Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Giêng, 2022, 11:31:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930-2007  (Đọc 1657 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4644



« Trả lời #110 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2022, 11:10:11 am »

II. NHỮNG THÀNH QUẢ CƠ BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM


1. Hai dân tộc Việt Nam, Lào sát cánh bên nhau cùng tiến hành khởi nghĩa tháng Tám 1945, giành độc lập dân tộc


Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (tháng 9 năm 1939), từ tháng 11 năm 1939 đến tháng 5 năm 1941, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã sớm đưa ra những luận điểm và chủ trương quan trọng chuẩn bị cho công cuộc khởi nghĩa giành độc lập, tự do cho các dân tộc Việt Nam, Lào, Miên. Do điều kiện cụ thể khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ có hai nước Việt Nam, Lào tiến hành khởi nghĩa giành được quyền độc lập.

Các luận điểm và chủ trương của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương được thể hiện ở các vấn đề sau:

a) Đánh giá xác đáng tình hình chính trị, xã hội Đông Dương và chỉ rõ mâu thuẫn cần giải quyết

Bằng cách nhìn nhận khách quan và cách mạng, tháng 11 năm 1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho rằng, Chiến tranh thế giới thứ hai làm cho mâu thuẫn giữa các nước đế quốc và các dân tộc thuộc địa càng phát triển gay gắt, các dân tộc bị áp bức sẽ vùng dậy đấu tranh chống đế quốc xâm lược để trút bỏ ách tôi đòi: “cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị gây nên bởi đế quốc chiến tranh lần này sẽ nung nấu cách mệnh Đông Dương nổ bùng và tiền đồ cách mệnh giải phóng Đông Dương nhất định sẽ quang minh rực rỡ” .

Lúc bấy giờ, thực dân Pháp thi hành ở Đông Dương chính sách phát xít. Bọn phong kiến Việt, Miên, Lào cam tâm làm tay sai cho đế quốc Pháp, hô hào thanh niên đi lính, vơ vét tài sản của nhân dân Đông Dương để cung phụng cho “mẫu quốc” khiến: “ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng mong muốn độc lập, tự do, và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ” .

Tháng 9 năm 1940, quân Nhật kéo vào chiếm Đông Dương, tròng thêm vào cổ nhân dân Đông Dương một ách thống trị, đẩy mâu thuẫn giữa các đế quốc Pháp, Nhật với các dân tộc, các giai cấp tại Việt Nam, Lào, Miên lên tới mức độ rất quyết liệt, đúng như nhận định của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 5 năm 1941: “Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng” . Đó chính là mâu thuẫn cơ bản và cũng là mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi cách mạng Đông Dương phải giải quyết. Quan điểm trên sẽ chi phối nhiều quyết định quan trọng của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng trong tiến trình lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành quyền độc lập, tự do của các dân tộc Việt Nam, Lào.

b) Xác lập các luận điểm về vấn đề dân tộc ở Đông Dương

Trong hoàn cảnh các dân tộc Đông Dương đang bị giam hãm trong ngục tù nô lệ của chế độ thuộc địa, bị tước bỏ mọi quyền tự do, dân chủ, một ước nguyện tha thiết nhất của nhân dân các dân tộc Đông Dương là đánh đổ chế độ thực dân, giành lại chủ quyền dân tộc. Do vậy, tại Hội nghị lần thứ sáu, tháng 11 năm 1939 và Hội nghị lần thứ tám, tháng 5 năm 1941, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đều quan niệm:

Một là, vấn đề giải phóng dân tộc là vấn đề hàng đầu trong hệ thống luận điểm vấn đề dân tộc ở Đông Dương. Nó phải được đặt ở vị trí cao nhất, bức thiết nhất; tất cả quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phương hại lợi ích dân tộc, thì phải gác lại giải quyết sau.

Hai là, giải quyết đúng quyền “dân tộc tự quyết” cho các dân tộc ở Đông Dương. Ngay từ tháng 11 năm 1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã chủ trương sau khi độc lập: “Mỗi dân tộc có quyền giải quyết vận mệnh theo ý muốn của mình, song sự tự quyết cũng không nhất định nghĩa là rời hẳn nhau ra” .

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh và mở rộng thêm: Quyền tự do, độc lập của mỗi dân tộc được thừa nhận và tôn trọng. Mỗi dân tộc đều có quyền bảo tồn, phát triển văn hoá của dân tộc mình. Đối với các dân tộc Lào, Miên, dân tộc Việt Nam có nghĩa vụ giúp đỡ trên bước đường đấu tranh vì độc lập, tự do.

Ba là, cần xây dựng khối đoàn kết của các dân tộc ở Đông Dương mới có đủ sức mạnh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Pháp, Nhật; đồng thời, cần mở rộng quan hệ đoàn kết với các lực lượng cách mạng và dân chủ chống phát xít trên thế giới.

Thực dân Pháp và quân phiệt Nhật dùng chính sách chia để trị giữa các dân tộc Việt, Miên, Lào, và nội bộ từng dân tộc. Mặt khác, ba dân tộc này ở Đông Dương đều nằm dưới ách thống trị của Pháp và Nhật. Vì thế, muốn đánh đổ ách thống trị đó, cần huy động lực lượng đoàn kết, thống nhất của ba dân tộc.

Nhìn rộng ra thế giới, cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới, đứng trong phe dân chủ chống phát xít và gắn bó chặt chẽ với cách mạng Trung Quốc 1, Liên Xô.

c) Quyết định thực hiện một nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc

Căn cứ vào sự chuyển biến tình hình thế giới và Đông Dương, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương xác định rõ: Đảng phải thay đổi chính sách, để đánh đổ chế độ thuộc địa giành quyền sống cho ba dân tộc Việt, Miên, Lào.

Nếu như Luận cương chính trị của Đảng tháng 10 năm 1930 cho rằng, trong cách mạng tư sản dân quyền (Đại hội II của Đảng gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) phải thi hành triệt để cách mạng ruộng đất và đánh đổ chủ nghĩa đế quốc làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, thì đến tháng 11 năm 1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đề xuất chủ trương mới: “Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao... cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết. Vì vậy,... trong lúc này chỉ mới tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc”  (BBS nhấn mạnh).

Tiến thêm một bước mới, tại Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đưa ra một quyết định quan trọng là thay đổi chiến lược cách mạng với hàm nghĩa “cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”” (BBS nhấn mạnh). Vì thế cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

d) Xúc tiến công tác xây dựng đảng và lực lượng cách mạng

Trong khi xác định các chủ trương mới của Đảng nhằm “dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mệnh giải phóng”  (BBS nhấn mạnh), Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác xây dựng đảng với trọng tâm là thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng; thắt chặt quan hệ Đảng với quần chúng; nâng cao trình độ lý luận và lựa chọn cán bộ để chỉ đạo thực hiện đường lối của Đảng; khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và mối liên hệ của các cấp bộ đảng từ chi bộ tới Trung ương; cần củng cố, mở rộng cơ sở đảng tại thành thị và trung tâm công nghiệp, đồn điền. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặc biệt chú trọng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ gây dựng cơ sở đảng ở Miên, Lào.

Giải thích nguyên do dẫn tới khó khăn lớn của cách mạng Đông Dương, trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản tháng 7 năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho biết Đảng còn quá yếu, vì phần lớn số cán bộ có kinh nghiệm đấu tranh hiện đang bị giam giữ trong nhà tù đế quốc.
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương kiểm điểm công tác xây dựng đảng từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ở châu Âu và cho rằng: tình hình Đông Dương biến đổi nhiều, Đảng đã lãnh đạo được nhiều cuộc đấu tranh nhưng cũng bỏ lỡ nhiều cơ hội lãnh đạo phong trào quần chúng phát triển để có thể đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. Hội nghị nhấn mạnh các công tác trọng tâm:

Công tác đào tạo cán bộ là công tác rất cấp bách và phải thực hiện bằng nhiều phương pháp như giáo dục lý luận, đào luyện trong công tác thực tiễn và trao đổi kinh nghiệm hoạt động trong các tầng lớp xã hội như công nhân, binh lính; phải nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng của giai cấp vô sản và kết nạp họ vào Đảng. Cần phát triển phong trào đấu tranh tại đô thị, nhà máy, hầm mỏ, lấy đó làm đầu tàu lôi kéo phong trào các nơi khác.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng phân công Đảng bộ Trung Kỳ chịu trách nhiệm tổ chức, gây cơ sở đảng ở Lào, Đảng bộ Nam Kỳ thực hiện nhiệm vụ đó tại Cao Miên. Đồng thời, phải lập những uỷ ban chuyên môn vận động các dân tộc thiểu số, làm cho họ trở thành lực lượng hậu thuẫn của cách mạng.

Cùng với các nhiệm vụ trên, Đảng phải chú trọng tổ chức hệ thống giao thông, liên lạc vững chắc, đa dạng giữa các cấp.

Trên bước đường hướng tới thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho các dân tộc Việt, Miên, Lào, lãnh tụ Hồ Chí Minh hướng dẫn các đảng bộ: “phải biết nhằm vào các công tác trung tâm mà tiến tới, phải nắm lấy thời cơ thuận lợi mà làm việc. Làm sao cho đủ năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng” .

Trong công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị, Mặt trận thống nhất dân tộc giữ một vị trí rất quan trọng. Theo quan điểm của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, để tiến hành giải phóng dân tộc, tự cứu sống mình, trước hết phải thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết các dân tộc, các giai cấp, các đảng phái và phần tử phản đế theo tinh thần: “Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên, vì quyền lợi sinh tồn của dân tộc mà sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản và những tầng lớp tư sản bổn xứ, trung tiểu địa chủ còn có căm tức đế quốc, vì sự căm tức ấy có thể làm cho họ có ít nhiều tinh thần chống đế quốc” .

Đến tháng 5 năm 1941, quán triệt luận điểm đại đoàn kết dân tộc của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định xây dựng tại mỗi quốc gia một mặt trận thống nhất dân tộc và mang “cái tên khác (tức Mặt trận thống nhất dân tộc - BBS) cho có tính chất dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại”. Theo đó, sẽ thành lập Mặt trận Việt Minh tại Việt Nam. Đồng thời, Đảng và Việt Minh phải hết sức giúp đỡ các dân tộc Lào, Miên thành lập Ai Lao độc lập đồng minhCao Miên độc lập đồng minh. Sau đó, lập ra Đông Dương độc lập đồng minh. Từ đây, bắt đầu xuất hiện ý tưởng hình thành tại ba dân tộc Việt Nam, Lào, Miên tầng Mặt trận thống nhất dân tộc trong mỗi quốc gia và tầng Mặt trận các dân tộc Đông Dương. Đó chính là lực lượng chính trị cơ bản nhất cùng với lực lượng vũ trang làm nòng cốt, tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng giải phóng của mỗi dân tộc và cả ba dân tộc ở Đông Dương.

Xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa và chiến khu cũng là một nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

e) Chỉ đạo phương pháp đấu tranh giành chính quyền

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang khi đã có đủ các điều kiện chủ quan và khách quan.

Khởi nghĩa sẽ diễn ra theo quy trình khởi nghĩa từng phần ở từng địa phương mở đường tiến tới tổng khởi nghĩa.

Trong thời gian từ cuối năm 1939 đến tháng 8 năm 1945, tuy cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào bị chính quyền Pháp - Nhật đàn áp, khủng bố rất khốc liệt, nhiều cán bộ cấp cao của Đảng và đảng viên bị cầm tù và hy sinh, nhưng dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, công tác chuẩn bị về nhiều mặt cho công cuộc khởi nghĩa giành chính quyền vẫn được xúc tiến.

Tại Việt Nam, căn cứ địa Việt Bắc, Mặt trận Việt Minh và nhiều tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo được thành lập; nhiều đơn vị vũ trang như Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân lần lượt ra đời. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945), Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, nhiều chiến khu xuất hiện, khởi nghĩa từng phần ở nhiều địa phương miền Bắc và miền Trung nổ ra thắng lợi.

Ở Lào, chính quyền thuộc địa Pháp - Nhật cũng khủng bố ráo riết các tổ chức cộng sản. Cuối năm 1943, Đảng bộ Trung Lào nhận được Nghị quyết lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tiếp sau là Chương trình, Điều lệ Việt Minh. Giữa lúc đó, số đảng viên hoạt động tại biên giới Lào - Thái chủ động thành lập Đội Tiên phong 2, nhằm chuẩn bị lập lại Xứ uỷ Lào. Tháng 2 năm 1945, “Hội Việt kiều cứu quốc”, một loại hình mặt trận thống nhất dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đội Tiên phong được thành lập. Hội chủ trương đoàn kết các tầng lớp nhân dân, công chức, binh lính, cảnh sát có tinh thần yêu nước, chuẩn bị xây dựng căn cứ địa trên đất Thái Lan.

Sau đó, Xứ uỷ Lào được lập lại lần thứ tư và xác định các đô thị lớn như Viêng Chăn, Thà Khẹc, Xavẳnnakhệt là địa bàn hoạt động chính. Sau ngày quân phiệt Nhật đảo chính Pháp, phong trào cứu nước càng phát triển mạnh mẽ. Tổ chức Lào Ítxalạ bao gồm công chức, học sinh có tinh thần yêu nước, chịu ảnh hưởng đường lối cứu nước của Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, nhiều căn cứ cách mạng xuất hiện. Tháng 6 năm 1945, đơn vị Việt Nam Độc lập quân được thành lập ở chiến khu trên đất Thái Lan.

Trung tuần tháng 8 năm 1945, thời cơ giành độc lập cho Đông Dương xuất hiện, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định Tổng khởi nghĩa và tiến hành Hội nghị toàn Đảng tại Tân Trào, Tuyên Quang (ngày 14, 15 tháng 8 năm 1945). Nghị quyết của Hội nghị nêu rõ: “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi; cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới” . Vào thời điểm này, Bác Hồ gặp các đồng chí đại biểu Xứ uỷ Lào, Người dặn: thời cơ rất thuận lợi cho nhân dân Đông Dương, ở đâu có điều kiện, phải giành được chính quyền trước khi Đồng minh vào. Pháp và Đồng minh Anh, Mỹ gắn bó với nhau. Pháp sẽ núp sau lưng Đồng minh để trở lại xâm lược Việt Nam, Lào, Miên, chúng ta phải đoàn kết để đánh kẻ thù chung.

Nhân dân hai nước Việt, Lào chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa thành công tháng 8 năm 1945.

Đó là kỳ tích đầu tiên của hai nước Việt Nam - Lào, của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.




-------------------------------------------------------------------
1. Báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản, tháng 7 năm 1939, cho biết: Dân chúng đã thấm nhuần tinh thần khẩu hiệu “Giúp đỡ Trung Quốc” và bằng chứng là, dù đói khổ, từ tháng 3 năm 1938 đến tháng 2 năm 1939, họ đã quyên góp 579 đồng vào cuộc lạc quyên ủng hộ các chiến sĩ Trung Quốc, do các báo cộng sản ở Bắc Kỳ tổ chức. Người còn cho biết thêm: những người cộng sản Đông Dương đã sáng tác bài hát “Giúp Trung Quốc tức là giúp mình”, bài hát này được phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Nhiều nơi đã tổ chức biểu diễn ban đêm và người biểu diễn là công nhân, nông dân, nhất là thanh niên. Họ thường phối hợp với thanh niên Trung Quốc để tiến hành. (Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.158).

2. Đội Tiên phong do đồng chí Chấn làm đội trưởng. Các đồng chí Long, Vịnh, Khanh, Khiếu là uỷ viên sinh hoạt gần như một cấp uỷ. Tài liệu do đồng chí Đinh Văn Khanh, Uỷ viên Xứ uỷ Ai Lao, Uỷ viên thường trực Ban Công tác miền Tây (CP38) cung cấp.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM