Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Năm, 2024, 03:24:05 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 3  (Đọc 4208 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #50 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2021, 07:38:07 pm »

4. Điều cốt lõi về công tác quân sự của Đảng trong nông dân là phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang

Giữa năm 1927, tình hình quốc tế có nhiều biến động. Tập đoàn quân phiệt Tưởng Giới Thạch gây phản chiến. Trước tình hình ấy, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu sang Mátxcơva (Liên Xô) và từ đó, Người sang Đức, bí mật trở lại nước Pháp, lại qua Đức, Bỉ, Italia, rồi từ Italia đáp tàu biển của Nhật Bản tới Thái Lan vào năm 1928. Trong thời gian ngắn ở Mátxcơva, Người viết cuốn Công tác quân sự của Đảng trong nông dân đưa ra luận điểm quân sự: "Bất kỳ một phong trào cách mạng nghiêm chỉnh nào trong nông dân đều nhất thiết phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.571) với nhiều nội dung quan trọng.


Trước hết, Người khẳng định rằng cuộc cách mạng vô sản chỉ có thể thắng lợi nếu như giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực. Theo Người, trong thời kỳ cách mạng tư sản dân quyền, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản để thực hiện các khẩu hiệu của mình và chuyển cuộc cách mạng tư sản dân quyền thành cách mạng vô sản không thể giành được thắng lợi hoàn toàn nếu không có khối liên minh cách mạng của giai cấp vô sản và nông dân, nếu không có sự tham gia tích cực của quần chúng nông dân bị áp bức vào việc thực hiện những khẩu hiệu của cách mạng. Cuộc cách mạng Nga, cách mạng Trung Quốc và phong trào đấu tranh cách mạng ở nhiều nước khác đã chứng minh rõ ràng điều đó. Đối với tất cả những nhà cách mạng chân chính hiện nay, nguyên tắc lêninnít căn bản ấy là sự thực không thể chối cãi. Ở Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ Latinh, ở nhiều nước châu Âu... bạn đồng minh cương quyết của giai cấp vô sản trong cách mạng là quần chúng nông dân. Cách mạng chỉ có thể thắng lợi nếu như những làn sóng cách mạng lay động được quần chúng nông dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản.


Người nhấn mạnh: Đối với nông dân, mục đích của đảng vô sản là rõ ràng: Đảng vô sản phải giành lấy quyền lãnh đạo phong trào, tổ chức và động viên quần chúng nông dân xung quanh những khẩu hiệu nhất định, phù hợp với tính chất của cuộc cách mạng. Bởi lẽ, bất kỳ một phong trào cách mạng nghiêm chỉnh nào trong nông dân, thoạt đầu xuất hiện cũng dưới dạng những cuộc nổi dậy lẻ tẻ, tự phát, rời rạc của các nhóm du kích chống lại mọi thế lực chính trị và hành chính tồn tại ở làng quê; ở giai đoạn đầu của phong trào cách mạng, nông dân ít khi nêu ra khẩu hiệu rõ ràng về cách mạng ruộng đất, họ chỉ phản đối những tên địa chủ tàn ác, đòi giảm tô và thuế; đặc điểm căn bản của cuộc cách mạng nông dân ở giai đoạn đầu là tính chất tự phát của nó được thể hiện qua những hành động lẻ tẻ, rời rạc; không có một cương lĩnh chính trị nhất quán cho cả vùng; không có những khẩu hiệu ổn định. Do đó, Đảng của giai cấp vô sản cần phải phối hợp phong trào nông dân với các mục tiêu cách mạng và các hoạt động của giai cấp vô sản ở các trung tâm công nghiệp. Đảng cách mạng phải hiểu rằng, phong trào nông dân, cho dù có quy mô to lớn tới đâu đi nữa, cũng không mong gì giành được những thắng lợi quyết định nếu như giai cấp công nhân không nắm lấy và hành động. Tổ chức và chuẩn bị các hoạt động phối hợp, nếu có thể cùng một lúc ở thành thị và nông thôn thì đó sẽ là mục đích căn bản của đảng cách mạng ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp. Nhằm làm rõ vấn đề quan trọng này, Người dẫn chứng sinh động phong trào cách mạng ở Trung Quốc. Theo Người, chính sách kém cỏi về vấn đề nông dân là một trong những nguyên nhân làm cho cuộc cách mạng Trung Quốc năm 1927 thất bại1 (Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.567). Để làm sâu sắc thêm điểm này, Người còn nêu những sự kiện ở Bungari. Ở đây, vào mùa thu năm 1923, các cuộc khởi nghĩa nông dân đã bùng nổ tự phát ở nhiều vùng. Vậy mà Đảng Cộng sản Bungari suốt cả một tuần vẫn không làm gì để giành quyền lãnh đạo phong trào. Các cuộc khởi nghĩa nông dân do thiếu tổ chức và hợp đồng, do sự biệt lập với nhau và vì thiếu vắng sự lãnh đạo cụ thể của Đảng Cộng sản đã bị phản cách mạng đè bẹp. Tiếp đó, Người đề cập đến cách mạng Nga. Theo Người, Cách mạng Tháng Mười Nga giành được thắng lợi là do Đảng Bônsêvích đã biết động viên quần chúng nông dân dưới khẩu hiệu của mình và dẫn dắt họ tham gia vào cuộc chiến đấu lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và thiết lập nền chuyên chính của giai cấp vô sản.


Thứ hai, để bảo đảm chắc chắn cho sự phối hợp hành động giữa giai cấp vô sản và nông dân, đảng của giai cấp vô sản phải quan tâm tới công tác chính trị, tổ chức và cả về công tác quân sự trong nông dân1 (Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.569). Theo Người, công tác này không được phó thác cho sự may rủi hay tiến hành gặp chăng hay chớ. Nó phải ăn nhịp với phương hướng cơ bản của Đảng về mệnh lệnh và thời gian cho các hành động cách mạng khác nhau có thể diễn ra ở các nơi. Người cho rằng, việc tuyên truyền cổ động cách mạng cần phải được tiến hành trong nông dân ở mọi nơi, nhưng sức mạnh chủ yếu của Đảng phải được dồn cho một tỉnh hay một vài tỉnh đặc biệt2 (Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.570). Nguyên tắc này rút ra từ sự thực được mọi người thừa nhận là ở những nước có sự khác biệt rất lớn về điều kiện địa lý, kinh tế và chính trị, việc giành chính quyền của giai cấp vô sản liên minh với nông dân và dân nghèo thành thị không thể hoàn thành trong một vài tuần hoặc vài tháng, mà phải trải qua một thời kỳ kéo dài phong trào cách mạng ở các tỉnh, các trung tâm công nghiệp và chính trị. Do vậy, khi đảng cách mạng đoán trước được tình thế cách mạng trực tiếp đang tới gần, thì phải chỉ ra được tỉnh nào hay huyện nào quan trọng nhất theo quan điểm tuyên truyền trong nông dân, phải dồn sự chú ý của đảng và tập trung các nguồn lực của đảng cho các tỉnh này. Cùng với sự quan tâm tới công tác tuyên truyền trong nông dân, đảng cần phải quan tâm hơn đến những vùng tiếp giáp với các trung tâm chính trị và công nghiệp chính.


Thứ ba, sử dụng hình thức hoạt động vũ trang vì "đó là điều hoàn toàn cốt lõi để bàn luận công tác quân sự của Đảng trong nông dân"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.571). Người nhấn mạnh rằng, không thể giấu mình một cách đơn giản vào những toán nông dân vũ trang đã có vào bất kỳ thời điểm nhất định nào, cũng không thể tùy ý thành lập các đội tự vệ đỏ trong các nhà máy. Cuộc đấu tranh vũ trang của nông dân với tư cách một hình thức đấu tranh quần chúng, xuất hiện trong những tình thế chính trị đặc biệt - khi mà ách áp bức của giai cấp thống trị trở nên không thể chịu nổi và quần chúng nông dân đang ỏ trong tình thế sôi sục cách mạng, sẵn sàng xả thân chiến đấu chống lại trật tự hiện hành. Mục tiêu chính của các toán du kích là bảo vệ nông dân trong vùng khỏi bạo lực của chính quyền phản động. Các đơn vị du kích thường sử dụng hình thức phá hoại chống lại địa chủ, cảnh sát, tấn công những đồn lẻ hoặc tấn công những toán lính nhỏ để tước vũ khí của chúng hoặc giải thoát những người tham gia đấu tranh bị bắt.


Người nhấn mạnh: Lịch sử đấu tranh của nông dân trên khắp thế giới minh họa một cách phong phú con đường mà phong trào du kích dần dần tự chuyển thành một lực lượng có khả năng cung cấp những người lãnh đạo đích thực, thực hiện những nhiệm vụ cách mạng có tầm quan trọng to lớn. Người nêu ví dụ cụ thể rằng: trong suốt cuộc Bắc phạt ở Trung Quốc, năm 1926 và đầu năm 1927, quân đội cách mạng của Chính phủ Quảng Châu, lúc đầu khi rời tỉnh Quảng Đông chỉ có chừng 90.000 người mà đã đánh bại quân đội của Ngô Bội Phu, Tôn Truyền Phương và Trương Tôn Xương đông gấp đôi. Quân đội Quảng Châu nhỏ bé về số lượng và trang thiết bị nghèo nàn mà giành được thắng lợi quân sự là nhờ hoạt động tích cực của các toán du kích nông dân trong vùng địch.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #51 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2021, 07:39:08 pm »

Thứ tư, chìa khóa dẫn tới những thắng lợi vững chắc của các toán du kích là sự liên hệ mật thiết với quần chúng nông dân. Người nhấn mạnh rằng, cuộc đấu tranh của du kích phải phản ánh được lợi ích của quảng đại quần chúng nông dân và phải có tình thế cách mạng trực tiếp thì mới có thể giành được thắng lợi. Những điều kiện của cuộc đấu tranh, quy mô của phong trào, những mục tiêu mà nông dân tự đặt ra là những nhân tố quyết định các hình thức đấu tranh du kích. Đảng phải tính tới những điều kiện cụ thể về thời gian, làm sao có khả năng đưa lại cho phong trào du kích nhũng hình thức phù hợp với hoàn cảnh đặc thù và dẫn dắt các hoạt động của nó. Phong trào du kích không chỉ được lãnh đạo về chính trị, mà còn được lãnh đạo về quân sự và chiến thuật. Người nêu rõ "các điều kiện căn bản mà phong trào du kích phải tuân thủ như sau:

a) Tổ chức phải mềm dẻo và cần có một số cấp có khả năng hoạt động độc lập với nhau;

b) Tổ chức phải cơ động; có khả năng hoạt động nhanh; có thể xoay chuyển cực nhanh khi hoàn cảnh đòi hỏi chuyển từ điều kiện bí mật sang công khai và ngược lại, và kết hợp đúng đắn các phương pháp công khai, bán công khai và bí mật;

c) Cấu trúc phải làm sao cho Đảng thực hiện quyền lãnh đạo về chính trị và tác chiến của mình;

d) Cấu trúc phải đơn giản, dễ hiểu đối với quần chúng và phù hợp với phong tục tập quán của họ, bảo đảm tiếp tục phát triển lực lượng mới"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.577).


Theo Người, những cơ cấu của phong trào du kích ở các nước khác nhau cần phải tính đến những nét đặc thù của từng nước, mục tiêu của phong trào du kích ở từng thời kỳ, vũ khí hiện có (hoặc có thể được trang bị trong quá trình chiến đấu) và cần phải giữ được bí mật. Nếu như tất cả các điều kiện ấy được tuân thủ sẽ đi tới cơ cấu đặc thù của các đơn vị du kích: ở thời kỳ đầu, những nhóm chiến đấu nhỏ, ít nhiều có cùng nhiệm vụ, gồm tám hoặc mười người, được hình thành từ làng nọ đến làng kia và đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của các làng; thông qua các chỉ huy của họ, tới các ủy ban quân sự xã, huyện. Khi phong trào phát triển, các nhóm nhỏ đó hợp thành những đơn vị lớn. Những đơn vị đó, đến lượt nó, có thể được tập hợp thành những đơn vị lớn hơn. Trong quá trình đó, nếu các đơn vị du kích nhỏ hợp thành những đơn vị lớn thì cần phải tuân theo nguyên tắc đã được xác lập là một người không được chỉ huy nhiều đơn vị vì nếu chỉ huy nhiều đơn vị thì nhiệm vụ rất khó khăn và kết quả cuối cùng sẽ bị ảnh hưởng ngược lại. Nguyên tắc này phải được tôn trọng triệt để đối với các đơn vị du kích do những nét đặc thù của nó. Giám sát việc thành lập, huấn luyện quân sự và hoạt động của các đơn vị du kích là trách nhiệm của từng ban chuyên môn trong Hội đồng quân sự vì hội đồng này phụ trách toàn bộ công tác quân sự của đảng. Các hội đồng quân sự huyện và xã nhất thiết phải có đại diện của mình trong nông dân ở từng làng hoặc từng nhóm làng, nhiệm vụ của họ là chỉ đạo việc thành lập các đơn vị du kích và huấn luyện quân sự tại chỗ. Điều đó bảo đảm cho các đội du kích có sự liên hệ mật thiết với quần chúng nông dân và như vậy đưa đến thắng lợi trong hoạt động của đội du kích.


Thứ năm, phải coi trọng huấn luyện tác chiến và trang bị vũ khí cho đội du kích. Theo Người, trước hết là phải dạy cho các đội du kích sử dụng thành thạo các loại vũ khí cầm tay; đó là một trong những nhiệm vụ chính yếu của những người tổ chức và lãnh đạo. Dạy cho du kích biết cách sử dụng các loại vũ khí mà họ có vẫn chưa đủ, còn phải dạy cho họ biết càng nhiều càng tốt cách sử dụng mọi thứ vũ khí có thể bất ngờ cướp được từ tay kẻ thù. "Nguyên tắc căn bản ở đây là mỗi một du kích phải được học bắn thành thạo súng trường, các loại súng lục, học ném lựu đạn và học cho thành thạo khi đánh giáp lá cà"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.582) bằng giáo, mác và kiếm... Một điều cũng rất quan trọng là, mỗi đơn vị du kích cần phải có các chiến sĩ trinh sát được huấn luyện, các chiến sĩ bắn súng máy, thông tin liên lạc và y tá. Việc tạo ra một số lượng các chiến sĩ như vậy là một phần trách nhiệm của ban chỉ huy các đơn vị du kích.


Để có vũ khí trang bị cho đội du kích mới được thành lập, Người cho rằng, đây là một vấn đề có thể giải quyết được, mặc dù khó khăn. Nhất thiết phải dùng mọi cách để có vũ khí. Các loại vũ khí thích hợp với du kích là súng săn cộng thêm lựu đạn, bom mìn, giáo mác và kiếm... Trong những trường hợp nhất định có thể mua súng, nhưng nguồn trang bị vũ khí chủ yếu cho du kích là tập kích vào các kho vũ khí hoặc cướp vũ khí của các toán lính địch. Đối với phong trào du kích, việc bổ sung vũ khí và đạn dược là một nhiệm vụ thường xuyên, liên tục và lâu dài. Lịch sử phong trào du kích ở Nga, Trung Quốc và những nước khác chỉ ra rằng, các đơn vị du kích tiến hành đấu tranh chống lại các nhà cầm quyền và quân đội lúc đầu không có bất kỳ thứ vũ khí nào khác ngoài rìu, thanh sắt, liềm hoặc gậy gộc. Dần dà, trong quá trình chiến đấu họ cướp được những thứ vũ khí như súng trường, súng máy và các thứ đạn cần thiết để trang bị cho mình.


Thứ sáu, hoạt động du kích phải có sự thống nhất, có kế hoạch, dân chủ, chỉ huy linh hoạt, kiên quyết vận động, giáng những đòn nhanh và bất ngờ vào quân địch. Theo Người, các đơn vị du kích chừng nào mà chưa nhóm thành một đội quân đủ mạnh thì không thể tiến hành cuộc chiến đấu chống lại quân đội địch với những trận đánh công kiên hoặc trên đất trống trải. Trong trường hợp các đơn vị du kích bị quân đội địch tiến công thì cách giải quyết tốt nhất là tránh đánh nhau hơn là bắt tay tự phòng thủ như quân đội chính quy. Bởi vì các chiến sĩ du kích không thể giành thắng lợi trong phòng thủ, mà thắng lợi nằm trong những hành động tiến công táo bạo và bất ngờ. Ở mọi nơi, mọi lúc phải kiên quyết vận động giáng những đòn nhanh và bất ngờ vào quân địch, lúc mà chúng ít ngờ tới và nhanh chóng rút lui tránh một cuộc giao tranh quyết liệt nếu lực lượng không có lợi cho mình, để rồi lại tổ chức chiến đấu ''làm cho quân thù bạt vía kinh hồn ở một nơi khác''1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.584). Người cho rằng, trong việc tổ chức các cuộc tiến công vào thành phố, chỉ huy các đơn vị du kích phải chú ý vấn đề lựa chọn hướng đột kích chủ yếu. Mọi cố gắng xuất kích với lực lượng như nhau ở tất cả các điểm đều không có lợi. Các chỉ huy cần tập trung sự chú ý của mình vào một điểm tiến công chủ yếu có hy vọng giành được thắng lợi nhanh chóng. Một số đơn vị du kích tổ chức phối hợp tác chiến nhằm đạt được mục tiêu nào đó bằng sự bất ngờ thì phải ghi nhớ rằng yếu tố thời gian là cực kỳ quan trọng. Không tuân thủ nguyên tắc chiến thuật đó thường dẫn tới thất bại, thậm chí dẫn tới tiêu vong các đơn vị du kích. Trong tác chiến, sự thống nhất chỉ huy đóng vai trò rất to lớn. Kế hoạch tác chiến phải được soạn thảo tập thể và khi chiến đấu phải ra mệnh lệnh rõ ràng cho những đơn vị tham gia tác chiến. Đó là điều kiện cốt lõi để kết hợp tác chiến giành được thắng lợi. Nhu cầu về chỉ huy thống nhất là của tất cả các cuộc chiến đấu nói chung. Người lưu ý là đã từng xảy ra những trường hợp nhiều đơn vị du kích có cùng mục tiêu, nhưng thiếu chỉ huy thống nhất nên đã phân tán những nỗ lực trong hoạt động, và do đó, không thành công. Không thể có tác chiến thắng lợi nếu không biết trước thông tin chính xác về điểm mạnh, yếu của địch, về địa thế, đường sá, v.v...; luồng tin tức thường xuyên về đối phương là một yêu cầu cơ bản trong hoạt động du kích. Trước mỗi cuộc chiến đấu, các chiến sĩ du kích cần phải biết về mục tiêu và phải chú ý tới từng chi tiết hoạt động cụ thể.


Những nội dung Nguyễn Ái Quốc trình bày trong tác phẩm Công tác quân sự của đảng trong nông dân được đánh giá cao. Trường quân sự của những người cộng sản Đức tại Mátxcơva dùng tác phẩm đó làm tài liệu giảng dạy. Đối với cách mạng Việt Nam, đây là những tri thức quý báu, về sau được thể hiện trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng; nhiều nội dung được đưa vào tác phẩm Cách đánh du kích do chính Người trực tiếp biên soạn cuối năm 1941 và được Tổng bộ Việt Minh xuất bản tháng 5-1944.


Vậy là trong những năm 1919-1930, một xu hướng cách mạng mới hình thành do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng và lãnh đạo. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (1920), Nguyễn Ái Quốc đã hướng cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản. Gắn liền với quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn phong phú chuẩn bị các điều kiện tiến tới thành lập chính đảng vô sản ở Việt Nam, tư tưởng quân sự - một bộ phận trọng yếu trong tư tưởng cách mạng của Người từng bước hình thành. Các quan điểm quân sự cơ bản của Người như: phát huy tính chủ động trong đấu tranh cách mạng, trông cậy trước hết vào lực lượng của bản thân mình; sử dụng bạo lực cách mạng chống chủ nghĩa tư bản và hai hình thức đặc biệt của nó là chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa pháo thuyền ở thuộc địa; tiến hành khởi nghĩa vũ trang trong cả nước, quy tụ và phát huy sức mạnh toàn dân, huấn luyện dân khí mạnh để cách mạng thắng lợi; phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang và tổ chức các đội du kích... là "cơ sở lý luận của sự hình thành đường lối quân sự của Đảng ta trong thời kỳ Đảng mới thành lập"1 (Trường Chinh: Mấy vấn đề quân sự trong cách mạng Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1983, tr.161).


Như vậy, trong giai đoạn 1897-1930, do tác động của nhiều luồng tư tưởng từ bên ngoài (Nhật, Trung Quốc, Pháp), đặc biệt là tác động của yếu tố thời đại mới mở đầu bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản được thành lập năm 1919, tư tưởng quân sự Việt Nam đã vượt qua sự bế tắc của tư tưởng quân sự phong kiến, hình thành nên hai xu hướng tư tưởng quân sự mới đan xen nhau: tư tưởng quân sự theo xu hướng dân chủ tư sản mà Phan Bội Châu là đại diện tiêu biểu và tư tưởng quân sự theo xu hướng vô sản mà Nguyễn Ái Quốc là đại diện. Mặc dù xuất hiện sớm hơn, nhưng tư tưởng quân sự theo xu hướng tư sản đã trở nên lỗi thời trên phạm vi quốc tế, do cơ sở kinh tế - xã hội của giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé, nên tư tưởng quân sự theo xu hướng dân chủ tư sản hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ giải phóng dân tộc và kết thúc bằng thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930). Còn tư tưởng quân sự theo xu hướng vô sản, đại diện tiêu biểu là Nguyễn Ái Quốc, tuy xuất hiện muộn hơn so với tư tưởng quân sự theo xu hướng dân chủ tư sản, nhưng do tiếp thu những yếu tố phù hợp của chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết quân sự Mác - Lênin, nên tràn đầy triển vọng.


Sự thăng hoa của tư tưởng quân sự theo xu hướng vô sản trong giai đoạn lịch sử này thể hiện ở chỗ những quan điểm quân sự cơ bản của Nguyễn Ái Quốc đã trở thành hạt nhân của đường lối quân sự của Đảng trong thời kỳ Đảng mới thành lập.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #52 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2021, 06:50:52 pm »

Chương III
TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG
TRONG THỜI KỲ 1930-1939


I- ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ CÁC QUAN ĐIỂM QUÂN SỰ CƠ BẢN TRONG VĂN KIỆN HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẢNG (2-1930)

1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

Trên bước đường chinh phục thuộc địa, cuối thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản Pháp đặt chân lên Đông Dương, trong đó có Việt Nam.

Dưới ảnh hưởng trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của chủ nghĩa tư bản Pháp, ở Việt Nam kinh tế thương phẩm phá tan nền kinh tế tự nhiên. Các xí nghiệp công nghiệp nhẹ, đồn điền, hầm mỏ... phát triển làm cho giai cấp công nhân Việt Nam nảy nở, phát triển. Bản thân đế quốc Pháp cũng không đủ sức cai quản hết thị trường thuộc địa rộng lớn nên hình thành giai cấp tư sản bản địa, và nhân cơ hội đó, cũng phát triển ít nhiều. Điều này chính là nguyên nhân làm cho lực lượng công nhân tuy phát triển chưa nhiều nhưng đã trở thành một giai cấp rõ rệt; xã hội Việt Nam có sự phân hóa; cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân Việt Nam một cách tự phát ngày càng tăng lên để chống lại sự bóc lột tàn nhẫn, dã man của đế quốc Pháp.


Sự áp bức dân tộc dưới mọi hình thức ở Việt Nam ngày càng nặng nề, cùng với một nền giáo dục thực dân áp đặt đã khiến cho các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam ngày càng bị bần cùng hóa, không thấy tiền đồ. Cùng với đó là sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đánh đổ chế độ Nga Hoàng, lập nên nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, làm rung chuyển thế giới cũng tác động đến con người và xã hội Việt Nam. Tại châu Á, ảnh hưởng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Trung Quốc (1925 - 1927); cuộc vận động dân tộc ở Ấn Độ (1919 - 1921); phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới, nhất là các cuộc đấu tranh ủng hộ độc lập dân tộc của các nước... Tất cả đã làm cho các tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam, đặc biệt là những người có tư tưởng dân chủ, dân tộc giải phóng nhận thấy họ không đơn độc trong cuộc tranh đấu chống lại áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân; thấy rõ con đường giải phóng của dân tộc, của nhân dân có mối liên hệ mật thiết với nhau; tin rằng thắng lợi cuối cùng sẽ về tay giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức. Đó chính là những điều kiện chủ quan, khách quan cho phong trào cộng sản Việt Nam ra đời và phát triển. Nó cũng chứng minh một thực tế: Dân chúng muốn có sự liên hiệp các đảng phái, xu hướng để hình thành một phong trào giải phóng dân tộc rộng rãi đòi tự do, dân chủ, tiến bộ và dự bị cho bước đường tranh đấu cao hơn sau này.


Nắm chắc tình hình thế giới, trong nước, đặc biệt là nhu cầu độc lập dân tộc, dân chủ của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đẩy mạnh quá trình thành lập một chính đảng cách mạng thống nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.


Để truyền bá tư tưởng cách mạng, tiến tới thành lập chính đảng vô sản, Nguyễn Ái Quốc đã giành tâm sức nghiên cứu học thuyết Mác - Lênin. Tư tưởng cách mạng của Người hình thành trong những năm 20 của thế kỷ XX, được truyền vào Việt Nam là một trong những yếu tố cơ bản để lập ra Đảng Cộng sản.


Sau khi thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Nguyễn Ái Quốc tổ chức một đường dây liên lạc với trong nước để đưa đón thanh niên đến Quảng Châu (Trung Quốc) dự các khóa huấn luyện chính trị và quân sự; mãn khóa học, những cán bộ ấy được đưa về nước hoạt động. Từ đó, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên có cơ sở ngày càng mạnh ở trong nước. Số hội viên của Hội năm 1928 có 300 người, đến năm 1929 đã lên đến 1.700 người. Trong năm 1928 - 1929, khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên thực hiện "vô sản hóa" thì phong trào công nhân trong nước có bước phát triển rõ rệt. Các cuộc đình công đã có tổ chức hơn. Từ hình thức các hội ái hữu, tương tế, giai cấp công nhân đã tự tổ chức ra Công hội. Ngày 28-9-1929, Tổng Công hội Bắc Kỳ được thành lập; tháng 10-1929, Tổng Công hội Nam Kỳ ra đời. Thành công trong việc đẩy nhanh phong trào công nhân từ tự phát sang tự giác, liên minh với phong trào nông dân, tranh thủ được tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã giành được thắng lợi trong đấu tranh đẩy lùi tư tưởng cải lương, dân tộc hẹp hòi của hệ tư tưởng tư sản.


Trước sự phát triển mạnh của phong trào yêu nước, một yêu cầu thực tế đặt ra là cần phải lập một Đảng Cộng sản để lãnh đạo cách mạng trong tình hình mới. Vì vậy, tháng 3-1929, một số người trong kỳ bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Bắc Kỳ1 (Những người đó là Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự, Đỗ Ngọc Du, Dương Hạc Đính...) đã họp tại số nhà 5Đ phố Hàm Long (Hà Nội) quyết định thành lập chi bộ cộng sản nhằm tiến tới thành lập Đảng Cộng sản.


Dưới sự lãnh đạo của chi bộ cộng sản, Đại hội kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Bắc Kỳ họp ngày 28-3-1929 đã nhất trí tán thành chủ trương thành lập Đảng Cộng sản và quyết định cử một đoàn đại biểu đi dự Đại hội Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên toàn quốc để trình bày chủ trương đó. Nhưng kiến nghị giải tán Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để thành lập Đảng Cộng sản của đoàn đại biểu Bắc Kỳ không được Đại hội toàn quốc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên họp ở Hương cảng ngày 9-5-1929 chấp nhận. Mặc dù vậy, ngày 17-6-1929, những đảng viên trong chi bộ Hàm Long đã họp tại số nhà 316 phố Khâm Thiên (Hà Nội) tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, thông qua Tuyên ngôn của Đảng, quyết định xuất bản báo Búa liềm, cử ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Tuyên ngôn của Đông Dương Cộng sản Đảng khẳng định "tổ chức đại đa số và thực hành công nông liên hiệp mục đích để: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa. Đánh đổ tư bản chủ nghĩa. Diệt trừ chế độ phong kiến. Giải phóng công nông..."1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.1, tr.177-178). Tuyên ngôn đề ra chính sách của Đảng trong cách mạng dân chủ tư sản, đồng thời quán triệt tư tưởng bạo lực cách mạng: "... muốn giải phóng thì chỉ có một cách là đánh đổ giai cấp tư bản lập ra xã hội mới"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.1, tr.184). Tuyên ngôn cũng xác định thời cơ cách mạng là "khi giai cấp thống trị đã rối loạn, khi quần chúng đã xục rục cách mệnh, khi các giai cấp khác còn do dự hay đã đi về phe với vô sản giai cấp rồi, khi quần chúng đã sẵn hy sinh, thì Đảng Cộng sản Đông Dương sẽ đem quần chúng ra cướp chính quyền, lập thành chính phủ Xôviết công nông binh"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.1, tr.216). Ngay sau khi thành lập, Đông Dương Cộng sản Đảng đã cử nhiều người vào miền Trung và miền Nam để xây dựng các cơ sở đảng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #53 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2021, 06:51:33 pm »

Sự ra đời và phát triển của Đông Dương Cộng sản Đảng đã có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng trong nước; trước hết là tác động đến nội bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên rồi đến tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng. Những người tiên tiến trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở miền Trung, miền Nam và ở nước ngoài (Thái Lan, Trung Quốc) đã lần lượt tổ chức ra các chi bộ cộng sản. Trước tình hình đó, mùa thu năm 1929, một số chi bộ của An Nam Cộng sản Đảng được thành lập. Tháng 8-1929, đại biểu các chi bộ đã họp, bầu ra Ban Chấp ủy lâm thời của An Nam Cộng sản Đảng.


Cũng trong thời gian này, các đảng viên Tân Việt Cách mạng Đảng chịu ảnh hưởng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã tiến hành Hội nghị thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn. Tuy nhiên, hội nghị chưa kết thúc thì các đại biểu đã bị thực dân Pháp bắt; do đó, Đông Dương Cộng sản liên đoàn chưa có Ban Chấp hành Trung ương. Sự ra đời của các tổ chức cộng sản hoàn toàn phù hợp với ý chí và nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cả nước. Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ, phong trào đấu tranh của quần chúng diễn ra ở nhiều nơi và đã có sự phối hợp hành động giữa các cuộc đấu tranh với nhau.


Sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước đòi hỏi phải có một sự lãnh đạo chặt chẽ, thống nhất của một chính đảng duy nhất của cách mạng. Nhận rõ điều đó, Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã có nhiều cuộc gặp gỡ để thống nhất về tổ chức nhưng chưa đi đến kết quả. Vì vậy, phong trào cộng sản ở Việt Nam vào cuối năm 1929, đầu năm 1930 vẫn ở trong tình trạng phân tán về tổ chức. Điều đó sẽ dẫn tới không thống nhất về tư tưởng, hành động và như vậy làm yếu phong trào cách mạng. Trước tình hình ấy, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư cho những người cộng sản Đông Dương yêu cầu thống nhất thành một đảng duy nhất để lãnh đạo cách mạng. Bức thư nêu rõ: "Cho tới nay, quá trình thành lập một Đảng Cộng sản là rất chậm so với sự phát triển của phong trào cách mạng ở Đông Dương. Việc thiếu một Đảng Cộng sản duy nhất trong lúc phong trào quần chúng công nhân và nông dân ngày càng phát triển, đã trở thành một điều nguy hiểm vô cùng cho tương lai trước mắt của cuộc cách mạng ở Đông Dương... Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.1, tr.614).


Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản giải quyết đúng đắn, sáng tạo và thực hiện thành công các vấn đề trọng yếu của cách mạng nước ta, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Thái Lan đã trở lại Trung Quốc chuẩn bị kế hoạch thực hiện nhiệm vụ trọng đại được giao phó. Đầu tháng 1-   1930, sau khi mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất, Người quyết định triệu tập hội nghị. Từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-19301 (Theo báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản thì Hội nghị hợp nhất họp từ ngày 6-1-1930, biên bản Hội nghị hợp nhất đề ngày 7-2. Như vậy, Hội nghị diễn ra nhiều ngày để bàn và quyết định các vấn đề trọng đại của cách mạng Việt Nam, chứ không phải chỉ trong 5 ngày như nhiều cuốn sách đã viết), Hội nghị bàn về thống nhất các tổ chức đảng ở trong nước thành một đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Hội nghị còn nhất trí về việc hợp nhất các đoàn thể quần chúng và thông qua Điều lệ tóm tắt của Công hội, Nông hội, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Phụ nữ, Cứu tế đỏ và Hội Phản đế (tức là Mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc). Hội nghị bàn luận và quyết định kế hoạch thống nhất các tổ chức cơ sở đảng và tổ chức quần chúng ở trong nước, thể thức cử ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời và bàn việc liên hệ để thu nạp Đông Dương Cộng sản Liên đoàn2 (Ngày 24-2-1930, một hội nghị được tổ chức ở Sài Gòn để xem xét yêu cầu gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Hội nghị nhất trí Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được gia nhập Đảng. Từ đây, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã thống nhất thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam). Hội nghị quyết định công bố các văn kiện đã được thông qua nhằm động viên, cổ vũ đảng viên và quần chúng hăng hái bước vào giai đoạn cách mạng mới dưới sự lãnh đạo của Đảng thống nhất trong cả nước.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #54 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2021, 06:53:39 pm »

2. Các quan điểm quân sự cơ bản trong các văn kiện Hội nghị thành lập Đảng

Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam đầu năm 1930 có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng. Đây là sự kiện lịch sử trọng đại của cách mạng Việt Nam. Dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, hội nghị đã vạch ra một đường lối chiến lược cách mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với điều kiện lịch sử và xã hội Việt Nam.


Về mục tiêu cách mạng, Chánh cương vắn tắt của Đảng nêu giai đoạn đầu, mục tiêu là tiến hành cách mạng lật đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai của chúng, giành độc lập dân tộc. Thắng lợi của cách mạng tạo ra tiền đề để nhân dân xây dựng một xã hội mới, từng bước đi đến ấm no, hạnh phúc. Mục tiêu cuối cùng của cách mạng là "đi tới xã hội cộng sản"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, tr.1). Sau khi xác định mục tiêu cách mạng, Chánh cương vắn tắt vạch rõ nhiệm vụ chiến lược là:

"A. Về phương diện xã hội thì:
a) Dân chúng được tự do tổ chức.
b) Nam nữ bình quyền, v.v...
c) Phổ thông giáo dục theo công nông hóa.

B. Về phương diện chính trị:
a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.
b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.
c) Dựng ra Chính phủ công nông binh.
d) Tổ chức ra quân đội công nông.

C. Về phương diện kinh tế:
a) Thủ tiêu hết các thứ quốc trái.
b) Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý.
c) Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo.
d) Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo.
e) Mở mang công nghiệp và nông nghiệp.
f) Thi hành luật ngày làm 8 giờ"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.1-2).


Các nhiệm vụ đó bao hàm hai nội dung cách mạng dân tộc dân chủ và chủ nghĩa xã hội, trong đó nổi lên mục tiêu trước mắt là giành lấy độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Giữa các cuộc cách mạng đó có liên quan mật thiết, ảnh hưởng và thúc đẩy lẫn nhau, cuộc vận động trước thành công làm tiền đề cho cuộc vận động sau thắng lợi. Tiến hành kết hợp chặt chẽ hai cuộc vận động cách mạng ấy là kết hợp giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã nắm vững nguyên lý về cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm của cách mạng thế giới, hiểu rõ đặc điểm lịch sử xã hội Việt Nam và thấu suốt con đường phát triển tất yếu của cách mạng; nhận rõ mối quan hệ biện chứng giữa các giai đoạn của cuộc cách mạng do Đảng lãnh đạo. Về sau, tổng kết quá trình phát triển và thắng lợi của cách mạng, Đảng ta đã chỉ rõ: "Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, là ngọn cờ bách chiến bách thắng của cách mạng Việt Nam"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.621).


Về lực lượng cách mạng, Sách lược vắn tắt của Đảng đánh giá giai cấp công nhân và giai cấp nông dân là hai giai cấp cơ bản bị đế quốc Pháp và tay sai áp bức, bóc lột nặng nề hơn cả. Đó là lực lượng chính của cách mạng. Còn đối với tầng lớp tiểu tư sản, trí thức và trung nông, Đảng chủ trương phải hết sức liên lạc "để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.2). Còn đối với phú nông, trung nông, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng lập hiến, v.v..) thì phải đánh đổ. Khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, nhất thiết không được nhân nhượng, thỏa hiệp làm hại lợi ích của công nông, không được hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác. Với việc phân tích chính xác đặc điểm của từng thành phần, sắp xếp đúng vị trí của từng giai cấp trong lực lượng cách mạng, chia giai cấp địa chủ thành ba loại (lớn, vừa, nhỏ) và tỏ thái độ chính trị đối với mỗi loại là để tranh thủ, trung lập những người cần trung lập, nhằm cô lập cao độ kẻ thù. Đối với quần chúng thì chủ trương ấy không những vừa xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, lại vừa đấu tranh loại bỏ những nhược điểm do lịch sử để lại, làm cho số quần chúng chưa giác ngộ được tuyên truyền, giáo dạc và tổ chức, ngày càng tự giác gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.


Về đoàn kết quốc tế, Chương trình tóm tắt của Đảng khẳng định: "Đảng phổ biến khẩu hiệu "Việt Nam tự do" và đồng thời Đảng liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới nhất là với quần chúng vô sản Pháp"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.6); giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ quan điểm ấy, Hội nghị hợp nhất quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời có kế hoạch giúp những người cách mạng ở Lào và Campuchia thành lập ra đảng tiền phong của mỗi dân tộc. Với sự hoạt động tích cực của những người cộng sản ở ba nước Đông Dương, đến tháng 4-1930, một số chi bộ cộng sản đầu tiên ở Lào đã ra đời tại Viêng Chăn, Thà Khẹt, Bò Nang và một số nhóm cộng sản ở Campuchia cũng được thành lập tại Phnôm Pênh, Công Pông Chàm.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #55 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2021, 06:54:46 pm »

Về vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng. Phát triển quan điểm "Trước hết phải có đảng cách mệnh... Đảng có vững cách mệnh mới thành công"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.289), trong tác phẩm Đường cách mệnh, Chương trình tóm tắt của Đảng khẳng định: "Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.6). Điều lệ vắn tắt của Đảng nêu rõ tôn chỉ của Đảng: "Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.7). Tính chất giai cấp của Đảng không phải là trong Đảng, tất cả hoặc hầu hết đảng viên là những người xuất thân từ giai cấp vô sản và cũng không phải Đảng chỉ kết nạp những người vô sản. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ở một nước thuộc địa với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thì tất nhiên đa số đảng viên là nông dân, tiểu tư sản, trí thức, nhưng Đảng vẫn là đội tiên phong của giai cấp vô sản, vì Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, mà chủ nghĩa ấy là hệ ý thức của giai cấp vô sản. Trong cách mạng nước ta, giai cấp vô sản là giai cấp cách mạng nhất, có khả năng liên kết chặt chẽ với giai cấp nông dân đông đảo, lấy liên minh công nông làm nòng cốt cho đoàn kết dân tộc, chống thực dân đế quốc và tay sai của chúng. Việc xác định đúng đắn tính chất giai cấp của Đảng, xác lập vai trò lãnh đạo của đội tiền phong giai cấp công nhân và chủ trương đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc là những vấn đề then chốt làm cho Đảng có đầy đủ khả năng nắm quyền lãnh đạo, đưa cách mạng đến thắng lợi vẻ vang.


Gắn liền với các quan điểm chính trị, Đảng đồng thời nêu lên các quan điểm về quân sự. Chánh cương vắn tắt của Đảng khẳng định: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập1 (Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.2) là phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng chứ không phải bằng phương pháp hòa bình hay cải lương. Từ quan điểm sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, Chánh cương vắn tắt của Đảng chủ trương: tổ chức ra quân đội công nông2 (Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.2) nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị do Đảng xác định. Tuy lúc đó trong thực tiễn chưa hội đủ điều kiện đế có thể tổ chức quân đội công nông, nhưng chủ trương đó của Đảng có ý nghĩa to lớn trong việc định hướng xây dựng lực lượng vũ trang - một trong hai lực lượng (chính trị, quân sự) cơ bản của cách mạng Việt Nam.


Trong Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam kêu gọi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh, anh chị em bị áp bức, bóc lột rằng: "Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập. Đó là Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng An Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta. Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.16) để đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến và giai cấp tư sản phản cách mạng. Cũng trong Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng, với tầm nhìn chiến lược sắc sảo, Nguyễn Ái Quốc đã phân tích âm mưu, thủ đoạn quân sự của chủ nghĩa đế quốc, đồng thời chỉ rõ nguy cơ tiềm tàng của một cuộc chiến tranh thế giới mới. Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: Mâu thuẫn gay gắt về kinh tế giữa các nước đế quốc chủ nghĩa đã gây ra chiến tranh thế giới 1914 - 1918. Sau cuộc chém giết đẫm máu đó, thế giới chia làm hai mặt trận: mặt trận cách mạng gồm các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản bị bóc lột trên toàn thế giới và mặt trận của chủ nghĩa đế quốc mà "tổng hành dinh là Hội Quốc Liên"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.14). Lời kêu gọi nhận định: "Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đang được ráo riết chuẩn bị. Khi cuộc chiến tranh đó nổ ra, thì nhất định đế quốc Pháp sẽ đẩy anh chị em chúng ta vào một cuộc chém giết đầy tội ác"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.15). Đối với đế quốc Pháp, cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm cho thiệt hại nặng nề. Để tổ chức lại nền kinh tế ở Pháp, đế quốc Pháp ra sức khai thác tài nguyên ở Đông Dương. Chúng xây dựng thêm nhà máy để bóc lột công nhân, chiếm ruộng đất của nông dân đế lập đồn điền. Chúng thu thuế ngày càng nặng, bắt mua "quốc trái" ngày càng nhiều, làm cho đồng bào ta ngày càng khổ sở. Đặc biệt, chúng ngày càng tăng cường quân đội: một là, đế đàn áp cách mạng nước ta; hai là, để chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc ở Thái Bình Dương nhằm chiếm thêm thuộc địa; ba là, để phá hoại cách mạng Trung Quốc; bốn là, để chống nước Nga Xôviết vì nước Nga đang giúp đỡ các dân tộc bị áp bức và các giai cấp bị bóc lột trên thế giới đứng lên đánh đổ bọn thống trị. Trước sự ráo riết chuẩn bị chiến tranh của bọn đế quốc, Đảng kêu gọi nhân dân phải hành động, bởi vì "nếu chúng ta để cho chúng chuẩn bị chiến tranh, nếu chúng ta để cho chúng chống lại cách mạng Trung Quốc và nước Nga Xôviết, nếu chúng ta để cho chúng tiêu diệt cách mạng An Nam thì khác nào chúng ta để cho chúng dìm giống nòi An Nam ta xuống Thái Bình Dương"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.15). Sau cùng, Lời kêu gọi khẳng định: "Sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào ta hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì chết. Chính vì vậy mà phong trào cách mạng ngày càng lớn mạnh: công nhân bãi công, học sinh bãi khoá, nông dân đòi ruộng đất, nhà buôn nhỏ đóng cửa hàng, nhân dân cả nước đang vùng dậy chống bọn đế quốc"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.15).


Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chương trình tóm tắt của Đảng, Lời kêu gọi là những văn kiện thuộc cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Với Cương lĩnh đầu tiên đó, cách mạng Việt Nam đã có một đường lối mang bản chất cách mạng và khoa học mà nội dung cốt lõi và bao trùm là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đường lối đó giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, mối quan hệ dân tộc - giai cấp; giải quyết nhiệm vụ dân tộc dân chủ trên lập trường giai cấp công nhân, nhuần nhuyễn quan điểm dân tộc với quan điểm giai cấp, quan điểm quốc gia với quan điểm quốc tế; nhấn mạnh việc quy tụ, phát huy sức mạnh toàn dân tộc của nhân dân cả nước "vùng dậy chống bọn đế quốc"; tổ chức quân đội công nông để thực hiện các nhiệm vụ cách mạng do Đảng xác định.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #56 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2021, 07:59:03 pm »

II- CÁC QUAN ĐIỂM QUÂN SỰ SAU HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẾN TRƯỚC ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ I CỦA ĐẢNG


1. Tổ chức Đội Tự vệ để bảo vệ quần chúng trong tranh đấu

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các tổ chức cơ sở của Đảng phát triển nhanh trong nhiều nhà máy, hầm mỏ và nông thôn. Nhiều đoàn thể cách mạng như Công hội, Nông hội, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Phụ nữ, Hội Cứu tế đỏ lần lượt ra đời, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất trong cả nước, phong trào cách mạng của quần chúng phát triển nhanh.


Mở đầu cho cao trào cách mạng là cuộc bãi công của 3.000 công nhân đồn điền Phú Riềng (tháng 2-1930), của 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định (tháng 3-1930), của 400 công nhân Nhà máy Diêm và Nhà máy Cưa Bến Thủy (tháng 4-1930). Từ nhà máy, xí nghiệp, các cuộc đấu tranh lan dần về nông thôn. Phong trào lan rộng khắp cả nước. Hòa nhịp với phong trào toàn quốc, ngày 1-5-1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, ở Nghệ An đã nổ ra các cuộc đấu tranh lổn của hàng vạn công nhân và nông dân. Đến tháng 9-1930, phong trào đấu tranh của quần chúng đã lên đến đỉnh cao. Quần chúng đã dùng bạo lực cách mạng phá huyện đường, phá nhà lao, vây đồn lính, trừng trị bọn cường hào, địa chủ. Sức mạnh của phong trào đã làm tan rã bộ máy thống trị của thực dân Pháp và phong kiến ở nhiều vùng nông thôn hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Chính quyền Xôviết được thành lập ở nhiều thôn xã. Trong phong trào Xôviết Nghệ - Tĩnh, ở nhũng nhà máy, thôn xã có Công hội, Nông hội, Đoàn Thanh niên Cộng sản, các tổ chức quần chúng đó đã chọn những người có tinh thần hăng hái, can đảm, có sức khỏe để lập ra các đội tự vệ của công nhân và nông dân. Các đội tự vệ ngay khi được tổ chức đã thực hiện chức năng bảo vệ các cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng. Những người dũng cảm nhất xung phong vào đội "Cảm tử". Các đội ấy gọi là Tự vệ Đỏ.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, từ phong trào cũng bộc lộ những thiếu sót và đã xuất hiện quan điểm sai lầm đối với việc tổ chức các đội tự vệ ở một số cấp ủy địa phương. Có ý kiến cho rằng, không nên tổ chức đội tự vệ, vì nếu tổ chức các đội tự vệ sẽ dẫn đến xung đột với binh lính. Có ý kiến lại cho rằng, không tổ chức được đội tự vệ, vì không có vũ khí. Nếu tình thế buộc phải tổ chức, thì chỉ tổ chức tự vệ tạm thời trong từng cuộc đấu tranh rồi giải tán đi. Bên cạnh các quan điểm hữu khuynh đó, lại xuất hiện quan điểm "tả" khuynh cho rằng cần phải quyên tiền để mua vũ khí trang bị cho đội tự vệ, từ đó chuyển lên đấu tranh vũ trang, mặc dù chưa có đủ điều kiện. Trong thực tiễn, đã có một số địa phương giải tán đội tự vệ.


Trước tình hình đó, cuối năm 1930, Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo về những Nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản. Trong báo cáo, Người trình bày rõ quan điểm của mình là hoan nghênh chính quyền Xôviết và coi đó là sáng kiến to lớn của quần chúng cách mạng ở Nghệ An và Hà Tĩnh, nhưng Người không tán thành chủ trương bạo động vì chưa có đủ điều kiện thắng lợi của một cuộc khởi nghĩa. Người cho rằng: "Đường lối chung của cách mạng nông dân hiện nay nhằm:

- Tập hợp, tổ chức trung, bần nông và kích động họ đấu tranh giành lấy chủ quyền cho nhân dân;

- Chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa địa phương (khởi nghĩa có nghĩa là nổi dậy giành chính quyền). Đảng viên phải căn cứ vào đường lối chung đó mà lãnh đạo nông dân đấu tranh (...); phải kết hợp đấu tranh kinh tế và chính trị, lợi dụng mọi cơ hội để phổ biến tư tưởng cách mạng ruộng đất và khuyên khích tổ chức một đội tự vệ nông dân"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.621), về vấn đề tự vệ, đội tự vệ, Người khẳng định ba quan điểm chủ yếu:


Thứ nhất, phải nhận thức đúng tầm quan trọng của đội tự vệ. Theo Người "Tổ chức tự vệ của nông dân rất quan trọng trong các cuộc đấu tranh ở thôn xã. Nông hội phải tuyên truyền giải thích trong quần chúng ý nghĩa việc thành lập một đội tự vệ để bảo vệ và kêu gọi quần chúng tham gia"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.620).


Thứ hai, không những cần phải tổ chức mà còn phải phát triển, huấn luyện để đội tự vệ hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao phó. "Đế chống lại đàn áp, cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.621).


Thứ ba, hoạt động của đội tự vệ là nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị do Đảng xác định. Do đó, cùng với việc tuyên truyền giải thích cho nông dân nhận thức rõ lực lượng và vai trò của mình, phải giáo dục các đội tự vệ "hiểu được rằng hành động cá nhân hoặc mỗi xu hướng khủng bố đều trái với cương lĩnh"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.621). Gắn liền với những quan điểm đó, Người phê bình việc giải tán đội tự vệ ở một số địa phương trong tỉnh Thái Bình và cho rằng "giải tán tự vệ là sai lầm"3 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.619).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #57 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2021, 08:00:10 pm »

Ngày 24-1-1931, Người viết bài "Phong trào cách mạng ở Đông Dương". Trong bài đó, sau khi trình bày phong trào đấu tranh cách mạng sôi nổi ở Việt Nam, Người khẩn thiết đề nghị Quốc tế Cộng sản, các Đảng Cộng sản thế giới quan tâm ủng hộ hơn nữa phong trào cách mạng Đông Dương. Được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản và sự chỉ đạo sát hợp với tình hình của Nguyễn Ái Quốc, phong trào cách mạng ở Việt Nam tập trung đấu tranh chống khủng bố trắng, đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, chống mọi thủ đoạn lừa bịp của địch. Nhưng từ phong trào cũng đã xuất hiện những biểu hiện lệch lạc và Trung ương Đảng đã kịp thời phát hiện, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc đó để củng cố tư tưởng vô sản. Trong Thư gửi Xứ ủy Bắc Kỳ ngày 26-1-1931, Thường vụ Trung ương Đảng khẳng định: "Để lãnh đạo cuộc đấu tranh, trước hết hãy tổ chức một đội bảo vệ thợ thuyền và dân cày... Tự vệ là một vấn đề quan trọng hàng đầu, cần phải tổ chức và tuyên truyền ủng hộ việc này để cổ vũ quần chúng tranh đấu"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.43-44). Cũng trong tháng 1-1931, Thường vụ Trung ương Đảng còn ra Thông cáo cho các xứ, phân tích tương đối hệ thống vai trò, chức năng, phương hướng xây dựng lực lượng tự vệ. Khẳng định vai trò của đội tự vệ, Thường vụ Trung ương nêu rõ: "Một vấn đề rất quan trọng cho sự tranh đấu quần chúng công nông bây giờ là vấn đề tổ chức đội tự vệ của công nông"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.7). Do đó, Thường vụ Trung ương Đảng cho rằng, các đảng bộ phải nỗ lực góp sức với Công hội, Nông hội mà hô hào, cổ động cho thật sâu rộng trong quần chúng ý nghĩa và lợi ích của đội tự vệ; đưa những người hăng hái tranh đấu, can đảm tổ chức ra những đội tự vệ. Phải làm sao cho mỗi nhà máy, mỗi làng đều có một đội tự vệ. Đội tự vệ không phải tổ chức trong lúc đấu tranh rồi giải tán đi mà phải duy trì làm lực lượng lâu dài của quần chúng. Khi có đấu tranh thì đội tự vệ đi đầu, đi kèm quần chúng mà hộ vệ, còn lúc thường thì phải luyện tập riêng, thảo luận bàn cách hộ vệ quần chúng, bênh vực tranh đấu. Về trang bị vũ khí của đội tự vệ, Thường vụ Trung ương giải thích: "Có đồng chí nói rằng: tổ chức ra đội tự vệ mà không có võ trang cho họ thì tay không làm gì được mà hộ vệ cho quần chúng. Nói như vậy rất sai lầm. Trong lúc tranh đấu bây giờ thì không thể nói đến việc võ trang được. Việc võ trang quần chúng không phải lúc nào cũng đề xướng ra được. Phải hiểu rằng, tự vệ chứ không phải là hồng quân, hộ vệ anh em tranh đấu hằng ngày chớ không phải ra xông pha cùng binh lực địch nhân mà cướp chính quyền. Vấn đề võ trang chưa phải là cần kíp phải có. Đội tự vệ tuy không đủ võ trang, song có thể giúp quần chúng được nhiều... Nhưng đồng thời cũng đừng nghĩ lầm rằng đã tự vệ thì không được có võ trang, không được dùng võ trang mà làm những sự bạo lực. Đội tự vệ mà có dùng một ít võ trang (gậy, cây súng, v.v...), và xung đột với quân địch trong lúc tranh đấu, không phải là đã bạo động đâu, đó cũng là ở trong phạm vi hộ vệ quần chúng tranh đấu mà thôi, đó cũng là một sự phải làm và không thể không xảy ra được. Nói tóm lại, không cần phải có đủ võ trang cũng có đội tự vệ được"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.Cool. Sau cùng, Thường vụ Trung ương Đảng lưu ý các Xứ ủy rằng, khi tổ chức và chỉ huy đội tự vệ phải chú ý làm cho các đội viên tự vệ hiểu thật rõ phận sự của mình thì mới tránh khỏi hành động sai lầm. Lợi ích của đội tự vệ rất rõ ràng, mà đội tự vệ có lợi ích trong đấu tranh thì tất nhiên được quần chúng ủng hộ và tham gia. Khi quần chúng biết rằng, mình có tự vệ đi kèm, hộ vệ, che chở thì thêm hăng hái đấu tranh. Tổ chức ra đội tự vệ có lợi như vậy, cho nên "các Đảng bộ phải đặc biệt lưu tâm mà làm ngay đi, không nên để chậm trễ một ngày nào nữa"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.9).


Tiếp tục quan điểm coi trọng vai trò lực lượng vũ trang cơ sở trong đấu tranh cách mạng của quần chúng, Hội nghị Trung ương Đảng họp ở Sài Gòn tháng 3-1931 đã đề cập đến một loạt vấn đề, trong đó có vấn đề tổ chức đội tự vệ. Nhằm vạch ra những nhiệm vụ cấp thiết trước mắt để lãnh đạo phong trào cách mạng của quần chúng, Hội nghị Trung ương Đảng chủ trương chấn chỉnh các xứ ủy, chỉ thị cho các cấp bộ đảng cơ sở đi sâu vào các xí nghiệp, đồn điền lớn để xây dựng các tổ chức cơ sở đảng và quần chúng. Đối với các ý kiến hữu khuynh, "tả" khuynh cho rằng chỉ lo tổ chức lực lượng trước rồi mới đấu tranh hoặc khi đã đấu tranh thì đấu tranh liên miên không có lối ra, hội nghị kiên quyết phê phán và cho rằng đó là các tư tưởng dao động, sợ đấu tranh, không tin tưởng quần chúng hoặc không hiểu sách lược của Đảng. Hội nghị nêu rõ: có nhiều đảng viên (như ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ) không biết rằng Đảng Cộng sản chỉ là đảng của giai cấp vô sản mà thôi. Tuy Đảng chỉ huy nông dân và hết thảy quần chúng lao khổ làm cách mạng tư sản dân quyền, nhưng Đảng vẫn là đảng của vô sản giai cấp, nghĩa là đứng về lợi ích cách mạng vô sản mà chỉ huy, lấy chính sách vô sản mà chỉ huy, chớ không phải là vì Đảng đại biểu lợi ích cho tiểu tư sản quần chúng, đại biểu cho xu hướng tư hữu chế độ. Chính vì nhận định sai lầm đó "mà dần dần quên mất điều căn bổn trọng tâm của mình là tuy phải hết sức vận động nông dân nhưng phải đặc biệt chuyên cần về việc vận động công nhân để lấy đó làm cơ sở lãnh đạo cách mạng cho dân cày"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.90). Sau khi phân tích, uốn nắn những lệch lạc để củng cố tư tưởng vô sản, hội nghị nêu rõ rằng, trong nhiều cuộc đấu tranh, đã có nhiều nơi đảng viên cản trở quần chúng, không để cho quần chúng hộ vệ nữa. Khi quần chúng xung đột với binh lính địch thì Đảng bộ lại phê bình vô lý, lại đem câu "bạo động non" hoặc "manh động" ra mà cản trở xung đột. Để hiểu rõ điều này, Nghị quyết Hội nghị giải thích: bạo động non, manh động là chủ trương cướp chính quyền quá sớm, đem số ít người giác ngộ mà xông pha cướp chính quyền. Xu hướng bạo động non nghĩa là chỉ trù tính chủ trương vận động quần chúng "đi đánh địch nhân", đi vây đồn, bọc ải. Làm như vậy thì Đảng phải chống vì "việc tranh đấu cướp chánh quyền là việc không phải làm khi nào cũng được"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.95). Còn ra tranh đấu biểu tình hằng ngày vì những mục đích, quyền lợi rõ rệt mà xung đột với lính thì là "một sự tự vệ rất cần kíp"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.95). Cho nên, không thể lẫn lộn sự hành động tự vệ kịch liệt, sự hành động bạo động với xu hướng bạo động non, manh động được. Sau khi phân tích sự khác nhau căn bản giữa "sự tự vệ rất cần kíp" trong phong trào đấu tranh của quần chúng với xu hướng bạo động non và manh động, hội nghị nhận định: sở dĩ một số đảng viên lẫn lộn như vậy là vì "họ đã sẵn có cái cốt sợ tranh đấu kịch liệt rồi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.95). Họ không hiểu rằng ngăn cản tự vệ, phản đối tự vệ tức là muốn xoay về chủ nghĩa "bất bạo động", "hòa bình tranh đấu" rồi. Trên cơ sở xác định vai trò của lực lượng tự vệ trong phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, lần đầu tiên, Hội nghị Trung ương Đảng đề cập đến nhiệm vụ của chi bộ đảng trong việc tổ chức đội tự vệ bảo đảm chất lượng về chính trị. Nghị quyết Hội nghị khẳng định: Chi bộ phải đặc biệt chú ý về việc tổ chức đội tự vệ. Đội tự vệ là một lợi ích tranh đấu rất cần thiết để hộ vệ sự tranh đấu. Chi bộ cùng với Công hội mà chuyên cần lo lắng, kéo đảng viên vào đội, đẩy người ra chỉ huy.


Nhờ sự uốn nắn kịp thời của Trung ương Đảng, những biểu hiện lệch lạc trong một số cấp ủy đảng được khắc phục. Quan điểm xây dựng đội tự vệ của Đảng không chỉ soi sáng cho thực tiễn lúc đó mà còn là cơ sở để sau đó, Đảng tiếp tục bổ sung thêm nhiều nội dung mới, đáp ứng nhu cầu của cách mạng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #58 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2021, 08:01:55 pm »

2. Chống chiến tranh đế quốc, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức

Giữa lúc phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng đang dâng cao, nhân ngày Quốc tế đỏ (1-8-1930), Ban Cổ động và Tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam ấn hành một cuốn sách quan trọng - cuốn sách Ngày Quốc tế đỏ mồng một tháng tám. Đây là một tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề quân sự, giải thích rõ quan điểm của Đảng về nguồn gốc chiến tranh, nguy cơ chiến tranh đế quốc, nhiệm vụ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức đối với chiến tranh đế quốc.


Trong phần mở đầu, giải thích ý nghĩa của ngày mồng một tháng tám, tác phẩm nêu rõ: Đại hội lần thứ sáu của Quốc tế Cộng sản đã quyết định lấy ngày mồng 1 tháng 8 làm ngày Quốc tế đỏ... Mồng 1 tháng 8 chính là ngày khởi đầu của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1-8- 1914). Cho nên, lấy ngày ấy làm một cuộc thị uy quốc tế nhằm phản đối sự chuẩn bị chiến tranh thế giới mới của chủ nghĩa đế quốc, đồng thời dự bị và tập trung tất cả lực lượng cách mạng để "đổi chiến tranh đế quốc ra chiến tranh giai cấp, và chiến tranh dân tộc giải phóng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.39).


Tiếp đó, tác phẩm khẳng định: "Tư bổn chủ nghĩa là cái nguồn gốc của sự chiến tranh”2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.40) và phân tích nguồn gốc chiến tranh nằm ngay trong xã hội có giai cấp bóc lột và bên kia, giai cấp bị bóc lột. Chiến tranh là "cái kết quả trực tiếp của chế độ của riêng, cái nền nếp cạnh tranh và bóc lột"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.40). Khi chủ nghĩa tư bản phát triển đến thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, tức là thời kỳ độc quyền, thì sự tương phản trong xã hội càng thêm sâu sắc. "Sự hòa bình chỉ là một lúc nghỉ ngơi rất ngắn ngủi đặng chờ cuộc chiến tranh khác mà thôi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.95). Trừ Liên bang Xôviết ra, thì hết thảy diện tích đất đai và của cải trên thế giới đều ở trong tay một số nước "liệt cường" nắm giữ. Sự phát triển về kinh tế, chính trị của các nước tư bản lại không đều nhau. Cho nên, "vấn đề chia lại trái đất cho hiệp với sự phát triển của các nước đế quốc, là một vấn đề lúc nào cũng cần cấp"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.40). Mà muốn chia lại thuộc địa, vùng ảnh hưởng, muốn đè nén, bóc lột giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức thì các nước đế quốc "chỉ có một cách chiến tranh độc ác mà thôi"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.40-41). Từ sự phân tích đó, tác phẩm kết luận: "Tư bổn chủ nghĩa còn, thì sự chiến tranh còn. Muốn thủ tiêu chiến tranh thì phải đánh đổ tư bổn chủ nghĩa"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.41).


Về nguy cơ chiến tranh đế quốc, tác phẩm nêu rõ rằng, mặc dù cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) làm cho nền kinh tế tư bản suy thoái, nhưng sau đó đã tạm thời ổn định và có những phát triển nhất định, nên rất cần nguyên liệu và thị trường để tiêu thụ sản phẩm. Trong khi đó, thị trường của chủ nghĩa tư bản lại bị thu hẹp do cách mạng Nga thành công, còn cái gốc nguyên liệu, tức là các nước thuộc địa và khu vực ảnh hưởng thì "kẻ có, người không". Bởi vậy, chiến tranh đế quốc để giành và chia lại thị trường, vùng cung cấp nguyên liệu là điều không thể tránh khỏi. Nguy cơ chiến tranh đã "bày ra trước mặt"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.41). Bọn đế quốc chạy đua vũ trang ráo riết. Tác phẩm dự báo: "Cuộc chiến tranh sau này sánh với cuộc chiến tranh lần trước (1914 - 1918) thì sẽ gớm ghê độc ác hơn muôn vạn lần; vô số nhân dân sẽ bị xô đẩy ra chốn chiến trường, cả thế giới sẽ cuốn vào hang lửa chiến tranh"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.41-42). Để giải thích rõ thêm về nhận định đó, tác phẩm đê cập đến những hoạt động quân sự của các nước "liệt cường" và cho rằng hiện thời các nước "liệt cường" đế quốc hết sức gia tăng quân bị, sự tiến bộ về kỹ thuật quân sự, nhất là về đường dùng "các vật hóa học"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.42) đã đạt đến trình độ cao. Các nước "liệt cường" đề ra các kế hoạch và chi phí để sản xuất máy bay và đóng tàu rất lớn. Cho nên, chiến tranh mà nổ ra thì năm nước đế quốc Anh, Pháp, Mỹ, Ý (Italia), Nhật "có thể đem ra từ một vạn ba ngàn cho đến một vạn năm ngàn cái máy bay dùng về quân sự"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.42). Bọn đế quốc không chỉ chạy đua vũ trang ráo riết mà còn toan tính nhiều âm mưu độc ác. Khi có chiến tranh, chúng sẽ dùng mọi phương pháp phản động để buộc thợ thuyền và quần chúng lao khổ tham gia vào chiến tranh. Chúng lại còn ủng hộ và liên kết các nước nhỏ ở gần Liên bang Xôviết "để vây bọc lấy Liên bang Xôviết"5 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.43-44). Tác phẩm nhấn mạnh rằng: Sự xung đột của các nước đế quốc với nhau để tranh giành thuộc địa đã là ác liệt, song sự xung đột của "thế giới tư bổn" với Liên bang Xôviết còn ác liệt hơn nhiều. Hiện thời, thế giới đã chia làm hai phe lớn: một bên là thế giới tư bản, một bên là Liên bang Xôviết và giai cấp vô sản toàn thế giới cùng tất cả quần chúng lao khố ở các nước thuộc địa. Mục đích chung của bọn đế quốc là gây chiến tranh để đánh đổ Liên bang Xôviết có đất tới một phần sáu thế giới rồi chia nhau cái thị trường rộng lớn ấy. Nhưng công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Liên bang Xôviết ngày càng giành được nhiều thành tựu, cho nên cuộc chiến tranh đế quốc chống Liên bang Xôviết lại khó khăn thêm. Liên bang Xôviết là một nước chống chủ nghĩa đế quốc, là nước giúp cho giai cấp vô sản toàn cầu và quần chúng bị áp bức trên thế giới đấu tranh cách mạng, đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, nên bọn đế quốc không thể đội trời chung với nước ấy. Bởi vậy, trong khi tiến công Liên bang Xôviết, chủ nghĩa đế quốc đồng thời đàn áp cách mạng thuộc địa. Chúng dùng binh lực đè nén, đàn áp các dân tộc vùng lên đấu tranh giải phóng là muốn "giữ lấy quyền bóc lột"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.50). Từ sự phân tích đó, tác phẩm kết luận: "Muốn đánh đổ tư bổn chủ nghĩa thì vô sản giai cấp và các dân tộc bị áp bức phải chiến tranh chống giai cấp tư bổn, chỉ có một đường ấy thôi"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.51).


Về nghĩa vụ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức, tác phẩm nêu rõ rằng, trong thời kỳ chiến tranh đế quốc và cách mạng toàn thế giới thì "sự chiến tranh của vô sản chống tư bổn không thể tránh khỏi; sự chiến tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức cũng không thể tránh khỏi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.51). Khi xem xét chiến tranh phải xem xét từng thứ, chứ không phải cuộc chiến tranh nào cũng như nhau cả. Trong thời kỳ này có ba thứ chiến tranh, đó là: chiến tranh giữa các nước đế quốc; chiến tranh đế quốc chống Liên bang Xôviết; chiến tranh giải phóng của dân tộc bị áp bức chống bọn đế quốc. Đối với chiến tranh giữa các nước đế quốc, thái độ của giai cấp vô sản là làm cho "quân đội của bọn đế quốc tan tành"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.51), biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng; còn các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa phải nổi lên, biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh giải phóng chống đế quốc chủ nghĩa. Khi chủ nghĩa đế quốc tiến công phong trào giải phóng thuộc địa thì giai cấp vô sản và quần chúng lao khổ ở thuộc địa phải hợp sức với quân đội cách mạng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, phải đánh đổ bọn tư bản không quả quyết tranh đấu, bọn đề huề và bọn phản cách mạng. Nếu các nước đế quốc đánh Liên bang Xôviết thì giai cấp vô sản thế giới và các dân tộc bị áp bức phải hết sức ủng hộ Liên bang Xôviết. Sau cùng, tác phẩm khẳng định: "Muốn cho khỏi hóa ra tro súng của đế quốc chủ nghĩa thì toàn thể vô sản giai cấp và quần chúng bị áp bức ở Đông Dương phải hợp sức cùng thợ thuyền và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới mà tranh đấu chống đế quốc chủ nghĩa”3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.53).


Lý luận về nguồn gốc chiến tranh và thái độ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức đối với từng loại chiến tranh được trình bày trong cuốn sách Ngày Quốc tế đỏ mồng một tháng tám góp phần làm phong phú tri thức quân sự của Đảng, của cách mạng Việt Nam. Quan điểm chống chiến tranh đế quốc, ủng hộ phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức có giá trị thực tiễn lớn, là một trong những cơ sở lý luận của tình đoàn kết chiến đấu giữa các dân tộc cùng đứng lên tự giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #59 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2021, 08:03:33 pm »

3. Khi chưa có tình thế trực tiếp cách mạng cũng cứ kịch liệt tranh đấu để "dự bị" cuộc võ trang bạo động về sau

Để giành được thắng lợi, Đảng không những cần có mục tiêu chiến lược, phương pháp cách mạng đúng đắn mà còn phải kịp thời lãnh đạo quần chúng đấu tranh với các hình thức thích hợp, nhằm thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển, tiến tới khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc theo đường lối của Đảng. Tháng 10-1930, Hội nghị Trung ương Đảng họp ở Hương cảng (Trung Quốc) bàn nhiều vấn đề quan trọng. Hội nghị thảo luận và thông qua Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, ra Án nghị quyết về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng và nhiều Án nghị quyết khác, bầu đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư Đảng.


Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (10-1930) do đồng chí Trần Phú khởi thảo theo sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản. Luận cương tuy có nhược điểm như quá nhấn mạnh đến đấu tranh giai cấp, chưa quan tâm thích đáng đến vấn đề dân tộc, nhưng tư tưởng lớn, bao trùm Luận cương chánh trị vẫn là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Luận cương khẳng định cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa: "Trong lúc đầu, cuộc cách mạng Đông Dương sẽ là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, bởi vì cách mạng chưa có thể trực tiếp giải quyết được những vấn đề tổ chức xã hội chủ nghĩa; sức kinh tế trong xứ còn rất yếu, các di tích phong kiến còn nhiều, sức mạnh giai cấp tương đương chưa mạnh về phía vô sản, và lại còn bị đế quốc chủ nghĩa áp bức. Vì những điều kiện ấy cho nên thời kỳ bây giờ cách mạng chỉ có tánh chất thố địa và phản đế.


Tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng. Tư sản dân quyền cách mạng được thắng lợi, chánh phủ công nông đã dựng lên rồi, thì công nghiệp trong nước được phát triển, các tổ chức vô sản được thêm mạnh, quyền lãnh đạo của vô sản sẽ thêm kiên cố, sức mạnh giai cấp tương đương sẽ nặng về phía vô sản. Lúc đó sự tranh đấu sẽ thêm sâu, thêm rộng, làm cho cách mạng tư sản dân quyền tiến lên con đường cách mạng vô sản. Thời kỳ này là thời kỳ cách mạng vô sản toàn thế giới...; xứ Đông Dương sẽ nhờ vô sản giai cấp chuyên chánh các nước giúp sức cho mà phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.93-94). Nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ đế quốc Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, xóa bỏ chế độ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân. Hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến có quan hệ khăng khít với nhau. Có đánh đổ được đế quốc mới xóa bỏ được chế độ phong kiến và có phá được chế độ phong kiến mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa. Động lực chủ yếu của cách mạng là công nhân và nông dân, nhưng giai cấp công nhân có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được. Luận cương chánh trị nhấn mạnh: "Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường lối chánh trị đúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành. Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc... Muốn làm cho trọn nhiệm vụ của Đảng trong cuộc cách mạng, trước hết Đảng cần phải: tổ chức ra những đoàn thể độc lập (công hội, nông hội, v.v.)2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.100).


Về phương pháp cách mạng và hình thức đấu tranh, Luận cương chỉ rõ: Đảng phải thường xuyên đưa quần chúng ra đấu tranh giành quyền lợi thiết thực hằng ngày, qua đó mà giác ngộ cách mạng cho quần chúng. Khi có tình thế cách mạng thì Đảng phải nâng cao khẩu hiệu đấu tranh như: "Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, địa chủ và phong kiến, xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập, lập chánh phủ công nông"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.101). Đồng thời, Đảng phải mở rộng tất cả các hình thức đấu tranh của quần chúng như bãi công, biểu tình thị oai, tổng bãi công bạo động và khởi nghĩa vũ trang đánh đổ chính quyền địch, giành chính quyền về tay nhân dân. Trước lúc tổ chức tranh đấu, Đảng phải xét kỹ tình hình trong nước và thế giới, sức mạnh của địch, sức tranh đấu của quần chúng, thái độ của từng hạng người đối với cách mạng. Đảng căn cứ vào những điều kiện ấy mà định ra chiến lược để lãnh đạo quần chúng đấu tranh.


Luận cương nhấn mạnh: "Võ trang bạo động không phải là một việc thường, chẳng những là theo tình thế trực tiếp cách mạng, mà lại phải theo khuôn phép nhà binh, cho nên cần phải chú ý. Khi không có tình thế trực tiếp cách mạng cũng cứ kịch liệt tranh đấu; nhưng kịch liệt tranh đấu ấy không phải là để tổ chức những cuộc manh động, hoặc là võ trang bạo động quá sớm, mà cốt là để huy động đại quần chúng ra thị oai, biểu tình, bãi công, v.v., để dự bị họ về cuộc võ trang bạo động sau này"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.102). Luận cương nêu rõ thái độ của Đảng và nhân dân Việt Nam là phản đối đế quốc chiến tranh, chuẩn bị lực lượng để khi chiến tranh đế quốc nổ ra thì biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh giải phóng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc. Trước nguy cơ chiến tranh đế quốc ngày càng rõ, Đảng phải mở rộng công tác phản đối chạy đua vũ trang của các nước đế quốc, chủ động phát triển tổ chức cách mạng trong quân đội của địch, đồng thời thành lập các đội tự vệ của công nông, làm cho các khẩu hiệu chống chiến tranh đế quốc phát triển sâu rộng trong quần chúng.


Hội nghị Trung ương Đảng (10-1930) ra nghị quyết về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng. Nghị quyết khẳng định quan điểm bạo lực cách mạng của Đảng là "lãnh đạo quần chúng võ trang bạo động"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.116), nhưng cũng lưu ý rằng lúc đó chưa có đủ điều kiện để khởi nghĩa vũ trang. Bởi vậy, nhiệm vụ trước mắt trong công tác hằng ngày của Đảng là phải thu phục quảng đại quần chúng để làm cho cuộc bạo động nổ ra trong tương lai được thắng lợi. Muốn thế, phải ra sức vận động công nhân, nông dân, chỉnh đốn các tổ chức đoàn thể, làm cho lực lượng chính trị phát triển rộng khắp. Trên cơ sở đó mà xây dựng lực lượng vũ trang để bảo vệ các cuộc đấu tranh ngày càng mạnh của quần chúng. Do tầm quan trọng của các vấn đề quân sự, Nghị quyết nhấn mạnh chủ trương của Đảng là "ngay từ bây giờ Đảng phải tổ chức bộ quân sự của Đảng để:

- Làm cho đảng viên được quân sự huấn luyện.

- Giúp cho công nông hội tổ chức tự vệ.

- Vận động trong quân đội của bọn địch nhơn"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.102).


Hội nghị Trung ương Đảng (10-1930) còn ra Án nghị quyết về vấn đề phản đế, Án nghị quyết quân đội vận động. Án nghị quyết về vấn đề phản đế xác định: "Việc tổ chức phản đế là một trách nhiệm cần kíp của Đảng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.195). Trong công tác hằng ngày, tổ chức phản đế phải chú ý về hoạt động công khai trong quần chúng, cổ động và vận động tranh đấu nhằm chống khủng bố trắng, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn "đề huề" với chủ nghĩa đế quốc, chống ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân. Án nghị quyết về quân đội vận động chủ trương: "Công tác của Đảng trong quân đội cần phải làm cho thiệt náo nhiệt và chuyên cần mới được"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.205). Bởi vì, nếu "Đảng không vận động quân đội binh bị tư bổn chống đế quốc chiến tranh thì tới lúc cần kíp không thể hóa sự chiến tranh đế quốc làm ra chiến tranh cách mạng đánh đổ đế quốc chủ nghĩa"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.205). Án nghị quyết vạch ra cách thức cụ thể để tiến hành công tác địch vận có kết quả và lưu ý rằng: công tác cách mạng trong quân đội phải mật thiết liên lạc với công tác cách mạng trong quần chúng công nông; những cuộc đấu tranh của binh lính phải phối hợp với việc đấu tranh của thợ thuyền và dân cày. Như vậy thì đấu tranh cách mạng mới thống nhất và có sức mạnh. Muốn cho quần chúng công nông và binh lính thêm mối liên lạc, thì phải đem những yêu cầu, những khẩu hiệu đấu tranh của binh lính truyền bá rộng ra, không những trong quần chúng binh lính mà còn phải trong các cuộc mít tinh, trong quần chúng thợ thuyền và dân cày nữa, để cho quần chúng, binh lính cùng đấu tranh bênh vực quyền lợi cho nhau. "Sự tuyên truyền các khẩu hiệu và những điều yêu cầu của binh lính cần phải cho thiệt xác thực thì mới có kết quả tốt"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.207). Hội nghị Trung ương Đảng còn thảo luận và thông qua các văn kiện như: Án nghị quyết về công nhân vận động, Điều lệ Tổng công hội Đông Dương, Điều lệ Công hội, Án nghị quyết về nông dân vận động, Điều lệ Tổng nông hội Đông Dương, Điều lệ Nông hội làng, Điều lệ Ban Chấp hành nông hội xã bộ, Án nghị quyết về Cộng sản thanh niên vận động, Án nghị quyết về phụ nữ vận động, Điều lệ Phụ nữ Liên hiệp hội, Án nghị quyết về vấn đề cứu tế, Điều lệ Hội cứu tế đỏ... Các văn kiện đó đề cập giải quyết một loạt vấn đề về công tác quần chúng của Đảng nhằm tập hợp lực lượng, đưa quần chúng ra đấu tranh với các hình thức thích hợp để "dự bị" cho cuộc khởi nghĩa vũ trang về sau.


Như vậy, từ việc xác định con đường cách mạng bạo lực, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, Đảng ta không quan niệm cách mạng bạo lực chỉ là xây dựng lực lượng quân sự, tiến hành đấu tranh vũ trang. Để tiến tới khởi nghĩa vũ trang trong tương lai, ngay từ đầu Đảng rất coi trọng việc giáo dục, tổ chức, động viên, đưa quần chúng ra đấu tranh chính trị, xây dựng đội quân chính trị quần chúng của cách mạng, từng bước xây dựng lực lượng vũ trang. Do đi đúng con đường cách mạng bạo lực ấy mà Đảng ta ra đời chưa được bao lâu "đã phát động được một phong trào cách mạng sôi nổi của công nông khắp cả nước những năm 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ - Tĩnh"1 (Lê Duẩn: Về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, t.2, tr.648), tạo đà cho những thắng lợi tiếp theo trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM