phê phán nghiêm khắc và tìm cách khắc phục những tư tưởng nóng vội, chủ quan duy ý chí trong Đảng, kiên quyết thay đổi bằng tư duy mới. Nền tảng của tư duy mới này là phải xây dựng xã hội về mọi mặt, chứ không phải chỉ chú ý xây dựng quan hệ sản xuất; cải biến xã hội cũ lạc hậu thành xã hội mới, chứ không phải xoá sạch xã hội cũ, xây dựng xã hội mới thuần khiết. Đi từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá nhỏ, nước Lào phải chấp nhận xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần bao gồm: thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế tư bản nhà nước, thành phần kinh tế tư bản tư nhân, thành phần kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ, thành phần kinh tế tự nhiên. Trong đó, các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa vẫn còn phát huy tác dụng trong một thời gian dài nữa.

Việc thay đổi mô hình kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp ở Việt Nam và Lào là một yêu cầu cấp bách đặt ra với cả hai nước. Do thiếu khuyến khích lợi ích vật chất đối với người lao động, chậm đổi mới về khoa học - công nghệ, trình độ quản lý và năng lực điều hành sản xuất kém, dẫn đến năng suất lao động xã hội của Việt Nam và Lào đều rất thấp. Hơn nữa, khi Liên Xô và Đông Âu khủng hoảng và sụp đổ, Việt Nam và Lào đã mất đi các nguồn lực quan trọng. Các nguyên nhân chủ quan và khách quan trên đã dẫn đến sản xuất xã hội ở hai nước bị đình trệ, đời sống của nhân dân không được cải thiện, cả Việt Nam và Lào đều đứng trước tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng.

Đây là lúc quá trình hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam bộc lộ tình trạng trì trệ, yếu kém, đòi hỏi phải đổi mới tư duy, đổi mới cơ chế, phương châm, phương thức hợp tác thì mới có thể tiếp tục tiến lên được. Hơn nữa, trong thời kỳ quá độ hình thành trật tự thế giới mới, các nước đều có lợi ích đan xen và phụ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, việc lựa chọn nội dung hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Lào sao cho phù hợp, có hiệu quả và không chồng chéo với các chương trình hợp tác của các nước khác và mang dấu ấn của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là vấn đề đòi hỏi phải cân nhắc kỹ lưỡng, nhất là trong điều kiện cả Việt Nam và Lào đều đang gặp khó khăn lớn về vốn và công nghệ.

Trong khi Việt Nam và Lào bắt tay vào công cuộc đổi mới, các thế lực phản động, thù địch trong và ngoài nước đã ra sức lợi dụng sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, tăng cường gây sức ép, áp đặt điều kiện, thậm chí can thiệp vào công việc nội bộ của hai nước. Mưu đồ của chúng là theo đuổi chiến lược “diễn biến hoà bình” nhằm thay đổi thể chế chính trị, ngăn cản khả năng của Việt Nam và Lào huy động mọi nguồn lực ở trong và ngoài nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Đồng thời, chúng ráo riết chia rẽ và phá hoại mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, tạo sự bất ổn định ở mỗi nước để dễ bề thâu tóm, khống chế. Thực tế chỉ rõ: Việt Nam có hòa bình, ổn định thì Lào mới có hòa bình, ổn định, và ngược lại, Lào có hoà bình, ổn định thì Việt Nam mới có hòa bình, ổn định vững chắc. Vì thế, việc bảo vệ và phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam luôn là hai mặt sống còn của một vấn đề, đòi hỏi hai nước phải kiên định quán triệt trong nhận thức và hành động của mình.




-------------------------------------------------------------------
1. Tới tháng 1 năm 1994, Tổng thống Mỹ Bill Clinton mới gỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế và thương mại đối với Việt Nam.

2. Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ V này, các nhà lãnh đạo ASEAN đã quyết định đẩy nhanh tiến trình AFTA để có thể hoàn tất trước năm 2003, tức là rút ngắn thời hạn lại chỉ còn 10 năm, riêng các thành viên mới như Việt Nam được gia hạn đến năm 2006, Lào đến năm 2008.

3. Báo cáo chính trị do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa V), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước trình bày ngày 15 tháng 12 năm 1986 tại Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.47, tr.360.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4767



« Trả lời #97 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2022, 10:20:40 am »

2. Đường lối và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào về đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới (1986 - 1996)

Từ ngày 15 đến 18 tháng 12 năm 1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định tiến hành công cuộc đổi mới một cách toàn diện từ kinh tế, chính trị đến văn hoá - xã hội, khoa học - kỹ thuật, đối ngoại và an ninh - quốc phòng. Báo cáo chính trị do Tổng Bí thư Trường Chinh đọc tại Đại hội đã xác định nhiệm vụ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông; tăng cường hoạt động trên lĩnh vực đối ngoại là những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Về quan hệ hợp tác với Lào và Campuchia, Báo cáo chính trị chỉ rõ: “Chúng ta đặc biệt chú trọng phát triển quan hệ hợp tác kinh tế, văn hoá giữa nước ta và hai nước láng giềng anh em Lào, Campuchia, nhằm khai thác khả năng của mỗi nước bổ sung cho nhau, làm cho mỗi nước và ba nước ngày càng phát triển và vững mạnh. Căn cứ vào mục tiêu chiến lược của mỗi đảng, phối hợp xây dựng các chương trình hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, tiến tới có sự liên kết kinh tế theo một chiến lược chung. Việc hợp tác kinh tế giữa ba nước phải theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, có ưu tiên ưu đãi cho nhau, và phải có những chính sách, phương thức thích hợp, bảo đảm hiệu quả thiết thực”.

Trong hai ngày từ 9 đến 10 tháng 5 năm 1987, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã tổ chức cuộc hội đàm theo truyền thống hàng năm, đánh dấu giai đoạn mới của mối quan hệ đặc biệt, liên minh, hợp tác toàn diện giữa Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào kể từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội lần thứ IV của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Ngay sau đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 3 tháng 7 năm 1987 xác định rõ thêm một số quan điểm và nguyên tắc lớn chỉ đạo mối quan hệ giữa hai nước và ba nước Đông Dương. Cụ thể là:

“1. Liên minh trên bán đảo Đông Dương là liên minh chiến lược, toàn diện, có ý nghĩa sống còn. Hợp tác kinh tế, văn hoá ngày càng có vị trí quan trọng, tạo cơ sở vật chất cho liên minh và hợp tác toàn diện giữa các bên, nhằm phát huy mạnh mẽ tiềm năng và thế mạnh kinh tế của mỗi nước và của ba nước, khai thác tốt nhất lao động, đất đai, tài nguyên và năng lực sản xuất hiện có bằng những hình thức hợp tác thích hợp. Đồng thời, coi trọng tranh thủ sự hợp tác chặt chẽ và sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em.

2. Trong hợp tác kinh tế, văn hoá... cần chuyển mạnh từ giúp đỡ, viện trợ và cho vay là chủ yếu sang hợp tác sản xuất, kinh doanh theo phương châm hai bên cùng có lợi, coi đó là hướng hợp tác cơ bản, lâu dài, tạo tiền đề và điều kiện tiến tới phân công lao động, chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất, phối hợp kế hoạch kinh tế quốc dân, phối hợp chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

3. Trong quan hệ tay đôi, phải lấy nâng cao chất lượng và hiệu quả làm phương châm chỉ đạo chủ yếu cho mọi hoạt động hợp tác...

4. Quan hệ giữa các bên là quan hệ giữa những quốc gia độc lập, có chủ quyền... Phải thể hiện được tinh thần bình đẳng, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, đồng thời phải bảo đảm lợi ích cơ bản và lâu dài của liên minh”.

Ở Lào, sau hàng loạt tìm tòi, thử nghiệm, được thực tiễn và lý luận cách mạng kiểm chứng, như xoá bỏ hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình, mở thêm chợ, khuyến khích phát triển kinh tế hàng hoá... để phá vỡ kinh tế tự nhiên và bán tự nhiên, Đại hội lần thứ IV của Đảng Nhân dân cách mạng Lào được tiến hành gần như đồng thời với Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, họp từ ngày 13 đến 15 tháng 11 năm 1986 tại Thủ đô Viêng Chăn. Báo cáo chính trị, do Tổng Bí thư Cayxỏn Phômvihản trình bày tại Đại hội IV, khẳng định: “chính tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của thời kỳ quá độ ở nước ta đòi hỏi Đảng ta phải phân chia thời kỳ quá độ ra nhiều thời đoạn, và phải vạch ra phương hướng, nhiệm vụ cho từng thời đoạn cụ thể phù hợp với đặc điểm mỗi thời đoạn” . Công cuộc đổi mới toàn diện có nguyên tắc ở nước Lào do Đảng Nhân dân cách mạng Lào khởi xướng được xác định trước hết là việc đổi mới về kinh tế, bằng việc thực hiện cơ chế kinh tế mới, nhằm thoát khỏi kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, chuyển hẳn sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Nhận thức sâu sắc công cuộc đổi mới toàn diện ở Lào có mối quan hệ hữu cơ thúc đẩy lẫn nhau với công cuộc đổi mới ở Việt Nam và cách mạng Campuchia, Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào ra chỉ thị số 24/BBT ngày 20 tháng 5 năm 1987, khẳng định: “Xuất phát từ truyền thống lịch sử và tình hình, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng ba nước, sự tăng cường liên minh hợp tác toàn diện giữa ba Đảng, ba nước Lào - Việt Nam - Campuchia mới trở thành nhiệm vụ chiến lược số một, là nguyên tắc cách mạng bất di bất dịch của mỗi nước, là vấn đề sống còn của mỗi nước”. Đặc biệt, Chỉ thị yêu cầu các cấp, các ngành và các địa phương phải quán triệt và nắm chắc hai quan điểm chính ở trong mọi hoạt động hợp tác liên minh với Việt Nam:

“a) Độc lập tự chủ của mỗi nước phải gắn chặt với việc liên minh, đó là hai mặt của một vấn đề có tính nguyên tắc. Độc lập tự chủ càng cao bao nhiêu, việc liên minh càng vững chắc bấy nhiêu...

b) Nâng cao hiệu quả và chất lượng của mọi sự hợp tác, liên minh là phương châm trong mọi chỉ đạo hoạt động ở mọi lĩnh vực hợp tác liên minh. Nhất là trong lĩnh vực hợp tác kinh tế...” .

Về phần mình, thực hiện thoả thuận cấp cao giữa hai Đảng, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Quyết định số 35-QĐ/TW ngày 30 tháng 12 năm 1987, trong đó quy định: “Hợp tác, giúp đỡ nhau về chính trị, văn hoá, an ninh, quốc phòng, xây dựng Đảng là hoàn toàn tự nguyện, trên cơ sở nhất trí thoả thuận giữa Đảng với Đảng”.

Trong thực tế, cuối những năm 80 của thế kỷ trước là thời điểm khó khăn nhất do Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lâm vào khủng hoảng tan rã, Việt Nam và Lào bị mất nguồn viện trợ chủ yếu. Hai nước lại vừa mới mở cửa, vì thế chịu không ít tác động tiêu cực của kinh tế thị trường. Việc triển khai hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã có lúc, có nơi, gặp không ít khó khăn, sóng gió, thậm chí thiếu hiệu quả bởi trình độ nhận thức của một bộ phận nhỏ cán bộ và nhân dân không đầy đủ, thậm chí có biểu hiện dao động về tính chất của mối quan hệ đặc biệt. Song những biểu hiện lệch lạc trên chỉ mang tính cục bộ, nhất thời và đã được hai Trung ương Đảng cũng như đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân hai nước uốn nắn, sửa chữa kịp thời. Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào ngày 20 tháng 5 năm 1987 ghi rõ: “hai bên nhất trí phải tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ quan hệ đoàn kết sống còn và lâu dài, quán triệt quan điểm, phương châm nguyên tắc của mối quan hệ trong giai đoạn cách mạng mới, uốn nắn tư tưởng và tác phong làm việc mới, tránh những bảo thủ, chủ quan, chống mọi hiện tượng lơ là mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm, chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi” . Trong hoạt động thực tiễn, từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở, việc bảo vệ quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam được xem là một trong những tiêu chuẩn rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân Lào. Từ những trải nghiệm thực tiễn, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào lần thứ 8 (khóa IV) tháng 12 năm 1989 đã đúc kết thành sáu nguyên tắc cơ bản có giá trị chỉ đạo toàn bộ công cuộc đổi mới ở Lào 1.

Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cũng ra Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 3 tháng 7 năm 1987, nhấn mạnh: “Trên cơ sở quán triệt đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, các Nghị quyết 10 và 11 của Bộ Chính trị về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia và nội dung thoả thuận trong các cuộc hội đàm lần này, các bộ, ban, ngành và các tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ hợp tác với bạn cần kiểm điểm, rút kinh nghiệm, kiên quyết xử lý và có biện pháp chấm dứt các hiện tượng tiêu cực, các quan điểm, nhận thức và hành động sai trái gây phương hại cho quan hệ đặc biệt giữa ta với Lào” .

Từ ngày 24 đến 27 tháng 6 năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành Đại hội VII, tổng kết năm năm đổi mới, thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chỉ ra phương hướng tiến hành công cuộc đổi mới sâu rộng và đồng bộ.

Cùng với việc xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 của Việt Nam, căn cứ vào thoả thuận giữa Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào tháng 10 năm 1991 và thực hiện Hiệp định hợp tác giữa hai Chính phủ ký ngày 15 tháng 2 năm 1992, Ủy ban Kế hoạch nhà nước Việt Nam và Ủy ban Kế hoạch và Hợp tác Lào cùng phối hợp đề ra Chiến lược hợp tác về kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật giữa Việt Nam và Lào. Chiến lược này là cơ sở để hai bên phối hợp xây dựng và quyết định các chương trình và dự án kế hoạch hợp tác trong thời gian tiếp theo.

Do có đường lối đổi mới đúng đắn nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến 1996 đã đạt được những thành tựu to lớn; vượt qua khủng hoảng, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, và bước vào giai đoạn phát triển ổn định. GDP thời kỳ 1991 - 1995 đạt trung bình 8,2%/năm (mức đề ra cho năm năm 1991 - 1995 là 5,5-6%), lạm phát đã được ngăn chặn, từ 74,7%/năm giảm xuống còn 67,4% năm 1990, 67% năm 1991, 17,5% năm 1992, 5,2% năm 1993, 12,7% năm 1995 và luôn giữ ở mức dưới 10% những năm sau. Kể từ năm 1996 trở đi, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện rõ rệt.

Kế hoạch năm năm lần thứ hai (1986 - 1990) ở Lào là giai đoạn áp dụng cơ chế kinh tế mới, sử dụng quan hệ hàng hoá tiền tệ, sử dụng cơ chế thị trường, thực hiện chế độ một giá, từ chỗ quen tiến hành sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh, theo cơ chế bao cấp chuyển sang tự chủ về tài chính và kế hoạch sản xuất. Bất chấp việc chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào, Đại hội V của Đảng Nhân dân cách mạng Lào họp từ ngày 27 đến 29 tháng 3 năm 1991 khẳng định lại tính chất và giai đoạn của cách mạng Lào hiện nay: “đang ở trong giai đoạn tiếp tục xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tạo ra các tiền đề để từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội” . Bước vào kế hoạch năm năm lần thứ ba (1991 - 1995), Đại hội V Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã xác định xây dựng cơ cấu nông nghiệp - lâm nghiệp gắn với công nghiệp và dịch vụ bắt đầu từ cơ sở, nhằm phát triển sản xuất hàng hoá, tạo bước chuyển mới rõ rệt về kinh tế bằng hình thức huy động vốn trong nước, làm cho nền tài chính quốc gia vững chắc và tiến tới tự chủ. Đồng thời mở rộng hợp tác với nước ngoài, đề ra chính sách thích hợp nhằm thu hút đầu tư với nước ngoài để xây dựng công nghiệp với quy mô vừa và lớn như điện lực, nhiên liệu, khai khoáng, v.v..

Đại hội lần này đặc biệt coi trọng việc đổi mới hệ thống chính trị: “Việc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta không có nghĩa là thay đổi chế độ chính trị hiện nay bằng một chế độ chính trị khác mà là củng cố về mặt tổ chức của hệ thống chính trị dân chủ nhân dân và đổi mới phương thức hoạt động của nó trên cơ sở quy định chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức cho rõ ràng” . Sự kiện chính trị lớn sau Đại hội V là ngày 14 tháng 8 năm 1991, Hội đồng Nhân dân tối cao Lào khoá II (nhiệm kỳ 1989 - 1991) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên 2, chấm dứt thời kỳ 17 năm liền (1975 - 1991), mọi hoạt động quản lý, điều hành ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào không có hiến pháp, mà chủ yếu thông qua các chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Và Quốc hội Lào khoá III thay thế cho Hội đồng Nhân dân tối cao khoá II, chính thức ra mắt tại phiên họp đầu tiên từ ngày 20 đến 25 tháng 2 năm 1993.

Ngày 18 tháng 2 năm 1993, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào khoá V khai mạc Hội nghị toàn thể lần thứ sáu nhằm tổng kết về những thành công ban đầu, những hạn chế, tồn tại của công cuộc đổi mới. Lần đầu tiên Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ chung, mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội dài hạn của cả nước từ năm 1993 đến 2000. Ngày 8 tháng 5 năm 1993, Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa V đã ra Nghị quyết số 21 về chuyển đổi quản lý kinh tế, từ phân cấp quản lý (trung ương, địa phương, cơ sở) thành quản lý theo hệ thống tập trung, phân công trách nhiệm theo ngành (hệ thống tập trung phân quyền). Đồng thời, về phía Chính phủ cũng chuyển sang có kế hoạch dài hạn từ năm 1993 đến 2000, với ưu tiên cho tám chương trình lớn 3.

Như vậy, Đại hội IV của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam trong năm 1986 đã đồng loạt tạo ra bước ngoặt lịch sử ở hai nước Lào và Việt Nam. Chỉ trong vòng hai kế hoạch năm năm 1986 - 1990 và 1991 - 1995, với đường lối đổi mới toàn diện, bắt đầu bằng đổi mới về kinh tế, Việt Nam và Lào đã thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững và tạo được thế ổn định. Tuy nhiên, sau 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới (1986 - 1996), Việt Nam đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá thì Lào mới bắt đầu bước vào chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ với mục tiêu đưa đất nước mau chóng thoát nghèo (mục tiêu là năm 2015), ra khỏi tình trạng kém phát triển (mục tiêu là năm 2020) và chuẩn bị những nhân tố cơ bản để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Sự phát triển không đồng đều về quy mô và trình độ của lực lượng sản xuất của hai đất nước cũng như của các vùng miền là một đặc điểm lớn cần được tính đến trong các chiến lược và kế hoạch phát triển quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.




-------------------------------------------------------------------
1. Đó là các nguyên tắc sau: “Nguyên tắc thứ nhất: Kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, nắm vững tính chất của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới.

Nguyên tắc thứ hai: Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo mọi sự nghiệp của nhân dân ta.

Nguyên tắc thứ ba: Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Nguyên tắc thứ tư: Nâng cao và phát huy dân chủ trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy dân làm gốc dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nguyên tắc thứ năm: Tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính dân chủ nhân dân.

Nguyên tắc thứ sáu: Kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản và quốc tế xã hội chủ nghĩa. Kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại.” (Xem: Ban Chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào: Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.238 - 239).

2. Ngày 15 tháng 8 năm 1991, Chủ tịch nước Cayxỏn Phômvihản đã chính thức ký sắc lệnh ban bố Hiến pháp đầu tiên này. Đến năm 2003, nước Lào lại thông qua Hiến pháp sửa đổi.

3. Đó là: chương trình sản xuất lương thực; chương trình sản xuất hàng hoá; chương trình chấm dứt phá rừng làm rẫy; chương trình phát triển nông thôn; chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng; chương trình quan hệ kinh tế đối ngoại; chương trình phát triển nguồn nhân lực; chương trình khuyến khích phát triển dịch vụ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4767



« Trả lời #98 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2022, 04:05:58 pm »

3. Quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam giai đoạn 1986 - 1996

a) Hợp tác trong lĩnh vực chính trị và đối ngoại

Có thể thấy những hoạt động chính trị, ngoại giao của Việt Nam và Lào trong giai đoạn cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 thế kỷ XX đã góp phần giúp cách mạng hai nước từng bước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, khẳng định vị trí của hai nước trong khu vực và trên thế giới. Quan hệ Việt Nam - Lào - Campuchia và Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam không ngừng được củng cố và phát triển. Những sáng kiến hoà bình của các hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Đông Dương đều phản ánh một lập trường chung, đó là kiên quyết đòi loại trừ bọn phản động Pôn Pốt và việc tuyên bố về thời hạn rút quân đội Việt Nam ra khỏi Campuchia 1. Ngày 20 tháng 5 năm 1988, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết số 13, chủ trương giải quyết vấn đề Campuchia trước năm 1990.

Tích cực góp phần vào việc giải quyết mặt quốc tế của vấn đề Campuchia, tháng 7 năm 1988, tại Inđônêxia, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã tham dự cuộc gặp gỡ không chính thức Giacácta (JIM) và chủ động đưa ra đề nghị bảy điểm về những nguyên tắc chỉ đạo quan hệ giữa các nước Đông Nam Á, làm cho lập trường của các nước ASEAN và các nước Đông Dương thêm một bước xích lại gần nhau, được dư luận thế giới ủng hộ, đánh giá cao.

Một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào giữa lúc chủ nghĩa xã hội thế giới xuất hiện những dấu hiệu khủng hoảng trầm trọng là chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu, từ ngày 2 đến 4 tháng 7 năm 1989. Đây là chuyến thăm Lào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đại hội IV Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Có thể nói, quan hệ hợp tác chính trị là điều kiện tiên quyết, mở đường cho việc phát triển quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Thành tựu nổi bật nhất của quan hệ hợp tác chính trị Việt Nam - Lào, hay có thể nói là thành tựu của mọi thành tựu trong giai đoạn này, đó là hai nước chúng ta vẫn giữ được định hướng chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Trong những năm qua, hai bên tiếp tục tăng cường mối quan hệ hợp tác trên lĩnh vực chính trị, duy trì cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị, như một cơ chế hoạt động chính thức.

Đánh giá công lao đóng góp của các nhà lãnh đạo Việt Nam trong việc vun đắp và phát triển không ngừng mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Đảng và Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã quyết định trao tặng Huân chương Vàng quốc gia cho các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Đỗ Mười, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Viêng Chăn vào ngày 2 tháng 7 năm 1989.

Cùng với việc xúc tiến quá trình bình thường hoá quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Đông Dương từ cuối thập niên 1980, những hoạt động phối hợp ngoại giao giữa Việt Nam, Lào và Campuchia, kết hợp với những nỗ lực lớn của cộng đồng quốc tế đi đến ký kết Hiệp định Pari về Campuchia ngày 23 tháng 10 năm 1991, tiếp đó là sự kiện sụp đổ của Liên Xô vào tháng 12 năm 1991, đều là những tác nhân lớn góp phần làm cho các nước ASEAN thay đổi nhận thức và hành động về môi trường an ninh khu vực.

Đến tham dự Đại hội lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam (từ ngày 24 đến 27 tháng 6 năm 1991) trên cương vị Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, đồng chí Cayxỏn Phômvihản đặc biệt nhấn mạnh tới việc phát triển quan hệ hợp tác giữa hai Đảng trong điều kiện lịch sử mới: “Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào cùng sinh ra từ một cội nguồn, cùng chung mục tiêu, lý tưởng. Tuy mỗi Đảng có phương pháp và bước đi khác nhau do đặc điểm của mỗi nước, nhưng giữa hai Đảng chúng ta luôn luôn có sự phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau rất chặt chẽ, hài hoà, luôn luôn trao đổi, bổ sung kinh nghiệm cho nhau, giúp cho hai Đảng chúng ta ngày càng trưởng thành, vững mạnh và không ngừng nâng cao khả năng lãnh đạo của mỗi Đảng ngang tầm với các giai đoạn cách mạng”.

Ngay sau Đại hội Đảng Nhân dân cách mạng Lào lần thứ V, theo truyền thống quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, ngày 10 tháng 10 năm 1991, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào Cayxỏn Phômvihản đã chọn Việt Nam là nước đầu tiên để sang thăm chính thức. Nhân dịp này, hai bên khẳng định quyết tâm trước sau như một tăng cường củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, định kỳ trao đổi cấp Thứ trưởng Ngoại giao giữa hai nước nhằm phối hợp chặt chẽ những hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốc tế. Sự kiện Liên Xô tan rã vào tháng 12 năm 1991 đã tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hoạt động đối ngoại của cả hai nước, đòi hỏi Việt Nam và Lào phải bổ sung và hoàn chỉnh chính sách đối ngoại trong tình hình mới.

Hội nghị Trung ương lần thứ ba khoá VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6 năm 1992) xác định bốn phương châm trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam, trong đó nổi bật phương châm đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; tích cực tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước2.  Từ đây, Việt Nam đã xác lập vị thế mới trong hệ thống quan hệ quốc tế, một bước chuẩn bị căn bản để gia nhập ASEAN sau đó.

Nhờ có sự phối hợp và điều chỉnh chiến lược đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, quan hệ ngoại giao của Việt Nam và Lào với các nước trong và ngoài ASEAN đều được cải thiện vững chắc. Đặc biệt, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ IV họp tại Xingapo ngày 17 tháng 1 năm 1992, các nước ASEAN đã mời Việt Nam và Lào tham gia ký Hiệp ước Bali, mở đường cho Việt Nam và Lào tham gia các hội nghị của ASEAN với tư cách là quan sát viên và chính thức gia nhập Hiệp hội ASEAN sau đó.

Sự kiện quan trọng - Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội ASEAN ngày 28 tháng 7 năm 1995, và hai năm sau, ngày 23 tháng 7 năm 1997, Lào cũng chính thức gia nhập ASEAN - đánh dấu sự hội nhập hoàn toàn của Việt Nam và Lào với các nước trong khu vực. Đúng như tuyên bố của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 6 năm 1991, khẳng định: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.

Năm 1992 là năm đột phá trong hoạt động đối ngoại của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào với các nước láng giềng. Những chuyến thăm của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Lào đến Thái Lan, Trung Quốc đã mở ra một bước phát triển mới nhằm củng cố các mối quan hệ và tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Ngay từ đầu năm, từ ngày 13 đến 15 tháng 2 năm 1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt đã đến thăm hữu nghị chính thức Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào để ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật giai đoạn 1992 - 1995 và năm 1992. Từ ngày 12 đến 16 tháng 8 năm 1992, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười cũng đi thăm hữu nghị chính thức Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Tại cuộc hội đàm, Tuyên bố chung cấp cao Việt Nam - Lào khẳng định: “quyết tâm phấn đấu không mệt mỏi nhằm củng cố và tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị và đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào; tiếp tục đổi mới phương thức hợp tác nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thiết thực, phù hợp với khả năng của mỗi nước theo các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, bình đẳng cùng có lợi, chân thành giúp đỡ lẫn nhau trên tình đồng chí, anh em. Điều đó phù hợp với đường lối đổi mới của hai Đảng, đáp ứng lợi ích căn bản và lâu dài của nhân dân hai nước, phù hợp với lợi ích của hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển ở khu vực Đông Nam châu Á”.

Bước sang năm 1993, mối quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiếp tục được củng cố và phát triển. Sau khi Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản - lãnh tụ kiệt xuất và kính mến của nhân dân các bộ tộc Lào qua đời (ngày 21 tháng 11 năm 1992), lãnh đạo cấp cao hai Đảng và hai Nhà nước vẫn duy trì và phát triển tốt mối quan hệ truyền thống vốn có, các cuộc viếng thăm chính thức cấp cao giữa hai bên tiếp tục diễn ra. Nổi bật là chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của đồng chí Khăm Tày Xiphănđon, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào từ ngày 1 đến 4 tháng 4 năm 1993. Trong cuộc hội đàm thân mật, hai bên đã ra thông cáo chung khẳng định quyết tâm phát triển mối quan hệ đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước.

Đánh giá cao công lao góp phần củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Lào - Việt Nam trong thời gian qua, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã trao tặng đồng chí Khăm Tày Xiphănđon Huân chương Sao vàng - huân chương cao quý nhất của Việt Nam. Cùng năm đó, tháng 11 năm 1993, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Đức Anh đã có chuyến thăm đáp lễ chính thức nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Tháng 8 năm 1993, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nông Đức Mạnh thăm Lào, và tháng 11 năm 1993, Chủ tịch Quốc hội Lào Xámản Vinhakệt thăm Việt Nam. Tháng 8 năm 1994, Chủ tịch nước Lào Nủhắc Phumxavẳn sang thăm Việt Nam... Ngoài ra còn có các cuộc thăm và làm việc không chính thức của lãnh đạo cấp cao hai nước. Trong các cuộc hội đàm hàng năm giữa hai Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã trao đổi ý kiến về tình hình mọi mặt, đi tới những thoả thuận quan trọng về chủ trương, biện pháp tăng cường quan hệ và nâng cao hiệu quả hợp tác giữa hai nước. Đây là nhân tố quan trọng làm cơ sở cho việc hai nước cụ thể hoá các kế hoạch hợp tác hàng năm.

Trong hai năm 1994 - 1995, đáp ứng yêu cầu của phía Lào, Đảng Cộng sản Việt Nam đã cử nhiều cán bộ cấp cao, kể cả các uỷ viên Bộ Chính trị sang giới thiệu kinh nghiệm tại các Hội nghị Trung ương 8, 9, 10 của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và các cuộc tập huấn cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước Lào tại Viêng Chăn. Hình thức đào tạo này được phía Lào đánh giá cao, thiết thực, hiệu quả, nhất là đáp ứng được yêu cầu cấp bách trước mắt của Lào.

Để tạo ra môi trường thuận lợi cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đường lối đối ngoại của mình, cả Việt Nam và Lào đều xác định rõ chủ trương đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế. Từ định hướng trên, bên cạnh việc đẩy mạnh mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới, quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trên lĩnh vực ngoại giao cũng được đẩy mạnh trên ba phương diện: Đảng, Nhà nước và ngoại giao nhân dân.

Về quan hệ giữa hai Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào trong thời kỳ đổi mới ngày càng thêm khăng khít, thắm tình đồng chí, anh em. Trung bình mỗi năm, hai Đảng trao đổi trên 30 đoàn từ cấp Trung ương đến cấp tỉnh uỷ... những kinh nghiệm về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận, Đảng lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước luôn là những đề tài trọng tâm cho các cuộc trao đổi giữa hai Đảng.

Quan hệ giữa hai Nhà nước cũng được đẩy mạnh trong thời gian này. Hai nước tăng cường trao đổi thông tin và tham khảo ý kiến của nhau về các vấn đề hợp tác khu vực và quốc tế có liên quan đến quyền lợi của mỗi nước. Ngay từ năm 1992, giữa hai Nhà nước đã thành lập Ủy ban liên Chính phủ. Hàng năm, Uỷ ban liên Chính phủ đều có đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm, giúp cho việc thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào không ngừng phát triển.

Hoạt động ngoại giao nhân dân cũng đạt được nhiều thành tích đáng kể. Hàng năm, quan hệ giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể địa phương, các công ty, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu với nội dung thiết thực và có hiệu quả.




-----------------------------------------------------------------
1. Từ tháng 1 năm 1980 đến tháng 7 năm 1986 đã diễn ra 13 hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Đông Dương (mỗi năm hai lần). Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Đông Dương lần thứ 12 họp ngày 24 tháng 1 năm 1986, ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia một lần nữa nhắc lại đề nghị năm điểm của mình được đưa ra trong kỳ họp ngày 12 tháng 8 năm 1985 và nhấn mạnh hai mặt quốc tế và nội bộ của vấn đề Campuchia, trong đó về mặt quốc tế, Việt Nam cam kết sẽ rút hết quân khỏi Campuchia, đồng thời chấm dứt viện trợ quân sự và can thiệp của nước ngoài vào Campuchia; về mặt nội bộ, công việc nội bộ của Campuchia sẽ do các bên Campuchia tự giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài.

2. Bốn phương châm đó là: 1. Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản của giai cấp công nhân. 2. Giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường trong khi đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. 3. Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ với mọi đối tượng. 4. Tham gia hợp tác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước. Xem: Vũ Dương Huân (Chủ biên): Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập tự do, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 2002, t.2, tr.89-91.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4767



« Trả lời #99 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2022, 04:31:09 pm »

b) Hợp tác trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng

Chuyển sang giai đoạn đổi mới, cả Việt Nam và Lào vẫn luôn bị các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá. Ở Việt Nam, các thế lực thù địch, đặc biệt là lực lượng phản động trong số người Việt lưu vong ở nước ngoài thường xuyên tìm mọi cách “chuyển lửa về quê hương”, hoạt động mạnh nhất là tổ chức các nhóm vũ trang về nước, trong đó có con đường qua biên giới Việt - Lào. Tại Lào, các thế lực thù địch tiếp tục hoạt động diễn biến hoà bình chống phá Lào; lợi dụng hợp tác đầu tư về kinh tế để lôi kéo, chuyển hoá, kích động số tiêu cực trong học sinh, sinh viên, trí thức và cán bộ Lào. Bọn Vàng Pao và Thong Lít chủ trương thành lập Hội Phật giáo mới, từ đó tổ chức tuyên truyền, kích động chia rẽ các bộ tộc Lào, kêu gọi sự giúp đỡ của các tổ chức tôn giáo quốc tế và tìm kiếm sự can thiệp quốc tế, v.v..

Trước tình hình đó, hai nước xác định, hợp tác an ninh - quốc phòng giữa Việt Nam và Lào là nhiệm vụ rất cấp bách và quan trọng hàng đầu. Ngay từ những năm đầu của thập niên 1990, giữa hai Chính phủ, giữa hai bộ chức năng là Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng của hai nước đều đã ký những hiệp định, nghị định về hợp tác, hỗ trợ nhau trong công tác bảo vệ an ninh và củng cố quốc phòng. Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng của cả hai nước đều rất coi trọng việc trao đổi thông tin và kinh nghiệm xây dựng lực lượng, chống xâm nhập, chống bạo loạn và vô hiệu hoá các hoạt động diễn biến hoà bình của kẻ địch. Trong mối quan hệ này, phía Việt Nam luôn chủ động và đảm nhiệm gánh vác các công việc khó khăn nhất với phương châm “giúp bạn là mình tự giúp mình”, “an ninh của bạn cũng chính là an ninh của mình”... Việt Nam đã giúp Lào củng cố và xây dựng được một lực lượng an ninh có chất lượng cao và đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Trên lĩnh vực hợp tác an ninh - quốc phòng với Lào, Bộ Quốc phòng Việt Nam chú trọng giúp Lào xây dựng một chiến lược quốc phòng dài hạn, một đường lối quốc phòng toàn dân, toàn diện. Thông qua đội ngũ chuyên gia, Việt Nam đã giúp Lào xây dựng quân đội của mình trở thành một đội quân vững mạnh về chính trị tư tưởng, tổ chức và chuyên môn. Quân đội nhân dân Lào được xây dựng theo hướng chính quy và hiện đại, có sức chiến đấu cao, đủ khả năng làm chỗ dựa cho thế trận chiến tranh nhân dân. Các lực lượng bộ đội địa phương, dân quân ở cấp bản, lực lượng dự bị động viên, v.v. đều được chú ý xây dựng, củng cố và luyện tập thường xuyên để khi cần có thể huy động được kịp thời. Các phương án tác chiến được Bộ Quốc phòng của hai nước chuẩn bị công phu, trong đó nhiều phương án phối hợp tác chiến giữa quân đội hai nước được soạn thảo và đưa ra tập huấn đến cấp sư đoàn, trung đoàn. Chiến công chung nổi bật về hợp tác an ninh - quốc phòng giai đoạn này là việc quân và dân Lào chủ động phối hợp chặt chẽ với quân đội Việt Nam chặn đánh cuộc hành quân “Đông tiến I” và “Đông tiến II” của các lực lượng phản động lưu vong do Hoàng Cơ Minh cầm đầu vào Việt Nam qua con đường Lào trong hai năm 1986 - 1987.

Là hai nước láng giềng có 10 tỉnh giáp biên nên vấn đề trật tự an ninh biên giới giữa hai nước đều rất phức tạp. Trong giai đoạn này, thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào, ký kết tại Viêng Chăn ngày 18 tháng 7 năm 1977, Ban Biên giới hai bên đã gặp nhau giải quyết nhiều vấn đề tồn đọng trong lịch sử và đi đến hoàn thành phân giới cắm mốc vào ngày 24 tháng 8 năm 1984. Ngày 24 tháng 1 năm 1986, hai bên đã ký kết Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới và Nghị định thư về việc phân giới cắm mốc toàn bộ đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào tại Viêng Chăn. Ngày 16 tháng 10 năm 1987, hai bên ký Nghị định thư bổ sung Nghị định thư về phân giới cắm mốc tại Viêng Chăn. Ngày 1 tháng 3 năm 1990, hai bên ký Hiệp định về Quy chế biên giới tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong hai năm 1994 - 1995, phía Việt Nam đã triển khai giúp Lào hiệu chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 cho bốn tỉnh Nam Lào; lập bộ bản đồ Atlas địa lý Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và Atlas địa lý thế giới, phục vụ cho công tác giáo dục của Lào. Hai bên đã xúc tiến để tiến tới hoàn thành bản đồ quốc giới Việt Nam - Lào, làm cơ sở pháp lý vững chắc cho mối quan hệ Việt Nam - Lào.

Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và các hiệp định, nghị định thư liên quan được hai bên ký kết và thực hiện đã xác lập đường biên giới chính thức, ổn định lâu dài, có hệ thống quốc giới được hai Nhà nước độc lập, có chủ quyền cùng nhau giải quyết. Đây chính là sự thay đổi về chất của đường biên giới và cũng mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ hai nước; góp phần cực kỳ quan trọng vào việc củng cố, phát triển mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi, hết lòng hết sức ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau. Đây là thành quả của truyền thống hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước; của sự hiểu biết, tôn trọng và cảm thông giữa những người đồng chí anh em thân thiết, sướng khổ có nhau, sống chết có nhau. Kết quả này là một biểu hiện tốt đẹp của việc giải quyết vấn đề lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, là mẫu mực về chính sách láng giềng hữu nghị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào.

c) Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, giáo dục, văn hoá, khoa học - kỹ thuật

Trong quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, hợp tác kinh tế trong thời kỳ đổi mới luôn chiếm vị trí quan trọng, với mong muốn là động lực thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ hợp tác khác.

Sau khi tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở hai nước bắt đầu ổn định, công cuộc khắc phục kinh tế cơ bản đã hoàn thành, quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước dần có sự thay đổi theo hướng phát triển từ viện trợ không hoàn lại, cho vay là chủ yếu sang giảm dần viện trợ và cho vay, bước đầu đẩy mạnh hợp tác sản xuất kinh doanh bình đẳng cùng có lợi. Đồng thời, trong hợp tác đã chuyển dần từ hợp tác từng vụ việc theo yêu cầu của bạn sang hợp tác theo chương trình, kế hoạch được ký kết giữa hai Chính phủ.

Thực hiện thoả thuận tháng 10 năm 1991 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào nhằm tiếp tục đưa quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, lên ngang tầm với quan hệ chính trị, Ủy ban Kế hoạch nhà nước Việt Nam và Ủy ban Kế hoạch và Hợp tác Lào đã cùng phối hợp đề ra chiến lược hợp tác về kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật. Chiến lược này là cơ sở để hai bên phối hợp xây dựng và quyết định các chương trình và dự án kế hoạch hợp tác trong thời gian tới.

Ngày 15 tháng 2 năm 1992, tại Viêng Chăn, Việt Nam và Lào đã ký Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật thời kỳ 1992 - 1995 và năm 1992. Để hiện thực hoá Hiệp định khung này, Chính phủ hai nước đã tiến thêm một bước trong việc thống nhất cơ chế chung về hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật. Điều II của Cơ chế này quy định rõ: “Cơ chế chung hợp tác Việt Nam - Lào được kết hợp chặt chẽ tính đặc thù của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào với thông lệ quốc tế: tự nguyện, bình đẳng; hai bên cùng có lợi; có ưu tiên, ưu đãi cho nhau; tôn trọng luật pháp, độc lập chủ quyền của nhau; nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật giữa hai dân tộc và phù hợp với tình hình thực tế của việc phát triển kinh tế - xã hội của hai nước trong từng thời kỳ” .

 Thực hiện các thoả thuận quan trọng giữa hai Bộ Chính trị (tháng 10 năm 1991, tháng 3 năm 1993, tháng 3 năm 1994, tháng 1 năm 1995) về chủ trương, biện pháp tăng cường quan hệ và nâng cao hiệu quả hợp tác giữa hai nước, mỗi bên đã quán triệt rõ cho các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương, tư tưởng chỉ đạo hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật giữa hai nước là: “giữ vững và phát huy truyền thống quan hệ đoàn kết giữa hai Đảng và hai dân tộc láng giềng anh em. Phát triển cả chiều rộng và chiều sâu quan hệ hợp tác trong lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm khai thác và phát huy tối đa tiềm năng của mỗi nước, phục vụ có hiệu quả nhất cho công cuộc phát triển, giữ vững an ninh chính trị và an toàn xã hội” .

Trên cơ sở của tư tưởng chỉ đạo nêu trên, ngày 15 tháng 3 năm 1995, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng, Chủ tịch Phân ban Hợp tác Việt Nam - Lào Phan Văn Khải, thay mặt Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Phó Thủ tướng, Chủ tịch Phân ban Hợp tác Lào - Việt Nam Khăm Phủi Kẹobualapha, thay mặt Chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào đã ký Thoả thuận chiến lược hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật đến năm 2000. Sau đó, Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật giai đoạn 1996 - 2000 giữa hai nước Việt Nam và Lào cũng được ký kết. Ngoài các hiệp định về hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật ký kết hàng năm giữa hai Chính phủ, trong giai đoạn này, Việt Nam - Lào cũng đã ký kết hàng loạt hiệp định và nghị định thư quan trọng nhằm thúc đẩy việc triển khai quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước như: Nghị định thư về hợp tác đào tạo cán bộ Lào tại Việt Nam (ngày 15 tháng 12 năm 1992), Hiệp định kiều dân giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (ngày 3 tháng 4 năm 1993), Hiệp định thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào thời kỳ 1993 - 1995 (ngày 7 tháng 1 năm 1993), Quy chế về quản lý khách du lịch qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo - Huội Ka Ki giữa Tổng cục Du lịch Việt Nam và Cơ quan Du lịch quốc gia Lào (ngày 4 tháng 11 năm 1993), Hiệp định sửa đổi Hiệp định thương mại thời kỳ 1991 - 1995 (ngày 30 tháng 6 năm 1993), Bản thoả thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào về việc cử và tiếp nhận chuyên gia Việt Nam đi làm việc tại Lào (ngày 7 tháng 4 năm 1994), Cơ chế chung về hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào (ngày 7 tháng 4 năm 1994), Cơ chế thanh toán giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào (ngày 7 tháng 4 năm 1994), Hiệp định về quá cảnh hàng hoá giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào (ngày 23 tháng 4 năm 1994), Thoả thuận chiến lược hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào (ngày 15 tháng 3 năm 1995), Hiệp định về hợp tác lao động giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào (ngày 29 tháng 6 năm 1995), Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn thu thuế các loại đánh vào thu nhập giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào (ngày 14 tháng 1 năm 1996), Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào (ngày 14 tháng 1 năm 1996), Nghị định thư thực hiện Hiệp định vận tải đường bộ giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào (ngày 1 tháng 5 năm 1996).

Trong chiến lược phát triển kinh tế, nông nghiệp và phát triển nông thôn là lĩnh vực kinh tế, xã hội quan trọng được Đảng, Nhà nước hai nước ưu tiên phát triển hàng đầu. Bởi vì nó không chỉ là thế mạnh tiềm năng sẵn có của Việt Nam và Lào, mà còn có ý nghĩa then chốt đối với nền kinh tế của Lào. Lĩnh vực hợp tác này không chỉ góp phần đổi mới nông thôn Lào mà còn gắn liền với chủ trương đảm bảo an ninh lương thực vào năm 2000 của Lào.

Lào có khoảng 4 triệu hécta đất canh tác nông nghiệp, đó chính là thế mạnh kinh tế của Lào. Tuy nhiên, hệ thống thuỷ lợi nhân tạo của Lào kém phát triển nên năng suất cây trồng còn rất thấp. Dựa trên cơ sở các hiệp định đã ký kết giữa hai nước, đáp ứng yêu cầu của Lào, Việt Nam đã cử nhiều chuyên gia hàng đầu về nông nghiệp và thuỷ lợi sang giúp Lào nghiên cứu, thu thập tài liệu, khảo sát phân tích đất, thiết kế hệ thống thuỷ lợi, tiến hành lập luận chứng kinh tế, kỹ thuật cho các dự án về nông nghiệp cũng như trực tiếp xuống tận các bản làng để giúp đỡ nông dân Lào canh tác, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng hệ thống thuỷ lợi, phát triển kỹ thuật chăn nuôi theo phương pháp khoa học. Cùng với việc giúp Lào xây dựng các văn phòng điều hành chương trình dự án, tổ chức các vườn cây giống, xây dựng các trạm thú y, các hệ thống thuỷ lợi, tập huấn cán bộ trồng trọt, chăn nuôi..., Việt Nam còn trang bị cho Lào những công cụ, máy móc, áp dụng kỹ thuật trồng lúa bằng nhiều hình thức, phương pháp.

Từ năm 1992 đến 1997, Việt Nam phối hợp giúp Lào xây dựng mô hình thí điểm phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới tại bốn điểm, tập trung vào bốn khu vực do Nhà nước Lào chọn:

1. Điểm Phôn Sủng, huyện Phôn Hoộng, tỉnh Viêng Chăn (đại diện vùng trung du).

2. Điểm Hạt Siều là điểm Phôn Sủng mở rộng.

3. Điểm Lắc Xao, huyện Khăm Cợt, tỉnh Bolikhămxay (đại diện vùng núi tập trung bà con Lào Xủng).

4. Điểm huyện Chămpaxắc, tỉnh Chămpaxắc (đại diện vùng đồng bằng) .

Kết quả là mô hình này đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực và được nhân rộng ra toàn quốc, góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực trong các vùng nông thôn của Lào. Có thể thấy, các dự án sản xuất lương thực, những vấn đề an ninh lương thực do Việt Nam giúp Lào được phía Lào đánh giá là có chất lượng và thực tiễn cao, phù hợp với điều kiện tập quán canh tác của Lào. Cụ thể là:

- Về trồng trọt: đã gieo trồng thí điểm hàng chục loại giống lúa mới như: Chăm con, N28, N119, C70, DT11... là những giống lúa chịu hạn tốt, có năng suất 5-8 tấn/ha, cũng như một số giống lúa Nhật (IPS, IPS2), ngô, cây ăn quả và cây lâm nghiệp khác. Đã hướng dẫn kỹ thuật thâm canh và lựa chọn thời vụ thích hợp cho cả giống lúa nước, lúa cạn, bước đầu được nhân dân địa phương học tập và ứng dụng. Đồng thời đã xây dựng một số hệ thống thuỷ lợi nhỏ để đủ nước canh tác cho vùng đất thí điểm.

- Về vật nuôi: những giống mới như gà Tam Hoàng, vịt siêu trứng Khakicampel, ngan Việt Nam, ngỗng Rheinland, lợn lai, dê... đã được nuôi thí điểm ở một số hộ nông dân và từng bước được nhân ra diện rộng. Một số nơi thí điểm nuôi cá lồng (ở hồ Nặm Suang) đã có kết quả tốt.

- Áp dụng việc dùng nước sạch (giếng khoan) chăm sóc sức khoẻ, phòng bệnh, làm một số đường giao thông nông thôn, sửa sang một số trường học, trạm xá ở những nơi thí điểm.

Qua năm năm (1992 - 1997) phối hợp với phía Lào triển khai các hoạt động dự án nêu trên, đã giới thiệu cho nông dân Lào làm quen và thấy rõ lợi ích của kỹ thuật canh tác, lựa chọn giống thích hợp, sự cần thiết phải đầu tư xây dựng thuỷ lợi, định canh định cư, nhằm phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và khắc phục nạn phá rừng làm nương. Mặt khác, thông qua dự án, các chuyên gia nông nghiệp Việt Nam đã bồi dưỡng đào tạo cho nhiều người, cả cán bộ quản lý và bà con nông dân Lào, những kiến thức mới về nông nghiệp và phát triển nông thôn. Lăn lộn vào đời sống của bà con nông dân Lào như tinh thần của các chiến sĩ tình nguyện quân năm xưa, cùng với việc truyền đạt tri thức khoa học và chuyển giao công nghệ mới cho Lào, nhiều chuyên gia nông nghiệp Việt Nam đã thực sự trở thành những người con thân thiết của các bản làng Lào, được nhân dân Lào tin yêu, mến phục.

Để tiến hành sản xuất nông nghiệp được thuận lợi, phù hợp với hoàn cảnh thực tế của Lào, trên cơ sở tiến hành điều tra, khảo sát địa chất và địa hình, các chuyên gia Việt Nam đã giúp Lào xây dựng hàng loạt dự án thuỷ điện nhỏ và vừa, trong đó, đáng chú ý là các dự án Nặm Thơn I, Nặm Thơn II, Nặm Soong, Nặm Mang, Huội Kho, hoàn thành công trình thuỷ điện Lắc Xao (Bolikhămxay) với trị giá trên 1 triệu USD.
 
Hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực lâm nghiệp cũng đem lại những hiệu quả thiết thực như tiến hành khảo sát, điều tra, phân bố rừng, phân chia các vùng khai thác, lập các quy hoạch, kế hoạch giao đất, giao rừng, giúp Lào đào tạo cán bộ quản lý, thu thập thống kê số liệu, hợp tác kinh doanh khai thác gỗ, lập mô hình nông lâm kết hợp,... Phía Lào đã cử nhiều đoàn sang Việt Nam học tập và trao đổi kinh nghiệm về phát triển nông - lâm nghiệp, trồng rừng qua dự án PAM. Nhìn chung, các hình thức hợp tác đó đã mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai phía.

 Những thành tựu đạt được thông qua các dự án hợp tác giữa hai nước được phía Lào đánh giá cao, vì nó đã phát huy được tác dụng, đưa sản xuất nông nghiệp phát triển, tạo ra sự ổn định và cải thiện một bước đời sống của người nông dân, giảm bớt tình trạng du canh, du cư của Lào, hạn chế được nạn phá rừng, đặc biệt tác động tích cực đến nếp nghĩ và tập quán của nhiều bộ tộc Lào. Các dự án hợp tác nông nghiệp cũng góp phần giúp cho các cơ quan quản lý và một số địa phương hoạch định chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp của mình. Kết quả chung lớn nhất là ngay từ năm 1999, Lào đã thực hiện được mục tiêu tự túc lương thực và có một phần lương thực dự trữ.

Trong chiến lược hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào, lĩnh vực hợp tác về giao thông vận tải giữa hai nước chiếm vị trí quan trọng, được Đảng và Nhà nước hai nước xếp vào hàng ưu tiên thứ hai, góp phần giúp Lào thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và củng cố mối quan hệ giữa hai nước. Việc hợp tác trong lĩnh vực giao thông vận tải ngày càng được tăng cường và mở rộng, đã tạo điều kiện thuận lợi giúp Lào vận chuyển hàng hoá quá cảnh thông thương ra các cảng biển Việt Nam. Đặc biệt, để đáp ứng nhu cầu vận chuyển xăng dầu cấp bách của Lào, ngày 25 tháng 9 năm 1989, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào đã ký Hiệp định về việc nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào xây dựng và sử dụng hệ thống đường ống dẫn dầu của Lào tại Việt Nam (tại một vùng biển, vùng đất thuộc khu vực Cửa Lò, tỉnh Nghệ Tĩnh, nay là tỉnh Nghệ An). Các tuyến đường ngang trên lãnh thổ Việt Nam phục vụ cho quan hệ hợp tác giữa hai nước bao gồm:

- Đường 8A dài 85,3 km được nâng cấp sửa chữa, rải nhựa toàn tuyến hoàn thành vào cuối quý IV năm 1995, tổng vốn đầu tư là 170 tỷ đồng. Nâng cấp các đoạn đường: Gia Lách - Xuân Hải, Quán Bánh - Cửa Lò và cùng với các kho bãi tại cảng Cửa Lò, Xuân Hải được xây dựng và hoàn thiện đã tạo điều kiện giúp Lào xuất khẩu gỗ và hàng hoá, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng Trung Lào và miền núi của tỉnh Hà Tĩnh (Việt Nam).

- Một số tuyến đường khác thuộc hành lang vận tải Đông - Tây (18B, 9, 217, 42) nối với các cảng miền Trung của Việt Nam (Cửa Lò, Xuân Hải, Cửa Việt, Đà Nẵng, Quy Nhơn...) cũng được phía Việt Nam lập đề cương nghiên cứu khả thi và dự kiến khảo sát vào mùa khô 1994 - 1995 cũng như nâng cấp, bảo dưỡng nhằm giúp Lào phát triển kinh tế các vùng Trung và Nam Lào, giúp cho việc thông thương giữa các vùng này với tiểu vùng sông Mê Công ngày càng thuận lợi hơn.

Năm 1992, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 kết hợp với Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 1 thành lập Tổng công ty liên doanh Xây dựng công trình giao thông 18 (CIE18) đã tham gia đấu thầu và thắng thầu quốc tế xây dựng đường 13 khu vực Bắc Lào trước 29 hãng thầu quốc tế. Tuyến đường này dài 162 km đường bộ với 12 cây cầu, được thi công dưới sự giám sát của tư vấn quốc tế với giá trị 25,5 triệu USD, hoàn thành vào tháng 5 năm 1996. Sau khi đường 13 được đưa vào sử dụng, mức độ hoạt động của tàn quân phỉ ở Lào giảm đi khá nhiều, đời sống kinh tế và dân trí của cư dân sống hai bên đường tăng lên rõ rệt. Một số dự án giao thông khác trên đất Lào cũng đang được xúc tiến tốt và đem lại lợi ích cho cả hai phía như: sân bay Lắc Xao, đường Tây Trang - Mương Khỏa, đường 8A (phía Lào).
 
Lào có chung đường biên giới tiếp giáp với 10 tỉnh của Việt Nam từ Lai Châu đến Kon Tum (Tây Nguyên). Trên biên giới hai nước, đến đầu những năm 1990, đã mở 15 cửa khẩu trong đó mới có hai cửa khẩu quốc tế là cửa khẩu Lao Bảo - Đen Xávẳn và cửa khẩu Cầu Treo - Nặm Phao. Trong số 13 cửa khẩu còn lại, gồm có: 7 cửa chính, 6 cửa phụ và 27 đường mòn qua lại giữa các tỉnh, huyện, xã.

Trong giai đoạn 1986 - 1996, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hai chiều có xu hướng tăng, bình quân đạt khoảng 70 triệu USD/năm (không kể lượng xe máy Việt Nam mua của Lào). Trong đó 3/4 là số lượng hàng hoá của Việt Nam sang Lào. Các mặt hàng của Việt Nam trên thị trường Lào là sắt thép xây dựng, đá ốp lát, hàng tiêu dùng may mặc, đồ nhựa, gốm sứ mỹ nghệ. Hàng hoá Lào bán sang Việt Nam là thạch cao, song mây... và một số hàng tái xuất sang Việt Nam như: quạt điện, hàng điện tử...

Đến năm 1987, hàng xuất của Lào sang Việt Nam đạt khoảng 2,9 triệu rúp. Nguyên nhân của tình trạng này là do phía Lào thay đổi cơ chế ngoại thương. Chính phủ Lào cho phép các ngành, xí nghiệp các địa phương được quyền hạch toán, được trực tiếp kinh doanh xuất, nhập khẩu, trung ương không bù lỗ, nên không tập trung được hàng để làm nghĩa vụ. Vào thời điểm này, Thái Lan bỏ cấm vận, Trung Quốc mở cửa biên giới Lào - Trung nên hàng hoá của Thái Lan tràn ngập lãnh thổ Lào và tại các tỉnh giáp với biên giới Trung Quốc, hàng Trung Quốc cũng bắt đầu chiếm lĩnh thị trường Lào.

Bước vào thập niên 1990, quan hệ hợp tác thương mại Việt Nam - Lào đã diễn ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động phức tạp. Sự kiện các nước Đông Âu sụp đổ (năm 1990) và Liên Xô tan rã (năm 1991) đã gây ra những ảnh hưởng khá lớn tới nền kinh tế Việt Nam và Lào. Trước tình hình đó, tháng 2 năm 1991, Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào đã ký Hiệp định thương mại thời kỳ 1991 - 1995, đồng thời thoả thuận chấm dứt hình thức ký nghị định thư trao đổi hàng hoá hàng năm, xoá bỏ tình trạng bao cấp của Nhà nước. Hiệp định thương mại Việt Nam - Lào (1991 - 1995) cho phép mở rộng đối tượng trao đổi hàng hoá hàng năm, không hạn chế tổng kim ngạch trao đổi (gồm 22 mặt hàng xuất khẩu của Lào sang Việt Nam và 39 mặt hàng Việt Nam sang Lào), đồng thời mở rộng danh mục mặt hàng trao đổi (trừ các mặt hàng cấm xuất, nhập khẩu). Cơ chế này đã phù hợp với tình hình mới, thúc đẩy đáng kể kim ngạch trao đổi hàng hoá hai chiều giữa hai nước tăng nhanh: 45 triệu USD năm 1991; 73 triệu USD năm 1992; 56,3 triệu USD năm 1993; 138,2 triệu USD năm 1994; 80 triệu USD năm 1995; 188 triệu USD năm 1996 .

Nói đến hoạt động xuất, nhập khẩu giữa hai nước, ngoài hoạt động xuất, nhập khẩu chính ngạch, không thể không đề cập quan hệ trao đổi giữa các địa phương, trong đó có xuất, nhập khẩu tiểu ngạch. Có thể thấy từ sau giải phóng, trao đổi giữa các địa phương hai nước đã phát triển, nếu không muốn so sánh là còn mạnh hơn cả cấp trung ương giữa hai bên. Nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi của nhân dân trên dọc tuyến biên giới, ngày 1 tháng 3 năm 1990, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và ban hành quy chế về hàng hoá của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam.

So với kim ngạch xuất, nhập khẩu chính ngạch, kim ngạch xuất, nhập khẩu tiểu ngạch tuy không lớn, nhưng đã góp phần giúp cho đời sống nhân dân hai nước, nhất là cư dân trên các vùng biên cải thiện một bước đáng kể. Do mặt hàng trao đổi tiểu ngạch của hai nước phong phú nên phía Lào có thể tiếp tục xuất khẩu sang thị trường Thái Lan và Trung Quốc. Ngược lại, phía Lào có thể tiếp nhận hàng hoá của Thái Lan và Trung Quốc xuất sang Việt Nam gồm các mặt hàng như xe gắn máy CKD, IKD, SKD, quần áo, mỳ chính, v.v.. Kim ngạch xuất, nhập khẩu tiểu ngạch qua các cửa khẩu biên giới Lào - Việt Nam tăng khá nhanh: 31,94 triệu USD năm 1992; 30,25 triệu USD năm 1993; 37,61 triệu USD năm 1994; 43,54 triệu USD năm 1995; 53,88 triệu USD năm 1996 .

Ngành thương mại hai nước đang chủ trì và xúc tiến nghiên cứu, xây dựng đề án, tiến tới đầu tư xây dựng khu thương mại tự do Lao Bảo - Đen Xávẳn, đã phê duyệt dự án và chuẩn bị xây dựng cửa khẩu quốc tế Cầu Treo - Na Pê, mở cửa khẩu phụ và 11 điểm chợ biên giới để thúc đẩy sản xuất và giao lưu, trao đổi hàng hoá giữa hai nước, đặc biệt là các vùng biên giới Việt Nam - Lào.

Nhìn chung, trong giai đoạn này quan hệ thương mại Việt Nam - Lào nói chung, hoạt động kinh tế biên giới nói riêng, đã có tiến bộ rõ rệt, phản ánh sự nỗ lực của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế và kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển của mỗi nước. Những số liệu trong quan hệ thương mại hai chiều Việt Nam - Lào cho thấy, tốc độ tăng trưởng không ổn định, có lúc lên xuống thất thường. Cán cân thương mại giữa Lào - Việt Nam phổ biến là xuất siêu. Đáng chú ý là Lào xuất siêu ở phần chính ngạch, nhưng lại nhập siêu ở phần tiểu ngạch. Buôn bán tiểu ngạch tăng sẽ dẫn đến việc thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng nhà nước chiếm tỷ lệ rất thấp.

Hợp tác về đầu tư cũng là một trong những lĩnh vực quan trọng được hai Đảng, hai Nhà nước đặc biệt quan tâm và cùng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của Lào đầu tư sang Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang Lào. Quan hệ đầu tư trực tiếp, tuy chưa trở thành lĩnh vực hợp tác lớn, nhưng đã có những ngành và doanh nghiệp có quan hệ hợp tác trực tiếp và đã thu được những kết quả bước đầu đáng khích lệ.

Việt Nam vào năm 1987 và Lào năm 1988 đã công bố Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài. Về pháp lý, hợp tác về đầu tư - liên doanh Việt Nam - Lào được thể hiện rõ trong Điều 7 của Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật Việt Nam - Lào thời kỳ 1992 - 1995  và trong Điều 4 của Bản thoả thuận chiến lược hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật Việt Nam - Lào giai đoạn từ nay đến năm 2000, được ký vào ngày 15 tháng 3 năm 1995 tại Hà Nội .

Ngày 14 tháng 1 năm 1996, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp định khuyến khích bảo hộ đầu tư và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Về số dự án, nếu trước năm 1995, Việt Nam chỉ có ba dự án đầu tư vào Lào, thì tính đến ngày 30 tháng 6 năm 1996, Việt Nam đã có 10 dự án với tổng số vốn đăng ký là 2.724.080 USD, đứng thứ 20 trong tổng số 31 nước đầu tư vào Lào.

Trong số các dự án trên, đầu tư trong lĩnh vực xây dựng và sản xuất chiếm khoảng 60% vốn đăng ký, riêng lĩnh vực xây dựng chiếm gần 50%; dịch vụ các loại chiếm 20%. Theo thống kê chưa đầy đủ, có khoảng hơn 20 doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động trên lãnh thổ Lào theo các hình thức liên doanh, nhận thầu công trình; tập trung vào các hoạt động thương mại, xây dựng, giao thông, khai thác chế biến lâm sản. Ngoài ra còn rất nhiều doanh nghiệp tư nhân nhỏ và lao động tự do khác hoạt động ở Lào, tập trung chủ yếu là thương mại và xây dựng dân dụng.

Tổng công ty Xuất nhập khẩu với Lào (VILEXIM) trong bốn năm (1992 - 1995) đã thực hiện giá trị xuất nhập khẩu với Lào đạt trên 6 triệu USD. Công ty Quân khu 4, Tổng công ty 11, Tổng công ty 12 và một số đơn vị khác của quân đội đã liên doanh nhận thầu, khai thác vận chuyển gỗ, trồng và chăm sóc rừng, xây dựng sửa chữa đường giao thông, sản xuất vật liệu xây dựng, xây dựng trạm thuỷ điện nhỏ, v.v. tính chung trong bốn năm 1992 - 1995 đã đạt được doanh số là 60.540 triệu đồng.

Hai doanh nghiệp của Bình Định là liên doanh gốm sứ giữa Công ty Phát triển kinh tế thanh niên xung phong Bình Định và Sở Công nghiệp Chămpaxắc sản xuất gốm sứ có tổng vốn 147.328 USD và liên doanh giữa Xí nghiệp Dược phẩm Bình Định với Xí nghiệp Dược phẩm Chămpaxắc sản xuất dược liệu, thuốc chữa bệnh có vốn liên doanh giai đoạn 1 là 306.811 USD. Hai liên doanh này bước đầu đã cho kết quả và hiệu quả: khai thác được nguồn nguyên liệu, dược liệu tại Lào, tiếp cận được thị trường Nam Lào và có khả năng xuất khẩu.

Một số doanh nghiệp khác của Hà Nội, Hải Hưng , Thái Bình, Vĩnh Phú , Nghệ An, Hà Tĩnh... đã làm quen và bước đầu xác định được chỗ đứng của mình trên đất Lào.

Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào Lào và ngược lại còn nhiều hạn chế, không ổn định. Các dự án của Việt Nam đầu tư vào Lào thời kỳ này có quy mô nhỏ, số vốn thấp, nhiều ngành chưa được quan tâm đầu tư đúng mức như đầu tư sản xuất linh kiện điện tử, thiết bị bưu chính viễn thông...

Về phía Lào, đến những năm 1990, Lào có bốn dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn là 11,5 triệu USD. Tuy số dự án của Lào không nhiều, nhưng về vốn đã đứng trên sáu nước (43/57 nước) có dự án đầu tư vào Việt Nam. Dự án liên doanh ba bên giữa Lào với Việt Nam và Thái Lan lắp ráp xe máy đặt tại Hưng Yên từ năm 1995 là một trong số các dự án ba bên có hiệu quả. Còn lại các dự án khác mặc dù đã được cấp phép, nhưng do khâu chuẩn bị còn thiếu đồng bộ nên vẫn chưa triển khai được .

Trong lĩnh vực năng lượng, điểm nổi bật trong giai đoạn này là hai bên đã phối hợp chặt chẽ, khẩn trương thiết kế và thi công một số tuyến đường dây tải điện 35 KV từ Việt Nam qua Lào. Theo đề nghị của Lào, trước mắt cần giải quyết cung cấp điện cho tỉnh Hủa Phăn. Đường dây Mai Châu - Sầm Nưa dài 192 km (hoàn thành vào tháng 5 năm 1995), đường dây Kim Sơn - Lắc Xao dài 30 km, đường dây Khe Sanh - Lao Bảo - Xê Pôn dài 60km trên nguyên tắc phần đường dây trên lãnh thổ nước nào do nước đó bỏ vốn đầu tư. Đồng thời, ngành năng lượng hai nước cũng gặp nhau trao đổi lần đầu về việc Việt Nam mua điện từ các nguồn miền Trung và miền Nam của Lào.

Công tác giáo dục và đào tạo luôn được hai Đảng, hai Nhà nước xác định là một nhiệm vụ quan trọng, là lĩnh vực hợp tác chiến lược và là biểu hiện của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào. Việt Nam coi việc đào tạo cho Lào một nguồn nhân lực có trình độ là nhu cầu mang tính chiến lược lâu dài, không những của Lào mà còn phục vụ cho quá trình hợp tác của Việt Nam với Lào.

Trong những năm đầu đổi mới (1986 - 1992), phát huy kinh nghiệm truyền thống giữa hai nước về hợp tác giáo dục và đào tạo đi trước một bước, Việt Nam đã đào tạo cho Lào 537 cử nhân của các ngành và 252 lưu học sinh trung học chuyên nghiệp. Tuy nhiên, cũng từ năm 1986, Việt Nam và Lào thống nhất không gửi lưu học sinh Lào sang Việt Nam đào tạo bậc phổ thông và hạn chế đào tạo bậc trung học chuyên nghiệp, mà yêu cầu Việt Nam tăng cường đào tạo giúp Lào bậc sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ), chú trọng vào các ngành mũi nhọn về kinh tế, khoa học - kỹ thuật. Đồng thời, phía Lào còn yêu cầu Việt Nam cử các chuyên gia sang giúp xây dựng chương trình giảng dạy, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, hướng dẫn sinh viên làm đồ án tốt nghiệp... Kể từ năm 1992, Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào đã ký kết Hiệp định về đào tạo cán bộ Lào tại Việt Nam và hàng năm hiệp định này đều được bổ sung sửa đổi cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới. Trong thời kỳ 1991 - 1995, hai bên đã thống nhất dành 69% số vốn để đào tạo 1.458 học sinh dài hạn ở các bậc trung học, đại học và trên đại học của Lào học tập tại các trường Việt Nam.

Về kinh phí đầu tư, từ năm 1981 đến 1996, số kinh phí Việt Nam giúp Lào chi cho giáo dục và đào tạo là 224,013 triệu USD (quy theo tỷ giá hàng năm).

Chất lượng đào tạo đầu vào cũng được hai bên quan tâm, thời gian học tiếng Việt dự bị tại Lào đến nay được thay thế bằng học tại Việt Nam ngay từ năm đầu tuyển chọn. Bên cạnh việc đào tạo cán bộ, học sinh Lào tại Việt Nam, hàng năm phía Việt Nam còn cử chuyên gia giáo dục sang Lào giúp biên soạn chương trình giảng dạy, giúp mở những lớp học tại chỗ tại Lào. Đặc biệt, trong giai đoạn này, Việt Nam còn cấp kinh phí giúp Lào xây dựng và hoàn thành bốn trường phổ thông dân tộc nội trú: Uđômxay, Xavẳnnakhệt, Chămpaxắc và Xê Coong. Những trường nội trú này góp phần đáng kể cho các con em dân tộc miền núi của Lào nâng cao trình độ văn hoá và đào tạo cán bộ nguồn, phục vụ kịp thời cho công cuộc xây dựng và phát triển ở bốn tỉnh của Lào nói riêng và nước Lào nói chung. Với những trang thiết bị và phương tiện đầy đủ, thiết kế đảm bảo hài hoà mang tính chất văn hoá, dân tộc, các trường phổ thông nội trú trên được nhân dân Lào ở các địa phương đánh giá cao, đem lại niềm vui lớn cho nhân dân Lào.

Ngoài việc giúp Lào xây dựng bốn trường nội trú trên, Việt Nam còn tiếp tục triển khai giúp Lào xây dựng khu ký túc xá cao tầng khép kín cho lưu học sinh và chuyên gia các nước đến học tập, nghiên cứu và công tác tại Đại học Quốc gia Lào.

Về công tác đào tạo các lưu học sinh Việt Nam tại Lào, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng hàng năm phía Lào vẫn nhận từ 10 đến 15 sinh viên Việt Nam sang học tập tại Trường Đại học Quốc gia Lào bằng nguồn kinh phí của Lào. Từ năm 1992 đến nay, đã có khoảng 151 sinh viên Việt Nam học tại Lào . Số sinh viên trên, sau khi ra trường đã phát huy tốt khả năng phục vụ kịp thời cho sự nghiệp hợp tác toàn diện giữa hai nước.

Hợp tác giáo dục và đào tạo Việt Nam - Lào trong thời kỳ 1986 - 1996 được đánh giá là lĩnh vực hợp tác thành công nhất. Có thể thấy rằng, do có sự quan tâm thường xuyên của hai Đảng, hai Nhà nước, quan hệ hợp tác trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo đã được chú trọng và phát triển cả về quy mô và hình thức. Hai nước thường xuyên phối hợp kịp thời, cùng tháo gỡ những khó khăn, yếu kém và cùng phấn đấu nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.

Trong lĩnh vực y tế, ngoài việc giúp đào tạo nâng cao trình độ cán bộ y tế cho Lào, hai bên đã giúp nhau trao đổi kinh nghiệm, thông tin về xây dựng và phát triển ngành y tế mỗi nước, tổ chức mạng lưới y tế từ trung ương đến cơ sở; những biện pháp phòng chống các dịch bệnh: sốt rét, dịch tả, các bệnh nhiễm khuẩn, bướu cổ, tiêm chủng mở rộng, bảo hiểm y tế, hành nghề y dược tư nhân, thu một phần viện phí, hợp tác liên doanh sản xuất và kinh doanh thuốc.

 Viện Hoá học thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia đã phối hợp chặt chẽ với Viện Nghiên cứu cây thuốc của Bộ Y tế Lào trong việc thực hiện đề án “Xây dựng dây chuyền chuyển giao công nghệ chiết xuất artemisinin từ lá cây thanh hao làm thuốc chữa bệnh sốt rét. Tạo vùng trồng, cung cấp kỹ thuật gieo trồng cây thanh hao nhằm đáp ứng nguồn nguyên liệu thanh hao cho dây chuyền chiết xuất artemisinin tại Lào”. Tháng 2 năm 1996, dây chuyền chiết xuất artemisinin tại Lào bằng vốn viện trợ của Việt Nam đã hoàn thành, tuy nhiên chưa đi vào hoạt động do thiếu nguồn nguyên liệu tại chỗ.

Viện Sốt rét, ký sinh trùng và côn trùng Việt Nam và Viện Sốt rét Lào đã trao đổi kinh nghiệm về tổ chức phòng, chữa bệnh sốt rét; đồng thời phía Việt Nam tổ chức cho các cán bộ Lào sang khảo sát thực tế ở Việt Nam và trao tặng thuốc chữa bệnh sốt rét artemisinin cho Lào.

Về hợp tác văn hoá - thông tin, Trung tâm văn hoá - thông tin Việt Nam tại Thủ đô Viêng Chăn đã được khai trương ngày 31 tháng 8 năm 1995 nhân dịp kỷ niệm 50 năm Quốc khánh Việt Nam và có kế hoạch xây dựng lại trong hai năm 1995 - 1996 để trở thành nơi giới thiệu các hoạt động văn hoá dân tộc Việt Nam với nhân dân Lào và khách quốc tế.

Bảo tàng Hồ Chí Minh đã phối hợp và giúp Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản tài liệu, kinh nghiệm xây dựng viện bảo tàng, sưu tầm hiện vật về kỷ niệm cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản có ở Việt Nam, đào tạo bồi dưỡng cán bộ bảo tàng, phối hợp chuẩn bị giúp xây dựng Viện Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản theo thiết kế của Lào và vốn viện trợ không hoàn lại của Việt Nam. Ngoài ra, ngành thông tin - văn hoá hai bên cũng thường xuyên trao đổi kinh nghiệm và chuyên gia để hỗ trợ cho việc phát triển của ngành; hàng năm, hai nước vẫn duy trì trao đổi một số đoàn nghệ thuật sang giao lưu, biểu diễn nhằm giới thiệu nền văn hoá của nhau và thắt chặt quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

Hàng năm, phía Việt Nam đều đáp ứng yêu cầu của phía Lào về chuyên gia các ngành kinh tế, kỹ thuật, quốc phòng, an ninh. Phía Lào đánh giá cao sự giúp đỡ có hiệu quả của đội ngũ chuyên gia Việt Nam. Chính phủ Lào cũng đã quyết định và thực hiện chế độ tiền lương mới đối với chuyên gia Việt Nam từ cuối tháng 7 năm 1993. Bản thỏa thuận về hợp tác chuyên gia giữa hai bên được ký kết vào tháng 4 năm 1994 tại Viêng Chăn, tạo cơ chế thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ hợp tác chuyên gia giữa hai nước. Riêng đối với chuyên gia quân sự, theo sáng kiến chủ động của Bộ Quốc phòng Việt Nam, lương của chuyên gia quân sự không thực hiện theo văn bản thoả thuận trên. Phía Việt Nam đã đáp ứng tích cực việc cử chuyên gia theo yêu cầu của phía Lào, kể cả những trường hợp đột xuất không ghi trong Hiệp định. Phía Lào đánh giá cao về kết quả công tác của chuyên gia Việt Nam, nhất là về việc giúp Lào kinh nghiệm soạn thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 và lĩnh vực tài chính - tiền tệ, đặc biệt bày tỏ sự tin cậy đối với chuyên gia quốc phòng và nội vụ. Tuy vậy, kế hoạch chuyên gia năm 1995 đạt thấp do phía Lào chưa xác định rõ nội dung công việc cho chuyên gia, nhất là các chuyên gia địa phương.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM