Lịch sử quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Giêng, 2022, 09:41:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005  (Đọc 2649 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3901



WWW
« Trả lời #40 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 04:51:51 pm »

Thời kỳ đất nước ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, chính quyền non trẻ cùng một lúc phải đương đầu với nhiều kẻ thù. Cùng với việc thành lập “Chính phủ liên hiệp", Đảng chủ trương “hoà với Tưởng" để cô lập Pháp, loại dần kẻ thù. Quán triệt chủ trương, đối sách của Đảng, ngành Công an đã điều tra làm rõ hàng trăm tên đặc vụ Tưởng, gián điệp Pháp và bọn làm tay sai chỉ điểm cho chúng. Nhưng căn cứ vào luật pháp, căn cứ tình hình chính trị lúc đó, ta không đưa ra xét xử tất cả các vụ mà chỉ đưa ra truy tố những vụ điển hình nhất nhằm vạch tội của Pháp và Tưởng, được những người không đảng phái trong Chính phủ ủng hộ. Nha Công an đề ra hướng đấu tranh thích hợp bằng cách chỉ đạo các sở Công an thành lập “Đội trinh sát đặc biệt”, “Đội hành động"; chuyên trách làm nhiệm vụ bí mật trừ khử bọn gián điệp và “bọn chó săn” của Tưởng, Nhật, Pháp. Nhờ đó, ta vẫn trừng trị mạnh bọn gián điệp, bọn tay sai chỉ điểm nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu thực hiện “sách lược mềm dẻo" để loại dần kẻ thù trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của thời kỳ chính quyền cách mạng ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc". Đỉnh cao ở thời kỳ này là lực lượng An ninh “đập tan cuộc đảo chính phản cách mạng do Quốc dân đảng câu kết với quân đội viễn chinh Pháp tiến hành" và tổng trấn áp Quốc dân đảng trên toàn quốc, phá tan liên minh giữa thực dân Pháp xâm lược với thế lực nội phản. Sự sáng tạo của cuộc tổng trấn áp này là ở chỗ: lực lượng An ninh đã dựa hẳn vào luật pháp, vận động quần chúng tạo ra áp lực chính trị mạnh mẽ và chỉ chĩa mũi nhọn đả kích vào bọn nội phản; không đả động gì đến số gián điệp Pháp chúng đã móc nối và mềm dẻo đẩy đuổi lực lượng quân sự Pháp khi chúng can thiệp. Bởi vậy, mặc dù lúc này, Pháp đang lăm le tìm cớ để sử dụng lực lượng vũ trang tấn công ta nhưng chúng không có một lý do nào để thực hiện âm mưu đen tối đó.


Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta chủ trương thực hiện 3 mũi giáp công “quân sự, chính trị, ngoại giao” nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của thời đại để giành thắng lợi cuộc kháng chiến. Muốn vậy, Đảng cần phải nắm được âm mưu, ý đồ, kế hoạch tác chiến của Mỹ và đồng minh của chúng; đồng thời phải nắm được thái độ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa và của các nước đồng minh chiến lược đối với ta. Phục vụ yêu cầu của Trung ương Đảng, từ năm 1961 đến năm 1973, lực lượng An ninh tiến hành hai kế hoạch phản gián tuyệt mật là M1 và M2 thu được hàng chục ngàn tin tình báo có giá trị về chiến lược chiến thuật, có tính thời sự cao từ cơ quan cố định của một nước tư bản đóng tại Hà Nội. Tin tình báo thu được đã giúp Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra những quyết sách trong quá trình lãnh đạo dân tộc ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi. Đặc biệt, tin tức thu được từ hai kế hoạch còn có tính thời sự về chiến thuật cũng như chiến lược liên quan đến âm mưu, kế hoạch của Mỹ cùng đồng minh của Mỹ; liên quan đến ý đồ của một số nước đối với cuộc kháng chiến của dân tộc ta. Những tin tức đó đã được Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch sử dụng trong các cuộc đàm phán song phương với các quốc gia; tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế nhưng vẫn giữ vững đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ, tự cường.


Cũng trong giai đoạn lịch sử này, lực lượng An ninh tiến hành đấu tranh chuyên án có bí số X77 do một chuyên gia lật đổ nằm trong cơ quan cố định của một nước đồng minh chiến lược với ta chỉ đạo. Âm mưu của chúng là sử dụng số đối tượng có vị trí cao trong cơ quan của Đảng, Nhà nước; số đối tượng có điều kiện tiếp xúc với nguồn tài liệu tuyệt mật của Đảng và Nhà nước để lấy cắp tin tình báo; sử dụng số đối tượng này tiến hành đấu tranh trên nghị trường, điều chỉnh đường lối của Đảng có lợi cho họ đi đến lật đổ Đảng và Nhà nước ta. Gần mười năm tổ chức điều tra, cơ quan An ninh nắm rõ, quản lý chặt từng đối tượng trong chuyên án, vô hiệu hoá âm mưu và hoạt động của chúng. Năm 1969, Trung ương Đảng cho phép phá án, bắt gần 20 đối tượng quan trọng, trong đó có những đối tượng là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, cán bộ cao cấp trong cơ quan thiết yếu quan trọng, ngăn chặn cuộc đảo chính trên nghị trường của cơ quan tình báo đối phướng. Để giữ gìn quan hệ đồng minh chiến lược cũng như đảm bảo sự ổn định về chính trị, phục vụ yêu cầu tập trung mọi nguồn lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta không truy tố công khai các đối tượng bị bắt mà áp dụng biện pháp quản lý đặc biệt. Với đối sách này, Đảng và Nhà nước vẫn thực hiện thắng lợi chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, tranh thu được tối đa sự ủng hộ của họ nhưng vẫn bảo vệ tuyệt đối an toàn nội bộ và tổ chức đảng cũng như đường lối của Đảng mà không gây xáo động về chính trị.


Song song với quá trình đấu tranh chuyên án X77 lực lượng An ninh con đấu tranh thắng lợi nhiều chuyên án gián điệp khác do X70 và X77 là hai quốc gia đồng minh chiến lược với ta tiến hành. Hàng trăm điệp viên của X70 và X77 hoạt động ở hầu khắp các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội, kể cả trong lực lượng vũ trang và hệ thống công quyền; có những đối tượng giữ trọng trách trong các cơ quan cấp Vụ, cấp Bộ. Đáp ứng yêu cầu đối nội và đối ngoại, hầu như số điệp viên bị phát hiện trong thời gian này ta đều không đưa ra truy tố công khai; thậm chí có đối tượng không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo luật định. Cơ quan An ninh đã tham mưu cho Đảng điều chuyển đối tượng ra khỏi cơ quan thiết yếu quan trọng, hoặc điều chuyển đến những vị trí công tác không có điều kiện thu thập tin tình báo và phá hoại nội bộ ta. Một số khác bị kỷ luật, đưa ra ngoài xã hội hoặc đưa vào diện quản lý đặc biệt. Vì vậy hai quốc gia X70, X77 không thực hiện được ý đồ điều chỉnh Đảng ta đi theo họ, điều chỉnh sự chỉ đạo của Đảng ta đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước theo chiều hướng có lợi cho họ. Đạt được kết quả trên chứng tỏ lực lượng An ninh không chỉ quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng trong đấu tranh chống gián điệp mà còn mạnh dạn đề xuất lên Trung ương Đảng áp dụng những đối sách sáng tạo với điệp viên của X70 và X77 khi họ là đồng minh chiến lược, trong bối cảnh ta cần tranh thủ sự ủng hộ của họ để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc quan điểm “nghiệp vụ phục vụ chính trị" nên lực lượng An ninh vẫn vô hiệu hoá được hoạt động của điệp viên đối phương đồng thời vẫn đáp ứng những điều kiện cần thiết giúp Đảng và Nhà nước tiến hành chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, tranh thủ tối đa ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nưởc xã hội chủ nghĩa anh em.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3901



WWW
« Trả lời #41 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2021, 08:06:47 pm »

Cùng thời gian này, đối với gián điệp của Mỹ và đồng minh của Mỹ là kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm, lâu dài của cách mạng, ta áp dụng đối sách bằng cách đưa ra truy tố công khai hàng chục vụ án gián điệp như: vụ án C30, H07, GM65, ED69 và hàng chục vụ án gián điệp biệt kích,... Mỗi vụ xét xử đều được tổ chức tuyên truyền rộng rãi ở trong nước và quốc tế nhằm tố cáo tội ác, vạch rõ thủ đoạn hoạt động của chúng trước quảng đại quần chúng nhân dân. Các vụ án gián điệp trên không chỉ được xét xử trong phòng xử án của toà hình sự mà còn được đưa đi xét xử lưu động ở những địa bàn cần thiết, đáp ứng yêu cầu phòng chống gián điệp. Chỉ tính riêng về phương thức gián điệp biệt kích, lực lượng An ninh đã đưa ra xét xử công khai 32 vụ, tổ chức triển lăm tại 661 địa điểm thu hút 4 triệu lượt người dân đến xem. Đây cũng là một sáng tạo trong đối sách với điệp viên. Thông qua các phiên toà, các cuộc triển lãm, người dân thấy rõ người thật việc thật hiểu thêm về tội ác của địch để tăng thêm lòng căm thù; hiểu thêm về thủ đoạn hoạt động của địch để nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức phòng ngừa tội phạm. Tác dụng từ những phiên toà lưu động, các cuộc triển lãm còn là một biện pháp răn đe, tạo ra áp lực tinh thần, tác động mạnh đến những đối tượng có tư tưởng chống đối, có âm mưu làm tay sai cho giặc.


Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt, để đối phó với âm mưu bành trướng bá quyền của bọn phản động quốc tế lực lượng An ninh phối hợp chặt chẽ với Quân đội nhân dân bóc gỡ mạng lưới gián điệp của T110 (sau này gọi là TH) ở các tỉnh biên giới phía Bắc, trong lực lượng vũ trang tại Quân khu I, Quân khu II. Để giữ cho quan hệ giữa hai nước không xấu hơn, ta chỉ đưa một số vụ điển hình ra xét xử công khai như: Thào Chín Vu, Lý Nghiệp Phu,... Số đối tượng khác liên quan đến cơ quan đặc biệt của T110 nhưng có độ nhạy cảm cao, lực lượng An ninh đề xuất với Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách cán bộ triệt để với các hình thức: cho thôi việc, điều chuyển khỏi cơ quan quan trọng, địa bàn xung yếu, bí mật điều tra, sẵn sàng áp dụng biện pháp ngăn chặn khi cần thiết... Thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Công an triển khai kế hoạch “Phòng chống bạo loạn - kế hoạch 778” ở các thành phố, thị xã và địa bàn trọng điểm có đông người gốc TH sinh sống nhằm huy động các lực lượng, chủ động đối phó với âm mưu nhân viên cơ quan đặc biệt kích động người gốc TH gây biểu tình, bạo loạn. Nhờ có đối sách đúng, phù hợp với tình hình nên khi TH phát động chiến dịch nạn kiều, gây chiến tranh ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, ta đã căn bản loại trừ được hoạt động của gián điệp TH trong nội địa, ngăn chặn được các cuộc biểu tình, bạo loạn do điệp viên của TH kích động để rảnh tay đối phó với hai cuộc chiến tranh ở biên giới. Có thể nói trong khoảng thời gian dài TH đã lợi dụng quan hệ láng giềng và đồng minh chiến lược để tổ chức hoạt động gián điệp rộng khắp, điều tra mọi mặt tình hình của ta hòng chuẩn bị cho chiến dịch phá hoại toàn diện trên mọi lĩnh vực về kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội... Nhưng TH chỉ đạt được một số kết quả về chiến thuật mà không đạt được ý đồ chiến lược. Vì vậy, đây là một thắng lợi to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong đó có phần đóng góp quan trọng trong đối sách của công tác đấu tranh chống gián điệp TH.


Sau chiến dịch nạn kiều, sau hai cuộc chiến tranh ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, TH đã công khai bộc lộ âm mưu và ráo riết tiến hành “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” đối với nước ta. Âm mưu và hoạt động của bọn phản động quốc tế trong thời kỳ này là vô cùng nguy hiểm vì đất nước đang gặp muôn vàn khó khăn về kinh tế, đời sống về vật chất và tinh thần của nhân dân xuống cấp nghiêm trọng, lòng tin với Đảng bị suy giảm. Lợi dụng bối cảnh đó, chúng tiến hành chiến thuật “trong nổi dậy, ngoài đánh vào” bằng việc bí mật đưa gián điệp biệt kích, vũ khí từ nước ngoài vào, liên kết với bọn phản động trong nội địa hòng gây bạo loạn cướp chính quyền từng vùng để đi đến bạo loạn cướp chính quyền trên cả nước. Do đã chủ động chuẩn bị chiến trường đón đợi kẻ thù nên từ năm 1980 đến năm 1990 lực lượng An ninh triển khai đồng thời, đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, trên địa bàn rộng lớn với nhiều lực lượng tham gia đấu tranh thắng lợi nhiều chuyên án, triển khai thắng lợi nhiều kế hoạch phản gián lớn. Trong 10 năm đấu tranh, ta đã bắt và diệt gần 600 tên biệt kích, thu hàng trăm tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh; phá hàng chục tổ chức phản động đã liên kết với gián điệp, bắt và gọi hàng hàng chục ngàn tên, đập tan nhiều kế hoạch bạo loạn có quy mô lớn của bọn phản động quốc tế, làm phá sản hoàn toàn chiến thuật “trong nổi dậy, ngoài đánh vào” của chúng.


Hầu hết các chuyên án gián điệp, các chuyên án phản động đã liên kết với gián điệp của bọn phản động quốc tế khám phá trong giai đoan này đều bi đưa ra xét xử công khai. Trong quá trình xét xử, ta tổ chức tuyên truyền thành chiến dịch, mời đông đảo phóng viên trong nước và ngoài nước đến dự; tổ chức triển lãm các loại phương tiện chiến tranh cho quảng đại quần chúng nhân dân tham quan; đưa phóng viên trong nước và nước ngoài đi thị sát các mật cứ của địch “xây dựng” bí mật trong rừng. Trong cáo trạng, ta cũng chỉ rõ hoặc để cho các bị cáo thừa nhận chúng được huấn luyện ở đâu, đi những đâu để nhận chỉ đạo và tài trợ, con đường xâm nhập về nước, con đường và địa điểm nhận vũ khí và tiền giả,... Từ các loại chứng cứ khách quan có tính thuyết phục cao qua các vụ án, cả thế giới đều hiểu rõ đối tượng phát động “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” đối với nước ta. Qua đó, dư luận thế giới thấy được bộ mặt thật, âm mưu bá quyền của bọn phản động quốc tế.


Đấu tranh thắng lợi các chuyên án, đưa bọn tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trong giai đoạn này ra xét xử công khai không chỉ là đòn quyết định làm phá sản “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” của bọn phản động quốc tế, mà còn tạo điều kiện có lợi giúp Đảng và Nhà nước tiến hành đấu tranh trên mặt trận ngoại giao với tinh thần độc lập, tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi, đi đến sớm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Đối với tình hình trong nước, do ta đánh đúng, đánh trúng, đánh hiểm nên không những đã chủ động dụ hết số gián điệp biệt kích được huấn luyện ở nước ngoài về nước và bắt gọn mà còn thúc đẩy hầu hết các tổ chức phản động đang giấu mình phải bộc lộ để trấn áp. Thắng lợi trên mặt trận chống gián điệp giai đoạn lịch sử này đã góp phần quan trọng giữ vững, giữ ổn định an ninh chính trị, giúp Đảng và Nhà nước triển khai nhiều chính sách mới, đưa đất nước thoát dần ra khỏi tình trạng khủng hoảng; xây dựng được địa bàn an ninh cần và đủ, tạo tiền đề cho Đảng khởi xướng đường lối đổi mới.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3901



WWW
« Trả lời #42 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2021, 08:08:46 pm »

Năm 1986, Đảng ta khởi xướng đường lối đổi mới. Sau 5 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và triệt để, Đảng lãnh đạo đất nước đạt được những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Đường lối đổi mới cùng với những thành tựu đạt được chứng minh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn trong bối cảnh nhiều nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới bị sụp đổ và tan rã. Đất nước ta vững bước trên con đường đổi mới, chuyển sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng. Nhưng đồng thời với những bước phát triển của cách mạng, nước ta cũng trở thành tiêu điểm chống phá của các thế lực thù địch trong âm mưu xoá bỏ tư tưởng cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng thực hiện “diễn biến hoà bình" đối với nước ta; tập trung phá hoại tư tưởng, truyền bá đa nguyên đa đảng; gây nổ, kích động biểu tình, khủng bố; thành lập các tổ chức chính trị đối lập; lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, an ninh nông thôn, biên giới, biển đảo,... và những mâu thuẫn xã hội phát sinh tất yếu trong quá trình đổi mới để can thiệp vào nội bộ ta nhằm thực hiện âm mưu thôn tính và xâm lược. Đặc biệt, “diễn biến hoà bình" đối với nước ta lại nằm trong bối cảnh tình hình quốc tế ngày một diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề mới phát sinh, nhạy cảm và khó lường. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống gián điệp, làm thất bại âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch càng khó khăn, phức tạp bội phần. Muốn giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này đòi hỏi phải nắm vững đường lối của Đảng, nhạy bén về chính trị, luôn đổi mới và sáng tạo trong đối sách mới có thể bảo vệ được thành quả cách mạng, phục vụ tốt nhất các yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngoại giao đa phương, đa dạng và hội nhập quốc tế sâu rộng.


Quán triệt quan điểm đổi mới của Đảng, hơn 10 năm qua công tác đấu tranh chống gián điệp đã được đổi mới căn bản trên các lĩnh vực, nhất là công tác điều tra cơ bản; cho phép lực lượng An ninh triển khai đồng bộ, đồng thời các biện pháp nghiệp vụ với yêu cầu “nắm địch từ xa, đánh địch từ nơi xuất phát". Nhờ chủ động nắm địch và đánh địch nên lực lượng An ninh từng bước vô hiệu hoá hoạt động của bọn gián điệp, đẩy lùi các chiến dịch phá hoại tư tưởng và truyền bá đa nguyên đa đảng; vô hiệu hoá, đẩy lùi và đập tan các chiến dịch phá hoại khủng bố; ngăn chặn âm mưu thành lập các tổ chức, đảng phái chính trị đối lập từ bên ngoài để phát triển ồ trong nước; đẩy lùi các chiến dịch lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tôn giáo và dân tộc, kích động biểu tình, tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ Việt Nam trên diễn đàn quốc tế.


Mặc dù các thế lực thù địch ráo riết tấn công ta từ nhiều phía, nhiều chiều, trên mọi lĩnh vực và vô cùng tinh vi nhưng an ninh chính trị những năm qua vẫn được giữ vững, giữ ổn định. Sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá hiện đại hoá không ngừng phát triển; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được đề cao. Việt Nam đang là điểm đến tin cậy cho các hội nghị lớn của quốc tế và khu vực, là địa chỉ đầu tư an toàn, có hiệu quả và nhiều tiềm năng. Có thể khẳng định: trên trận tuyến đấu tranh chống gián điệp thời kỳ đổi mới, chúng ta đã giành được thành tựu có ý nghĩa lịch sử, đóng góp quan trọng cho quá trình triển khai thắng lợi các chương trình phát triển kinh tế, xã hội; ổn định chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân để huy động các nguồn lực cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng thời tạo điều kiện cần thiết thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, đàm phán song phương và đa phương trên chính trường quốc tế cũng như thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, giành thắng lợi ngày càng to lớn.


Đạt được thành tựu trên, một trong những vấn đề cốt lõi có tính cơ bản là lực lượng An ninh đã sớm xác định cuộc đấu tranh chống gián điệp mang tính thời đại, nắm rõ "đối tượng, đối tác". Việc xác định có tính nguyên tắc về đối tượng đấu tranh đã giúp cho lực lượng An ninh chủ động triển khai các biện pháp nghiệp vụ sắc bén, làm rõ tội phạm đồng thời tiến hành các biện pháp xử lý tội phạm sáng tạo, vừa đảm bảo an ninh chính trị, vừa đáp ứng yêu cầu hợp tác đầu tư, sản xuất kinh doanh và hội nhập quốc tế. Hướng đấu tranh và biện pháp xử lý đối tượng được thể hiện ở những cấp độ khác nhau: “Vô hiệu hoá - đẩy lùi - đập tan" đối với các hoạt động gây nổ, khủng bố; “bao vây - vô hiệu hoá - kiềm toả - trục xuất” đối với các nhân viên tình báo gián điệp vào nước ta dưới các vỏ bọc khác nhau; “vô hiệu hoá - kiềm toả - quản lý đặc biệt - bắt thả nhiều lần” đối với những đối tượng bất mãn, quá khích, cơ hội chính trị có thân phận được dư luận quan tâm, cố tình làm tay sai cho gián điệp hoặc tiếp tay cho các thế lực thù địch lợi dụng... Đối sách trên khắng định trong giai đoạn lịch sử đương đại, lực lượng An ninh không chỉ quán triệt nghiêm túc, tuân thủ nghiêm ngặt đường lối chiến lược, sách lược của Đảng mà còn thực hiện sáng tạo quan điểm “nghiệp vụ phục vụ chính trị".


Những năm gần đây, các thế lực thù địch ráo riết tiến hành các chiến dịch chống phá sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Chúng không chỉ tổ chức hoạt động gián điệp như các giai đoạn lịch sử trước mà đã phát triển với quy mô lớn, đa dạng, tổng hợp nhiều biện pháp, lợi dụng mọi điều kiện, vừa bí mật vừa công khai nhằm thu thập tin tình báo, tác động tinh thần, kích động chống đối, gây bạo loạn, khủng bố,... Rõ ràng âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch ngày càng nguy hiểm và thâm độc. Xu hướng lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, an ninh nông thôn; lợi dụng những kẻ cơ hội chính trị, bất mãn, quá khích có nhân thân được dư luận quan tâm để kích động chống phá ta ngày càng gia tăng, có sự chỉ đạo chặt chẽ và công khai hơn. Một số lĩnh vực đã hình thành liên minh giữa thế lực bên ngoài với bọn bên trong. Vì vậy đấu tranh chống gián điệp, chống lại âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch phải được xem như là mặt trận đấu tranh tổng hợp, kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với xây dựng một xã hội với tiêu chí “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Do đó, một lần nữa cần nhấn mạnh: đấu tranh chống gián điệp tất yếu phải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đảng hoạch định đường lối đấu tranh, Đảng tổ chức lực lượng đấu tranh, trong đó lực lượng tại chỗ, cơ bản và quan trọng nhất là các tầng lớp nhân dân. An ninh nhân dân là lực lượng nòng cốt vừa có vai trò hướng dẫn về nghiệp vụ vừa trực tiếp tổ chức đấu tranh.


Thực tiễn đấu tranh hơn nửa thế kỷ qua và thực tiễn sinh động đang diễn ra của giai đoạn lịch sử mới, chúng ta khẳng định rằng nhiệm vụ cao cả của trận tuyến đấu tranh chống gián điệp là nhằm bảo vệ đường lối của Đảng và tổ chức Đảng; bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vệ nhân dân trên con đường cách mạng, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, đấu tranh chống gián điệp phải nắm vững đường lối của Đảng, nhạy bén về chính trị; sáng tạo trong đối sách với từng phương thức gián điệp, phục vụ đắc lực chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Bài học lịch sử này vừa là phương pháp nhận thức, vừa là nguyên tắc công tác, vừa là mục đích hành động trong đấu tranh chống gián điệp ở mọi giai đoạn lịch sử của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3901



WWW
« Trả lời #43 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2021, 09:39:28 pm »

BÀI HỌC THỨ HAI
VẬN ĐỘNG, TỔ CHỨC TOÀN DÂN PHÒNG CHỐNG GIÁN ĐIỆP, PHÁT HUY VAI TRÒ TO LỚN CỦA NHÂN DÂN LÀ THỂ HIỆN SINH ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG TIẾN CÔNG, MANG ĐẶC THÙ VIỆT NAM


Mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt Nam đã vượt qua mọi thử thách của thiên nhiên và chiến thắng các thế lực ngoại xâm để xây dựng đất nước, bảo vệ quyền độc lập tự do cho dân tộc. Qua từng chặng đường lịch sử, dân tộc ta đã xây dựng và bồi đắp truyền thống rất đáng tự hào bằng những phẩm chất quý báu được bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự trọng, tự hào dân tộc; là tinh thần đoàn kết, gắn bó keo sơn theo nghĩa “đồng bào” trong đại gia đình dân tộc Việt Nam; là quan hệ thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong cộng đồng, làng xã theo nghĩa “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”; là biết đặt quyền lợi của cộng đồng, của quốc gia dân tộc lên trên quyền lợi của bản thân theo nghĩa “có làng có nước".


Nhìn lại những trang sử vẻ vang mấy ngàn năm qua thấy rõ ông cha ta đã biết khơi dậy, bồi đắp và làm giàu thêm truyền thống quý báu, dẫn dắt cả dân tộc kết lại một khối, thành sức mạnh vô địch trước họa ngoại xâm, chiến thắng những đội quân xâm lược hùng mạnh nhất đương thời, xây dựng một quốc gia độc lập với nền văn hoá đậm đà bản sắc Việt Nam. Truyền thống đó được phát huy cao độ từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo cả dân tộc làm cách mạng theo con đường cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.


Để lãnh đạo dân tộc đi đến thắng lợi, Đảng luôn xác định: Đảng là con đẻ trong phong trào cách mạng của nhân dân, Đảng dựa vào dân, không ngừng phát huy những phẩm chất cao đẹp của nhân dân để lãnh đạo, tổ chức cả nước làm cách mạng và bảo vệ cách mạng. Trong các văn kiện cũng như quá trình lãnh đạo thực tiễn, Đảng xác định rõ: Vấn đề quần chúng trong cách mạng là vấn đề chiến lược và kiên trì quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng". Đảng dựa vào dân, tổ chức nhân dân thành lực lượng cách mạng. Lực lượng cách mạng ấy dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành sức mạnh tổng hợp của quá khứ, của hiện tại, của khát vọng để vượt qua mọi thử thách, trở thành lực lượng vô địch, hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình.


Hơn nửa thế kỷ phấn đấu vì lý tưởng cộng sản, Đảng ta lãnh đạo một đất nước tuy đất không rộng, người không đông, nhưng đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày nay Đảng tiếp tục lãnh đạo toàn dân, toàn quân đánh bại âm mưu, hoạt động của bọn phản động quốc tế cũng như các thế lực thù địch để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thế giới hội nhập.


Thành quả cách mạng vĩ đại đó là minh chứng cho sức mạnh bách chiến bách thắng của cuộc chiến tranh nhân dân khi đất nước có chiến tranh “càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng"; minh chứng cho sức mạnh vô địch của tinh thần đại đoàn kết toàn dân qua các chặng đường cách mạng “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công đại thành công". Vai trò của nhân dân trong thời kỳ đất nước có chiến tranh hay khi đất nước đã hoà bình đều là biểu hiện sinh động của tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng; tinh thần đại đoàn kết theo nghĩa đồng chí, đồng bào; phát huy sáng kiến, quy tụ được sức sáng tạo của cộng đồng, khai thác tiềm năng của thiên nhiên và con người thành hoạt động phong phú và đa dạng để đánh địch cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam thấy rõ nêu tổ chức được nhân dân tham gia tích cực vào công tác cách mạng, với sức sáng tạo của nhân dân, công tác cách mạng diễn ra muôn hình muôn vẻ về nội dung và đa dạng về hình thức, mang những đặc thù riêng của Việt Nam. Đặc thù đó được kết tinh thành tinh thần đại đoàn kết toàn dân, cả nước làm cách mạng. Bằng trí tuệ của hàng triệu người, cuộc chiến tranh nhân dân diễn ra với sự sáng tạo phong phú của mọi tầng, mọi giới, ở mọi vùng miền, thành sức mạnh Việt Nam. Sức mạnh ấy không chỉ là sức mạnh vật chất mà còn là tinh thần, trở thành sức mạnh bách chiến bách thắng đối với mọi kẻ thù, kể cả những đội quân xâm lược hùng mạnh nhất đương thời. Khi đất nước đã hoà bình, sức mạnh ấy được phát huy trong sản xuất kinh doanh để tạo ra của cải, nâng cao đời sống vật chất, đời sống tinh thần cho gia đình mình và cho toàn xã hội. Trên mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, kể cả trong quản lý xã hội, từ các tầng lớp trong cộng đồng đã xuất hiện muôn vàn sáng kiến, cải tiến, làm tiền đề gợi mở, giúp Đảng và Nhà nước đề ra những chủ trương, chính sách mới, thúc đẩy xã hội tiến nhanh hơn, sát với thực tiễn cuộc sống hơn.


Cũng từ trong bối cảnh lịch sử mới, các tầng lớp trong cộng đồng đã không ngừng phát huy sáng tạo, thành lập ra các tổ chức “tự nguyện” gắn kết các hộ trong phường, xóm, dòng họ, nghề nghiệp, vừa hỗ trợ trong sản xuất kinh doanh, đùm bọc lẫn nhau, bảo vệ an ninh trật tự, chống lại mọi âm mưu và thủ đoạn phá hoại thành quả lao động, phá hoại cuộc sống của cộng đồng. Đó là những hình thái mới của việc phát huy vai trò quần chúng nhân dân vào công tác cách mạng nói chung, công tác đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ an ninh Tổ quốc nói riêng.


Trận tuyến đấu tranh chống gián điệp là bộ phận trọng yếu của công cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, là bộ phận không tách rời của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và cũng là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng nhân dân thực hiện. Đảng ta xác định: An ninh quốc gia là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của toàn Đảng, toàn dân với nhận thức “Bảo vệ cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Vai trò của quần chúng đối với công tác công an được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ ngay từ năm 1951, khi nói chuyện với lớp Công an Trung cấp khoá II: "Công an có bao nhiêu người? Dù có vài ba nghìn hay năm bảy vạn đi nữa thì lực lượng ấy vẫn còn ít lắm bên cạnh lực lượng nhân dân. Năm vạn người chỉ có năm vạn cặp mắt, năm vạn đôi bàn tay. Phải làm sao có hàng chục triệu đôi bàn tay, hàng chục triệu cặp mắt và đôi tai mới được. Muốn như vậy phải dựa vào dân, không được xa rời dân. Nếu không thế thì sẽ thất bại. Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”. Lời dạy của Người, quan điểm của Đảng ta về vai trò của nhân dân vừa là nguyên tắc vừa là biện pháp vận động, tổ chức quần chúng tham gia vào công tác đảm bảo an ninh trật tự. Vì vậy, tổ chức toàn dân tham gia phòng chống gián điệp không chỉ là đòi hỏi khách quan của lịch sử; kinh nghiệm rút ra từ lịch sử mà còn là quán triệt nghiêm túc, thực hiện sáng tạo quan điểm, chỉ đạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu về vai trò của nhân dân trong công tác công an nói chung, công tác đấu tranh chống gián điệp nói riêng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3901



WWW
« Trả lời #44 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2021, 12:19:33 pm »

Vấn đề là ở chỗ cơ quan chuyên môn tổ chức, hướng dẫn như thế nào để phát huy được tinh thần yêu nước và ý thức cảnh giác cách mạng của nhân dân trong mỗi giai đoạn lịch sử; hình thức tiến hành ra sao để tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân trở thành hoạt động thực tiễn của cộng đồng, thành thế trận đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh với từng phương thức hoạt động của gián điệp ở từng vùng miền, từng địa bàn khác nhau.


Chúng ta nhận thức rõ ràng trận tuyến đấu tranh chống gián điệp là cuộc đấu tranh đặc biệt, có những đặc thù riêng. Đối phương sử dụng các phương thức hoạt động khác nhau như: Gián điệp cài cắm, gián điệp cài lại, gián điệp biệt kích, nội gián, gián điệp con thoi, gián điệp lâm thời, thường trú, gián điệp đôi, gián điệp trá hàng, gián điệp là con buôn lậu,... Mỗi phương thức hoạt động của gián điệp đều có cách thức, thủ đoạn khác nhau vì vậy phải có đối sách, chiến thuật phòng ngừa và đánh địch khác nhau. Hơn nửa thế kỷ qua, dù khi đất nước có chiến tranh hay khi đất nước đã hoà bình, để đánh bại âm mưu và hoạt động của gián điệp, Đảng ta chủ trương “phòng và chống”. Chủ trương của Đảng được bắt nguồn từ thực tiễn sinh động trong quá trình lãnh đạo cách mạng với nhận thức: địa bàn chiến lược là địa bàn xã, phường; lực lượng cơ bản là lực lượng tại chỗ; lực lượng ấy chính là tổ chức các tầng lớp nhân dân thành thế trận để “bịt tai che mắt kẻ thù”. Lực lượng nòng cốt chống gián điệp giữ vai trò là cơ quan hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn cho quần chúng phòng ngừa và là lực lượng tổ chức đánh địch. Khi bàn về vấn đề này, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã chỉ rõ những nguyên tắc, cách thức và quan hệ biện chứng giữa “phòng" và “chống” gián điệp. Tư tưởng chỉ đạo của “phòng và chống” là cốt lõi của nội dung và mục đích giữa yêu cầu phát huy tính tích cực của quần chúng với nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn; là hình thái của thế trận đánh địch mang đậm bản sắc Việt Nam khi vận dụng quan điểm của Đảng về vai trò của nhân dân trong phòng chống gián điệp.


Chúng ta cũng biết rằng, quy luật hoạt động chung của gián điệp là khi thâm nhập vào mục tiêu chúng đều phải tạo vỏ bọc, phải trà trộn vào cộng đồng, phải móc nối cơ sở mới có điều kiện để tổ chức hoạt động. Vì vậy, công tác “phòng" là bằng những hoạt động cụ thể của mỗi người trong cộng đồng, tạo ra những yếu tố khách quan, làm cho gián điệp không thể thâm nhập vào mục tiêu; nếu đã thâm nhập thì ngăn chặn, không cho chúng trà trộn vào cộng đồng, không để chúng móc nối cơ sở, không để chúng tổ chức hoạt động. “Phòng” còn là thông qua những hành động cụ thể mang tính chất phố quát, công khai, tạo ra áp lực chính trị và tinh thần, làm cho điệp viên của đối phương suy giảm ý chí. “Phòng” còn giúp cho chúng ta phát hiện được người và sự việc nghi vấn, tạo điều kiện, mở hướng cho cơ quan chuyên môn tổ chức đánh địch có hiệu quả hơn.


Bởi vậy, “phòng" và “chống” là hai mặt không thể tách rời. Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã kết luận tại Chỉ thị số 75/CT- VP4: “Phòng và chống là hai mặt gắn bó không thể tách rời; ở đâu và lúc nào cũng phải tích cực phòng; ở đâu và lúc nào thấy địch cũng phải tích cực chống. Muốn phòng và chống tốt thì phải dựa vào phong trào bảo vệ trị an vững chắc". Phải hiểu rằng “tích cực” không chỉ là chủ động mà thể hiện rõ tư tưởng tiến công. Phòng là để tích cực đánh địch; chống là để chủ động phòng ngừa. Muốn phòng và chống có hiệu quả, chỉ có thể là một quá trình vận động quần chúng, phát huy tính tích cực và cảnh giác cách mạng của quần chúng với sự hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn. Quá trình ấy diễn ra liên tục lâu dài và được cụ thể hoá bằng những nội dung thích hợp đối với từng vùng, miền; đối với từng phương thức hoạt động của gián điệp và trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Tức là công tác phòng ngừa phải “có bề rộng và có chiều sâu”. Nội dung trên là cụ thể hoá quan điểm: “Vận động, tổ chức toàn dân phòng, chống gián điệp, phát huy vai trò to lớn của nhân dân là thể hiện sinh động và sáng tạo tư tưởng tiến công, mang đặc thù Việt Nam”.


Nhìn lại hơn nửa thế kỷ đấu tranh chống gián điệp, từ những diễn biến lịch sử qua từng giai đoạn, có thể khẳng định cơ quan An ninh đã khẳng định xuất sắc vai trò là cơ quan chuyên môn nòng cốt, tổ chức toàn dân phòng, chống gián điệp theo nội dung đã nêu trên. Chúng ta điểm lại những hình thức và nội dung vận động, tổ chức toàn dân phòng chống gián điệp qua mỗi giai đoạn lịch sử để thấy rõ vai trò của quần chúng, vai trò của cơ quan chuyên môn trên lĩnh vực này:

Thời kỳ kháng chiến chống pháp, ngay từ năm 1947, quân đội viễn chinh Pháp lần lượt chiếm đóng các thành phố, thị xã và mở rộng cuộc chiến tranh ra vùng nông thôn, xây dựng ngụy quyền; đồng thời chúng phát triển mạnh mạng lưới gián điệp, chỉ điểm ra vùng tự do và căn cứ địa kháng chiến. Đối phó với âm mưu của giặc, tháng 5-1947, Nha Công an Trung ương mở Hội nghị lần thứ nhất, ra Nghị quyết và chỉ đạo toàn lực lượng thực hiện: “Phải tổ chức nhân dân tập trung vào sản xuất, giúp đỡ nhân dân bảo vệ đê điều, mùa màng, tiễu phỉ, trừ gian, phải nắm tình hình, kiểm soát nội bộ, xây dựng tổ chức Công an gần dân hơn và phù hợp với tình hình thời chiến”. Thực hiện chỉ đạo của Nha, Công an các khu, tỉnh ở Bắc Bộ và Trung Bộ từng bước vận động quần chúng thực hiện phong trào “phòng gian bảo mật” và được cụ thể hoá bằng nội dung “3 không” (không nghe, không biết, không thấy) để giữ bí mật. Giai đoạn sau, phong trào tiếp tục phát triển thành khẩu hiệu hành động “Không làm việc cho địch, không bán lương thực cho địch, không chỉ đường cho địch". Những nội dung trên cụ thể, dễ hiểu, dễ làm theo; phù hợp với trình độ nhận thức của đồng bào ta thời kỳ này và đặc biệt là nó hữu ích cho cuộc sống của đồng bào. Nhờ vậy nên đồng bào nhiệt tình tham gia, đã giúp cho công tác giữ bí mật được thực hiện tốt ngay từ địa bàn dân cư. Tuy nội dung hành động của phong trào đơn giản nhưng lại có giá trị thực tiễn cao, như những khẩu hiệu hành động và tính xã hội sâu sắc.


Đối với chiến trường Nam Bộ, cuộc vận động thành lập các “Ngũ gia liên bảo” được sở Công an Nam Bộ hướng dẫn bằng Chỉ thị số 55/QĐ5, ngày 6-7-1949: “Nhằm xây dựng khối đoàn kết nhân dân, nâng cao cảnh giác để phòng gian, trừ gian. Mỗi “Ngủ gia liên bảo” gồm 5 gia đình hợp lại, đoàn kết, tự kiểm soát lẫn nhau, do một người đứng đầu. Mỗi làng chia thành nhiều ấp, mỗi ấp chia làm nhiều xóm, mỗi xóm chia làm nhiều “ngủ gia liên bảo”, có nhiệm vụ lập danh sách các gia đình nộp cho Công an làng; phối hợp với trưởng Công an làng trong việc phòng gian và trừ gian”. Tuỳ theo địa bàn dân cư, nhiều địa phương còn phát triển quy mô lớn hơn, thành lập “Thập gia liên bảo”. “Ngủ gia liên bảo”, “Thập gia liên bảo” là tổ chức tự nguyện của quần chúng dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của Công an làng, thực hiện quy ước chung được cụ thể hoá bằng 12 điều bất hợp tác với địch. Sự liên kết chặt chẽ trong từng cộng đồng dân cư, cùng thống nhất mục đích và hành động tự nguyện đã tạo ra mặt trận vô hình không chỉ có tác dụng phá chính sách “dùng người Việt trị người Việt” của địch, bảo vệ gia đình mình, xóm làng mình mà còn tạo ra áp lực đối với bọn gián điệp, Việt gian chỉ điểm. Với sự hướng dẫn của lực lượng Công an, nội dung của các phong trào ngày càng mang đậm tính chất chuyên môn kỹ năng phòng ngừa, sát với thực tiễn và đi vào cuộc sống hàng ngày của mọi tầng lớp nhân dân. Mỗi vùng, miền, trong những điều kiện cụ thể của chiến trường thì nội dung phong trào có những nét đặc trưng riêng. Vùng tự do và căn cứ địa của kháng chiến, phong trào tập trung vào nội dung chống do thám, giữ gìn bí mật, bảo vệ cơ quan kháng chiến. Vùng địch kiểm soát, nội dung tập trung vào bất hợp tác với địch, bảo vệ xóm làng, không cho địch xâm nhập, phát hiện gián điệp, chỉ điểm, bảo vệ cơ sở cách mạng. Cao hơn là tổ chức đấu tranh hợp pháp chống địch càn quét đốt phá hoặc vũ trang diệt ác phá kềm để thành lập Công an làng, xã.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3901



WWW
« Trả lời #45 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2021, 07:50:54 pm »

Có thể nói, phong trào “phòng gian bảo mật” trong thời kỳ kháng chiến chống pháp đã thể hiện sắc thái riêng biệt và mang tính chất đặc trưng của một quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp, trồng lúa nước với 95% dân số là nông dân và nền văn hoá làng xã. Đảng ta đã phát huy được lòng yêu nước nồng nàn, khối đoàn kết toàn dân, tính cộng đồng, truyền thống tốt đẹp của cha ông trong bối cảnh lịch sử mới. Khi nội dung của phong trào sinh ra từ cuộc sống, gắn liền với cuộc sống, đem lại lợi ích thiết thực cho từng nhà thì nó tự nhiên và từng bước nâng cao nhận thức chính trị, nâng cao ý thức cảnh giác của mỗi người cũng như cả cộng đồng. Hình thức và nội dung đó không chỉ đáp ứng nguyện vọng của người dân, phục vụ cho chính cuộc sống của nhân dân mà quan trọng hơn là đáp ứng yêu cầu giữ gìn bí mật cho kháng chiến. Đây là vũ khí lợi hại nhất, là đòn cân não đối với bọn gián điệp chỉ điểm vì chúng đơn độc đối phó với cả một cộng đồng người. Chúng không chỉ dễ dàng bị lột mặt nạ khi hoạt động mà còn luôn luôn bị áp lực trước con mắt dò xét của quần chúng nếu chưa bị lột mặt nạ. Tình hình đó diễn ra liên tục, đan xen, thấm thấu trong cuộc sống đời thường của mỗi cá nhân ở cộng đồng dù sinh sống ở vùng địch kiểm soát hay vùng tự do và căn cứ địa cách mạng. Vì vậy, phong trào “phòng gian bảo mật” sinh ra từ cuộc sống và rồi tự thân nó lại đi vào cuộc sống, tồn tại trong cuộc sống của nhân dân hàng ngày hàng giờ nên phát huy được ý thức cảnh giác và trách nhiệm công dân, tạo ra thế trận phòng ngừa, bao vây, cô lập kẻ địch một cách bền vững.


Thời kỳ cả dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, việc vận động quần chúng đã có sự phát triển mới với hình thức đa dạng và phong phú hơn, nội dung thiết thực và đi vào chiều sâu hơn thời kỳ kháng chiến chống pháp. Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, tháng 8-1955, Đảng ta đã chỉ rõ “phải kết hợp với phát động quần chúng cải cách ruộng đất mà kết hợp trấn áp phản cách mạng, nâng cao cảnh giác cho quần chúng để quần chúng giúp đỡ đắc lực cho công tác bảo vệ trị an và phòng gian bảo mật. Ở vùng rừng núi phải quét sạch thổ phỉ, biệt kích“; "phương châm trấn áp phản cách mạng là đi đúng đường lối quần chúng". Từ cuối năm 1959, ở miền Bắc đã phát triển rộng rãi phong trào quần chúng “bảo vệ trị an" và tiếp tục duy trì hình thức hoạt động của phong trào “phòng gian bảo mật” của thời kỳ kháng chiến trong cơ quan đơn vị, lực lượng vũ trang. Ngày 13-11-1961, Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 32/CT-TW, xác định phong trào bảo vệ trị an “là hình thức tốt nhất để phát huy tính tích cực của quần chúng trong công tác đấu tranh chống kẻ địch, giữ gìn an ninh chung” và phát động phong trào thi đua với xã Yên Phong, thực hiện 7 chỉ tiêu bảo vệ trị an, trong đó 2 chỉ tiêu đầu tiên là “theo dõi, phát hiện âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp, biệt kích và bọn phá hoại khác; đấu tranh chống luận điệu phản tuyên truyền”. Tháng 3-1962, Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 40/CT- TW về mở cuộc vận động Phong trào “bảo mật phòng gian" trong các cơ quan đơn vị và lực lượng vũ trang. Chỉ thị số 40 nhấn mạnh 7 nội dung của phong trào, chỉ rõ yêu cầu hướng dẫn cơ quan đơn vị và quần chúng chú trọng làm tốt các công tác sau: công tác bảo vệ nội bộ, bảo vệ cơ quan, bảo vệ tài liệu bí mật, thuần khiết nội bộ, cải tạo những phần tử nguy hại cho an ninh xã hội, thành lập đội ngũ bảo vệ cơ quan chuyên trách. Những nội dung trên bản chất là ngăn chặn bọn gián điệp, Việt gian xâm nhập vào nội bộ ta, thuần khiết nội bộ và thường xuyên kiểm soát nội bộ, đảm bảo cho các cơ quan đơn vị luôn trong sạch.


Với vai trò là cơ quan chuyên môn hướng dẫn nghiệp vụ, lực lượng An ninh đã tiến hành công tác điều tra địa bàn, nắm chắc tình hình tội phạm hiện hành, mục tiêu trọng điểm, đặc điểm dân cư để xây dựng nội dung thích hợp với yêu cầu phòng, chống gián điệp và bọn phản cách mạng: Đối với địa bàn có nhiều cơ quan thường trú, lâm thời và mục tiêu trọng điểm, nội dung vận động quần chúng là giáo dục, tổ chức nhân dân thành lập mạng lưới giám sát mục tiêu, phát hiện người và sự việc nghi vấn; bao vây, giám sát các trụ sở cố định và lâm thời, theo dõi sự di chuyển của nhân viên cơ quan này. Đối với địa bàn xung yếu, có nhiều tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền và đảng phái phản động, ta phát động quần chúng tố giác tội phạm, vận động quần chúng tham gia vào công tác khoanh vùng trấn phản, công tác cải tạo tại chỗ và tập trung cải tạo những phần tử nguy hại cho an ninh xã hội. Đối với vùng núi hiểm trở, là địa bàn Mỹ, ngụy tung gián điệp biệt kích bằng đường không, ta tiến hành công tác khoanh vùng trấn phản; kết hợp công tác tiễu phỉ với truy lùng GCMA cài lại; giáo dục ý thức cảnh giác cho đồng bào, hướng dẫn cách thức nhận diện kẻ gian, phát hiện dấu vết khả nghi; giáo dục cá biệt đối với những gia đình có con em vào Nam; xây dựng các phương án truy lùng biệt kích xâm nhập bằng đường không trong các điều kiện thời tiết khác nhau, truy lùng ban ngày, truy lùng ban đêm, khi có trăng và không có trăng; hướng dẫn phương pháp truyền tin, ám tín hiệu khi truy lùng;... và tổ chức tập dượt theo những phương án đã định sẵn. Đối với vùng duyên hải, giới tuyến và biên giới, ta củng cố lực lượng dân quân du kích, tổ chức tuần tra canh phòng và xây dựng các phương án đánh đuổi biệt hải, đánh đuổi biệt kích “thậm thụt qua biên giới"; giáo dục và hướng dẫn cho nhân dân những nội dung cần bảo mật, nội dung khai báo hoặc đánh lạc hướng địch khi ra khơi bị chúng bắt khai thác. Đối với bà con ngư dân làm nghề đánh bắt xa bờ, trinh sát địa bàn phối hợp với chính quyền địa phương biên chế bà con thành từng đơn vị mang tính chất vũ trang, trang bị vũ khí để đánh đuổi biệt hải khi chúng bao vây bắt cóc.


Do có sự hướng dẫn nghiệp vụ tỉ mỉ, tập dượt thành thục nên quần chúng tham gia tích cực, có hiệu quả trong quá trình phòng ngừa cũng như đấu tranh ngay tại địa bàn cơ sở. Vai trò của quần chúng được thể hiện rõ nét nhất qua thắng lợi to lớn trong chiến dịch phản gián C30; hơn 10 năm triển khai thắng lợi kế hoạch M1, M2 và hơn 10 năm đánh bại cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích. Đặc biệt là số gián điệp vượt giới tuyến, hầu như quần chúng nhân dân đều phát hiện, giúp đỡ để lực lượng An ninh đón bắt tại địa phận Vĩnh Linh, Quảng Bình; rất ít đối tượng vượt khỏi địa phận các tỉnh Khu IV cũ. Quá trình đấu tranh với đối tượng X70, X77, đều có sự đóng góp hết sức quan trọng của các tầng lớp nhân dân ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Kết quả trong phòng, chống gián điệp giai đoạn này là biểu hiện sinh động, hiện thực hoá quan điểm chỉ đạo, biện pháp tổ chức lực lượng của Đảng ta cũng như vai trò của lực lượng An ninh trong quá trình dẫn dắt quần chúng và hướng dẫn nghiệp vụ cho quần chúng. Đây là một trong những khâu công tác được hình thành sớm, có vai trò quan trọng trong 8 khâu công tác nghiệp vụ của Công an.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3901



WWW
« Trả lời #46 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2021, 07:57:52 pm »

Ở miền Nam, ngày 30-5-1962, Trung ương Cục ra Chỉ thị số 16/CT/R, phát động phong trào “phòng gian bảo mật" và xác định: “Mỗi đơn vị phải học tập, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch... nâng cao ý thức cảnh giác để cho mọi người nhận rõ trách nhiệm của mình trong việc phòng gian bảo mật,... Mỗi cơ quan đơn vị phải tổ chức một bộ phận bảo vệ cơ quan, đơn vị theo nguyên tắc: thủ trưởng chịu trách nhiệm, chi bộ thực hành, chuyên môn hướng dẫn. Đồng chí Bí thư chi bộ trực tiếp phụ trách công tác phòng gian bảo mật cơ quan”. Đến năm 1972, Trung ương Cục ra Nghị quyết 165/TV/KBN và quyết định: Mặt trận toàn dân làm công tác an ninh, hình thành hai phong trào “toàn dân làm công tác an ninh” và phong trào “phòng gian bảo mật”. Nghị quyết nêu: “Phát động toàn dân phòng gian bảo mật, đánh bại âm mưu, hoạt động của gián điệp và phản cách mạng để giành quyền làm chủ và bảo vệ nhân dân, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ Đảng. Ngành An ninh hướng dẫn nội dung và tổ chức quần chúng tham gia vào công tác đấu tranh chống gián điệp, chỉ điểm”. Đối với phong trào “phòng gian bảo mật”, Nghị quyết nêu: “Phát động toàn thể cán bộ, nhân viên, chiến sĩ chủ động phòng ngừa và đánh địch, tích cực bảo vệ nội bộ, bảo vệ cơ quan, đơn vị theo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, Ban lãnh đạo cơ quan và Ban chỉ huy đơn vị phụ trách, toàn thể cán bộ chiến sĩ thực hiện, ngành An ninh hướng dẫn chuyên môn". Bước phát triển mới của phong trào quần chúng trong thời kỳ chống Mỹ là từ một phong trào đã tách thành hai phong trào với hình thức, nội dung khác nhau nhưng rành mạch, cùng hợp thành mục tiêu chung là xây dựng thế trận rộng khắp trong phòng ngừa và đánh địch; kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ lực lượng kháng chiến, bảo vệ căn cứ địa và vùng giải phóng với trừng trị gián điệp, chỉ điểm, phá chính quyền cơ sở của địch. Xác định dứt khoát vai trò lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của tổ chức đảng cơ sở; vai trò hướng dẫn nghiệp vụ của lực lượng An ninh.


Ta biết rằng trong quá trình tiến hành chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ áp dụng 4 chiến lược khác nhau nhưng xuyên suốt, cơ bản nhất của 4 chiến lược là vấn đề hạ tầng cơ sở, là nắm cho được nông thôn. Sau Hiệp định Pari, Mỹ, ngụy đều xác định mục tiêu cuối cùng và quyết định nhất là nắm cho được ấp xã, giải quyết vấn đề ấp xã là giải quyết chiến tranh. Trong khi đó phong trào “nhân dân làm công tác an ninh là đánh thắng vào bọn gián điệp, chỉ điểm, đánh thẳng vào hệ thống chính quyền ở cấp cơ sở của địch. Phong trào “phòng gian bao mật" là nhằm ngăn chặn mọi hoạt động của bọn gián điệp chỉ điểm, bảo vệ nội bộ ta trước sức tấn công từ nhiều phía, vô cùng thâm độc của kẻ thù. Quá trình phát triển của hai phong trào là quá trình xây dựng thế trận hoàn chỉnh bảo vệ ta và tấn công kẻ thù. Với ý nghĩa đó, phát huy vai trò quần chúng, sử dụng lực lượng quần chúng ở chiến trường miền Nam chính là diệt ác, phá kềm, phá chính quyền cơ sở của địch, dẫn đến phá âm mưu chiến lược của Mỹ, ngụy.


Quần chúng nhân dân tham gia phong trào với tinh thần yêu nước, căm thù giặc, tự thân đã có sức mạnh mãnh liệt lại được hướng dẫn cụ thể về nội dung nên đồng bào tự tin đứng lên đấu tranh với muôn vàn hình thức khác nhau và trở thành lực lượng nòng cốt phá kềm, trừng trị bọn gián điệp, chỉ điểm. Đặc biệt là thông qua vai trò của quần chúng, lực lượng An ninh cơ sở đã tổ chức trấn áp mạnh bọn phản cách mạng, không chỉ đảm bảo an ninh vùng giải phóng và căn cứ địa mà còn tạo ra vùng đệm (vành đai diệt Mỹ, ngụy), giúp cho công tác bảo vệ cơ quan, căn cứ cách mạng, các đồng chí lãnh đạo của kháng chiến được an toàn. Quần chúng không chỉ chở che, đùm bọc cán bộ An ninh mà còn phát huy tốt vai trò là tai mắt, giúp lực lượng An ninh trừng trị bọn ác ôn đầu sỏ, xây dựng hệ thống an ninh cấp xã, ấp và phá chính quyền địch, biến chính quyền của địch thành chính quyền của ta hoặc “đêm ta ngày địch”. Nhờ triển khai rộng khắp, tổ chức chặt chẽ, nội dung phong phú nên phong trao toàn dân làm công tác an ninh" đã hỗ trơ đắc lực cho phong trào "bảo vệ cơ quan" hoạt động có hiệu quả, góp phần bảo vệ an toàn các cơ quan của Bộ chỉ huy kháng chiến, các cơ quan đầu não, các đồng chí lãnh đạo cao cấp của mặt trận; làm giảm thiểu hoạt động của biệt kích xâm nhập vào căn cứ địa, giảm thiểu đầu mối nội gián cài vào nội bộ ta. Kết quả của công tác này giữ vai trò hết sức quan trọng đối với nhiệm vụ phá âm mưu chiến lược của Mỹ, ngụy là xây dựng ngụy quân, ngụy quyền, nắm hạ tầng cơ sở ở miền Nam. Để các phong trào có hiệu quả thiết thực, lực lượng An ninh đã dày công hướng dẫn, đi sâu vào quần chúng, dẫn dắt quần chúng qua từng bước phát triển của phong trào, ở vùng giáp ranh, vùng tranh chấp, cán bộ chiến sỹ an ninh đã chấp nhận gian khổ, hy sinh đi đầu trong mọi hoạt động để quần chúng làm theo. Tại chiến trường miền Tây Nam Bộ, lực lượng An ninh đã cùng với đồng bào thành lập các “làng rừng” trong các cánh rừng U Minh Hạ, U Minh Thượng vừa để bảo tồn cuộc sống vừa đáp ứng yêu cầu bảo vệ các cơ quan kháng chiến và căn cứ địa. Có thể nói đây là hình thức sáng tạo độc đáo của lực lượng An ninh miền Tây trong việc tổ chức, hướng dẫn quần chúng tham gia đánh địch thời kỳ chống Mỹ cứu nước.


Thời kỳ nước nhà thống nhất, đặc biệt là từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta càng chú trọng vai trò của quần chúng. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV xác định “mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là vấn đề vô cùng hệ trọng, có quan hệ đến vận mệnh chính trị của Đảng ta và sự sống còn của cách mạng nước ta”. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ V tiếp tục xác định 4 quan điểm trong công tác vận động quần chúng của giai đoạn cách mạng mới là: “Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân. Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hoà lợi ích, thống nhất giữa quyền lợi và nghĩa vụ của công dân. Các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng. Công tác vận động quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể". Quan điểm của Đảng tại Đại hội V không chỉ có giá trị như sự kết tinh từ thực tiễn cách mạng mà còn có giá trị về lý luận, khoa học mang đậm bản sắc của dân tộc ta với tầm chiến lược.


Đối với ngành Công an, ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn thống nhất, lãnh đạo Bộ chủ trương chuyển hướng phong trào quần chúng cho phù hợp với bối cảnh lịch sử mới. Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 30 (tháng 12 năm 1975) đã thống nhất các phong trào quần chúng với tên gọi chung “Phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Năm 2004, Chính phủ ban hành nghị định, lấy ngày 19 tháng 8 là “Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc". Nét mới của phong trào là đã kết hợp chặt chẽ giữa công tác đấu tranh chống tội phạm nói chung, chống gián điệp nói riêng vào hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các lĩnh vực của đời sống xã hội. Một trong bốn nội dung cơ bản của phong trào là “làm giảm dần và từng bước loại trừ mọi hoạt động phản cách mạng và tội phạm khác ra khỏi đời sống xã hội”. Nội dung của phong trào giai đoạn này không chỉ phong phú, đa dạng mà còn mang tính xã hội cao và thiết thực đối với đời sống xã hội. Vì phong trào được sinh ra từ cuộc sống, đem lại lợi ích thiết thực cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình và cộng đồng nên quần chúng đã sáng kiến hình thành ra nhiều hình thức tổ chức tự quản như: “Xây dựng cụm dân cư an toàn về an ninh trật tự", “bình yên làng nghề", “dòng họ kiểu mẫu", “hội tự phòng”, “số nhà tự quản”, “tổ xung kích an ninh”, “hội đồng tự quản về an ninh”,... Những hình thức tổ chức tự nguyện, đa dạng trong đời sống xã hội của các tầng lớp nhân dân không chỉ mang ý nghĩa phòng ngừa tội phạm mà còn từng bước kiến tạo nền tảng cho sự liên kết chặt chẽ trong cộng đồng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3901



WWW
« Trả lời #47 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2021, 07:58:24 pm »

Nhờ có sự liên kết chặt chẽ kết hợp với hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn nên công tác “phòng và chống” tội phạm mang tính xã hội cao. Điểm lại những chuyên án gián điệp lớn đấu tranh ở giai đoạn này có thể thấy rõ không có chuyên án nào không có sự đóng góp đáng kể của nhân dân: Trong KHCM12, ngay khi toán gián điệp biệt kích đầu tiên xâm nhập vào huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, bà con phát hiện và báo cho cơ quan An ninh. Kể cả người cha của điệp viên khi thấy con mình trở về đã thuyết phục để đưa con đi đầu thú. Trong 7 năm triển khai KHCM12 và ĐN10, cán bộ chiến sĩ tham gia chuyên án được nhân dân giúp đỡ, cộng tác tận tình nên dù địa bàn đấu tranh rộng, đối tượng đông, thông tin liên lạc với Trung tâm chỉ huy của chúng ở nước ngoài rất thuận lợi nhưng ta vẫn đảm bảo được tuyệt đối bí mật cho toàn bộ kế hoạch cũng như bí mật cho từng trận đánh. Vừa đón bắt các toán xâm nhập, ta vừa trấn áp mạnh 10 tổ chức phản động trải dài từ địa bàn tỉnh Phú Khánh đến các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ đã móc nối với CM12, khám phá một số tổ chức gián điệp cài lại gồm hàng chục đối tượng cầm đầu nhưng vẫn giữ bí mật tuyệt đối cho KHCM12. Quá trình đấu tranh các chuyên án HM26, HM29, LH90, HC96, SB36, kéo dài hàng chục năm, cơ quan An ninh đều được quần chúng nhân dân giúp đỡ tận tình, nhất là đồng bào ở khu vực biên giới. Tin tức của quần chúng là một trong những nguồn làm căn cứ để xác lập chuyên án; và chính quần chúng ở biên giới là tai mắt quan trọng quản lý di biến động của số đối tượng xâm nhập về nước. Với sự giám sát của quần chúng ở biên giới cùng như quản lý di biến động của các đối tượng trong nội địa đã tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan An ninh chủ động triển khai các kế hoạch trinh sát, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, vô hiệu hoá hoặc đón bắt bọn xâm nhập, đập tan các kế hoạch chống phá của địch.


Vai trò của quần chúng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế còn được phát triển sang hình thức mới bằng việc lực lượng An ninh đã hướng dẫn đồng bào ta ở nước ngoài giúp cho công tác trinh sát ngoại biên “nắm địch từ xa, đánh địch từ căn cứ xuất phát". Để triển khai có hiệu quả biện pháp này, cơ quan An ninh đã chú trọng giáo dục, hướng dẫn những người có điều kiện đi ra nước ngoài công tác, học tập, làm ăn; bà con người Việt định cư ở nước ngoài; những người có điều kiện tiếp xúc với số đối tượng cần chú ý trong quá trình nhập cảnh vào nước ta để nắm tình hình. Nhờ những nguồn tin do quần chúng cung cấp nên cơ quan An ninh nắm được âm mưu và hoạt động của địch ngay từ trung tâm xuất phát; nắm được từng kế hoạch chống phá của chúng, chủ động triển khai phương án tác động “đẩy lùi, vô hiệu hoá” trước khi chúng tổ chức thực hiện. Những kế hoạch, những chiến dịch chúng đã triển khai thì ta chủ động xây dựng thế trận đón đợi và đập tan ngay từ khi bắt đầu thực hiện. Nhờ tiến hành các biện pháp “phòng, chống” có chiều sâu và từ xa nên những năm qua cơ quan An ninh đã vô hiệu hoá, đẩy lùi, đập tan hàng chục chiến dịch khủng bố có quy mô lớn và cực kỳ nguy hiểm của các thế lực thù địch nhưng không gây xáo động về chính trị, không ảnh hưởng đến yêu cầu mở cửa và hội nhập quốc tế.


Qua những chặng đường lịch sử đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng, chúng ta đều thấy rõ vai trò của quần chúng là hết sức to lớn. Quần chúng nhân dân đã đóng góp tích cực và có hiệu quả vào công tác “phòng” và “chống”, hình thành một nền an ninh nhân dân có bề rộng và có chiều sâu. Từ thực tiễn vận động, tổ chức toàn dân tham gia đấu tranh chống gián điệp, có thể rút ra những vấn đề căn bản có tính quyết định đến việc duy trì, phát triển vai trò của quần chúng trong lịch sử:    Thứ nhất: Công tác vận động, tổ chức quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh chống gián điệp phải đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ đảng. Chỉ có đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ đảng mới phát huy cao nhất tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng của nhân dân; mới huy động được các lực lượng, các tổ chức, các giai tầng xã hội tham gia và có sự phối hợp chặt chẽ thành thế trận phòng và chống.


Thứ hai: Muốn phát huy được hiệu quả vai trò quần chúng phải xác định cấp phường, xã là địa bàn giữ vai trò chiến lược; lực lượng quần chúng tại chỗ là lực lượng cơ bản. Khi mỗi phường, mỗi xã đều tổ chức tốt các phong trào, phát huy cao nhất tinh thần yêu nước và cảnh giác cách mạng của cộng đồng, sáng tạo ra các hình thức liên kết thì tự thân phong trào đã đi vào cuộc sống của cộng đồng, phù hợp với từng cộng đồng. Đây là yếu tố quyết định để phong trào quần chúng phát triển bền vững và luôn luôn có xu hướng đổi mới.


Thứ ba: Cơ quan chuyên môn phải làm tốt công tác điều tra cơ bản, dự báo, dự đoán tình hình để xây dựng nội dung “phòng, chống” thích hợp với từng địa bàn, từng phương thức hoạt động của gián điệp và hướng dẫn nghiệp vụ cho quần chứng nhân dân. Với sự sáng tạo của quần chúng, với sự hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn, chúng ta sẽ xây dựng được thế trận hoàn chỉnh, có bề rộng và chiều sâu. Có thể coi đây là yếu tố quan trọng và căn bản để xây dựng và củng cố nền an ninh nhân dân mang đặc thù Việt Nam.


Thứ tư: Muốn vai trò của quần chúng phát triển thành phong trào bền vững và ngày càng đổi mới phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chuyên môn với hệ thống chính trị của Đảng. Chỉ có như vậy thì nội dung phòng, chống gián điệp mới được kết hợp chặt chẽ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, trở thành thói quen, nền nếp trong đời sống xã hội của từng cộng đồng từng đơn vị. Có như vậy, quần chúng mới đủ điều kiện phát huy sức sáng tạo, hình thành ra các hình thức tổ chức mới, nội dung mới để vừa đem lại lợi ích thiết thực cho cuộc sống của mình của cộng đồng mình vừa có ích cho sự nghiệp chung.


Dân tộc ta vốn là một dân tộc được hình thành và phát triển từ một quốc gia trồng lúa nước, có nền văn hóa mang đậm dấu ấn làng xã mấy ngàn năm. Trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước đã hình thành và bồi đắp thành truyền thống yêu nước nồng nàn, đoàn kết keo sơn với khát vọng “thà hy sinh tất cả, quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ". Trong bối cảnh lịch sử cận hiện đại và hiện đại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát huy cao độ tinh thần dân tộc, truyền thống vốn có, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Ngày nay tiếp tục kế thừa, phát huy truyền thống của cha ông, xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Từ nhận thức về vai trò của nhân dân, thấm nhuần quan điểm, đường lối của Đảng, lực lượng An ninh đã vận dụng và hướng dẫn quần chúng nhân dân phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần cảnh giác cách mạng để tham gia vào trận tuyến đấu tranh chống gián điệp trong các giai đoạn lịch sử thành công. Bài học về vận động, tổ chức toàn dân chống gián điệp vì thế luôn luôn có giá trị thực tiễn quý báu và tính thời sự sâu sắc, mang đậm bản sắc Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3901



WWW
« Trả lời #48 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2021, 08:27:42 pm »

BÀl HỌC THỨ BA
ĐẤU TRANH CHỐNG GIÁN ĐIỆP CẦN PHẢI KẾT HỢP CHẶT CHẼ VỚI ĐẤU TRANH CHỐNG PHẢN ĐỘNG; XOA BỎ CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ ĐIỀU KIỆN KẺ ĐỊCH CÓ THỂ LỢI DỤNG MỚI GIÀNH ĐƯỢC THẮNG LỢI TRỌN VẸN


Quy luật chung của bọn phản cách mạng là chúng luôn co xu hướng móc nối, liên kết và dựa dẫm vào nhau để hoạt động. Bọn gián điệp tìm mọi cách móc nối với bọn phản động, dựa vào bọn phản động để ẩn náu, xây dựng cơ sở, tổ chức hoạt động tình báo và xây dựng lực lượng ngầm để phá hoại hoặc nổi dậy khi có thời cơ. Bọn phản động cũng tìm mọi cách móc nối với gián điệp, dựa dẫm, nhận tài trợ, chỉ đạo hoạt động và khuyếch trương thanh thế để phát triển lực lượng.


Từ năm 1945 đến nay, đất nước ta đã trải qua hai thời kỳ lịch sử nối tiếp là: Từ năm 1945 đến năm 1975, cả dân tộc tiến hành đấu tranh chống giặc ngoại xâm, thực hiện thống nhất nước nhà; từ 1975 đến nay, cả dân tộc tiến hành xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mỗi thời kỳ lịch sử, âm mưu, thủ đoạn, quy mô và cách thức hoạt động của các đối tượng phản cách mạng có sự khác nhau; nhưng chúng cũng chung mục đích cuối cùng là thực hiện âm mưu thôn tính và xâm lược.


Trải qua hai giai đoạn lịch sử với 30 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, xã hội Việt Nam bị phân hóa sâu sắc; có thể nêu một số dạng cơ bản liên quan đến nội dung bài học lịch sử như sau: Dưới ách thống trị của Pháp và Mỹ, xã hội ta đã ra đời và tồn tại những lực lượng công khai làm tay sai cho giặc, đó là lực lượng ngụy quân, ngụy quyền, công an, tình báo,... đảng phái chính trị phản động.


Bên cạnh số công khai làm tay sai cho giặc, trong các cộng đồng dân cư còn có một số phần tử vì những lý do khác nhau, bí mật cộng tác với địch; trở thành tay sai, chỉ điểm sống ngay trong cộng đồng như những người dân lương thiện hoặc núp dưới những vỏ bọc yêu nước, kháng chiến.


Dưới ách đô hộ của ngoại xâm, trong xã hội còn xuất hiện các tầng lớp có quyền lợi chính trị, quyền lợi kinh tế gắn chặt hoặc lệ thuộc vào đế quốc xâm lược. Số này thường phân hoá theo các xu hướng chủ yếu là: đa số đặt quyền lợi của quốc gia dân tộc lên trên quyền lợi của bản thân, họ ủng hộ hoặc đi theo kháng chiến; một số an phận, lo cho cuộc sống cá nhân mình, gió chiều nào che chiều ấy; một số ít cộng tác với địch hoặc trở thành tay sai cho đế quốc xâm lược.


Khi đất nước có chiến tranh, những kẻ làm tay sai cho các thế lực ngoại xâm dù công khai hay bí mật đều trở thành công cụ của chúng, thẳng tay đàn áp cách mạng và gây ra nhiều tội ác. Khi đất nước đã hoà bình, số này tan rã tại chỗ, đa số ra trình diện với chính quyền cách mạng và chấp hành chính sách cải tạo để trở thành công dân lương thiện; một số chạy theo giặc, tiếp tục dựa vào thế lực ngoại xâm tìm mọi cách phá hoại công cuộc tái thiết đất nước. Chúng dần dần tụ tập thành các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, móc nối với các thế lực thù địch, làm tay sai cho chúng, chống ta lâu dài. Một số trốn trình diện, trốn cải tạo, thay đổi địa bàn, che giấu quá khứ, trà trộn vào cộng đồng, tiếp tục chống đối chính quyền cách mạng. Thực tiễn lịch sử cho thấy, số này sau một thời gian nằm im nghe ngóng đã co cụm thành những tổ chức phản động, hoạt động chống chính quyền rất manh động. Chúng không chỉ phá hoại công cuộc xây dựng đất nước mà còn tìm mọi cách móc nối với các thế lực ngoại xâm hòng phục hồi chế độ thống trị đã bị sụp đổ.


Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 và sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền, các đảng phái chính trị phản động ở trong nước đã co cụm thành hàng trăm ổ nhóm vũ trang lẩn trốn trong rừng, gây vũ trang bạo loạn ở nhiều địa bàn. Khi chúng bị trấn áp, tiếp tục móc nối với lực lượng tản mạn ở nhiều địa phương nhen nhóm thành hơn một ngàn tổ chức phản động với số đông đối tượng tham gia, có tổ chức gồm hàng ngàn tên, trải rộng trên địa bàn 17 tỉnh, thành phố, chống đối ta quyết liệt và manh động. Lực lượng này chính là cơ sở xã hội quan trọng nhất cho điệp viên móc nối và tổ chức hoạt động. Ngược lại các tổ chức này cũng tìm mọi cách móc nối với điệp viên hoặc các thế lực thù địch để làm chỗ dựa.


Sau khi kết thúc chiến tranh, Đảng và Chính phủ phải bắt tay ngay vào công cuộc cải tạo xã hội và phục hồi kinh tế, chuẩn bị tiền đề cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội theo đường lối chính trị của Đảng. Để lãnh đạo cách mạng, Đảng và Chính phủ ban hành nhiều chính sách mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mục đích của các chính sách là đem lại quyền lợi chính đáng cho đại đa số nhân dân lao động, xây dựng đất nước theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bản chất các chính sách mới là loại bỏ tận gốc rễ nguồn gốc bóc lột, xoá bỏ ảnh hưởng chính trị và văn hoá của chế độ phong kiến đế quốc. Về khách quan, chính sách và biện pháp mới đã tước đoạt quyền lợi hoặc một phần quyền lợi của giai cấp bóc lột; tác động trực tiếp đến các tầng lớp trên, phi xã hội chủ nghĩa, là cơ sở của chính quyền cũ. Vì vậy, mâu thuẫn xuất hiện ngay trong nội bộ nhân dân và cần được giải quyết. Quá trình giải quyết mâu thuẫn là quá trình đấu tranh giai cấp và là một trong những điều kiện khách quan hình thành những xu hướng khác nhau về nhận thức; hình thành cách thức phản ứng khác nhau trong các giai tầng xã hội.


Mặt khác, trong quá trình thực hiện chính sách mới, điều hành xã hội kiểu mới, chính quyền ở các cấp hoặc cá nhân một số người có chức, có quyền đã mắc những sai lầm về nhận thức hoặc về hoạt động thực tiễn cũng làm phát sinh những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Do trình độ và nhận thức khác nhau trong các giai tầng xã hội, là lực lượng chịu sự điều chỉnh của chính sách, biện pháp mới, cũng xuất hiện những vấn đề bức xúc và phát sinh mâu thuẫn. Đây là những mâu thuẫn thuộc về nội bộ nhân dân và là tất yếu, khách quan. Những mâu thuẫn này nếu không được giải quyết kịp thời sẽ phát triển sâu sắc thêm. Diễn biến trên chính là những yếu tố, những điều kiện để các đối tượng phản cách mạng, bọn gián điệp lợi dụng phục vụ cho âm mưu, hoạt động chống phá cách mạng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3901



WWW
« Trả lời #49 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2021, 07:05:02 pm »

Từ khi Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế, xã hội ta có những thay đổi căn bản. Cùng với những thành tựu to lớn về kinh tế, xã hội, khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế thì những diễn biến mới, phức tạp đã phát sinh trên hầu khắp các lĩnh vực từ quản lý, sản xuất kinh doanh đến sử dụng nguồn lực và phân phối sản phẩm lao động. Đặc biệt là Đảng và Nhà nước ngày càng phát huy cao độ dân chủ, nhân quyền với nhận thức “lấy dân làm gốc", “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Những bước đi đầu tiên trên con đường đổi mới không tránh khỏi ấu trĩ, non kém, thậm chí có những sai lầm của cơ quan công quyền cũng như của các tầng lớp khác trong xã hội. Từ đó đã xuất hiện những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân nhưng chưa được giải quyết thấu đáo và kịp thời nên một số lĩnh vực có diễn biến phức tạp. Trong khi đó, chủ trương phát huy dân chủ, nhân quyền ngày càng được đề cao, đã dẫn đến các hình thức bày tỏ nguyện vọng của nhân dân có những thay đổi căn bản; đó là tình trạng khiếu kiện tập thể, thậm chí có nơi, có lúc phát triển thành biểu tình manh động. Tình hình trên đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, khai thác triệt để, mở các chiến dịch chống Đảng, chống Nhà nước, phá hoại tiến trình công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế của ta.


Thời đại ngày nay thông tin liên lạc hết sức nhanh chóng và đa chiều. Việc tiếp nhận thông tin của một bộ phận nhân dân chưa được chọn lọc, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, gây hoang mang dao động. Vấn đề ruộng đất và nông dân, vấn đề dân tộc, tôn giáo, biển đảo,... là những vấn đề nhạy cảm; các thế lực thù địch tận dụng mọi điều kiện, mọi cơ hội để lợi dụng, kích động gây ra các điểm nóng và trở thành điều kiện để chúng tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.


Hoạt động của kẻ địch ở giai đoạn này diễn ra đa dạng, với hình thức cơ bản là thông qua các nhân viên tình báo trực tiếp xâm nhập, tiến hành móc nối cơ sở, chỉ đạo hoạt động; thành lập các trung tâm phá hoại tư tưởng ở nước ngoài, lũng đoạn một số tổ chức phi chính phủ, lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, an ninh nông thôn, kể cả gây sức ép trong quan hệ song phương; lợi dụng diễn đàn quốc tế, xuyên tạc tình hình; sử dụng các phương tiện truyền thống, công khai kích động, làm cho diễn biến tình hình ngày càng có chiều hướng phức tạp hòng tạo ra sức ép trong quá trình thương thảo và đối ngoại.


Như vậy, sau khi đã kết thúc chiến tranh, ngoài những lực lượng là tay sai của thế lực ngoại xâm tan rã tại chỗ, tàn dư của chế độ cũ; thì những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng xã hội mới nếu không được giải quyết kịp thời cũng phát triển thành cơ sở xã hội và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ta.


Thực tiễn cho thấy, thông qua các chuyên án cơ quan An ninh đấu tranh hơn nửa thế kỷ qua, đã chứng minh quy luật câu móc giữa gián điệp với phản động; chứng minh các thế lực thù địch, bọn gián điệp lợi dụng mâu thuẫn xã hội để hoạt động ngày càng ráo riết và đa dạng; từ đó cho ta bài học lịch sử quý báu là: Đấu tranh chống gián điệp cần phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống phản động; xoá bỏ cơ sở xã hội và điều kiện kẻ địch có thể lợi dụng mới giành được thắng lợi trọn vẹn.


Thời kỳ lịch sử năm 1946, khi đất nước ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Quốc dân đảng là một đảng phái chính trị phản động có thực lực nhất, đã tiến hành cuộc đảo chính phản cách mạng với sự chỉ đạo của cơ quan gián điệp Pháp, được quân đội viễn chinh Pháp hậu thuẫn. Trước tình thế ấy, cơ quan Công an đã tập trung mũi nhọn trấn áp Quốc dân đảng, đập tan cuộc đảo chính trước khi nổ ra 24 giờ. Bằng đòn quyết định này, ta không chỉ đập tan cuộc đảo chính mà còn buộc bọn gián điệp và lực lượng quân sự Pháp không dám can thiệp, dẫn đến phá vỡ thế câu kết giữa thù trong với giặc ngoài. Với tư tưởng tiến công liên tục, cơ quan Công an ở các tỉnh thành phố mở đợt tổng trấn áp Quốc dân đảng, bóc gỡ mạng lưới của chúng từ các cấp cơ sở, kể cả những địa bàn chúng đã câu kết với Pháp thành lập ra chính quyền phân liệt. Trấn áp bọn phản động Quốc dân đảng thời kỳ lịch sử này là đòn hiểm, không chỉ chặt đứt sự câu móc của chúng với gián điệp Pháp mà còn phá vỡ âm mưu lợi dụng bọn phản động để lập lại quyền thống trị nước ta. Không thành công trong cuộc đảo chính tháng 7 năm 1946, Pháp buộc phải công khai bộc lộ âm mưu phát động chiến tranh xâm lược nước ta. Trấn áp thành công Quôc dân đảng năm 1946 là minh chứng sinh động nội dung bài học lịch sử đã nêu.


Trong 9 năm kháng chiến chống pháp, cơ quan gián điệp Pháp triệt để áp dụng chính sách “dùng người Việt trị người Việt”, chúng xây dựng các “xứ Thái tự trị", “xứ Mường tự trị", “xứ Công giáo tự trị”... và các hội đoàn trá hình, thực chất là tập hợp lực lượng phản động chống phá cách mạng. Chúng điều điệp viên vào nắm các chức vụ chủ chốt trong những tổ chức này, biến thành công cụ đắc lực thực hiện âm mưu thống trị nhân dân ta ngay từ cấp cơ sở. Do nhận thức được âm mưu thâm độc của kẻ thù, lực lượng Công an non trẻ đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng kháng chiến trấn áp hàng loạt tổ chức phản động như: Tổ chức phản động trong tôn giáo do Lương Huy Hân, Lê Hữu Từ, Nguyễn Việt Khai, Huỳnh Phú Sổ cầm đầu; tổ chức phản động “Nhất tân dân tộc" ở Hoà Bình, tổ chức phản động ở Tây Bắc do Đèo Văn Ngảnh cầm đầu, tổ chức phản động ở Cao Bằng do Lý Đông A cầm đầu; bóc gỡ mạng lưới gián điệp trà trộn vào lực lượng Bộ đội Bình Xuyên... Nhờ trấn áp mạnh các tổ chức phản động nên ta đã góp phần phá thế câu kết giữa thù trong với giặc ngoài, làm rõ vai trò của cơ quan gián điệp lợi dụng các tổ chức phản động để hậu thuẫn cho lực lượng vũ trang trên chiến trường.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM