Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Chín, 2021, 01:37:37 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005  (Đọc 1558 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #20 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2021, 04:49:22 pm »

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Ban An ninh Trung ương Cục, An ninh các khu, tỉnh củng cố một bước lực lượng Trinh sát chính trị và An ninh đô thị, tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn phong trào quần chúng ở vùng ta kiểm soát cũng như vùng còn đang bị địch khống chế. Ngày 28-8-1964, Trung ương Cục ban hành Chỉ thị số 03/CT: “Quy định nhiệm vụ an ninh là giáo dục và động viên sâu rộng tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân... Phát động và củng cố phong trào quần chúng bảo mật phòng gian đều khắp trong nội bộ và ngoài xã hội, liên tục đi vào chiều sâu trên cả ba vùng". Tháng 1-1965, Trung ương Cục ra Chỉ thị 3/6/CT, cụ thể hoá một số mặt công tác trọng tâm: “Tăng cường bảo mật phòng gian, tích cực và chủ động trừ gian, trấn áp do thám, gián điệp và phản động, đảm bảo trong sạch vùng giải phóng, vùng căn cứ...”. Năm 1964, miền Bắc tiếp tục chi viện cho An ninh miền Nam 500 cán bộ, số cán bộ chi viện được phân về các chiến trường trọng điểm, bố trí vào các vị trí chủ chốt ở các cấp từ khu đến huyện. Sự chi viện cán bộ cốt cán của An ninh miền Bắc đã góp phần thúc đẩy một bước về nghiệp vụ đánh địch, nâng cao hiệu quả chiến đấu của lực lượng nòng cốt chống gián điệp cũng như chỉ đạo phong trào “Bảo mật phòng gian”.


Để bảo vệ vùng giải phóng và căn cứ địa, bảo vệ tổ chức Đảng và phong trào cách mạng, lực lượng An ninh chú trọng công tác bóc gỡ mạng lưới gián điệp hoạt động ở khu vực “vành đai và vùng giải phóng. Trong đó tập trung phát hiện, bóc gỡ đầu mối nội gián. Kết quả tổng hợp từ 1961 đến 1965, đã khám phá 220 vụ nội gián, điển hình là bóc gỡ mạng lưới gồm 18 tên do tên Căn và Quýnh cầm đầu, chui vào tổ chức Đoàn thanh niên giải phóng ở Thủ Dầu Một. Năm 1962, An ninh Khánh Hoà phá hai tổ chức gián điệp hoạt động trong vùng căn cứ kháng chiến, bắt 131 tên. Lực lượng An ninh các tỉnh phối hợp với bộ đội địa phương bắt hàng trăm tên gián điệp do cơ quan tình báo Mỹ, ngụy tung ra hoạt động ở các khu hành lang, các tuyến đường giao thông liên lạc; vô hiệu hoá hàng ngàn cơ sở tai mắt của điệp viên trong các cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội, hàng ngũ phật tử.


Lực lượng Trinh sát chính trị, An ninh đô thị, An ninh vũ trang tích cực xây dựng mạng lưới cơ sở trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền và các đảng phái chính trị, thu được những tin tình báo giá trị giúp cho công tác phản gián có điều kiện phát triển. Hàng trăm đầu mối gián điệp, chỉ điểm đã được phát hiện trong giai đoạn này là nhờ các cơ sở trong nội thành, nội thị phát hiện. Đặc biệt là lực lượng Trinh sát vũ trang từ nông thôn đến thành thị đều ra sức trừ diệt bọn gián điệp chỉ điểm. Ở địa bàn thành phố, thị xã, ta có điều kiện và tập trung diệt trừ một số tên cầm đầu gian ác, sĩ quan tình báo, răn đe bọn tay sai chỉ điểm. Vùng nông thôn, lực lượng An ninh vũ trang tập trung diệt trừ bọn chỉ điểm ở xã, ấp, góp phần tạo đà cho quần chúng đứng lên diệt ác phá kềm. Phong trào diệt ác phá kềm vì vậy phát triển rộng khắp, hệ thống chính quyền cơ sở được mở rộng; hình thái chính quyền “đêm ta ngày địch” có bước phát triển. Đây là điều kiện quan trọng giúp lực lượng An ninh thâm nhập vào địa bàn, bám dân bám đất để hoạt động. Công tác đấu tranh chống gián điệp ở vùng ta kiểm soát kết hợp với công tác diệt ác phá kềm ở vùng địch kiểm soát, đã dần dần hình thành vùng đệm, tạo điều kiện để ta xây dựng được vành đai an toàn bảo vệ vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng.


Diễn biến tình hình trên có thể thấy, mặt trận đấu tranh chống gián điệp ở miền Nam giai đoạn này diễn ra trong bối cảnh lịch sử ngặt nghèo và vô cùng khó khăn. Đế quốc Mỹ là kẻ cầm đầu, thâu tóm toàn bộ các cơ quan tình báo gián điệp, cơ quan phản gián và đàn áp với sự hợp lực của lực lượng quân sự hùng hậu. Ngoài tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm hoạt động, chúng còn có thuận lợi cơ bản là chúng đang nắm chính quyền, có đủ điều kiện để chủ động hoạch định các âm mưu cũng như tổ chức hoạt động phục vụ yêu cầu chiến tranh. Trong khi đó, lực lượng cách mạng của ta vừa được phục hồi, đang bước đầu xây dựng; vừa phải bảo vệ mình trước sức tấn công tàn khốc của kẻ thù, vừa phải tổ chức đánh lại chúng trong điều kiện vật chất kỹ thuật, kinh nghiệm hoạt động còn rất hạn chế. Song chúng ta có thuận lợi căn bản là cuộc đấu tranh chống gián điệp được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng tổ chức lực lượng, huy động được tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng của các tầng lớp nhân dân. Trong đấu tranh đã kết hợp giữa “phòng" và “chống”, kết hợp giữa sức mạnh của quần chúng với công tác nghiệp vụ của lực lượng nòng cốt để triển khai các hình thức đánh địch. Do có chủ trương đúng, tổ chức lực lượng đấu tranh thích hợp nên dù thua kém địch về nhiều mặt song thế của ta không ngừng lớn mạnh; cuộc đấu tranh diễn ra rộng khắp, ngay từ cấp cơ sở. Trong đó chủ trương đấu tranh chống gián điệp, chỉ điểm kết hợp chặt chẽ với phá kềm, phá chính quyền cơ sở của địch là chỉ đạo mang tính chiến lược, ngày càng phát huy thế mạnh của ta, khoét sâu yếu điểm của địch. Đây là mặt công tác được quán triệt, được chỉ đạo chặt chẽ và thực hiện thành công nhất ở giai đoạn này. Bọn gián điệp, chỉ điểm ở cấp cơ sở bị trừng trị hoặc lo sợ mà không dám hoạt động trước áp lực chính trị của quần chúng. Hệ thống chính quyền cơ sở của địch bị phá, đồng thời ta cũng xây dựng ngay hệ thống an ninh ấp, xã. Nơi nào chưa đủ điều kiện phá kềm, ta chủ trương biến chính quyền của địch thành chính quyền của ta hoặc “đêm ta ngày địch". Hình thức đấu tranh này không mới so với thời kỳ chống Pháp nhưng đã phát triển ở trình độ cao hơn, linh hoạt hơn và thích ứng với cuộc chiến tranh nhân dân của thời kỳ chống Mỹ.


Tóm lại: Từ năm 1961 đến năm 1965, cả nước bước vào cuộc chiến đấu quyết liệt với đế quốc Mỹ, đánh bại bước leo thang chiến tranh mới. Trên trận tuyến chống gián điệp, cuộc đấu tranh càng quyết liệt hơn bởi đế quốc Mỹ và tay sai triển khai đầy đủ các hệ loại gián điệp với quy mô lớn và ngày càng ráo riết trên khắp các vùng ở chiến trường miền Nam cũng như miền Bắc. Song Đảng đã chủ động đề ra những chủ trương đúng trên cơ sở dự đoán, dự báo đúng âm mưu và hoạt động của đối phương. Vì thế tổ chức lực lượng đấu tranh ở cả hai miền phù hợp với thực tế, phát huy được thế mạnh của ta, khai thác được điểm yếu của địch. Lực lượng Công an khẳng định được vai trò nòng cốt trên mặt trận đấu tranh; quần chúng nhân dân được tổ chức chặt chẽ trên cơ sở phát huy tinh thần yêu nước ý thức cảnh giác cách mạng, góp phần quan trọng xây dựng thế trận thiên la địa võng “bịt tai, che mắt" kẻ thù. Trong giai đoạn này có thể rút ra một số vấn đề sau:


Thứ nhất: Công tác đấu tranh chống gián điệp ở miền Nam gắn liền với phong trào đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của quân và dân ta ở nông thôn cũng như thành thị. Đấu tranh chống gián điệp để bảo vệ tổ chức, bảo vệ cơ sở của Đảng hỗ trợ phong trào quần chúng, phá chính quyền cơ sở của địch. Đây là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, góp phần làm phá sản ở khâu quan trọng nhất của chiến lược “chiến tranh đặc biệt".


Giai đoạn này, công tác đấu tranh chống gián điệp đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm là bảo vệ đường lối của Đảng, bảo vệ cơ quan đầu não và căn cứ cách mạng; hỗ trợ quần chúng ở vùng địch kiểm soát đứng lên phá kềm, xây dựng hệ thống chính quyền cấp cơ sở, hệ thống an ninh ấp, xã. Chống gián điệp đã kết hợp với hoạt động tình báo, nắm âm mưu và kế hoạch hoạt động của địch, tạo điều kiện để diệt trừ bọn tay sai ở cấp cơ sở, một số tên ác ôn khét tiếng.


Thứ hai: Quán triệt chủ trương của Đảng, lực lượng An ninh đã tiến hành đồng thời các biện pháp nghiệp vụ, kết hợp với tổ chức quần chúng; huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn dân vào nhiệm vụ phòng và chống gián điệp ngay khi kẻ địch bắt đầu triển khai các kế hoạch tung gián điệp ra miền Bắc. Đã chủ động chuẩn bị trận địa đón đợi và đánh thắng các phương thức hoạt động gián điệp của đối phương, làm thất bại hoàn toàn âm mưu và hoạt động của chúng. Trong đấu tranh chuyên án, lực lượng An ninh tiếp tục áp dụng chiến thuật “dùnq người của địch, phương tiện của địch để đánh lại địch” thắng lợi và từng bước được nâng tầm thành nghệ thuật.


Đấu tranh chống gián điệp gắn liền với đấu tranh chống phản động, kết hợp chặt chẽ, đồng bộ và hỗ trợ đắc lực cho nhau. Đấu tranh chống phản động dẫn đến làm mất chỗ dựa, xoá bỏ cơ sở xã hội của bọn gián điệp. Trong giai đoạn này chúng ta đã tiến hành đồng thời hai mặt công tác với tinh thần kiên quyết và thận trọng nên không những giữ vững được bên trong, bên dưới mà còn tích cực tấn công kẻ địch, kể cả đưa người vào Trung tâm chỉ huy của địch tại Sài Gòn nắm âm mưu từ Trung tâm chỉ huy của chúng.


Thứ ba: Tiếp tục duy trì và phát triển ở trình độ cao hơn phong trào quần chúng tham gia phòng chống phản cách mạng. Vai trò của quần chúng biểu hiện rõ nét trong công tác cải tạo các phần tử nguy hại cho an ninh xã hội; công tác phòng gian và trừ gian, góp phần củng cố an ninh ở những địa bàn xung yếu quan trọng, làm mất những điều kiện gián điệp có thể lợi dụng để ẩn nấp và hoạt động. Phong trào quần chúng vừa có bề rộng, vừa có chiều sâu đã hình thành thế trận tương đối hoàn chỉnh phòng và chống phản cách mạng nói chung, gián điệp nói riêng. Phong trào ngày càng xuất hiện nhiều hình thức phong phú, nội dung thích hợp với từng vùng dân cư, địa bàn cụ thể nên tác dụng thực tiễn cao. Phong trào “Bảo vệ trị an", “Bảo mật phòng gian" không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với chống gián điệp mà còn là mặt hoạt động quan trọng đối với nhiệm vụ xây dựng miền Bắc vững mạnh, làm hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2021, 07:32:32 pm »

3. Giai đoạn từ cuối năm 1965 đến cuối năm 1972

Từ năm 1965 đến năm 1972, Mỹ lần lượt thực hiện hai chiến lược chiến tranh là Chiến tranh cục bộ và Việt Nam hoá chiến tranh. Mục đích của hai chiến lược về căn bản không đổi, nhưng triển khai chiến lược sau trong thế yếu, thế thất bại so với chiến lược trước. Bình định vẫn là xương sống của hai chiến lược, nhưng thời kỳ Chiến tranh cục bộ là “tìm - diệt”, thời kỳ Việt Nam hoá chuyển sang “quét - giữ". Khi chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh thất bại cũng là khi đế quốc Mỹ phải rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Pari.


Đặc điểm cơ bản của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” là: Mỹ ồ ạt đưa lực lượng lớn các binh chủng và khí tài vào miền Nam cùng với ngụy quân tham chiến. Lợi dụng thế mạnh về quân sự, từ tháng 8-1965, Mỹ - ngụy liên tục mở các chiến dịch càn quét lớn, dài ngày vào vùng hành lang và căn cứ của ta với ý đồ “đánh gẫy xương sống Cộng sản", “quét sạch du kích", mở rộng vùng kiểm soát ra nông thôn, mua chuộc các tầng lớp tay sai, tổ chức bộ máy tề điệp rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân. Cùng với tăng cường hoạt động quân sự ở miền Nam, đế quốc Mỹ mở rộng quy mô, cường độ đánh phá ra miền Bắc bằng không quân và hải quân với dã tâm “đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá”.


Để mở đường cho bước leo thang quân sự, Mỹ, ngụy tập trung củng cố, tăng cường lực lượng tình báo chiến lược và chiến thuật, quân sự và dân sự. Tổ chức tình báo quân sự CSC được thành lập, đặt Trung tâm chỉ huy tại Vũng Tàu, phát triển hệ thống theo chiều dọc tới cấp Trung đoàn của quân Mỹ. Ngụy quân thành lập “Biệt đội sưu tầm” trực thuộc F2 Bộ tổng tham mưu, Biệt đội sưu tầm có nhiệm vụ thọc sâu vào vùng giải phóng, căn cứ cách mạng như: chiến khu Đ, chiến khu Dương Minh Châu, khu vực căn cứ Tây Ninh, K5, K6, K9. Mỹ tăng viện trợ, bổ sung trang thiết bị, tăng cường sức chiến đấu cho cảnh sát dã chiến; đưa lực lượng cảnh sát từ 26.000 tên lên 72.800 tên.


Cơ quan CIA triển khai đầu mối xuống đến xã, ấp dưới danh nghĩa trá hình “Cơ quan phối trí an ninh bình định”, “Dân ý vụ"... phân loại dân chúng (phân chia tầng lớp nhân dân thành 17 loại), vừa thu tin tình báo vừa tiến hành tâm lý chiến, chiêu hồi, chiêu hàng và cài cắm nội gián. CIA củng cố thêm một bước các tổ chức an ninh, tình báo ngụy, tăng biên chế lên gần 15 vạn tình báo viên chuyên nghiệp, đưa những tên cốt cán ra nước ngoài tu nghiệp hoặc huấn luyện cấp tốc dưới danh nghĩa tham quan, nghỉ mát, chữa bệnh. Các tổ chức tình báo ngụy phát triển dày đặc, chúng cài nhân viên vào các cơ quan của ngụy quyền, ngụy đảng, các lực lượng chính trị, tôn giáo để quét vét cơ sở của ta. Tổ chức các ổ, dây do thám chốt giữ tuyến giao thông, xây dựng các kế hoạch nội gián đánh vào hàng ngũ cách mạng, hòng thực hiện chủ trương: “Muốn thắng Cộng sản không những phải đánh tan chủ lực mà còn phải tiêu diệt cho được hạ tầng cơ sở cách mạng".


Khi chuyển sang chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, Mỹ - ngụy chuyển hướng hoạt động tình báo vừa để giành dân, chiếm đất, vừa chuẩn bị cho kế hoạch hậu chiến. Chúng không chỉ giữ nguyên quy mô, mức độ như thời kỳ "Chiến tranh cục bộ" mà còn triển khai hàng loạt kế hoạch mới. Trong đó, các cơ quan tình báo Mỹ ngụy đặc biệt chú trọng phương thức nội gián với hàng loạt kế hoạch lớn như: “Kế hoạch Bảo quốc”, “Kế hoạch Hải Yến”, “Kế hoạch P86"..:, thành lập “Biệt đội Thiên Nga” do CIA trực tiếp chỉ đạo, phát triển cơ sở trong lực lượng cảnh sát các cấp, chuyên trách thu thập tin tức và chui vào nội bộ ta. Mỹ, ngụy áp dụng chủ trương “Bốn mạnh dạn": Mạnh dạn khai thác hết số người bị bắt, đầu hàng, đầu thú; mạnh dạn khống chế; mạnh dạn giao việc; mạnh dạn tung trở lại hàng ngũ cách mạng. Cuối năm 1968, Tổng thống Thiệu ban bố sắc lệnh 280A/TT/SL, thành lập “Uỷ ban Phượng Hoàng”, là chương trình tình báo quốc gia lớn nhất miền Nam với mục đích tình báo hoá toàn bộ hệ thống chính quyền ngụy ở tất cả các cơ quan từ Trung ương đến cơ sở. Cấp trưởng của hệ thống chính quyền là Chủ tịch Uỷ ban Phượng Hoàng; CIA trực tiếp chỉ đạo và làm cố vấn cho từng cấp. Đây là kế hoạch tình báo tổng hợp giữa quân sự và dân sự, tồn tại từ tháng 7-1968 cho đến khi ngụy quyền Sài Sòn sụp đổ hoàn toàn.


Đối với miền Bắc, Mỹ - ngụy dùng mọi thủ đoạn, sử dụng mọi loại phương tiện để triển khai hoạt động gián điệp: Sử dụng hệ thống vệ tinh, máy bay trinh sát, cây nhiệt đới, nghe trộm điện thoại... Sử dụng các nhân viên lâm thời, thường trú là đồng minh của Mỹ và các nước phụ thuộc vào Mỹ để móc nối cơ sở, thu thập tin tức về chính trị, quân sự, kinh tế xã hội; về viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc đối với nước ta. Cài gián điệp vào hàng ngũ lưu học sinh, cán bộ miền Nam ra Bắc học tập, công tác; đánh nội gián vào hàng ngũ cán bộ quân sự, dân sự dưới dạng lạc ngũ, mất tích, trao trả. Ngoài tung gián điệp biệt kích vào sâu trong đất liền, Mỹ - ngụy còn sử dụng tàu cao tốc bắt cóc ngư dân khai thác, giao nhiệm vụ rồi đánh trở lại; sử dụng “Người nhái” thuộc lực lượng Biệt Hải, thâm nhập vùng duyên hải phá hoại cầu cống, cơ sở vật chất.


Thời kỳ này không chỉ Mỹ và tay sai tổ chức hoạt động gián điệp ở miền Bắc, mà điệp viên của một số nước, kể cả các nước xã hội chủ nghĩa cũng ráo riết hoạt động nhằm điều chỉnh quan điểm, đường lối của Đảng ta theo định hướng của họ. Trong đó chủ yếu là điệp viên của X77 và X70, họ đã xây dựng cơ sở, móc nối với nhiều đối tượng trong cơ quan lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang. Như vậy, ở giai đoạn này, hoạt động gián điệp đối với nước ta vô cùng quyết liệt về mức độ và quy mô với nhiều đối tượng khác nhau. Trong đó, đối tượng X70, X77 phát triển mạnh theo chiều hướng chủ yếu là nhằm vào nội bộ ta và hoạt động nội gián. Song đối tượng chính, nguy hiểm nhất vẫn là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2021, 07:08:36 pm »

Đối phó với âm mưu và hoạt động của địch, tháng 3-1965, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 145/CT-TW về “Giữ gìn an ninh miền Bắc, đối phó bước leo thang mới của đế quốc Mỹ”. Tiếp theo, Trung ương Đảng ra Chỉ thị 125/CT-TW vê “Tăng cường giữ gìn an ninh ở miền Bắc, kiên quyết đánh bại âm mưu hoạt động gián điệp và phản cách mạng khác trong tình hỉnh chiến tranh phá hoại”. Hai chỉ thị đều xác định những công tác cấp bách về tổ chức lực lượng phòng chống, đối sách với các đối tượng phản cách mạng và cơ quan tình báo nước ngoài. Trung ương Đảng giao cho Bộ Công an củng cố hồ sơ, đưa một số vụ gián điệp ẩn nấp, gián điệp biệt kích ra xử công khai để phục vụ công tác ngoại giao và nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng cho nhân dân. Đối với cuộc đấu tranh chống gián điệp biệt kích, Trung ương Đảng nhấn mạnh vai trò của quần chúng, xác định cấp xã là địa bàn chiến lược, lực lượng tại chỗ là cơ bản và chỉ rõ tại Chỉ thị số 145/CT: “Muốn giành chủ động trong cuộc đấu tranh trước hết phải nắm được tình hình và chuẩn bị chiến trường. Muốn làm được như vậy, từng địa phương phải nghiên cứu tình hình chính trị và địa lý từng vùng, phát hiện những địa bàn nào biệt kích có thể xâm nhập, kiểm tra kỹ đối tượng ở địa bàn đó để nhận định khả năng biệt kích có thể xâm nhập ở đâu, bọn này sẽ về, khi về liên lạc với bọn nào"; Chỉ thị 125CT- TW xác định: “Trong cuộc đấu tranh chống gián điệp biệt kích nói riêng, chống phản cách mạng nói chung, vai trò của cấp xã là hết sức quan trọng, có một ý nghĩa chiến lược, vì vậy cần chú trọng củng cố tổ chức Đảng, chính, quyền xã, Công an, xã đội, dân quân... để cho các tổ chức ấy có thể lãnh đạo nhân dân đánh địch”. Quán triệt các chỉ thị của Đảng, Bộ Công an xây dựng nhiều kế hoạch phòng ngừa, truy lùng gián điệp biệt kích cho từng địa bàn: rừng núi, vùng biển, vùng Thiên Chúa giáo, vùng tề ngụy; truy lùng ban ngày, ban đêm; truy lùng khi có trăng, khi không có trăng... phổ biến đến từng người dân, xây dựng phương án và tổ chức tập dượt thuần phục. Để đối phó với gián điệp hoạt động theo phương thức P86, lãnh đạo Bộ Công an đã tham mưu cho Đảng và ban hành chỉ thị hướng dẫn đấu tranh: “Công tác đấu tranh chống phương thức này hết sức phức tạp... phải kiên trì giáo dục thuyết phục, phân hoá để họ tự khai báo, chỉ trinh sát với những phần tử ngoan cố, làm tay sai cho địch. Trong từng trường hợp có thể lập kế hoạch phái khiển đánh trở lại".


Đến năm 1965, Trung ương Đảng và Bộ Công an đã hoạch định tương đối hoàn chỉnh và sát hợp về phương hướng, giải pháp, quy mô đấu tranh cũng như đối sách với từng phương thức gián điệp. Sự chỉ đạo của Đảng, của Bộ cho thấy chúng ta đã chủ động chuẩn bị chiến trường, chủ động bố trí lực lượng, sẵn sàng đánh bại cuộc chiến tranh gián điệp. Công tác chuẩn bị chiến trường được tập trung vào những vấn đề mấu chốt quyết định đến thắng lợi là: Tiếp tục cải tạo những phần tử nguy hiểm cho an ninh xã hội, làm mất chỗ dựa của gián điệp; xác định phòng và chống phải kết hợp chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau; xác định địa bàn cấp thôn, xã là địa bàn chiến lược, lực lượng tại chỗ là lực lượng cơ bản.


Để chủ động chuẩn bị thế trận, lực lượng An ninh tập trung tham mưu cho Đảng bố trí lực lượng triển khai đồng bộ công tác phòng ngừa, đồng thời tập trung giải quyết những công tác cấp bách và chiến lược. Từ năm 1965 đến năm 1972, toàn miền Bắc tập trung hoàn thành công tác cải tạo những phần tử nguy hại cho an ninh xã hội, xoá bỏ cơ sở quan trọng nhất bọn gián điệp có thể móc nối. Lực lượng An ninh triển khai công tác sưu tra chính trị, phân loại đối tượng, xây dựng cơ sở tiếp cận, theo dõi chặt di biến động của số đối tượng hiềm nghi; tiếp tục đấu tranh với các tổ chức phản động hiện hành, ngăn chặn âm mưu bạo loạn của các tổ chức manh động chống chính quyền. Thông qua kết quả công tác sưu tra, công tác đấu tranh chống phản động, ta phát hiện và truy quét hầu hết số đầu mối gián điệp đã móc nối với bọn phản động. Đã tổ chức đấu tranh thắng lợi 10 chuyên án gián điệp cài lại, bắt 38 đối tượng. Đây là một thắng lợi lớn, là kết quả của công tác điều tra nghiên cứu; kết quả của quá trình phối hợp chặt chẽ giữa chống phản động với chống gián điệp.


Đối với số gián điệp xâm nhập qua giới tuyến và biên giới, xâm nhập bằng đường biển hoặc từ miền Nam qua nước khác để vào miền Bắc, ta phối hợp đồng bộ giữa biện pháp trinh sát với quản lý công khai, nắm chắc di biến động của đối tượng, đồng thời bảo vệ mục tiêu chặt chẽ, không cho chúng tiếp cận. Qua đó đã phát hiện 295 đối tượng gồm 263 tên vượt tuyến 20 tên vượt biên, 8 tên xâm nhập bằng đường biển, 4 tên nhập cánh công khai. Qua khai thác, xác định 125 tên thuộc quân báo, 170 tên thuộc tình báo. Lực lượng An ninh đã tổ chức đấu tranh 32 chuyên án, bắt nhiều đối tượng, trong đó có điệp viên tạo vỏ bọc là con một cán bộ cao cấp từ miền Nam ra Bắc học tập, đã lọt vào gia đình đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng. Do quần chúng nhân dân cảnh giác cao độ nên nhiều tên vừa xâm nhập đã bị phát hiện thông qua nhận xét về ngôn ngữ thái độ ứng xử. Từ năm 1965, đông đảo bà con Việt kiều ở nước ngoài về Tổ quốc tham gia xây dựng đất nước, cơ quan tình báo Mỹ, ngụy lợi dụng cài điệp viên trong số các đoàn người trở về. Lực lượng An ninh thực hiện phương châm: Trường kỳ trinh sát và sử dụng đồng bộ các biện pháp nội tuyến, ngoại tuyến, kỹ thuật với từng đối tượng, đã xác định 111 đối tượng hiềm nghi và tổ chức đấu tranh 8 chuyên án. Tin tức thu được trong quá trình đấu tranh giúp lực lượng An ninh nắm được âm mưu, thủ đoạn của cơ quan tình báo địch; có chuyên án ta sử dụng điệp viên của địch để đánh trở lại thành công. Phối hợp chặt chẽ với Quân đội, tổ chức Đảng các cấp, chính quyền địa phương, lực lượng An ninh bóc gỡ toàn bộ số đối tượng hoạt động theo phương thức P86. Do làm tốt công tác giáo dục, đa số đối tượng khi trở về miền Bắc đã tự nguyện khai báo và tự nguyện đình chỉ hoạt động. Lực lượng An ninh lập án đấu tranh với 71 tên cố tình che giấu, tiếp tục làm tay sai cho địch, làm rõ tội trạng và xử lý với các hình thức: truy tố trước pháp luật hoặc giao cho cơ quan, đơn vị, chính quyền địa phương quản lý giáo dục.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2021, 05:05:49 pm »

Đấu tranh với đối tượng hoạt động theo phương thức lâm thời và thường trú giai đoạn này diễn ra hết sức quyết liệt và có độ nhạy cảm cao. Ngoài gián điệp Mỹ và đồng minh của chúng, đối tượng thuộc một số nước khác, đặc biệt là X70, X77 cũng hoạt động ráo riết và vô cùng nguy hiểm; tập trung ở địa bàn Hà Nội. Vụ Bảo vệ Chính trị phối hợp chặt chẽ với Công an Hà Nội, xây dựng thế trận an ninh nhân dân, bao vây, phong toả các cơ quan cố định và lâm thời; quản lý di biến động của nhân viên các cơ quan này. Trinh sát Bảo vệ Chính trị phối hợp với các lực lượng trinh sát chuyên ngành, triển khai các biện pháp trinh sát tổng hợp, điều tra 321 đối tượng là tay sai của cơ quan tình báo Mỹ. Quá trình điều tra đã xác định được 48 đối tượng hiềm nghi và đưa 261 đối tượng vào diện đấu tranh chuyên án. Qua đó làm rõ một số cơ quan cố định là trụ sở liên lạc và hang ổ hoạt động gián điệp của cơ quan tình báo Mỹ. Tiếp tục triển khai thành công kế hoạch trinh sát bí mật M1, M2 thu được nhiều tài liệu về âm mưu, chủ trương của một số nước về cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta; nắm được ý đồ của họ đối với cuộc hội đàm bốn bên tại Pari. Cũng trong thời kỳ này, lực lượng An ninh thành lập đơn vị chuyên trách đấu tranh với đối tượng X70 và X77. Quá trình đấu tranh ta khám phá âm mưu của hai cơ quan đặc biệt X70, X77; phát hiện chúng móc nối nhiều cơ sở là cán bộ cao cấp trong nội bộ Đảng, Quân đội, cơ quan thiết yếu quan trọng nhằm điều chỉnh quan điểm của Đảng ta chịu sự ảnh hưởng của họ và tổ chức lật đổ. Lực lượng An ninh kịp thời phá án, xử lý các đối tượng, vừa đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, vừa đáp ứng chính sách ngoại giao phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ.


Từ năm 1965 đến khi Hiệp định Pari được ký kết, Mỹ, ngụy vẫn duy trì cuộc chiến tranh bí mật, tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc, tuy mức độ có giảm. Lực lượng An ninh tiếp tục đấu mưu đọ trí với trung tâm địch qua vô tuyến điện theo kiểu "Trò chơi nghiệp vụ”, điều khiển Trung tâm địch hoạt động theo sự sắp đặt của mình. Ngoài các toán do ta chủ động điều ra Bắc trong các chuyên án để bắt, lực lượng An ninh còn nắm được thời gian, địa điểm các toán và số biệt kích sẽ xâm nhập. Do vậy hầu hết các toán gián điệp biệt kích tung ra miền Bắc bằng đường không đều bị bắt gọn cùng toàn bộ phương tiện và hàng hoá. Cơ quan SOG, CIA, DIA và tình báo ngụy hoàn toàn thất bại trong trong quá trình thực hiện phương thức này hơn 10 năm. Từ năm 1961 đến năm 1973, lực lượng An ninh tổ chức đấu tranh 21 chuyên án, câu nhử để bắt 28 toán gồm 127 tên. Tổng kết thắng lợi trong đấu tranh chống gián điệp biệt kích, toàn miền Bắc đã bắt và diệt 103 toán; gồm 856 tên; đánh đuổi 75 toán Biệt Hải và 175 toán xâm nhập qua biên giới Việt Lào, thu hơn 100 tấn lương thực thực phẩm, quân trang, quân dụng, hàng chục tấn vũ khí hiện đại nhất lúc bấy giờ, 6 tấn thuốc nổ C4, 3 tấn máy thông tin. Lực lượng Bảo vệ Chính trị ở các tỉnh duyên hải đã tiến hành thẩm tra, xác minh 1.430 ngư dân đi đánh cá ngoài biển bị địch dùng tàu cao tốc, bắt khai thác, giao nhiệm vụ và đánh trở lại. Qua đó làm rõ (593 người nhận nhiệm vụ của địch trở về miền Bắc hoạt động.


Để góp phần vạch trần âm mưu của địch cũng như giáo dục ý thức cảnh giác cho mọi tầng lớp nhân dân, ta đưa 30 vụ ra xử công khai (3 vụ tuyên truyền rộng rãi ở trong nước và nươc ngoài); đưa các tang vật thu được của cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích triển lãm tại 661 điểm trên miền Bắc, thu hút hơn 4 triệu lượt người đến xem.


Kết quả đấu tranh chống gián điệp giai đoạn 1965-1972 ở miền Bắc là kết quả của quá trình tích luỹ kinh nghiệm, trường kỳ trinh sát, mưu trí sáng tạo của lực lượng nòng cốt; là tinh thần cảnh giác cao độ của nhân dân và cán bộ nhân viên các cơ quan đơn vị trong phong trào “bảo mật phòng gian", "bảo vệ trị an". Với những chiến công đạt được trong giai đoạn này, lực lượng An ninh xứng đáng là lực lượng nòng cốt quan trọng của Đảng, góp phần vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ miền Bắc - hậu phương lớn của miền Nam.


Tại chiến trường miền Nam, đối phó với âm mưu của địch, Trung ương Cục đã để ra chủ trương tổng quát về công tác an ninh: “Triển khai sâu rộng công tác an ninh ở cả ba vùng chiến lược; phục vụ phá bình định, bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh vùng giải phóng; chuẩn bị điều kiện và lực lượng phục vụ các cuộc tống tiến công lớn". Để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh mới, Trung ương Cục chủ trương kiện toàn một bước lực lượng An ninh. Trong hai năm, vừa chiến đấu, vừa kiện toàn tổ chức, tăng cường cán bộ; đến năm 1967, tổ chức An ninh từ Trung ương Cục đến các khu, các tỉnh và cấp cơ sở đã được hoàn thiện về căn bản. Lực lượng An ninh miền Bắc tiếp tục chi viện đợt III gồm hơn 1.000 cán bộ chiến sĩ cùng các loại tài liệu nghiệp vụ về chống phản cách mạng, hướng dẫn xây dựng đặc tình cơ sở, sổ tay công tác an ninh; góp phần thúc đẩy đáng kể sự phát triển về lực lượng cũng như chuyên môn của An ninh toàn miền. Bộ máy tổ chức làm công tác đào tạo được hình thành tới cấp tỉnh, tổ chức đào tạo nghiệp vụ dài hạn, ngắn hạn và huấn luyện cấp tốc cho lực lượng An ninh các cấp từ Trung ương Cục, đến cấp khu, tỉnh, góp phần nâng cao kiến thức địch tình, nâng cao hiệu quả chiến đấu trong toàn lực lượng.


Nhằm tổ chức các lực lượng đấu tranh và định hướng công tác đấu tranh trong bối cảnh mới, Trung ương Cục đã ban hành nhiều chỉ thị vừa mang tầm chiến lược vừa có giá trị trong đối sách như Chỉ thị về “Phá âm mưu dùng người của ta đánh người của ta”; Chỉ thị về “Phá kế hoạch Phượng Hoàng"; Chỉ thị về “Hướng vào các đô thị, thị xã, thị trấn đẩy mạnh trừ gian diệt ác”, Chỉ thị về “Phát động phong trào phòng gian bảo mật, bảo vệ cơ quan và Quân đội"; "chống địch cài cắm nội gián trong hàng ngũ tù, hàng binh";... Quán triệt chỉ thị của Đảng, An ninh Trung ương Cục đã soạn thảo hai bộ tài liệu về “Chống bình định" và “Đối phó với kế hoạch Phượng Hoàng" là hai vấn đề trọng tâm của giai đoạn này, tập huấn cho lực lượng An ninh. Trung ương Cục quyết định điều chuyển nhiều đồng chí lãnh đạo có kinh nghiệm và cán bộ cốt cán tăng cường cho những địa bàn trọng điểm để trực tiếp chỉ đạo và tổ chức đấu tranh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2021, 07:13:32 pm »

Căn cứ chỉ đạo của Trung ương Cục và Ban An ninh Trung ương Cục, lực lượng An ninh toàn miền đã triển khai có hiệu quả hai mặt công tác chính yếu là đấu tranh đánh địch bảo vệ tổ chức Đảng, căn cứ cách mạng, vùng giải phóng và vận động quần chúng diệt ác phá kềm, phá chính quyền cơ sở của địch. Lực lượng Trinh sát võ trang, An ninh đô thị phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương tiến hành hàng trăm trận tấn công vào hang ổ của bọn tình báo, cảnh sát, mật vụ, diệt bọn cầm đầu, bọn gian ác. Trong đó có những trận tập kích táo bạo, gây tiếng vang lớn: An ninh T4 đánh vào nhà hàng Mỹ Cảnh trên sông Sài Gòn diệt 51 tên, làm bị thương 128 tên, có 1 Phó Giám đốc mật vụ; An ninh Trảng Bàng diệt và bắt 5 toán thám báo xâm nhập vào căn cứ; An ninh Cần Thơ đón đánh 4 toán gián điệp biệt kích gồm 52 tên trên đường chúng xâm nhập vào căn cứ; An ninh Kiến Tường tập kích hang ổ tình báo diệt 1 lưới trưởng và 15 mật báo viên; An ninh nội đô Sài Sòn - Gia Định nổ mìn tại trung tâm Tổng nha cảnh sát quốc gia diệt 17 tên; An ninh huyện Dương Minh Châu diệt một toán gián điệp biệt kích gồm 6 tên do Hà Văn Long cầm đầu...


Đối với lĩnh vực bảo vệ nội bộ, tuy đạt được những kết quả nhất định, bảo vệ an toàn căn cứ Trung ương Cục, bảo vệ bí mật về đường lối chỉ đạo của Đảng, các đồng chí lãnh đạo cao cấp, song còn nhiều sơ hở, nhất là ở các cấp cơ sở. Cơ quan gián điệp của địch cài cắm được nhiều đầu mối nội gián trong các đoàn thể kháng chiến ở các cấp xã, huyện, các đoàn dân công và các đơn vị hậu cần phục vụ. Nguyên nhân chính là công tác thu nạp nhân viên chưa được chặt chẽ, việc quản lý cán bộ chưa được chú trọng. Một số đoàn thể kháng chiến cấp huyện, xã bị địch cài nội gián, làm rối ren một thời gian dài hoặc bị địch bao vây lùng sục, đánh phá liên tục. Tuy ta đã tiến hành làm rõ một số đầu mối nhưng do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nên còn nhiều đầu mối nghi nội gián không được làm rõ.


Phục vụ cho tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, lực lượng An ninh triển khai toàn bộ lực lượng nắm địa bàn, nắm địch, bảo vệ cơ quan lãnh đạo mặt trận và tổ chức cho cơ sở quần chúng nhân dân truy tìm, tiêu diệt bọn ác ôn, gián điệp, chỉ điểm. Trong tổng tiến công, ta đã bắt và diệt 15.135 tên gián điệp các loại, trong đó có 135 nhân viên CIA, 269 nhân viên DIA; thu được nhiều tài liệu tình báo có giá trị, kể cả hồ sơ nội gián, mật báo viên của địch cài vào nội bộ ta. Tuy vậy ta để bộc lộ lực lượng, đưa cơ sở bí mật ra hoạt động công khai nên khi địch phản kích đã gây thiệt hại hết sức nặng nề. Nhiều xã, huyện mất hết cơ sở, cán bộ cách mạng không thâm nhập được địa bàn. Đây là một trong những bài học lớn trong chỉ đạo hoạt động bí mật.


Sau Mậu Thân 1968, An ninh Trung ương Cục ra chỉ thị 06 chấn chỉnh lại công tác nắm tình hình: "Phải chủ động nắm cụ thể, toàn diện, chính xác về tổ chức, âm mưu, thủ đoạn hoạt động của gián điệp Mỹ - ngụy, các tổ chức trá hình, các cơ quan đàn áp, bình định, chiêu hàng...", "... Phải tập trung khai thác, thẩm tra chính xác nguồn tin của các tổ chức quần chúng, các ngành, các giới, cơ sở tai mắt, số bị địch bắt thả về...” và ra chỉ thị giao cho lực lượng An ninh tổ chức, hướng dẫn quần chúng đấu tranh: “An ninh các cấp phải tham mưu cho cấp uỷ phát động phong trào quần chúng phá kế hoạch Phượng Hoàng; tích cực xây dựng cơ sở trong các cơ quan đầu não của địch, trong các tầng lớp nhân dân ở các vùng chiến lược... thực hiện khẩu hiệu: Một tấc không đi, một ly không rời, đánh địch phải đánh hiểm, đánh trúng đối tượng...”. Ngày 20-6-1969, An ninh Trung ương Cục mở Hội nghị bảo vệ cơ quan và xác định: “Chỉnh đốn tổ chức, đấy mạnh giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao cảnh giác cách mạng, chống chiến tranh tâm lý và gây nội gián của địch, tích cực phòng gian bảo mật, quản lý chặt chẽ cán bộ, bảo vệ bí mật chủ trương của Đảng". Được củng cố về mọi mặt, lực lượng An ninh toàn miền Nam dần dần phục hồi và chắp nối lại cơ sở, nắm lại địa bàn, triển khai các mặt công tác nghiệp vụ. Phong trào quần chúng chống bình định, chống gián điệp chỉ điểm có bước phát triển mới, tạo đà cho lực lượng vũ trang có điều kiện mở những chiến dịch vừa và nhỏ, từng bước giành lại thế chủ động trên chiến trường. Từ năm 1970, thế và lực của cách mạng có bước phát triển nhảy vọt; lực lượng An ninh tập trung vào nhiệm vụ truy bắt, trừng trị những đầu mối gián điệp địch cài vào nội bộ ta sau Mậu Thân; thẩm tra, bóc gỡ các đầu mối nội gián ở vùng giải phóng; triển khai mạnh công tác đấu tranh với phương thức cài gián điệp bằng con đường tù, hàng binh, lạc ngũ, mất liên lạc. Đồng thời phát động nhân dân diệt ác phá kềm, đứng lên làm chủ xóm, ấp, giữ vững an ninh. Các lực lượng bảo vệ cơ quan, trinh sát vũ trang phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương và nhân dân truy quét hàng trăm toán gián điệp biệt kích xâm nhập sâu vào vùng giải phóng, vùng giáp ranh, dọc tuyến đường từ Trung Bộ trở vào đến cực Nam Nam Bộ, tuyến đường 1C, các tỉnh miền Nam Trung Bộ và Trung Bộ, vùng biên giới Việt Nam - Campuchia. Đến hết, năm 1970, lực lượng An ninh toàn miền Nam đã khám phá 496 vụ nội gián; trong có 376 vụ ở cấp ấp, xã. Kết quả đấu tranh chống gián điệp ở giai đoạn này có ý nghĩa khích lệ tinh thần cảnh giác cách mạng của quần chúng, phục hồi phong trào cách mạng sau tổn thất năm 1968.


Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị về chuẩn bị mọi mặt phục vụ cho những chiến dịch lớn, phối hợp với đấu tranh tại Hội nghị Pari, Trung ương Cục miền Nam ra Chỉ thị 165/TVKBN ngày 15-3-1972: “Những vấn đề cơ bản về công tác an ninh miền Nam”. Chỉ thị xác định nguyên tắc đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng trong giai đoạn này là: “Chủ động tiến công địch, tích cực bảo vệ ta". Chỉ thị còn chỉ rõ những tồn tại, vướng mắc về tổ chức lực lượng đấu tranh và định hướng phải nhanh chóng chấn chỉnh, củng cố lực lượng đủ mạnh, hợp đồng chặt chẽ các lực lượng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Triển khai chỉ thị của Đảng, lực lượng An ninh chú trọng công tác hướng dẫn quần chúng phá chính sách bình định, phá kế hoạch Phượng Hoàng, đảm bảo an ninh vùng giải phóng. Đồng thời tập trung đánh mạnh vào bọn đầu sỏ ở đô thị, truy bắt, đẩy đuổi bọn tay sai ở vùng nông thôn và các vùng giáp ranh, hạn chế tối đa hoạt động của bọn gián điệp trên địa bàn hành lang. Những kết quả chống gián điệp trong thời kỳ này đã góp phần hỗ trợ cho lực lượng vũ trang mở những chiến dịch lớn, giành đất, giành dân, đẩy địch vào thế bị động, làm thay đổi hẳn cục diện chiến trường, tạo thế để ta tổng công kích vào mùa khô năm 1972.


Tóm lại: Đảng ta đã kế thừa kinh nghiệm của các giai đoạn trước đó, vận dụng kinh nghiệm của các nước; nêu cao tinh thần độc lập tự chủ và sáng tạo trong chỉ đạo đấu tranh với từng loại đối tượng, vừa giải quyết yêu cầu bảo vệ mình, đánh thắng địch, vừa đáp ứng yêu cầu đối ngoại. Dựa vào nhân dân, phát huy tinh thần cảnh giác cách mạng của quần chúng, xác định địa bàn cấp xã có vị trí chiến lược quan trọng trong tổ chức đấu tranh; phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành; kiện toàn tổ chức, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng nòng cốt; đặt nhiệm vụ chống gián điệp dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng. Đây là hệ thống những quan điểm, quyết sách đúng và sáng tạo trong tổ chức lực lượng đấu tranh nên đã khai thác triệt để được thế mạnh của ta, tận dụng điểm yếu của địch.


Lực lượng nòng cốt đấu tranh chống gián điệp có bản lĩnh chính trị vững vàng, mưu trí, sáng tạo và quyết thắng; biết tích luỹ kinh nghiệm, dũng cảm đương đầu với cơ quan tình báo đối phương có tiềm lực hơn ta nhiều lần và dày dạn kinh nghiệm. Trong đấu tranh biết dựa hẳn vào nhân dân, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, áp dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, góp phần làm cho chiến thuật đánh địch càng sắc sảo. Cuộc đấu mưu, đấu trí, đấu pháp, đấu lực bằng chiến thuật “dùng người của địch, phương tiện của địch để đánh lại địch" - “Trò chơi nghiệp vụ" trong giai đoạn này không chỉ là kế thừa tinh hoa của các giai đoạn trước mà còn tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện để nâng tầm thành nghệ thuật.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2021, 06:49:26 pm »

4. Giai đoạn từ năm 1973 đến tháng 4 năm 1975

Năm 1972, bộ đội chủ lực của ta thực hiện nhiều trận phản công lớn trên toàn chiến trường, tạo ra những chuyển biến mới về cục diện chiến tranh. Nửa cuối năm 1972, ta tiến hành thắng lợi cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam đồng thời đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai ra miền Bắc, đập tan nỗ lực cuối cùng của Mỹ thông qua cuộc tập kích chiến lược B52, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút hết quân Mỹ, quân chư hầu ra khỏi Việt Nam, làm tình hình thay đổi hẳn, có lợi cho ta.


Sau hiệp định Pari, Mỹ vẫn tiếp tục thực hiện "Việt Nam hoá chiến tranh", chỉ huy ngụy quyền tiến hành "cuộc chiến tranh lấn chiếm và bình định". Nhân dân cả nước bước vào thời kỳ đấu tranh mới: Tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.


Phải rút khỏi miền Nam nhưng Mỹ vẫn dùng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn làm công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, biến miền Nam thành một chế độ “Quốc gia" thân Mỹ. Mục tiêu trước mắt của Mỹ là lấn chiếm vùng giải phóng và bình định vùng chiếm đóng, đẩy lực lượng của ta ra xa. Để thực hiện mục tiêu đó, Mỹ tăng cường tiền của, vũ khí, phương tiện; tăng lực lượng vũ trang cơ sở, phát triển 1,5 triệu phòng vệ dân sự, điều hơn 20% sĩ quan chỉ huy xuống ấp, xã phục vụ cho lấn đất giành dân với khẩu hiệu: “Tràn ngập lãnh thổ’. Mỹ, ngụy xác định kế hoạch lấn chiếm giành dân lần này là nỗ lực cuối cùng; coi địa bàn chủ yếu của cuộc chiến tranh là ấp, xã với mục đích “giải quyết ấp, xã là giải quyết căn bản được cuộc chiến tranh". Vì vậy, chúng huy động khoảng 70 tiểu đoàn chủ lực cùng toàn bộ lực lượng phòng vệ dân sự và các lực lượng khác thực hiện lấn chiếm và bình định.


Song song với tăng cường quân sự, chuyển hướng tấn công, chúng xác định gián điệp và cảnh sát là lực lượng chủ yếu đảm bảo an ninh lãnh thổ, đảm bảo thắng lợi cho lấn chiếm. Do đó, Mỹ thay đổi phương thức hoạt động, chỉ huy ngụy quyền điều chỉnh lực lượng gián điệp và cảnh sát nhằm nhiệm vụ giữ an ninh vùng chiếm đóng và mở đường cho hoạt động lấn chiếm.


Cơ quan CIA đổi tên gọi thành cơ quan “Phụ tá đặc biệt” - OSA nhân viên được ngụy danh núp dưới các vỏ bọc xã hội hoá như: Cố vấn, nhân viên dân sự, nhân viên phát triển nông thôn... Nhưng thực chất, chúng không giảm lực lượng mà còn tăng thêm 3.000 chuyên viên mã thám, thiết lập hệ thống chí huy, chỉ đạo tới cấp xã và huyện. CIA tập trung mũi nhọn năm lực lượng thứ ba, giới trí thức, sinh viên, tôn giáo... chuẩn bị sẵn cơ sở cài vào nội bộ ta khi lực lượng này tham gia chính phủ liên hiệp. Chúng tạo dựng những con bài chính trị dạng như Trương Đình Du, chuẩn bị điều kiện cần thiết để đưa vào những vị trí cao cấp trong chính phủ liên hiệp.


Mỹ, ngụy sử dụng lực lượng gián điệp và cảnh sát bảo vệ lãnh thổ đang chiếm giữ bằng cách khống chế nhân dân, truy quét bằng hết cơ sở của ta; trọng tâm là nhằm vào các vùng giáp ranh, vùng lõm, truy bức tinh thần quần chúng, điều tra tình hình, phục vụ cho các hoạt động quân sự. Chúng thiết lập ra các chi Cảnh sát, Tình báo, An ninh quân đội; tổ chức lại Ủy ban Phượng Hoàng ở cấp xã, tăng quyền lực để “giải quyết chiến tranh ở ấp, xã và đổi tên Ủy ban Phượng Hoàng xã là “Trung tâm điều hợp hành quân xã". Ủy ban Phượng Hoàng là tổ chức có quyền lực tối cao trong hệ thống chính quyền cũng như quân sự. Mỗi xã đều thành lập các “Cuộc cảnh sát” trực thuộc Ủy ban Phượng Hoàng. Biên chế mỗi “Cuộc cảnh sát” xã từ 15 đến 20 nhân viên, có xã tới 70 đến 150 nhân viên. Chúng tăng cường khả năng tác chiến tại cơ sở bằng cách điều điệp viên ở thành phố, thị xã, làm văn phòng về nông thôn; mở các trung tâm huấn luyện, tuyển chọn thêm tay chân đẩy ra các hành lang và khu vực giáp ranh.


Sang năm 1973, Mỹ - ngụy dừng hẳn việc tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc bằng đường không, sử dụng lực lượng này để tung ra vùng giải phóng ở miền Nam; tổ chức huấn luyện bọn Phòng vệ dân sự, địa phương quân hoạt động theo phương thức gián điệp biệt kích. Sau mỗi trận càn quét lấn chiếm chúng cài biệt kích ở lại hoặc tổ chức các đơn vị từ một tiểu đội tới một trung đội, thọc sâu vào vùng ta kiểm soát tấn công chớp nhoáng, phá hoại hoặc bắt cóc cán bộ và nhân dân. Chúng tăng cường hoạt, động nội gián, chuẩn bị các đầu mối cài vào số cán bộ, bộ đội bị bắt, trao trả theo Hiệp định Pari (T72), phục vụ cho âm mưu tiếp tục đánh ta lâu dài. Hàng ngàn người bị bắt đã bị chúng thẩm vấn để tuyển chọn điệp viên; Phủ Đặc uỷ Trung ương tình báo dưới sự chỉ đạo của nhân viên CIA trá hình đã tuyển chọn gần 100 đầu mối P86 để đánh vào vùng giải phóng hoặc trao trả ở Tây Ninh và Thanh Hoá.


Sau khi Hiệp định Pari ký kết, miền Bắc khẩn trương khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất, giữ vững ổn định chính trị, tập trung mọi nồ lực chuẩn bị điều kiện kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng. Do yêu cầu tập trung lực lượng giải quyết tại chiến trường miền Nam nên Mỹ, ngụy giảm hẳn hoạt động gián điệp đối với miền Bắc, song vẫn duy trì các phương thức nội gián, lâm thời, thường trú và bắt cóc ngư dân khai thác, đánh trở lại với mục đích cố nắm được chủ trương, kế hoạch, thực lực của ta trong giải quyết vấn đề miền Nam. Gián điệp thường trú và lâm thời một số nước vẫn hoạt động ráo riết, vừa nắm tin tức về cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta, vừa tìm cách móc nối trong nội bộ Đảng, chính quyền để điều chỉnh quan điểm, đường lối đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta theo ý đồ của họ. Trong đó, nổi lên vẫn là đối tượng X77 và X70, hoạt động ráo riết, đa dạng hơn; nhất là đối tượng X70. Họ đã móc nối cơ sở, cài tay chân vào nhiều cơ quan, đơn vị cũng như trong cộng đồng người Hoa, vừa thu thập tin tức, vừa ngấm ngầm chuẩn bị các kế hoạch chống phá khi ta giải phóng miền Nam. Một số phần tử X77 đã bị xử lý vẫn tiếp tục hoạt động; trong đó chúng đã móc nối được với một số trí thức trẻ và giao nhiệm vụ làm liên lạc.


Ngay sau khi Hiệp định Pari có hiệu lực, Đảng ta dự kiến hai khả năng: hoặc là hoà bình được duy trì, Hiệp định được thực hiện từng bước, phong trào cách mạng miền Nam có điều kiện phát triển những bước mới; hoặc là chiến tranh sẽ tiếp tục. Sau mấy tháng thi hành Hiệp định, thấy rõ xu hướng chống phá Hiệp định của địch, Đảng ta xác định cách mạng miền Nam phải diễn biến theo khả năng thứ hai và triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 21. Hội nghị khẳng định, con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực; kẻ thù chính của cách mạng miền Nam vẫn là đế quốc Mỹ và tập đoàn thống trị tay sai Mỹ. Đế quốc Mỹ là kẻ chủ mưu, là chỗ dựa cho bọn tay sai. Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là đấu tranh trên cả ba mặt trận: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Nhiệm vụ của miền Bắc đối với miền Nam là ra sức chi viện cho miền Nam, khôi phục và phát triển kinh tế quốc dân, làm cho miền Bắc là chỗ dựa vững chắc của miền Nam.


Từ việc đánh giá tình hình, xác định nhiệm vụ cách mạng của cả nước trong giai đoạn cách mạng mới, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 225/NQ-TW về công tác cán bộ. Tháng 2-1973; Chính phủ ban hành Nghị định 32/CP sửa đối bộ máy tổ chức của ngành Công an. Theo đó, hệ thống lực lượng trinh sát chuyên ngành, chuyên sâu có bước phát triển mới. Cục Bảo vệ Chính trị, các cục thuộc hệ Bảo vệ nội bộ, trinh sát kỹ thuật được thành lập hoặc tách thành những đơn vị mới, đáp ứng yêu cầu bảo vệ nội bộ, chống gián điệp trong tình hình mới. Đầu năm 1973, lãnh đạo Bộ triệu tập Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 28, quán triệt chỉ đạo của Đảng và xác định những nhiệm vụ của ngành Công an sau khi Hiệp định Pari có hiệu lực. Hội nghị ra nghị quyết, chỉ rõ: “Trên cơ sở rút kinh nghiệm đấu tranh chống gián điệp mấy năm qua và kế hoạch cụ thể tăng cường công tác phản gián đối với bọn gián điệp trà trộn trong các đoàn lâm thời và cơ quan cố định, kể cả chuyên gia nước ngoài ở nước ta; tăng cường trinh sát chống gián điệp ẩn nấp, nhất là gián điệp theo phương thức P86 của địch". Quán triệt chỉ đạo của Đảng và lãnh đạo Bộ, lực lượng An ninh xác định địa bàn trọng điểm, đối tượng trọng điểm và triển khai các mặt công tác điều tra nắm tình hình. Đối với phương thức lâm thời, thường trú, tập trung nắm di biến động của nhân viên các đoàn cố định và lâm thời; quản lý chặt nhân viên cơ quan ngoại giao hoặc có nhiệm vụ quan hệ với người nước ngoài; giáo dục và hướng dẫn quần chúng tham gia giám sát các địa bàn có trụ sở của người nước ngoài, mục tiêu người nước ngoài thường quan tâm. Thông qua công tác trinh sát bí mật và nguồn tin quần chúng cung cấp, ta phát hiện 128 đối tượng trong các đoàn lâm thời, thường trú có vấn đề nghi vấn, trong đó có 27 đối tượng nước B1, 6 đối tượng nước A1. Đã bí mật đấu tranh 5 chuyên án gồm 9 đối tượng (TH40, K117, SUZUKI...).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2021, 02:19:25 pm »

CHƯƠNG KẾT LUẬN


Từ mùa thu năm 1949, cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược đang chuyển biến mạnh mẽ. Nhu cầu phát triển của cuộc kháng chiến đặt ra “phải có lực lượng võ trang hùng hậu” từ du kích chiến tiến lên vận động chiến, từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy. Ngày 18 tháng 8 năm 1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị về xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân trong giai đoạn mới, trong đó chỉ rõ: “Cuộc chiến tranh của ta chuyển sang giai đoạn tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công. Trong giai đoạn này, Đảng ta lấy du kích chiến là chính. Nhưng vận động chiến phải nâng lên ngang với du kích chiến và trở nên chủ yếu"1 (Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986, tr.227).


Ngày 25 tháng 8 năm 1949, Xứ ủy Nam Bộ họp hội nghị triển khai nhiệm vụ “tích cực cầm cự chuẩn bị tổng phản công”. Tiếp đó, trong ba ngày 3, 4, 5 tháng 9 năm 1949, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị quân sự toàn xứ nhằm kiểm điểm toàn diện công cuộc kháng chiến trong bốn năm qua và đề ra nhiệm vụ trong thời gian tới. Tại hội nghị, Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn đọc một báo cáo quan trọng, trong đó đề ra sáu nhiệm vụ trước mắt: “Gấp rút chỉnh đốn lại bộ máy chỉ huy quân sự các cấp, xây dựng ba thứ quân, tổ chức lại bộ máy quân giới, quân nhu, gia tăng công tác chính trị, địch vận, tuyên truyền đẩy mạnh phong trào thi đua giết giặc lập công”1 (Văn kiện Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ 9-1949 - Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, LS.49, tr.16).


Chấp hành nghị quyết Xứ ủy, Bộ tư lệnh Nam Bộ ra chỉ thị phân chia lại chiến trường, củng cố nhân sự cấp khu và tỉnh, tổ chức lại các đơn vị võ trang. Theo đó, Phân khu Duyên Hải giải thể. Khu Sài Gòn - Chợ Lớn được mở rộng về phía tây bắc, gồm thêm toàn tỉnh Tây Ninh (Khu 7 còn lại ba tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa và Thủ Dầu Một). Đồng chí Trần Văn Trà về trực tiếp giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy khu Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng chí Tô Ký Phó tư lệnh; đồng chí Lê Đức Anh, Tham mưu trưởng.


Ngày 18 tháng 11 năm 1949, Bộ tư lệnh Nam Bộ ra chỉ thị số 137 về thành lập các liên trung đoàn trên cơ sở sáp nhập những trung đoàn hiện có nhằm xây dựng một số đơn vị võ trang tập trung mạnh trên chiến trường Nam Bộ.


Thực hiện chỉ thị của Bộ tư lệnh Nam bộ, Trung đoàn 312 sáp nhập với Trung đoàn 306 Phạm Hồng Thái thành Liên trung đoàn 306-312. Liên trung đoàn có 1 tiểu đoàn chủ lực và 6 đại đội độc lập hoạt động của địa bàn phía bắc và tây thành phố Sài Gòn, tỉnh Gia Định.

Ban chỉ huy Liên trung đoàn được chĩ định gồm 4 đồng chí :

- Trần Đình Xu (Liên trung đoàn trưởng)

- Nguyễn Văn Truyện (Chính ủy)

- Đào Sơn Tây (Liên trung đoàn phó)

- Nguyễn Văn Hâm (Liên trung đoàn phó)

Từ đây, tổ chức Trung đoàn 312 không còn nữa. Toàn thể cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 312 cũ chia tỏa ra, biên chế vào các đơn vị mới trong tổ chức liên trung đoàn. Nhiều đồng chí khác được điều chuyển về cơ quan khu Sài Gòn - Chợ Lớn, tỉnh đội Gia Định và các huyện đội mạn bắc, tây bắc Sài Gòn. Tháng 9 năm 1950, cùng với các liên trung đoàn khác, Liên trung đoàn 306-312 giải thể để trên chiến trường miền Đông Nam Bộ thành lập một trung đoàn chủ lực trực thuộc Bộ tư lệnh Nam Bộ lấy phiên hiệu trung đoàn Đồng Nai do đồng chí Trần Đình Xu làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Xuân Lựu làm chính trị viên.


Phát huy truyền thống của Giải phóng quân liên quận từ những ngày đầu kháng chiến, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 312 cũ nhanh chóng hội nhập trong tổ chức đơn vị mới, nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao, lập được nhiều thành tích xuất sắc trên những bước đường chiến đấu còn đầy cam go thử thách từ cuối năm 1949 đến mùa thu năm 1954. Đó là đợt hoạt động quân sự tháng 1 năm 1950 tại Bến Cát, là chiến dịch Bến Cát tháng 10 - tháng 11 năm 1950, là các cuộc tập kích diệt tháp canh địch trên quốc lộ 1, quốc lộ 22, quốc lộ 13, các đường số 14, số 10, số 7, và phong trào tác chiến trong nội đô thành phố Sài Gòn.


Tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp đề ra nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam. Phân cục Trung ương Đảng tại miền Nam (gọi tắt là Trung ương Cục) được thành lập. Chiến trường Nam Bộ chia làm hai phân liên khu (Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây) và Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Các tỉnh sáp nhập lại thành liên tỉnh. Tỉnh Gia Định và tỉnh Tây Ninh nhập lại thành tỉnh Gia Định Ninh do đồng chí Tô Ký làm bí thư tỉnh ủy kiêm tỉnh đội trưởng. Tỉnh xây dựng một tiểu đoàn tập trung lấy phiên hiệu 306 do đồng chí Đỗ Thế Nhân làm tiểu đoàn trưởng. Cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn 312 năm xưa chan hòa vào tổ chức các đơn vị mới: tiểu đoàn 306, tiểu đoàn 304, tiểu đoàn 302, tiểu đoàn 300, rồi cơ quan kháng chiến huyện Hóc Môn, huyện Đức Hòa Thành, tỉnh Gia Định Ninh, Phân liên khu miền Đông. Họ hăng hái tác chiến đánh địch, gia nhập các đoàn công tác làm nhiệm vụ tạo nguồn, vận chuyển, cung cấp lương thực, vũ khí đạn dược cho lực lượng nội thành Sài Gòn, làm công tác Cao Đài vận, địch ngụy vận ở địa bàn ven đô; tham gia tiểu đoàn vận tải chiến lược 320 làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa và đưa đón cán bộ từ cửa biển Hàm Tân, Xuyên Mộc về chiến khu Đ và ngược lại. Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn 312 cũ vừa tích cực tham gia công tác địch ngụy vận, Cao Đài vận, vừa nỗ lực đẩy mạnh hoạt động tác chiến đánh địch, tháo gỡ đồn bót tháp canh, hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh phát triển trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Trên thực tế, tổ chức đơn vị Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, Chi đội 12, Trung đoàn 312 chỉ tồn tại trong vòng 4 năm (11-1945 - 11-1949). Tuy nhiên, kết quả hoạt động của đơn vị trong 4 năm ấy đã góp một phần không nhỏ vào thắng lợi chung của quân và dân miền Đông Nam bộ, quân và dân cả nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Có thể nói đây là một đơn vị đặc biệt với những đặc điểm riêng so với các tổ chức đơn vị võ trang khác trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên chiến trường Nam Bộ.


Trước hết, đó là đơn vị võ trang cách mạng được thành lập sớm nhất trên chiến trường Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Do những đặc điểm lịch sử riêng, tại Nam Bộ, cho đến trước Cách mạng Tháng Tám chưa có các đơn vị võ trang cách mạng tập trung có hệ thống và chặt chẽ. Lực lượng võ trang và bán võ trang làm nòng cốt trong Tổng khởi nghĩa là những đơn vị Thanh niên cứu quốc, Tự vệ chiến đấu, Thanh niên tiền phong, một bộ phận quân du kích Nam Kỳ thành lập từ năm 1940 và một bộ phận ngụy binh cũ trong các tổ chức võ trang do Pháp hoặc Nhật thành lập trước đó. Sau Cách mạng Tháng Tám, để bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ mới giành được, hàng loạt đơn vị võ trang được thành lập nhưng thiếu hệ thống và thành phần hợp thành khá phức tạp. Tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, ngoài tổ chức Xung phong công đoàn của Tổng công đoàn Nam Bộ có Cộng hòa vệ binh, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ sư đoàn, các bộ đội tự lập và những đơn vị do các băng đảng giang hồ tụ thành. Sau ngày Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, nhu cầu xây dựng những đơn vị võ trang cách mạng đặt ra cấp thiết. Trong nội bộ các đơn vị võ trang hiện có diễn ra sự phân hóa sâu sắc. Trong quá trình ấy, một đơn vị võ trang cách mạng do Đảng trực tiếp xây dựng, lãnh đạo, có tổ chức biên chế chặt chẽ, có mục đích hoạt động đúng đắn ra đời, vào ngày đầu tiên của tháng 11 nám 1945. Và phải sau đó một tháng nữa, các đơn vị Vệ quốc đoàn ở Nam Bộ mới lần lượt được thành lập. Trong điều kiện lực lượng võ trang ở Nam Bộ còn rất phức tạp, Hội nghị Thiên Hộ - Hội nghị chủ trương củng cố lại lực lượng võ trang và đặt lực lượng võ trang dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản - mới diễn ra trước đó và nghị quyết hội nghị chưa được quán triệt đầy đủ về các chiến trường, sự ra đời của Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nó là đơn vị võ trang cách mạng đầu tiên được thành lập ở chiến trường Nam Bộ kể từ sau ngày 23 tháng 9 năm 1945!
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tám, 2021, 03:05:37 pm gửi bởi ptlinh » Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2021, 02:19:56 pm »

Thứ hai, đó là đơn vị võ trang tập trung ở Nam Bộ có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ngay từ ngày đầu thành lập. Thành phần hợp thành Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa hầu hết là thanh niên nông dân vùng ngoại thành phía bắc, tây bắc, thành phố Sài Gòn, một trong những chiếc nôi của cách mạng ở Nam Bộ. Đây là địa bàn được Ban Chấp hành Trung ương Đảng chọn làm căn cứ để lãnh đạo phong trào cách mạng của cả nước, của Nam Bộ và thành phố Sài Gòn. Nhiều đồng chí lãnh đạo của Trung ương Đảng, Xứ ủy Nam Kỳ, Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn và Tỉnh ủy Gia Định đều dựa vào đây để hoạt động cách mạng như Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần... Nhân dân địa phương được trui rèn qua những cuộc đấu tranh đẫm máu như khởi nghĩa 18 thôn Vườn Trầu các năm 1871, 1885, khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940... Từ sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, nhiều đồng chí lãnh tụ cách mạng như Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng... từ nhà tù Côn Đảo trở về đã về đây chỉ đạo xây dựng lực lượng kháng chiến. Lực lượng tham gia Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa ngoài thanh niên địa phương - vốn là những nông dân có trình độ văn hóa thấp, thiếu hiểu biết cơ bản về tri thức quân sự nhưng tấm lòng đầy nhiệt huyết cách mạng - còn có rất nhiều đảng viên Cộng sản từ những năm 1930-1940, nhiều cán bộ cốt cán hoạt động trên nhiều chiến trường ở Đông Nam Bộ và địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Việc thành lập và tổ chức hoạt động của Giải phóng quân liên quận trong những tháng đầu được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Hoàng Quốc Việt. Ban chỉ huy gồm những đảng viên kỳ cựu như Trần Văn Trà, Tô Ký, Hoàng Dư Khương, Hoàng Tế Thế, Huỳnh Tấn Chùa... Phân đội nào cũng có đảng viên giữ chức vụ chính trị viên phân đội. Điều này làm cho đơn vị có chất lượng chính trị cao, tổ chức hoạt động chặt chẽ, đúng hướng và có hiệu quả. Trong giai đoạn lịch sử những năm đầu kháng chiến, tình hình lực lượng võ trang hết sức phức tạp, nhiều đơn vị võ trang chưa do Đảng nắm quyền lãnh đạo chỉ huy, chất lượng chính trị của Giải phóng quân liên quận, Chi đội 12 có ý nghĩa quan trọng. Từ đây, nhiều cán bộ lãnh đạo chỉ huy, đôi khi cả một hoặc hai phân đội được điều chuyển đi làm nhân cốt phát triển cho các đơn vị khác ở chiến trường Nam Bộ.


Thứ ba, đó là đơn vị liên tục bám trụ chiến đấu, gắn bó với phong trào chiến tranh nhân dân vùng ven đô và lập nhiều thành tích xuất sắc trên các mặt trận phục vụ kháng chiến. Mặc nhiên, hoạt động trung tâm của một đơn vị võ trang là tác chiến đánh địch. Ngay từ khi ra đời cho đến lúc giải thể tổ chức trung đoàn, Giải phóng quân liên quận, sau là Trung đoàn 312 đã liên tục chiến đấu, từ đánh nhỏ lẻ, diệt tề trừ gian đến phục kích, chống càn, tập kích, đánh vận động chiến và kết quả của hoạt động nói trên đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung trên chiến trường Gia Định và các tỉnh Đông Nam Bộ. Vừa độc lập tác chiến, đơn vị còn phối hợp với các đơn vị bạn như Trung đoàn 306, Trung đoàn 311, Trung đoàn 301, Trung đoàn 310 đánh nhiều trận thu được kết quả lớn.


Có thể nói những chiến thắng quân sự lớn ở chiến trường Đông Nam Bộ như trận Trung Hưng - Ràng năm 1946, trận La Ngà, trận Láng Le năm 1948, chiẽn dịch Bến Cát năm 1950 đều có sự phối hợp tác chiến có hiệu quả của Trung đoàn 312. Dù cơ động chiến đấu trên nhiều chiến trường, nhưng về cơ bản, đơn vị vẫn bám trụ trên vùng ven đô mạn bắc, tây bắc Sài Gòn (cả ở vùng căn cứ, vùng tranh chấp và vùng nội đô), đánh địch giữ làng, vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ lực lượng kháng chiến. Ngoài ra, nỗ lực hoạt động của đơn vị còn diễn ra trên các lĩnh vực khác. Đó là lập các cơ sở sản xuất tạo nguồn dự trữ cung ứng cho lực lượng hoạt động nội thành với những “ban công tác” nổi tiếng suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là xây dựng và bảo vệ căn cứ địa của Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, của tỉnh Gia Định và các cơ quan kháng chiến ở Tân Mỹ, Bình Lý, ở các chiến khu Đông Thành, Đồng Tháp Mười, Dương Minh Châu và những khu vực địa đạo lợi hại ở Phú Thọ Hòa, Phú Mỹ Hưng - Tân Phú Trung (sau này là địa đạo Củ Chi). Đó là hoạt động xây dựng lực lượng, bảo đảm hậu cần quân nhu, quân y xá, giao thông vận tải với những trại sản xuất lớn, những binh công xưởng, quân y viện, trường thiếu sinh quân, những đội công tác vận tải, liên lạc... Hàng đoàn “công-voa” xe bò chở lương thực thực phẩm nguyên hóa liệu cho binh công xướng lên căn cứ và chở vũ khí đạn dược từ căn cứ trở về các chiến trường, hàng chục cơ sở sản xuất lúa gạo, hoa màu, gia súc, đường mía, bột mì... hoạt động có kết quả. Dựa vào nhân dân, với tinh thần chủ động, tự lực cánh sinh để kháng chiến lâu dài, Giải phóng quân, Chi đội 12, Trung đoàn 312 đã gần như tự túc được hoàn toàn về lương thực và vũ khí. Trong điều kiện bị địch chia cắt phong tỏa ngặt nghèo sau trận bão lụt năm 1952, hoạt động của tiểu đoàn vận tải chiến lược 320 - mà cán bộ chiến sĩ chủ yếu lấy từ lực lượng Trung đoàn 312 cũ - đã góp phần cung ứng một lượng vũ khí đạn dược, thuốc men, tiền vàng, tài liệu quan trọng cho cóng cuộc kháng chiến. Trên mặt trận này, hàng trăm cán bộ chiến sĩ của trung đoàn đã anh dũng hy sinh. Thống kê thành tích của Trung đoàn 312 vì thế không chỉ đơn thuần thống kê số lượng và thành quả các trận đánh, mà phải thống kê hết những hoạt động âm thầm nhưng không kém phần quyết liệt của đơn vị trên các mặt trận xây dựng cơ sở, bám đất giữ làng và phục vụ kháng chiến. Và đó là một đặc điểm quan trọng của lịch sử Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, Chi đội 12, Trung đoàn 312.


Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 312 năm xưa lại tiếp bước vào cuộc đấu tranh mới: chiến đấu chống đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, chiến đấu bảo vệ biên giới và làm nghĩa vụ quốc tế, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tố quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhiều người trong số họ chuyển ngành, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên các mặt trận kinh tế, chính trị tư tưởng, văn hóa xã hội... Dù ở nơi đâu, trên bất cứ cương vị nào, trong ký ức của họ luôn trào dâng một niềm tự hào khôn nguôi về những năm tháng được chiến đấu công tác trong đội hình Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, Chi đội 12, Trung đoàn 312. Điều đó như một thứ năng lượng nuôi dưỡng quyết tâm của họ trên mỗi chặng đường tranh đấu. Và thứ năng lượng ấy, không chỉ lưu đọng trong trái tim mỗi cựu chiến binh Trung đoàn 312 hôm nay. Nó như một ngọn lửa, truyền tỏa sang thế hệ lực lượng võ trang kế cận, sang thế hệ những người lính hôm nay đang mỗi ngày hăng say luyện tập, mài sắc cảnh giác sẵn sàng chiến đấu bảo vệ sự bình yên của Tố quốc!
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tám, 2021, 03:05:46 pm gửi bởi ptlinh » Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2021, 02:20:58 pm »

Đối với gián điệp ẩn nấp, nhất là đối tượng thuộc diện P86, lãnh dạo Bộ Công an chỉ đạo phải đấu tranh với tinh thần kiên quyết, thận trọng, không để lọt một đối tượng nào. Bộ tuyển chọn những cán bộ dày dạn kinh nghiệm thuộc hệ bảo vệ chính trị, bảo vệ nội bộ ở cơ quan Bộ và các địa phương, phối hợp với các ngành có liên quan làm nhiệm vụ tiếp nhận, trao trả tù, hàng binh theo Hiệp định Pari. Trong quá trình tiếp nhận, đã phát hiện hàng trăm đối tượng có dấu hiệu địch tuyển dụng, giao nhiệm vụ. Thẩm tra, xác minh, ta làm rõ cơ quan tình báo Mỹ đã tuyển dụng 32 đối tượng “Bắc vụ" và 28 đối tượng “Nam vụ”. Từ năm 1973 đến năm 1975, ta lần lượt xử lý toàn bộ những đối tượng P86 đánh ra miền Bắc trước và trong thời kỳ trao trả. Trong đó bóc gỡ toàn bộ điệp viên của “Kế hoạch Hải Yến" do CIA, Phủ Đặc uỷ Trung ương tình báo ngụy tiến hành từ năm 1969, bắt 8 điệp viên (7 điệp viên đánh ra miền Bắc, 1 điệp viên ở miền Nam).


Tại chiến trường miền Nam, Mỹ - ngụy sử dụng ba công cụ chủ yếu là: Cuộc Cảnh sát (cấp xã), Uỷ ban Phượng Hoàng xã, Phân chi khu quân sự xã để kìm kẹp, đánh phá hạ tầng cơ sở, đàn áp phong trào tại chỗ. Những công cụ này đều xây dựng cơ sở bí mật trong mọi tầng lớp nhân dân. Ở thành phố, thị xã, chúng tổ chức kìm kẹp tương tự như ở nông thôn, nhưng chặt hơn, sâu hơn. Đối với vùng giải phóng, địch sử dụng gián điệp cài vào nội bộ ta, chiêu hàng bí mật, tâm lý chiến, phá rối an ninh trật tự... mục tiêu chính là phục vụ cho lấn chiếm, giành dân và gây chiến tranh tâm lý.


Đối phó với hoạt động của địch, Trung ương Cục miền Nam xác định: "Công tác chống gián điệp phải tập trung cho chống phá bình định, giành dân, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng ở nông thôn, giữ vững vùng đã giải phóng". Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, lực lượng An ninh hướng công tác về cơ sở, nắm âm mưu địch sâu hơn, nắm quần chúng chắc hơn, tổ chức phong trào quần chúng làm công tác an ninh ở vùng giải phóng, vùng tranh chấp; phối hợp với phong trào "Tấn công địch phía trước, phá kìm kẹp phía sau". Chủ trương sáng suốt và kịp thời của Trung ương Cục đã giúp lực lượng An ninh hướng mũi nhọn cuộc đấu tranh vào âm mưu chiến lược của Mỹ, ngụy; hỗ trợ cho quần chúng vùng lên giành quyền làm chủ ở chính nơi mà kẻ địch cho là "Cuộc giành giật sống còn cuối cùng". Phong trào quần chúng phá kềm, diệt bọn ác ôn, bọn tay sai chỉ điểm phát triển mạnh và rộng khắp các vùng nông thôn, kể cả vùng Tây Nam Bộ. Chỉ tính từ năm 1973 đến tháng 5-1974 ta đã diệt 2.014 tên, bắt 1.588 tên ác ôn, nhân viên Phượng Hoàng khét tiêng ở vùng địch chiếm đóng; xây dựng dược 16.235 cơ sở là cán bộ nhân viên xã, ấp. Cuối năm 1974, hàng loạt “Ban tề" mật báo viên, nhân viên “Cuộc cảnh sát” ở địa bàn giáp ranh đã phải lưu vong hoặc trốn sâu vào vùng địch kiểm soát; hàng trăm ban An ninh thôn, ấp ở vùng trắng được phục hồi.


Đối với vùng hanh lang, vùng giáp ranh và vùng lõm đã vô hiệu hoá 11.635 tên là tay sai của "Sở Mỹ", trong đó có 38% là đối tượng gián điệp, chỉ điểm, nhân viên Uỷ ban Phượng Hoàng, ở vùng giải phóng ta vận động nhân dân củng cố phong trào "Bảo mật phòng gian”, giữ vững vùng giải phóng. Các lực lượng vũ trang tăng cường công tác truy lùng, đánh đuổi gián điệp biệt kích, bảo vệ an toàn cơ quan, kho tàng, tuyến đường vận chuyển. Hàng trăm toán gián điệp biệt kích đã bị bắt, bị diệt, có toán tới 30 tên. Từ năm 1973 đến cuối năm 1974, ta đã bắt, truy tố 343 tên gián điệp biệt kích, đưa đi tập trung cải tạo 1.420 tên.


Lực lượng An ninh các khu, tỉnh, huyện vừa khai thác số gián điệp bị bắt vừa soát xét lại vụ việc nghi nội gián trước kia chưa có điều kiện làm rõ để tổ chức bóc gỡ, từng bước củng cố nội bộ các cơ quan kháng chiến. Đến cuối năm 1974, ta đã khám phá 117 vụ nội gián, trong đó có 92 vụ ở các cấp cơ sở. Kết quả đấu tranh chống nội gián cho thấy, kẻ địch thu được một số kết quả ở cấp cơ sở, có tính chiến thuật nhưng chúng không thành công ở cấp cao và có tính chiến lược. Lực lượng An ninh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ nội bộ, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo cao cấp. Đây là thành công có ý nghĩa quyết định đối với yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng. Cùng với đấu tranh bóc gỡ đầu mối nội gián, lực lượng An ninh đã chú trọng công tác thẩm tra, xác minh, giải oan nhiều trường hợp bị xử lý oan do cơ quan tình báo Mỹ, ngụy lập hồ sơ giả, tung tin bôi lem, làm khuynh đảo nội bộ ta.


Tóm lại: Giai đoạn từ năm 1973 đến năm 1975 là giai đoạn lịch sử ngắn nhưng có ý nghĩa quan trọng, là giai đoạn tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Công tác đấu tranh chống gián điệp ở cả hai miền Nam, Bắc đã đáp ứng được nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn lịch sử quan trọng này. Việc kịp thời chuyển hướng đấu tranh, tổ chức lực lượng hướng về cơ sở, lấy xã, ấp giải quyết vấn đề chiến tranh 6 miền Nam là hệ thống những quyết sách sát hợp với diễn biến tình hình, đã phát huy cao độ vai trò của nhân dân, tao đã cho lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng, tạo thế và lực cho cách mạng. Trong đấu tranh, đã kết hợp chặt chẽ giữa trừng trị bọn gián điệp, chỉ điểm với phá thế kềm kẹp, giải quyết không chỉ mục tiêu đánh địch mà còn tạo ra áp lực chính trị mạnh, tác động tinh thần đối với hệ thống chính quyền tay sai ở cấp cơ sở của địch, góp phần phá âm mưu chiến lược của Mỹ, ngụy. Đây là một trong những yếu tố quan trọng, đánh bại bình định, chống lấn đất, giành dân, đẩy địch vào thế yếu, thế bị động; tạo thế, tạo lực, thúc đẩy thời cơ cho cuộc tổng tiến công đến sớm.


Trận tuyến đấu tranh chống gián điệp ở miền Bắc vẫn diễn ra quyết liệt, lực lượng An ninh sử dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ; thực hiện các biện pháp phòng và chống đạt hiệu quả cao, nhất là đối với những phương thức hoạt động được đối phương tập trung triển khai như lâm thời, thường trú; bắt cóc ngư dân. Trong giai đoạn này, lực lượng An ninh miền Bắc đã giành được thắng lợi to lớn trong quá trình đấu tranh với đối tượng X70 và X77. Ta không chỉ vô hiệu hoá được hoạt động của điệp viên, bóc gỡ cơ sở của chúng mà chủ yếu là bảo vệ tuyệt đối an toàn đường lối của Đảng, tổ chức của Đảng nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu đối ngoại phục vụ công cuộc giải phóng miền Nam, xây dựng và bảo vệ miền Bắc.


Đấu tranh chống nội gián ở miền Nam còn nhiều sơ hở, nhất là các cấp cơ sở, các đoàn thể quần chúng. Những thiệt hại do nội gián gây ra với cách mạng không nhỏ, song những thiệt hại đó chỉ xảy ra ở các cấp cơ sở nên kẻ địch không xoay chuyển được tình thế. Nhiệm vụ bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não kháng chiến, các đồng chí lãnh đạo cao cấp, các chủ trương lớn là thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Mặc dù kẻ địch đạt được kết qua ở mức độ nào đó trong các kế hoạch nội gián, song không gây tác hại đến mức làm khuynh đảo nội bộ ta hoặc chi phối khuynh hướng phát triển của cách mạng. Do đó, đấu tranh chống nội gián vẫn là thắng lợi to lớn ở miền Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2021, 02:11:41 pm »

CHƯƠNG III
ĐẤU TRANH CHỐNG GIÁN ĐIỆP THỜI KỲ
XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1975-2005)


Cuộc đấu tranh chống gián điệp thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ năm 1975 đến năm 2005 diễn ra vô cùng gay go, quyết liệt và có độ nhảy cảm cao. Trên lĩnh vực bảo vệ an ninh chính trị, có thể phân thành hai giai đoạn rõ rệt là giai đoạn “chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” (từ năm 1975 đến năm 1989) va giai đoạn “chống diễn biến hòa bình” (từ năm 1990 đến 2005).


1. Giai đoạn từ giữa năm 1975 đến cuối năm 1989

Mùa xuân năm 1975, quân và dân ta tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Sau 30 năm kiên cường chiến đấu, dân tộc ta giành độc lập hoàn toàn, cách mạng nước ta chuyển sang bước ngoặt lịch sử mới: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Giai đoạn lịch sử từ năm 1975 đến năm 1989, cách mạng nước ta phát triển thành hai bước rõ ràng: Từ năm 1975 đến năm 1986, cả nước vừa khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, vừa xây dựng Chủ nghĩa xã hội trước những tác động tiêu cực của đường lối, chính sách quan liêu bao cấp. Từ năm 1986 đến năm 1989, Đảng khởi xướng đường lối đổi mới, cả nước đi chặng đường đầu tiên thắng lợi của sự nghiệp đổi mới trước sự tấn công từ nhiều phía của bọn phản động quốc tế.


Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tình hình an ninh chính trị ở các tỉnh phía Nam xuất hiện những vấn đề cấp bách cần được giải quyết: Hơn một triệu ngụy quân, ngụy quyền, hơn hai triệu đảng viên của 469 đảng phái phản động, 120.367 cảnh sát, mật vụ... tan rã tại chỗ; đa số ra trình diện và chấp hành học tập, cải tạo nhưng còn một bộ phận không nhỏ vẫn lẩn trốn hoặc thay đổi địa bàn tiếp tục chống phá. Dần dần chúng co cụm thành các ổ nhóm vũ trang, tổ chức phản động manh động chống chính quyền. Lực lượng Fulro ở các tỉnh Tây Nguyên được bọn phản động quốc tế hỗ trợ, hoạt động ráo riết và trắng trợn. Mặc dù đã thất bại, nhưng Mỹ vẫn nuôi ảo tưởng quay trở lại, tiến hành nhiều kế hoạch cài gián điệp ở lại, chờ thời cơ hoạt động. Sau một thời gian nằm im nghe ngóng, bọn gián điệp cài lại dần dần móc nối hoạt động, câu móc với các tổ chức phản động thành những liên minh phản cách mạng manh động gây ra nhiều vụ bạo loạn ở các tỉnh phía Nam.


Diễn biến tình hình trên càng trở nên trầm trọng do những tác động khách quan trọng nội tại xã hội ta sau chiến tranh: Đất nước liên tục bị thiên tai hạn hán; cơ chế quản lý quan liêu bao cấp không phù hợp với thực tiễn; một số sai lầm trong việc đề ra chính sách điều hành xã hội dẫn đến sản xuất bị đình đốn, lưu thông phân phối ách tắc, đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn. Nạn tham nhũng, buôn lậu, trộm cắp hoành hành, tệ nạn xã hội phát triển, trật tự an toàn xã hội có biểu hiện rối ren. Từ năm 1978, số người trốn ra nước ngoài ngày một đông. Cùng với bọn di tản năm 1975, những người trôn khỏi Tổ quốc là nguồn để bọn phản động quốc tế sử dụng làm lực lượng xung kích chống phá ta. Đối với Mỹ, sau thất bại năm 1975, CIA điều chỉnh kế hoạch tình báo để phục vụ cho âm mưu đánh ta lâu dài. Chúng sử dụng bọn di tản, những người trốn ra nước ngoài làm lực lượng công khai phá hoại tư tưởng và bí mật xâm nhập về nước gây bạo loạn. CIA tăng cường cài điệp viên vào các đoàn lâm thời, trụ sở thường trú của các nước đồng minh với Mỹ hoặc lệ thuộc; móc nối với cơ quan đặc biệt TH, các nước thuộc khu vực quanh Đông Dương, hình thành vành đai trực tiếp uy hiếp an ninh nước ta và các nước Đông Dương.


Bị thất bại trong cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, cơ quan đặc biệt TH càng tăng cường hoạt động gián điệp đối với nước ta. TH dùng mọi thủ đoạn, tận dụng mọi điều kiện, ồ ạt tung gián điệp vào sâu trong nội địa vừa thu thập tin tức vừa kích động người Hoa chống phá. Trong đó, ngoài số nội gián đã cài vào nội bộ ta từ nhiều năm trước, TH ráo riết mua chuộc, khống chế cán bộ và nhân viên các cơ quan Đảng, Chính quyền, lực lượng vũ trang làm cơ sở cho chúng. TH còn lợi dụng quan hệ thân tộc, giao lưu hàng hoá, chợ đường biên... tung tay chân vào nội địa hoặc bí mật bắt bà con các vùng giáp ranh khống chế, mua chuộc, giao nhiệm vụ. Sau thất bại ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc năm 1979, từ năm 1980 đến năm 1985, TH duy trì 7 đại đội phỉ hoạt động trong vùng rừng núi 6 tỉnh phía Bắc nước ta với mục đích vừa gây rối vừa kích động đồng bào dân tộc nổi dậy chống chính quyền. Để phục vụ cho âm mưu "bá quyền", TH phát động “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt", đánh ta toàn diện trên mọi lĩnh vực. Một trong những hướng tấn công chủ yếu của chúng là sử dụng bọn phản động lưu vong, huấn luyện thành gián điệp biệt kích bí mật xâm nhập về nước mang theo các loại phương tiện chiến tranh, liên kết với các đầu mối gián điệp, với các tổ chức phản động trong nội địa thực hiện các kế hoạch “Trong nổi dậy, ngoài đánh vào", bạo loạn lật đổ chính quyền ở từng địa phương, xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng, tiến đến thực hiện âm mưu bạo loạn lật đổ chính quyền trên cả nước vào các năm 1982, 1983, 1985, 1987. Do đó, yêu cầu của cuộc đấu tranh chống gián điệp ở giai đoạn này là vừa phải giải quyết những vấn đề căn bản do hậu qua chiến tranh, vừa phải chuyển hướng để đánh bại âm mưu mới, sự liên kết mới của các cơ quan gián điệp nước ngoài.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM