Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Mười Hai, 2021, 04:11:21 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 5  (Đọc 194 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2021, 09:15:20 pm »

Các phong trào nói trên, ngoài việc phát huy tinh thần yêu nước và truyền thống đấu tranh của dân tộc, còn tiếp thu được trào lưu tư tưởng tư sản phương Tây; đã được đông đảo quần chúng tham gia trên các mặt chính trị, quân sự, văn hóa, tư tưởng và trở thành một phong trào yêu nước rộng lớn với những nội dung, sắc thái mới. Với các hình thức đấu tranh mới như "bạo động", "xuất dương cầu viện", "cải cách văn hóa, xã hội", phong trào yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX đã góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và hòa nhập vào cao trào "Phương Đông thức tỉnh" như Lênin đã từng nói đến.


Bấy giờ, ở các nước phương Đông, các nhà yêu nước đều thiên về vận động cải cách, nhưng ở Việt Nam cải cách không tách ròi hoạt động vũ trang. Đấu tranh đòi hỏi cải cách phát triển tới bạo động vũ trang, cũng như đấu tranh vũ trang kết hợp với vận động cải cách đã tạo nên sức mạnh, tính phong phú, đa dạng của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.


Nổi bật trong phong trào đấu tranh vũ trang đầu thế kỷ XX là cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế. Những hoạt động của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám gây cho quân Pháp nhiều tổn thất và có ảnh hưởng rất lớn, thu hút sự chú ý của nhiều nhà yêu nước lúc đó như Phan Bội Châu, phan Chu Trinh, v.v.. ở các địa phương trong nước, nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang khác, nhất là của đồng bào các dân tộc thiểu số, vẫn tiếp tục nổ ra mạnh mẽ. Đó là các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Văn Kiêm, Nguyễn Đình Nguyên (Hòa Bình), Giàng Tả Chay (Sơn La), Sùng Mi Chảng (Hà Giang), Trịnh Văn Cấn, Lương Ngọc Quyến (Thái Nguyên), Thăng Mậu (Quảng Ninh), Nơ Trang Lơng (Tây Nguyên)... Những cuộc cuộc khởi nghĩa này tuy tồn tại không lâu, nhưng đã thức tỉnh ý thức dân tộc, ý chí độc lập trong nhân dân, gây cho thực dân Pháp nhiều thiệt hại, nền thống trị của chúng không lúc nào yên. Tuy vậy, thời đại của tinh thần dân tộc dưới hình thức phong kiến, thời đại của khởi nghĩa địa phương chống ngoại xâm sẽ phải nhường chỗ cho thời đại mới, với những hình thức mới của tinh thần dân tộc: đảng chính trị, các hoạt động vận động quần chúng nhân dân, mặt trận chính trị, các tư tưởng cách mạng... Sự thất bại tất yếu của các cuộc khởi nghĩa chống Pháp đầu thế kỷ XX là ánh sáng bùng lên cuối cùng của nền phong kiến Việt Nam. Thất bại của phong trào Cần Vương1 (Phong trào Cần Vương nổ ra vào cuối thế kỷ XIX do đại thần Tôn Thất Thuyết, nhân danh hoàng đế Hàm Nghi đề xướng. Phong trào được coi là chấm dứt với sự thất bại của Phan Đình Phùng và khởi nghĩa Hương Khê. Theo GS. Đào Duy Anh, có thể kể những nguyên nhân thất bại của phong trào này: Một là, nền tảng sản xuất xã hội kém, vũ khí lạc hậu; hai là, lực lượng khởi nghĩa yếu, không đủ khả năng tấn công trực diện với quân đội chính quy của Pháp; ba là, tinh thần chiến đấu không đủ ngoan cường, nhiều thủ lĩnh đầu hàng khi tương quan bắt đầu bất lợi, khiến phong trào tan rã từng mảng nhanh chóng. Xem thêm Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam từ thời cổ đại đến thế kỷ XIX, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2007) vào cuối thế kỷ XIX chính là một thất bại tiêu biểu - thất bại của tư tưởng, ý thức hệ phong kiến, thất bại của một chế độ xã hội đã suy tàn. Nho giáo và hệ tư tưởng phong kiến mà nhà Nguyễn khôi phục đã tỏ ra bất lực và hết vai trò lịch sử trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Một trong những bài học quý báu được rút ra là, trong điều kiện giai cấp cầm quyền đã bỏ rơi ngọn cờ vốn đã mục nát mà phong trào đấu tranh vẫn tiếp tục giương ngọn cờ ấy thì dù có cố gắng đến mấy cũng không thể thành công được.


Thực vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), với ảnh hưởng của việc khai thác thuộc địa và các trào lưu tư tưởng tư sản từ bên ngoài dội vào, ý thức dân tộc và phong trào yêu nước ở Việt Nam có những bước phát triển mạnh mẽ, có quy mô rộng lớn hơn, hình thức đấu tranh phong phú hơn và gồm nhiều xu hướng chính trị khác nhau. Tầng lớp tư sản dân tộc với phong trào chấn hưng nội hóa, thành lập Đảng Lập hiến đấu tranh chống chuyên quyền của tư bản Pháp, đòi tự do dân chủ. Giới trí thức tiểu tư sản với những hoạt động xuất bản, báo chí sôi nổi, đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân. Việt Nam Quốc dân Đảng theo tư tưởng dân chủ tư sản ra đời (1927), tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930). Các phong trào chống Pháp tuy phát triển sôi nổi, rộng khắp và gây được tiếng vang lớn, nhưng cuối cùng đều bị đàn áp; nhiều người Việt Nam yêu nước bị bắn giết, giam cầm, tù tội hay bị lưu đày biệt xứ.


Những phong trào yêu nước chống thực dân Pháp nói trên tuy đã biểu lộ một tinh thần dân tộc mạnh mẽ, nhưng rốt cuộc đều bị thất bại, bởi thiếu sự lãnh đạo của một lực lượng xã hội tiên tiến với những lãnh tụ có uy tín lớn, có đường lối phù hợp với khát vọng giải phóng dân tộc triệt để của dân tộc Việt Nam, với xu hướng mới của thời đại.


Phong trào đòi tự do dân chủ sôi nổi của nhân dân Việt Nam đầu thế kỷ XX đứng trước sự khủng hoảng bế tắc "dường như bị chìm trong đêm tối không có đường ra". Ý thức dân tộc và những giá trị yêu nước truyền thống bấy giờ vẫn là một động lực to lớn, nhưng chỉ với những nhân tố đó, quả thực dân tộc Việt Nam chưa thể giải đáp được bài toán thời đại: bằng con đường nào, phương thức nào, với lực lượng xã hội nào, các dân tộc bị áp bức có thể đánh bại được ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập, tự do? Thực vậy, các hình thức phong kiến và những lực lượng xã hội đại diện cho ý thức dân tộc, ý thức chính trị từ trước đều không phải là giải pháp cho tình thế mới của dân tộc. Đi tìm một con đường mới, một tư duy mới để giải phóng dân tộc là vấn đề cấp bách của phong trào cách mạng, của lịch sử Việt Nam giai đoạn này. Chính vì thế, sau khi phong trào Cần Vương và những cuộc khởi nghĩa nông dân thất bại, nhiều nhà yêu nước Việt Nam với tinh thần dân tộc mạnh mẽ đã hướng ra nước ngoài, hy vọng tìm ra con đường mới để tự giải phóng. Đó là con đường duy tân của Nhật Bản, con đường Cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc, con đường nghị viện tư sản ở các nước phương Tây. Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là những nhân vật tiêu biểu cho xu hướng mới của con đường cứu nước kiểu tư sản, những nhà cách mạng dân tộc đại diện cho một lớp người Việt Nam yêu nước trong giai đoạn chuyển giao giữa hai thời đại và hai thế kỷ. Tư tưởng và hoạt động nhiệt huyết của các ông có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của ý thức dân tộc, với phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX.


Thất bại của cuộc vận động yêu nước đầu thế kỷ XX chứng tỏ con đường dân chủ tư sản không phải là con đường cứu nước phù hợp với xu thế thời đại, với đòi hỏi của cách mạng Việt Nam. Những nhà yêu nước thuở ấy tuy có tinh thần và ý thức dân tộc cao và lòng yêu nước nhiệt thành, nhưng vẫn chưa nhìn thấy ánh sáng trong đêm tối nô lệ. Giữa lúc đó xuất hiện một xu hướng cách mạng mới do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng và lãnh đạo, một nhân tố mới phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2021, 09:16:47 pm »

Vượt qua tầm nhìn và hạn chế của những người yêu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam yêu nước đầu tiên đã tìm ra con đường giải phóng đúng đắn cho giai cấp công nhân, cho nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. Bằng trí tuệ và sự hoạt động tích cực của mình, Người đã kịp thời đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử. Nguyễn Ái Quốc rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám, nhưng không đi theo con đường của vị nào. Mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn và tình yêu thương bao la đối với đồng bào cùng khổ, truyền thống quật cường của dân tộc, với hoài bão và tư duy vượt qua mọi lối mòn của những người đi trước, năm 1911, Nguyễn Ái Quốc (lúc đó là Nguyễn Tất Thành) đã rời Tổ quốc sang phương Tây để nhận thức thế giới, tìm hiểu tận gốc nền văn minh phương Tây đề tìm một con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.


Năm 1919, nhân danh những người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới Hội nghị Vécxây tám yêu sách đòi quyền tự do, dân chủ và bình đẳng dân tộc. Từ năm 1921 đến năm 1929, Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành một cuộc đấu tranh kiên trì, gian khổ trên phạm vi quốc tế cũng như trong nước, truyền bá quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường cách mạng Việt Nam do Người đề xướng vào công nhân, nông dân và những người Việt Nam có tinh thần yêu nước, đồng thời tích cực chuẩn bị về mọi mặt để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.


Ngày 6-1-1930, Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc triệu tập họp tại Cửu Long, Hương cảng, Trung Quốc để thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản chung nhất. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với Chính cương, Sách lược, Điều lệ tóm tắt của Đảng là một bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc trở thành đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, của cách mạng Việt Nam do Người sáng lập và lãnh đạo. Những quan điểm tư tưởng quân sự mới phù hợp yêu cầu thời đại đã xuất hiện. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trở thành lãnh tụ của Đảng và của cả dân tộc. Cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một kỷ nguyên mới. Được lý luận cách mạng soi đường, được một tổ chức tiên tiến lãnh đạo, phong trào yêu nước Việt Nam phát triển vượt bậc. Từ đây, tinh thần yêu nước, ý chí độc lập tự chủ của nhân dân Việt Nam được phát huy mạnh mẽ. Ý thức tự tôn, tự lập, tự cường được củng cố trên cơ sở niềm tin vững chắc vào sự nghiệp giải phóng, vào tiền đồ của dân tộc.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, những truyền thống cao quý của dân tộc từ ngàn năm được kế thừa, phát huy cao độ và được nhân lên một trình độ mới, một chất lượng mới. Đảng đã kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền thống kiên cường, bất khuất, mưu trí, dũng cảm của dân tộc, tạo nên một khí thế cách mạng mới.


Từ năm 1930 đến năm 1945, những cao trào cách mạng mới xuất hiện, trở thành những cuộc tổng diễn tập để tiến tới cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Ý thức dân tộc Việt Nam từng bước phát triển, trưởng thành. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra như khởi nghĩa Bắc Sơn (9-1940), khởi nghĩa Nam Kỳ (11-1940) và khởi nghĩa Đô Lương (1-1941) báo hiệu một thời kỳ cách mạng mới: thời kỳ những cuộc khởi nghĩa từng phần có thể nổ ra để chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa trong cả nước. Trong thời kỳ này, nhiều chiến sĩ cộng sản đã dấn thân vào con đường cách mạng, chấp nhận hy sinh, tù đày vì sự nghiệp cứu nước. Các liệt sĩ cách mạng Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai... đã "giữ vững chí khí chiến đấu" đến hơi thở cuối cùng. Biết bao chiến sĩ yêu nước đã hy sinh anh dũng vì nền độc lập.


Ngày 27-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Mặt trận Việt Minh được thành lập, chủ trương tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Đây là thời kỳ động viên quần chúng sôi nổi, mạnh mẽ, phát triển lực lượng chính trị sâu rộng ở nông thôn và thành thị, đồng bằng và rừng núi, kết hợp phát triển lực lượng vũ trang, chuẩn bị mọi mặt tiến tới Tổng khởi nghĩa. Ngọn lửa cách mạng bốc cao chưa từng thấy, tinh thần dân tộc được huy động mạnh mẽ. Những điều kiện chủ quan và khách quan đã hoàn toàn chín muồi. Đảng và Mặt trận đã lãnh đạo nhân dân chớp thời cơ, tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa toàn thắng. Cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945 là thể hiện ý chí "Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn củng quyết giành cho được tự do, độc lập". Những đoàn người đủ các tầng lớp, tay cầm cờ đỏ sao vàng, cùng vũ khí thô sơ, gậy gộc, dao kiếm, miệng hô những khẩu hiệu cách mạng, tràn lên áp đảo vũ khí và binh lính Nhật; đó là hình ảnh tiêu biểu của Cách mạng Tháng Tám. Trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Đảng đã động viên toàn thể nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam, tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, trên nền tảng liên minh công nông vững chắc, nhất tề nổi dậy ở khắp thành thị và nông thôn, đập tan ách thống trị của đế quốc và phong kiến, giành toàn bộ chính quyển về tay nhân dân.


Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là thành quả quyết tâm chiến đấu của nhân dân Việt Nam vì độc lập, tự do và hòa bình dưới sự lãnh đạo của Đảng; là thành tựu tuyệt vời của tinh thần, ý chí, của trí tuệ con người Việt Nam, của truyền thống văn hóa Việt Nam. Tinh thần, trí tuệ ấy xuất hiện từ buổi đầu lịch sử dân tộc, được nâng lên một tầm cao mới. Nó kết tinh những truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất của một dân tộc có lịch sử hàng nghìn năm chống phong kiến bành trướng xâm lược và gần một thế kỷ đấu tranh chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân. Một dân tộc nô lệ, rên xiết dưới ba tầng áp bức, đã anh dũng đứng lên quét sạch bộ máy thống trị của đế quốc thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân. Đây là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc, một đỉnh cao của tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Ngày 2-9-1945, trong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.4, tr.4).


Như vậy, từ giữa thế kỷ XIX, đối tượng đấu tranh của dân tộc Việt Nam đã đổi thay, đó không còn là chủ nghĩa bành trướng Đại Hán và những thế lực xâm lược ở phương Đông nữa, mà là chủ nghĩa tư bản phương Tây. Các phong trào đấu tranh chống xâm lược mang tư tưởng - hình thái phong kiến đều bị thất bại. Đầu thế kỷ XX, nhiều trào lưu, tư tưởng yêu nước, giải phóng dân tộc theo xu hướng mới đã xuất hiện. Tuy nhiên, phải đến khi có sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào yêu nước, ý thức độc lập dân tộc mới đi đúng hướng, vận động được quần chúng nhân dân, quy tụ được sức mạnh dân tộc, phát triển cao và giành thắng lợi vĩ đại.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2021, 12:17:04 pm »

III- CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC, TINH THẦN ĐẤU TRANH BẢO VỆ ĐỘC LẬP, TỰ DO VÀ TƯ TƯỞNG QUYẾT CHIẾN QUYẾT THẮNG TRONG BA MƯƠI NĂM CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG Ở VIỆT NAM (1945-1975)

Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, chỉ ít ngày sau giặc Pháp đã tái xâm lược Đông Dương. Hàng nghìn quân Pháp được quân Anh giúp sức đã đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Ở miền Bắc, gần 20 vạn quân Tưởng mượn cớ giải giáp quân Nhật cũng đã tiến vào nước Việt Nam. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đứng trước một thử thách "ngàn cân treo sợi tóc". Dân tộc Việt Nam lại bước vào tình thế "một cổ đôi tròng". Lợi dụng Việt Nam đang chồng chất khó khăn, bè lũ đế quốc "định hãm ta trong thế cô độc, buộc ta phải đánh với nhiều kẻ thù một lúc". Để giữ vững hòa bình, chuẩn bị kháng chiến, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương hòa hoãn nhân nhượng, tập trung ngọn lửa đấu tranh vào kẻ thù nguy hiểm nhất. Với quân Tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu khẩu hiệu "Hoa - Việt thân thiện", hòa hoãn với quân Tưởng và bọn tay sai để tập trung lực lượng chống Pháp, giữ vững chính quyền cách mạng. Sau đó lại hòa với Pháp để đẩy quân Tưởng về nước và mong muốn giải quyết cuộc xung đột Việt - Pháp bằng con đường hòa bình, nếu không thành cũng kéo dài thêm thời gian để chuẩn bị kháng chiến. Để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được, nhân dân Việt Nam đã phải chấp nhận chiến đấu chống thực dân Pháp. Một lần nữa nhân dân Việt Nam buộc phải đứng lên cầm vũ khí chống ngoại xâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Bọn thực dân Pháp phải biết rằng: dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến. Vì dân Việt Nam tin chắc rằng thế nào cuộc kháng chiến này cũng thành công"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.91-92).


Đêm 19-12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Cả dân tộc Việt Nam nhất tề đứng lên theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết chặt chẽ, quyết chiến đấu đến cùng vì độc lập tự do, với tinh thần "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, theo tiếng gọi thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu, cả nước "bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.480). Hình tượng những chiến sĩ tự vệ Thủ đô "quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" mãi mãi là bức tượng đài bất hủ về một cuộc chiến tranh mà mỗi người dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh tất cả vì Tổ quốc. Sáu mươi ngày đêm chiến đấu anh dũng ở Hà Nội (19-12-1946 - 17-2-1947), lực lượng vũ trang Thủ đô đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu hao và giam chân quân địch để bảo vệ Trung ương Đảng và Chính phủ rút lui an toàn về căn cứ địa. Đó không chỉ là thắng lợi của tinh thần quyết chiến quyết thắng của Vệ quốc đoàn và tự vệ, của những người tình nguyện ở lại "sống chết với Thủ đô", mà còn là thắng lợi của ý chí độc lập, tự do, đại diện cho quyết tâm, trí tuệ của cả dân tộc.


Từ năm 1945 đến năm 1954, quân và dân cả nước đã tiến hành một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh, giành được những thắng lợi rực rỡ, làm thất bại nhiều kế hoạch chiến lược của thực dân Pháp. Với ý thức dân tộc cao, với tinh thần chiến đấu dũng cảm và sáng tạo, quân và dân Việt Nam đã giành được nhiều chiến công; tiêu biểu là chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, chiến thắng Biên giới (1950), chiến thắng Hòa Bình, Tây Bắc (1952), và cuối cùng là chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.


Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là biểu tượng của ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân Việt Nam: Chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc và vì nển hòa bình thế giới. Trước bối cảnh trong nước và quốc tế lúc đó, chiến dịch Điện Biên Phủ có một vị trí hết sức quan trọng. Đây là cuộc đọ sức lớn nhất, quyết liệt nhất, toàn diện nhất giữa quân đội Việt Nam và quân đội Pháp. Khi bước vào chiến dịch này, quân đội và nhân dân Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn tưởng chừng không thể nào vượt qua nổi. Làm thế nào có thể cung cấp đầy đủ lương thực, vũ khí, đạn dược cho một binh lực lớn ở xa hậu phương hàng 500 - 700km, trong một thời gian dài và trong điều kiện thời tiết, giao thông vận tải cực kỳ khó khăn, lại bị địch thường xuyên bắn phá?


Chính trong những khó khăn, khắc nghiệt đó, ý thức dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí và quyết tâm chiến đấu của nhân dân Việt Nam, vì độc lập, tự do của Tổ quốc lại được tôi luyện và phát huy mạnh mẽ. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nêu cao tinh thần "Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết", "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng", nhân dân cả nước, từ vùng tự do, cũng như trong các vùng tạm bị chiếm đều hăng hái tự nguyện đóng góp sức người, sức của, sẵn sàng hy sinh hết thảy vì độc lập, tự do. Cả nước ra trận, cả dân tộc, từ đồng bào người Kinh đến đồng bào các dân tộc thiểu số, từ thanh niên, phụ nữ đến người già, trẻ nhỏ đều tham gia đánh giặc, cứu nước bằng trí tuệ, lòng dũng cảm và bằng mọi phương tiện sẵn có của mình. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, sức mạnh của hậu phương lại được phát huy cao độ, đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Cả hậu phương rộng lớn của đất nước, từ vùng tự do Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV, vùng mới giải phóng Tây Bắc, vùng du kích và căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ, vùng mới giải phóng ở Thượng Lào đều dồn sức người, sức của cho chiến dịch. Đồng bào Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV đã đóng góp 4.720.000 ngày công với 260.000 dân công, 20.991 xe đạp thồ và hàng chục nghìn phương tiện vận chuyển thô sơ, bán thô sơ khác. Chỉ riêng số vật phẩm đã chuyển được ra mặt trận hơn 2 vạn tấn, trong đó có 14.950 tấn gạo, 266 tấn muối, 62,7 tấn đường, 577 tấn thịt và 565 tấn thức ăn khô1 (Theo Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống Phap, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.138).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2021, 12:17:42 pm »

Trong các chiến dịch của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, truyền thống yêu nước, ý chí quyết chiến quyết thắng vì độc lập, tự do của Tổ quốc và truyền thống "Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc", đã được phát huy mạnh mẽ. Trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu hy sinh, kiên cường, dũng cảm, sáng tạo tuyệt vời, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước, ý chí quyết chiến quyết thắng. Tiêu biểu là Mạc Thị Bưởi, Võ Thị Sáu, anh hùng Núp, Nguyễn Thị Chiên, Ngô Gia Khảm... Các chiến sĩ Tô Vĩnh Diện và Nguyễn Viết Chức đã hy sinh thân mình để bảo vệ pháo; Bê Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng; Phan Đình Giót đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai tạo điều kiện cho toàn đơn vị tiến vào diệt địch... Cuộc chiến đấu lúc đầu không cân sức giữa dân tộc Việt Nam và kẻ xâm lược như "châu chấu đá xe", nhưng dân tộc Việt Nam vẫn "Gan không núng. Chí không mòn", để cuối cùng làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Chính ý thức dân tộc, tinh thần quyết chiến quyết thắng vì độc lập, tự do đã tạo nên sức mạnh to lớn, góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vượt qua những khó khăn chồng chất, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, đánh bại thực dân Pháp xâm lược. Đến đây, có thể nói rằng, những hình thức hiện thực hay lực lượng thực tiễn của tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước đã tựu thành không chỉ trên nền tảng dân tộc mà còn trên đà phát triển tiến tới sự hình thành một xã hội mới. Thực vậy, chính cuộc chiến tranh vệ quốc là môi trường tốt nhất để dân tộc Việt Nam giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, giữa tinh thần dân tộc và hiện thực mất nước. Hiệp định Giơnevơ sau chiến thắng Điện Biên Phủ là minh chứng cho sự trưởng thành chính trị của những người lãnh đạo xã hội mới, cũng cho thấy tư cách của một chính phủ thực sự, đại diện cho dân tộc Việt Nam độc lập, tự do.


Nhưng đế quốc Mỹ đã phá hoại Hiệp định Giơnevơ, dựng nên chính quyền tay sai và biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự của Mỹ, nhằm chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, ngăn chặn làn sóng cách mạng thế giới1 (Trong bối cảnh thế giới bấy giờ, và trong nhận thức của chính giới Mỹ, chủ nghĩa dân tộc của các nước thuộc địa có vẻ đã tìm thấy một hình thái thích đáng có thể phát huy sức mạnh tối đa của dân tộc ấy: chủ nghĩa cộng sản. Tổng thống Aixenhao (D.Eisenhower) đã phát biểu nói rõ rằng cần ngăn cản chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương, mà trọng tâm là miền Nam Việt Nam, nếu không làn sóng cộng sản sẽ cuốn phăng Đông Nam Á. Kế hoạch của Mỹ là phế truất Bảo Đại một cách hợp thức (để Bảo Đại tự thoái vị), lập ra một chính quyền bản địa (chính quyền Ngô Đình Diệm), để cho chính quyền này nắm giữ cùng lúc hai ngọn cờ quốc gia và chống cộng. Kế hoạch này, rốt cuộc, đã không như dự định của Mỹ. Xem thêm: Pentagon Papers: Evolution of the War, U.S. and France's Withdrawal from Vietnam, 1954-56, The U.S. National Archives and Records Administration, p.5-6), dẫn đến cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam anh hùng với đế quốc Mỹ - thế lực hiếu chiến lớn mạnh và tàn bạo nhất thời đại.


Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ là thử thách lớn nhất đối với dân tộc Việt Nam. Cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ đe dọa thủ tiêu những thành quả cách mạng mà nhân dân Việt Nam đã giành được, đưa dân tộc Việt Nam trở lại ách nô lệ dưới hình thức mới. Lúc đầu, các lực lượng tiến bộ không tránh khỏi nghi ngại và lo âu cho nhân dân Việt Nam trong một cuộc chiến không cân sức, trước một kẻ địch có sức mạnh quân sự và kinh tế hùng hậu. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa cùng chung lý tưởng với Việt Nam, nhiệt tình ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, nhưng cũng có nước khuyên ta nên tập trung xây dựng kinh tế hoặc "trường kỳ mai phục" để chờ thời cơ thuận lợi. Sự lo lắng này không phải không có cơ sở. Đế quốc Mỹ có thế mạnh tuyệt đối về quân sự, kinh tế, thậm chí cả về chính trị. Nhưng họ tiến vào Đông Dương mà không hiểu biết về Đông Dương. Chỉ có dân tộc Việt Nam, với tất cả sức mạnh tiềm tàng và hiện có bấy giờ mới dám hiên ngang chấp nhận cuộc đụng đầu lịch sử đó với tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.


"Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một", "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước Việt Nam thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi"; đó là chân lý, là khẩu hiệu, là mệnh lệnh chiến đấu của cả dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã thức tỉnh lòng yêu nước, khơi dậy và cổ vũ ý thức dân tộc tiềm ẩn ở mỗi người Việt Nam, phát triển nó thành chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Vì thế, nhân dân Việt Nam sẵn sàng đứng lên chiến đấu chống lại thế lực hùng cường nhất thế giới để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, chẳng những không sợ mà còn dám đánh, quyết đánh và quyết thắng. Mấy chục triệu người trong cả nước cùng đánh giặc chứ không phải chỉ có quân đội đánh giặc. Cả dân tộc thực hiện một cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh. Tuổi trẻ Việt Nam "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Nơi nào có giặc là nơi ấy có người đánh giặc, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi đường phố là một trận địa, mỗi làng xã là một pháo đài, mỗi tỉnh, huyện là một chiến trường. Quân và dân Việt Nam kiên quyết tiến công, bám địch mà đánh, một người cũng tiến công, đánh lâu dài, lâu bao nhiêu cũng đánh, quyết tâm đánh bại và quét sạch bè lũ xâm lược ra khỏi đất nước. Với tinh thần và ý chí vì độc lập tự do, vì đại nghĩa dân tộc, vì nghĩa vụ quốc tế cao cả, người Việt Nam biết dẹp tình riêng, chịu đựng những hy sinh tổn thất lớn nhất. Hầu hết các gia đình trong cả nước đã gửi con em ra trận, có nhiều gia đình có từ 2 đến 7 con, tất cả đều là liệt sĩ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, biết bao anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc, máu của hàng triệu người Việt Nam đã đổ, tô thắm thêm truyền thống Việt Nam. Tinh thần Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân... sống mãi trong lòng dân tộc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2021, 12:18:21 pm »

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời chống Mỹ, cứu nước là một hiện tượng độc đáo trong xã hội Việt Nam. Nó là sản phẩm của sự kết hợp truyền thống dân tộc với tinh thần cách mạng mới, nó có tính quần chúng hết sức rộng rãi, đã trở thành đạo đức mới, chuẩn mực cuộc sống mới của hàng triệu con người, thể hiện trong câu ngạn ngữ mới: "Việt Nam ra ngõ gặp anh hùng". Tinh thần và ý chí dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng ấy là chủ nghĩa anh hùng tập thể của những con người bình thường làm nên sự nghiệp phi thường. Hàng chục triệu người trong mấy chục năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay, đồng cam cộng khổ, chống địch trên mọi mặt trận, thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, cả nước đánh giặc. Họ đã vươn lên như Phù Đổng với sức mạnh mới, quyết tâm mới, tập trung cố gắng lớn nhất, dốc toàn lực giành lấy thắng lợi cuối cùng. Có những thời điểm khó khăn tưởng chừng không qua nổi, có khi hơn 50 vạn quân Mỹ và đồng minh đã tràn ngập miền Nam, đế quốc Mỹ đã sử dụng nhiều loại phương tiện, vũ khí tối tân, hiện đại nhất, kể cả vũ khí lade và máy bay chiến lược B.52 bắn phá cầu đường, tàn phá nhiều thành phố, làng quê, hòng đè bẹp tinh thần, ý chí chiến đấu của nhân dân Việt Nam, ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam. Chỉ riêng năm 1965, chúng đã thực hiện 55.000 phi vụ, ném xuống miền Bắc 33.000 tấn bom đạn, trong đó 50% số lần đánh phá tập trung vào các mục tiêu giao thông vận tải; trung bình mỗi ngày máy bay địch xuất kích từ 100 đến 150 lần/chiếc, ngày cao nhất là 250 lần/chiếc. Trong cuộc tập kích chiến lược đường không 12 ngày đêm cuối năm 1972, đế quốc Mỹ đã sử dụng 729 lần/chiếc máy bay chiến lược B.52, gần 4.000 lần/chiếc máy bay chiến thuật ném bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu khác, với một khốĩ lượng bom đạn tương đương 35.000 tấn thuốc nổ. Nhưng dưới bom đạn ác liệt của quân thù, nhân dân Việt Nam không nao núng. Đảng ta đã khẳng định: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước dù phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ và trong bất cứ tình huống nào, nhân dân Việt Nam trong cả nước cũng nêu cao quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.


Trên mọi chiến trường, người Việt Nam nêu cao tinh thần: "Nhằm thẳng quân thù, bắn", "Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh". Bằng ý chí, bằng tài năng và lòng dũng cảm, quân và dân Việt Nam đã kiên cường đánh trả, bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống nhiều giặc lái. Đế quốc Mỹ chẳng những không đạt được mục tiêu đánh phá, mà còn bị thất bại nặng nề. Quân địch càng đánh thì nhân dân Việt Nam càng kiên định, lòng yêu nước càng dâng cao, sự quyết tâm đánh giặc càng lớn hơn, mạnh mẽ hơn. Quân và dân miền Bắc thực hiện "vừa sản xuất vừa chiến đấu, vừa quyết tâm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của địch ở miền Bắc, vừa ra sức giúp đỡ cách mạng miền Nam". Phong trào thi đua yêu nước diễn ra sôi nổi khắp nơi. Đó là phong trào "Thanh niên xung phong", "Thanh niên ba sẵn sàng", "Phụ nữ ba đảm đang", "Tay cày tay súng", "Tay búa tay súng"... "Nhà nhà thi đua, người người thi đua", "Một người làm việc bằng hai", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "Giặc phá ta sửa ta đi", "Xe chưa qua nhà không tiếc" nhằm chi viện tốt nhất cho chiến trường miền Nam.


Quân và dân Việt Nam anh hùng đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược trải qua năm đời tổng thống Mỹ nối tiếp nhau, làm thất bại bốn chiến lược chiến tranh xâm lược quy mô ngày càng lớn, với tính ác liệt, dã man nhất. Đòn tiến công chiến lược Tết Mậu Thân năm 1968, thắng lợi của cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972, cùng với chiến công xuất sắc của quân và dân Việt Nam đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút quân về nước. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Quân và dân cả nước thực hiện trọn vẹn quyết tâm chiến lược "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc chiến tranh vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt của nhân dân Việt Nam. Thắng lợi đó "mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm cỡ quan trọng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.5-6). Đó là thắng lợi vĩ đại của tinh thần và ý chí độc lập của dân tộc Việt Nam.


Cội nguồn của tư tưởng trên bất cứ phương diện nào chính là tinh thần, vốn là di sản kế thừa giữa các thế hệ thống qua truyền thống và văn hóa. Một dân tộc được cấu thành từ hai mặt: một mặt là toàn thể con người tham gia vào dân tộc ấy, và mặt khác là tinh thần đã nối kết cộng đồng để mỗi thành viên tự ý thức mình là một thành viên của cộng đồng ấy. Chính vì thế, một mặt thì dân tộc chỉ có thể lớn mạnh và đối phó với những nguy cơ của nó nếu động viên được toàn thể lực lượng dân tộc; mặt khác thì không gì có thể động viên được lực lượng dân tộc nếu tinh thần dân tộc không được khơi dậy đủ để thúc đẩy mọi thành viên trong dân tộc ấy. Nhiệm vụ thức tỉnh tinh thần dân tộc, cũng như nhiệm vụ điều chuyển lực lượng toàn dân, bao giờ cũng đặt vào tay lực lượng chính trị đại diện cho dân tộc ấy, và vì thế mà tinh thần dân tộc buộc phải mang lấy hình thái thực tiễn của lực lượng chính trị đại diện cho nó. Trong thời phong kiến, tinh thần dân tộc ấy là trung quân - ái quốc. Trong thời đại cách mạng, tinh thần dân tộc, lòng yêu nước ấy hòa nhập với chủ nghĩa cộng sản để trở thành chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng...


Và còn có một thực tế nữa: nếu một dân tộc phải thường xuyên đối mặt với kẻ thù xâm lược, thì tinh thần dân tộc, lòng yêu nước lại sẽ thường xuyên trở thành một ý thức - thực tiễn trong tinh thần và tâm hồn người dân. Trong trường hợp Việt Nam, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, tinh thần độc lập, tự chủ... đã trở thành truyền thống, thành một giá trị trong đời sống mỗi con người Việt Nam. Vì thế, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6. tr.171).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM