Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 06 Tháng Mười Hai, 2021, 09:11:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử khai phá và bảo vệ chủ quyền vùng đất Châu Đốc thời Nguyễn  (Đọc 1349 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #50 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2021, 01:52:31 pm »

+ Tang lễ của người Khmer

Người Khmer theo Phật giáo Tiểu thừa nên khi tín đồ chết, theo tục lệ của đạo là phải hỏa thiêu và đem tro cốt (xá lỵ) bỏ vào bình và đem thờ trong tháp.


Tuy nhiên, theo cuốn Religious System of China của tác giả người Anh De Groot và cuốn Le Royaume du Cambodge của nhà khảo cổ học người Pháp Moura, cũng như những quan sát của Châu Đạt Quan trong Chân Lạp phong thổ ký thế kỷ XIII thì ở người Khmer có 3 loại táng là: hỏa táng (thiêu xác bằng lửa), điểu táng: cho chim ăn thịt; thuỷ táng: thả xác trôi sông [75, tr.104]. Từ thế kỷ XVI đến nay, ngươi Khmer có tục thiêu xác khi có người chết. Nếu người chết ở xa hoặc có người thân ở xa không về dự tang lễ kịp thì họ tạm chôn xác chết bằng quan tài gỗ tạp 6 tấm ở dưới đất 3 năm mới đào lên đốt. Người Khmer nào cũng có nguyện vọng "sống gửi của, chết gửi xương", nghĩa là lúc còn sống đem tiền của cúng chùa, khi chết thì hài cốt gửi vào tháp ở chùa [40, tr.105].


Khi trong nhà có người sắp chết, người ta đội trên đầu người đó một cái vòng bằng vải trắng che mặt để người chết quên nhà cũ, tránh hồn về quấy phá người thân. Lúc có người mới chết, người ta mời ông sãi đến tụng kinh dẫn dắt linh hồn người chết theo đường chính, đầu thai làm người không phải súc vật. Khi tụng kinh xong, người ta tắm xác chết bằng nước thơm, thay đồ, xong bỏ vào hòm. Buổi tối, vị sãi tụng kinh khoảng 2 tiếng, sáng hôm sau thì đem đi chôn. Hoặc đến ngày giờ đã chọn, người ta khiêng quan tài ra nhà thiêu cạnh chùa gọi là "pachha". Khi liệm hoặc táng người chết, người Khmer đều xem ngày giờ tốt để con cháu làm ăn thuận lợi về sau.


Tùy theo hoàn cảnh, nếu người thân ở xa có thể về được thì người nhà đợi, nếu không thì gia đình an táng nhanh hơn. Nếu hỏa thiêu ngay thì lấy tro cốt để vào cái bình gọi là "Kôtt" mang để ở trong tháp cạnh nhà hoặc tháp ở chùa. Nếu địa táng, đến khoảng 3 năm người ta đào lấy cốt xương thiêu để lấy tro bỏ vào tháp ở chùa. Đến ngày lễ tại chùa, lễ vào năm mới, ngày giỗ hoặc dịp thuận tiện người ta mời vị sư đến ngôi tháp cạnh chùa có để thố tro tàn, hay mời sư về nhà đọc kinh cầu siêu, tụng kinh, thuyết pháp để mong người chết sớm được vào Niết bàn. Người nào vì điều kiện không thể thờ cúng theo tục lệ thì lấy làm khổ tâm, vì không giữ tròn bổn phận đời với người chết.


+ Tang lễ của người Chăm

Tang lễ của người Chăm ở Châu Đốc tuân thủ theo luật đạo quy định, rất đơn giản và đảm bảo vệ sinh.

Khi có một người đang hấp hối, láng giềng được huy động đến để đọc Thánh kinh Coran. Họ tin rằng, khi nghe đọc như vậy, trí óc bệnh nhân sẽ sáng suốt và trút linh hồn với đầy đủ đức tin của người Hồi giáo. Khi người bệnh tắt thở, các vị bô lão thường khuyên các thân quyến hãy thương kẻ quá vãng và không nên khóc lóc kể lể [14, tr.22]. Người ta tắm rửa sạch sẽ cho tử thi, lau chùi xong, đem để nằm trên bộ ván. Tiếp đó làm "Kaphanh", tức là xé vải trắng (không dùng dao, kéo để cắt và cũng không may vải), quấn tử thi ba lớp. Những ông hakim, ahly và một số bô lão được mời đến chứng kiến, kiểm tra tử thi đã làm đúng thủ tục, rồi cùng nhau cầu nguyện cho hồn người chết. Trong lúc bệnh nhân tắt thở, ông Seak (người làm vệ sinh và giữ thánh đường) đi rao báo cho xóm làng biết để đến cầu nguyện, giúp đỡ. Đồng thời, cũng kêu gọi thanh niên đào huyệt nơi gia đình người chết đã chọn và khiêng xác đi chôn [121, tr.72-73]. Nơi chôn tốt nhất là khoảnh đất quanh thánh đường (masdjid). Huyệt thường đào sâu quá đầu người, chiều dài hướng Đông - Tây, ngang khoảng 1-1,2 mét, chiều dài hơn chiều cao của người chết khoảng 1,10 mét. Dưới chân vách đất bên phía Nam, người ta khoét một cái lỗ theo chiều dài đặt vừa với tử thi và tử thi nằm lệch về phía bên huyệt, đầu quay về hướng Tây (hướng của Thánh địa Mecca) [121, tr.73].


Người Chăm ở đây không dùng hòm, tử thi được đặt nằm trên một cái cáng gọi là "hanh đu" có mui che bên trên. Đoàn người đưa đám thỉnh thoảng ngừng lại; người ta nói là để cho linh hồn kẻ quá vẵng nhắn nhủ với cỏ cây. Không kèn, không trống, không tiếng khóc than, đám tang cử hành yên lặng. Mồ nhà giàu cũng như nhà nghèo đều đắp đất như nhau, chứ không xây, hai đầu có hai tảng đá huặc thanh gỗ mỏng làm mộ chí. Từ ngày chôn đến ngày thứ 40, một người trong họ hoặc một người được thuê đọc Thánh kinh Coran bên phần mộ một cách thường xuyên và cần thiết, nhất là lúc mặt trời lặn và khi mặt trời mọc. Việc đọc kinh Coran như vậy là để tưởng niệm người quá vãng. Ngay buổi tối bữa chôn, mọi người sẽ tụ họp tại nhà người chết, hoặc tại surao để cùng đọc kinh cho hương hồn kẻ quá vãng, gọi là "tahalêl".


Việc làm tuần sẽ thực hiện ngày thứ 3, 7, 10, 30, 40 và 100. Và từ đó nửa năm sẽ cúng một lần. Việc cúng trong những ngày lễ trên gọi là "ngăk pa thi", có ý nghĩa là tập họp một số người với ý niệm hướng về người đã khuất. Đọc xong mọi người cùng dùng cơm. Trong tập tục người Chăm Hồi giáo Islam, không có việc thờ phụng người quá vãng bằng bài vị như người Việt. Cho đến cả cúng kiếng cũng vậy, người ta có thể cúng lúc nào cũng được và một cách giản dị là khi có món ngon vật lạ muốn tưởng niệm người đã mất thì thường đưa đến nhà ông "tuôn" (thầy dạy kinh thánh) hoặc "imâm" ở thánh đường làm lễ "căn goi", đọc kinh cầu nguyện. Tuyệt nhiên không bao giờ có việc lạy. Họ chỉ "lạy" theo một số quy định của Coran tức "Sambahyang", mỗi ngày 5 lần mà thôi và việc này là hướng về Thượng đế duy nhất là thánh Allah.


Điều đáng lưu ý của người Chăm Châu Đốc là người chết ở thôn ấp nào thì chôn ở đó, hiếm khi đưa đi xa và khi đã chôn rồi, ngôi mộ được xem là vĩnh viễn, tuy mộ chỉ là một cái nấm bằng đất mà thôi. Việc cải táng, di chuyển hài cốt cũng hoàn toàn bị cấm.


+ Tang lễ của người Hoa

Cũng như người Hoa ở Nam Bộ, đám tang của người Hoa Châu Đốc được cử hành trang nghiêm song không quá u buồn, ảo não.

Người Hoa quan niệm "sinh ký tử quy". Vì vậy, trong mỗi đám tang, vừa có nỗi buồn ly biệt của người "sinh ký" (sống gửi), vừa có hạnh phúc của người "tử quy" (thác về). Cho nên, người Hoa đốt pháo. Đốt pháo lúc động quan, chuyển quan khi hạ huyệt, đốt pháo tạo nên một "chuyển hoá" về tâm lý cho người sống vẫn trang nghiêm mà bớt chút u buồn. Cách để tang trong gia đình có người chết cũng có những khác nhau. Con trai bận áo trắng, đội khăn trắng, cháu đội khăn xanh, chắt đội khăn đỏ, con gái, con dâu đội mũ mấn. Thân bằng, bạn hữu, người lối xóm đi tiễn đưa được tang chủ trao cho một túm chỉ đỏ với ngụ ý cầu chúc gặp nhiều may mắn. Trong lễ tang của những gia đình khá giả, tang chủ còn thuê đội kèn hoặc đội lân đi tiễn đưa người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng. Các đội này vừa đi vừa thổi kèn hoặc múa lân từ nhà ra nghĩa trang và bao giờ họ cũng đi trước đòn khiêng áo tang hoặc xe tang.


Nhạc tang không sầu não ai oán mà bi hùng. Ra tới mộ sau lễ cúng, ông thầy cúng thả một con gà sống cho bay đi, ai bắt được gà này đem về nuôi sẽ phát tài phát lộc. Trong việc tang người Hoa rất coi trọng việc xem ngày giờ liệm, động quan, hạ huyệt, mời thầy địa lý xem hướng mộ vì nơi "ở" của người đã khuất ảnh hưởng quan trọng đến cuộc sống của những người đang sống trong gia đình. Cũng vì quan niệm "sống cái nhà, già cái mồ", người Hoa cũng rất chú trọng trong việc xây dựng mồ yên mả đẹp cho người đã khuất.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #51 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2021, 05:30:47 pm »

b- Tín ngưỡng dân gian và lễ hội ở Châu Đốc

Trong nhiều tín ngưỡng của người Việt Châu Đốc, công trình chọn nêu 3 sinh hoạt cơ bản: thờ cúng tổ tiên - tín ngưỡng mang ý nghĩa cá nhân, gia đình, dòng họ; cúng đình - Thành hoàng - tiêu biểu cho tín ngưỡng cộng đồng, làng xã; thờ Mẫu - tín ngưỡng phồn thực, Mẹ - Sinh, Âm - Đất của cư dân nông nghiệp.

- Thờ cúng tổ tiên của người Việt

Người Việt trong khi thiết tha hướng tới tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân và con cháu mình, đã không bao giờ quên truyền thống nhớ nguồn, hướng về cội nguồn. Do đó, tục thờ cúng tổ tiên là một trong những phong tục thiêng liêng của người Việt, là truyền thống tốt đẹp của văn hoá Việt Nam, đã được định hình ở nước ta từ lâu đời. Thờ cúng tổ tiên không chỉ trở thành một tín ngưỡng sâu sắc của người Việt mà còn là đạo lý. Đặc biệt có nơi, như vùng Châu Đốc thế kỷ XIX đến nay, nó còn được coi là "Đạo": Đạo ông bà, Đạo tổ tiên.


Ở người Việt Châu Đốc nói riêng và người Việt cả nước nói chung thờ cúng tổ tiên được đặt vào vị trí quan trọng nhất, vai trò trung tâm trong đời sổng tinh thần của cư dân. Người Việt theo tam giáo (Nho, Phật, Lão), tin vào sự bất diệt của linh hồn, nên cho rằng linh hồn người chết luôn lui tới người đang sống, là một thành viên vô hình của gia đình, vẫn luôn ngự trên bàn thờ để gần gũi con cháu, theo dõi con cháu trong cuộc sống và giúp đỡ khi cần, "con cháu ở đâu tổ tiên ở đấy". Quan niệm qua việc thờ cúng tổ tiên, người khuất và người còn sống như có một sự liên lạc mật thiết, tồn tại khá phổ biến ở người Việt. Nói cách khác, "những liên hệ huyền bí và mạnh mẽ" gắn người sống và người chết trong sự thờ cúng tổ tiên [24, tr.18]. Vì vậy, sự tin tưởng vào vong hồn ông bà, cha mẹ ngự trên giường thờ, có ảnh hưởng nhiều đến hành động của người sống.


Đạo lý "uống nước nhớ nguồn” là điều đầu tiên phải kể đến trong thờ cúng tổ tiên. Một mặt, con cháu bày tỏ sự tri ân đối với tổ tiên, mặt khác nó cũng thể hiện trách nhiệm của con cháu đối với tổ tiên. Trách nhiệm được biểu hiện không chỉ trong hành vi sống (giữ gìn danh dự và tiếp tục truyền thống của gia đĩnh, dòng họ, đất nước) mà còn ở trong hành vi cúng tế cụ thể. Khi nghiên cứu về thờ cúng tổ tiên của người Việt, một học giả nước ngoài nhận xét: "Các thành viên trong gia đình kính dâng các đồ lễ là tuyệt đối cần thiết, để cho linh hồn tổ tiên có được sự yên nghỉ thanh thản ở thế giới bên kia" [40, tr.100]. Người Việt luôn mong nhận được "phúc ấm" của tổ tiên, vừa lo "đời cha ăn mặn đời con khát nước", vừa lo trách nhiệm để lại "hồng phúc", "phúc trạch" cho con cháu. Khi cúng tế tổ tiên, một mặt con người hướng về quá khứ, định hướng cho hiện tại và mặt khác chuẩn bị hành trang cho thế hệ tương lai.


Thờ cúng tổ tiên của người Việt còn là hình thái tín ngưỡng có ý nghĩa lớn về mặt tổ chức cộng đồng trong xã hội truyền thống. Tác giả Nguyễn Văn Huyên đã nhận xét: "Yếu tố" vững chắc nhất gắn bó các thành viên của đại gia tộc là việc thờ cúng tổ tiên" [38, tr.582]. Để duy trì tổ chức cộng đồng từ gia đình tới dòng họ, người Việt rất coi trọng việc ghi chép gia phả. Đây là việc làm mang tính chất giáo dục gia đình và giữ gìn kỷ cương, nền nếp gia phong. Do đó, truyền thống được bảo tồn, lễ nghi trật tự được tôn trọng. Niềm tin, ý thức gia tộc cũng như ý thức về một cội nguồn giữ một vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm linh có vai trò rất to lớn trong tổ chức cố kết cộng đồng, là sức mạnh giúp cho cộng đồng chiến thắng trước mọi đe doạ của ngoại xâm. Thờ cúng tổ tiên không chỉ thể hiện "đạo hiếu" của người Việt, mà nó còn phù hợp với tư tưởng hiếu của Nho gia. Nghi thức tang chế và cúng giỗ được mô phỏng theo Nho giáo đã được các vương triều phong kiến ủng hộ vì nó góp phần quan trọng vào việc tổ chức xã hội, bảo đảm tôn ti trật tự trong gia đình, dòng họ cho tới quốc gia. Ở người Việt Châu Đốc và người Việt Nam Bộ, sự thờ cúng ông bà, cha mẹ đã khuất là một việc rất hệ trọng và đượm phần sâu nặng:

Tổ tiên con ráng phụng thờ
Mấy lời mẹ bảo ngày giờ chớ quên...
Còn cha, còn mẹ thì hơn
Không cha, không mẹ như đờn đứt giây
Có cha như bát nước đầy
Côi mẹ như chích lạc bầy kêu sương.



Sở dĩ, họ có lòng hiếu nghĩa như vậy, vì trên vùng đất để lại cho con cháu, tổ tiên họ đã vượt qua mọi gian nan để đuổi sấu, bắt rắn, chống lại địch hoạ thiên tai và cả nhân tai, để khai phá đất này. Bởi thế ơn cha mẹ khi sống cũng như thờ cha mẹ lúc chết có ý nghĩa thiêng liêng đặc biệt [17, tr.27]. Những bức hoành phi đề "phụ mẫu chi ân" (ơn cha mẹ), "phụ mẫu ai ai" (nhố thương cha mẹ) và những câu đối:

"Công đức bách niên duy
Tổ tôn vạn đại hiền"
(Công đức tổ tiên trăm năm ghi nhớ.
Con cháu muôn đời gặp điều hay).



Tất cả đều nói lên ý niệm nhớ ơn cha mẹ rất thiêng liêng gắn bó ở người Việt Nam Bộ. Trong ý thức của người Việt, khái niệm tổ tiên bao gồm từ nhà tổ, tổ họ cho đến tổ làng, tố nghề, tổ nước. Vì vậy, có tác giả đã nhận xét: "Đạo thờ cúng tổ tiên được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ thờ những người có công sinh dưỡng đã khuất, nghĩa là những người có cùng huyết thống mà (còn) thờ cúng những người có công với cộng đồng làng xã, đất nước" [144, tr.315]. Vì vậy, ở người Việt Châu Đốc, khắp mọi nơi, ở bất cứ ngôi đình nào người Việt cũng đều đặt bàn thờ tiên hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ rất trân trọng. Rất nhiều đình làng thờ những nhân thần có công khai mở đất hoặc đánh giặc giữ nước: Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Trung Trực, Lê Văn Duyệt,...


Ở Châu Đốc, có thể coi thờ cúng tổ tiên là một phong tục đã được tôn giáo hóa. Vì vậy, người Việt gọi là "Đạo ông bà", "Đạo thờ tổ tiên". Điều đó, được thể hiện rõ ràng trong giáo lý "Tứ ân" không chỉ của tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, mà có cả trong đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Ngay cả các tôn giáo mới ra đời trên vùng đất này nửa đầu thế kỷ XX như Hoà Hảo cũng biêt dựa trên cơ sở thờ cúng tổ tiên, kể cả đạo Cao Đài ở miền Đông Nam Bộ. Ngay cả các tín ngưỡng dân gian khác như thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, thờ Đức thánh Trần,... ta cũng thấy tác động của tín ngưỡng thờ tổ tiên với sự biết ơn cội nguồn, biết ơn các đấng sinh thành. Điều đó, cũng phù hợp với lời nhận xét của cố giáo sư Nguyễn Đổng Chi: "Dù với tâm lý cởi mở, dễ chấp nhận các tôn giáo tín ngưỡng thì người Việt Nam với lòng tôn sùng tổ tiên đã đặt tất cả các tôn giáo tín ngưỡng khác xuống hàng thứ yếu" [9, tr.113].
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #52 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2021, 05:31:28 pm »

Có thể nói rằng, đối với người dân Châu Đốc thế kỷ XIX, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã được tôn giáo hóa thành đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Vì vậy, không ngẫu nhiên mà người ta gọi tôn giáo này là "Đạo Lành". Điều đó được thể hiện rõ ràng trong giáo lý "Tứ Ân" của đạo. Trong "tứ đại trọng ân" thì người Việt Châu Đốc coi "ân tổ tiên cha mẹ" là hàng đầu, sau mới đến ân đất nước, ân đồng bào nhân loại và ân Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng).


Như vậy, với việc thờ cúng tổ tiên và giáo lý Tứ An của Bửu Sơn Kỳ Hương, người Việt Châu Đốc vẫn chứng tỏ dù có xa nơi "chôn nhau cắt rốn" từ miền Trung, miền Bắc, dù xa cội nguồn, đến vùng đất mới, họ vẫn luôn nhớ về "cố hương", vẫn đang tìm kiếm lại "căn cước" của chính mình, tự khẳng định mình và tìm kiếm lại lý lịch đích thực của người Việt, một thứ lý lịch không dựa trên những tiêu chuẩn xã hội và giai cấp nào đó mà dựa vào "huyết thống" và "di truyền sinh học" và cũng như có người cho đó là "di truyền văn hoá" [24, tr.18].


Trên bình diện khác, bình diện những xung đột văn hoá hay những đụng độ về văn hoá, khi người Pháp xâm lược 3 tỉnh miền Tây; với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người Việt đã có chỗ dựa để chống lại những làn sóng xâm nhập văn hoá ồ ạt từ bên ngoài đe doạ làm mất bản sắc văn hoá dân tộc (chứ không phải chỉ mất chủ quyền lãnh thổ). Vì vậy, ngoài nghi thức thờ cúng tổ tiên, người Việt Chấu Đốc còn giữ lại cho mình cách phục sức - lễ phục truyền thống: quần chùng, áo dài, khăn đóng (của các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa) như thái độ bảo tồn phong tục tập quán, giữ gìn văn hoá dân tộc, chống lại những gì phương Tây xa lạ.


Suy cho cùng, Bửu Sơn Kỳ Hương một hiện tượng tôn giáo hóa thờ cúng tổ tiên - là một phản ứng của văn hoá Việt đôi với sự xâm nhập của văn hoá ngoại lai.

Ở người Việt Châu Đốc, dù vẫn giống người Việt khắp mọi miền, nhưng vẫn còn một nét đặc thù về sự thờ cúng tổ tiên, tổ tiên gia đình và tổ tiên cả nước gắn chặt với nhau trong tưởng niệm và thờ cúng. Điều này thể hiện rất rõ khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ. Với người Việt, ân tổ tiên cha mẹ và ân đất nước gắn bó chặt chẽ với nhau, hoà làm một. Người Việt Châu Đốc và những tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương vùng này chiến đấu chống Pháp không chỉ vì chúng đến cướp nước mà cùng với đó, còn vì quê cha đất tổ, nơi có bàn thờ tổ tiên, có mồ mả của ông cha mình.


Cũng như người Việt cả nước, trong gia đình bất cứ người Việt Châu Đốc nào (trừ tín đồ Thiên Chúa giáo) cũng đều có bàn thờ gia tiên trong nhà. Bàn thờ thường được đặt ở vị trí trang trọng nhất và họ thường tổ chức cúng tế tổ tiên vào dịp giỗ chạp, lề, tết,... Tập quán này của người Việt mang ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc. Là hình thức nhắc nhở các thành viên trong gia đình, dòng họ nhớ đến tổ tiên, nhớ đến truyền thống tốt đẹp của gia tộc mình. Đây là điểm xuất phát quan trọng không thể thiếu được trong sinh hoạt tinh thần người Việt. Đây cũng là khởi đầu và là tế bào cơ bản của việc giáo dục mọi đức tính tốt đẹp của con người như lòng yêu thương quê hương, gia đình, lòng yếu tổ quốc và hơn hết là ý thức về cội nguồn của mình. Nhờ ý thức này mà nhiều giá trị tích cực của nó được giữ gìn và phát huy [72, tr.48].


Việc thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam Bộ được Trịnh Hoài Đức nói đến nhiều lần trong sách Gia Định thành thông chí. Người Việt "cứ đến cuối năm, may áo mới đẹp, quét rửa sạch trong nhà ngoài sân, dán câu đối mới, bày bàn ghế, sửa soạn chỗ thờ cúng tổ tiên", "mồng một Tết đầu giờ Dần, dậy đốt đèn hương, dâng nước chè nóng, lễ bái tổ tiên", "làm cỗ bàn đặt cúng tổ tiên, mỗi ngày sáng chiều hai buổi, như để cung phụng người còn sống" [21, tr.144]. Trịnh Hoài Đức cũng nói: Việc cúng ngày mồng một Tết, tuy sách vở không có nhưng đó cũng là tục hậu nên kẻ sĩ phu phải làm và trong dân gian thường đến ngày mồng 5 Tết thì cúng tổ tiên [21, tr.144].


Một trong những hình thức để biểu lộ sự thờ phụng là săn sóc tới phần mộ tổ tiên. Về việc này Trịnh Hoài Đức viết: Thường đến cuối năm người Việt vẫn quét dọn, bồi đắp phần mộ tổ tiên, vì con cháu không nỡ ngồi nhìn cây cỏ rậm bẩn, mồ mả sụt lở [21, tr.146]. Nhân dịp này con cháu thắp hương trên mộ, khấn vái mời tổ tiên về ăn Tết. Đây là một trong những hành vi tôn kính thiêng liêng nhất mà người sống có thể bộc lộ với người chết. Vì ở người Việt, mồ mả là một tài sản thiêng liêng, được tôn kính sâu sắc [37, tr.589]. Tuy nhiên, việc thờ cúng tổ tiên của người Việt Châu Đốc không chỉ diễn ra trong những ngày giỗ, lễ, tết,... mà có khi bất cứ việc gì xảy ra liên quan đến gia đình, con cháu đều cáo gia tiên. Vì người Việt luôn có tâm lý tin ở sự phù hộ của tổ tiên và sự hiện diện của tổ tiên quanh mình.


Như vậy, trong khi hướng tới tương lai, người Việt không hề đoạn tuyệt với quá khứ, trân trọng quá khứ là một truyền thống văn hoá đặc sắc của người Việt. Thờ cúng tổ tiên hay "Đạo ông bà", "Đạo tổ tiên" là nét văn hoá đặc trưng, bền vững của người Việt. Người Việt Châu Đốc thờ phụng tổ tiên chính vì sự hiếu, vì sự tôn kính, nhớ thương và vì sự biết ơn các bậc sinh thành của người sống đối với người đã khuất. Đó là đạo lý "uống nước nhớ nguồn" ("ẩm hà tư nguyên", "báo bản tư nguyên") của người Việt Châu Đốc cũng như người Việt cả nước. Một đạo lý sống truyền thống giàu tính nhân văn có vai trò rất tích cực trong việc củng cố, nâng cao đạo lý xã hội, là chỗ dựa vững chắc, có khả năng "đề kháng", "miễn dịch" cho nền văn hoá dân tộc trước sự tiến công, xâm nhập ồ ạt của những văn hoá xa lạ từ bên ngoài đe doạ làm mất bản sắc văn hoá của dân tộc [24, tr.18]. Thờ cúng tổ tiên không chỉ trở thành "vô thức tập thể" của cư dân Việt, một thứ "gen văn hoá" tinh thần, một thứ "di truyền văn hoá" mà vì nó còn là một tập tục mà người Việt đặc biệt gắn bó, một chiều sâu tâm linh, có tác dụng giáo dục rất sâu sắc, một tác nhân cố kết cộng đồng, tác động rất lớn tới quyết tâm bảo vệ gia tộc, tổ tiên và bảo vệ quê hương, Tổ quốc thiêng liêng của người Việt xưa cũng như nay.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #53 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2021, 05:34:02 pm »

- Lễ cúng đình - hội làng truyền thống của người Việt

Trong đời sống tín ngưỡng và tâm linh của người Việt, đã từ lâu lễ cúng đình - hội làng truyền thống chiếm một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt làng xã. Đó là một lễ hội thiêng liêng và đông vui nhất của làng được tổ chức định kỳ hằng năm và diễn ra một cách khá nghiêm trang, sùng kính. Đó là nơi hội tụ những nét độc đáo lâu đời của các hội làng người Việt, là nơi bảo lưu và tỏa sáng những giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam.


Từ cuộc sống đầy nhọc nhằn đầy bất trắc, người dân gửi gắm khát vọng và ước muốn của mình về một cuộc sống bình yên, no đủ ở vị Thành hoàng làng. Hội làng thường lấy đình làm cơ sở. Đấy là nơi thờ Thành hoàng làng. Vì vậy, giữa hội làng và tín ngưỡng Thành hoàng có một sự đồng nhất. Hội làng chính là nghi thức biểu đạt quan niệm của dân làng về thần Thành hoàng [142, tr.148].


Dù xa cách "cố hương", người Việt Châu Đốc vẫn là những cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Vĩ vậy, tín ngưỡng cúng đình thờ Thành hoàng vẫn còn tiềm ẩn trong táng sâu "ký ức văn hoá" của cư dân, đến vùng đất mới lại thức dậy và phát triển. Tuy nhiên ở vùng đất mới, hồi quang của nền văn hoá cũ, lại cộng cư với nhiều tộc người khác: Khmer, Chăm, Hoa, khác về tín ngưỡng trong môi trường mới lạ... nên trong cơ cấu tín ngưỡng của người Việt Châu Đốc cũng có những biến thái.


Do điều kiện lịch sử người Việt đến Châu Đốc khá muộn, vì vậy đình miếu ở Châu Đốc được xây dựng chưa lâu lắm. Ngay buổi đầu của những làng mới lập, người Việt mới chỉ dựng lên những đền, miếu để thờ. Thậm chí, đến nay còn có những đình vẫn ghi đền hoặc miếu ở cổng đình hay trước cửa như đình Bình Mỹ, đình Quốc Thái, đình Châu Phú. Sách Đại Nam nhất thống chí đã nói đến trường hợp buổi đầu mới lập của đình Châu Phú là đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh do Thoại Ngọc Hầu dựng nên [80, tr.193].


Hầu hết mỗi làng Việt Châu Đốc ở thế kỷ XIX đều có một đình hoặc miếu. Các đình miếu hồi mới lập đều có quy mô nhỏ, gỗ lá đơn sơ. Dần dần, cuộc sống của cư dân ổn định, khấm khá hơn, đình, miếu mới được trùng tu, mở rộng. Thời kỳ 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), do chính sách "tiêu thổ kháng chiến" nên nhiều đình ta tự phá, đốt cháy không để quân Pháp lấy làm đồn bốt: như đình Đồng Đức, nhiều đình khác bị Pháp đốt cháy như đình Nhơn Hội, Vĩnh Xương,... Nên đến nay, nhiều đình không còn hình dáng kiến trúc thế kỷ XIX. Hầu hết đình được trùng tu, xây lại từ đầu thế kỷ XX đến nay.


Kiến trúc đình người Việt ở Châu Đốc thường chia làm 3 phần: võ ca, võ quy và chánh tam. Dù được xây dựng, trùng tu lại nhiều lần, lần sau kiên cố vững chắc, đẹp hơn lần trước, nhưng kiến trúc vẫn không thay đổi nhiều. Như đình làng Bình Mỹ đến nay đã được xây lại 4 lần (1786, 1816, 1890, 1928), có kiến trúc kiểu chữ Tam, mái tam cấp, nóc cố lầu, lợp ngói âm dương đại tiểu. Kiến trúc mái đình có 9 nóc chia làm 3 dãy võ ca 3 nóc, võ quy 3 nóc, chánh tẩm 3 nóc, mái ngói nhiều tầng lớn nhỏ, cao thấp nằm nhấp nhô trên một công trình kiến trúc, hình khối đồ sộ. Mái đình chín nóc là biểu hiện cho ngôi "cửu ngũ", ý tứ sâu xa của người xưa được gửi gắm vào công trình kiến trúc. Đó là ước muốn vị thần đại diện cho "thiên tử" bảo hộ cho dân làng được thái bình an lạc.


Nội thất, trước tiên từ sân đình vào có võ ca (ca múa), nơi ngày lễ diễn ra hát bội, cúng thần trong các lệ cúng kỳ yên hằng năm. Nối tiếp võ ca là nhà chầu, nơi các quan chầu lễ và cầm chầu mỗi khi hát bội. Nhà chầu còn gọi là "võ cua" hav "võ quy", vì nhà có mái khum như vỏ mai cua hay mai rùa. Đây là nơi diễn ra lễ nghi cúng thần. Nối liền "võ quy" với chánh tẩm là thông hành. Chánh tẩm là khu vực quan trọng nhất của ngôi đình. Cách bài trí ở chánh tẩm rất trang nghiêm. Chính giữa, trên là bàn thờ thần, dưới bàn thờ chính là bàn thờ hội đồng, hai bên bàn thờ chính là những bàn thờ các vị thần linh khác.


Trước bàn thờ thần là nơi tôn nghiêm nhất của ngôi đình, trên bệ là khánh thờ. Trong khánh thờ là chữ Thần bằng Hán tự màu vàng trên nền đỏ, ngai thờ để hộp đựng sắc thần (ở những đình có sắc). Dưới bàn thờ thần là ban chánh tế (nơi để vật phẩm cúng thần), được bày trí đồ tự khí. Hương án thờ Hội đồng, tượng trưng nơi vị thần tiếp các vị hương chức trong làng. Trên hương án có đồ tự khí, hai bên bàn chính là hương án thờ các vị thần linh cận vệ chính thần như:

+ Hương án Tả ban: thờ những vị quan có nhiệm vụ túc trực bảo vệ vị thần.

+ Hương án Tiền hiền: thờ những bậc tiền bối đã có nhiều công lao quý báu trong việc khai hoang lập làng, xây dựng và phát triển ngôi đình.

+ Hương án thờ "Chủ xứ sơn quân" (thần Hổ): khi khẩn đất hoang vốn là rừng rậm có nhiều thú dữ, trong đó "Chúa sơn lâm" thường gây tai hoạ cho con người nên dân gian tín ngưỡng thờ thần Hổ, cầu mong "Chúa sơn lâm" không gây hại cho dân làng (ở sân đình Thới Sơn - Tịnh Biên có miếu thờ "Ông cả" (Ông Hổ), còn gọi là "Ông Đạo Hổ” khá lớn).

+ Hương án Hữu ban: thờ những vị quan có nhiệm vụ bảo vệ vị thần.

+ Hương án Hậu hiền: thờ những bậc tiền bối có nhiều công lao trong việc phát triển làng như lập chợ, xây dựng cầu đường...

+ Hương án Tiền cố hương lão: thờ những bậc tiền bối hữu công của làng và của đình (ở đình Bình Mỹ, danh sách Tiền cố hương lão đến nay có 60 người).

+ Hương án Tiên sư: thờ những người thầy dạy nghề cho dân ngày đầu làng mới thành lập, ngày sau có cuộc sống ấm no, nghề nghiệp phát triển ổn định, dân làng luôn ghi nhớ công lao to lớn ấy.

+ Hương án thờ Bạch mã thái giám: tín ngưỡng dân gian người Việt Châu Đốc cho đây là một loại ngựa thần lông trắng rất linh hiển, có nhiệm vụ phục vụ sự đi lại của vị thần (như đình Châu Phú, Châu Phong, Long Sơn, Bình Long,...).


Trước sân đình thường có bàn thờ Thần Nông, ngay sau bình phong từ cổng chính vào đình, ở hai bên sân đình cũng thường có miếu thờ ông Hổ, miếu Bà Chúa Xứ, Ngũ hành nương nương... Cuối cùng là: nhà kho phía sau bàn thờ thần, nơi lưu giữ tài sản, hiện vật của đình; nhà hội: để tiếp quan khách trong các lệ cúng; nhà trù (nhà khói): phục vụ thiết đãi quan khách...; nội tẩm: trưng bày các vật thờ tự, tế lễ, phục vụ khách tham quan trong những ngày lễ hội đình.


Nhìn chung, bố cục trong đình người Việt Châu Đốc cơ bản là giống nhau, nhưng cũng tùy theo các đối tượng thờ cúng trong đình của từng thôn mà xếp đặt các bàn cúng thờ vị này hay vị kia theo quan niệm của từng làng.


Kể từ khi triều Nguyễn sắc phong Thành hoàng để đưa đình làng vào hệ thống thần kỳ được thờ cúng của nhà nước thế tục thì đình người Việt ở Châu Đốc cũng như cả nước đã trở thành cơ sở nằm giữa hai thiết chế: chính thống và dân gian. Và cũng như đình thần ở Nam Bộ, đình làng người Việt ở Châu Đốc có nhiều chức năng, vừa là trú sở của các vị thần Thành hoàng và nhiều vị thần khác, vừa là trung tâm hành chính của hương đảng, vừa là trung tâm văn hoá của thôn ấp.


Những vị thần được thờ phụng, ở Châu Đốc, đình của ngươi Việt thường thờ rất nhiều thần: thành hoàng, phúc thần, thần linh và những danh nhân sinh tiên có công với làng. Cũng như các đình ở Nam Bộ, sự phân loại các vị thần được thờ ở Châu Đốc có thể phân ra thành 3 loại như sau: 1. Thành hoàng và phúc thần; 2. Những vị thần linh theo tín ngưỡng dân gian; 3. Sự phối hưởng của nhiều thần linh Khmer, Hoa [132, tr.35], kể cả thần linh người Chăm.


Đáng chú ý là các danh nhân có công với vùng đất Châu Đốc, có công đánh giặc giữ nước được thờ phụng rất phổ biến như: Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản,... Các danh nhân này được thờ phụng như những Thành hoàng của làng Việt ở Châu Đốc. Trong số 84 đình chúng tôi thống kê được trên đất Châu Đốc xưa, hiện có 11 đình thờ danh nhân Nguyễn Hữu Cảnh. Đây là một trường hợp đặc biệt mà không địa phương nào ở vùng đất Nam Bộ có. Mặc dù, trên thực tế, công lao khai phá và trấn giữ vùng biên thùy Tây Nam này thì đóng góp của Thoại Ngọc Hầu là đứng đầu, nhưng chính đền miếu, đình thần thờ Thoại Ngọc Hầu lại ít hơn Nguyễn Hữu Cảnh. Như nội dung sự hình thành dân cư Châu Đốc đã nói ở đầu Chương 1, cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII, vùng đất này chưa thuộc chủ quyền chúa Nguyễn. Khi Nguyễn Hữu Cảnh vâng mệnh chúa Nguyễn đi đánh Nặc Thu (Chân Lạp) vì y đắp lũy Bích Đôi, Nam Vang và cầu Đôi, cướp bóc dân buôn Việt. Sau khi thắng giặc, Nguyễn Hữu Cảnh dẹp bọn cướp bóc, vỗ về lưu dân Việt, người dân ở đây đã thờ ông như thờ một người che chở làm ăn cho họ, như đại diện của chính quyền Nguyễn ở vùng đất xa xôi. Trải 300 năm qua, nhân dân vẫn còn tri ân ông, những đền miếu thờ ông hương khói vẫn không bao giờ dứt.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #54 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2021, 05:35:03 pm »

Nhân vật thứ hai, được người Việt thờ phụng nhiều là Thoại Ngọc Hầu. Tại Châu Đốc có 7 ngôi đình thờ phụng ông, chưa kể các đền miếu ở Thoại Sơn và quanh vùng trung tâm Châu Đốc. Ông là người có nhiều công lao đánh giặc, trấn giữ biên thùy, khai phá lập hơn 20 làng, khơi sông, đắp lộ, làm cầu, làm đường ở vùng Châu Đốc. Ngoài ra, Nguyễn Trung Trực, Lê Văn Duyệt,... là những nhân vật được nhân dân vùng này ghi ơn, thờ phụng sau hai nhân vật trên.


Lễ hội cúng đình: Lễ kỳ yên là lễ chính của đình, người Việt Châu Đốc gọi là lễ vía thần, thực chất vừa là cúng thần vừa là lễ hội nông nghiệp để cầu an: cầu cho quốc thái dân an, phong điều vũ thuận.

Nghi thức cúng lễ kỳ yên ở đình vùng Châu Đốc tuân theo điển lệ của triều Nguyễn nên lễ cúng đình ở Châu Đốc cũng như ở Nam Bộ căn bản giống nhau [129, tr.106]. Những ghi chép của Trịnh Hoài Đức về lễ kỳ yên của người Việt Nam Bộ đầu thế kỷ XIX xét đến nay không khác mấy. Lễ hội thường diễn ra trong 3 ngày, gồm có 3 lễ chính: Túc yết, Đoàn cả (Đàn cả), Tiền hiền - Hậu hiển [21, tr.146]. Những nghi lễ khác như: Rước sắc thần, xây chầu - đại bội,... là những lễ thức phụng sự 3 lễ chính. Thời gian cúng đình ở vùng Châu Đốc thường diễn ra từ mồng 10 đến giữa tháng 5 âm lịch. Đây vừa là lễ kỳ yên vừa cúng thần Nguyễn Hữu Cảnh, kỷ niệm ngày mất của ông (đình Châu Phú, Bình Thủy, Mỹ Phước). Cũng có đình cúng giữa tháng 4 âm lịch như các đình Bình Mỹ, Bình Long, Châu Phong,...


Việc cúng tế được diễn ra nơi trang nghiêm nhất, ở nhà bái đường và chính đường, còn hội thì diễn ra ở nhà võ ca. Vào ngày đầu của lệ cúng, thường có tổ chức lễ nghênh thần, mang ý nghĩa đưa vị thần bảo hộ thăm thôn làng, chứng kiến đời sống, sinh hoạt của toàn dân trong làng. Sau khi vị thần này trở về và an vị tại ngôi đình thì tiến hành cúng tế theo nghi thức cổ truyền là Lễ Túc yết (Túc trực - Yết kiến). Đúng 1 giờ đêm đầu, mọi người đã tề tựu đông đủ để bắt đầu cúng Túc yết. Chịu trách nhiệm chính ở buổi lễ cúng là ông chánh bái, có sự giúp sức của bồi tế. Toàn bộ nghi thức hành lễ đều theo lệnh của hai người thủ xướng đứng hai bên hương án kế cận vị chủ tế. Tất cả lễ nhạc, động tác dâng hương, dâng trà, dâng rượu, đọc văn tế, bái lạy đều phải đúng theo lời người chủ xướng... Những đình làng có sắc phong thì có thêm mục lễ "tuyên sắc" vào giữa đêm đầu tiên. Lễ được tiến hành trong hương trầm nghi ngút, trong tiếng nhạc lễ, có các vị bô lão mặc áo dài, khăn đóng đứng trang nghiêm hai bên bàn thờ thần, mắt hướng về nơi "tuyên sắc" như hồi tưởng lại công lao sự nghiệp của ngươi có công khai mở đất đai, xây dựng cuộc sống từ buổi đầu.


Lễ vật chính dâng cúng trong lễ Túc yết gồm có một con heo (đã mổ xong, cạo sạch, chưa nấu chín), một chén huyết, một ít lông, gọi chung là mao huyết, xôi, trái cây, trầu cau, một đĩa muối gạo... Bắt đầu vào lễ, ông chánh tế đến dâng hương lễ trước bàn thờ. Rồi lần lượt "ban quản trị" thay nhau vào lễ. Kế đến là phần "khởi chinh cổ", sau khi đánh 3 hồi trống gỗ và 3 hồi chiêng mõ, ban nhạc lễ với các nhạc cụ dân tộc bắt đầu trỗi lên, lễ dâng hương, chước tửu, tiệm trà bắt đầu. Diễn biến của buổi lễ đều theo sự điểu khiển của người xướng lễ. Sau khi dâng hương, dâng ba tuần rượu và dâng trà, theo lời của người xướng lễ, bản văn tế (văn chúc) được mang đến trước bàn thờ. Ban tế quỳ xuống "đọc văn" trong khi ban nhạc lễ trỗi nhạc để phụ hoạ cho giọng đọc. Dứt bài văn tế, ông chánh tế nghỉ cúng, đốt văn bản này và một ít giấy tiền vàng bạc, chôn mao huyết (để tế Đất). Phần nghi thức Túc yết đến đây coi như đã xong.


2. Lễ Chánh tế (còn gọi là Đoàn cả (đoàn tụ đông đúc hơn cả), mục đích tạ thần), nghi thức diễn lại như lễ Túc yết, có hơi khác là sau phần dâng trà của lễ Túc yết là phần "ẩm phước thụ tộ" (uống rượu và ăn thịt) mang ý nghĩa truyền thống, phần thưởng của thần ban cho vị chánh tế.


3. Lễ Tiền hiền - Hậu hiền, nhằm tạ ơn các vị tiền hiền - hậu hiền và các bậc có công với làng, với đình. Lễ này diễn ra ngày thứ ba. Hiện nay, lễ này được làm trong ngày thứ 2, sau lễ Đoàn cả. Nghi thức đơn giản hơn lễ Túc yết nhưng cũng rất long trọng. Trong nghi thức cúng tế này có xây chầu hát bội, được tổ chức tại võ ca phía trước chính điện. Những người tham dự cùng ăn mặc chỉnh tề xếp thành hai hàng đứng từ cửa chính điện trở ra. Trên gian võ ca, tất cả diễn viên đoàn hát bộ hoá trang trống mõ sẵn sàng. Ông chánh bái ca công (chủ trì lễ xây chầu) nhúng cành dương vào tộ nước cầm trên tay vẩy lên và đọc lời cầu nguyện:

- Nhất, sái thiên thanh (thứ nhất, vãi nước lên trời xanh, cầu cho mưa thuận gió hoà).

- Nhị, sái địa ninh (thứ nhì, vãi nước xuống mặt đất cầu cho đất đai phì nhiêu).

- Tam, sái nhơn trường (thứ ba, vãi nước cho loài người, cầu cho dân gian được trường thọ).

- Tứ, sái quỷ diệt hình (thứ tư, vãi nước vào loài quỷ dữ cầu cho chúng bị tiêu diệt) [5, tr.72]. Đọc xong, ông chánh bái đánh ba hồi trống và đến chương trình của đoàn hát bộ, diễn xuất các vai tuồng xưa.


Như vậy, lễ cúng đình ở vùng Châu Đốc, thực chất là một lễ kỳ yên. Vì động tác của ông chánh bái là động tác của một thầy pháp, động tác ma thuật nhằm cầu mưa.


Sau phần lễ là phần hội, phần sôi động nhất của lễ cúng đình. Đó là lễ hội cổ truyền thấm nhuần tinh thần cộng cảm không thể thiếu được trong đời sống thôn dã, sau những ngày tháng lao động mệt nhọc trong khung cảnh làng quê thanh bình, trật tự. Cư dân đến với lễ hội cúng đình trước hết để tỏ lòng tôn kính và biết ơn các vị phúc thần và các bậc tiền nhân có công khai phá, mở làng để lại cơ nghiệp cho con cháu, đồng thời cũng là dịp biểu thị ý thức tôn trọng văn hoá của dân tộc, hưởng thụ hình thái sinh hoạt cộng đồng vôri có nhiêu gắn bó với phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian mà mỗi năm chỉ diễn ra có một lần.


Như vậy, cũng như mọi cư dân Việt ở miền Bắc, miền Trung và Nam Bộ, vai trò cái đình trong đời sống của nông dân Việt Châu Đốc có một vị trí tương đối đặc biệt.


Mặc dù ở vùng đất mới khai phá hệ thống thần linh được thờ phụng và kiến trúc đình làng có những biến đổi so với đồng bằng sông Hồng, dẫn đến sự khác biệt ở nhiều chi tiết, khác trong việc rước và trò diễn có liên quan... Tuy nhiên, lễ hội cúng đình của người Việt Châu Đốc vẫn bảo lưu khá đậm nét những đặc điểm và ý nghĩa của một lễ hội nông nghiệp cổ truyền. Hội làng cúng đình trước hết liên quan đến sản xuất mùa vụ, nguồn sống quan trọng của cư dân Việt, đó là những nghi thức lễ tiết nông nghiệp cầu mùa, đánh cồng chiêng cầu sinh sôi nảy nở, đánh trống cầu mưa... sau đó có cả cách cầu khẩn sự viện trợ của thần linh. Đình làng gắn với đời sống tín ngưỡng, được xây dựng không chỉ phản ánh nhu cầu tự nhiên của cư dân để có nơi thờ cúng sinh hoạt mà còn là sự bày tỏ lòng thành kính ngưỡng vọng thiêng liêng, tôn thờ nhắc nhở tổ tiên, anh hùng có công và thần linh, cũng là một mục đích của hội làng. Lễ hội cúng đình cũng xuất phát từ nhu cầu giải toả những uẩn khúc trong đời sống, đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng.


Lễ hội cúng đình của người Việt cũng có ý nghĩa đặc biệt là giáo dục cho các thế hệ trong làng, những bài học đạo đức quan trọng, trong đó nổi lên hàng đầu là củng cố mối dây liên lạc thiêng liêng giữa tất cả các thành viên trong cộng đồng, giáo dục truyền thống để truyền bá tinh thần cộng đồng làng xã, tạo ra sức mạnh đặc biệt có khả năng phát triển, cố kết ràng buộc mọi người với nhau. Vì vậy, cùng với quá trình nắm làng xã ngày thêm chặt của nhà nước và để có thể xác lập quyền lực tối cao trong đời sống tôn giáo làng mạc, nhà nước phong kiến thấy mình phải có trách nhiệm xem hội làng như một yếu tố biểu hiện quan trọng của văn hoá dân tộc, đồng thời cũng tranh thủ lợi dụng hội làng để củng cố quyền uy, quyền lợi của mình, thông qua nắm Thành hoàng làng mà nắm lấy các làng xã, quản lý thần dân và chủ quyền của nhà nước, nhất là ở những vùng biên giới phức tạp thường xảy ra tranh chấp lãnh thổ và chủ quyền quốc gia như vùng đất Châu Đốc. 


Lễ hội cúng đình của người Việt Châu Đốc đã góp phần tạo nên một sinh hoạt văn hoá xã hội riêng của người Việt so với các tộc người khác như Khmer, Hoa, Chăm cùng cộng cư ở khu vực này, giúp cho cuộc đấu tranh bảo vệ lãnh thổ - văn hoá - tộc người, là một vũ khí văn hoá, một bản lĩnh văn hoá để cho cộng đồng người Việt thế kỷ XIX đứng vững và tồn tại ở vùng đất biên cương này.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #55 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2021, 05:36:36 pm »

- Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt

Người Việt Châu Đốc dù xa cội nguồn nhưng vẫn là những nông dân gắn bó với nghề trồng lúa nước, đến vùng đất mới vốn văn hoá tiềm ẩn trong họ "thức dậy", trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu.

Trịnh Hoài Đức đã ghi đầu thế kỷ XIX, người Việt Nam Bộ "tin việc đồng bóng, kính trọng nữ thần", tin thờ bà Chúa Ngọc, bà Chúa Động, bà Hỏa Tinh, bà Thuỷ Long, cô Hồng, cô Hạnh [21, tr.142]. Thực ra, đó là tục thờ cúng Thất Thánh (Bảy Bà), một sự hoà đồng tín ngưỡng thờ Mẫu của nhiều tộc người khác nhau, mà Huỳnh Tịnh Của đã ghi Bảy Bà trong sách Đại Nam quốc am tự vị năm 1895 gồm: Bà Chúa Tiên, bà Chúa Ngọc, bà Chúa Xứ, bà Chúa Động, bà cổ Hỷ, bà Thuỷ, bà Hoả [11, tr.19].


Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu phát triển khá mạnh mẽ ở người Việt Nam Bộ vào thế kỷ XIX. Ở Châu Đốc, trong chùa Tây An cũng có ban thờ Mẫu, để thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Ngọc, Chúa Tiên và cô Hai Hiên. Ở thị xã Châu Đốc nay có miếu thờ Bảy Bà (Thất Thánh miếu) có từ thế kỷ XIX, ở núi Sam có miếu Bà Chúa Xứ.


Về kiến trúc và bài trí điện thần, tín ngưỡng thờ Mẫu ở Châu Đốc có hai dạng: phối tự trong chùa hoặc được lập miếu thờ riêng. Ở dạng phổi tự, có thể thấy ở chùa Tây An (xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc), là kiểu bài trí điện thần theo tiền Thánh hậu Phật, ở chùa Ba Chúc (xã Ba Chúc huyện Tri Tôn) cũng bài trí trước miêu, sau chùa, miếu để thờ Mẫu.


Song song với dạng phối tự thờ Mẫu nói trên là lập miếu thờ riêng Bà Chúa Xứ... Miếu có thể thờ phụng chung hoặc miếu riêng của từng nhà để cúng tại gia. Các làng Việt Châu Đốc thường có miếu Bà Chúa Xứ. Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ của người Việt Châu Đốc phát triển mạnh, thể hiện bằng việc các miếu Bà Chúa Xứ có mặt ở nhiều nơi; thậm chí, miếu Bà Chúa Xứ còn xuất hiện cả trong khuôn viên của đình làng. Trong số các nơi thờ tự thì miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam (thị xã Châu Đốc) là nơi linh thiêng, tiêu biêu nhất cả về truyền thuyết lẫn điện thần và lễ hội, không chỉ nổi tiếng ở vùng đất Châu Đốc mà còn nổi tiếng cả Nam Bộ [122, tr.165]. Dù có nhiều truyền thuyết về sự xuất hiện pho tượng lạ Bà Chúa Xứ ở núi Sam, nhưng đều có một cái chung, đó là quá trình hiện thực hoá một nhân vật thần linh được phụng thờ. Linh tượng được coi là Bà Chúa Xứ vốn là pho tượng sa thạch đàn ông, được tô điểm thành phái nữ. Chính tâm thức thờ Mẫu của người Việt đã khiến cho pho tượng nam trở thành một Thánh Mẫu đầy quyền năng.


Đầu tiên miếu được làm bằng tre lá đơn sơ. Khi tượng "Bà" mới được phát hiện khoảng năm 1820-1825. Về sau miếu được sửa chữa, mở rộng nhiều lần. Năm 1870, miếu được xây dựng to lớn, chắc chắn hơn, nên lát gạch tàu, cột gỗ, vách ván, lợp ngói móc, tường xây hồ ô dước. Năm 1972, miếu được thiết kế xây dựng khang trang to đẹp, là miếu Bà Chúa Xứ lớn nhất ở Nam Bộ.


Điện thần miếu Bà gồm hai lớp. Lớp trong cùng là Ban thờ Bà có tượng Bà đặt trên. Bên phải có ban thờ "Linga" (về sau đặt ban thờ cậu); bên trái là ban thờ cô. Lớp thứ hai là ban thờ Hội đồng, bên trái là ban thờ Tiền hiền khai khẩn, bên phải là ban thờ Hậu hiền khai cơ. Cách bài trí điện thờ trên đây là sự hội tụ của nhiều tín ngưởng, là hỗn dung tiền Thần hậu Mẫu trong một không gian thiêng. Mẫu (Bà Chúa Xứ (sở) ngự ở trên cao. Linga và Yôni vốn là tín ngưỡng của một tộc người khác, nay được người Việt tiếp thu thành văn hoá thờ Mẫu, làm ban cậu ban cô, phù hợp với triết lý Âm - Dương, Mẹ - Sinh, phồn thực. Gần hơn, cụ thể hơn có các bậc Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ. Điều này vừa thể hiện triết lý Âm - Dương sinh thành của Kinh Dịch, vừa thể hiện Hiếu - Nghĩa tổ tiên được hỗn dung thành bài trí điện thờ ở Bà Chúa Xứ núi Sam.


Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miếu Bà Chúa Xứ núi Sam là sự hội tụ của nhiều tín ngưỡng. Linh tượng được coi là "Bà Chúa Xứ" vốn là một pho tượng đàn ông ngồi vương giả, tóc uốn thành những búp xoăn thả về phía sau, trên mặt tượng có một vành như vương miện đội trên đầu. Có lẽ pho tượng này là di vật của nền văn hoá Óc Eo, mà hiện nay trên đỉnh núi Sam còn lại một bệ đá vuông mỗi chiều 1,6m, dày 0,3m, ở giữa có lỗ hình vuông 30cm x 30cm. Dưới chân pho tượng có một cái ngỗng, nếu đem lắp vào bệ đá vuông trên thì vừa khít. Cũng tại đây, tháng 10-1994, một Yôni được phát hiện ở sân miếu Bà, đủ một đôi với Linga có từ trước.


Năm 1942, nhà khảo cổ học người Pháp Malleret khi đến Châu Đốc nghiên cứu văn hoá Óc Eo, cho đây là loại tượng thần cổ Visnus thường thấy trong các loại tượng cổ của nền điêu khắc Ấn Độ. Năm 1986, đoàn khách ngoại giao Ấn Độ đến thăm miếu này rất ngạc nhiên được gặp loại tượng thần Shiva ở núi Sam, mang tên Bà Chúa Xứ. Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam có lẽ phát triển sớm nhất từ thời Thiệu Trị (1841-1847) về sau. Bởi vì, cho đến gần cuối đời Minh Mệnh (1820-1840), vùng núi Sam vẫn còn khá hoang vu, cư dân thưa thớt. Địa bạ năm 1836 ghi rõ thôn Vĩnh Tế mới chỉ có 5 mẫu dân cư thổ [193]. Ngay cả sách Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí và Thực lục,... cũng không thấy ghi chép đến miếu Bà Chúa Xứ. Có lẽ thời kỳ đầu, miếu Bà còn nhỏ bé, lại ở vùng hoang vắng, chưa thu hút được khách thập phương đến lễ bái?


Lịch lễ miếu Bà Chúa Xứ hằng năm như sau: Ngày 15 tháng Giêng cúng Âm hồn ở miếu Âm Nhơn (người âm), những người "vị quốc vong thân", anh hùng liệt sĩ, cô hồn, thờ cúng bá tánh. Lễ cúng Âm nhơn có rước ông Quan Đế, Châu Xương, Quang Bình, cúng cầu an, trừ họa diệt quỷ... Như vậy, lễ cúng này còn ảnh hưởng tín ngưỡng của người Hoa. Các ngày 24-26 tháng tư cúng Bà Chúa Xứ. Ngày 5 tháng 6, cúng Thoại Ngọc Hầu. Các ngày 14-16 tháng 8, lễ cúng kỳ yên đình thần Vĩnh Tế. Các ngày 26-27 tháng 8, lễ cúng miếu Khổng Tử. Ngày 25 tháng Chạp, lễ cúng Lạp miếu đưa thần. Các lễ cúng lớn nhất của miếu là lễ cúng Âm nhơn, lễ cúng Bà Chúa Xứ và lễ kỳ yên đình Vĩnh Tế.


Như vậy, có thể thấy, ở miếu thờ Mẫu này vừa mang tính chất đình làng: cúng đình thần, lễ Nguyên tiêu rằm tháng Giêng, lễ cúng Thoại Ngọc Hầu, cúng Tiền hiền, lễ Lạp thần... vừa là văn thánh tế Khổng Tử. Lễ vía Bà với tư cách là thờ Mẫu, lịch trình diễn ra như sau: Lễ hội Bà Chúa Xứ (còn gọi là ngày vía Bà) hằng năm được tổ chức vào các ngày 25, 26 tháng tư âm lịch, vía chính vào ngày 25.

1. Lễ thỉnh sắc: Lễ này diễn ra chiều ngày 24, rước Long đình từ miếu sang lăng Thoại Ngọc Hầu thỉnh sắc vua phong đưa về miếu thờ trong dịp lễ hội. Các bài vị có Thoại Ngọc Hầu, bà chính phẩm Cháu Thị Tế, bà nhị phẩm Trương Thị Miệt và bài vị Hội đồng... Khi về đến miếu Bà, 4 bài vị trên được an vị tại chánh điện. Mọi người dâng hương thỉnh an. Sau đó, lễ thỉnh sắc được kết thúc.

2. Lễ tắm Bà: Lễ này được tiến hành vào 24 giờ đêm 24. Ông chánh bái và các vị bô lão niệm hương, dâng rượu, trà. Đến giờ tắm, y môn (rèm vải) và cửa điện được đóng lại. Một nhóm phụ nữ dùng nước thơm và khăn, tắm bằng cách lau tượng Bà. Xong, mặc cho Bà áo mũ mới thật lộng lẫy. Tắm xong, hàng nghìn khách thập phương chờ sẵn ùa vào cướp lộc bày sẵn trên các bàn như bông hoa, trái cây... Nước tắm Bà được xem như nước Thánh chữa được bệnh, uống vào khoẻ mạnh, may mắn, không bị ma quỷ quấy nhiễu... Tháng 4 là thời điểm mùa mưa bắt đầu đến, lễ tắm Bà được tiến hành vào thời điểm này với ý nghĩa thiêng là mừng nước mới, ý nghĩa phồn thực, cầu mưa, cũng như tiễn cũ đón mới cho một vụ mùa no ấm.

3. Lễ Túc yết: Được tổ chức lúc 0 giờ ngày 25. Tất cả bô lão trong làng và người dự lễ phục chỉnh tề. Có 4 học trò lễ và 4 đào thài. Vật cúng gồm có một con heo đen tuyền đã được cạo lông, mổ bụng sạch sẽ, chưa nấu chín, một đĩa mao huyết, một mâm xôi, một mâm trái cây, một đĩa gạo muối. Vào lễ, sau khi ông chánh bái và người niệm hương trước bàn thờ, là phần "khởi chinh cổ": Đánh ba hồi trống với ba hồi chiêng. Nhạc lễ bắt đầu nổi lên là lễ dâng hương, chước tửu, hiến trà. Diễn biến của buổi lễ được thực hiện theo 2 người xướng lễ. Ông chánh bái đi trước bốn học trò lễ và 4 đào thài đi theo sau. Ông chánh bái rót rượu, sau đó học trò lễ đem dâng cúng. Sau 3 lần chước tửu, hiến trà, văn tế được đem ra đọc trước bàn thờ. Văn tế đọc xong ông chánh bái đốt văn tế, vàng mã. Lễ Túc yết kết thúc.

4. Lễ xây chầu: Bắt đầu lễ, người xướng lễ hô to "ca công tựu vị". Ông chánh bái, ca công tiến tới bàn thờ giữa võ ca, hai tay cầm dùi trống đưa ngang trán khấn. Sau đó cầm cành dương liễu nhúng vào tộ nước rồi vẩy ra xung quanh, đọc to những lời cầu nguyện ”nhất sái thiên thanh, nhị sái địa ninh, tam sái nhơn trường, tứ sái quỷ diệt hình". Ý nghĩa 4 câu này giống như ở lễ cúng đình. Xong, chánh bái xướng "ca công tiếp giá”, lập tức đoàn hát bộ nổi chiêng trống và bắt đầu chương trình hát bộ.

5. Lễ Chánh tế: Vào 4 giò sáng ngày 26, tiến hành lễ Chánh tế giống như lễ Túc yết. Chiều 27 hồi sắc Thoại Ngọc Hầu về sơn lăng, kết thúc cúng vía Bà.


Như vậy, lễ hội Bà thực chất là một lễ kỳ yên. Vì động tác ông chánh bái là động tác của một thầy pháp, động tác ma thuật nhằm cầu mưa, có thể gặp ở nhiều lễ cúng đình khác ở Châu Đốc. Vì vậy, có thể nói rằng lễ hội vía Bà núi Sam, khởi thuỷ là nghi thức cầu mưa mà hình thức thể hiện của nó là lễ kỳ yên rồi các hình thức tín ngưỡng thờ Mẫu đan xen vào, hội nhập lại thành lễ hội thờ Bà. Tuy nhiên, ẩn giấu phía sau lễ hội và nhân vật được thờ phụng là ước mơ của cư dân cầu mong ở đất đai một vụ mùa tươi tốt, một cuộc sống bình yên "quốc thái dân an" của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.


Có thể nói, lễ hội vía Bà núi Sam là lễ hội mang màu sắc hỗn dung, vừa có biểu tượng biểu thị về vũ trụ (Trời) biểu thị về Đất (Mẫu), biểu tượng tín ngưỡng phồn thực (linga - yôni), biểu tượng về hồn linh và nhân thần (thờ Thoại Ngọc Hầu, bà chánh phẩm và bà nhị phẩm, tiền hiển, hậu hiền), biểu tượng về tôn giáo (thờ Khổng Tử),... Đó không chỉ vừa là thế giới tâm linh truyền thống của người Việt mà vừa là sự tiếp thu ảnh hưởng tín ngưỡng của tộc người khác trên địa bàn cộng cư. Đặc biệt, ở vùng đất biên thuỳ Tây Nam sự linh thiêng của Bà Chúa Xứ đã trở thành một thứ vũ khí cố kết cộng đồng, an ủi, động viên, tạo thêm sức mạnh cho những lưu dân Việt trụ vững trước những thử thách để khai phá và bảo vệ miền đất biên ải hiểm yếu.

   Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chi thị.
   Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.
   (Xin thì được, ban cho thì linh, bảo trong giấc mộng.
Người Xiêm sợ hãi, người Hoa kính mộ, ý tứ khôn lường).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #56 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2021, 05:37:57 pm »

- Tín ngưỡng của người Khmer

Ở người Khmer Châu Đốc và đồng bằng sông Cửu Long có nhiều hình thức tín ngưỡng, ăn tết vào năm mới (Choi chnam thmay), lễ cầu an, lễ cúng trăng (Âkâmbok); cúng thần bảo hộ dòng họ (Arăk), thần bảo vệ đất đai (Neak Tà), tín ngưỡng cúng tổ nghề, tín ngưỡng hồn lúa... Tuy nhiên, trong khuôn khổ hạn chế của cuốn sách chúng tôi chỉ cố gắng nêu khái quát 2 loại tín ngưỡng phổ biến, nhất là cúng Neak Tà và Arăk.

+ Cúng Neak Tà

Có thể có nhiều quan niệm khác nhau về tín ngưỡng Neak Tà nhưng tựu trung đều thống nhất Neak Tà là thần bảo hộ một khu vực đất đai. "Neak" là tên chỉ con người nói chung, Tà là người đàn ông đứng tuổi, thường được người Việt gọi là "ông Tà".


Miếu Neak Tà của người Khmer có nhiều hình thức hoặc chỉ đơn giản là một miếu thờ bằng tranh, tre dưới gốc cây trong khuôn viên một phum nhỏ hay ở một góc ruộng. Loại khác lớn hơn ở trong khuôn viên chùa, hay một địa điểm nào khác trong phum sóc, ngã ba đường. Đây là loại miếu dành cho Neak Tà watt (Neak Tà chùa) và Neak Tà srok (Neak Tà chủ xóm). Thần tượng trong miếu Neak Tà được tượng trưng bằng vài hòn đá có to, có nhỏ, hình bầu dục, mặt nhẵn bóng. Ngoài ra cũng có một số Neak Tà không có miếu như Neak Tà ở ngã ba, ngã tư sông rạch... [147, tr.125].


Neak Tà hoặc có tên tượng trưng bằng vật linh (tên con vật) hoặc có tên của thực vật, địa lý, như cây trôm, cây đa, giếng, bên... hay Neak Tà có tên tượng trưng bằng tên người, vị thần... Dù Neak Tà được mang tên gì thì cũng phải gắn với lợi ích thực tiễn của con ngươi, được họ suy tôn làm thần bảo hộ. Hằng năm, người dân trong khu vực có miếu tập trung cúng Neak Tà một lần, khoảng tháng 4 dương lịch, nhằm cầu an cho mọi người, cầu mưa thuận gió hoà, vụ mùa bội thu. Trong những trường hợp khác cá nhân hay tập thể khi có việc gì cũng tìm đến Neak Tà để van vái, cầu xin.


Trong nhiều khuôn viên chùa Khmer cũng có miếu thờ Neak Tà. Khi trong chùa có vị sư sãi nào ốm đau lâu, họ cũng cầu xin Neak Tà [51, tr.50-51]. Thông thường, lễ cúng Neak Tà hằng năm của người Khmer Châu Đốc và miền Tây thường sớm hơn vùng Sóc Trăng, Trà Vinh, họ cúng trước khi mùa mưa đến khoảng tháng 4 - 5 dương lịch. Mùa mưa bắt đầu ở vùng biển phía Tây, An Giang và Kiên Giang sớm hơn vùng nội địa một tháng nên người Khmer nơi đây cúng Neak Tà sớm hơn.


+ Cúng Arăk

Đối với người Khmer, Arăk là một vị thần bảo hộ dòng họ (Arăk chuabua). Mỗi một dòng họ thờ một Arăk riêng để phù hộ cho gia đình mình.

Bàn thờ Arăk là những trang, treo giống khánh thờ của người Việt, đặt ngay trong nhà nhưng luôn luôn nằm ở gian bìa hoặc một bên vách nhà. Trên mặt trang thờ có đặt đoạn thân cây chuối, trái dừa khô, trên có cắm nhang, đèn, đặt 5 lá trầu cuốn lại, một số vật trang trí bằng giấy màu kiểu hình tháp và đĩa kết bằng bẹ chuối [51, tr.51-52]. Mỗi dòng họ Khmer, có thể có nhiều Arăk và ngược lại một Arăk cũng có thể được thờ bởi một số dòng họ. Người ta cúng Arăk mỗi khi gia đình gặp chuyện không lành; có người bệnh, làm ăn kém, tai nạn bất thường,...


Như trên ta thấy, Arăk chủ yếu là thần bảo vệ dòng họ. Tuy nhiên, khái niệm Arăk còn đi kèm theo một số danh từ chung để biểu thị một số thần bảo hộ như Arăk pteh (thần bảo hộ nhà cửa), Arăk phta (thần bảo hộ gia đình), Arák phum (thần bảo hộ mảnh đất của loại gia đình cư trú theo phía vợ),...


Đề cập đến thần bảo hộ của các mảnh ruộng, người Khmer còn dùng thuật ngữ Arăk viel, thần này giữ một vai trò quan trọng trong việc đồng áng, chính "ông ta" là người giữ mảnh ruộng đang được cày cấy, trông coi nương mạ khỏi chuột bọ quấy phá, chăm sóc trâu bò... Do đó, có nơi hai thuật ngữ Neak Tà và Arăk có ý nghĩa tương đồng trong một mức độ nhất định, thậm chí có sự lẫn lộn. Tuy nhiên, trong thực chất, giữa Arăk và Neak Tà có những sự khác biệt khá đậm nét [147, tr.121-122] và cơ bản, đó là Arăk chủ yếu là thần bảo hộ của một dòng họ (của một đơn vị huyết thống - tàn dư sự thờ cúng trong thị tộc mẫu hệ) trong khi tín ngưỡng Neak Tà nổi bật với sự thờ cúng ông Tà chủ xóm (Neak tà mechas srock).


Qua những trình bày trên ta thấy, Neak Tà và Arăk đều là những thần bảo hộ đối với người Khmer. Tuy nhiên, có điều khác là thần trong tín ngưỡng Neak Tà được khái quát cao hơn, có địa vị lớn và do đó phát huy ảnh hưởng, phạm vi rộng trong xã hội rộng lớn và giải quyết những chuyện của cộng đồng phum, sóc... còn ảnh hưởng của Arắk chỉ trong phạm vi gia đình, dòng họ mà thôi.


- Tín ngưỡng trong người Hoa và người Chăm

Người Hoa Châu Đốc thường có tục thờ "Quan Thánh Đế Quân" (Quan Công) vì ông có tinh thần "Trung cang nghĩa khí" với vua, với dân, khi chết linh hiển, giúp ngươi Hoa bình yên, làm ăn yên ổn, phát đạt. Người Hoa còn thờ Bà Thiên Hậu, có tên thật là Lâm Mai Nương ở vùng Mai Châu, Phúc Kiến, đời Tống. Bà có tinh thần can đảm, cứu cho những người đi biển bị tai nạn, lại hay bốc thuốc cứu người ôrn mau lành bệnh trong trận dịch tả, sau được vua phong làm "Thiên Hậu". Bà được những người Hoa vùng ven biển Trung Hoa thờ phụng và cầu mong bà phù hộ sự bình yên khi đi đánh cá ở biển khơi. Người Hoa ở Châu Đốc thờ bà Thiên Hậu, cầu mong được sự giúp đỡ để được bình yên, làm ăn phát tài, phát lộc. Họ cũng tôn thờ ông "Bảo Sanh Đại Đế", một danh y nổi tiếng thời Tống ở Phúc Kiến, trị bệnh cho Hoàng hậu sinh được hoàng tử. Vua phong cho ông chức quan ngự y nhưng ông không nhận, xin đi chữa bệnh cho muôn dân. Khẩu truyền, ông tới đâu lành bệnh đến đó, ông vào nhà nào thì nhà đó hết bệnh và sống rất thọ. Tới ngày ông chết, dân hai vùng Quảng Đông và Phúc Kiến thờ ông trong tất cả các làng. Khi người Hoa vượt biển đến Nam Bộ mang theo chân nhang hoặc cốt cây ông Bảo Sanh (tượng bằng danh mộc). Người Hoa còn cho rằng, họ có thể bỏ vợ con nhưng không thể bỏ chân nhang hoặc cốt cây của ông Bảo Sanh. Họ thờ ông vì tôn trọng đức cứu người, không tham lam, ký bán trẻ con cho ông, cầu mong khoẻ mạnh (khi mới sinh con, người Hoa đưa con đến miếu thắp nhang xin ông bảo vệ để dễ nuôi...).


Người Chăm theo đạo Hồi ở Châu Đốc ít có những tín ngưỡng riêng. Mọi sinh hoạt tín ngưỡng của họ đều quy tụ ở thánh đường Hồi giáo và theo các tín điều do kinh Coran quy định.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #57 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2021, 06:31:40 pm »

c- Tôn giáo của cư dân Châu Đốc

- Nho giáo

Nho giáo vốn là học thuyết về chính trị và đạo đức của giai cấp phong kiến Trung Quốc, vì vậy nó tác động nhiều đến giai cấp phong kiến Việt Nam. Nho giáo cũng thấm sâu vào đời sống của người Việt nhiều thế kỷ. Ở vùng đất mới khai phá, Nho giáo cũng tác động khá mạnh mẽ đến đời sống của cư dân Việt Châu Đốc qua hai con đường chủ yếu, tư tưởng chính thông qua bộ máy hành chính của nhà nước thế tục và của Nho sĩ bình dân.


Ở Châu Đốc mặc dù chủ quyền lãnh thổ thuộc nhà Nguyễn từ năm 1757, nhưng trước đó đã có cư dân Việt cư trú, nửa sau thế kỷ XVIII, lại xảy ra nội chiến Nguyễn Ánh - Tây Sơn, vì vậy, tư tưởng chính thống nhìn chung xâm nhập sau tín ngưỡng dân gian. Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ XIX trở đi, nhà Nguyễn đã đưa tư tưởng Nho giáo - hệ tư tưởng của nhà nước phong kiến vào Nam Bộ nhằm quản lý đất nước, ốn định đời sống nhân dán và phát triển kinh tế, xã hội. Nhà Nguyễn đưa tư tưởng chính thống vào đời sống xã hội ngươi Việt bàng cách sắc phong cho Thành hoàng, định điển lệ, ban hành nghi thức tế lễ thờ cúng thần kỳ ở làng xã. Nho giáo cũng dạy con người trung quân ái quốc, tu dưỡng đạo đức, tôn kính và thờ cúng tổ tiên, cố kết cộng đồng duy trì phong tục tốt đẹp, có nhân, có nghĩa, có lễ, có tín.


Dù phải nói rằng ở vùng đất mới Châu Đốc, những lưu dân khai phá, vốn nghèo khổ ít học nhưng cho đến khi thực dân Pháp xâm lược, ảnh hưởng của Nho giáo không hắn là nhỏ. Tuy có người cho ở Nam Bộ Nho giáo đậm chất Nghĩa nhạt chất Lễ. Điều đó có thể đúng nhưng chưa đủ. Vì nhìn trên bề nổi có thể cho Nho giáo ở Nam Bộ đã nhạt dần, nhưng khi nhìn vào bê sâu đời sống của người Việt vùng Châu Đốc, từ tổ chức xã hội đến ăn mặc, ở, đi lại, từ cưới hỏi, tang ma đến tế lễ thì có lẽ không ai nói ảnh hưởng Nho giáo ở đây là nhạt cả. Tuy nhiên, Nho giáo không phải là một thế giới quan hoàn chỉnh, nó không đáp ứng được đầy đủ đời sống tâm linh của con người. Vì vậy, ngoài Nho giáo ra người Việt Châu Đốc còn tiếp thu cả Đạo giáo và Phật giáo.


- Đạo giáo

Dù không có hệ thống cơ sở thờ cúng nhưng Đạo giáo ở Châu Đốc có ảnh hưởng rất sâu rộng và trở thành một yếu tố rất quan trọng trong sinh hoạt tâm linh của cư dân Việt vùng đất này. Dù nhà nước thế tục nhiều lần ngăn cấm phù thuỷ và đồng bóng [82, tr.97], nhưng trong dân gian các thuật sĩ, đạo sĩ tồn tại không ít. Đầu thế kỷ XIX, Trịnh Hoài Đức đã nói đến dân Nam Bộ không chỉ sùng Phật mà còn tin đồng cốt, dán bùa, đọc thần chú [21, tr.142]. Đó chắc hẳn là những biểu hiện của Đạo giáo.


Hình ảnh của Đạo giáo trong cuộc sống thể hiện ở vai trò của thầy pháp trong các nghi lễ cúng đình, cúng tạ thổ; động thổ, cúng cô hồn thí thực, cúng sao giải hạn, trong các bùa nêu ngày tết. Hình ảnh của Đạo giáo còn được thể hiện qua các động tác ma thuật của thầy pháp trấn yểm, bùa chú. Đạo sĩ cũng thường dùng bùa nước, chú pháp, phù thuỷ,... để trừ tà, trị bệnh, trong dân gian. Đặc biệt trong tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương ảnh hưởng Đạo giáo khá mạnh mẽ. Ngoài các cây "ếm" để trấn yểm ở vùng Thất Sơn, ngoài việc chữa bệnh bằng bùa phép của các ông đạo, tín đồ còn tin vào "lòng phái" và bùa chú, sự cầu Trời, khấn Phật để trừ tà ma quỷ mỵ, tránh thiên tai, dịch tễ, ốm đau. Mỗi nông dân khi nhập đạo Bửu Sơn Kỳ Hương hay Tứ Ân Hiếu Nghĩa được cấp một giấy chứng nhận gọi là "lòng phái", bằng giấy bản màu vàng, in lời kinh trừ tà ma. Trong lòng phái ghi họ tên, tuổi của tín đồ. Lòng phái của Tứ Ân Hiếu Nghĩa ghi rõ "Tuỳ thân hữu cấp thái quy y, tùng trừ tà ma, quỷ mỵ, bất đắc thọ hại sinh nhân quy chánh, trừ ngũ vị long vương, trừ ôn, hoàng dịch, lệ, trừ tà ma, quỷ mỵ sát quỷ chân" [139, tr.56]. Ngoài ra, trong Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa, chùa được xây cất, mang nặng ảnh hưởng của phái tu tiên, luyện đan và những khái niệm của Lão Trang, chùa chiền tịnh xá, miếu thờ thường được xây theo kiểu bát quái [139, tr.58]. Các tên gọi "ông Đạo" chắc hắn là biến thể của đạo sĩ mà ra nhưng được gọi bình dân hoá.


Như vậy, do không thể công khai chống chính quyền bằng quân sự, Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã sử dụng thần quyền, tôn giáo để tập hợp và tổ chức một cách công khai và bán công khai lực lượng nông dân miền Tây nhằm chống lại ách áp bức bóc lột hà khắc của tầng lớp quan lại phong kiến và thực dân xâm lược. Trong đó Bửu Sơn Kỳ Hương đã sử dụng có hiệu quả những pháp thuật, bí quyết của đạo sĩ dùng để đuổi tà ma quỷ quái nhằm đem lại niềm tin cho tín đồ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #58 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2021, 06:32:25 pm »

- Phật giáo Đại thừa

Cùng với những đợt lưu dân vào khai phá vùng đất mới từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Phật giáo Bắc Tông được du nhập vào Nam Bộ bằng hai con đường chính. Con đường thứ nhất từ Thuận - Quảng, con đường thứ hai do những thiền sư Trung Hoa từ các di thần nhà Minh thuộc hệ phái Lâm Tế [49, tr.12]. Đạo Phật du nhập vào Nam Bộ trước hết ở vùng Đồng Nai - Gia Định, sau đó lan dần đến tận miền Tây, Châu Đốc theo bước chân của những cư dân khẩn hoang tuy chưa rõ rệt.


Cho đến năm 1847, khi Doãn Uẩn lập chùa Tây An thì phái Thiền Lâm Tế (Lâm tế chánh tông) xuất hiện chính thức ở Châu Đốc. Thiền phái này đã có ở Nam Bộ, mà di tích là Tổ đình Giác Lâm, có người trụ trì đầu tiên là Thiền sư Viên Quang, trụ trì thứ hai là Tăng cang Tiên giác Hải Tịnh (1827-1869). Sư Hải Tịnh được Doãn Uẩn mời về làm trụ trì danh dự của chùa Tây An năm 1847. Năm 1849, trụ trì chùa Tây An là Phật thầy Đoàn Minh Huyên, có pháp danh là Thiền sư Pháp Tạng. Nhưng Đoàn Minh Huyên muốn đi "hoằng dương" đạo mới, nên để lại sư đệ là Minh Võ Nhất Thừa để vào Thới Sơn phát triển đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Đến năm Tân Mùi (1871), Tăng cang Tiên giác Hải Tịnh cùng các chư Hoà thượng các tỉnh Nam Kỳ tổ chức Đại giới đàn ở chùa Tây An. (Đại giới đàn là một cuộc lễ sát hạch để thừa nhận công đức tu tập, từ đó có sự phong chức (theo từng thứ bậc) chính thức là tu sĩ (tỳ kheo). Đến đầu thế kỷ XX, Tổ Phi Lai về vùng núi Doi (Chi Lăng - Tri Tôn) lập chùa Phi Lai cổ tự, chùa này trở thành trung tâm Phật học đầu tiên của vùng Châu Đốc.


Buổi đầu đến vùng đất mới, xa quê hương, lạ phong thổ, những biến động dữ dội của chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, mất mùa, đói kém thường xuyên diễn ra cùng với nỗi nhớ vì xa quê, nhớ tổ tiên, người thân lúc rảnh rỗi nảy sinh nhu cầu tâm linh, tìm kiếm sự bình an cho tâm hồn, dần dần làm cho lưu dân tìm đến với tôn giáo. Phật giáo vốn là tôn giáo truyền thống của ngươi Việt, có ảnh hưởng khá sâu rộng trong đời sống tâm linh cư dân, vì vậy quần chúng đến với Phật giáo trong những ngày sóc vọng, cũng như nhu cầu có thầy cầu an lúc ôm đau, cầu siêu lúc qua đòi... Phật giáo thực sự là liều thuốc an thần, chất men say, an ủi vỗ về, giúp đỡ người dân dịu đi những bất hạnh, căng thẳng về mặt tâm lý, tạo niềm tin cho con người, vượt qua những khó khăn trong buổi đầu khẩn hoang..., nhu cầu tín ngưỡng do đó cũng là nhu cầu tự nhiên, cấp bách như nhu cầu cơm áo.


Với tư tưởng triết lý nhân bản lấy con người làm trung tâm, Phật giáo không chỉ có nguồn sinh lực mạnh mẽ để bám rễ dễ dàng ở các nước châu Á, hoà đồng với các tín ngưỡng bản địa trong khu vực mà còn phù hợp với tâm lý, truyền thống người Việt, lại đáp ứng được nhu cầu tinh thần của lưu dân vốn đa số là những nông dân khô cực, nên đã bám rễ sâu vào tâm linh của quần chúng, giúp họ an tâm sản xuất và khai phá vùng đất mới.


Do vùng đất Châu Đốc được khai phá chậm so với những vùng khác ở Nam Bộ, nên hầu hết các chùa Phật giáo ở đây được xây cất từ đầu thế kỷ XIX trở về sau. Như chùa Thụy Sơn được Thoại Ngọc Hầu xây dựng khi đào kinh Thoại Hà khoảng năm 1817. Còn chùa Tây An mãi năm 1847 mới được viên Tổng đốc An Giang - Doãn Uẩn xây dựng, chùa Hang được xây dựng khoảng năm 1840, chùa Giồng Thành xây dựng năm 1875. Đến nửa cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX thì chùa chiền ở Châu Đốc mới được xây cất khá nhiều theo tốc độ khẩn hoang lập làng của người Việt.


Hầu hết các chùa ban đầu đều là những am tranh, tre lá..., về sau dần dần mới được tu sửa, xây dựng lại kiên cố, to đẹp hơn. Như chùa Giồng Thành (Long Hưng tự), vốn được hoà thượng Trần Minh Lý xây dựng lần đầu trên nền một giồng đất vốn là bờ thành của một đồn binh ở Tân Châu thời Nguyễn, nên được gọi là chùa Giồng Thành. Buổi đầu nền chùa bằng đất, nhà chùa bằng tre lá đơn sơ, dần dần qua bôn lần xây dựng lại, chùa mới có nền gạch, tường vôi, lợp ngói to lớn khang trang như hiện nay [118, tr.34]. Chùa Tây An ở núi Sam, Châu Đốc xây dựng từ 1847 cũng đơn sơ, cho đến năm 1861 được hoà thượng Nhất Thừa trùng tu lại. Trải qua nhiều lần mới được to đẹp nổi tiếng.


Theo sách Monographie de la province de Chaudoc thì cuối thế kỷ XIX ở Châu Đốc có 79 chùa Phật của người Việt và 5 chùa Phật của người Hoa, có 89 sư nam, 25 sư nữ người Việt. Các ngôi chùa chính là chùa Tây An, Long Phú, Phú An [156, tr.53].


Phật giáo là tôn giáo truyền thống của cư dân Việt, có ảnh hưởng sâu rộng trong sinh hoạt văn hoá và đời sống tâm linh của cư dân. Phật giáo thực sự là phương thuốc hiệu nghiệm làm "bệ đỡ" cho tinh thần dân Việt vùng Châu Đốc khi đến khẩn khoang lập ấp ở vùng đất mới. Tuy nhiên, đến vùng đất mới, môi trường sống mới đã tạo nên một hoàn cảnh mới. Cộng cư với những tộc người khác, nên không thể tránh khỏi tín ngưỡng cũ mới đan xen, tư tưởng Phật giáo truyền thống trong người Việt cũng có những biến đổi, người Việt đã có một tính cách mới, một tư duy mới. Hiện tượng khác về tư tưởng Phật giáo ở Châu Đốc của người Việt chúng ta sẽ nói đến ở tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương sau đây.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #59 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2021, 06:34:05 pm »

- Tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương

Bửu Sơn Kỳ Hương (mùi hương lạ của núi báu) do Đoàn Minh Huyên (1807-1856) vốn là một nông dân quê làng Tòng Sơn, tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sa Đéc sáng lập năm 1849.

Sự ra đời của đạo buổi đầu bắt nguồn từ những nguyên nhân trực tiếp, do chinh phục vùng đất lạ sình lầy, đầy, cọp, sấu, thú dữ, khí hậu khắc nghiệt, chiến tranh biên giới, mất mùa, đói kém, dịch bệnh xảy ra thường xuyên. Đặc biệt, trận đại dịch từ đầu năm 1849-1850 đã giết hại hơn một nửa số dân đinh nước ta thời này. Trong đó miền Tây Nam Bộ bị ảnh hưởng nặng nề (theo thống kê của Bộ Hộ, trận dịch này bị chết 589.460 người [105, tr.185] chiếm 57% số dân đinh cả nước năm 1847: 1.029.501 người). Hậu quả trên làm xáo động xã hội và nhân tâm. Trong hoàn cảnh đó, Đoàn Minh Huyên đã đến với người dân để cứu vớt họ. Ông vừa giảng đạo vừa chữa bệnh cho dân bằng bùa phép và dược thảo, góp phần đẩy lùi nạn dịch, cứu sống được nhiều người, nên được người dân tin theo.


Vốn là vùng đất mới hoang vu và đầy bí ẩn, vì vậy lưu dân Việt cảm thấy trở nên bé nhỏ, bất lực và khiếp sợ trước thiên nhiên đầy tai hoạ, bệnh tật luôn đe doạ cướp đi mạng sống của mình. Tâm lý kinh sợ thiên nhiên bí ẩn, sùng bái thiên nhiên là đặc điểm nổi bật trong buổi đầu khai hoang vùng đất mới.

Đến đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh...
Chèo ghe sợ sấu cắn chưn
Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma...


Đây cũng là một yếu tố tác động đến đời sống tâm linh của lưu dân người Việt. Mặt khác, từ miền ngoài đến họ vốn là những nông dân nghèo, tội đồ, binh lính bỏ ngũ, lánh nạn chiến tranh, trốn chạy sự áp bức bóc lột của quan lại phong kiến..., với khát vọng tự do và khát vọng giải phóng, giải phóng khỏi nghèo đói và giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột. Nửa cuối thế kỷ XVIII, lưu dân khẩn hoang tự do và tự do làm ăn trong nếp nghĩ, nếp sống, bất khuất kiên cường trước thiên nhiên, không luồn cúi trước sức mạnh xã hội phi nghĩa,... đã dần trở thành tính cách của người nông dân Nam Bộ.

"Trời sanh cây cứng lá dai
Gió lay mặc gió, chìu ai không chìu"


Thế nhưng, đến nửa đầu thế kỷ XIX, tính cách ấy bị dồn nén, bị quy định khắt khe của nhà nước, bị áp bức của địa chủ, cường quyền. Cuối cùng, bất lực trước ách áp bức xã hội, mất lòng tin vào khả năng mình, con người lại nhờ cậy, tin tưởng vào lực lượng ngoài trần thế. Họ đi tìm sự bù đắp tinh thần cho cá nhân, khi còn bất lực trước cuộc sống, họ đến với tôn giáo là để tìm niềm tin thiêng liêng mới, giải thoát cho hiện thực đầy bất công khổ cực. Đến miền đất mới, mặc dù người Việt tuy đã nhiều tín ngưỡng trong con người, nhưng để cân bằng đời sống tâm linh không thể không tôn sùng những tín ngưỡng bản địa, những lực cản mới, những sức mạnh vô hình. Vì vậy, không thể không nảy sinh những nét tín ngưỡng mới [17, tr.32]. Vì vậy sức mạnh vô hình, "siêu thế gian" đã chi phối phần thiêng liêng của con người, chế ngự cuộc sống hằng ngày của họ.


Trên bình diện tư tưởng, trên đất Nam Bộ, do cư dân tứ chiếng tập hợp lại đã mấy đời, cách xa ý thức hệ Nho giáo và các tôn giáo Phật, Đạo... có "bài bản", nên họ sẵn sàng chấp nhận những tôn giáo, hỗn dung giáo lý. Trong tình hình đó, Bửu Sơn Kỳ Hương ra đời đã đáp ứng nhu cầu tâm linh của một bộ phận cư dân đang khao khát một niềm tin thiêng liêng mới, để giải thoát cho hiện thực cuộc sống.


Với Đoàn Minh Huyên, do truyền giảng đạo và chữa bệnh cho dân bằng những bùa phép lạ lùng mà hiệu quả làm không ít kẻ xấu, thầy lang tức tối, tố cáo ông là "gian đạo sĩ". Ông đã bị chính quyền cầm giữ tại Châu Đốc. Nhưng sau đó, được trả tự do và đến chùa Tây An tại núi Sam, lập nên đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, thu hút đông đảo tín đồ ở vùng miền Tây Nam Bộ. Mỗi tín đồ của ông đều được cấp một "lòng phái" (thẻ/chứng nhận) có triện son, mang 4 chữ báu linh "Bửu Sơn Kỳ Hương" bằng Hán tự. Uy tín to lớn của Đoàn Minh Huyên trước hết là do hoạt động chữa bệnh cứu dân thoát khỏi dịch bệnh có hiệu quả, sau nữa là do sức thuyết phục của giáo lý mà ông truyền bá.


Giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương là giáo lý Phật giáo, được bình dân hoá, lược giảm phần lý thuyết cho phù hợp với trình độ nhân sinh. Bửu Sơn Kỳ Hương lấy tâm thành làm gốc, lấy hướng thiện làm mục đích, với pháp môn học Phật tu Nhân là sợi dây vô kết có hiệu quả đám quần cư, tứ chiếng trước thiên nhiên hoang vu, huyền bí. Về học Phật, Phật Thầy Tây An khuyên tín đồ "làm lành lánh dữ" cốt giữ cái tâm được tịnh. Muốn như vậy thì phải ráng tâm niệm 6 chữ "Di Đà". Quan trọng hơn cả là tính thực tiễn của giáo lý, Bửu Sơn Kỳ Hương hướng tín đồ vào hành động tu Nhân, nỗ lực đền đáp tứ đại trọng ân (Tứ ân): Ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân đồng bào nhân loại và ân Tam bảo.


Giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương là sự kết hợp giữa học Phật và tu Nhân, không tu Nhân thì không học Phật được. Bửu Sơn Kỳ Hương chú ý canh tân về hình thức tu luyện, giản dị hoá những tập tục thờ cúng rườm rà để phù hợp với hoàn cảnh lưu dân khẩn hoang buổi đầu. Tín đồ tu không cần chùa, không "ly gia cát ái", không đầu tròn áo vuông, không thờ tượng cốt, chỉ treo tấm Trần điều (vải đỏ) tượng trưng cho tinh thần "Vô vi", cho ngôi Tam Bảo, không ăn chay, không gõ mõ tụng kinh, không xuống tóc, cạo râu... Vật phẩm dâng cúng chỉ hương hoa và nước lã đơn sơ, chỉ thuyết pháp chứ không dùng văn tự mà ghi chép kinh kệ. Tín đồ hầu hết là tại gia cư sĩ. Sự canh tân về giáo lý, tín điều như trên là dù ít dù nhiều của Bửu Sơn Kỳ Hương là nhằm đáp ứng nhu cầu tình thế và nhu cầu thực tiễn, thích hợp với lưu dân khẩn hoang vùng đất mới nên thu hút được đông đảo tín đồ. Vì vậy, Đoàn Minh Huyên được quần chúng coi là một vị hoạt Phật, một giáo chủ.


Bửu Sơn Kỳ Hương còn tỏ ra có những hoạt động mang lợi ích thiết thực cho đời sống lưu dân. Năm 1851, Đoàn Minh Huyên chia các đệ tử thành nhiều đoàn đi "khai sơn trảm thảo" khẩn hoang nhiều vùng hoang vu, lập những trại ruộng: Ông Đạo Ngoạn đưa đạo hữu về vùng Cần Lố (Đồng Tháp Mười) sau mở rộng vùng khai hoang ra khắp nẻo rạch Trà Bồng, rạch Ông Bường và rạch Cần Lố (nay thuộc Đồng Tháp); Trần Văn Thành chỉ huy khẩn hoang vùng đầm lầy, lau sậy Láng Linh (vùng Láng linh thiêng, nay thuộc huyện Châu Phú); một trại ruộng núi Két do cụ Bùi Văn Thân (tức Bùi Thiền Sư) hướng dẫn sau lập nên hai làng Hưng Thới - Xuân Sơn (nay là Thới Sơn thuộc huyện Tịnh Biên); một trại ruộng ở vùng Cái Dầu do cụ Nguyễn Văn Xuyến chỉ huy (nay thuộc huyện Châu Phú). Nhờ đức tin, tín đồ đã chịu đựng gian khổ, bám trụ và khẩn hoang những vùng đầm lầy, rừng rậm, phù hợp với chính sách khẩn hoang của triều Nguyễn thời kỳ này.


Khi thực dân Pháp xâm lược Châu Đốc (1867), tiếp nối truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc và tư tưởng giáo lý Tứ Ân, những tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đã bị cuốn hút tự nhiên vào ngọn cờ khởi nghĩa do lãnh tụ Trần Văn Thành xướng suất ở Bảy Thưa (Láng Linh). Trần Văn Thành là một chánh quản cơ của triều Nguyễn, người có nhiều công dẹp loạn người Thổ ở vùng biên thuỳ Tây Nam, ông cũng là một hiền thủ của Phật Thầy Đoàn Minh Huyền. Từ năm 1867 đến năm 1873, tại Láng Linh, nghĩa quân đã tích trữ lương thảo, rèn đúc vũ khí, chiêu mộ nghĩa dũng, xây dựng căn cứ, chuẩn bị khởi nghĩa. Căn cứ có lúc đến 1.200 người. Nghĩa quân đã nhiều lần đem quân đánh phá đồn giặc ở vùng Châu Đốc, gây khó khăn không ít cho quân Pháp [52, tr.88]. Tuy nhiên, do lực lượng chênh lệch, cuối cùng khỏi nghĩa Bảy Thưa không khỏi chịu chung số phận với các cuộc chiến đấu của Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân,...


Sau khi Phật Thầy Tây An viên tịch (1856) và "ngọn lửa Bảy Thưa" bị thực dân Pháp dập tắt (1873), các môn đệ của Đoàn Minh Huyên vẫn tiếp tục con đường hoằng dương giáo pháp của Phật Thầy. Người ta coi ông đã được "chuyển kiếp", tái thế qua 4 lần: Từ Đức Phật Trùm (1868) ở núi Tà Lơn, Đức Bổn Sư (1878) ở núi Tượng, Sư Vãi Bán Khoai (1901-1902?) và cuối cùng là Đức Huỳnh Giáo Chủ (1939) của Phật giáo Hoà Hảo1 (Năm 1999, Bửu Sơn Kỳ Hương có 10.596 tín đồ ở An Giang).


Từ giữa thế kỷ XIX cho đến cuối thế kỷ này, Bửu Sơn Kỳ Hương đã có những ảnh hương rộng lớn đối với xã hội. Bằng tài năng thiên bẩm trong thuyết pháp, bằng bùa phép của Đạo giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương đã tập hợp được một lực lượng quần chúng đông đảo dưới ngọn cờ tín ngưỡng của mình, để thực hiện những nhiệm vụ thực tiễn, đưa lại nhiều lợi ích thiết thực cho nông dân. Trong mắt tín đồ, Đoàn Minh Huyên trở thành "giả nhân dương thế" nhận mệnh lệnh của cõi Tiên, của Phật, là đấng thiêng liêng làm gạch nối giữa cõi thiêng và quần chúng. Những huyền thoại được thêu dệt về xảo thuật, bùa phép, sai khiến được thánh thần, ác thú, tiên tri... dù có những điều huyễn hoặc, nhưng sự thành công lạ lùng trong việc trị bệnh cho dân chúng và cứu được rất nhiều người là có thật. Trên thực tế đã gieo được vào lòng tín đồ niềm tin sắt đá về sứ mạng của một vị giáo chủ được Trời, Phật đem đến để cứu độ chúng sinh. Cùng với huyền thoại được thêu dệt vây quanh Đoàn Minh Huyên về một Thất Sơn huyền bí, linh địa, càng khẳng định niềm tin về một vị Phật Thầy có sứ mạng mặc khải chân lý và giải thoát cho đời là hữu lý trong tin tưởng, trong tâm linh tín đồ. Cuối cùng với tư tưởng đời "Hạ ngươn", "mạt pháp" sắp chấm dứt, đời "Thượng ngươn", "Hội Long Hoa" sắp ra đời, như là cứu cánh, hấp dẫn và lôi cuốn quần chúng một cách lạ thường. Vì vậy, Bửu Sơn Kỳ Hương đã tập hợp được một số lượng đông đảo nông dân miền Tây đứng dưới ngọn cờ tôn giáo.


Sự ra đời và phát triển của Bửu Sơn Kỳ Hương ở miền Tây Nam Bộ giữa thế kỷ XIX đã có ảnh hưởng tích cực trong giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc. Dù nó tạo ra những hình ảnh, hy vọng, lý tưởng một cách giả tạo nhưng đã làm cho tín đồ được an ủi và vơi đi những nỗi đau thực tại, khoả lấp những bất hạnh của cá nhân, tạo niềm tin, hy vọng cho những người nghèo khổ bế tắc, hướng tới một xã hội tốt đẹp. Bửu Sơn Kỳ Hương đã có vai trò rất lớn trong thực tiễn, lay động được cả một cộng đồng người, chịu đựng gian khổ, bám đất khẩn hoang, lập làng, bảo vệ vùng biên thuỳ Tây Nam hiểm yếu. Thái độ ái quốc và hoạt động chống thực dân Pháp, mưu độc lập cho xứ sở chẳng qua là việc hành xử "Tứ đại trọng ân" theo giáo lý môn phái. Bửu Sơn Kỳ Hương và những phong trào kháng Pháp ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX chứng tỏ, trong khung cảnh chính trị bế tắc những nỗ lực đấu tranh giành độc lập đều nghi trang dưới hình thức tôn giáo.


Vai trò xã hội của Bửu Sơn Kỳ Hương không chỉ dừng lại ở sự phát triển khẩn hoang, lập trại ruộng, lập thôn ấp và đấu tranh giành độc lập cho quốc gia, mà còn là nhân tố quan trọng góp phần liên kết cộng đồng, điều chỉnh hành vi đạo đức, tạo ra những tiêu chuẩn, những giá trị đạo đức tiến bộ, duy trì thuần phong mỹ tục, phong tục tập quán của người Việt, góp phần tạo nên ổn định xã hội, trị an ở vùng biên thuỳ phức tạp.


Bửu Sơn Kỳ Hương, một giáo phái thuộc thiền phái Lâm Tế đời thứ 35, nhờ tính ưu việt của giáo lý được cải biên từ giáo lý Phật giáo và những hoạt động thực tiễn đã thu hút được đông đảo nông dân miền Tây dưới ngọn cờ tín ngưỡng để giải cứu những nhu cầu kinh tế, xã hội và phản ánh đời sống tâm linh của người Việt ở Nam Bộ. Bửu Sơn Kỳ Hương chống Pháp không chỉ vì chống xâm lược mà còn vì đối kháng văn hoá và chiến đấu bảo tồn phong tục tập quán, bảo vệ văn hoá dân tộc. Vì vậy, Bửu Sơn Kỳ Hương là một hiện tượng văn hoá độc đáo của người Việt phương Nam và là một tôn giáo địa phương sớm nhất ở Việt Nam, có ảnh hưởng lốn đến lịch sử chính trị và tư tưởng Nam Kỳ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM