Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Chín, 2021, 01:03:47 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005  (Đọc 1556 lần)
vietkieu_cuuquocquan và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2021, 08:15:05 pm »

3. Giai đoạn từ cuối năm 1950 đến cuối năm 1954

Chiến thắng Biên giới năm 1950 mở ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta. Một vùng đất đai rộng lớn được giải phóng, hành lang từ Móng Cái đến Cao Bằng được mở cửa, tạo điều kiện để cách mạng Việt Nam trực tiếp nhận chi viện về người và của từ Liên Xô, Trung Quốc... Đây là điều kiện quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình phát triển toàn diện của lực lượng kháng chiến, tạo ra bước nhảy vọt về tương quan lực lượng giữa ta và địch.


Thất bại trong chiến dịch Biên giới, Pháp lâm vào tình thế bị động, lúng túng, tinh thần đội quân viễn chinh sa sút, chính quyền tay sai và bọn phản động hoang mang, dao động. Để kéo dài chiến tranh, Pháp tăng cường xin viện trợ của Mỹ và cử Đại tướng Đờ Lát đờ Tát xi nhi (De Lattre de Tassigni) làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, kiêm Cao uỷ Pháp ở Đông Dương. Sang Việt Nam, y triển khai kế hoạch “Đờ-lát”: Gấp rút xây dựng lực lượng cơ động mạnh, phát triển ngụy quân, lập tuyến phòng thủ bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ, tiến hành chiến tranh tổng lực hòng bình định cho được vùng tạm chiếm để giành lại thế chủ động đã mất. Với kế hoạch đó, quân Pháp xúc tiến xây dựng ở chiến trường Bắc Bộ phòng tuyến boongke gồm 113 vị trí; dồn dân, lập vành đai trắng; tăng số quân ở Đông Dương lên gần 100.000 tên so với năm 1950. Trên khắp chiến trường từ miền Nam đến miền Bắc, Pháp ráo riết mở các cuộc càn quét lớn và vừa, ngắn ngày và dài ngày nhằm tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta, phá hậu phương, cướp phá kinh tế, dồn dân đẩy mạnh bình định.


Để hỗ trợ cho lực lượng quân sự, Pháp đầu tư tối đa về người và tiền của cho chính sách gián điệp. Kinh phí chi cho hoạt động gián điệp tăng gấp 3 lần trước đó; riêng ở Nam Bộ, chiếm 1/3 kinh phí chiến tranh trong năm 1951. Về nhân viên gián điệp, Pháp huy động mọi nguồn để bổ sung cho lực lượng trực tiếp chiến đấu như giảm biên chế hành chính, điều nhân viên ra chiến trường; rải điệp viên trên các đường tiến quân hoặc rút lui; cắm điệp viên vào từng đại đội, từng cứ điểm chiếm đóng. Nhân viên hoạt động tại các cơ quan gián điệp năm 1951 do đó tăng vọt: Sài Gòn - Chợ Lớn gồm 8.000 tên, Thừa Thiên gồm 1.200 tên; Hà Nội gồm 1.600 tên... Ngoài số nhân viên hiện có, chúng ra lệnh gọi bọn mật thám cũ thông thạo địa bàn trở lại làm việc như Georgin, Lannèque, Boubal... Huy động lực lượng Commanđo, biệt kích thuộc địa nhảy dù (DBCCP), biệt kích liên quân khu (CI) mở các cuộc càn quét chớp nhoáng thọc sâu vào hậu phương ta, kể cả vùng Thanh - Nghệ Tĩnh, đốt phá, cướp bóc, phá huỷ tiềm lực dự trữ, bắt cóc cán bộ, khai thác tin tức, cài cắm gián điệp ở lại hoạt động lâu dài. Để tăng cường hiệu quả cho chính sách gián điệp, tháng 5 - 1951, Pháp thành lập lực lượng “Biệt kích hỗn hợp nhảy dù" (GCMA) hoạt động trên địa bàn cả nước, nhưng tập trung chính ở chiến trường Bắc Bộ. GCMA kỳ Bắc Bộ có hệ thống GCMA miền tại 12 địa bàn trọng điểm như Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hòn Mê... với nhiệm vụ thâm nhập sâu vào hậu phương của ta theo hai phương thức: Từng tiểu đội, trang bị gọn nhẹ, đi bộ, có xích hầu dẫn đường, hoạt động từ 1 tuần đến 10 ngày để thu thập tin tức, chỉ điểm cho máy bay bắn phá; thả dù từng đại đội xuống vùng rừng núi thành lập những ổ nhóm do thám và móc nối với bọn phỉ làm rối loạn hậu phương ta.


Song song với phát triển các hệ loại, số lượng gián điệp, Pháp tổ chức thêm các cơ quan do thám của ngụy quyền, sử dụng các tổ chức ngụy quyền, ngụy đảng, hội đoàn làm tai mắt cho chúng. Cơ quan gián điệp lùng bắt, mua chuộc thân nhân, vợ con binh lính, kể cả cán bộ của ta để đánh ra vùng tự do dò xét và tung tin tâm lý. Thời kỳ này cơ quan 2B, SF chú trọng sử dụng phương thức "trá hàng", “nội gián”, “buôn lậu", "gián điệp đôi"... hoặc thành lập những “mặt trận ma" để chui vào hàng ngũ Đảng, các cơ quan kháng chiến cũng như thâm nhập sâu vào vùng tự do. Tình hình trên cho thấy quân đội chiếm đóng của Pháp đặc biệt khao khát tin tức về quân sự, nghiêng hẳn về do thám phục vụ ý đồ quân sự, giảm các hoạt động do thám về chính trị có tính chiến lược.


Do điều chỉnh về âm mưu, tăng cường kinh phí, tăng cường các lực lượng nên hoạt động của gián điệp Pháp ở giai đoạn này gây cho ta nhiều khó khăn. Các cơ quan 2B (Phòng Nhì), SF (Sở An ninh), SR (Quân báo) thống nhất với nhau về lề lối làm việc và phối hợp chặt chẽ trong hành động. Vì vậy chúng đạt được một số kết quả trong việc sử dụng “gián điệp đôi", "gián điệp trá hàng" "nội gián". Chúng dựng lên một số đảng phái chính trị ma biến bọn phản động vùng hậu phương ta thành những ổ do thám chỉ điểm theo chủ trương “do thám hoá”. Trong những tổ chức đó phải kể đến “Mặt trận dân chúng liên hiệp" của bọn phản động trong đạo Thiên Chúa hoạt động khắp ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Đông, Thanh Hoá, Nghệ An... Chúng cài được nhiều tay chân vào các đoàn, hội kháng chiến của ta để hoạt động.


Sau kế hoạch “Đờ-lát", tháng 5-1953, Pháp thực hiện kế hoạch “Nava". Với kế hoạch “Nava”, Pháp tăng kinh phí cho cuộc chiến tranh gián điệp lên 11.239 triệu Frăng, tập trung những nỗ lực cuối cùng vào mặt trận này hòng cứu nguy cho giới quân sự đồng thời chuẩn bị những điều kiện cần thiết tiếp tục đánh ta khi Pháp buộc phải rút khỏi Việt Nam. Pháp mở thêm các lớp đào tạo sĩ quan gián điệp; tuyển chọn binh lính Commanđo, CI, GCMA, một số đảng viên Đại Việt đưa ra nước ngoài đào tạo để cài cắm ở lại miền Bắc hoặc đưa về Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây huấn luyện cấp tốc rồi tung xuống các tỉnh rừng núi làm nòng cốt cho các hang ổ phỉ. Pháp dự kiến cuối năm 1954 sẽ tăng số GCMA là người bản xứ lên 50.000 tên.


Khi thấy Pháp bị sa lầy và sẽ thất bại ở chiến trường Đông Dương, Mỹ đẩy mạnh hoạt động gián điệp, sẵn sàng thế chân Pháp. Từ năm 1951, Mỹ tăng viện trợ lên gấp ba lần cho Pháp, giúp Pháp đủ tiềm lực kéo dài chiến tranh để Mỹ có thời gian chuẩn bị điều kiện triển khai hoạt động gián điệp. Tướng Ôđanien cầm đầu phái đoàn viện trợ quân sự (MAAG) sang Đông Dương nắm tình hình và chỉ đạo mọi hoạt động của Pháp. Trùm tình báo Donall Heath sang Việt Nam nắm các điệp viên của Mỹ đồng thời tiến hành mua chuộc điệp viên của Pháp, Nhật. Doolley khoác áo linh mục, nắm chức Khâm mạng Đông Dương, ra sức nuôi dưỡng bọn cầm đầu phản động trong Thiên Chúa giáo, mua chuộc bọn cầm đầu các đảng phái phản động, trí thức bất mãn. Thông qua hệ thống những hoạt động liên tục, từ năm 1951, Mỹ can thiệp càng sâu vào chiến trường Việt Nam, trong đó trọng tâm là hoạt động gián điệp. Càng ngày vai trò của cơ quan tình báo Mỹ càng chi phối hoạt động của Pháp và đến năm 1954, dường như Mỹ đã biến Pháp thành công cụ để thực hiện những bước chuẩn bị cuối cùng trong âm mưu thay chân Pháp xâm lược Đông Dương.


Dự kiến xu hướng phát triển của cục diện chiến tranh, tháng 2-1951, Trung ương Đảng tiến hành Đại hội đại biếu Đảng toàn quốc lần thứ II và quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai để tập trung mọi mặt, lãnh đạo kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Đại hội xác định nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là: “Tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập và thống nhất hoàn toàn”1 (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, thảng 2-1951). Thực hiện nhiệm vụ chiến lược của Đảng, đầu năm 1951, Bộ đội chủ lực liên tiếp mở 3 chiến dịch vận động chiến, đồng thời chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân vùng hậu địch phá bình định, nhổ đồn bốt. Tuy các kế hoạch của ta chưa đạt được mục tiêu chiến lược, nhưng đã gây cho quân đội Pháp những khó khăn nhất định trong quá trình triển khai chiến lược “chiến tranh tổng lực".
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2021, 07:54:09 pm »

Để tập trung lực lượng, củng cố trận địa chống phản cách mạng, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị về “Nhiệm vụ và tổ chức của Công an”. Chỉ thị nêu “Nhiệm vụ cơ bản của Công an là bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền nhân dân, bảo vệ nền kinh tế quốc dân, bảo vệ Quân đội, bảo vệ nhân dân2 (Chỉ thị số 05/CT-TW, ngày 12-5-1951). Chỉ thị nhấn mạnh công tác điều tra khám phá tổ chức và hoạt động gián điệp; chống gián điệp kinh tế, đặc vụ. Chỉ thị nhấn mạnh: “Các Cấp uỷ cơ sở phải cử cán bộ tin cậy, có trình độ sang làm công tác công an; không được điều động cán bộ Công an làm việc khác". Quán triệt chỉ đạo của Đảng, tháng 12 năm 1951, Nha Công an mở Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ VI, xác định một số vấn đề chính yếu có chiều sâu trong phòng ngừa và tổ chức đấu tranh: “Bảo vệ nội bộ là bảo vệ bí mật, bảo vệ nội bộ được thuần khiết, dựa vào lực lượng của chi bộ, của công đoàn. Phương châm của công tác chính trị bảo vệ là: Đi sâu vào cơ quan đầu não của địch; phối hợp với các địa phương làm công tác phản gián; phát triển Công an xã để chỉ đạo công tác phòng gian trừ gian; đề cao kỹ thuật đánh địch".


Đáp ứng yêu cầu của Hội nghị Công an toàn quốc, lực lượng Bảo vệ chính trị tập trung triển khai một số công tác lớn: Hướng dẫn các cơ quan đơn vị ở vùng tự do, củng cố và thành lập các "Ban bảo vệ cơ quan"', xây dựng nội quy, quy chế bảo vệ nội bộ, giúp các "Ban bảo vệ cơ quan" cách thức triển khai công tác bảo vệ nội bộ. Thành lập "Đội điều tra chủ lực”, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ty Bảo vệ chính trị, làm nhiệm vụ tổ chức điều tra những chuyên án lớn và hướng dẫn các khu, tỉnh về nghiệp vụ điều tra án. Việc thành lập “Đội điều tra chủ lực" đánh dấu bước phát triển đầu tiên về bố trí lực lượng chuyên ngành, theo hệ loại đối tượng sau này. Thời gian này, công tác điều tra đã hình thành hai lực lượng là trinh sát nội tuyến và trinh sát ngoại tuyến. Trinh sát nội tuyến có trách nhiệm tổ chức đánh địch bằng hai cách thức: “Kéo ra”, “Đánh vào". Trinh sát ngoại tuyến có trách nhiệm theo dõi đối tượng cả “bề trong và bề ngoài". Đội ngũ điều tra viên nội tuyến và ngoại tuyến đều phải hoàn toàn bí mật để tiến tới “chức nghiệp hóa" và “xã hội hóa".


Tháng 8-1952, đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Trung ương Đảng được điều về phụ trách Nha Công an, chủ trì Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ VII. Hội nghị thông qua 7 kết luận. Những vấn đề nêu trong 7 kết luận được đúc kết từ thực tiễn thành lý luận đấu tranh chống phản cách mạng tương đối hoàn chỉnh trên tất cả các mặt công tác, vừa cụ thể hoá quan điểm của Đảng, vừa xác định nội dung, quy trình, biện pháp đấu tranh ở từng lĩnh vực. Những nội dung trong 7 kết luận không chỉ có giá trị chống gián điệp lúc đó mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.


Về vai trò tham mưu, trong giai đoạn này, lực lượng An ninh phát hiện các cơ quan và đoàn thể kháng chiến thường tự động xây dựng cơ sở, ra vào vùng địch để nắm tình hình. Do cơ quan, đoàn thể kháng chiến không có nghiệp vụ hướng dẫn điều tra nên hầu như cơ sở của ta bị địch lợi dụng, cung cấp cho tin giả và khai thác được bí mật của ta. Lực lượng An ninh đã kịp thời tham mưu cho Trung ương Đảng và Chính phủ ban hành các chỉ thị để định hướng đấu tranh: Chỉ thị số 18-CT/TW “Về việc dùng gián điệp đôi"; Chỉ thị “Về gián điệp trá hàng"- Chỉ thị “Về gián điệp là con buôn lậu”, “gián điệp là trẻ em". Bốn chỉ thị trên ra đời khá kịp thời nên giúp cho các cơ quan, đơn vị hiểu rõ vấn đề sử dụng cơ sở để thu tin tình báo cũng như quy định cấp nào được phép sử dụng cơ sở.


Để củng cố một bước công tác giữ gìn bí mật và bảo vệ nội bộ, lực lượng An ninh phối hợp với các cơ quan đơn vị củng cố nội quy bảo vệ cơ quan, quy định chặt chẽ việc ra vào vùng địch kiểm soát, đặc biệt là đối với lực lượng giao bưu, chiến sĩ làm công tác cung cấp nhu yếu phẩm thường xuyên phải ra vào vùng địch. Phong trào “Phòng gian bảo mật” và “Ngũ gia liên bảo" ở giai đoạn này được củng cố cơ bản, có nội quy, quy định sát hợp với từng vùng dân cư. Dưới sự hướng dẫn của các Ban Công an xã, Công an làng, tinh thần cảnh giác của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Hệ thống trạm kiểm tra xét giấy, tuần tra canh gác được thiết lập trên mọi ngả đường, trong từng thôn xóm có tác dụng kiểm soát, ngăn chặn hoạt động và giao thông của bọn gián điệp, chỉ điểm. Công an còn phối hợp với các đoàn hội kháng chiến giáo dục nhân dân, tẩy chay và cô lập các ‘‘Mặt trận ma", góp phần hạn chế cơ sở xã hội chủ yếu của bọn gián điệp, làm cho chúng chỉ thu được những tin tức bề mặt và bên ngoài.


Nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các chiến dịch quân sự, trinh sát Bảo vệ chính trị được điều đến các đơn vị Quân đội, đoàn dân công, kho trung chuyển và tham gia phụ trách công tác bảo vệ nội bộ hoặc bảo vệ cơ quan để phối hợp quản lý địa bàn phòng ngừa bọn do thám, chỉ điểm hoạt động. Đối với các địa phương có tuyến đường phục vụ chiến dịch, trinh sát Bảo vệ chính trị phối hợp với các cơ quan và chính quyền địa phương “xây dựng hành lang an toàn” từ hậu phương ra tiền tuyến, đảm bảo tuyến đường cung cấp nhân tài, vật lực cho chiến trường tuyệt đối an toàn. Tuyến “hành lang an toàn" lớn nhất được xây dựng từ Thanh - Nghệ vượt qua nhiều tỉnh đến Điện Biên Phủ là đóng góp đáng kể của Công an trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.


Trên lĩnh vực đấu tranh chuyên án, lực lượng chống gián điệp đi sâu điều tra cơ bản, nắm vững diễn biến hoạt động của địch, đồng thời xây dựng mạng lưới cơ sở rộng khắp để nắm âm mưu, kế hoạch hoạt động ngay từ trung tâm đầu não của chúng. Trong năm 1951, Công an Hà Nội đặt tại mỗi khu phố 3 điều tra viên, xây dựng 259 cơ sở bí mật trong nội thành và thiết lập tuyến giao thông để chuyển tin được nhanh chóng, bí mật. Công an Hải Phòng xây dựng 15 cơ sở nằm trong cơ quan ngụy quân, ngụy quyền và Bảo chính đoàn. Công an Phú Yên điều 4 cơ sở cấp cao vào làm việc trong dinh Tỉnh trưởng, Ty Công an, Ty cảnh sát của ngụy quyền. Hầu hết cơ sở đều hoạt động tốt, thu được nhiều tin tức quan trọng liên quan đên âm mưu, hoạt động của địch, giúp cho cơ quan chỉ đạo kháng chiến chủ động tổ chức phòng ngừa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2021, 07:31:14 pm »

Từ năm 1951 đến năm 1954, lực lượng Bảo vệ Chính trị đã bóc gỡ hàng trăm đầu mối, ổ, dây do thám, đẩy lùi địch ra khỏi những địa bàn, mục tiêu cần bảo vệ ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Trong đó có một số vụ điển hình như: Toán gián điệp do Đỗ Kỳ Nhân cầm đầu (Hà Nội); Nguyễn Thượng Dụ (Ninh Bình); Mã Dùng Sáu (Cao Bằng); Mai Tùng Canh (Hải Phòng); ổ gián điệp “Lam lam hồng chi” (Nghệ An), ở Lạng Sòn, chỉ trong một tháng mở chiến dịch trừ gian, ta đã bắt 32 tên gián điệp, chỉ điểm. Tháng 11 năm 1952, Công an Liên khu IV khám phá ổ nhóm gián điệp ở Hòn Mê - Thanh Hoá, bắt 55 tên hoạt động từ Ba Làng - Thanh Hoá đến miền Tây Nghệ An. Tháng 8 năm 1952, Công an Liên khu III phá mạng lưới gián điệp hoạt động ở Ninh Bình do 2B ZOT chỉ huy, bắt 21 tên; Công an Lạng Sơn khám phá đường dây do thám hoạt động ở ba huyện: Bắc Sơn, Bình Giã, Bằng Nhạc, bắt 15 tên. Năm 1952, Công an Liên khu III tiếp tục bóc gỡ đường dây do thám hoạt động trên tuyến đường giao thông từ Thanh Hoá - Ninh Bình - Nam Định - Hoà Bình lên Điện Biên Phủ do 2B điểu khiến, bắt 16 tên. Để đảm bảo an toàn cho Bộ chỉ huy kháng chiến và các lực lượng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, Vụ Bảo vệ chính trị phối hợp với Công an Liên khu III mở chiến dịch điều tra trên địa bàn cửa ngõ ra vào chiến khu Việt Bắc: Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Phú Thọ, Nam Thái Nguyên, vành đai chân núi Tam Đảo, dọc sông Đà... bắt 48 tên gián điệp, phá 5 ổ do thám đóng giả con buôn hoặc mở quán bán nước trên các tuyến đường giao thông. Đã khám phá hàng chục đầu mối nội gián nằm trong các đơn vị quân đội hoặc cơ quan kháng chiến; có đầu mối ta sử dụng đánh trở lại nhưng địch vẫn không hay biết. Công an Thủ Biên khám phá vụ nội gián “Đỗ Thái”; Công an Hà Nội khám phá vụ nội gián “Hoàng Ngọc Tuyến”; khám phá đầu mối “Nguyễn Thị Toàn” chui vào Trung đoàn 802; bóc gỡ mạng lưới nội gián do Hoàng Minh Vượng chỉ huy hoạt động trong tỉnh đội Hải Ninh... Điểm đáng chú ý là chúng ta khám phá kịp thời khi chúng chưa chui sâu, leo cao và gây hậu quả nghiêm trọng.


Từ năm 1951, Pháp tập trung thực hiện phương thức mới là gián điệp biệt kích hỗn hợp nhảy dù (GCMA) với tham vọng sử dụng lực lượng biệt kích vũ trang phá rối hậu phương của ta để làm giảm áp lực quân sự trên chiến trường. Lực lượng Bảo vệ chính trị đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị Quân đội và nhân dân, nhất là đối với vùng núi, các tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh tổ chức truy bắt gián điệp biệt kích. Vì vậy, hầu hết các toán GCMA vừa thâm nhập đã bị truy bắt ngay: Truy bắt và diệt gọn 52 tên GCMA nhảy dù xuống Lũng Pù, Hà Giang, đập tan âm mưu liên kết với bọn phản động đánh chiếm vùng Tây Bắc lập “Liên bang xứ Nùng, Thái, Mèo tự trị”; bắt tiểu đội GCMA do Tạ Minh Phượng chỉ huy nhảy dù xuống Chi Lăng; bắt một toán gồm 7 tên nhảy dù xuống vùng núi Cẩm Thủy. Công an Thanh Hoá bắt toán biệt kích gồm 34 tên do Châu Thông Chân chỉ huy, từ Lào xâm nhập vào vùng Tây Thanh Hoá âm mưu liên kết với bọn phản động thành lập xứ “Liên Châu Thái tư trị”; bắt và diệt 54 tên nhảy dù xuống huyện Hồi Xuân - Thanh Hoá. Công an Bắc Giang vây bắt một tiểu đội GCMA nhảy dù xuống Đồi Ngô... GCMA là phương thức hoạt động mới và thường ở địa bàn hiểm trở nhưng ta biết vận động nhân dân, phối hợp chặt chẽ với Quân đội chủ động truy bắt ngay khi chúng xâm nhập nên về căn bản đã đẩy lùi hoạt động của GCMA, phá tan tham vọng sử dụng GCMA để giành lại thế đã mất trên chiến trường của Bộ chỉ huy chiếm đóng.


Từ năm 1953, ta chủ động tiến hành các kế hoạch đánh lại địch bằng thông tin liên lạc hiện đại. Một trong những chuyên án đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng đấu tranh chống gián điệp là chuyên án TN25: Tháng 5-1953, GCMA tung ra vùng Đại Từ, Thái Nguyên một toán gián điệp gồm 3 tên với nhiệm vụ thâm nhập vào Thủ đô kháng chiến thu tin tình báo chiến lược để phục vụ cho kế hoạch đánh chiếm Nà Sản và xây dựng cứ điểm Điện Biên Phủ. Vụ Bảo vệ chính trị bắt bí mật và sử dụng toán gián điệp đề đánh lại trung tâm địch theo kiểu “Trò chơi nghiệp vụ”. Trong quá trình đấu tranh, Ban chuyên án đã áp dụng đồng bộ các biện pháp trinh sát nội tuyến, ngoại tuyến, trinh sát kỹ thuật, cung cấp cho địch nhiều tin tức giả, dụ địch tăng cường nhân viên, tiếp tế phương tiện và bộc lộ những đầu mối đã cài cắm từ trước để bắt. Khi cuộc kháng chiến chống pháp thắng lợi, ta vẫn tiếp tục sử dụng ba điệp viên, bóc gỡ mạng lưới gián điệp cài lại trong kế hoạch hậu chiến của chúng. Từ năm 1953 cho đến năm 1958, GCMA không hề biết toán gián điệp này đã nằm trong sự điều khiển của cơ quan An ninh Việt Nam nên chúng cung cấp cho ta nhiều tin quan trọng, khen ngợi toán điệp viên, thậm chí còn tặng “Huân chương Thập tự sắt” cho Trần Thị Hán và đồng bọn. Đấu tranh chuyên án TN25 thắng lợi khắng định lực lượng An ninh có bước trưởng thành vượt bậc về nghiệp vụ, về khả năng tổ chức đấu tranh chuyên án, mở ra hướng đấu tranh mới cho những giai đoạn sau.


Tóm lại: Cuộc đấu tranh chống gián điệp trong giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến năm 1954 là bộ phận không tách rời của trận tuyến đấu tranh chống phản cách mạng; là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và vô cùng quyết liệt nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh giành chính quyền, giữ chính quýền và chống thực dân Pháp xâm lược. Đấu tranh chống gián điệp ở giai đoạn này đan xen với vũ trang đánh địch, về căn bản được phân thành ba vùng chiến lược rõ ràng. Quá trình phát triển về đường lối, tổ chức lực lượng và biện pháp tiến hành trong đấu tranh chống gián điệp ở giai đoạn lịch sử này có thể rút ra một số vấn đề sau:
Thứ nhất: Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo, phát triển qua từng giai đoạn để giành thắng lợi hoàn toàn. Đấu tranh chống gián điệp là một bộ phận của quá trình đấu tranh cách mạng, cũng có những bước phát triển gắn liền với các bước phát triển của cuộc kháng chiến và mang tính nhân dân sâu sắc. Sự phát triến về đường lối lãnh đạo cuộc kháng chiến của Đảng cũng đồng thời là lãnh đạo đấu tranh chống gián điệp, hoặc trực tiếp chi phối và định hướng đối với trận tuyến đấu tranh này.

Từ thực tiễn đấu tranh, lực lượng An ninh đã dựa hẳn vào quần chúng, từng bước hướng dẫn quần chúng và các cơ quan đơn vị tham gia vào trận tuyến phòng chống phản cách mạng; bước đầu hình thành mối quan hệ khăng khít giữa “phòng” và “chống", đặt nền móng cho những bước phát triển ở giai đoạn sau. Đóng góp của quần chúng, của các cơ quan đơn vị trong giai đoạn này đã hỗ trợ đắc lực cho lực lượng An ninh khi lực lượng còn mỏng, nghiệp vụ còn hạn chế.

Giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến đến hết năm 1947, nhận thức để phân biệt giữa gián điệp và phản động chưa rõ ràng; nghiệp vụ đánh địch còn đơn giản; còn nặng về đối phó và mang tính chất khu vực. Từ năm 1948 đã có bước chuyển biến cơ bản, phân biệt rõ hệ loại gián điệp, xác định cách thức đấu tranh; song phải đến năm 1950 mới xây dựng được thế trận vững chắc giữa phòng và chống, phát triển lực lượng nòng cốt đủ sức đánh bại âm mưu của địch. Từ năm 1952, lực lượng chống gián điệp có sự phát triển về tổ chức và mang tính chuyên ngành; bước đầu xây dựng được hệ thống lý luận; đã áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp nghiệp vụ, đấu tranh thắng lợi một số chuyên án đối với hai cơ quan tình báo sừng sỏ lúc này là Pháp và Mỹ.


Thứ hai: Thắng lợi của cuộc đấu tranh chống gián điệp trong giai đoạn lịch sử này là thắng lợi của việc đánh bại âm mưu của địch; góp phần đẩy thực dân Pháp lâm vào tình thế bị động và lần lượt phá sản các chiến lược chiến tranh. Là thắng lợi của tư tưởng “phòng ngừa và đánh địch” mang tính nhất quán từ chỉ đạo, tổ chức lực lượng đến hoạt động thực tiễn. Lực lượng nòng cốt chống gián điệp đã quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả nguyên tắc: “Nghiệp vụ phục vụ chính trị"; xác định đấu tranh chống gián điệp phải gắn liền với đấu tranh chống phản động; dựa vào pháp luật để đưa bọn gián điệp, chỉ điểm ra đấu tranh công khai, tạo ra áp lực chính trị mạnh mẽ, răn đe những phần tử cộng tác hoặc có ý định cộng tác với cơ quan gián điệp.


Thứ ba: Cuộc đấu tranh gián điệp ở giai đoạn này còn biểu hiện sự non yếu, hạn chế: Năm đầu tiên, từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ta chưa phân định rõ bọn gián điệp và bọn phản động; trong vùng địch kiểm soát có giai đoạn còn nặng về trừ gian, diệt ác, chưa đi sâu điều tra âm mưu và tổ chức của địch. Đặc biệt là công tác bảo vệ nội bộ có thời gian chưa được chú trọng đúng mức để địch lợi dụng cài cắm nội gián. Trong sử dụng “gián điệp đôi", có biểu hiện sử dụng tràn lan, không coi trọng nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn nên bộc lộ non kém và ấu trĩ, tạo cơ hội cho địch lợi dụng, gây khó khăn đối với các cơ quan kháng chiến. Thực tiễn cho thấy: Chống gián điệp là một trận tuyến đặc biệt, cần có nghiệp vụ chuyên môn, có lực lượng nòng cốt và được chuyên môn hoá để làm chức năng hướng dẫn phòng ngừa cũng như tổ chức đấu tranh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2021, 08:50:28 pm »

CHƯƠNG II
ĐẤU TRANH CHỐNG GIÁN ĐIỆP PHỤC VỤ NHIỆM VỤ
CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC,
ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG MIỀN NAM,
HOÀN THÀNH SỰ NGHIỆP THỐNG NHẤT TỔ QUỐC
(1954-1975)


Sau khi Hiệp định Giơnevơ ký kết, đất nước ta tạm thời chia làm hai miền. Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tiếp tục sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: Tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính, trực tiếp, trước mắt và lâu dài của dân tộc ta. Mỹ sử dụng bọn ngụy quyền tay sai; sử dụng các nước chư hầu, thành liên minh phản cách mạng điên cuồng tiến hành chiến tranh bằng mọi thủ đoạn xảo quyệt với bốn chiến lược: Chiến tranh đơn phương, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hoá chiến tranh.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam chấp nhận cuộc chiến đấu không cân sức với kẻ thù có tiềm lực mạnh nhất, âm mưu thâm độc nhất của thế kỷ thứ XX. Trước thử thách ngặt nghèo của lịch sử, cả dân tộc kết thành một khối, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp, được cộng đồng quốc tế và nhân dân tiến bộ toàn thế giới ủng hộ; lần lượt đánh bại từng bước leo thang, từng chiến lược chiến tranh, đi đến đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa xuân năm 1975; hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dán tộc, cả nước cùng bước sang thời kỳ cách mạng mới: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Quá trình triển khai các bước leo thang chiến tranh, đế quốc Mỹ đã tập trung tối đa cho cuộc chiến tranh gián điệp đối với miền Bắc và miền Nam, hòng qua đó mở đường cho kế hoạch xâm lược hoàn toàn đất nước ta. Chúng đã huy động bộ máy tình báo, phản gián khổng lồ, dày dạn kinh nghiệm, được trang bị phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại nhất, với sự hợp lực của lực lượng quân sự Mỹ, bọn tay sai ngụy quyền và các nước chư hầu, tạo thành “Liên minh cộng đồng gián điệp Các cơ quan gián điệp của đối phương sử dụng mọi phương thức, tận dụng mọi điều kiện để tiến hành hoạt động gián điệp trên lãnh thổ nước ta. Chúng coi hoạt động gián điệp là cuộc chiến tranh bí mật mở đường cho vũ trang xâm lược cũng như duy trì ách thống trị.


Đối phó với âm mưu của kẻ thù, Đảng ta kiên định lập trường, tiếp tục xác định trận tuyến đấu tranh chống gián điệp là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; là một bộ phận khăng khít của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam.


1. Giai đoạn từ cuối năm 1954 đến cuối năm 1960

Ở miền Bắc: Theo Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ phục hồi và cải tạo xã hội; nhưng trận tuyến đấu tranh chống gián điệp lúc này vẫn diễn ra hết sức gay go phức tạp. Ngoài đối tượng cũ là cơ quan gián điệp Pháp, đặc vụ Tưởng, gián điệp Anh vẫn ráo riết hoạt động thì cơ quan gián điệp Mỹ dã chính thức thiết lập hệ thống hoạt động của mình ở hầu khắp các vùng trọng điểm, chiến lược và trở thành đối tượng chính.


Tháng 6-1954, CIA cử Edward Lansdale, trưởng Phái đoàn quân sự Mỹ (SMM) sang Sài Gòn làm cố vấn cho Ngô Đình Diệm; tháng 8-1954, trùm tình báo Lucien Conein ra Hà Nội, lập trụ sở cơ quan Phái đoàn quân sự Mỹ (SMM) tại Hà Nội và Hải Phòng. Tiếp theo, Speiman, trùm tình báo, chuyên gia dày dạn kinh nghiệm về di cư ở Triều Tiên được cử đến Hà Nội phối hợp với Doolley chỉ đạo chiến dịch dụ dỗ cưỡng ép đồng bào ta di cư vào Nam và xây dựng những đội quân ngầm vừa phá ta trước mắt vừa phá ta lâu dài. Chúng móc nối với những phần tử cầm đầu trong Đại Việt như Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên, Cao Xuân Trung; với bọn trùm phản động trong Thiên Chúa giáo như Phạm Ngọc Chi, Lê Hữu Từ, Võ Viết Hiền... tuyển bọn tay chân đưa ra nước ngoài huấn luyện để tung trở lại miền Bắc trong thời kỳ 300 ngày. Cùng với đưa tay chân ra nước ngoài huấn luyện gián điệp, chúng bí mật chôn giấu hàng chục kho vũ khí, súng đạn, máy vô tuyến điện ở các tỉnh Hồng Quảng, Hà Nội, Sơn Tây, Hải Phòng làm phương tiện hoạt động cho các đội quân ngầm sau này.


Ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, từ năm 1953, cơ quan GCMA đã tuyển chọn hàng ngàn lính Commando, địa phương quân là người dân tộc đưa về trung tâm tại Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây huấn luyện phương thức hoạt động gián điệp biệt kích rồi tung về các tỉnh vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nghệ An, Thanh Hoá nhằm móc nối với các ổ nhóm phỉ, làm lực lượng nòng cốt để nổi phỉ chống lại cách mạng. Trước và trong thời kỳ chuyển quân tập kết, Pháp phối hợp với Mỹ tung vào vùng núi phía Bắc nước ta hơn 4.000 tên biệt kích GCMA, cài vào hàng chục hang ổ phỉ với tổng số khoảng 10.000 tên có đầy đủ vũ khí, lương thực, căn cứ hoạt động. Cũng trong thời gian này, Mỹ và Pháp phối hợp củng cố các tổ chức gián điệp trá hình đã có từ trước như “Đại chúng học vụ”, "Y tế lao động’’, “Bảo hiểm nhân thọ”, “Viễn đông Bác Cổ"; đặt dưới quyền điều hành của đại sứ Mỹ Donnall Heath. Tổ chức tình báo hỗn hợp Mỹ - Anh - Pháp mang tên Intelligen (CA DACIFIC) cũng được chuyển giao cho viên đại tá tình báo Mỹ Berlin phụ trách. Diễn biến hoạt động trên cho thấy Mỹ đã nắm hầu hết các tổ chức gián điệp của Pháp, Anh, thâu tóm để chỉ đạo; đồng thời Mỹ cũng đã thiết lập bộ máy chỉ huy, điều khiển mạng lưới gián điệp trên hầu khắp địa bàn trọng điểm ở miền Bắc và ráo riết xúc tiến kế hoạch nắm địa bàn Đông Dương.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2021, 07:54:53 pm »

Tuy phải nhượng bộ Mỹ nhưng Pháp vẫn tiến hành nhiều hoạt động riêng rẽ bằng cách tiếp tục củng cố mạng lưới gián điệp sẵn có như toán TN25, H07. Các đầu mối gián điệp của Pháp thời kỳ này trực tiếp chịu sự chỉ huy của 15 cơ quan đại diện Pháp còn được tồn tại ở miền Bắc, trong đó quan trọng nhất là Tổng lãnh sự Pháp ở phố Nguyễn Chế Nghĩa do Doolley chỉ huy. Mạng lưới gián điệp thông qua số cha cố, giáo sĩ vẫn hoạt động ráo riết như Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Thông, Lương Huy Hân, Heđê, Jacques, Denis... Số này được giao nhiệm vụ nắm các xứ, các địa phận trong Thiên Chúa giáo, vừa thực hiện âm mưu cưỡng ép đồng bào ta di cư, vừa cài cắm hoặc tạo vỏ bọc cho bọn gián điệp cài lại.


Thời kỳ 300 ngày là thời kỳ các cơ quan gián điệp Pháp, Anh, Mỹ hoạt động rất ráo riết. Thực tế chúng đã cài cắm khá nhiều điệp viên, chôn giấu được nhiều kho vũ khí và phương tiện để hoạt động lâu dài ở miền Bắc nước ta, trong đó tập trung chủ yếu ở các vùng được quy định chuyển quân tập kết thời hạn 100 ngày, 300 ngày như Hồng Quảng, Sơn Tây, Hà Nội, Hải Phòng.


Ở miền Nam: Mỹ công khai thế chân Pháp, dựng lên tập đoàn gia đình trị Ngô Đình Diệm, thẳng tay đàn áp các phe phái, tôn giáo thân Pháp, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Diệm sử dụng những phần tử phản động di cư vào Nam làm nòng cốt, lần lượt thôn tính các thế lực cạnh tranh, thiết lập “chính quyền công giáo'’, thực hiện chính sách “Tô Cộng, diệt Công'’ rộng khắp và tàn bạo, đánh phá vào hạ tầng cơ sở cách mạng đồng thời với truy bức về tinh thần trong mọi tầng lớp nhân dân toàn miền Nam.


Từ năm 1956, Mỹ chỉ đạo và hỗ trợ chính quyền Diệm thiết lập các cơ quan tình báo, an ninh khắp miền Nam: Mỹ điều hơn hai trăm nhân viên tình báo sang miền Nam, tăng số quân của phái bộ quân sự (MAAG) lên 3.500 tên; lập chi nhánh CIA ở miền Nam do Edward Lansdale chỉ huy. Ngô Đình Diệm thành lập cơ quan tình báo chiến lược với tên gọi "Sở Nghiên cứu chính trị xã hội" do Trần Kim Tuyến chỉ huy; lập "Ban công tác đặc biệt ở miền Trung" do Ngô Đình Cẩn trực tiếp chỉ đạo; lập "Ban công tác tinh thần" (sau đổi thành Ban phản gián - B42) trực thuộc Phủ Tổng thổng; lập Nha An ninh quân đội; Sở Tình báo quân đội; Bộ Công dân vụ. Sự ra đời của hệ thống các cơ quan tình báo, phản gián quân sự và dân sự càng làm cho đời sống chính trị, xã hội ở miền Nam ngột ngạt. Các cơ sở cách mạng của ta bị tổn thất nghiêm trọng, cách mạng miền Nam ở vào thời kỳ đen tối nhất bởi các cuộc tàn sát đẫm máu với chủ trương “Giết nhầm còn hơn bỏ sót” của Mỹ, Diệm.


Đảng ta sớm dự đoán được tình hình và dã tâm của Mỹ nên ngay từ năm 1950 đã xác định nhiệm vụ của cách mạng là “Đánh Pháp và can thiệp Mỹ". Tháng 7-1954, Đảng khẳng định rõ hơn tại Hội nghị Trung ương 6 khoá II: "Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân thế giới và hiện nay đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Dông Dương". Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng tháng 9-1954 tiếp tục chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách của Công an: “Nhiệm vụ của Công an là phải nhanh chóng chuyến hướng về tổ chức đấu tranh chống phản cách mạng". Trước diễn biến hoạt động của địch, lãnh đạo Bộ Công an quán triệt chỉ đạo của Đảng, nhanh chóng chuyền hướng công tác đấu tranh chống gián điệp ở miền Bắc, đồng thời cử đồng chí Viễn Chi làm đặc phái viên của Bộ trưởng lên đường vào Nam trực tiếp truyền đạt chỉ đạo của lãnh đạo Bộ. Đồng chí Viễn Chi vào tới Nam Bộ, làm việc với đồng chí Cao Đăng Chiếm, Mai Chí Thọ và đồng chí Phạm Hùng, thống nhất tư tưởng chỉ đạo đấu tranh chống phản cách mạng, nhằm bảo toàn lực lượng của Đảng, bảo vệ các cơ sở cách mạng trước sức tấn công tàn khốc của kẻ thù.


Ở miền Bắc, trước khi vào tiếp quản các thành phố, thị xã, Bộ Công an chỉ rõ: “Phải thiết lập trật tự cách mạng, đả kích bọn gián điệp, phản động...”, “Ra sức xây dựng cơ sở điều tra tìm hiểu những bọn tay sai địch cài lại và những âm mưu hoạt động của chúng... Nắm tình hình bọn gián điệp, đặc vụ, bọn tàn binh. Đặc biệt là danh sách, địa chỉ, lai lịch của chúng... chuẩn bị đặc tình có khả năng, có điều kiện theo địch". Thực hiện chỉ đạo của Bộ, một trong những công tác quan trọng được triển khai thời gian này là toàn miền Bắc đồng loạt tiến hành công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu. Ngày 8-2-1956, Bộ ra Chỉ thị số 120/BVCT/P2 về “Công tác bảo vệ chính trị kết hợp với công tác đăng ký hộ khẩu”. Qua công tác quản lý công khai, lực lượng An ninh nắm được 12.000 đối tượng các loại trong đó có 230 sĩ quan, 2.480 hạ sĩ quan, 7.800 ngụy quyền; phát hiện 452 tên đã từng làm trong các cơ quan gián điệp, đặc vụ, 416 tên là chỉ điểm. Công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu đã hỗ trợ rất lốn cho lực lượng chống gián điệp tiến hành điều tra cơ bản, phát hiện đầu mối cài lại. Cùng với quản lý xã hội, Bộ chỉ đạo xây dựng quy chế, điều lệ quản lý người nước ngoài và công tác xuất nhập cảnh, qua đó nắm quan hệ của số gián điệp khoác áo ngoại giao, tu sĩ đang ở lại miền Bắc hoạt động.


Trong đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư, Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 91-CT/TW ngày 8-9-1954 và quyết định thành lập đoàn chống cưỡng ép di cư từ Trung ương đến địa phương. Hơn bốn trăm cán bộ Công an được cử tham gia các đoàn vừa làm công tác tuyên truyền, vừa nắm hoạt động của địch. Do vậy, phát hiện kịp thời nhiều tên gián điệp trà trộn vào các vùng công giáo, các khu tập trung, lừa phỉnh, cưỡng ép, buộc đồng bào ta phải ra đi. Đã phát hiện và trừng trị 23 tên ở xứ Thanh Hoá, Nghệ An; phá vụ án ở Ba Làng, Thanh Hoá, vạch mặt linh mục Nguyễn Duy Hiển, Võ Viết Hiền là tay sai của gián điệp Pháp. Do phối hợp chặt chẽ giữa chống cưỡng ép di cư với trừng trị bọn gián điệp nên không những hạn chế số đồng bào bị Mỹ ngụy dụ dỗ, cưỡng ép vào Nam, mà còn ngăn chặn Mỹ, Diệm cài cắm tay chân gây tình hình rối loạn ở miền Bắc và phá hoại nội bộ ta.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #15 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2021, 05:42:49 pm »

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm và giành thắng lợi to lớn ở giai đoạn này là lực lượng An ninh đã khám phá hầu hết các ổ nhóm gián điệp do Mỹ, Anh, Nhật, Pháp, Tàu Tưởng cài lại. Do làm tốt công tác điều tra cơ bản, tập trung nắm tình hình ở các vùng mới tiếp quản và tổ chức trinh sát bí mật các khu vực theo quy định của Hiệp định do quân đội Pháp quản lý nên ta nắm được nhiều đầu mối gián điệp cài lại. Mạng lưới cơ sở ở các vùng địch kiểm soát như Hòn Gai, Hà Nội, Hải Phòng phát hiện hàng chục đối tượng nghi vấn gián điệp cài lại. Vụ Bảo vệ chính trị mạnh dạn điều toán gián điệp trong chuyên án TN25 từ Thái Nguyên về Hà Nội, Hải Phòng làm nhiệm vụ liên lạc với những đối tượng cài lại ở hai địa bàn trọng điểm này. Từ việc nắm tình hình các đối tượng, tháng 4-1955, Bộ Công an mở Hội nghị Bảo vệ Chính trị lần thứ II, xác định nhiệm vụ cơ bản của công tác trinh sát “Đánh mạnh vào những hoạt động của đế quốc Mỹ, Anh, Pháp do Mỹ cầm đầu và bọn chó săn của chúng là đặc vụ Tưởng... Tích cực phát hiện và thanh trừ những phần tử gián điệp, phản động ẩn nấp trong nội bộ cơ quan, trường học, công xưởng của ta”. Nghị quyết xác định 10 loại đối tượng phải điều tra nghiên cứu để tính toán từng biện pháp đấu tranh thích hợp. Năm 1957 Bộ mở Hội nghị Bảo vệ Chính trị lần thứ III, cuối năm tiếp tục mở Hội nghị Sưu tra và ra Nghị quyết sưu tra I, hướng dẫn về nghiệp vụ điều tra nghiên cứu, biện pháp đấu tranh và đối sách với từng loại đối tượng. Căn cứ Nghị quyết sưu tra, lực lượng chống gián điệp phối hợp chặt chẽ với các lực lượng liên quan và hệ thống chính quyền cấp cơ sở triển khai mạnh công tác “khoanh vùng đánh địch”, bóc gỡ cơ sở xã hội của gián điệp; truy bắt bọn gián điệp chui vào các tổ chức phản động. Trên cơ sở danh mục Sưu tra, lập danh mục đối tượng hiềm nghi, chuyên án, đã bố trí lực lượng trinh sát nội, ngoại tuyến, xây dựng cơ sở đi sâu điều tra từng đối tượng, vừa quản lý hoạt động của chúng, vừa phục vụ đánh địch lâu dài. Bộ xác định đối tượng chính tập trung điều tra là bọn 2B, SEH, SDECE, GCMA; bọn cầm đầu Đại Việt, số có chức sắc, lợi dụng tôn giáo; bọn ngụy quân, ngụy quyền có nhiều tội ác và bọn đặc vụ. Trọng tâm công tác điều tra nhằm vào các địa bàn địch tập kết rút quân, vùng chúng còn chiếm đóng; khu vực có nhiều tàn dư của ngụy quân ngụy quyền, vùng xung yếu. Do xác định đối tượng và địa bàn có trọng tâm, trọng điểm nên trong thời gian ngắn lực lượng An ninh đã căn bản làm rõ được hệ thống gián điệp cài lại cũng như một số đối tượng đang cộng tác với địch. Tại Hải Phòng đã phát hiện 18 đối tượng được cơ quan tình báo Mỹ đưa ra nước ngoài huấn luyện và đánh trở lại. Tại Hà Nội, phát hiện hàng chục đầu mối của bọn đặc vụ trong tổ chức “Quân thống", “Trung thống”, “Tổ hai quân uỷ hội'’; phát hiện bọn cầm đầu Đại Việt xây dựng mạng lưới tay sai chuẩn bị đón bọn gián điệp do Mỹ huấn luyện đánh trở lại. Qua giám sát tên Duyrăng, trinh sát Bảo vệ chính trị phát hiện Thụy An móc nối với nhóm “Nhân văn giai phẩm", kích động văn nghệ sĩ, sinh viên chống chính quyền. Công an Quảng Ninh đấu tranh thắng lợi chuyên án gián điệp cài lại AF110, bắt 5 đối tượng. Vụ Bảo vệ chính trị phát hiện nhân viên Ủy ban quốc tế là người Canada, Nam Dương; phát hiện cơ quan lãnh sự Pháp và tổng đại diện Pháp chỉ đạo bọn gián điệp cài lại; phát hiện một số đối tượng hiềm nghi chính trị có liên hệ với bọn gián điệp. Trong 3 năm, từ năm 1958 đến năm 1960, lực lượng An ninh tổ chức trinh sát 726 nhân viên trong các đoàn lâm thời, phát hiện một số đầu mối gián điệp cài lại; xác định rõ những mục tiêu chúng tìm cách xâm nhập để lấy cắp tin tức. Từ năm 1955 đến năm 1960, lực lượng An ninh tiến hành đấu tranh thắng lợi hàng chục chuyên án gián điệp, trong đó có các chuyên án điển hình như: M11, C30, H07, L550, KV58, TK90, TK04, KD27, VK21, GK16, DT11... Bắt tại Hải Phòng 32 vụ với gần 100 tên, Hà Nội 57 tên, Hải Dương 18 tên, Hồng Quảng 12 tên, Nam Định 14 tên, Thái Bình 10 tên... Đến năm 1960, về căn bản lực lượng chống gián điệp đã khám phá hoàn toàn các vụ gián điệp do Pháp, Mỹ, Anh, Tàu Tưởng cài lại; khai quật hàng chục kho vũ khí chôn giấu tại Hải Phòng, Hà Nội, Sơn Tây, Hồng Quảng, có kho gồm hàng trăm khẩu súng, hàng chục ngàn viên đạn cùng máy thông tin VTĐ. Phối hợp với các đoàn thể và chính quyền địa phương đẩy đuổi 26 tên gián điệp là người nước ngoài khoác áo tu sĩ, đập tan âm mưu kích động giáo dân chống chính quyền.


Trong các vụ ta đã khám phá, có hai vụ là TN25 và C30 là hai vụ điển hình, khẳng định bước phát triển vượt bậc về trình độ tổ chức, chiến thuật đánh địch cũng như công tác phối hợp và hiệp đồng tác chiến đạt đến trình độ cao. Ban chuyên án chủ động xâv dựng thế trận, chủ động triển khai các biện pháp nghiệp vụ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh chống phản động với đấu tranh chống gián điệp, đưa cơ sở thâm nhập vào Trung tâm chỉ huy của địch; điều khiển chúng phải hoạt động theo sự sắp đặt của ta. Chuyên án C30 là trận đọ sức đầu tiên của cơ quan An ninh Việt Nam với cơ quan gián điệp Mỹ, đã phát triển thành chiến dịch phản gián hoàn hảo và giành thắng lợi to lớn.


Đối với GCMA tung vào sâu vùng núi cài cắm trong cộng đồng các dân tộc, lực lượng An ninh đã phối hợp với Công an vũ trang, Quân đội và nhân dân đồng loạt mở các chiến dịch tiễu phỉ, truy bắt gián điệp biệt kích. Vừa sử dụng lực lượng vũ trang truy quét, vừa lập án bắt bọn cầm đầu vừa gọi hàng nên từ năm 1955 đến năm 1959 đã giải quyết căn bản các vụ nổi phỉ, ổn định đời sống của cộng đồng các dân tộc anh em. Chỉ tính riêng vùng núi phía Đông sông Thao, đã diệt 1.983 tên, bắt 300 tên, gọi hàng 4.336 tên, thu 3.796 khẩu súng, trong đó có gần hai trăm tên GCMA, gần một trăm tên đặc vụ, là lực lượng nòng cốt của tổ chức phỉ. Hang ổ phỉ cuối cùng ở Đồng Văn được giải quyết cuối năm 1959, ta đã bắt và diệt hơn một trăm tên GCMA cùng với đặc vụ Tưởng. Trong đó một tổ trinh sát lấy danh nghĩa là người của Diệm từ Sài Gòn ra đã thâm nhập vào trung tâm chỉ huy của Vương Chí Thành, mưu trí điều ra ngoài để bắt 16 tướng phỉ cùng 12 tên GCMA và 7 tên đặc vụ Tưởng.


Lực lượng Bảo vệ chính trị phối hợp chặt chẽ với các tỉnh thuộc Khu IV cũ, đặc biệt là khu vực Vĩnh Linh, phát động phong trào “Bảo vệ trị an”, phát hiện điệp viên và tay sai của địch vượt tuyến ra Rắc. Từ năm 1956 đến năm 1960 ta đã bắt 216 gián điệp Mỹ, Diệm vượt tuyến, vượt biên, đấu tranh với 8 linh mục có liên quan hoặc che giấu bọn gián điệp, phản động.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2021, 06:38:19 pm »

Song song với đấu tranh truy bắt bọn gián điệp cài lại, bọn vượt biên, vượt tuyến, lực lượng An ninh chủ động tăng cường công tác bảo vệ nội bộ. Tháng 10-1958, lực lượng Bảo vệ nội bộ được hoàn thiện về chức năng, nhiệm vụ. Ngoài lực lượng nòng cốt là Trinh sát bảo vệ nội bộ, các Ban bảo vệ chuyên trách ở cơ quan xí nghiệp, ban ngành cũng được củng cố và trở thành mạng lưới phòng chống gián điệp có bề rộng, có chiều sâu. Từ năm 1956 đến năm 1958, ta mở ba Hội nghị chuyên đề về bảo vệ kinh tế, vừa nhằm chống tham ô lãng phí vừa nhằm ngăn chặn mọi ngả đường xâm nhập vào mục tiêu của bọn gián điệp. Các lực lượng trinh sát chuyên ngành từ Trung ương đến địa phương được củng cố và thành lập mới như: Trinh sát ngoại tuyến, Trinh sát bảo vệ chính trị, Trinh sát kỹ thuật, Điều tra xét hỏi;... đều được củng cố về tổ chức mang tính chất, chuyên sâu, chuyên ngành rành mạch; công tác chỉ đạo thống nhất và tập trung; có quy định rõ cơ chế phối hợp tác chiến từ Trung ương đến địa phương.


Sáu năm sau khi Hiệp định Giơnevơ ký kết, cuộc đấu tranh chống gián điệp ở miền Bắc diễn ra vô cùng quyết liệt. Lực lượng An ninh đã phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chống gián điệp với đấu tranh chống phản động; phối hợp giữa công tác quản lý hành chính, công tác quản lý đối tượng nguy hại cho an ninh xã hội ở cơ sở nên đã góp phần đảm bảo an ninh chính trị được ổn định nhanh chóng khi miền Bắc vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh. Bước đầu công tác phòng và chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng loại trừ căn bản cơ sở xã hội bọn gián điệp có thể lợi dụng; bẻ gãy nó lúc gây cơ sở ngầm của chúng trong âm mưu quay trở lại. Nhờ đó, khi mở rộng chiến tranh gián điệp ra miền Bắc, các điệp viên của Mỹ đã bị lâm vào tình thế thiếu cơ sở móc nối hoặc rơi vào chiến trường ta đã chuẩn bị sẵn.


Đối với miền Nam, sau khi thiết lập chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, cùng với tăng cường cố vấn và nhân viên tình báo cho chính quyền Diệm, Mỹ đầu tư tối đa cho Diệm xây dựng hệ thống Cảnh sát, mật vụ dày đặc khắp miền Nam. Cac cơ quan “Sở Nghiên cứu xã hội", “Đoàn công tác đặc biệt miền Trung" kết hợp với cơ quan Cảnh sát do Lê Quang Tung chỉ huy, tạo thành hệ thống đàn áp đẫm máu cũng như truy bức về tinh thần đến từng thôn, ấp, từng gia đình. Diệm áp dụng chính sách “Tố Cộng", “Diệt Cộng" theo luật 10/59 đồng thời thực hiện kiểu chiến tranh một phía với dã tâm lấp sông Bến Hải tiến ra Bắc.


Chủ động đối phó với âm mưu của địch, tháng 9-1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về “Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng" nhằm chuyển hướng lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam phù hợp với bối cảnh lịch sử mới. Đối với công tác công an, lãnh đạo Bộ cử đồng chí Viễn Chi làm đặc phái viên của Bộ trưởng vào Nam truyền đạt chủ trương, sách lược đấu tranh chống phản cách mạng theo Nghị quyết của Trung ương: “Trong tình hình mới, Công an phải làm công tác tình báo, phản gián. Phải, hiểu địch từ nơi chúng xuất phát... chủ động đánh người vào cơ quan tình báo của địch, vào các tổ chức hoặc sử dụng người của địch đánh lại địch...". Tháng 10-1954, Xứ uỷ triệu tập Hội nghị Xứ uỷ và quyết định các tổ chức Đảng rút vào bí mật, lực lượng Công an chuyển hướng tổ chức và trực tiếp chịu sự chỉ đạo của Xứ uỷ. Cuối năm 1954,   các “Ban bảo vệ cấp ủy" được thành lập, đến đầu năm 1955, phát triển thành các “Ban địch tình” của Xứ uỷ, có hệ thống đến các khu, tỉnh vừa làm nhiệm vụ chỉ đạo các cơ sở điệp báo vừa làm nhiệm vụ bảo vệ tổ chức cơ sở Đảng, bảo vệ phong trào đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ. Với mô hình tổ chức mới, những đồng chí lãnh đạo ngành Công an chưa bị lộ và hầu hết lực lượng trinh sát được lệnh ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động trong các “Ban địch tình của Đảng”.


Thời kỳ này, nhiệm vụ chủ yếu của “Ban địch tình” là nắm âm mưu, hoạt động khủng bố của địch để bảo vệ an toàn tổ chức cơ sở Đảng, bảo vệ phong trào cách mạng và chắp nối liên lạc. Bên cạnh đó, Ban địch tình cũng tổ chức đưa trinh sát và cơ sở thâm nhập vào lực lượng vũ trang Bình Xuyên, Hoà Hảo, trong hàng ngũ ngụy quyền, vừa nắm tình hình, vừa tác động tinh thần, thúc đẩy binh lính trở về với cách mạng. Một số vụ tập kích nhỏ vào trụ sở của địch, hoặc trừng trị những tên tay sai gian ác cũng đã được thực hiện. Song các hoạt động của “Ban địch tình” chưa đều và chưa đúng với đòi hỏi của cách mạng. Một số địa phương phát triển cơ sở không chọn lọc dẫn đến bị địch lợi dụng cài cắm tay chân, bóc gỡ cơ sở, đàn áp, gây tổn thất đáng kể.


Việc ra đời các “Ban địch tình", đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng là quyết định đúng và sáng tạo, đã đáp ứng kịp thời yêu cầu bảo vệ trong lúc phong trào cách mạng đang gặp rất nhiều khó khăn. Tuy hoạt động còn hạn chế, song các Ban địch tình là lực lượng nòng cốt phòng ngừa gián điệp, đặc biệt là nội gián để bảo vệ tổ chức cơ sở Đảng. Sau này, các “Ban địch tình” là lực lượng chủ yếu để thành lập lực lượng An ninh miền Nam.


Tóm lại: Giai đoạn 1954 đến 1960 là giai đoạn có tính chất bước ngoặt trong chỉ đạo và tổ chức đấu tranh chống gián điệp. Có thể rút ra một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Đảng dự đoán đúng xu hướng phát triển của tình hình; xác định đối tượng chủ yếu cần tập trung đấu tranh là cơ quan gián điệp Mỹ cùng đồng minh của chúng. Từ dự đoán tình hình và xác định đối tượng đấu tranh đúng, Đảng chủ động tổ chức lực lượng, chủ động chuẩn bị chiến trường; đồng thời củng cố một bước lực lượng nòng cốt trên trận tuyến đấu tranh chống gián điệp; huy động lực lượng vũ trang và bán vũ trang với sự ủng hộ của quần chúng nhân dân triển khai có hiệu quả công tác "phòng'’ và “chống".

Vấn đề quan trọng có tính chất quyết định về sự sáng suốt và chủ động của Đảng ta là: Ngay khi vừa kết thúc cuộc kháng chiến chống pháp, Đảng đã xác định đúng đối tượng trước mắt và lâu dài của cách mạng Việt Nam; từng bước xác định đường lối đấu tranh; xác định những mặt công tác quan trọng nhất, chỉ đạo sâu sát, tổ chức lực lượng phòng, chống có bề rộng và có chiều sâu nhằm đánh bại âm mưu địch.


Thứ hai: Đây là giai đoạn lực lượng nòng cốt chống gián điệp phải đương đầu với các cơ quan tình báo, phản gián của Mỹ và tay sai. Chúng có lợi thế hơn ta về khoa học kỹ thuật, tài chính cũng như kinh nghiệm hoạt động; có lực lượng quân sự hùng hậu làm hậu thuẫn. Song do ta biết phát huy tinh thần cảnh giác của mọi tầng lớp nhân dân, hướng dẫn công tác phòng chống nên hạn chế được những ưu thế của địch. Trong đấu tranh ta đã chủ động chuẩn bị chiến trường đón đợi kẻ địch xâm nhập; chủ động cách đánh, không những chỉ làm chủ tình hình mà còn điều khiển Trung tâm địch phải hoạt động theo sự sắp đặt của ta. Chính vì thế, mặc dù kẻ địch dày công chuẩn bị và tập trung đầu tư cho chiến tranh gián điệp nhưng mạng lưới chúng cài cắm không chỉ bị vô hiệu hoá mà ta còn "tương kẽ tựu kế" và giành thắng lợi.


Thứ ba: Đây là giai đoạn điển hình về sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chống phản động với đấu tranh chống gián điệp; phá vỡ quy luật "câu móc" của hai loại đối tượng này. Ở nước ta, gián điệp và phản động câu móc với nhau không những chỉ là quy luật mà còn mang đặc thù riêng. Chống phản động là chống lực lượng hậu thuẫn của gián điệp; chống gián điệp là chặt đứt sự chỉ đạo và tài trợ của nước ngoài đối với bọn phản động. Ta triển khai đồng bộ công tác trấn áp phản động ngay sau hoà bình có ý nghĩa quan trọng, đã tạo ra địa bàn thuận lợi nhất để đối phó với gián điệp. Do đó, khi Mỹ, ngụy tung điệp viên ra miền Bắc hoạt động, chúng không còn chỗ dựa hoặc rơi vào chiến trường ta đã chuẩn bị và những bẫy nghiệp vụ ta giăng sẵn.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2021, 07:25:37 pm »

2. Giai đoạn từ năm 1961 đến nửa cuối năm 1965

Cuối năm 1960, nhân dân miền Nam đồng loạt “đồng khởi”, võ trang chiến đấu và giành thắng lợi; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời, cách mạng miền Nam chuyển sang bước ngoặt mới. Cùng với miền Nam anh hùng, nhân dân miền Bắc lần lượt vượt qua mọi thử thách, từng bước ổn định an ninh chính trị, hoàn thành kế hoạch phục hồi và cải tạo xã hội. Tháng 9-1960, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III được tổ chức tại Hà Nội, Nghị quyết Đại hội xác định nhiệm vụ chiến lược chung của cả nước là: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà.


Thất bại trong chiến lược “chiến tranh đơn phương", cuối năm 1960, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ (NSC) buộc phải quyết định leo nấc thang chiến tranh mới: Thông qua kế hoạch tình báo nhằm tăng cường tiềm lực, tăng cường sức mạnh hòng đè bẹp dân tộc Việt Nam. Cơ quan MAAG (Phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ) và USOM (Cơ quan viện trợ Mỹ), ở Sài Gòn soạn thảo “Kế hoạch chống nổi dậy" với tham vọng phá chiến tranh du kích, nắm lại các đảng phái chính trị, trí thức, tôn giáo để cô lập các tổ chức Đảng và phong trào cách mạng. Kế hoạch được Tổng thống Ken-nơ-đi thông qua tháng 1-1961. Tháng 4-1961, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ xây dựng kế hoạch mang tên NSAN 52 với nội dung tăng cường quyền lực của phái đoàn cố vấn quân sự, triển khai lực lượng yểm trợ, đưa quân và thiết bị vào miền Nam. Theo đó, hơn bốn trăm lính “mủ nồi xanh" thuộc lực lượng đặc biệt được điều sang Việt Nam đóng tại Nha Trang. Lực lượng Bảo an từ 3 vạn tăng thành 6,3 vạn và đổi mới căn bản trang thiết bị. Mỹ thành lập đơn vị đặc biệt mang tên “Liên doàn 77", tiến hành huấn luyện phương thức gián điệp biệt kích cho dân vệ, địa phương quân hoạt động trên chiến trường miền Nam cũng như tung ra miền Bắc. Lực lượng đặc biệt Mỹ vừa độc lập tác chiến, vừa phối hợp với biệt kích ngụy, thành từng toán nhỏ cơ động, thọc sâu vào vùng đất nhân dân ta vừa làm chủ tiến hành tàn sát và bắt bớ.


Mỹ tài trợ và chỉ đạo cho ngụy thành lập “Phủ Đặc uỷ trung ương tình báo” hoạt động song song với “Sở Nghiên cứu chính trị xã hội”, “Nha Cảnh sát đặc biệt”, “Liên đoàn quan sát", Lực lượng đặc nhiệm” và hệ thống tình báo trá hình ở khắp các tỉnh. Năm 1960, chi nhánh CIA ở miền Nam có 200 nhân viên nhưng sang năm 1961 tăng lên 800 nhân viên; Mỹ lập thêm chi nhánh FBI; cố vấn và tài trở cho ngụy thành lập “Nha Cảnh sát quốc gia" vào năm 1962. Như vậy, để tiến hành “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ, ngụy tập trung mọi cố gắng thiết lập hệ thống dày đặc các cơ quan gián điệp, phản gián; đầu tư tối đa và trang bị những loại phương tiện hoạt động hiện đại nhất cho lực lượng này. Đặc biệt, chúng tiến hành âm mưu vô cùng thâm độc là triển khai chiến lược "Tình báo đại chúng nhằm tình báo hoá các tầng lớp nhân dân ở miền Nam. Chúng sử dụng mọi loại người, mọi tầng lớp để thu thập tin tức đồng thời gây chiến tranh tâm lý, gây ra không khí thù địch, hoang mang, nghi kỵ trong mọi tầng lớp xã hội.


Vừa nỗ lực triển khai hoạt động ở miền Nam, Mỹ, ngụy vừa tập trung đào tạo và tung gián điệp ra miền Bắc, tiến hành phá hoại, tâm lý chiến và thu thập tin tức hòng làm cho miền Bắc suy yếu, không đủ sức chi viện cho miền Nam cũng như chuẩn bị điều kiện mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Các toán gián điệp con thoi được tung ra miền Bắc qua các ngả đường: Vượt giới tuyến, vượt biên giới Việt - Lào, trà trộn trong số con em cán bộ miền Nam ra Bắc, trong số người hồi hương về xây dựng Tổ quốc. Chúng còn sử dụng bọn đặc vụ Tưởng, Hoa Kiều, Đài Loan, nhân viên thường trú và lâm thời các nước tư bản, kể cả một số đối tượng thuộc các nước xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu của chúng là móc nối cơ sở, thu thập tin tức về quân sự, kinh tế, chính trị; gây tâm lý chiến, kích động bạo loạn ở các vùng dân tộc và vùng đồng bào theo đạo Thiên Chúa.


Một trong những hướng tấn công của CIA, DIA và Tình báo Trung ương ngụy là từ năm 1957, chúng đã phát động cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích đối với miền Bắc. Theo những nấc thang chiến tranh, chúng dần dần thiết lập ba trung tâm chỉ huy gồm: Sơ kỹ thuật, Sở liên lạc và Trung tâm Khăm Khao (Lào) với hàng chục khu huấn luyện để tung biệt kích ra miền Bắc, vùng giải phóng Lào cũng như chiến trường miền Nam. Từ năm 1961, Mỹ, ngụy ồ ạt tung biệt kích ra miền Bắc bằng ba phương thức xâm nhập: Đường không, đường biển và đường bộ (thậm thụt qua biên giới); nhằm vào các tỉnh vùng núi phía Bắc, dọc duyên hải (chủ yếu là khu IV cũ). Ngoài nhiệm vụ thu thập tin tức, phá hoại, biệt kích còn có nhiệm vụ móc nối với các tổ chức phản động xây dựng “khu an toàn", thực hiện phương châm “đánh Cộng sản trong lòng Cộng sản". Năm 1964, Mỹ thông qua kế hoạch 34A, xác định 72 loại hình hoạt động phá hoại miền Bắc, trong đó thành lập đơn vị SOG trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự Thái Bình Dương, trực tiếp điều hành cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích đối với miền Bắc.


Nhìn lại âm mưu và tổ chức triển khai hoạt động gián điệp, phản gián của Mỹ, ngụy giai đoạn này thấy rõ: Mỹ chủ động tăng cường hoạt động trên mọi lĩnh vực, tập trung đầu tư phương tiện và lực lượng nhằm giành thế chủ động về quân sự cũng như chuẩn bị điều kiện mở rộng chiến tranh. Chiến tranh gián điệp đã thực sự trở thành mũi nhọn, mở đường cho các bước leo thang quân sự của Mỹ. Được Mỹ tài trợ và chỉ đạo, ngụy quyền đã thiết lập và hiện đại hoá các cơ quan gián điệp cũng như phản gián trên khắp lãnh thổ, hoạt động ráo riết trên mọi lĩnh vực, biến nước ta thành chiến trường nóng bỏng nhất thế giới vào nửa cuối của thế kỷ XX cả về quân sự và gián điệp.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2021, 06:54:30 pm »

Trước âm mưu, thủ đoạn hoạt động mới của địch, Đảng và Nhà nước ta kịp thời củng cố bộ máy tổ chức của các lực lượng tham gia đấu tranh chống gián điệp. Tháng 9-1961, Chính phủ ban hành Nghị định 132/CP, tổ chức lại ngành Công an. Theo Nghị định, các lực lượng nòng cốt làm công tác bảo vệ nội bộ, bảo vệ kinh tế, bảo vệ chính trị, trinh sát kỹ thuật được hoàn thiện một bước căn bản. Riêng lực lượng Bảo vệ chính trị được tăng cường, phát triển theo ngành dọc, đơn vị chỉ đạo cao nhất là Cục Bảo vệ chính trị (C61). Ngày 20-1-1962, Bộ Chính trị ra hai Nghị quyết 39/NQ-TW và 40/NQ-TW chỉ đạo về hai lĩnh vực quan trọng và cấp bách. Nghị quyết 39 về “Tăng cường công tác đấu tranh chống phản cách mạng để phục vụ tốt công cuộc đấu tranh nhằm thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà". Nghị quyết xác định đường lối đấu tranh chống phản cách mạng: “Đảng lãnh đạo, phát huy tinh thần yêu nước và ý thức cảnh giác cách mạng của nhân dân với sự hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn”; xác định phương châm, nguyên tắc, chính sách trong đấu tranh chống phản cách mạng và nêu bốn nhiệm vụ cần kíp:

1- Đảm bảo thuần khiết nội bộ, bảo vệ nghiêm mật các cơ quan đầu não, xí nghiệp quan trọng, các đơn vị vũ trang thường trực.

2- Căn bản quét được các đối tượng phản cách mạng đã bộc lộ và tương đối bộc lộ ở miền Bắc.

3- Loại trừ khả năng bạo loạn của kẻ địch.

4- Căn bản nắm được tình hình gián điệp ẩn nấp trong nội bộ và ngoài xã hội.


Nghị quyết số 40 về “củng cố, tăng cường lực lượng Công an”. Nghị quyết xác định: “...Cuộc đấu tranh chống gián điệp và bọn phản cách mạng ngày càng gay go, quyết liệt, lâu dài. Cho nên, việc củng cố lực lượng Công an là một việc hết sức quan trọng và phải tiến hành một cách tích cực...”. Hai nghị quyết được ban hành cùng một ngày thể hiện Đảng ta chủ động hoạch định những vấn đề căn bản đối với nhiệm vụ đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng; chú trọng củng cố, xây dựng lực lượng nòng cốt của cuộc đấu tranh, đảm bảo cho lực lượng nòng cốt vừa đáp ứng yêu cầu tham mưu, hướng dẫn vừa chiến đấu có hiệu quả trước quy mô, phương thức, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.


Để chủ động xây dựng thế trận an ninh đổi phó với âm mưu mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, tháng 2-1960, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 186/CT-TW về quản lý, cải tạo những phần tử nguy hiểm cho an ninh xã hội. Tháng 12-1960, Bộ Công an ra Chỉ thị số 69/CT-P4 (kế hoạch 69), cụ thể hoá cách thức tổ chức thực hiện, xác định đối tượng cần tập trung cải tạo và cải tạo tại chỗ, quy chế phối hợp giữa cơ quan chuyên môn với chính quyền cơ sở. Hai Chỉ thị ra đời trong giai đoạn này có ý nghĩa to lớn, cho thấy công tác đấu tranh chống phản cách mạng được huy động cao nhất và triệt để nhất sức mạnh của chính quyền cơ sở và của cộng đồng. Kết quả của công tác cải tạo không chỉ giữ vai trò xoá bỏ cơ sở xã hội bọn gián điệp có thể lợi dụng mà còn nâng cao đáng kể tinh thần cảnh giác, nhận thức về địch, ta đối với các tầng lớp nhân dân. Do đó khi Mỹ, ngụy ồ ạt tung gián điệp, gián điệp biệt kích ra miền Bắc, chúng hầu như không còn chỗ dựa để ẩn náu và tổ chức hoạt động.


Đối với công tác tổ chức quần chúng tham gia phòng chống gián điệp, Trung ương Đảng đã ban hành nhiều chỉ thị, xác định cấp xã là địa bàn chiến lược và giao cho các Cấp uỷ Đảng cơ sở chịu trách nhiệm tổ chức lực lượng tham gia. Công an nhân dân chịu trách nhiệm vận động, hướng dẫn nghiệp vụ, xây dựng nội dung hoạt động cho phong trào “Bảo mật phòng gian", “Bảo vệ trị an". Nhờ đó, đã khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng của cán bộ và nhân dân; nâng cao một bước kỹ năng phòng gian và trừ gian của các tầng lớp nhân dân ở mọi vùng miền. Sự đóng góp của quần chúng vì thế đã trở thành thế trận “thiên la địa võng", hỗ trợ đắc lực cho Công an phát hiện và đấu tranh với bọn phản cách mạng nói chung, bọn gián điệp nói riêng.


Đối với lực lượng nòng cốt đấu tranh chống gián điệp, căn cứ Chỉ thị số 20/CT/TW, ngày 22-6-1961, của Bộ Chính trị “về công tác phòng chống gián điệp biệt kích", lãnh đạo Bộ liên tiếp ra ba Chỉ thị (754, 755, 756) chỉ rõ cách thức tổ chức các lực lượng phối hợp, xác định chức trách, chế độ thông tin báo cáo, địa bàn trọng điểm trong phòng chống gián điệp biệt kích. Bộ quyết định thành lập “Đội chống gián điệp biệt kích", đặt tại Cục 61, đồng thời chỉ đạo Ty Công an trọng điểm thành lập tại Ty Công an “Tổ chống gián điệp biệt kích” để chỉ đạo và hướng dẫn phòng chống gián điệp biệt kích trên địa bàn từng tỉnh. Bộ liên tiếp mở Hội nghị về phản gián, Hội nghị bảo vệ nội bộ, Hội nghị ba chuyên đề nhằm nâng cao năng lực chỉ huy chỉ đạo, kỹ năng tác chiến cho lực lượng nòng cốt chống gián điệp, bảo vệ nội bộ, bảo vệ kinh tế.


Như vậy, ngay khi Mỹ, ngụy phát động “Chiến tranh đặc biệt", xúc tiến kế hoạch mở rộng hoạt động gián điệp ra miền Bắc thì Trung ương Đảng, Bộ Công an đã chủ động chuẩn bị chiến trường, tổ chức lực lượng và hoạch định biện pháp đấu tranh, sẵn sàng đón đợi kẻ thù.


Triển khai công tác cải tạo những phần tử nguy hại cho an ninh xã hội, Đáng chỉ rõ phương châm "kiên quyết và thận trọng"; Công an là nòng cốt, chính quyền các cấp, các cơ quan đoàn thể và quần chúng nhân dân từng xóm, từng bản phối hợp chặt chẽ; rà soát, lập danh sách đối tượng theo quy định của "kế hoạch 69". Trên cơ sở đó, cấp uỷ, chính quyền cùng với lực lượng Công an soát xét lần cuối mới ra quyết định đưa đi tập trung cải tạo hoặc cải tạo tại chỗ. Từ năm 1961 đến năm 1964 đã tập trung cải tạo 11.365 đối tượng là ngụy quân, ngụy quyền, gián điệp, chỉ điểm, đảng phái chính trị phản động. Qua công tác cải tạo, lực lượng An ninh phát hiện thêm nhiều nhen nhóm phản động và đầu mối gián điệp. Trong hai năm (1961, 1962) khám phá 32 tổ chức phản động, bắt 468 tên, trong đó có 11 tổ chức phản động lợi dụng đạo Thiên Chúa, gồm 90 tên. Thông qua công tác tập trung cải tạo và trấn áp các tổ chức phản động, lực lượng An ninh đã khám phá 50 vụ án gián điệp, bắt 277 tên gián điệp cài lại sau Hiệp định Giơnevơ. Trong đó có một số vụ điển hình được phát hiện thông qua kết quả trấn áp các tổ chức phản động và kết quả của công tác cải tạo như: Vụ Châu Thanh - gián điệp Mỹ câu kết với bọn phản động trong Thiên Chúa ở Nghệ An (1962); vụ linh mục Nguyễn Văn Thông (10-1964); vụ Nguyễn Phú Thọ; vụ GM65 ở Hải Phòng... Kết quả đấu tranh trong giai đoạn này đã được đồng chí Bộ trưởng khẳng định tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 20, năm 1965: "Đã căn bản hoàn thành công tác tập trung cải tạo, đã truy quét một số khá lớn những phần tử nguy hiểm cho an ninh xã hội, trừng trị mạnh mẽ những phần tử phản cách mạng hiện hành"1 (Báo cáo tổng kết tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 20, tháng 1-1964 - Trần Quốc Hoàn).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2021, 08:07:15 pm »

Từ năm 1960, Đảng và Nhà nước kêu gọi kiều bào ở nước ngoài trở về xây dựng quê hương, đồng thời không ngừng mở rộng quan hệ ngoại giao trên trường quốc tế. Lợi dụng tình hình này, cơ quan gián điệp Mỹ xúc tiến mạnh phương thức gián điệp lâm thời, thường trú và trà trộn trong cộng đồng người Việt về xây dựng Tổ quốc. Lực lượng An ninh đã chủ động triển khai công tác nắm tình hình, phát hiện 8 điệp viên trà trộn trong số 20 ngàn Việt kiều trở về, đã lập án đấu tranh làm rõ đường dây hoạt động, mục tiêu xâm nhập của từng điệp viên. Trong đó chuyên án LH17 kéo dài 10 năm, ta khai thác được nhiều tin tức có giá trị từ Trung tâm chỉ huy của địch. Trên lĩnh vực đấu tranh chống gián điệp hoạt động theo phương thức lâm thời và thường trú, ta đã triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, làm tốt công tác vận động quần chúng, tiến hành giám sát, bao vây không để cho các đối tượng xâm nhập mục tiêu, móc nối cơ sở, đặc biệt là các đối tượng quốc tịch Canađa, Ấn Độ, Pháp. Qua công tác trinh sát đã tham mưu cho Chính phủ, buộc Pháp phải rút 18 điểm là trụ sở đại diện đóng trên các địa bàn chiến lược về tập trung tại một địa điểm ở Hà Nội. Năm 1961, lực lượng An ninh thành lập đơn vị trinh sát 19-5 triển khai kế hoạch M1, M2, từ khống chế đường giao thông đến thực hiện hàng ngàn lượt trinh sát thâm nhập vào cơ quan thường trú của nước A2, thu được nhiều tài liệu có giá trị, giúp Đảng và Nhà nước nắm chắc âm mưu của kẻ thù. Tin tức thu từ hai kế hoạch M1, M2, còn giúp Đảng nắm được thực chất thái độ của một số nước xã hội chủ nghĩa đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Đặc biệt, lực lượng An ninh đã dự đoán được âm mưu và hoạt động của đối tượng X70, X77; tổ chức điều tra củng cố chứng cứ và tham mưu cho Đảng đề ra đối sách thích hợp với hai quốc gia có quan hệ chiến lược này.


Giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965 vừa là giai đoạn mở đầu, vừa là giai đoạn cao trào của cuộc đấu tranh chống gián điệp biệt kích do Mỹ, ngụy tung ra miền Bắc. Lực lượng An ninh quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, thực hiện "phòng" và “chống” với phương châm “giữ bên trong là chính, giữ bên dưới là chính”, “quét sạch nhà để đón khách không mời mà đến". Từ hai toán gián điệp biệt kích đầu tiên xâm nhập vào Sơn La và Hồng Quảng giữa năm 1961, Vụ Bảo vệ chính trị lập chuyên án PY27 và BK63 đấu tranh với chiến thuật “dùng người của địch, phương tiện của địch để đánh lại địch” - “Trò chơi nghiệp vụ" và đã nâng tầm chiến thuật đánh địch thành nghệ thuật. Quá trình đấu tranh, các Ban chuyên án khai thác được âm mưu tổng quát của Mỹ, ngụy, nắm được số biệt kích đang huấn luyện ở miền Nam, biết trước được những toán chúng sẽ tung ra miền Bắc để chủ động bố trí trận địa vây bắt các toán xâm nhập hoặc lập chuyên án dụ địch hoạt động theo kế hoạch của ta. Để chủ động truy bắt gián điệp biệt kích, không những ta thành lập những đơn vị trinh sát gồm nhiều binh chủng tham gia, phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân vũ trang mà còn chú trọng công tác hướng dẫn, tập dượt cho quần chúng tiến hành “'phòng” và “chống” biệt kích ngay tại địa bàn thôn, xã. Vì vậy đã xây dựng được thế trận phòng ngừa và đánh địch hoàn chỉnh, như thiên la địa võng đối với kẻ thù. Từ năm 1961 đến năm 1965, đã bắt 56 toán xâm nhập bằng đường không gồm 353 tên, thu hàng chục tấn vũ khí tối tân, phương tiện thông tin liên lạc hiện đại, thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm. Suốt 5 năm đấu tranh, lực lượng An ninh không để địch gây ra một vụ phá hoại nào, không để một điệp viên nào móc nối thành công với cơ sở của chúng ở trong nội địa. Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, cơ quan CIA chỉ thị cho điệp viên “Hạ Long" - Phạm Chuyên, xác định tọa độ, mục tiêu, chỉ điểm cho máy bay đánh phá vùng Đông Bắc và Hải Phòng. Song qua đầu mối Chuyên, lực lượng An ninh cung cấp cho địch những tin giả làm cho máy bay và tàu chiến không đánh phá trúng mục tiêu như chúng mong muốn. Giai đoạn đầu tiên của cuộc đấu mưu, đấu trí, lực lượng An ninh đã giành thế chủ động, điều khiển trung tâm địch hoạt động theo thế trận ta đã chuẩn bị sẵn. Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của các giai đoạn tiếp theo.


Ở miền Nam, để tăng cường công tác đấu tranh chống phản cách mạng, Trung ương Cục quyết định thành lập "Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam”, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung Ương Cục. Sang năm 1962, hệ thống Ban An ninh các tỉnh, huyện đã hoàn chỉnh và phát triển đến xã, ấp trong vùng ta kiểm soát. Cũng năm 1962, An ninh miền Bắc chi viện 260 cán bộ dày dạn kinh nghiệm cùng phương tiện thông tin liên lạc, giúp An ninh miền Nam thiết lập 5 cụm liên lạc bằng VTĐ trên toàn chiến trường, đảm bảo thông tin thông suốt giữa các khu với Trung ương Cục và với Bộ. Các lực lượng trinh sát Bảo vệ chính trị, Điệp báo, An ninh đô thị, Trinh sát vũ trang,... nhanh chóng được thành lập, được tăng cường quân số cũng như nghiệp vụ đáng kể do có sự chi viện tích cực của An ninh miền Bắc. Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Đảng, cơ sở cách mạng, Trung ương Cục ra Chỉ thị số 11/CTR giao cho lực lượng An ninh: “Xây dựng cơ sở phản gián trong nội bộ địch, chỉ đạo theo nguyên tắc: đơn tuyến, bí mật". Chỉ thị xác định: “Công tác phản gián là một công tác đặc biệt quan trọng... phải điều tra về tổ chức và hoạt động của gián điệp, chú trọng gián điệp Mỹ...”. Đối phó với hoạt động ráo riết, chồng chéo của hệ thống gián điệp Mỹ, ngụy, Trung ương Cục tiếp tục ra Chỉ thị số 69/CT, nhấn mạnh công tác chống gián điệp: “Hoạt động do thám gián điệp của địch là hoạt động chiến lược nhằm phục vụ âm mưu quân sự, chính trị của địch hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng. Vì vậy, đánh bại hoại động gián điệp là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa lớn làm thất bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ". Đối với công tác điệp báo và an ninh đô thị, Trung ương Cục tập trung chỉ đạo và xác định rõ yêu cầu: phải nắm cho được âm mưu địch từ trung tâm xuất phát; giao cho lực lượng Trinh sát vũ trang, An ninh vũ trang, vừa nắm hoạt động của địch vừa tổ chức tập kích vào sào huyệt, các cơ quan chỉ huy đầu não của chúng. Lực lượng trinh sát nội tuyến chịu trách nhiệm bảo vệ nội bộ các cơ quan kháng chiến, ngăn chặn hoạt động gián điệp ở vùng ta kiểm soát. Qua thực tiễn đấu tranh, tháng 1-1963, Ban An ninh Trung ương Cục quyết định mở Hội nghị lần thứ nhất nhằm tập huấn nghiệp vụ, định hướng nhận thức cho lực lượng An ninh toàn miền. Hội nghị xác định: “Công tác chống gián điệp ở miền Nam hiện nay không phải là lấy nghiệp vụ kỹ thuật để đối phó với nghiệp vụ kỹ thuật của địch... điều mấu chốt là dùng lực lượng chính trị, dùng sức mạnh của quần chúng để đối phó. Có như vậy mới đảm bảo được thắng lợi".
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM