Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Sáu, 2022, 11:26:30 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930-2007  (Đọc 2800 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4782



« Trả lời #30 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2021, 04:52:22 pm »

Thực hiện chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương, từ ngày 13 đến 15 tháng 8 năm 1950, tại tỉnh Tuyên Quang (Việt Nam) diễn ra Đại hội quốc dân Lào (Mặt trận Lào kháng chiến). Đại hội quy tụ hơn 100 đại biểu đại diện cho lực lượng vũ trang, nhân dân các bộ tộc trên cả nước Lào. Đại hội quyết định thống nhất các tổ chức quần chúng, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất, tức Neo Lào Ítxalạ và Chính phủ Kháng chiến Lào. Đại hội bầu Ủy ban Trung ương Neo Lào Ítxalạ do Hoàng thân Xuphanuvông làm chủ tịch và Chính phủ Kháng chiến Lào do Hoàng thân Xuphanuvông làm thủ tướng. Đồng chí Cayxỏn Phômvihản được bầu làm bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đại hội thông qua những nghị quyết, quyết định quan trọng, trong đó có nghị quyết về tăng cường quan hệ đoàn kết chiến lược với Việt Nam và Campuchia đánh đuổi thực dân Pháp, xây dựng một nước Lào độc lập, thống nhất, phú cường1.

Đại hội ra nghị quyết về quan hệ giữa ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Nghị quyết khẳng định: muốn kháng chiến giành độc lập, lực lượng kháng chiến của ba nước không thể chia cắt được. Nước Lào không thể độc lập được một khi Việt Nam chưa được độc lập. Việt hay Miên không thể có sự độc lập thực sự được khi nước Lào còn là bàn đạp của Pháp ở Đông Dương. Nghị quyết chỉ ra nhiệm vụ của nhân dân các bộ tộc Lào là đoàn kết toàn dân thành một mặt trận thống nhất. Đoàn kết với hai dân tộc Việt, Miên trên chiến trường Đông Dương để có đủ lực lượng hoàn thành hai nhiệm vụ trọng tâm là kháng chiến và kiến quốc. Đại hội quốc dân Lào đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình phát triển của cách mạng Lào. Đại hội mở ra một giai đoạn mới của quan hệ đoàn kết chiến lược Việt - Lào.

Trong thời gian diễn ra Đại hội quốc dân Lào (Mặt trận Lào kháng chiến), để bảo đảm an toàn bí mật, Hoàng thân Xuphanuvông và đoàn cán bộ Lào được bố trí di chuyển đến một số địa điểm khác trong xã Mỹ Lâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên trao đổi với Hoàng thân Xuphanuvông và các đồng chí lãnh đạo Chính phủ, Mặt trận Lào yêu nước các vấn đề về liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào và phương thức tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện, về xây dựng đảng Mác - Lênin ở Lào, v.v..

Nhằm chuẩn bị tiến tới Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Đông Dương , từ ngày 20 đến 22 tháng 11 năm 1950, tại Việt Nam diễn ra Hội nghị đại biểu ba mặt trận dân tộc thống nhất của Việt Nam, Lào, Campuchia. Ngay sau Hội nghị, đồng chí Hoàng Quốc Việt, Hoàng thân Xuphanuvông và đại diện của Campuchia thay mặt ba mặt trận dân tộc thống nhất của ba nước đã ký Tuyên cáo chung nhấn mạnh cuộc hội nghị này là bước đầu cho liên minh giữa ba dân tộc Việt Nam - Lào - Miên. Chỉ có liên minh ấy, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, mới đánh tan được mưu mô xảo trá của bọn thực dân xâm lược Pháp và bọn can thiệp Mỹ, mới đem lại độc lập thực sự cho ba quốc gia, đem lại hạnh phúc cho ba dân tộc.




-----------------------------------------------------------------
1. Mười hai điểm trong nội dung Đề án về chương trình chính trị, tình hình và nhiệm vụ của chúng ta thông qua tại Đại hội toàn quốc Mặt trận Lào kháng chiến họp từ ngày 13 đến 15 tháng 8 năm 1950:
1) Đánh đổ thực dân Pháp và bọn Lào gian bán nước, chống mưu mô can thiệp của đế quốc trên thế giới.
2) Thành lập nước Lào độc lập, thống nhất thật sự, thành lập Chính phủ liên hiệp quốc gia.
3) Thực hiện các quyền tự do dân chủ bao gồm tự do tín ngưỡng.
4) Tịch thu tài sản của thực dân Pháp và bọn Lào gian, giao cho Chính phủ xử lý, quốc hữu hoá các xí nghiệp của thực dân.
5) Xoá bỏ các thứ thuế do thực dân Pháp đặt ra, đặt thuế mới cho công bằng, bãi bỏ chế độ phu phen tạp dịch.
6) Phát triển công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp. Giải quyết vấn đề giao thông vận tải, cải thiện dân sinh, thực hiện giảm tô, giảm tức.
7) Ban bố luật giao thông và bảo hiểm lao động.
8 ) Thủ tiêu nạn mù chữ, phát triển giáo dục và văn hoá dân tộc.
9) Phát triển chiến tranh nhân dân và chính thức thành lập Quân đội Quốc gia Lào.
10) Thực hiện quyền dân tộc bình đẳng.
11) Thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất, tức Neo Lào Ítxalạ.
12) Đoàn kết với dân tộc Việt Nam, Khơme, đánh đổ đế quốc Pháp và bất cứ đế quốc nào can thiệp vào Lào, mật thiết liên hệ với các nước dân chủ mới, gia nhập Mặt trận hoà bình thế giới.
(Nguồn: Phòng Tư liệu Viện Nghiên cứu Đông Nam Á)


Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4782



« Trả lời #31 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2021, 09:53:09 am »

*
*     *

 Trong giai đoạn từ ngày 16 tháng 10 năm 1945 đến tháng 12 năm 1950, Việt Nam và Lào, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đã tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và Lào là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhằm bảo vệ những thành quả của Cách mạng tháng Tám 1945, thực hiện mục tiêu cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cuộc kháng chiến đó của nhân dân hai nước diễn ra trong bối cảnh, tình hình quốc tế, khu vực và Đông Dương có nhiều thuận lợi rất căn bản, song chứa đựng nhiều khó khăn, phức tạp. Từ năm 1945 đến đầu năm 1950, cả hai nước phải chiến đấu trong vòng vây bốn bề của chủ nghĩa đế quốc, thiếu sự giúp đỡ, viện trợ của các nước, lực lượng cách mạng từ bên ngoài. Trong khi đó, tiềm lực về kinh tế và quốc phòng của cách mạng Việt Nam và Lào còn có nhiều hạn chế bởi những hậu quả nặng nề của ách áp bức, bóc lột phong kiến, thực dân, phát xít; Pháp tuy phải chịu nhiều thiệt hại bởi Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945), nhưng vẫn là một nước đế quốc mạnh, lại được các nước đế quốc khác đồng lõa, ủng hộ việc Pháp đưa quân vào xâm lược Đông Dương lần thứ hai; đội quân xâm lược của Pháp được tổ chức và trang bị vũ khí hiện đại, có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh xâm lược. Trong bối cảnh, tình hình đó, cách mạng Việt Nam và Lào cần thiết và nhất thiết phải có sự liên minh, đoàn kết hỗ trợ lẫn nhau.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, kế thừa và phát triển truyền thống đoàn kết, tượng trợ và giúp đỡ lẫn nhau vốn có, Việt Nam và Lào từng bước xây dựng, củng cố, mở rộng và tăng cường mối quan hệ liên minh đoàn kết chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược. Trong từng năm tháng cụ thể, theo tình hình chung và riêng của hai nước Việt Nam - Lào, theo diễn biến của cuộc kháng chiến, Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời đề ra những chủ trương, biện pháp cụ thể nhằm đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng của hai nước tiến lên. Đảng Cộng sản Đông Dương đã từng bước xác định đường lối, tư tưởng và quan điểm chỉ đạo cách mạng ba nước Đông Dương. Trên quan điểm Đông Dương là một chiến trường, Đảng Cộng sản Đông Dương, Nhà nước, Chính phủ và quân đội Việt Nam cùng những nhà lãnh đạo cách mạng, lực lượng vũ trang và nhân dân Lào đã thống nhất ý chí đoàn kết, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung vì mục tiêu chung của hai nước và mục tiêu riêng của từng quốc gia.

Ngay từ tháng 10 năm 1945, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đại diện Chính phủ độc lập Lào đã ký Hiệp ước tương trợ Lào - Việt (ngày 16 tháng 10 năm 1945), Hiệp định về tổ chức liên quân Lào - Việt (ngày 30 tháng 10 năm 1945). Đó là những văn kiện chính thức đầu tiên, là cơ sở pháp lý của mối quan hệ liên minh, hợp tác giữa cách mạng Việt Nam - Lào.

Trong tiến trình của cuộc kháng chiến, Việt Nam trở thành chiến trường chính, nơi Pháp tập trung lực lượng đông nhất, nơi diễn ra những trận chiến lớn với quân xâm lược Pháp, đồng thời Việt Nam trở thành hậu phương lớn, chỗ dựa vững chắc đối với cách mạng Lào. Với sự hỗ trợ, giúp đỡ của Việt Nam trên nhiều phương diện, từ trung ương đến địa phương, mà quan trọng là sự phối hợp chiến đấu của quân và dân các tỉnh giáp nhau suốt dọc biên giới Việt - Lào, của liên quân Lào - Việt, Việt kiều giải phóng quân, của lực lượng quân tình nguyện Việt Nam trên khắp các chiến trường Lào, nên trong những năm 1945 - 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân Lào đã vượt qua được nhiều khó khăn, từng bước trưởng thành và phát triển. Đến năm 1950, Lào đã xây dựng được nhiều vùng giải phóng và khu căn cứ rộng lớn, chiếm khoảng một phần ba diện tích đất nước. Nhiều vùng giải phóng và khu căn cứ của Lào đã nối liền với nhau, mở thông với các vùng căn cứ Tây Bắc, các vùng hậu phương của Liên khu 4 và Liên khu 5 (Việt Nam), tạo thành một thế kháng chiến liên hoàn khá vững chắc giữa Việt Nam và Lào suốt theo chiều dài biên giới từ bắc xuống nam, theo từng vùng, miền của hai nước Việt Nam - Lào. Quân đội Lào Ítxalạ được thành lập (ngày 20 tháng 1 năm 1949). Mặt trận dân tộc thống nhất, tức Neo Lào Ítxalạ và Chính phủ Kháng chiến Lào ra đời (tháng 8 năm 1950). Sự phát triển lớn mạnh của cách mạng Lào trong những năm 1945 - 1950 tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của nhân dân Việt Nam.

Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, trong những năm 1945 - 1950, quân và dân Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi hết sức căn bản, đánh bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, mà dấu chấm hết của nó là chiến thắng Việt Bắc Thu Đông 1947, buộc Pháp phải chuyển sang đánh lâu dài, đối phó với kháng chiến toàn diện và ngày càng lao sâu vào thế bị động. Đầu năm 1950, Việt Nam đã giành được thắng lợi quan trọng về phương diện chính trị, đó là việc nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Liên Xô và một loạt nước dân chủ nhân dân công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến Thu Đông năm 1950, Việt Nam giành thắng lợi lớn về quân sự trong Chiến dịch Biên giới, mở thông đường liên lạc trực tiếp với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, tạo bước ngoặt căn bản cho cuộc kháng chiến. Chiến thắng Biên giới Thu Đông 1950 là kết tinh thành quả của những nỗ lực phi thường của quân và dân Việt Nam và về gián tiếp, có thể nói cũng là sự kết tinh của tình đoàn kết, phối hợp, liên minh chiến đấu giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào. Chiến thắng Biên giới Thu Đông 1950 đã tạo ra một chuyển biến căn bản, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam bước sang giai đoạn mới, giai đoạn Việt Nam nắm quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, chuyển sang liên tục tiến công và phản công địch.

Sự phối hợp, giúp đỡ, liên minh đoàn kết chiến đấu có hiệu quả, cùng những thành quả mà cách mạng hai nước đã giành được trong những năm 1945 - 1950 đã tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cách mạng hai nước, của mối quan hệ liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong nửa cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1951 - 1954.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4782



« Trả lời #32 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2021, 09:56:44 am »

Chương IV
TĂNG CƯỜNG LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU,
KẾT THÚC THẮNG LỢI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1951 - 1954)


I. MỞ RỘNG QUAN HỆ GIỮA CÁCH MẠNG VIỆT NAM VÀ CÁCH MẠNG LÀO TRONG HOÀN CẢNH MỚI (1951 - 1952)

1. Tình hình mới và yêu cầu mở rộng quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào


Sau năm năm tiến hành kháng chiến, nhân dân ba nước Đông Dương đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Đặc biệt từ sau chiến thắng Biên giới Thu Đông 1950 trên chiến trường Việt Nam, tình hình quân sự, chính trị ở Việt Nam và Lào có nhiều chuyển biến sâu sắc.

Ở Việt Nam, lực lượng kháng chiến đã phá được thế bao vây của chủ nghĩa đế quốc và mở thông con đường liên lạc trực tiếp giữa cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương với các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng yêu chuộng hòa bình thế giới. Từ đây, Việt Nam có điều kiện tiếp nhận sự ủng hộ về vật chất và tinh thần của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em để đẩy mạnh cuộc kháng chiến lên một bước phát triển mới. Ở trong nước, quân và dân Việt Nam đã xây dựng được lực lượng vũ trang ba thứ quân, tổ chức nhiều trung đoàn và đại đoàn chủ lực mạnh có khả năng mở những chiến dịch lớn, tiêu diệt được bộ phận sinh lực quan trọng của địch, giải phóng được nhiều vùng đất đai rộng lớn, làm lung lay ý chí quân xâm lược. Nhiều vùng hậu phương địch đã trở thành tiền phương của lực lượng kháng chiến.

Sự phát triển về thế và lực cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam từ sau chiến thắng Biên giới đã ảnh hưởng sâu sắc tới chiến trường ba nước Đông Dương, đặc biệt tạo thêm điều kiện để mở rộng quan hệ giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào.

Ở Lào, cuộc kháng chiến đã có bước phát triển quan trọng cả về lực lượng, thế trận và tác chiến. Đó là sự ra đời của Mặt trận Lào Ítxalạ (Neo Lào Ítxalạ) và Chính phủ Kháng chiến Lào (tháng 8 năm 1950) với khu giải phóng rộng lớn chiếm khoảng 1/3 diện tích nước Lào; có lực lượng vũ trang ngày càng vững mạnh, bao gồm hàng nghìn dân quân bản, tàxẻng (tổng), một số đội du kích thoát ly và một số đơn vị bộ đội chủ lực Ítxalạ như: đội Látxavông ở Hủa Phăn, đội Xây Xếtthảthilạt ở Trung Lào, đội Xaychắccaphắt ở Hạ Lào, đội Phạ Ngừm ở Viêng Chăn, đội Pắtchây ở Xiêng Khoảng... Chiến tranh du kích đã phát triển rộng trên các địa phương, gây cho quân địch nhiều tổn thất.

Những thắng lợi về chính trị và quân sự nói trên đánh dấu một bước phát triển rất quan trọng của cách mạng Lào, phản ánh ý chí thống nhất và quyết tâm của nhân dân các bộ tộc Lào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Những thắng lợi đó cùng với sự lớn mạnh của lực lượng kháng chiến Lào có ảnh hưởng lớn đối với phong trào kháng chiến ở Việt Nam và Campuchia, khiến cho quân Pháp phải rút một lực lượng lớn để lo đối phó với chiến trường Lào, do đó chúng không thể tập trung lực lượng tối đa vào chiến trường chính ở Việt Nam.

Trong khi tình hình chuyển biến ngày càng có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương thì thực dân Pháp càng lâm vào tình thế khó khăn, lúng túng, bị mất quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính ở Bắc Bộ (Việt Nam). Tâm lý hoài nghi, thất bại chủ nghĩa không chỉ diễn ra trong quân đội viễn chinh Pháp mà còn lan rộng đến giới chính trị và kinh doanh thực dân ở Đông Dương. Phong trào phản đối “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” ở Đông Dương của nhân dân Pháp và dư luận tiến bộ thế giới ngày càng dâng lên mạnh mẽ.

Đến đây, cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương bước sang một giai đoạn mới với nhiều thuận lợi cơ bản nhưng cũng đứng trước những thách thức mới. Bởi vì, từ sau khi cách mạng Trung Quốc thành công (tháng 10 năm 1949) và chiến tranh Triều Tiên nổ ra (tháng 6 năm 1950), cuộc chiến tranh Đông Dương đã trở thành một vấn đề quốc tế giữa hai phe: xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Việt Nam và Đông Dương ngày càng được Mỹ coi là trọng điểm để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lan rộng trong khu vực Đông Nam Á.

Vì thế, Mỹ tích cực viện trợ quân sự, kinh tế cho Pháp và ép Pháp phải tiến hành chiến tranh đến cùng, đồng thời từng bước thực hiện ý đồ xây dựng ảnh hưởng trực tiếp đối với ngụy quyền, ngụy quân tại ba nước Đông Dương.

Chỉ trong một thời gian ngắn, từ tháng 9 năm 1950 đến tháng 4 năm 1951, đế quốc Mỹ đã viện trợ cho thực dân Pháp 160 máy bay các loại, 42 tàu xuồng, 2 đại đội chiến xa và một số lượng lớn vũ khí đủ trang bị cho 12 tiểu đoàn quân ngụy, 460 triệu phrăng, trong đó 320 triệu phrăng là do Mỹ trực tiếp viện trợ cho các chính phủ bù nhìn ở Đông Dương.

Từ đây, viện trợ Mỹ chiếm một tỷ lệ ngày càng quan trọng trong ngân sách chiến tranh Đông Dương của Pháp: từ 19% năm 1950, 35% năm 1952, 43% năm 1953 lên đến 73% năm 1954 . Cùng với thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ trở thành kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân ba nước Đông Dương.

Được Mỹ tiếp sức, thực dân Pháp chủ trương kiên quyết giữ Đông Dương, tiếp tục thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương” một cách triệt để hơn, tăng cường lực lượng phòng giữ và bình định các vùng chiếm đóng, chủ yếu là vùng đồng bằng Bắc Bộ (Việt Nam), đồng thời xúc tiến chuẩn bị các điều kiện để phản công hòng xoay chuyển tình thế và giành lại quyền chủ động chiến lược đã mất.

Thực hiện chủ trương trên, ngày 6 tháng 12 năm 1950, Chính phủ Pháp quyết định cử Đại tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi, Tư lệnh Lục quân khối Tây Âu, làm tổng chỉ huy kiêm cao uỷ Pháp ở Đông Dương. Đây là lần đầu tiên sau năm năm chiến tranh, một viên tướng được Chính phủ Pháp giao nắm giữ cả hai chức chỉ huy chính trị và quân sự cao nhất trong chiến tranh Đông Dương.

Với ý đồ giành lại quyền chủ động, Đờ Lát vừa tới Đông Dương đã nhanh chóng vạch ra một kế hoạch chiến lược gồm các điểm: gấp rút tập trung quân Âu - Phi xây dựng một lực lượng cơ động chiến lược mạnh và ra sức phát triển quân ngụy; lập tuyến phòng thủ bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ nhằm đối phó với bộ đội chủ lực và ngăn chặn Việt Minh đưa nhân lực, vật lực ra vùng tự do; tiến hành “chiến tranh tổng lực”, bình định vùng tạm bị chiếm và vùng du kích để vơ vét sức người, sức của của nhân dân Đông Dương và đẩy mạnh việc phá hoại các vùng tự do... hòng gây thanh thế, lấy lại tinh thần binh lính địch, làm cơ sở cho việc xin Mỹ tăng cường viện trợ.

Kế hoạch Đờ Lát là một cố gắng rất lớn của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhằm đè bẹp lực lượng kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương, để nhanh chóng đi đến kết thúc chiến tranh.

Dựa vào viện trợ Mỹ, thực dân Pháp càng tăng cường thêm lực lượng quân sự ở Đông Dương. Đến tháng 3 năm 1951, tổng quân số trên toàn Đông Dương là 325.000 tên, trong đó có 160.000 lính Âu - Phi, 165.000 quân ngụy. Ở Việt Nam, Pháp bố trí 179 tiểu đoàn, phần lớn tập trung tại chiến trường chính Bắc Bộ, gồm 89 tiểu đoàn bộ binh và quân dù, 11 tiểu đoàn pháo binh, 3 trung đoàn cơ giới và 150 máy bay các loại... . Ở Lào, Pháp bố trí 12 tiểu đoàn làm nhiệm vụ chiếm đóng, gồm toàn quân ngụy Lào.

Đi đôi với việc phát triển lực lượng, thực dân Pháp đẩy mạnh càn quét, bình định trong các vùng chiếm đóng và tìm mọi cách chia rẽ, phá hoại sức mạnh đoàn kết kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương.

Bằng những thủ đoạn chiến tranh rất tàn khốc và xảo quyệt về mọi mặt, kẻ địch đã gây thêm nhiều khó khăn cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và Lào, nhất là làm cho hiệu quả của liên minh chiến đấu giữa hai nước bị hạn chế, không phát huy cao được khả năng phối hợp chiến trường. Tình hình đó đặt ra nhiều yêu cầu mới về xây dựng, phát triển lực lượng kháng chiến ở mỗi nước cũng như phối hợp tác chiến giữa chiến trường Lào với chiến trường chính Việt Nam.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4782



« Trả lời #33 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2021, 10:02:50 am »

2. Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương mở ra chặng đường phát triển mới của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Bước sang năm 1951, cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương đang trên đà phát triển mới, cục diện chiến tranh ở Đông Dương biến chuyển có lợi cho cách mạng Việt Nam, Lào và Campuchia. Thế phối hợp chiến đấu giữa các mặt trận trên chiến trường từng nước nói riêng cũng như giữa các chiến trường trên toàn Đông Dương nói chung càng có điều kiện phát triển thuận lợi. Thực tiễn phong phú của cuộc kháng chiến ở từng nước cũng như yêu cầu đẩy mạnh sự phối hợp tác chiến giữa các chiến trường Việt Nam, Lào, Campuchia đòi hỏi Đảng phải có đường lối, chính sách và tổ chức Đảng phù hợp với đặc điểm mỗi nước, đồng thời tạo điều kiện mở rộng hơn nữa sự phối hợp hành động trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ.

Do yêu cầu mới của cách mạng đặt ra, Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương được triệu tập. Đại hội khai mạc ngày 11 tháng 2 năm 1951 tại xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình), huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang (Việt Nam). Tham dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 76 vạn đảng viên của các đảng bộ Việt Nam, Lào và Campuchia. Đoàn đại biểu Đảng bộ Lào do đồng chí Cayxỏn Phômvihản làm trưởng đoàn.

Tại Đại hội, đồng chí Cayxỏn Phômvihản thay mặt những người cộng sản Lào và một đồng chí đại diện những người cộng sản Campuchia tham gia Đoàn Chủ tịch.

Từ ngày 11 đến 19 tháng 2 năm 1951, Đại hội đã nghiên cứu, thảo luận Báo cáo chính trị, Báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” (còn gọi là “Luận cương cách mạng Việt Nam”), Báo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng, các báo cáo bổ sung về Mặt trận dân tộc thống nhất, chính quyền dân chủ nhân dân, quân đội nhân dân, kinh tế - tài chính, về văn nghệ nhân dân và một số tham luận khác. Nội dung các bản báo cáo cũng như các phiên thảo luận tại Đại hội đều xoay quanh hai nhiệm vụ chính là: thúc đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và tổ chức Đảng Lao động Việt Nam.

Về mối quan hệ đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương, Đại hội nhất trí tăng cường hơn nữa sự phối hợp chiến đấu giữa ba dân tộc Việt Nam - Lào - Campuchia để chống kẻ thù chung. Đại hội thống nhất nhận định rằng, từ năm 1930 trở đi, Đảng Cộng sản Đông Dương là người tổ chức và lãnh đạo cách mạng ba nước Đông Dương, nhưng đến nay cách mạng và kháng chiến của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia có những bước phát triển riêng biệt, đòi hỏi phải có đường lối, chính sách và tổ chức Đảng phù hợp với đặc điểm mỗi nước và trên cơ sở phối hợp hành động chung giúp đỡ lẫn nhau. Điều đó đòi hỏi Đảng Cộng sản Đông Dương phải được tổ chức lại. Đại hội đã đi đến quyết định thành lập ở mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia một đảng Mác - Lênin, có cương lĩnh riêng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể để lãnh đạo cuộc kháng chiến ở từng nước.

Trong “Báo cáo chính trị” đọc tại Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu: đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và tổ chức Đảng Lao động Việt Nam. Đồng thời, Người kêu gọi phải ra sức giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân Lào và Campuchia, vì cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam có liên quan mật thiết với cuộc chiến tranh giải phóng Lào và Campuchia. Người nêu rõ: “Chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên, Lào cũng kháng chiến. Bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ là kẻ thù của ta và của dân tộc Miên, Lào. Vì vậy, ta phải ra sức giúp đỡ anh em Miên, Lào, giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào; và tiến đến thành lập Mặt trận thống nhất các dân tộc Việt - Miên - Lào” .

Sau khi thảo luận “Báo cáo chính trị” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội quyết định: ở Việt Nam sẽ xây dựng Đảng Lao động Việt Nam có Chính cương, Điều lệ thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Ở Lào và Campuchia, thành lập ở mỗi nước một chính đảng riêng lấy tên là Đảng Nhân dân Lào và Đảng Nhân dân Khơme, mỗi Đảng chịu trách nhiệm trước sự nghiệp giải phóng của dân tộc mình. Đảng Lao động Việt Nam có nghĩa vụ giúp đỡ các đồng chí và những tổ chức cách mạng Lào, Miên để họ lãnh đạo cuộc kháng chiến của hai dân tộc ấy giành lấy thắng lợi cuối cùng.

Theo tinh thần đó, Đảng Lao động Việt Nam phối hợp với những người cộng sản Lào xúc tiến chuẩn bị các điều kiện để tiến tới thành lập một chính đảng cách mạng ở Lào, như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn: “Các đồng chí Lào cần cố gắng thành lập cho được đảng cách mạng và ra sức củng cố đảng để đảng có đủ sức lãnh đạo cuộc cách mạng trên đất nước Lào. Về phía mình, Việt Nam luôn sẵn sàng ủng hộ và giúp đỡ các đồng chí Lào. Có Đảng cách mạng Lào lãnh đạo nhân dân Lào, có sự ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân Việt Nam và các nước bè bạn, cách mạng Lào nhất định thắng lợi; cán bộ Lào cần tin vào sức mình” .

Quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về sự tăng cường phối hợp, giúp đỡ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào, Campuchia được thể hiện cụ thể hơn trong “Luận cương về cách mạng Việt Nam” và trong các báo cáo chuyên đề của Đại hội.

Trong “Luận cương về cách mạng Việt Nam”, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng chỉ rõ: cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam có quan hệ mật thiết với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia. Song hiện nay, do tình hình và điều kiện cách mạng ở Việt Nam khác tình hình và điều kiện cách mạng ở Lào và Campuchia, cho nên vấn đề cách mạng Việt Nam phải đặt khác cách mạng Lào và cách mạng Campuchia. Những người cộng sản Việt Nam phải căn cứ vào điều kiện thực tế và đặc điểm của nước mình để định ra đường lối, chính sách riêng và tổ chức một đảng cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi.

Bàn về quan hệ đoàn kết, hợp tác giữa cách mạng ba nước Đông Dương, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: Việt Nam có nhiệm vụ giúp đỡ nhân dân Lào và Campuchia về cả vật chất và tinh thần để đẩy mạnh kháng chiến, nhất là giúp đỡ đào tạo cán bộ, kinh nghiệm tổ chức và đấu tranh; củng cố và phát triển Hội Ítxalạ ở Lào và Hội Ítxarắc ở Campuchia; xây dựng căn cứ địa, phát triển lực lượng vũ trang, thành lập quân đội nhân dân, xây dựng và phát triển chính quyền dân tộc chống đế quốc, thành lập Mặt trận thống nhất Việt - Lào - Campuchia để chống xâm lược. Đồng chí nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ, nhân dân Việt Nam phải khắc phục và ngăn chặn những tư tưởng sai lầm làm hại đến tình đoàn kết giữa ba dân tộc anh em, như tư tưởng bản vị, chỉ biết lo cho cách mạng nước mình mà không chú trọng giúp đỡ cách mạng Lào, cách mạng Campuchia và những thành kiến dân tộc hẹp hòi...

Phân tích ý nghĩa của chủ trương thành lập khối liên minh kháng chiến của ba dân tộc Việt Nam - Lào - Campuchia, trong Báo cáo “Củng cố khối đại đoàn kết để chiến thắng”, đồng chí Hoàng Quốc Việt khẳng định vai trò tích cực của liên minh trong việc thống nhất lực lượng, thống nhất hành động giữa ba dân tộc để đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến toàn thắng và đập tan âm mưu chia rẽ của bọn đế quốc và bè lũ tay sai.

Về phương diện quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Báo cáo “Xây dựng quân đội nhân dân hoàn thành chiến tranh giải phóng” đã phân tích, nêu lên những đặc điểm của chiến tranh giải phóng Việt Nam cũng như của Lào và Campuchia. Đồng chí nhấn mạnh đặc điểm: Đông Dương là một chiến trường không thể phân chia và vạch rõ âm mưu của thực dân Pháp là ra sức củng cố Lào, Campuchia để làm căn cứ kéo dài chiến tranh và chống lại cách mạng Việt Nam.

Từ thực tế đó, bản báo cáo quân sự của Đại hội nhấn mạnh yêu cầu ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia cần phải phối hợp tác chiến chặt chẽ với nhau và đề ra phương châm chiến lược ở các chiến trường. Việt Nam đảm trách chiến trường chính vì đại bộ phận binh lực của địch đóng ở Việt Nam, còn Lào và Campuchia là nơi địch sơ hở, lực lượng khá mỏng, nên giữ vai trò chiến trường kiềm chế và phối hợp.

Do yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến ở hai nước Lào và Campuchia trong giai đoạn mới, đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ ra những nhiệm vụ như: đẩy mạnh xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang, đào tạo cán bộ, kết hợp tác chiến với địch vận, chấn chỉnh lại tổ chức chỉ đạo quân sự ở Lào cho thích hợp, cán bộ quân sự Việt Nam ở Lào, Campuchia cần được bồi dưỡng thêm về kinh nghiệm hoạt động chính trị, tổ chức và phong tục tập quán của nước bạn.

Những nội dung nêu trên đã vạch ra phương hướng cho cán bộ, chiến sĩ Việt Nam sang công tác ở Lào căn cứ vào tình hình cụ thể mà đề ra biện pháp thực hiện sự phối hợp và giúp cách mạng Lào có hiệu quả hơn.

Như vậy, vấn đề đoàn kết, tăng cường phối hợp chiến đấu giữa ba dân tộc Đông Dương là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt trong các văn kiện của Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương. Nghị quyết của Đại hội khẳng định: “Vì Đông Dương là một chiến trường và cách mạng Việt Nam có nhiệm vụ phối hợp với cách mạng Miên, Lào, nên lúc này phải tích cực giúp đỡ cuộc kháng chiến Miên, Lào, phát triển du kích chiến tranh, xây dựng lực lượng võ trang, xây dựng căn cứ địa” .

Bản “Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam” - sự đúc kết trí tuệ của Đại hội, đã khẳng định:

“1. Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với hai dân tộc Miên, Lào và hết sức giúp đỡ hai dân tộc ấy cùng nhau kháng chiến chống đế quốc xâm lược, giải phóng cho tất cả các dân tộc Đông Dương.

2. Nhân dân Việt Nam đứng trên lập trường lợi ích chung mà hợp tác lâu dài với hai dân tộc Miên, Lào trong kháng chiến và sau kháng chiến” .

Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương là một sự kiện chính trị trọng đại, đánh dấu bước ngoặt rất quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương. Chủ trương thành lập ba đảng Mác - Lênin ở ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia thể hiện sự trưởng thành trong nhận thức chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương về “quyền dân tộc tự quyết” của các dân tộc ở Đông Dương, đồng thời phù hợp với bước phát triển mới của cách mạng, với đặc điểm tình hình xã hội ở từng nước. Đảng Cộng sản ở mỗi nước không những phải chịu trách nhiệm về sự tồn vong của dân tộc mình, mà còn phải gánh vác nghĩa vụ quốc tế cao cả, trước hết là đối với kháng chiến của các nước trên bán đảo Đông Dương.

Đối với cách mạng Lào, việc Đại hội xác định trách nhiệm của Đảng Lao động Việt Nam giúp đỡ những người cộng sản Lào tiến hành xây dựng chính đảng riêng của mình phản ánh sự đoàn kết, hợp tác chân tình, thủy chung, trong sáng, vô tư vì sự nghiệp cách mạng của hai dân tộc anh em. Phát biểu trong cuộc gặp mặt đầu tiên với Đảng Lao động Việt Nam, Hoàng thân Xuphanuvông thay mặt Mặt trận Lào Ítxalạ bày tỏ: “Sau khi được nghe những chính sách của Đảng, chúng tôi nhận thấy chính sách ấy biểu thị ý chí yêu nước cương quyết và tinh thần quốc tế rất rộng rãi thì chúng tôi rất tán thành và hoan nghênh”. “Chúng tôi tin chắc rằng Đảng Lao động Việt Nam sẽ là một chính đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến và kiến quốc của Việt Nam. Đồng thời sẽ cùng với Mặt trận Liên Việt giúp đỡ và dìu dắt nhân dân Lào trong việc đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược” .

Với chủ trương xây dựng ở mỗi nước một đảng cách mạng thích hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng nước, với việc khẳng định và tăng cường sự đoàn kết chống kẻ thù chung, Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương đã tiếp thêm sức mạnh cho khối liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương nói chung, cho liên minh chiến đấu Việt - Lào nói riêng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Đại hội đã xác định rõ thêm vị trí, vai trò của cách mạng mỗi nước, đặc biệt đề ra phương hướng, biện pháp để tăng cường liên minh chiến đấu Việt - Lào. Đại hội cũng mở ra một thời kỳ hoạt động mới, một hình thức liên minh chiến đấu mới giữa nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương. Từ đây, quan hệ Việt Nam - Lào - Campuchia là quan hệ giữa ba nước, ba đảng cách mạng, ba dân tộc trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung vì độc lập, tự do của mỗi quốc gia, vì phồn vinh, hạnh phúc của mỗi dân tộc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4782



« Trả lời #34 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2021, 10:06:22 am »

3. Phối hợp đẩy mạnh kháng chiến trong thời kỳ mới

a) Thành lập Mặt trận Liên Việt và Liên minh nhân dân ba nước Đông Dương


Đáp ứng yêu cầu tăng cường đoàn kết dân tộc và làm nòng cốt cho khối liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia trong thời kỳ mới, tháng 3 năm 1951, ở Việt Nam diễn ra Đại hội thống nhất Việt Minh và Liên Việt thành Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt).

Đại hội thông qua Chính cương, Điều lệ, Tuyên ngôn của Mặt trận và nhất trí việc xây dựng và bảo vệ khối đoàn kết giữa nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia để chống kẻ thù chung.

Phát biểu tại Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Với sự đồng tâm nhất trí của ba dân tộc anh em, với sức đại đoàn kết của ba dân tộc anh em, chúng ta nhất định đánh tan lũ thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, chúng ta nhất định làm cho ba nước độc lập và thống nhất thật sự” .
Việc tập hợp tất cả các lực lượng yêu nước trong một mặt trận thống nhất - Mặt trận Liên Việt, không chỉ có ý nghĩa đối với việc tăng cường sức mạnh của lực lượng kháng chiến chống Pháp ở Việt Nam, mà còn góp phần đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến chung của ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương.

Tham dự Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt, Hoàng thân Xuphanuvông thay mặt Ban Chấp hành Mặt trận dân tộc thống nhất Lào Ítxalạ phát biểu: “... Việc thống nhất Việt Minh - Liên Việt thành một mặt trận duy nhất của nhân dân Việt Nam có tính chất quan trọng”, góp phần “làm cho cuộc kháng chiến của Việt Nam thành một lực lượng mạnh mẽ hơn trong việc tiêu diệt bọn xâm lược. Hơn nữa, nó còn là trụ cột vững chắc của khối đại đoàn kết ba dân tộc Việt - Miên - Lào” .

Tiếp đó, theo sáng kiến của Đảng Lao động Việt Nam, ngày 11 tháng 3 năm 1951, Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Đông Dương đã được tổ chức tại xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình), huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Các đại biểu đại diện Mặt trận Liên Việt của Việt Nam, của Mặt trận Lào Ítxalạ, của Mặt trận Khơme Ítxarắc đã thảo luận và nhất trí thành lập khối liên minh nhân dân Việt Nam - Lào - Campuchia theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau. Hội nghị nhất trí đề ra chương trình hành động chung và cử ra Ủy ban liên minh nhân dân ba nước Đông Dương gồm các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Minh Giám (Việt Nam), Xuphanuvông, Nủhắc Phumxavẳn (Lào), Sơn Ngọc Minh, Tuxamút (Campuchia). Ủy ban có nhiệm vụ thực hiện các nghị quyết của Hội nghị và tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa nhân dân ba nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị với tư cách là Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch danh dự Mặt trận Liên Việt. Phát biểu tại Hội nghị, Người nói: “Kháng chiến của Việt Nam - Miên - Lào là chung của chúng ta, là bổn phận của chúng ta. Việt Nam kháng chiến có thành công thì kháng chiến Miên - Lào mới thắng lợi và kháng chiến Miên - Lào có thắng lợi thì kháng chiến Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi” và Người bày tỏ niềm vui mừng: “Từ nay chẳng những là toàn dân Việt Nam đoàn kết, mà toàn dân hai nước anh em là Cao Miên và Ai Lao cùng đi đến đại đoàn kết” .

Việc thành lập khối liên minh Việt Nam - Lào - Campuchia dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, góp phần tạo ra bước phát triển mới cho cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương.

Hoàng thân Xuphanuvông, Trưởng Đoàn đại biểu Mặt trận Lào Ítxalạ khẳng định ý nghĩa lịch sử và kết quả to lớn của sự ra đời Liên minh: “Chúng tôi vô cùng sung sướng thấy Hội nghị liên minh của ba dân tộc thu được kết quả mỹ mãn. Đó là bằng chứng chứng tỏ tinh thần đoàn kết thân mật và chặt chẽ của ba dân tộc. Mặt trận Liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào mà chúng ta thành lập ngày hôm nay có ý nghĩa rất trọng đại trong lịch sử từ trước tới nay chưa từng có. Chúng tôi nhận thấy đó là những quả tạ ngàn cân để đập tan mọi mưu mô chia rẽ của thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, nó đã biến lực lượng mạnh mẽ của chúng ta thành lực lượng vô biên để tiêu diệt tất cả kẻ xâm lăng nào muốn xâm lược lãnh thổ chúng ta...” .

Trưởng Đoàn đại biểu Mặt trận Khơme Ítxarắc nêu cao vai trò tích cực của Liên minh đối với cách mạng Cao Miên: “Riêng về dân tộc Miên, Mặt trận Liên minh này cho chúng tôi rất nhiều ảnh hưởng tốt đẹp. Từ nay chúng tôi được gia nhập một Mặt trận rộng lớn hơn, tranh đấu không phải cô độc mà còn có cả Đông Dương và Mặt trận Dân chủ thế giới làm hậu thuẫn”.

Thành công của Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Đông Dương đánh dấu một bước tiến mới của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia trong việc đoàn kết chống kẻ thù chung, làm cho nhân dân ba nước càng thêm phấn khởi, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của mình. Đó cũng là sự khẳng định ý chí thống nhất của nhân dân ba nước trong sự nghiệp đấu tranh tự giải phóng, là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia; đồng thời là đòn giáng mạnh vào âm mưu chia rẽ các dân tộc ở Đông Dương, là sự thất bại nặng nề của chính sách “chia để trị”, “dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương” của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Cùng với Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương, Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia đánh dấu sự phối hợp và liên minh giữa nhân dân ba nước Đông Dương ngày càng được mở rộng và là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu chống kẻ thù chung.

b) Chuẩn bị thành lập Đảng Nhân dân Lào

Chấp hành Nghị quyết Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương, các đồng chí Lào là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đã tổ chức thành “Nhóm Nhân dân Lào” để tiếp tục lãnh đạo cách mạng và chuẩn bị cho việc thành lập đảng chính trị của mình.

Theo yêu cầu của Mặt trận Ítxalạ và Chính phủ Kháng chiến Lào, tháng 3 năm 1951, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra mục tiêu và kế hoạch giúp các đồng chí đảng viên, cán bộ và nhân dân Lào xây dựng chính đảng Mác - Lênin để lãnh đạo cách mạng Lào. Hội nghị xác định: cương lĩnh, chính sách của Đảng Nhân dân Lào phải căn cứ vào đường lối cách mạng Lào đã được Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương thông qua. Đó là “Đoàn kết toàn bộ tộc, đánh đổ đế quốc xâm lược và bọn tay sai, làm cho nước Lào hoàn toàn độc lập, thống nhất” . Về tổ chức, xây dựng Đảng Nhân dân Lào phải theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết thống nhất nội bộ, có quan hệ mật thiết với quần chúng. Đồng thời phải tuỳ trình độ đảng viên, tình hình phát triển của cách mạng, yêu cầu của nhiệm vụ chính trị mà đề ra các biện pháp cho thích hợp. Trong lựa chọn phát triển đảng, chủ yếu hướng vào công nhân, nhân dân lao động, đồng thời chú ý những người có tinh thần yêu nước trong tầng lớp trên, những trí thức tiến bộ có uy tín và ảnh hưởng trong quần chúng. Hội nghị cũng nêu rõ, về phương châm phải cẩn thận, chuẩn bị từng bước vững chắc, không hấp tấp, miễn cưỡng, chú trọng chất lượng hơn số lượng.

Đồng thời, Hội nghị lần thứ nhất Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cũng ra quyết định cho các đảng viên Đảng Lao động Việt Nam hoạt động ở Lào thành lập các tổ chức Đảng Lao động Việt Nam để lãnh đạo các lực lượng Việt Nam giúp cách mạng Lào được thống nhất, đạt kết quả tốt. Các tổ chức này phải theo hệ thống Ban Cán sự Đảng các cấp trong các đơn vị làm nhiệm vụ giúp cách mạng Lào từ trung ương tới địa phương.

Theo tinh thần ấy, tháng 4 năm 1951, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định thành lập Ban Cán sự Đảng ở Mặt trận Thượng Lào, gồm các đồng chí Mai Côn làm bí thư Ban Cán sự; Tạ Xuân Thu và Đào Việt Hưng là ủy viên thường vụ; các đồng chí Đinh Văn Khanh, Nguyễn Quang Xá, Nguyễn Tài, Lý Thế Sơn là uỷ viên. Đồng thời, Ban Cán sự Đảng các mặt trận Trung Lào, Hạ Lào cũng lần lượt được bổ sung, kiện toàn để có đủ sức giúp cách mạng Lào và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao.

Tiếp đó, tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương: “Tách các đồng chí đảng viên cộng sản Lào ra khỏi tổ chức cơ sở của Đảng Cộng sản Đông Dương cũ, mà trước đây cả đảng viên Lào và đảng viên Việt Nam cùng sinh hoạt chung, để thành lập các “Nhóm trung kiên” gồm các đảng viên cộng sản Lào và những cốt cán ở địa phương làm tổ chức nòng cốt lãnh đạo phong trào và chuẩn bị điều kiện cho việc thành lập Đảng Nhân dân Lào sau này” . Tiêu chuẩn kết nạp vào “Nhóm trung kiên” là những cán bộ cốt cán Lào có tinh thần chiến đấu và công tác, có phẩm chất đạo đức, có quan hệ tốt đối với quần chúng và có khả năng phát triển thành đảng viên.

Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cũng xác định, lực lượng đảng viên Việt Nam và tổ chức Đảng Lao động Việt Nam ở Lào có trách nhiệm giúp “Nhóm trung kiên” Lào giữ vững sinh hoạt và lãnh đạo kháng chiến thông qua tổ chức Mặt trận Ítxalạ và Chính phủ Kháng chiến Lào.

Thực hiện chỉ đạo của Hội nghị Bộ Chính trị về công tác giúp Lào xây dựng đảng cách mạng, tháng 11 năm 1951, Chính phủ Việt Nam quyết định tổ chức một phái đoàn liên lạc bên cạnh Chính phủ Kháng chiến Lào gồm ba đồng chí Mai Côn, Tạ Xuân Thu, Đào Việt Hưng để giúp Chính phủ Kháng chiến Lào điều hành mọi công việc. Cùng với việc quản lý, chỉ đạo các lực lượng Việt Nam đang hoạt động giúp Lào ở chiến trường Thượng Lào, “phái đoàn liên lạc” còn có nhiệm vụ theo dõi, nắm tình hình của Trung Lào và Hạ Lào để tham mưu giúp Chính phủ và Trung ương Neo Lào Ítxalạ lãnh đạo kháng chiến.

Về Đảng, “phái đoàn liên lạc” cũng là Ban Cán sự Thượng Lào. Về quân sự, đồng chí Tạ Xuân Thu, Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam ở Mặt trận Thượng Lào, làm cố vấn cho Bộ Quốc phòng Lào. Đồng thời với việc tổ chức “phái đoàn liên lạc” bên cạnh Chính phủ Kháng chiến Lào, Chính phủ Việt Nam cũng cử các phái viên bên cạnh Uỷ ban Kháng chiến Trung Lào và Uỷ ban Kháng chiến Hạ Lào.

Các Ban Cán sự Đảng Lao động Việt Nam ở Thượng, Trung và Hạ Lào đều triển khai giáo dục cho cán bộ, đảng viên cả Việt Nam và Lào quán triệt nội dung tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 2 năm 1951) về công tác xây dựng đảng Mác - Lênin của giai cấp công nhân Lào để lãnh đạo cách mạng Lào. Song do khó khăn về giao thông liên lạc, kế hoạch hướng dẫn thực hiện cụ thể của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, của Mặt trận Ítxalạ và Chính phủ Kháng chiến Lào không kịp xuống các địa phương, nên việc triển khai còn chưa thống nhất: Hạ Lào vẫn tiếp tục “phát triển đảng viên nhân dân” và lập “chi bộ Đảng Nhân dân”; ngược lại ở Viêng Chăn, Luổng Phạbang, Huội Xài, Sầm Nưa vẫn cứ giữ “chi bộ cộng sản” như trước. Những nơi số đảng viên Lào có ít, lẻ tẻ vẫn còn sinh hoạt trong các chi bộ Đảng Lao động Việt Nam trong các đơn vị quân tình nguyện.

Tuy còn hạn chế, nhưng công tác phát triển đảng ở Lào đã có nhiều tiến bộ. Đến năm 1952, tổng số đảng viên cộng sản ở các địa phương Thượng, Trung và Hạ Lào đã tăng lên 433 đồng chí. Đó là cơ sở vật chất, là điều kiện thuận lợi về mặt tổ chức cho việc thành lập Đảng Nhân dân Lào sau này.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4782



« Trả lời #35 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2021, 10:11:31 am »

c) Tăng cường thực lực kháng chiến, chống địch càn quét lấn chiếm, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng ở Lào

Bước sang năm 1951, chiến trường Lào không còn là hậu phương an toàn của thực dân Pháp nữa. Để thực hiện kế hoạch Đờ Lát nhằm biến Lào thành một chiến trường phối hợp quan trọng, phục vụ âm mưu mở rộng cuộc chiến tranh ở Đông Dương, thực dân Pháp tập trung ở Lào hơn 20.000 quân, trong đó có 60% quân nguỵ Lào, 40% quân Âu - Phi và quân nguỵ Việt Nam, mở những cuộc càn quét ác liệt vào các vùng căn cứ kháng chiến, trọng điểm là các tỉnh khu vực Thượng Lào. Đồng thời, địch dùng các thủ đoạn chiến tranh tâm lý, tuyên truyền, lừa bịp hòng chia rẽ, cô lập, làm suy yếu tình đoàn kết chiến đấu của quân và dân hai nước Việt - Lào.

Trước tình hình đó, để giúp quân và dân Lào đánh bại chính sách càn quét, bình định của địch, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam càng tăng cường đoàn kết và phối hợp chặt chẽ với cách mạng Lào. Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi nhiệm vụ giúp cách mạng Lào như tự giúp mình để cùng phối hợp chiến đấu đánh đuổi kẻ thù chung, giành độc lập tự do cho mỗi nước trên bán đảo Đông Dương.

Theo yêu cầu của Chính phủ Kháng chiến Lào, trong năm 1951, Chính phủ Việt Nam đẩy mạnh chi viện quân sự cho chiến trường Lào. Lực lượng cán bộ và bộ đội Việt Nam sang hoạt động ở chiến trường Lào được tăng lên 12.000 người, gồm Thượng Lào hơn 6.000, Trung Lào hơn 3.000 người, Hạ Lào hơn 2.000 người.

Về danh nghĩa, các lực lượng này đều thống nhất lấy tên là Bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Lào và chấp hành theo quy định: “Bộ đội tình nguyện Việt Nam đặt dưới quyền tối cao của Chính phủ nước bạn. Bộ đội ấy phải theo đường lối chính trị, quân sự của nước bạn. Đến một địa phương nào, cán bộ chỉ huy Việt Nam phải bàn với cơ quan chính quyền địa phương để định nhiệm vụ công tác và tác chiến.

Bộ đội tình nguyện Việt Nam ở dưới quyền trực tiếp của Ban Chỉ huy Việt Nam về mọi mặt công tác, tác chiến, quản trị, huấn luyện, khen thưởng...” .

Việc tăng cường lực lượng cán bộ, bộ đội Việt Nam hoạt động trên chiến trường Lào với những quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ là cố gắng rất lớn của Chính phủ Việt Nam, thể hiện tinh thần đoàn kết và giúp đỡ vô tư của nhân dân Việt Nam đối với cách mạng Lào.   

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghĩa vụ quốc tế, nhân dân Việt Nam từ tiền tuyến đến hậu phương đều tích cực chấp hành chủ trương của Đảng, chia sẻ những thuận lợi, cùng khắc phục khó khăn, cử nhiều cán bộ, chiến sĩ sang giúp đỡ và cùng bạn Lào đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển lực lượng kháng chiến. Quân tình nguyện Việt Nam trên các chiến trường Lào được chấn chỉnh về tổ chức, tăng cường thêm lực lượng, kịp thời giúp bạn và cùng bạn vượt qua mọi khó khăn, đẩy mạnh kháng chiến trên tất cả các mặt trận Thượng, Trung và Hạ Lào.

Mặt trận Thượng Lào:

Chấp hành Nghị quyết Đại hội II (tháng 2 năm 1951) và theo yêu cầu của Chính phủ Kháng chiến Lào về việc giúp Lào xây dựng Khu giải phóng Thượng Lào thành căn cứ địa chính của cả nước, tháng 4 năm 1951, Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định thống nhất các lực lượng quân tình nguyện Việt Nam ở Bắc Lào và Tây Lào, thành lập Ban Cán sự Đảng và Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Mặt trận Thượng Lào.

Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam ở Mặt trận Thượng Lào gồm các đồng chí Tạ Xuân Thu, tư lệnh; Đào Việt Hưng, phó chính uỷ; Nguyễn Thế Tùng, trưởng ban quân chính; Nguyễn Tùng, phụ trách cung cấp (hậu cần).

Căn cứ vào đặc điểm cụ thể của chiến trường Lào, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đề ra nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng Lào ở Mặt trận Thượng Lào là: “Đẩy mạnh chiến tranh du kích để phối hợp chặt chẽ với cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam, với phương châm chiến lược “du kích chiến là chính, tiến tới vận động chiến”. Chú trọng giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang địa phương, xây dựng căn cứ địa vững chắc” . Để phát triển chiến tranh du kích rộng rãi, phương thức hoạt động chủ yếu là vũ trang tuyên truyền, ban xung phong công tác, đại đội độc lập và thực hiện tiểu đoàn tập trung trong những điều kiện thuận lợi; đồng thời lấy khu tam giác Sầm Nưa - Xiêng Khoảng - Luổng Phạbang làm trung tâm xây dựng căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Lào.

Thực hiện quyết định của Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Ban Cán sự Đảng Mặt trận Thượng Lào quyết định tổ chức các lực lượng quân tình nguyện Việt Nam ở Thượng Lào thành bốn đoàn phụ trách bốn địa bàn khác nhau: Đoàn 80 (Phân khu A cũ) phụ trách hai tỉnh Hủa Phăn và Phôngxalỳ; Đoàn 81 (Phân khu B cũ) phụ trách tỉnh Xiêng Khoảng; Đoàn 82 (Phân khu C cũ) phụ trách hai tỉnh Luổng Phạbang và Huội Xài; và Đoàn 83 (khu Tây Lào cũ) phụ trách tỉnh Viêng Chăn và hai huyện Pạc Lai, Xaynhabuli (Luổng Phạbang).

Dưới sự chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng và Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Mặt trận Thượng Lào, các đoàn 80, 81, 82 và 83 nhanh chóng ổn định tổ chức, khẩn trương tiến hành chấn chỉnh bộ đội, để sớm đưa các lực lượng đi vào hoạt động.

Ngay từ đầu, Ban Cán sự Đảng và Bộ Tư lệnh quân tình nguyện chủ trương mở các lớp chỉnh huấn chính trị cho các đơn vị. Lớp học đầu tiên gồm cán bộ trung đội, tiểu đội của các đoàn 80, 81, 82, 83 cử đến học tập. Phía bạn Lào có ba cán bộ cùng tham dự đợt chỉnh huấn này. Hoàng thân Xuphanuvông đến dự lễ khai giảng, nói chuyện động viên cán bộ Việt Nam và Lào nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập. Tính chung, toàn mặt trận đã mở được 18 lớp học cho bộ đội, theo các nội dung: bản chất quân đội nhân dân; nghĩa vụ quốc tế của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào; tình hình nhiệm vụ và các chính sách, công tác của cách mạng Lào. Đồng thời, về quân sự, tổ chức cho bộ đội học tập các kỹ thuật bắn súng, ném lựu đạn, đánh mìn... và chiến thuật phục kích, vận động phục kích trên địa hình rừng núi với quy mô trung đội, đại đội và tiểu đoàn.

Sau một thời gian tập trung xây dựng, huấn luyện, các đơn vị quân tình nguyện đã nhanh chóng trở lại thực hiện các nhiệm vụ, sát cánh cùng quân và dân Lào đẩy mạnh chiến đấu và công tác. Được nhân dân Lào tin cậy và hết lòng giúp đỡ, quân tình nguyện Việt Nam cùng bộ đội Lào Ítxalạ đi sâu vào các thôn bản, tuyên truyền vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang địa phương. Trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân đã được chuẩn bị, quân tình nguyện và bộ đội Lào tổ chức các trận phục kích, chặn đường tiếp tế, quấy rối các đồn bốt, đánh chặn các cuộc càn quét của địch, bảo vệ vững chắc khu căn cứ kháng chiến của Lào.

Nổi bật là ở các khu vực Xiêng Khọ - Nặm Mã, Mương Xôi và Sằm Tớ (Sầm Nưa), Xảm Chè - Mương Mộc, Thà Viêng - Mương Om (Xiêng Khoảng)..., bộ đội tình nguyện Việt Nam cùng cán bộ Lào đi vào các bản, tuyên truyền vận động nhân dân giúp đỡ bộ đội, ủng hộ kháng chiến, từng bước xây dựng các tổ trung kiên, dân quân du kích bí mật, vận động nhân dân thực hiện vườn không nhà trống, giúp đỡ và phối hợp với bộ đội chiến đấu khi địch càn quét.

Với sự đoàn kết giúp đỡ, phối hợp của quân tình nguyện Việt Nam, phong trào kháng chiến ở Thượng Lào có bước phát triển mới. Đến giữa năm 1951, Thượng Lào đã xây dựng, củng cố được các khu du kích ở Mương Xôi, Mương Xăm, Xiêng Khọ, Mương Xon, Pạc Xeng... Nhiều xã, bản của Thượng Lào có cơ sở kháng chiến và tổ chức được dân quân du kích.

Trước sự lớn mạnh của phong trào kháng chiến Thượng Lào, địch tập trung quân càn quét, đánh phá liên tục vào các vùng vừa mới giải phóng và các khu căn cứ. Bộ đội tình nguyện Việt Nam và bộ đội Lào Ítxalạ kiên trì bám đất, bám dân, tích cực chiến đấu gây cho chúng nhiều thiệt hại. Nhưng do địch có lực lượng đông hơn, ta chưa đủ sức ngăn chặn các hoạt động của chúng nên một số vùng giải phóng và khu căn cứ bị địch lấn chiếm, cơ sở quần chúng bị địch phá vỡ. Cuộc chiến đấu chống địch càn quét, bình định diễn ra quyết liệt trong thế giằng co ở các khu vực Thượng Lào.

Theo dõi chặt chẽ tình hình và trao đổi thống nhất với Trung ương Mặt trận Ítxalạ và Chính phủ Kháng chiến Lào, ngày 25 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp và ra Nghị quyết Về tình hình và nhiệm vụ trước mắt ở Thượng Lào.

Đánh giá về kết quả giúp đỡ cách mạng Lào của quân tình nguyện Việt Nam, Nghị quyết chỉ rõ: cách mạng Lào, kháng chiến Lào căn bản là dựa trên sức của nhân dân Lào, cán bộ và bộ đội Việt Nam sang Lào để giúp gây dựng lực lượng cách mạng, lực lượng kháng chiến của nhân dân Lào. Vì không hiểu đúng điều này nên có đồng chí đã phạm lệch lạc trong thái độ đối với cách mạng Lào, kháng chiến Lào, với cán bộ và nhân dân Lào.

Nghị quyết nhấn mạnh: “Cái gốc của lực lượng kháng chiến Lào là nhân dân Lào, nhân dân giác ngộ có tổ chức. Nhân dân giác ngộ cao, tổ chức rộng và vững chắc chừng nào thì sức kháng chiến mạnh chừng ấy. Vì không hiểu đúng điểm này nên có đồng chí lo hoạt động quân sự hơn gây cơ sở nhân dân trong lúc cơ sở nhân dân chưa có hay non yếu.

Phải nắm nhân dân để tổ chức tranh đấu vũ trang và kháng chiến cốt yếu là vũ trang tranh đấu. Nhưng ở Lào hiện nay, vũ trang tranh đấu là du kích chiến tranh, xây dựng và tác chiến phải nhằm phương châm: gây dựng, củng cố phát triển du kích chiến tranh. Vì không hiểu đúng điều này nên có đồng chí có xu hướng ham tập trung chủ lực, đánh chính quy, đánh to. Như thế không đánh được giặc vừa phiền nhân dân rất nhiều.

Vì những sai lệch căn bản trên nên ta sơ hở nhiều để địch nhân chỗ sơ hở đó mà phá cơ sở ta, đánh dồn ta, thu hẹp vùng ta kiểm soát, uy hiếp đến căn cứ của ta (ở Thượng Lào)...” .

Xuất phát từ tình hình thực tế của cách mạng Lào, muốn tiến hành kháng chiến nhất thiết phải phát động và tổ chức nhân dân đoàn kết đứng lên chống quân xâm lược, Hội nghị đề ra hai nhiệm vụ cấp bách trong công tác giúp cách mạng Lào lúc này là:

“1. Củng cố cơ sở chính trị, quân sự, xây dựng cơ sở kinh tế ở vùng ta kiểm soát, đặc biệt củng cố cơ sở ấy ở nơi ta định xây dựng thành căn cứ địa...

2. Tuyên truyền sâu rộng trong vùng ta kiểm soát, cố gắng tuyên truyền rộng rãi trong vùng du kích, vùng tạm bị chiếm, trong các đô thị; tuyên truyền sự cần thiết đoàn kết toàn dân Lào và đoàn kết Lào - Việt - Miên để kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, để phá chính sách lợi dụng nguỵ quyền, nguỵ quân, phá chính sách chia rẽ Lào - Việt”.

Do yêu cầu nâng cao hơn nữa hiệu quả phối hợp giữa cách mạng hai nước Việt Nam và Lào, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra chỉ thị cho các lực lượng quân tình nguyện Việt Nam phải giúp Lào chuyển hướng chủ trương và phương thức hoạt động. Chỉ thị nêu rõ: “Tích cực củng cố cơ sở chính trị, quân sự, ra sức cải thiện dân sinh, mở chiến dịch tuyên truyền rộng rãi đường lối, chính sách cách mạng và kháng chiến cho nhân dân ba vùng căn cứ, du kích và địch hậu, coi trọng công tác bí mật chiều sâu, ra sức đào tạo cán bộ địa phương” .

Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, sang năm 1952, các đơn vị quân tình nguyện đứng chân trên địa bàn Thượng Lào chuyển phương thức hoạt động, thực hiện phương châm đại đội độc lập và đội vũ trang tuyên truyền. Theo phương hướng đó, bộ đội tình nguyện phối hợp với quân và dân Lào kiên quyết chiến đấu đập tan các cuộc càn quét lấn chiếm của địch, giữ vững và mở rộng các căn cứ kháng chiến, xây dựng cơ sở và lực lượng vũ trang. Đồng thời, giúp bạn đưa lực lượng tiến sâu vào vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích, biến nhiều vùng hậu phương của địch thành tiền phương của lực lượng kháng chiến Lào.

Với sự nỗ lực và phối hợp chặt chẽ của quân tình nguyện Việt Nam, quân và dân Lào đã xây dựng, củng cố được nhiều khu căn cứ du kích ở Mương Beng, Mương Hùn (Luổng Phạbang), Nặm Tòn - Nặm Xẳng, Mương Phương - Mương Mẹt, Bạn Xạng, Na Khưa - Na Lưởng, Nặm Xăn - Nặm Nghiệp (Viêng Chăn)... tạo cơ sở vững chắc cho việc phát triển chiến tranh du kích ở các tỉnh Thượng Lào. Nhiều làng bản trong các vùng căn cứ đã tổ chức được chính quyền, mặt trận, dân quân du kích và các hội quần chúng. Những thắng lợi đó tạo điều kiện cho việc củng cố, phát triển thế và lực của cách mạng, góp phần làm chuyển biến tình hình có lợi cho phong trào kháng chiến ở Thượng Lào.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4782



« Trả lời #36 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2021, 10:20:15 am »

Mặt trận Trung Lào:   

Từ đầu năm 1951, địch tăng cường càn quét, đánh phá vùng giải phóng dọc Trung Lào, sát vùng biên giới với Việt Nam, nhằm tiêu diệt lực lượng Mặt trận Lào Ítxalạ, xoá vùng căn cứ kháng chiến ở Lào, từ đó xây dựng bàn đạp để tiến công, uy hiếp trực tiếp chiến trường Liên khu 4 của Việt Nam. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chiến trường Liên khu 4 và Trung Lào ngày càng có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đánh bại âm mưu mở rộng chiến tranh của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Xuất phát từ thực tiễn đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam giao nhiệm vụ cho Liên khu uỷ 4 trực tiếp chỉ đạo công tác phối hợp, giúp đỡ cách mạng Lào thông qua Ban Cán sự Trung Lào.

Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, ngày 16 tháng 3 năm 1951, Liên khu uỷ 4 đã họp ra nghị quyết về nhiệm vụ và phương thức hoạt động của bộ đội tình nguyện và cán bộ cơ sở của Liên khu ở chiến trường Trung Lào. Nghị quyết chỉ rõ: “... Các lực lượng của ta cùng với bạn kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đưa chiến tranh du kích tiến sâu vào lòng địch; giúp bạn bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, phát triển mặt trận Ítxalạ; xây dựng và bảo vệ các căn cứ kháng chiến, các khu du kích ở vùng giáp ranh, tổ chức lực lượng dân quân du kích ở cơ sở, tích cực xây dựng các đội vũ trang tuyên truyền ở Trung Lào...” .

Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ quốc tế mà Trung ương Đảng giao cho, Liên khu uỷ 4 tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo nhằm đẩy mạnh việc chi viện, phối hợp với quân và dân Lào đánh địch ở Trung Lào. Từ đây, vai trò và sự đóng góp của quân và dân Liên khu 4 đối với cách mạng Lào ngày càng được nâng lên. Cùng với việc cung cấp hai tiểu đoàn và một số đơn vị vũ trang, 1.000 cán bộ sang giúp lực lượng kháng chiến Trung Lào, Liên khu 4 còn đóng vai trò là hậu phương nơi đóng quân và vùng hoạt động của các lực lượng kháng chiến Việt Nam và Lào tại chiến trường Trung Lào. Trong thời gian Chính phủ Kháng chiến Lào về đứng chân trên đất Thanh Hoá (từ cuối năm 1950), rồi Nghệ An (từ đầu năm 1952), Đảng bộ và nhân dân Liên khu 4 nói chung, tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An nói riêng, hết lòng giúp đỡ xây dựng lán trại, cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi dưỡng, bảo vệ tận tình. Nhân dân các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh tích cực chấp hành chủ trương của Liên khu về việc thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại chiến trường Trung Lào, như tham gia dân công, mở đường, vận chuyển lương thực, hàng hoá phục vụ tác chiến cho quân tình nguyện và giúp bộ đội, nhân dân Lào trong các vùng căn cứ và vùng giải phóng. Các tỉnh Liên khu 4 của Việt Nam cũng tổ chức kết nghĩa với các tỉnh biên giới của Lào như Hà Tĩnh kết nghĩa với Bolikhămxay .

Tháng 4 năm 1951, với sự giúp đỡ của quân và dân Liên khu 4, Đại hội đại biểu nhân dân Trung Lào được tổ chức tại xã Trúc Lâm, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Đại hội đã tán thành chủ trương thành lập khối liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào và xác định quyết tâm: “... Đoàn kết, chiến đấu và hợp tác toàn diện với quân dân Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược để giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước” . Đại hội quyết định thành lập Mặt trận Ítxalạ Trung Lào, vạch chương trình, kế hoạch phối hợp hành động với quân và dân Liên khu 4 của Việt Nam để đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Trung Lào.

Nhất trí với tinh thần Nghị quyết của Đại hội đại biểu nhân dân Trung Lào, Liên khu uỷ 4 giao cho Ban Cán sự Trung Lào và Ban Chỉ huy Đoàn 280 quân tình nguyện (Trung đoàn Trung Lào) giúp đỡ Lào thực hiện mọi chủ trương, kế hoạch về xây dựng, chiến đấu, phục vụ chiến đấu và công tác ở Trung Lào.

Thực hiện chủ trương phối hợp chiến đấu giữa cách mạng hai nước, Ban Cán sự Trung Lào và Ban Chỉ huy Đoàn 280 quân tình nguyện đã chỉ đạo các phân đoàn cơ sở, các đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung tiến sâu vào nội địa Lào, đẩy mạnh hoạt động tác chiến và gây dựng cơ sở, giúp Lào bảo vệ các căn cứ kháng chiến. Căn cứ vào đặc điểm chiến trường Trung Lào, các đội công tác cơ sở của quân tình nguyện Việt Nam phân tán tổ chức thành nhiều nhóm, mỗi nhóm từ hai đến ba người, cùng cán bộ Lào đi vào từng làng bản, thực hiện “ba cùng” với dân, tuyên truyền vận động nhân dân tham gia kháng chiến, động viên các bộ tộc Lào không cho con em đi lính cho địch, chống phu phen tạp dịch, đồng thời vạch rõ âm mưu thực hiện chính sách “chia để trị”, “dùng người Lào đánh người Lào” để phục vụ chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.

Với sự phối hợp hoạt động chặt chẽ đó, phong trào kháng chiến ở Trung Lào có bước phát triển mới. Đầu năm 1951, Trung Lào đã xây dựng được các khu du kích ở Tà Ôi, Mương Noòng, Bualapha, Ang Khăm, Thà Phaibạn... Gần 60 xã trên tổng số 95 xã của Trung Lào có cơ sở kháng chiến, trong đó 40 xã đã xây dựng được chính quyền cách mạng. Đến giữa năm 1951, địa bàn hoạt động của Liên khu 4 và Trung Lào ở vùng sát biên giới hai nước đã mở rộng gấp 5 lần so với trước, góp phần bảo vệ vững chắc vùng biên cương phía tây Liên khu 4 của Việt Nam.

Đối phó với phong trào kháng chiến ở Trung Lào, thực dân Pháp tăng cường phòng thủ hai tiểu khu Xavẳnnakhệt và Thà Khẹc, âm mưu biến nơi đây thành khu vực trọng điểm để ngăn chặn sự phối hợp tiến công của quân và dân hai nước Việt - Lào. Chúng còn ra sức tuyên truyền gây chia rẽ nội bộ các bộ tộc Lào, phá hoại tình đoàn kết chiến đấu Việt - Lào.

Trước âm mưu, thủ đoạn đánh phá mới của địch, bộ đội Việt Nam và bộ đội Ítxalạ đã tích cực đấu tranh và kiên quyết chiến đấu bảo vệ nhân dân, giữ vững căn cứ kháng chiến. Thực hiện tuyên truyền vận động nhân dân Lào đứng lên chống địch và vận dụng nhiều cách đánh linh hoạt, sáng tạo, bằng những vũ khí thông dụng, thô sơ, bộ đội Việt - Lào đã phối hợp với du kích địa phương tổ chức nhiều trận tập kích, phục kích, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và bẻ gãy nhiều cuộc càn quét của địch vào các khu căn cứ ở Bualapha, Ang Khăm... Công tác binh vận cũng đã được phát động trong các thôn bản Lào.

Đồng thời, để bồi dưỡng năng lực lãnh đạo, chỉ huy và công tác cho đội ngũ cán bộ Lào, tháng 1 năm 1952, Ban Cán sự Trung Lào và Đoàn 280 giúp Uỷ ban Trung Lào mở bốn khoá huấn luyện cho hơn 300 cán bộ sơ cấp quân sự, chính trị. Đội ngũ cán bộ này là lực lượng nòng cốt, góp phần quan trọng thúc đẩy phong trào kháng chiến ở Trung Lào phát triển.

Với sự đoàn kết giúp đỡ, phối hợp của quân và dân Liên khu 4, của quân tình nguyện Việt Nam, các căn cứ kháng chiến và căn cứ du kích ở Trung Lào được giữ vững, mở rộng, nối liền với vùng giải phóng Bắc Lào và Hạ Lào, tạo thế vững chắc cho cuộc kháng chiến của nhân dân Lào phát triển. Đến cuối năm 1952, Mặt trận Ítxalạ ở Trung Lào đã có 419 tổ chức cơ sở. Lực lượng vũ trang các địa phương phát triển mạnh: vùng Mahả Xây có hơn 100 du kích; vùng Bualapha phát triển được 200 du kích và tổ chức một trung đội bộ đội địa phương; vùng Mương Noòng có 600 du kích và một trung đội bộ đội địa phương; vùng Thà Phaibạn có trên 100 du kích và hai trung đội bộ đội địa phương . Toàn khu Trung Lào có 120 tiểu đội du kích, 2 đại đội và 4 trung đội bộ đội địa phương, 2 đại đội bộ đội chủ lực khu. Cán bộ chỉ huy các đơn vị đều là những cán bộ trung kiên, được rèn luyện, trưởng thành trong quá trình phát triển của cuộc kháng chiến. Uỷ ban Kháng chiến Trung Lào được thành lập do đồng chí Khăm Tày Xiphănđon làm chủ tịch, đồng thời là đại diện Chính phủ Kháng chiến và Trung ương Mặt trận Lào Ítxalạ ở Trung Lào. Chính quyền và Mặt trận Lào Ítxalạ các cấp từ khu, tỉnh xuống các huyện, tàxẻng, bản được xây dựng, củng cố, đảm nhiệm việc quản lý chỉ đạo hoạt động về mọi mặt của địa phương.

Nhận định về ý nghĩa thắng lợi và sự trưởng thành của khu kháng chiến Trung Lào, Hội nghị liên tịch của Uỷ ban Kháng chiến và Ban Cán sự Trung Lào nêu rõ: “Do nắm vững phương châm hoạt động, với ý nghĩa trách nhiệm đầy đủ của mình, các lực lượng vũ trang Trung Lào và bộ đội tình nguyện Việt Nam đã đạt được một số thắng lợi quan trọng. Uỷ ban Kháng chiến và Mặt trận Ítxalạ được kiện toàn, nhiều bản và tàxẻng thành lập được chính quyền và các tổ chức quần chúng. Cơ sở cách mạng được củng cố ở các vùng dọc Trường Sơn như Khăm Cợt, Bualapha, Tà Ôi, Mương Noòng, Kẹng Koọc, Mahả Xây, Nhômmalạt...” .

Thắng lợi của phong trào kháng chiến trên chiến trường Trung Lào trong những năm 1951 - 1952 đã góp phần cùng với phong trào kháng chiến Thượng Lào, Hạ Lào làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch có lợi cho lực lượng kháng chiến ở Lào, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam và Lào phối hợp đẩy mạnh kháng chiến, tiến lên giành những thắng lợi to lớn có ý nghĩa quyết định trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4782



« Trả lời #37 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2021, 10:25:02 am »

Mặt trận Hạ Lào:

Từ sau khi liên quân Lào - Việt phát triển lực lượng sâu vào tây nam Áttapư và mở rộng hoạt động xuống cao nguyên Bôlavên, đường 13 và tây nam Xalavăn, địch đã phản ứng rất quyết liệt. Chúng tăng cường càn quét bình định hòng tiêu diệt lực lượng kháng chiến, giành lại quyền kiểm soát các vùng đã bị mất, cố giữ Hạ Lào thành hậu phương an toàn, bảo vệ đầu cầu tiếp vận cho chiến trường Lào. Hoạt động của địch đã gây nhiều thiệt hại cho lực lượng kháng chiến Lào, một số đơn vị vũ trang tuyên truyền Việt - Lào phải rút về phía đông đường 13, một số tổ công tác dân vận phải tạm rời khỏi các bản. Tình hình đó khiến cho phong trào kháng chiến ở Hạ Lào gặp thêm nhiều khó khăn, phức tạp.

Quán triệt sâu sắc chủ trương của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về nghĩa vụ quốc tế, quân và dân Liên khu 5 (Việt Nam) càng tăng cường đoàn kết và phối hợp chặt chẽ với cách mạng Lào. Đầu năm 1951, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 quyết định tăng cường một tiểu đoàn chủ lực cùng một số cán bộ các ngành tham mưu, hậu cần sang phối hợp chiến đấu trên chiến trường Hạ Lào. Đồng thời, để tạo điều kiện cho liên quân Lào - Việt tác chiến thuận lợi dọc theo biên giới hai nước, Liên khu tiếp tục củng cố tuyến hành lang Hạ Lào, từ ngã ba Tam An lên Cẩm Khê, sang Minh Huy rồi lên Bến Giằng, Arố, qua Đắc Chưng sang Hạ Lào và huy động hàng ngàn dân công bảo đảm vận chuyển lương thực, thực phẩm, các loại vũ khí trang bị... chi viện cho chiến trường Hạ Lào. Liên khu 5 cũng cử một đội ngũ chuyên gia các ngành nghề, như nấu muối, dệt, rèn, làm giấy, làm ruộng chiêm, dạy bình dân học vụ... sang giúp cách mạng Lào xây dựng kinh tế kháng chiến, tổ chức đời sống văn hoá mới trong các vùng giải phóng.

Thực hiện sự chỉ đạo của Liên khu, nhân dân Quảng Nam, nhất là các xã Tam Dân, Tam Thái, Tam Ngọc, Tam An (nay là các xã Tam Dân, Tam Vinh, Tam Đại, Tam Phước, Tam An thuộc huyện Phú Ninh) đã hết lòng giúp đỡ cơ quan hậu cứ Khu kháng chiến Hạ Lào hoàn thành nhiệm vụ: tiếp nhận vũ khí, lương thực, quân trang cho chiến trường Hạ Lào; tiếp nhận và chữa trị cho thương binh từ Mặt trận Hạ Lào và bồi dưỡng, huấn luyện chiến đấu cho các đơn vị bộ đội Việt - Lào. Nhiều gia đình đã nhường cả ngôi nhà mình đang ở cho cán bộ, chiến sĩ sử dụng, lựa chọn những gian nhà khang trang, sạch sẽ nhất bố trí cho cán bộ, chiến sĩ Lào sinh hoạt và làm việc... Lương thực dành cho các bạn Lào là gạo nếp (nấu thành xôi) do nhân dân trong vùng cung cấp.

Trong những năm tháng khó khăn ấy, tuy bị địch bao vây kinh tế, bộ đội Việt Nam - Lào và nhân dân địa phương nhiều vùng không có muối ăn, phải ăn cỏ tranh thay muối, nhưng với tinh thần “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”, nhân dân Quảng Nam đã cung cấp, vận chuyển hàng trăm tấn muối cho nhân dân Hạ Lào. Thậm chí có những gia đình không có cơm ăn đã đào củ mài về nuôi những chiến sĩ mà nước bạn Lào gửi sang...

Đáp ứng yêu cầu phối hợp chiến đấu trong tình hình mới, Liên khu 5 và Khu kháng chiến Hạ Lào đã thống nhất thay đổi về hình thức tổ chức và mối quan hệ giữa các lực lượng vũ trang Việt Nam và Lào. Ban Chỉ huy hỗn hợp Việt - Lào giải thể. Quân tình nguyện Việt Nam tổ chức cơ quan chỉ huy riêng, gọi là Ban Chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam ở Hạ Lào và được giao nhiệm vụ làm chuyên gia giúp Lào về các mặt xây dựng và hoạt động. Bộ đội Lào Ítxalạ cũng được chấn chỉnh và tăng cường. Ban Chỉ huy quân sự khu Hạ Lào được thành lập, các lực lượng vũ trang Lào gồm ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích) được hình thành.

Thực hiện chủ trương trên, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đóng quân xen kẽ trên các mặt trận và khu căn cứ, vừa làm nhiệm vụ cơ động đánh địch, vừa phối hợp giúp đỡ bộ đội Lào Ítxalạ trong xây dựng và chiến đấu. Nắm vững phương châm “kết hợp quân sự với chính trị” và vận dụng phương thức “trung đội tập trung cơ động đánh địch, tiểu đội phân tán xây dựng cơ sở” ở từng mặt trận, phần lớn các đơn vị quân tình nguyện đã cùng bộ đội Lào Ítxalạ bám sát các địa bàn, thực hiện cùng ăn, cùng ở, cùng sản xuất với dân, cùng dân quân du kích địa phương tuần tra canh gác, chống biệt kích phá hoại, chống địch càn quét.

Căn cứ vào đặc điểm cụ thể của từng địa bàn, sự phối hợp chiến đấu giữa quân tình nguyện Việt Nam với bộ đội và nhân dân khu Hạ Lào được triển khai rộng rãi với nhiều biểu hiện phong phú.

Tại tỉnh Chămpaxắc, Ban Chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam và Ban Chỉ huy quân sự khu Hạ Lào quyết định thành lập Liên đại đội Xaychắccaphắt để phát triển địa bàn hoạt động vào vùng sau lưng địch ở các khu vực phía tây sông Mê Công. Nhưng, do địch tăng cường càn quét, khủng bố gắt gao nên bộ đội Việt - Lào đã thay đổi phương thức hoạt động, giữ thế hợp pháp để bảo toàn cơ sở và lực lượng, chuẩn bị điều kiện cho việc khôi phục và phát triển phong trào. Các đơn vị quân tình nguyện cùng bộ đội Lào kiên trì bám dân, bám bản, bí mật chắp nối liên lạc với cơ sở, xây dựng cán bộ cốt cán trung kiên, tích cực tranh thủ các sư sãi, phân hoá tề nguỵ, vận động dân vệ, binh lính địch; từ đó phát động, tổ chức nhân dân đẩy mạnh đấu tranh, từ đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị bằng hình thức hợp pháp đến nửa hợp pháp, tiến lên đánh du kích ngày càng mạnh, giải phóng nhân dân khỏi sự kìm kẹp của địch.

Với phương thức hoạt động đó, đến giữa năm 1952, vùng kiểm soát của địch ở Chămpaxắc bị thu hẹp, các cuộc càn quét giảm dần cả về quy mô, thời gian và mức độ ác liệt. Các vùng cơ sở và vùng du kích được xây dựng, mở rộng từ bờ sông Mê Công đến tận biên giới Thái Lan. Các tổ chức chính quyền cách mạng và Mặt trận Ítxalạ được thành lập ở các bản, tàxẻng và có hệ thống đến huyện; lực lượng dân quân du kích được tổ chức đều khắp.

Tại cao nguyên Bôlavên và tỉnh Xalavăn, bộ đội tình nguyện Việt Nam và bộ đội Lào Ítxalạ đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị phá âm mưu địch: tổ chức lực lượng vũ trang phản động địa phương, lôi kéo các tù trưởng, tộc trưởng người Nha Hớn chống lại cách mạng, nhằm giành lại quyền kiểm soát cao nguyên chiến lược Bôlavên. Vận dụng phương thức đấu tranh linh hoạt, bộ đội Việt - Lào phân tán lực lượng, bám dân, xây dựng cơ sở từng bản và từng bước xây dựng các vùng du kích, mở rộng hoạt động ngày càng có hiệu quả.

Ở phía nam cao nguyên, bộ đội Việt Nam cùng với bộ đội Lào tổ chức vận động quần chúng, củng cố cơ sở vùng Uđômxỉn và phát triển thành vùng du kích mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập chính quyền cách mạng và xây dựng bộ đội địa phương của huyện. Được sự giúp đỡ của bộ đội Việt - Lào, nhân dân địa phương đẩy mạnh chiến tranh du kích, sử dụng hầm chông, cạm bẫy và vũ khí tự tạo đánh địch rộng khắp, hạn chế được các cuộc lùng sục của địch, bảo vệ được cơ sở quần chúng, góp phần xây dựng và giữ vững vùng căn cứ du kích ở nam Pạc Xoòng, nối liền với căn cứ tây nam Áttapư. Đồng thời, bộ đội Việt - Lào tổ chức tập kích tiêu diệt đồn Chămpi (năm 1952), tạo đà thuận lợi cho phong trào chiến tranh du kích vùng này phát triển.

Ở phía bắc cao nguyên, bộ đội Việt Nam và bộ đội Lào phối hợp đẩy mạnh hoạt động ở huyện Lao Ngam, Thà Teng, phát triển vùng này từ cơ sở chính trị lên thành vùng du kích, làm cơ sở cho việc thành lập các tổ chức Mặt trận Ítxalạ và chính quyền cách mạng ở các bản, tàxẻng. Bộ đội Việt - Lào có du kích địa phương phối hợp, ngày đêm quần nhau với giặc, chống các cuộc càn quét của địch có hiệu quả hơn, thu hẹp vùng kiểm soát của địch, nhất là trên đường Xalavăn đi Khôngxêđôn và vùng Kẹng Kịa ở đông bắc Pạc Xê.

Đến cuối năm 1952, cơ sở kháng chiến ở các khu vực trên vùng cao nguyên Bôlavên được củng cố và mở rộng. Hai căn cứ du kích Uđômxỉn và Lao Ngam trở thành những căn cứ mạnh nhất ở Hạ Lào.

Tại Áttapư, bộ đội Việt Nam và bộ đội Lào đã phân tán thành từng tổ nhỏ, phối hợp với dân quân du kích địa phương bám đánh địch, quấy rối, tiêu hao chúng tại chỗ, đồng thời tổ chức hướng dẫn nhân dân sơ tán vào rừng, làm “vườn không nhà trống”, triệt phá nguồn tiếp tế lương thực của địch.

Cùng với các hoạt động ở phía trước, bộ đội Việt Nam và bộ đội Lào còn phối hợp đẩy mạnh xây dựng, củng cố và mở rộng các căn cứ địa miền Đông và căn cứ địa tây nam Áttapư. Các đội công tác cơ sở Việt Nam cùng cán bộ Lào đi vào các vùng dân tộc người Lào Thơng, “địa phương hoá” triệt để (ở trần, đóng khố, để tóc dài, phơi nắng cho da đen, mang gùi thay balô, học tiếng dân tộc, cùng đi làm nương phát rẫy với dân) để tuyên truyền vận động nhân dân. Kết quả là các đội công tác Việt - Lào đã vận động các bộ tộc Lào xoá bỏ dần hiềm khích cũ, chấm dứt tệ nạn đâm chém trả thù nhau. Chính quyền cách mạng được thành lập đã vận động nhân dân Lào Lùm nhường đất canh tác và giúp dân Lào Thơng sản xuất, xây dựng tình nghĩa đoàn kết, thông cảm giữa Lào Lùm và Lào Thơng. Đồng thời, giúp đỡ nhân dân học tập văn hoá, sinh hoạt văn nghệ, giữ vệ sinh phòng bệnh, giảm bớt các tục lệ kiêng cữ lạc hậu, có hại cho đời sống và sản xuất...

Đến cuối năm 1952, phong trào đánh giặc giữ làng, sản xuất cải thiện đời sống và góp sức nuôi quân ở các vùng căn cứ miền Đông và tây nam Áttapư phát triển mạnh mẽ. Cơ sở đảng, quần chúng và lực lượng bộ đội địa phương, dân quân du kích được xây dựng ngày càng vững mạnh.

Với sự đoàn kết giúp đỡ, phối hợp của quân tình nguyện Việt Nam, vùng căn cứ địa tây nam Áttapư và các khu căn cứ du kích ở Chămpaxắc, Bôlavên, Xalavăn được giữ vững và mở rộng. Phong trào chiến tranh du kích phát triển rộng khắp ở các tỉnh Hạ Lào, nhất là ở cao nguyên Bôlavên. Phong trào đấu tranh của quần chúng, kết hợp các hình thức hợp pháp và không hợp pháp ngày càng mạnh mẽ, đỉnh cao là cuộc biểu tình của nhân dân các huyện ở Pạc Xê (giữa năm 1952), đã giáng một đòn mạnh mẽ vào hệ thống chính quyền bù nhìn và chính sách bình định của địch. Lực lượng cách mạng của nhân dân Hạ Lào về quân sự cũng như chính trị được củng cố và phát triển vững chắc, làm cho cán cân so sánh lực lượng nghiêng hẳn về phía kháng chiến Lào.

Đoàn kết và giúp đỡ cách mạng Lào, cũng như cách mạng Campuchia là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thường xuyên kiểm điểm, rút kinh nghiệm về sự phối hợp chiến đấu giữa hai nước nhằm đạt kết quả ngày càng cao hơn.

Tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (từ ngày 22 đến 28 tháng 4 năm 1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Vì mọi quan hệ khăng khít về địa lý, quân sự, chính trị, v.v. mà ta với Miên, Lào cũng như môi với răng. Hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng, thì cuộc giải phóng của ta mới chắc chắn, hoàn toàn. Cho nên nhiệm vụ của ta lại phải ra sức giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào một cách tích cực, thiết thực hơn.

Đó là nhiệm vụ quốc tế của chúng ta” .

Tiếp đó, ngày 14 tháng 9 năm 1952, Hội nghị cán bộ Mặt trận liên minh nhân dân Việt Nam - Lào - Campuchia đã họp tại Việt Bắc (Việt Nam). Hội nghị kiểm điểm tình hình thực hiện các nghị quyết của Hội nghị liên minh tháng 3 năm 1951 và đề ra phương hướng tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ mới để củng cố hơn nữa tình đoàn kết kháng chiến của ba dân tộc.

Về dự Hội nghị có đại biểu Neo Lào Ítxalạ cùng cán bộ tình nguyện Việt Nam hoạt động ở các khu Thượng, Trung và Hạ Lào; đại biểu các đoàn thể Việt Nam trong Mặt trận như công đoàn, nông dân, thanh niên, phụ nữ, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội. Đại biểu Miên vì đường xa không kịp đến dự Hội nghị.

Hội nghị vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và nói chuyện thân mật với các đại biểu. Thay mặt Chính phủ, Mặt trận và nhân dân Việt Nam, Người tuyên bố: “Chính phủ, Mặt trận và nhân dân Việt Nam ra sức, hết lòng thành thật giúp đỡ Mặt trận, nhân dân Lào một cách không điều kiện. Sự thật là chưa tìm ra chữ gì để thay chữ giúp, nên mới dùng chữ giúp, chứ thật ra không phải là giúp, mà là làm một nhiệm vụ quốc tế. Kháng chiến của Việt - Miên - Lào là chung của chúng ta. Việt Nam kháng chiến có thành công, thì Miên - Lào mới thắng lợi, và Miên - Lào kháng chiến có thắng lợi thì Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi. Việt - Miên - Lào như anh em ruột thịt trong một nhà” .
Đối với cán bộ, quân tình nguyện Việt Nam sang công tác ở Lào, Người căn dặn: phải chấp hành sự lãnh đạo của Chính phủ Lào; tuyệt đối không được tự cao, tự đại, bao biện; phải đoàn kết với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Lào.

Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhờ Đoàn đại biểu Lào chuyển món quà nhỏ của Người đến Hoàng thân Xuphanuvông. Món quà gồm có một tấm lụa, một thanh kiếm và một bộ quần áo. Người nói: “Tấm lụa là tượng trưng cho sự mềm mỏng và đại đoàn kết. Đoàn kết chặt chẽ như những sợi tơ trong tấm lụa. Mềm mỏng là để đối với nhân dân. Thanh kiếm là tượng trưng cho sự sắc sảo và cương quyết. Còn bộ quần áo là để tặng cho cán bộ Lào nào thi đua giỏi nhất” .

Tại Hội nghị, đồng chí Hoàng Quốc Việt đọc báo cáo kiểm điểm việc thi hành Nghị quyết của Hội nghị liên minh Việt Nam - Lào - Campuchia, đề ra chương trình hành động chung của ba mặt trận và chuẩn bị cuộc Đại hội đại biểu của ba mặt trận để động viên nhân dân ba nước thúc đẩy kháng chiến đi đến thắng lợi. Đồng chí nhấn mạnh, trong thời gian qua, chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ và chiến sĩ Việt Nam đã cùng với cán bộ, chiến sĩ, nhân dân Lào đồng cam cộng khổ lăn lộn xây dựng cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang, cùng nhau dẻo dai chống địch ở khắp Thượng, Trung và Hạ Lào. Để tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa ba nước, đại biểu Việt Nam đề nghị ba mặt trận cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về khối liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia trong nhân dân nước mình và ra ngoài thế giới; thường xuyên trao đổi kinh nghiệm về mọi mặt và tăng cường hơn nữa sự liên lạc giữa các cơ quan phụ trách của ba Trung ương Mặt trận, của các địa phương ba nước ở gần nhau.

Đại diện Đoàn đại biểu Lào phát biểu nói lên bước phát triển mới và thắng lợi của cách mạng Lào trong những năm qua, như đã: tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân về liên minh Việt Nam - Lào - Campuchia, về sự đoàn kết Lào - Việt; củng cố Neo Lào Ítxalạ, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tích cực chống địch càn quét lấn chiếm, bảo vệ khu giải phóng.

Đại biểu Lào nêu rõ: “Sự phát triển và thắng lợi của cuộc kháng chiến Lào căn bản là do lòng yêu nước, chí hy sinh và sức đoàn kết chiến đấu của nhân dân Lào, sự lãnh đạo sáng suốt của Chính phủ và Mặt trận Lào Ítxalạ. Song sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tinh thần hy sinh chiến đấu của bộ đội và cán bộ tình nguyện Việt Nam cũng rất quan trọng đối với sự phát triển mau lẹ của kháng chiến Lào” .

Hội nghị đã thống nhất hành động và nêu cao quyết tâm của ba dân tộc Việt Nam - Lào - Campuchia trong cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, trên tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản để chống kẻ thù chung.

Hội nghị cán bộ Mặt trận liên minh nhân dân ba nước Đông Dương tháng 9 năm 1952 góp phần thắt chặt và thúc đẩy tình đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia lên bước phát triển mới, trở thành một nhân tố quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của ba dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4782



« Trả lời #38 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2021, 10:28:21 am »

Với sự đoàn kết, giúp đỡ, phối hợp của Việt Nam và cùng với sự cố gắng vượt bậc của bản thân, trong hai năm 1951-1952, cuộc kháng chiến của nhân dân Lào đã giành được những kết quả quan trọng về nhiều mặt.

Về chính trị: từ sau Đại hội quốc dân (tháng 8 năm 1950), đường lối, chính sách của Trung ương Neo Lào Ítxalạ và Chính phủ Kháng chiến Lào đã được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân và tới khắp mọi miền đất nước. Uy tín và hiệu lực của Uỷ ban quân, dân, chính ngày càng rộng lớn. Đông đảo các tầng lớp nhân dân các bộ tộc Lào đã tích cực tham gia các tổ chức Neo Lào Ítxalạ ở các cấp từ địa phương đến trung ương, như Hội Cứu quốc, Hội Phụ nữ, Hội Mẹ chiến sĩ,...

Các đội vũ trang tuyên truyền Việt - Lào khắc phục mọi khó khăn gian khổ, đi vào các bản nằm sâu trong vùng địch hậu để tuyên truyền vận động nhân dân, xây dựng cơ sở. Do tích cực hoạt động, nên sau một thời gian ngắn, lực lượng kháng chiến Lào đã kết nạp được nhiều nông dân yêu nước vào các tổ chức Ítxalạ bí mật ở các làng bản; tuyển chọn và đào tạo được những cán bộ trung kiên làm nòng cốt lãnh đạo phong trào; đồng thời tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các phò bản, tàxẻng, hướng dẫn họ tổ chức nhân dân hăng hái sản xuất, cải thiện đời sống và tích cực tham gia kháng chiến. Nhờ đó, Mặt trận Lào Ítxalạ đã phát triển thêm hàng vạn hội viên từ mọi tầng lớp, các bộ tộc, tạo thành sức mạnh đoàn kết toàn dân ủng hộ và bảo vệ chính quyền cách mạng.

Đầu năm 1951, Trung ương Neo Lào Ítxalạ mở trường chính trị đầu tiên với tên gọi là Trường Đoàn kết nhằm bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận và khả năng công tác cho đội ngũ cán bộ cốt cán từ trung ương đến địa phương. Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ và phát triển đảng viên Lào càng được quan tâm phát triển. Nhiều chi bộ cộng sản và nhóm trung kiên được thành lập, làm nòng cốt, đầu tàu trong công cuộc kháng chiến cứu nước. Tiếp đó, Ban Tuyên huấn Trung ương Lào được thành lập và ra báo Ítxalạ mỗi tháng một kỳ (tháng 8 năm 1951). Cùng với việc giới thiệu, trình bày chủ trương, đường lối của Neo Lào Ítxalạ, tờ báo còn mở đợt vận động tuyên truyền về liên minh đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương chống kẻ thù chung. Đồng thời, mùa Hè 1951, Trung ương Neo Lào Ítxalạ cử một phái đoàn đại diện nhân dân Lào do Hoàng thân Xuphanuvông dẫn đầu đi thăm miền Bắc Việt Nam để trao đổi kinh nghiệm về mọi mặt và thắt chặt tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Lào - Việt, Việt - Lào.

Tháng 3 năm 1952, Trung ương Mặt trận Lào Ítxalạ và Chính phủ Kháng chiến Lào chủ trương mở chiến dịch tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân cả nước về liên minh đoàn kết Việt Nam - Lào - Campuchia; qua đó nhằm đề cao uy tín của Chính phủ và Mặt trận Lào, phát huy ảnh hưởng của khối liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia, động viên nhân dân tích cực tham gia kháng chiến, đập tan các cuộc càn quét, bình định của địch.

Thực hiện chủ trương trên, Trung ương Neo Lào Ítxalạ đã tổ chức các đoàn tuyên truyền hoạt động chủ yếu ở các tỉnh Thượng Lào. Đoàn tuyên truyền 1 do đồng chí Nủhắc Phumxavẳn, Bộ trưởng Bộ Kinh tế làm trưởng đoàn, có nhiệm vụ hoạt động tuyên truyền ở huyện Mương Xon, rồi phát triển sang hai huyện Pạc Xeng và Mương Ngòi (thuộc tỉnh Luổng Phạbang). Đoàn tuyên truyền 2 do đồng chí Xỉxanạ Xixản, cán bộ Trung ương Neo Lào Ítxalạ làm trưởng đoàn, vào công tác ở các huyện Mương Xôi, Mương Xăm, Xiêng Khọ (thuộc tỉnh Hủa Phăn).
Nhờ có sự cố gắng của các cấp chính quyền và các đơn vị bộ đội Việt - Lào bảo vệ, Đoàn tuyên truyền 1 đã tổ chức được bảy cuộc mít tinh (mỗi cuộc có từ 100 đến 300 người dự); mở các hội nghị uỷ ban kháng chiến huyện, tàxẻng để bàn biện pháp đẩy mạnh kháng chiến; tổ chức các cuộc triển lãm tranh ảnh, các buổi nói chuyện thời sự, chính trị ở 16 bản; mở một lớp huấn luyện bảy ngày cho cán bộ Uỷ ban huyện Mương Xon và gặp gỡ giải thích chính sách khoan hồng cho 270 gia đình có con em đi lính hoặc làm việc cho địch. Đoàn tuyên truyền 2 tuy bị địch vây quét, ngăn chặn nhưng đã đi gặp gỡ, tuyên truyền được ở 50 bản thuộc sáu tàxẻng: Xiêng Khọ, Mương Ét, Xốp Xàng, Mương Pua, Mương Liệt và Mương Hằng.

Nhân dân các địa phương nơi đoàn tuyên truyền đi qua rất tin tưởng, phấn khởi, càng hăng hái giúp đỡ bộ đội, tham gia kháng chiến. Nhận xét về chiến dịch tuyên truyền vận động cho khối liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia, Hoàng thân Xuphanuvông đã viết: “Chiến dịch tuyên truyền liên minh Việt - Miên - Lào đã hoàn toàn đại thắng lợi, đã làm cho nhân dân càng giác ngộ, phấn khởi đoàn kết và hăng hái chiến đấu hơn, đã làm cho tình đoàn kết Việt - Miên - Lào càng thêm sâu rộng trong toàn dân” .

Về xây dựng chính quyền: đến giữa năm 1951, trong các vùng giải phóng và khu du kích, cơ quan chính quyền các cấp được thành lập từ trung ương đến địa phương. Đội ngũ cán bộ ngày càng phát triển và trưởng thành. Chính quyền các cấp đã lãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục nhân dân địa phương mình thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Mặt trận và Chính phủ Kháng chiến Lào; đồng thời động viên, hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân các bộ tộc đẩy mạnh sản xuất để cải thiện đời sống cũng như đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến cứu nước. Do trình độ giác ngộ chính trị được nâng lên, nhân dân các bộ tộc Lào đóng góp ngày càng nhiều sức người, sức của, góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến phát triển mạnh mẽ.

Về văn hoá, xã hội: chính quyền kháng chiến các cấp đã cố gắng khắc phục khó khăn, thiếu thốn, giải quyết được nhiều vấn đề cấp bách như gìn giữ trật tự an ninh vùng giải phóng, phát động phong trào vệ sinh phòng bệnh rộng rãi trong các bản làng, từng bước xoá bỏ mê tín, hủ tục lạc hậu. Đồng thời để mở mang dân trí, xoá nạn mù chữ trong nhân dân, Chính phủ Kháng chiến còn quy định cách thức viết chữ Lào trong toàn quốc, mở các lớp bình dân học vụ cho người lớn, mở trường cho trẻ em. “Nhân dân vùng giải phóng rất hăng hái học tập nên công tác chống nạn mù chữ tiến bộ nhanh chóng. Có vùng dân cư miền núi như Lào Thơng, Mèo xưa kia không hề biết chữ, đến nay làng nào cũng có người biết đọc, biết viết” . Ngày 31 tháng 7 năm 1951, Thủ tướng Chính phủ Kháng chiến Lào ra chỉ thị về việc tổ chức các tổ văn hoá quần chúng ở các căn cứ địa kháng chiến, đồng thời phát động một phong trào sáng tác thơ ca rộng rãi trong quần chúng nhân dân để phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến cứu nước.

Những kết quả to lớn, quan trọng trên đây đã góp phần nâng cao uy tín của Mặt trận Ítxalạ và Chính phủ Kháng chiến Lào, đem đến cho nhân dân vùng giải phóng Lào một niềm tin tưởng và “cuốn hút nhân dân vào phong trào cách mạng và ngày càng ủng hộ Chính phủ và Mặt trận nhiều hơn” .

Về ngoại giao: Chính phủ Kháng chiến và Mặt trận Lào Ítxalạ đã đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, cử các đoàn đại biểu đi tham gia các hội nghị quốc tế, như: Hội nghị hoà bình châu Á - Thái Bình Dương họp ở Bắc Kinh (Trung Quốc), tháng 1 năm 1952; Hội nghị hoà bình thế giới họp ở Viên (Áo), tháng 12 năm 1952; Festival thanh niên - sinh viên thế giới tổ chức ở Bucarét, thủ đô của Rumani. Trong các hội nghị quốc tế này, các đại biểu nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới đều tỏ ra hết sức đồng tình và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Lào, thông qua nghị quyết đòi chấm dứt chiến tranh ở Lào và toàn Đông Dương. Nhân dân thế giới hiểu rõ thêm về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các bộ tộc Lào, vai trò và uy tín của Mặt trận Ítxalạ và Chính phủ Kháng chiến Lào ngày càng được đề cao trên trường quốc tế, đồng thời góp phần đập tan âm mưu bao vây, cô lập cách mạng Lào và Đông Dương của bọn thực dân, đế quốc.

Về mặt quân sự: qua quá trình chiến đấu, rèn luyện, học tập, lực lượng vũ trang Lào đã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Các đội dân quân du kích từng bước được tổ chức lại chặt chẽ. Bộ đội giải phóng Lào sau các đợt huấn luyện đã bắt đầu nắm được chiến thuật đánh du kích. Trình độ tác chiến và chỉ huy của đội ngũ cán bộ quân sự Lào được nâng cao thêm, nhất là ở Thượng Lào, Viêng Chăn và Mặt trận Hạ Lào. Nắm vững phương châm du kích chiến, phối hợp tác chiến cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam, bộ đội cách mạng Lào đã chủ động mở nhiều trận tập kích, phục kích ở trên khắp các địa bàn Thượng, Trung và Hạ Lào, tiêu hao, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch.

Cùng với các trận tập kích, phục kích của quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Lào, du kích ở các bản, mường cũng tăng cường hoạt động, như du kích Bạn Huột (Đoông Lavên), Mương Noòng (Xavẳnnakhệt), Keo Xẹt (Xiêng Khoảng), Phu Khun, Mương Mẹt (Viêng Chăn)... đã dùng vũ khí thô sơ chống trả quyết liệt quân địch càn quét, bảo vệ được tài sản, bản mường của mình.

Đồng thời, nhiều cơ sở chính trị được phát triển trong các thành thị như Viêng Chăn, Xavẳnnakhệt, Pạc Xê... Phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân trong vùng địch kiểm soát như chống bắt lính, bắt đi phu, chống quyên góp... đã nổ ra ở nhiều nơi, làm cho địch gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong âm mưu “bình định” và thực hiện chính sách vơ vét, bóc lột tiền của để phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược của chúng.

Những thành tích mà cách mạng Lào giành được trong hai năm 1951 - 1952 đánh dấu một bước tiến bộ mới của quân và dân Lào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đồng thời, đó cũng là thắng lợi, thành tích của sự phối hợp đoàn kết chiến đấu giữa quân và dân hai nước Việt - Lào.

Nhận xét về mối quan hệ đoàn kết giữa hai dân tộc cùng chống kẻ thù chung ở giai đoạn này, đồng chí Phumi Vôngvichít đã viết: “Cán bộ và bộ đội quân tình nguyện Việt Nam đến giúp đã làm cho lực lượng cách mạng chúng tôi mạnh thêm. Thái độ và đạo đức tốt đẹp của cán bộ, bộ đội tình nguyện Việt Nam đã làm cho cán bộ, bộ đội và nhân dân Lào yêu mến họ, làm cho tình đoàn kết Lào - Việt Nam mà hai bên đã cùng nhau xây đắp bằng xương máu ngày càng bền chặt. Đó cũng là nguyên nhân làm cho lực lượng của chúng tôi trong năm 1952 phát triển mạnh mẽ, rộng khắp” .

Kết quả hoạt động phối hợp đấu tranh giữa Việt Nam và Lào trong hai năm 1951 - 1952 đã góp phần tạo thêm thế và lực mới cho cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước, đồng thời chuẩn bị các yếu tố cần thiết để đưa liên minh chiến đấu Việt - Lào lên một bước phát triển mới.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4782



« Trả lời #39 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2021, 10:35:38 am »

II. TĂNG CƯỜNG LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM, ĐƯA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP ĐẾN THẮNG LỢI HOÀN TOÀN (1953 - 1954)

1. Phối hợp mở chiến dịch Thượng Lào


Trong hai năm 1951 - 1952, việc Đảng Lao động Việt Nam ra hoạt động công khai và thành lập Uỷ ban hành động Việt - Miên - Lào đã củng cố khối đoàn kết thống nhất và liên minh chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương, làm phá sản chính sách “chia để trị” thâm hiểm của thực dân Pháp. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia có thêm nhiều thuận lợi cơ bản mới để phát triển lên một bước vững chắc và toàn diện hơn.

Trên chiến trường chính Việt Nam, quân và dân cả nước đã ra sức phấn đấu tăng cường lực lượng về mọi mặt, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng chiến lược, mở rộng và củng cố vùng tự do, xây dựng thêm nhiều căn cứ du kích vững mạnh trong vùng sau lưng địch, đánh bại âm mưu bình định và phản công của chúng. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, có khả năng mở các chiến dịch ở khắp các địa bàn trong cả nước và trên chiến trường Đông Dương.

Trên chiến trường Lào, chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch đã phát triển lớn mạnh hơn trước, phong trào đấu tranh chính trị bước đầu được gây dựng ở một số đô thị, thị trấn, làm cho lực lượng so sánh giữa ta và địch có những thay đổi có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Lào. Quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu tại Lào được bồi dưỡng nâng cao trình độ về chính trị, quân sự, được tôi luyện trong chiến đấu nên các hoạt động tác chiến, tuyên truyền vận động quần chúng ngày càng có hiệu quả, được nhân dân và quân đội Lào yêu mến, tin cậy.

Tuy vậy, bên cạnh những ưu điểm và thành tích đạt được, nhìn cả quá trình phối hợp chiến đấu giữa Việt Nam và Lào và so với yêu cầu, thì việc giúp cách mạng Lào xây dựng vùng giải phóng và các căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang, nhất là các đơn vị chủ lực của quân đội Lào còn chậm, chưa theo kịp nhiệm vụ. Do đó, phong trào kháng chiến ở Lào vẫn chưa thật đều khắp, khả năng phối hợp tác chiến với chiến trường chính Việt Nam còn hạn chế.

Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã chỉ ra những khuyết điểm còn tồn tại trong công tác giúp Lào mà bộ đội tình nguyện cần phải tích cực sửa chữa là: “... chưa nắm vững và thấu triệt chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ nên còn phạm nhiều tư tưởng và thái độ sai lầm đối với cán bộ, chiến sĩ, nhân dân Lào. Chưa tin ở khả năng nhân dân Lào có thể đứng dậy làm cách mạng tự giải phóng, chưa dùng thái độ bình đẳng đối xử, chưa thật tôn trọng nhân dân, chưa thực sự chú ý dìu dắt đào tạo cán bộ nước bạn. Chưa thấu triệt sự liên hệ chặt chẽ giữa kháng chiến và cách mạng của ba nước Việt - Miên - Lào”. Do đó mà bộc lộ ra tinh thần tạm bợ cầu an, dao động, ngại khó khăn gian khổ, “một số đồng chí còn mang nặng đầu óc đại dân tộc...” .

Những hạn chế, thiếu sót trên đây đã được Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam kịp thời chỉ đạo các đơn vị quân tình nguyện rút kinh nghiệm, từng bước khắc phục và phát huy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, giúp đỡ bạn đưa kháng chiến Lào chuyển sang giai đoạn mới.
Đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi và góp phần tăng cường liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp từ ngày 25 đến 30 tháng 1 năm 1953. Trong Báo cáo đọc tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cho đến nay, chúng ta giúp kháng chiến Miên - Lào chưa đúng mức. Từ nay chúng ta phải cố gắng giúp hơn nữa. Ta phải nhận rõ rằng: hai dân tộc anh em Miên, Lào được giải phóng, thì nước ta mới được giải phóng thật sự và hoàn toàn” .

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cũng nhận định rằng: sau chiến dịch Tây Bắc, cách mạng Việt Nam có điều kiện giúp đỡ và phối hợp với cách mạng Lào hơn do hậu phương kháng chiến của Việt Nam được mở rộng từ căn cứ địa Việt Bắc đến sát biên giới Việt - Lào. Vùng Thượng Lào hiện là chỗ yếu và sơ hở của địch, mặc dầu địch đã chú ý đến địa bàn này hơn trước, đặt Thượng Lào dưới quyền của Bộ Chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Bộ và có kế hoạch sử dụng lực lượng cơ động của Pháp ở Bắc Bộ Việt Nam ứng cứu bằng đường không khi bị tiến công.

Trong các tỉnh Thượng Lào, địch chọn thị xã Sầm Nưa làm khu vực phòng thủ chủ yếu và tăng cường cho Sầm Nưa hai tiểu đoàn, đưa quân số ở đây lên ba tiểu đoàn, gồm cả quân Pháp và quân nguỵ Lào. Đồng thời, địch cũng tăng cường cho khu vực Cánh đồng Chum ở Xiêng Khoảng thêm một tiểu đoàn.

Âm mưu của địch là nhằm biến Sầm Nưa thành một tập đoàn cứ điểm mạnh “kiểu Nà Sản” ở Tây Bắc Việt Nam để ngăn chặn các cuộc tiến công của quân chủ lực Việt Nam trên chiến trường Thượng Lào và uy hiếp vùng tự do của cách mạng Việt Nam. Do đó có đập tan được căn cứ Sầm Nưa, giải phóng Thượng Lào mới có điều kiện giúp Lào xây dựng hậu phương kháng chiến, đồng thời buộc địch tiếp tục phân tán lực lượng cơ động, ngăn chặn âm mưu địch định cứu vãn tình hình ở Tây Bắc và bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ (Việt Nam).

Như vậy, trung thành với truyền thống đoàn kết anh em do Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và vun đắp, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam luôn luôn coi trọng việc củng cố mối quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu chống kẻ thù xâm lược giữa quân và dân ba nước Đông Dương.

Thực hiện chủ trương tăng cường liên minh chiến đấu của Đảng Lao động Việt Nam và quán triệt sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 3 tháng 2 năm 1953, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Kháng chiến Lào quyết định phối hợp mở chiến dịch Thượng Lào nhằm: tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một phần đất đai, xây dựng và mở rộng khu căn cứ địa, tạo lập hậu phương kháng chiến, thúc đẩy cuộc kháng chiến của Lào và phá thế bố trí chiến lược của địch ở Bắc Đông Dương.

Mục đích của chiến dịch hoàn toàn phù hợp với yêu cầu phát triển của cách mạng Lào, như đồng chí Cayxỏn Phômvihản lúc đó mong muốn là sau chiến dịch này, Sầm Nưa sẽ là thủ đô kháng chiến và Thượng Lào sẽ là căn cứ địa của kháng chiến và cách mạng Lào .

Sau khi thống nhất phương hướng, quyết tâm chiến dịch giữa hai Chính phủ Việt Nam và Lào, từ cuối tháng 2 năm 1953, các lực lượng tham gia chiến dịch bắt đầu triển khai về mọi mặt.

Bộ Chỉ huy chiến dịch Thượng Lào được thành lập gồm: phía Việt Nam có đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam làm chỉ huy trưởng; đồng chí Nguyễn Chí Thanh, chủ nhiệm chính trị; đồng chí Hoàng Văn Thái, tham mưu trưởng; đồng chí Trần Đăng Ninh, chủ nhiệm cung cấp. Phía Lào có Hoàng thân Xuphanuvông, Thủ tướng Chính phủ Kháng chiến Lào; đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào; đồng chí Xỉngcapô, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và đồng chí Thạo Ma Khảy Khămphithun, Bí thư Tỉnh uỷ Sầm Nưa.

Bước vào công tác chuẩn bị cho chiến dịch, từ đầu tháng 3 năm 1953, quân tình nguyện Việt Nam ở Thượng Lào cùng bộ đội Pathết Lào đã luồn sâu nghiên cứu tình hình địch, địa hình ở khu vực Sầm Nưa, Xiêng Khoảng. Tại Sầm Nưa, hơn 60 cán bộ, chiến sĩ Việt - Lào, chủ yếu là Đại đội 234 quân tình nguyện, phối hợp với quân báo chiến dịch thâm nhập sâu vào thị xã, điều tra nghiên cứu từng cứ điểm địch để làm cơ sở cho Bộ Chỉ huy chiến dịch xây dựng phương án tác chiến. Ở hướng đường 7, Xiêng Khoảng, đội vũ trang Pắtchây do đồng chí Thạo Tu chỉ huy dẫn trinh sát Đại đoàn 304 vào nghiên cứu nắm tình hình địch, địa hình ở cứ điểm Noỏng Hét và thị xã Xiêng Khoảng.

Địa bàn tác chiến Thượng Lào ở rất xa các căn cứ hậu phương của Việt Nam, Tổng Quân uỷ, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nhận định đây là một chiến dịch mà “vấn đề cung cấp là khó khăn nhất”. Do đó, ngay khi có lệnh mở chiến dịch, Hội đồng cung cấp mặt trận được tổ chức thành hệ thống từ trung ương đến các liên khu, tỉnh.

Hội đồng cung cấp mặt trận trung ương do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm chủ tịch, đồng chí Tổng Thanh tra Chính phủ Nguyễn Văn Trân làm phó chủ tịch. Hội đồng cung cấp mặt trận liên khu và tỉnh có nhiệm vụ huy động nhân lực, vật lực của địa phương, kết hợp với hậu cần quân đội, hậu cần chiến dịch phục vụ chiến đấu.

Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cử đồng chí Trần Đăng Ninh, Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Tổng Quân uỷ, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp Quân đội nhân dân Việt Nam dẫn đầu một phái đoàn sang làm việc với Chính phủ Kháng chiến Lào về vấn đề cung cấp cho chiến dịch. Các đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Nủhắc Phumxavẳn, Xỉngcapô... đã trao đổi với đoàn về tình hình và khả năng đảm bảo hậu cần tại chỗ của nhân dân Lào.

Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng về nghĩa vụ quốc tế, các cấp bộ đảng, chính quyền và nhân dân ở các địa phương của Việt Nam đều quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao, dồn sức chi viện cho chiến dịch Thượng Lào.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “giúp bạn là mình tự giúp mình”, nhân dân các tỉnh Tây Bắc (Việt Nam) đã huy động gần 35.000 dân công với 1.732.000 ngày công, 850 thuyền, 2.000 xe đạp thồ, 180 con ngựa thồ, cung cấp 4.975 tấn gạo, 3.640 con trâu bò, 154 tấn muối, 108 tấn rau khô, 12 tấn đường... phục vụ kịp thời cho chiến dịch .

Các tỉnh Liên khu 4 Việt Nam, nhất là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh vốn là hậu phương trực tiếp của cách mạng Lào nên được Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam tin cậy giao cho việc huy động sức người, sức của chi viện cho cách mạng Lào. Trong chiến dịch Thượng Lào năm 1953, hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hoá được giao nhiệm vụ phục vụ chiến dịch.

Theo kế hoạch phân công, nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã cung cấp, vận chuyển đảm bảo trên 60% yêu cầu hậu cần của chiến dịch Thượng Lào. Khi địch rút chạy, bộ đội truy kích địch đến đâu, dân công Thanh Hoá vận chuyển lương thực, thực phẩm và vũ khí, đạn dược đến đó kịp thời. Trong chiến dịch này, Thanh Hoá đã huy động 113.973 dân công dài hạn và 148.499 dân công ngắn hạn, 8 ôtô, 1.300 thuyền, 2.000 xe đạp thồ, 8.000 tấn gạo và hàng trăm tấn mắm, muối, thịt, đậu.

Ở Nghệ An, khi được giao nhiệm vụ phục vụ chiến dịch Thượng Lào, ngày 21 tháng 2 năm 1953, Đảng bộ và chính quyền tỉnh đã mở Hội nghị Quân - Dân - Chính - Đảng quán triệt yêu cầu: “Đảm bảo cung cấp đầy đủ cho liên quân Lào - Việt và các lực lượng tham gia chiến dịch Thượng Lào. Tỉnh phải huy động lực lượng dân công vận chuyển từ đồng bằng lên biên giới Việt - Lào 1.380 tấn gạo, 60 tấn vũ khí, 50 tấn muối và nhiều nhu yếu phẩm khác phục vụ chiến dịch”. Ngay sau Hội nghị, Uỷ ban kháng chiến - hành chính tỉnh ra quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận và thành lập các trạm hậu cần ở Cửa Rào, Khe Kiền, Khe Nậm, Khe Tùng, Tha Đo phục vụ việc vận chuyển, tiếp tế cho chiến dịch Thượng Lào .

Tuyến đường vận chuyển từ Nghệ An đi Xiêng Khoảng dài hơn 400 km, nhiều đoạn đường chưa có dấu chân người, tỉnh đã huy động 72.940 dân công, sửa chữa 170 km đường, làm 100 cầu tạm, cầu phao trên tuyến đường 7 từ Phủ Diễn đến Đô Lương, lên Mường Xén sang Lào. Khi các tuyến đường ra mặt trận được khai thông, tháng 3 năm 1953, tiểu đoàn bộ đội địa phương 195 cùng các đại đội 121, 123 và 12.000 dân công Nghệ An theo đường 7, đường sông Lam, vận chuyển 700 tấn gạo, hàng nghìn con trâu bò, hàng trăm tấn muối, cá khô, nước mắm kem và các hàng hoá khác phục vụ chiến dịch.

Với tinh thần giúp bạn hết sức khẩn trương, Việt Nam đã cung cấp, tiếp tế cho chiến dịch Thượng Lào 6.300 tấn gạo, 200 tấn muối, 290 tấn thịt, 190 tấn thực phẩm khô và huy động hàng nghìn dân công, hơn 80 ôtô, 880 thuyền, 2.200 xe đạp thồ và 180 con ngựa để vận chuyển vật chất phục vụ chiến dịch3. Chính phủ Kháng chiến Lào cùng Bộ Tư lệnh quân tình nguyện ở Thượng Lào đã chỉ đạo các địa phương trên địa bàn chiến dịch, trọng điểm là huyện Xiêng Khọ và khu vực dọc theo đường Xốp Hào - Sầm Nưa đẩy mạnh công tác vận động quần chúng nhằm phát huy cao nhất mọi khả năng phục vụ cho chiến dịch.

Do tính chất và ý nghĩa quan trọng của chiến dịch đối với cuộc kháng chiến của hai dân tộc, Chính phủ và Bộ Tổng Tư lệnh quân đội hai nước Việt - Lào thống nhất quyết tâm huy động một lực lượng lớn tham gia chiến dịch. Phía Việt Nam gồm có Đại đoàn 308, hai trung đoàn của Đại đoàn 312, Trung đoàn 98 của Đại đoàn 316, Đại đoàn 304 và Trung đoàn 148 của Quân khu Tây Bắc (tổng cộng 10 trung đoàn) cùng các đoàn quân tình nguyện đang hoạt động ở Thượng Lào. Lực lượng Lào gồm năm đại đội bộ đội tập trung và hàng nghìn dân quân du kích của các tỉnh trong địa bàn chiến dịch.

Đây là lần đầu tiên một bộ phận lớn chủ lực Việt Nam sang chiến đấu trên chiến trường Lào, vừa xa hậu cứ, lại chưa quen địa hình nên gặp rất nhiều khó khăn gian khổ. Do đó, cơ quan chính trị các cấp đã khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị tham gia chiến dịch mở nhiều đợt sinh hoạt chính trị, xây dựng cho bộ đội quyết tâm chiến đấu, ý thức chấp hành chính sách đoàn kết Việt - Lào và nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Ngày 3 tháng 4 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên toàn thể cán bộ, chiến sĩ, dân công tham gia chiến dịch và đặt giải thưởng cho những đơn vị và cá nhân có thành tích xuất sắc. Trong thư, Người căn dặn: “Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước bạn. Mà giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình” .

Người yêu cầu bộ đội:

“Vượt mọi khó khăn, thi đua diệt địch, chiến đấu anh dũng ở bên đó cũng như ở ta;
Nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán, kính yêu nhân dân của nước bạn;
Tuyệt đối giữ gìn kỷ luật, giữ gìn danh tiếng của Quân đội nhân dân Việt Nam;
Tất cả phải có quyết tâm rất cao, rất bền, tranh nhiều thắng lợi” .

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cũng gửi thư cho Tổng Quân uỷ, các Đại đoàn uỷ và Ban Cán sự Thượng Lào nêu rõ: “Theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, bộ đội chủ lực ta lần đầu tiên có nhiệm vụ mang lực lượng lớn sang giúp nước bạn. Đó là một nhiệm vụ quan trọng và vinh quang, một mặt thì giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân nước bạn, củng cố mối đoàn kết giữa hai dân tộc Việt - Lào để chống kẻ thù chung, mặt khác còn có ảnh hưởng trực tiếp đến chiến trường Việt Nam ta, đến việc xây dựng và rèn luyện cho bộ đội ta”. Vì vậy, bên cạnh yêu cầu “nắm vững phương châm đánh thắng và phương châm tiêu diệt sinh lực địch”, thì cần phải “nắm vững chính sách đoàn kết Lào - Việt và chính sách dân tộc, phải giữ vững kỷ luật quần chúng, tôn trọng chủ quyền nước bạn, tôn trọng phong tục tập quán, tính mệnh, tài sản của nhân dân nước bạn như của nhân dân ta.

Trong mọi công tác, phải luôn luôn chú trọng tăng cường đoàn kết Việt - Lào, tăng cường đoàn kết giữa bộ đội ta với bộ đội Lào và nhân dân Lào” .

Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhiệm vụ phối hợp với bạn chiến đấu trên chiến trường Lào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, viết thư kêu gọi cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang tham gia chiến dịch Thượng Lào: “... Hãy anh dũng chiến đấu, tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch. Hãy tích cực vận động quần chúng, mở rộng cơ sở, tăng cường đoàn kết giữa bộ đội và nhân dân hai nước... Kiên trì với nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng nước bạn đến cùng, giúp đỡ không điều kiện...” .

Đồng thời, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ban hành Mười điều quy định đối với cán bộ chiến sĩ sang làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào:

“1. Kiên quyết dũng cảm tiêu diệt địch, hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến đấu.
2. Đoàn kết chặt chẽ với bộ đội Lào, gương mẫu chủ động giúp bộ đội Lào về mọi mặt.
3. Tôn trọng chủ quyền nước Lào, tôn trọng các cấp chính quyền Lào, tôn trọng mọi chính sách pháp luật của Chính phủ Lào.
4. Đoàn kết chặt chẽ với nhân dân Lào, triệt để giữ vững kỷ luật quần chúng (mượn gì của dân phải được dân đồng ý và phải trả, mất hay hư hỏng phải bồi thường), không được trêu ghẹo phụ nữ.
5. Tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân, tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo, sư sãi, bảo vệ đền chùa, miếu mạo.
6. Tích cực tuyên truyền chính sách kháng chiến của Chính phủ và Mặt trận Ítxalạ Lào, chính sách đoàn kết hai dân tộc Lào - Việt chống kẻ thù chung và kỷ luật của quân đội ta.
7. Bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, hết sức giúp đỡ nhân dân.
8. Đối với tù hàng binh người Lào phải chú trọng tuyên truyền giáo dục và trao trả chính quyền Lào xử lý.
9. Đối với Lào gian và nguỵ quyền Lào, việc bắt bớ, giam giữ, xét xử đều do Chính phủ Lào phụ trách. Bộ đội không được tự tiện can thiệp và có nhiệm vụ giúp đỡ đề nghị của chính quyền địa phương.
10. Đối với việc mua bán, đổi chác, ngoài các bộ phận đã được uỷ nhiệm phải làm theo đúng quy định, còn tuyệt đối không cá nhân nào hay đơn vị nào được tự ý mua bán đổi chác” .

Những quy định cụ thể đó được phổ biến đến từng đội viên, làm cơ sở cho việc lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức hoạt động trong các đơn vị. Đồng thời, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam phát hành tập sách nhỏ “Tự học tiếng Lào”, giúp cán bộ, chiến sĩ Việt Nam có điều kiện tiếp xúc với cán bộ và nhân dân các bộ tộc Lào.

Tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, đồng chí Nguyễn Chí Thanh thay mặt Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Tổng Quân uỷ cùng đồng chí Phumi Vôngvichít thay mặt Chính phủ Kháng chiến và Mặt trận Lào Ítxalạ đến động viên cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 304 trước khi đơn vị hành quân sang nước bạn tham gia chiến dịch Thượng Lào. Với tình cảm chân thành và niềm tin tưởng chiến thắng, đồng chí Phumi Vôngvichít nói: “Cùng dựa lưng vào dãy Trường Sơn, nhân dân hai nước Lào - Việt từng cùng nhau đoàn kết chống ngoại xâm non một thế kỷ, chịu chung cảnh áp bức bóc lột của thực dân Pháp. Bây giờ tới lúc nhân dân hai nước chúng ta vùng lên đánh đuổi kẻ thù chung. Dẫu nước Lào còn nghèo, dân Lào còn đói, nhưng sẵn sàng bằng mọi cách đem hết sức mình cùng bộ đội Việt Nam đánh tan giặc Pháp, giải phóng dân làng thân yêu, núi rừng tươi đẹp của nước Lào” .

Trong không khí thi đua diệt giặc, Bộ Chỉ huy chiến dịch phát động phong trào thi đua lập công, giành giải thưởng cao quý của Bác Hồ.
Theo kế hoạch tác chiến của hai Bộ Tổng Tư lệnh, của Bộ Chỉ huy chiến dịch, ngày 8 tháng 4 năm 1953, các đơn vị chủ lực Việt Nam tiến quân sang đất Lào theo ba cánh. Cánh chủ yếu gồm các Đại đoàn 308, 312, Trung đoàn 98 từ biên giới Việt - Lào theo đường 6 tiến sang Sầm Nưa, phối hợp với lực lượng vũ trang Lào và quân tình nguyện đã ở sẵn trên các địa bàn, đang bám sát địch. Đồng chí Võ Nguyên Giáp và Hoàng thân Xuphanuvông cùng hành quân với các đơn vị ở hướng chủ yếu của chiến dịch.

Cánh thứ yếu là Đại đoàn 304 từ Nghệ An theo đường 7 tiến sang Xiêng Khoảng phối hợp với tiểu đoàn quân giải phóng Pathết Lào do đồng chí Thạo Tu chỉ huy, chặn đường rút chạy của địch từ Sầm Nưa xuống. Cùng đi với hướng này, có đồng chí Phumi Vôngvichít, đại diện Chính phủ Kháng chiến Lào.

Cánh phối hợp là Trung đoàn 148 từ Điện Biên Phủ tiến sang lưu vực sông Nặm U có nhiệm vụ tiêu diệt các vị trí địch ở khu vực này, đồng thời tạo thế uy hiếp địch ở Luổng Phạbang.   

Nhân dân các bộ tộc Lào ở vùng căn cứ dọc theo các đường bộ đội hành quân tích cực tham gia vận chuyển, tiếp tế, giúp đỡ liên quân Lào - Việt về mọi mặt với hết khả năng của mình.

Phối hợp với chiến trường Thượng Lào và nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch, trên chiến trường chính Việt Nam các đơn vị thuộc Liên khu Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 đều tổ chức những trận đánh, những đợt hoạt động gây rối, tiêu hao để kìm giữ lực lượng địch, buộc chúng phải phân tán đối phó khắp nơi.

Phát hiện thấy liên quân cách mạng Việt - Lào, đêm 12 tháng 4 năm 1953, địch hốt hoảng bỏ Sầm Nưa rút chạy.

Bộ Chỉ huy chiến dịch lệnh cho các đơn vị truy kích thật nhanh, thật mạnh, nhanh chóng đuổi kịp tiêu diệt địch, không để chúng chạy thoát về Cánh đồng Chum. Quán triệt mệnh lệnh của cấp trên, các đơn vị không kịp nghỉ ngơi đã tổ chức các phân đội gọn nhẹ, tranh thủ thời gian đuổi bám địch. Mặc dù vừa qua hàng chục ngày hành quân liên tục, nhiều ngày đêm phải ăn gạo rang thay cơm, nhịn đói nhịn khát, các chiến sĩ vẫn bám đơn vị truy kích địch. Cán bộ bám chiến sĩ, đảng viên bám quần chúng, liên tục động viên bộ đội: “Lần theo vết giày địch mà đuổi”. “Đuổi địch đến cùng, tiêu diệt bằng được binh đoàn rút lui của địch. Địch chạy xa 200 kilômét cũng đuổi, 300 kilômét cũng đuổi. Có lương thực cũng đuổi, hết lương thực cũng đuổi” .

Cuộc truy kích đầy gian nan thử thách, hy sinh của bộ đội Việt - Lào đã diễn ra suốt bảy ngày đêm trên chặng đường 270 km, từ Sầm Nưa đến đường 7, Bạn Ban, Lạt Bua... Phần lớn quân địch rút chạy từ Sầm Nưa và quân đồn trú dọc đường từ Mương Pơn, Hủa Mường... đã bị tiêu diệt, chỉ có khoảng 200 tên chạy thoát về Cánh đồng Chum.

Trên hướng đường 7, bộ đội Việt - Lào bao vây tiêu diệt địch ở Noỏng Hét rồi tiến sang Bạn Ban. Do bị uy hiếp mạnh và có nguy cơ bị tiêu diệt, sáng ngày 19 tháng 4, địch rút chạy khỏi thị xã Xiêng Khoảng.

Phát huy thắng lợi, Bộ Chỉ huy chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 148 kịp thời tiến công tiêu diệt địch ở lưu vực sông Nặm U, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn và giàu có ở Tây Bắc Lào, đồng thời tiến theo hai đường Mương Xon và Mương Xủi về uy hiếp Luổng Phạbang, khiến địch phải tức tốc điều quân cơ động, để tăng cường phòng thủ cố đô Lào.

Trong thời gian chiến dịch, nhân dân các bộ tộc Lào ở vùng Mương Ó, Pạc Xeng đã ra sức chi viện, ủng hộ liên quân Lào - Việt trong hành quân, tác chiến. Đặc biệt ở Sằm Tớ, nhân dân bị địch bóc lột rất nghèo khổ nhưng vẫn hăng hái giúp đỡ lương thực và dẫn đường cho bộ đội truy kích địch. Ở những tình huống khẩn trương, cấp bách, nhân dân Lào cung cấp cho bộ đội gạo, thịt, rau xanh, và nhận “phiếu vận động chiến”, sau đó, đơn vị đến thanh toán bằng tiền Đông Dương, bằng muối hoặc nông cụ. Kết quả là, các làng bản Lào đã cung cấp trên 220 tấn gạo, 10 tấn thực phẩm,... góp phần cùng với hậu phương kháng chiến của Việt Nam đảm bảo cho bộ đội đủ sức truy kích và đánh thắng địch ở Thượng Lào.

Chiến dịch đã đạt được mục tiêu mà hai Chính phủ, hai Mặt trận Việt Nam và Lào đề ra: tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, gồm gần 2.800 binh lính và sĩ quan địch, chiếm 1/5 tổng số địch ở Lào; giải phóng một vùng rộng lớn khoảng 35.000 km2 với hơn 40.000 dân, gồm toàn tỉnh Sầm Nưa, phần lớn tỉnh Xiêng Khoảng và một phần tỉnh Luổng Phạbang, trong đó có lưu vực sông Nặm U là một vùng có tầm chiến lược quan trọng, vùng giàu có nhất ở Tây Bắc Lào.

Với thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào, hậu phương kháng chiến của cách mạng Lào đã nối thông với vùng tự do của Việt Nam, tạo thế phối hợp chiến lược giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào. Từ đây, quân đội hai nước có điều kiện mở rộng hoạt động, tiến sâu vào hậu phương địch và cơ động tiến đánh chúng trên nhiều hướng, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương tiến lên một bước mới.

Thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào là thắng lợi của tinh thần quốc tế vô sản cao cả, thắng lợi của sự phối hợp chiến đấu giữa nhân dân hai nước Việt - Lào, giữa quân đội nhân dân Việt Nam và quân giải phóng Lào. Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, của Mặt trận và Chính phủ Kháng chiến hai nước Việt - Lào, lần đầu tiên sự phối hợp chiến đấu về mặt quân sự giữa quân đội hai nước đã giành được thắng lợi to lớn, làm tiền đề cho sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước ngày càng chặt chẽ và thắng lợi to lớn hơn. Đây cũng là lần đầu tiên một chiến dịch thu hút đầy đủ Bộ Chỉ huy cấp cao nhất của cả Việt Nam và Lào và hầu như tướng lĩnh tài giỏi nhất của hai nước đều ra trận. Điều đó cho thấy sự tin tưởng và quyết tâm phối hợp chiến đấu rất cao giữa hai dân tộc, hai quân đội trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung và đánh dấu thêm một mốc son mới trong lịch sử liên minh chiến đấu đặc biệt Việt - Lào.

Đánh giá ý nghĩa của chiến thắng đối với mối quan hệ hai nước Việt - Lào, trong Hội nghị tổng kết chiến dịch Thượng Lào (từ ngày 2 đến 3 tháng 5 năm 1953), đồng chí Võ Nguyên Giáp nêu rõ: “Thắng lợi này là thắng lợi đầu tiên của quân đội nhân dân ta, của bộ đội chủ lực ta trong quá trình phối hợp chiến đấu với quân đội và nhân dân nước bạn, thực hiện nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta, của nhân dân ta đối với cách mạng Pathết Lào. Đó cũng là thắng lợi lớn nhất của nhân dân và quân đội Pathết Lào kể từ ngày bắt đầu kháng chiến đến nay và cũng có thể nói là thắng lợi quân sự lớn nhất từ trước đến nay trong lịch sử vận động cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Pathết Lào”.
Thay mặt bộ đội chủ lực và quân tình nguyện Việt Nam ở Thượng Lào, đồng chí nhiệt liệt hoan nghênh Thủ tướng và các vị Bộ trưởng trong Chính phủ Kháng chiến Lào đã tham dự Hội nghị và bày tỏ niềm tin tưởng rằng: “Thắng lợi này sẽ làm cho mối đoàn kết giữa hai dân tộc, giữa hai quân đội ngày càng bền chặt, vì đó là thắng lợi chung của chúng ta” .

Ngày 15 tháng 5 năm 1953, Chính phủ Kháng chiến Lào ra thông cáo về chiến thắng Thượng Lào, trong đó có đoạn viết: “Sầm Nưa giải phóng có một ý nghĩa rất quan trọng. Sầm Nưa giải phóng là một thắng lợi lớn trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ của chúng ta. Thắng lợi đó là kết quả của lòng yêu nước nồng nàn của quân đội và nhân dân Lào, của tình đoàn kết giúp đỡ của bộ đội tình nguyện và nhân dân Việt Nam. Thắng lợi đó làm cho đồng bào toàn quốc càng tích cực tham gia kháng chiến, càng nhiệt liệt hoan nghênh quân đội giải phóng Lào và bộ đội tình nguyện Việt Nam, càng ra sức thắt chặt mối đoàn kết giữa nhân dân Lào - Việt để tiêu diệt kẻ thù chung, giành tự do, độc lập cho hai nước anh em và càng thêm tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng” .

Tại lễ mừng chiến thắng tổ chức trọng thể ở Sầm Nưa ngày 19 tháng 5 năm 1953, Hoàng thân Xuphanuvông khẳng định: “Sầm Nưa giải phóng là kết quả của tinh thần đoàn kết anh em giữa hai nước Việt - Lào, của sự giúp đỡ không điều kiện của nhân dân, của quân đội Việt Nam tiêu diệt kẻ thù chung” . Đồng chí Phumi Vôngvichít cũng nói trong lễ mừng chiến thắng ở Xiêng Khoảng: “Thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào là thắng lợi của tinh thần quốc tế vô sản cao cả, thắng lợi của tinh thần đoàn kết giữa hai dân tộc và hai quân đội Việt - Lào” .
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM