Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Năm, 2024, 04:28:03 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 3  (Đọc 4214 lần)
Vu Anh Sơn và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2021, 05:43:57 pm »

Ngoài những đối tượng trên, Phan Bội Châu còn đề cập đến sự đồng lòng của đồng bào các dân tộc thiểu số. Ông cho rằng: "Những miền man (thượng du - TG) kia, địa thế hiểm yếu, vật sản phong phú, bản chất con người lại dũng cảm chiến đấu. Nếu khéo dùng thì người Man là của ta, đấy là mầm mống của sự nghiệp bá vương, nếu bỏ qua đi thì người Man theo người khác và sẽ là cái mộ chôn vùi nước ta"2 (Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.117). Về sau, trong tác phẩm Trùng Quang tâm sử, dưới hình thức tiểu thuyết lịch sử, Phan Bội Châu đã phác họa bức tranh về tinh thần đoàn kết, sự phối hợp chiến đấu hiệu quả giữa người Kinh với các dân tộc thiểu số trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.


Trên cơ sở đánh giá mức độ và khả năng tham gia của các tầng lớp xã hội, Phan Bội Châu mong muốn tất cả đồng bào, tùy theo vị trí của mỗi người mà ai cũng có trách nhiệm cứu nước và thức tỉnh mọi người cùng tham gia. Phú hào thì bỏ tài sản ra giúp nước; quan lại thì làm kế phản gián; lính tập thì sẵn sàng quay súng đánh Pháp; phụ nữ thì góp tiền giúp việc binh, khuyên chồng con đi lính... Phan Bội Châu tin tưởng rằng, một khi cả nước đồng tâm, thì không có việc gì là không làm được, không có kẻ thù nào là không chiến thắng được. Điều đó cho thấy, Phan Bội Châu đã tiếp cận gần với tư tưởng toàn dân, toàn diện.


Tuy nhiên, Phan Bội Châu có hạn chế là đã đặt địa chủ lên vị trí hàng đầu, xem đó là tầng lớp xướng xuất và lãnh đạo sự nghiệp cứu nước. Ông chưa đề cập đến hai lực lượng cơ bản là công nhân và nông dân cũng như chưa thấy sức mạnh của họ trong nền tảng kinh tế và xã hội mà chỉ thấy ở họ sức mạnh tinh thần yêu nước. Phải đến năm 1924, trong Truyện Phạm Hồng Thái, Phan Bội Châu mới nhận ra rằng, việc huấn luyện cách mạng xã hội không thể không thành công, nếu không dựa vào số đông người thuộc giai cấp dưới, số đông giai cấp dưới đó chính là công nhân và nông dân. Ở nước ta, nông dân và công nhân chiếm hơn ba phần tư dân số toàn quốc.


Không chỉ đề cao sự đồng lòng ở trong nước, Phan Bội Châu còn đề cập đến sự đồng lòng của người ngoài nước ta, đồng thời chú ý đến việc lập "mặt trận" đoàn kết quốc tế. Sau khi phong trào Đông du bị Chính phủ Nhật Bản cấu kết với thực dân Pháp giải tán, Phan Bội Châu và các đồng chí trong Duy tân Hội "biết rõ là công việc của mình không thể trông cậy vào Nhật Bản được, nên chuyển hướng về cách mạng Trung Quốc và các nước trên thế giới đồng bệnh cùng ta"1 (Phan Bội Châu niên biểu, Sđd, tr.118). Cuối năm 1908, Phan Bội Châu cùng với một số chí sĩ yêu nước và cách mạng người Trung Quốc, Ấn Độ, Philíppin, Triều Tiên... lập ra Đông Á đồng minh Hội nhằm "liên hiệp toàn châu Á, đoàn kết với các chí sĩ cặc nước bị mất, dắt dìu các dân tộc cùng nhau bước lên sân khấu cách mạng để giáo dục nhân dân trong thời gian nước bị mất"1 (Phan Bội Châu niên biểu, Sđd, tr.119). Sau đó không lâu, Phan Bội Châu liên lạc với các lưu học sinh Vân Nam và Quảng Tây để lập ra Hội Điền - Quế - Việt liên minh nhằm tạo ra cơ sở quần chúng vững chắc hơn, có tác dụng trực tiếp cho cuộc vận động cách mạng chung của hai nước Việt - Trung.


Cũng theo quan điểm tìm bạn đồng minh - những người "đồng bệnh", khi Cách mạng Tân Hợi kết thúc (1911), từ Xiêm, Phan Bội Châu trở về Hoa Nam (Trung Quốc) hoạt động, nhằm thừa cơ hội cách mệnh Tàu thành công, mượn tay người Tàu mà xoay chuyển một cuộc cách mạng mới khác. Thực hiện chủ trương trong thì vận động binh lính, ngoài thì nhờ sự giúp đỡ của quân đội Trung Quốc về vũ khí, quân nhu, Phan Bội Châu đứng ra vận động thành lập Hội Chấn Hoa hưng Á. Mục đích của hội này là liên hiệp những người cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam, làm cho Trung Quốc trở thành trung tâm cách mạng châu Á rồi viện trợ cho Việt Nam để đánh đuổi giặc Pháp. Chương trình của hội: "... chấn chỉnh nước Trung Hoa làm cho châu Á hưng thịnh, đánh đổ kẻ thù trước mắt là thực dân Pháp đã xâm lược Việt Nam, mà kế hoạch là: bước một, viện trợ Việt Nam; bước hai, viện trợ Ấn Độ và Miến Điện (Mianma - BT); bước ba, viện trợ Triều Tiên"1 (Phan Bội Châu niên biểu, Sđd, tr.153).


Thông qua chủ trương và hoạt động của các tổ chức đó, Phan Bội Châu đã thể hiện rõ tư tưởng đoàn kết quốc tế với mục đích tập hợp lực lượng, khai thác sức mạnh và sự ủng hộ quốc tế để đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc; đồng thời đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức đối tượng cần đoàn kết quốc tế của Phan Bội Châu - từ chủ trương cầu viện quân sự ở một quốc gia "đồng văn, đồng chủng" đến mở rộng liên kết với các nước "đồng bệnh" - những nước bị biến thành thuộc địa và nửa thuộc địa của chủ nghĩa thực dân. Từ năm 1924, Phan Bội Châu mới nhận thấy hai trận tuyến cách mạng và phản cách mạng trên thế giới: một bên là cách mạng Việt Nam được "các nước bình dân trên thế giới" tương trợ; một bên là thực dân Pháp được "các nước đế quốc chủ nghĩa trên thế giới" viện trợ. Các nước bình dân mà Phan Bội Châu nhắc tới không chỉ "các nước đồng bệnh" với ta mà cả nước Nga Xôviết, một nước đã thành lập "chính phủ Lao Nông". Đó là một bước tiến rất quan trọng trong tư tưởng đoàn kết quốc tế của Phan Bội Châu.


Đến đây, Phan Bội Châu đã vượt qua tầm nhìn hạn chế của nho sĩ để xây dựng, mở rộng mặt trận đoàn kết - từ đồng lòng trong phạm vi của một đất nước đến mở rộng đoàn kết với các nước đồng chủng, đồng bệnh trong khu vực. Cơ cấu lực lượng đồng tâm từ chỗ chỉ có mười hạng người mở rộng cả lực lượng đông đảo là công nông và đồng bào các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, Phan Bội Châu chưa nhận thức đúng bản chất và quan hệ giai cấp; thiếu nhất quán trong việc xác định, đánh giá từng hạng người trong xã hội, nhất là việc xác định nhà nho là người đi đầu, nắm vai trò lãnh đạo cách mạng. Trong việc xây dựng, tập hợp lực lượng, Phan Bội Châu chưa nhận thức được "công nông là gốc của cách mạng"; còn mơ hồ lẫn lộn trong phân biệt bạn và thù... Những nhược điểm đó của Phan Bội Châu về sau được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta khắc phục.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2021, 05:45:52 pm »

d) Quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang

Khẳng định "đánh giặc phục thù, mà thủ đoạn là bạo động", gắn với chủ trương xây dựng "mặt trận" đồng tâm, vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang vẫn được Phan Bội Châu đặt ra. Tuy nhiên, thời kỳ đầu, Phan Bội Châu chỉ mới đề cập đến "dư đảng Cần Vương", "những tay tráng kiệt vùng sơn lâm" và "lính tập" như là lực lượng quan trọng trong kế hoạch bạo động của ông.


Năm 1905, nhận trọng trách của Duy tân Hội, Phan Bội Châu sang Nhật cầu viện quân sự nhưng không đạt kết quả. Từ đó, ông nhận thức sâu sắc rằng muốn giải phóng dân tộc phải có thời gian chuẩn bị vững chắc về mọi mặt, trong đó phải chú trọng đào tạo cán bộ quân sự làm nòng cốt để xây dựng lực lượng vũ trang. Được các chính khách Nhật Bản chấp thuận cho thanh niên Việt Nam sang học tập, rèn luyện, trong những năm 1905-1908, số thanh niên Việt Nam sang Nhật học lên tới 200 người. Phần lớn được đào tạo ở Đồng văn thư viện, một số người được vào học ở Chấn Võ quân sự học hiệu - trường quân sự của Chính phủ Nhật. Chương trình học quy định buổi sáng học văn hóa, buổi chiều học tri thức quân sự và luyện tập ở thao trường. Tuy chỉ tồn tại một thời gian ngắn, nhưng phong trào Đông du đã góp phần đào tạo được một số cán bộ quân sự làm nòng cốt cho phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX như Đặng Tử Mẫn, Lương Lập Nham (tức Lương Ngọc Quyến), Lương Nghị Khanh, Đàm Kỳ Sinh, Hoàng Trọng Mậu, Trần Hữu Lực...


Cùng với việc đào tạo cán bộ quân sự ở nước ngoài, Duy tân Hội còn chăm lo vận động quân đội trù bị vũ trang1 (Xem Lịch sử cận đại Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960, t.3, tr.151) ở trong nước. Tham gia hàng ngũ lực lượng vũ trang, ngoài những người có kinh nghiệm, từng tham gia phong trào Cần Vương, Phan Bội Châu và các hội viên còn thông qua thơ văn và các buổi tuyên truyền kêu gọi tất cả những người yêu nước, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đảng phái, kể cả thân sĩ, quan lại, hoàng tộc... tích cực tham gia đóng góp sức lực và của cải cho các hoạt động xây dựng lực lượng, chuẩn bị bạo động vũ trang.


Cũng từ sau chuyến ra nước ngoài, được nghiên cứu quân đội nước ngoài, Phan Bội Châu bộc lộ ý tưởng xây dựng quân đội Việt Nam mới. Trong tác phẩm Tân Việt Nam (1907), trên cơ sở khẳng định quân đội là lực lượng đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn vong của đất nước, ông cho rằng, nhà nước và nhân dân phải chăm lo xây dựng quân đội, phải "kính trọng lính", có chính sách đối với gia đình những người lính tử trận; và "người nào cũng có trách nhiệm giữ nước, người nào cũng có bổn phận đi lính". Trong tư tưởng của Phan Bội Châu, quân đội Việt Nam mới không chỉ có số lượng đông, cơ cấu gồm cả lục quân, thủy quân mà phải có chất lượng thông qua việc giáo dục rèn luyện cả về tinh thần chiến đấu, chuyên môn, nghiệp vụ, trong đó giáo dục về lý tưởng chiến đấu được đặt lên hàng đầu và là công việc thường xuyên. Đó là một quân đội yêu nước, căm thù giặc, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập dân tộc. Ngoài nhiệm vụ chiến đấu chống kẻ thù, người lính nước Việt Nam mới còn phải thực hiện tốt các nhiệm vụ giúp người làm ruộng, người đi buôn, mở đất dời dân làm cho thế nước thêm lớn.


Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc thành công. Đầu hăm 1912, từ Xiêm, Phan Bội Châu đến Quảng Đông (Trung Quốc) tập hợp lực lượng, quyết định thủ tiêu Duy tân Hội, tuyên bố thành lập Việt Nam Quang phục Hội. Việt Nam Quang phục Hội đề ra bộ máy Việt Nam quân chính phủ gồm các bộ: Bộ Tổng vụ, Bộ Bình nghị, Bộ Chấp hành và các cơ quan phụ trách công việc của một nhà nước cách mạng trong cả nước. Hoàng Trọng Mậu và Lương Lập Nham (Lương Ngọc Quyến), hai học viên quân sự xuất sắc của phong trào Đông du được cử giữ chức Quân vụ ủy viên để điều hành mọi việc về quân sự và quốc phòng.


Xuất phát từ yêu cầu phải xây dựng một quân đội chính quy, thực hiện mục tiêu "đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam và thành lập nước Cộng hòa dân chủ"1 (Phan Bội Châu: Toàn tập, sdđ, t.3, tr.367), Việt Nam Quang phục Hội quyết định thành lập Quang phục quân. Quang phục quân gồm những người được tuyển mộ trong đồng bào miền núi gần biên giới Trung - Việt; cán bộ chỉ huy đều là các sĩ quan và học viên quân sự đã tốt nghiệp Trường Sĩ quan Bắc Kinh, Trường Quân nhu Bắc Kinh, Trường Cán bộ lục quân Quảng Tây. Quang phục quân cũng chia thành các "binh chủng" như bộ binh, pháo binh; có Bộ Tổng Tư lệnh, Tổng Tham mưu...; binh lính được phiên chế thành ngũ, thập, cai, đội, cơ, vệ, doanh, trấn, quận.


Tôn chỉ, nghĩa vụ, phương châm, sách lược hoạt động và cơ cấu tổ chức của Quang phục quân được thể hiện rõ trong tác phẩm Việt Nam Quang phục quân phương lược do Hội giao cho Phan Bội Châu và Hoàng Trọng Mậu biên soạn. Sách gồm bốn chương chính, trong đó hai chương đầu do Phan Bội Châu biên soạn, hai chương sau do Hoàng Trọng Mậu soạn thảo, Phan Bội Châu biên tập, sửa chữa. Tác phẩm này được dùng làm tài liệu học tập cơ bản cho Quang phục quân.

Chương 1: Tôn chỉ Quang phục quân, khẳng định tôn chỉ duy nhất của Quang phục quân là lấy mục đích đánh giặc, khôi phục nền độc lập, xây dựng chế độ cộng hòa dân chủ làm đầu. Khẳng định việc lập quân đội là nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, làm cho Việt Nam trở thành một nước độc lập, giương cao ngọn quốc kỳ 5 sao, làm rạng rỡ Việt Nam trên mặt địa cầu. Gắn với nhiệm vụ đánh đuổi giặc Pháp, khu trừ dị tộc, tôn chỉ tối quan trọng của Quang phục quân là tham gia xây dựng một nước cộng hòa dân chủ, xóa bỏ dấu vết độc hại của chính thể chuyên chế, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, xây dựng Việt Nam trở thành một dân tộc hùng cường, hoàn toàn tự do. Như vậy, tôn chỉ của Việt Nam Quang phục quân cũng là tôn chỉ của Việt Nam Quang phục Hội. Đó là thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục quốc quyền và xây dựng một chế độ mới tốt đẹp hơn.


Chương 2: Nghĩa vụ của Quang phục quân, gồm 42 điều, được chia thành 4 tiết (Đối với nhân dân, Đối với người Pháp, Đối với những người nước ngoài khác, Đối với quân nhân). Nội dung chính của chương này khẳng định bản chất, mục tiêu chiến đấu của Quang phục quân. Đó là đội quân của nhân dân, vì sự nghiệp cứu nước, bảo vệ quyền lợi tối cao của dân tộc. Quang phục quân với mọi người dân Việt Nam đều có tình nghĩa đồng bào, không có sự phân biệt, đối xử lương - giáo, trừ những kẻ cam tâm theo giặc. Quang phục quân có nhiệm vụ xóa bỏ chế độ hà khắc của người Pháp trước kia. Đại quân đi đến đâu, cũng không tơ hào, xâm phạm của cải của nhân dân, trừ trường hợp bất đắc dĩ mới tạm thời trưng dụng. Quân đội có mối quan hệ gắn bó với dân, có trách nhiệm bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân. Những nơi thuộc sở hữu công cộng như nhà thờ, cung quán, đình chùa... nhất thiết phải được bảo vệ; đại quân đi đến đâu tuyệt đối không được đốt phá hoặc hủy hoại, trừ những nơi đã chứa vũ khí của giặc hoặc để giặc lợi dụng. Quang phục quân sẵn sàng thu dụng những người có chí hướng và tài năng chân chính muốn công hiến cho đất nước; ai có công lao với đất nước đều được ghi nhận để mọi người cùng biết. Bên cạnh quân chính quy, nội dung chương này còn khuyến khích việc tổ chức các đội hương binh tham gia đánh giặc, cứu nước: "Phàm trong quốc dân, ai có khả năng tổ chức quân đội riêng, đi đánh lấy lại được các thành, các ấp, hoặc làm phản chính ở các thành, các ấp ấy rồi ưng theo về với bản quân, thì... được cử ngay trong số những người có công đánh lấy thành ấp đó bổ sung vào... Những thân hào, kỳ mục trong các làng xã nếu tổ chức ra các đội dân quân, đi đánh phá các thành ấp, hưởng ứng với bản quân, tình nguyện chịu sự chỉ đạo, thì sẽ... không có sự phân biệt và đều được hưởng những quyền lợi trong bản quân"1 (Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.369-370).


Chương 2 còn quy định rõ chính sách binh vận, nguỵ vận, chính sách tù binh, hàng binh của Quang phục quân thể hiện tính nhân đạo và chiến lược đánh vào lòng người của quân đội. Ngoài ra, còn dành nhiều điều quy định khá cụ thể về quyền lợi, nghĩa vụ và chính sách đặc biệt của Quang phục quân đối với quân nhân (tại ngũ, phục viên) cũng như đối với những người hy sinh nơi chiến trường hoặc trong lúc làm nhiệm vụ khó khăn và gia đình liệt sĩ... với nhiều điểm tiến bộ: Người quân nhân đem thân mình để bảo vệ quốc gia nên so với người dân thường khác, được hưởng sự đãi ngộ đặc biệt hơn. Ngoài việc quân sự, quân nhân không phải đảm nhiệm các tạp dịch khác. Quân phục, lương thực và đồ dùng của quân nhân sẽ do Nhà nước cung cấp. Những quân nhân có cống hiến, khi xuất ngũ được hưởng ân bổng, nhiều ít tùy theo cấp bậc. Những quân nhân tử vong có những ân điển đặc biệt, chia làm hai bậc: 1) Hy sinh nơi chiến trường hoặc bỏ mình trong lúc làm nhiệm vụ, thì Phủ Quân chính sẽ có nơi an táng đặc biệt, được cấp kinh phí mai táng; được lập đài kỷ niệm và hằng năm được các vị đại biểu toàn quốc đứng ra làm lễ kỷ niệm và còn ân cấp cho gia đình nữa; 2) Nếu vì ốm đau hoặc vì biến cố khác xảy ra mà chết, thì sẽ được cấp tử tuất1 (Xem Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.373-374).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2021, 05:47:04 pm »

Chương 3: Kỷ luật của Quang phục quân, gồm 37 điều2 (Theo Thương Châu - người sưu tầm, biên dịch cuốn Việt Nam Quang phục quân phương lược, thì do nguyên bản chữ Hán bị mất một tờ, nên từ điều 27 đến điều 32 của chương 3, không rõ nội dung). Trên cơ sở khẳng định kỷ luật nghiêm minh là vấn đề trọng yếu đối với quân đội, tác phẩm định rõ kỷ luật của Việt Nam Quang phục quân gồm: 25 điều nói về thưởng, phạt gọi là ”25 điều răn của quân đội"', 4 điều cần chú ý trong quân thứ; 5 điều cần chú ý đối với tù và hàng binh; 3 điều cần chú ý sau khi chiến tranh kết thúc. Từ các nội dung quy định trong chương 3 toát lên tinh thần của một quân đội có kỷ luật nghiêm minh trong chiến đấu và công tác, có thái độ đúng mực với nhân dân; không tơ hào, xâm phạm đến tài sản của nhân dân và của công; thực hiện nghiêm chỉnh chính sách tù, hàng binh. Chẳng hạn, Điều 26 quy định: "Đại quân đóng tại quân thứ cũng như khi hành quân, mọi thứ cần thiết trong quân đội như củi đuốc, gạo nước, thực phẩm cùng các đồ dùng, v.v. thì những địa phương phụ cận có nghĩa vụ phải cung cấp. Song nếu không có lệnh của chủ tướng thì không được tự tiện trưng dụng hoặc cấp phát. Những vật phẩm cung ứng, bản quân sẽ trả với giá tương đương. Quân nhân có mua bán vật phẩm gì, đều phải trao đổi công bằng. Những việc sách nhiễu, ép buộc giá cả đều nhất thiết nghiêm cấm. Người nào trái lệnh sẽ chiếu theo quân pháp trị tội nặng"1 (Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.375).


Chương 4: Kế hoạch của bản quân, gồm 45 điều với các nội dung chính: 1) Thời kỳ quân chính, đề cập đến tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, cách thức làm việc của Bộ Quân sự, Bộ Tham mưu và Tổng Tư lệnh - người đứng đầu quân đội. Trong thời kỳ quân chính, Phủ Quân chính tạm thời chia làm hai bộ: Bộ Quân sự và Bộ Ngoại giao. Người đứng đầu các bộ phải do nhân dân bầu ra. Bộ Quân sự sẽ ủy nhiệm một Tổng Tư lệnh cùng các thuộc hạ, viên chức để tiến hành công việc. Trong Bộ Quân sự có Bộ Tham mưu đảm nhiệm "mọi việc sai phái, thừa lĩnh trong quân đội". Tổng Tư lệnh có nhiệm vụ quản lý mọi công việc liên quan đến quân sự, nhưng phải được Tổng đại biểu duyệt y, chỉ trường hợp đặc biệt mới có thể được tùy tiện hành động; 2) Biên chế các cấp trong quân đội, quy định về cơ cấu tổ chức, biên chế, quân số cấc cấp trong quân đội theo thứ tự từ thấp lên cao: ngũ, thập, cai, đội, vệ, doanh, trấn, quận; 3) Lương bổng, trang phục, phù hiệu, quy định cụ thể mức lương được hưởng hằng tháng theo quân hàm, chức vụ trong quân đội; quy định quân hàm gồm 9 bậc (từ thiếu úy đến đại tướng); quy định chi tiết về trang phục, phù hiệu của từng binh chủng, từng cấp...; 4) Tài chính của quân đội, quy định những nội dung liên quan đến việc phát hành quân dụng phiếu, quốc trái và quân lương nhằm tạo nguồn tài chính cho việc xây dựng lực lượng, mua sắm vũ khí, trang bị...; 5) Kế hoạch dân chính lâm thời, quy định về tổ chức dân chính lâm thời các cấp, các đơn vị hành chính, hệ thống quan chức văn võ. Đây chính là "phương lược" quan trọng quy định hoạt động của Việt Nam Quang phục Hội thời kỳ đầu, lúc đó gọi là "Phủ Quân chính".


Trang cuối cùng của tác phẩm ghi rõ: "Tập Phương lược này chỉ là văn bản quy định tạm thời ban hành trong lúc này. Về sau, khi mọi việc đã yên ổn, Chính phủ mới được thành lập, sẽ sửa đổi, bổ sung để đạt tới hoàn thiện hơn. Nay bố cáo"1 (Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.382).


Việt Nam Quang phục quân phương lược là một văn kiện quan trọng thể hiện quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang của Việt Nam Quang phục Hội. Trên cơ sở kế thừa truyền thống, kinh nghiệm tổ chức quân đội của dân tộc, kết hợp với học hỏi kinh nghiệm nước ngoài, tác phẩm đã phác họa một mô hình quân đội kiểu mới, khác với quân đội triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Đó là đội quân cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cứu nước, cứu dân, bảo vệ quyền lợi tối cao của dân tộc; có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, quan hệ mật thiết với nhân dân; coi trọng công tác binh, địch vận; khoan dung, nhân đạo với tù, hàng binh; có chính sách hậu phương quân đội; khuyến khích nhân dân thành lập các đội Hương binh tham gia đánh giặc...


Để tạo nguồn tài chính xây dựng quân đội, theo gợi ý của Tô Thiệu Lâu, đảng viên cách mạng Quảng Châu và là bạn thân của Phan Bội Châu, Quang phục Hội đã phát hành tín phiếu là Quân dụng phiếu và Thông dụng ngân phiếu. Tuy nhiên, số tiền thu được cũng chỉ đủ trang trải chi phí hằng ngày, chưa đủ sắm sửa vũ khí, tích trữ lương thực.


Đánh giá tác phẩm Việt Nam Quang phục quân phương lược, nhà nghiên cứu Chương Thâu nhận định: "Cũng có thể nói rằng, nếu như những binh thư, binh pháp kiểu Binh thư yếu lược, Hổ trướng khu cơ... là những tác phẩm thể hiện tư tưởng quân sự của thời đại phong kiến ở nước, ta, và những văn kiện kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và của Đảng ta về quân sự trong hơn nửa thế kỷ vừa qua, là phản ánh tư tưởng và đường lối quân sự của giai cấp vô sản, thì tập Phương lược này là một văn kiện thể hiện đường lối xây dựng lực lượng vũ trang của thời kỳ đầu của cách mạng dân chủ tư sản kiểu cũ. Việt Nam Quang phục quân phương lược sẽ là một bộ phận hữu cơ của lịch sử quân sự Việt Nam"1 (Chương Thâu (Sưu tầm và biên soạn): Phan Bội Châu trong dòng thời đại - bình luận và hồi ức, Nxb. Nghệ An, 2007, tr.233).


Tác phẩm Việt Nam Quang phục quân phương lược đã đánh dấu một bước nhận thức mới về xây dựng lực lượng vũ trang của Việt Nam Quang phục Hội. Tuy nhiên, do Quang phục quân được thành lập trên đất Trung Quốc, chưa có cơ sở vững chắc trong quần chúng đông đảo trong nước, nên khi cách mạng Trung Quốc thất bại nó cũng không thể duy trì được.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2021, 05:48:25 pm »

đ) Quan điểm về lính tập và công tác binh, địch vận

Lính tập là những binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp, bị thực dân Pháp sử dụng làm công cụ để cùng quân đội viễn chinh thực hiện mưu đồ đánh chiếm và thống trị Việt Nam. Họ là sản phẩm của chính sách "dùng người bản xứ đánh người bản xứ" của chủ nghĩa thực dân. Phần lớn trong số họ là những người nông dân cùng khổ bị chính quyền thuộc địa bức khỏi đồng ruộng để làm bia đỡ đạn phục vụ cho lợi ích của chúng. Do đó, trong họ kẻ ít người nhiều đều có lòng yêu nước, có tinh thần phản kháng chống lại sự thống trị của ngoại bang, chống lại những hà khắc, bất công, kỳ thị dân tộc. Trước Phan Bội Châu, những người lãnh đạo nghĩa quân Ba Đình, Bãi Sậy... cũng từng làm công tác binh vận nhằm lôi kéo, cảm hóa họ đứng vào hàng ngũ kháng chiến, quay súng chống lại kẻ thù. Tuy nhiên, công tác binh vận của họ chỉ mới dừng lại ở việc kêu gọi lính tập trở về hàng ngũ kháng chiến mà chưa có một nhận thức đầy đủ về lính tập và, do đó, còn hạn chế trong công tác tuyên truyền, vận động.


Tiếp nối truyền thống binh vận của dân tộc, bắt tay vào sự nghiệp cứu nước, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông rất coi trọng vai trò của những người lính tập và công tác binh vận. Từ năm 1901, trong kế hoạch đánh chiếm thành Nghệ An, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông đã vận động lính tập làm "cánh nội ứng" để phối hợp trong ngoài cùng đánh. Nhưng do cơ mưu bại lộ, nên việc đánh thành phải đình chỉ. Năm 1905, khi mới đến Nhật Bản, trong cuộc bút đàm với Lương Khải Siêu, Phan Bội Châu cho rằng, quân Pháp ở Việt Nam có 5.000, trong khi đó binh lính người Việt trong quân đội Pháp có đến 40.000, như vậy lẽ nào người Việt Nam lại không đánh đuổi được người Pháp ra khỏi đất nước mình. Có lẽ nào 10 người Việt Nam lại lùi bước trước 1 người Pháp. Điều đó cho thấy, từ rất sớm, Phan Bội Châu đã xem lính tập là một lực lượng quan trọng trong kế hoạch bạo động của Duy tân Hội.


Khi phân tích thái độ của lính tập, Phan Bội Châu không chỉ đề cập đến số lượng lính tập đang phục vụ trong quân đội Pháp hoặc những người lính tập đã được thực dân Pháp thao luyện, được giao khí giới... mà còn đi sâu vào lý giải những nguyên nhân sẽ khiến lính tập có ngày quay súng chống lại thực dân Pháp. Ông tin rằng, lính tập với số lượng lớn, tuy phục vụ cho thực dân Pháp nhưng họ là người Việt Nam nên sẵn có tinh thần yêu nước, thương nòi; cha mẹ, vợ con, anh em họ cũng bị thực dân Pháp đàn áp; những nơi mà lính tập theo thực dân Pháp tàn phá chính là những họ hàng, quê hương của họ... Vì thế, người lính tập không thể trung thành với thực dân Pháp để bắn giết đồng bào mình, tàn phá quê hương mình được. Phần lớn trong số họ chỉ vì bị thực dân Pháp bắt ép hoặc do hoàn cảnh mà phải phục dịch cho thực dân Pháp, đồng thời vạch trần chính sách ngược đãi lính tập của thực dân Pháp, nhất là khi chiến sự đã lắng xuống: "Từ khi trong nước đã bình định đến nay, người Pháp đối đãi với lính rất vô ơn, mỗi ngày kiềm thúc càng chặt thêm, lao dịch lại càng nhiều thêm, lương tháng càng ngày càng bạc bẽo... Khi biên cương hữu sự thì trông như thiên thần, lúc khói lửa không sợ nữa thì lại coi như cỏ rác. Cắt cỏ ngựa là lính tập, xây tường thềm cũng lính tập,... khiêng ván cũng lính tập, kiếm củi nước cũng lính tập, ngày trước không thế mà ngày nay như thế"1 (Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.73).


Phan Bội Châu cho rằng, việc thực dân Pháp lập ra đội quân người Việt tức là tự làm ra vũ khí để giết mình. Trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử, ông không những chỉ ra cảnh khổ nhục, bị bóc lột nặng nề của lính tập để khuyên họ quay súng chống giặc, cứu nước mà còn viết cả một bài ca địch vận để thức tỉnh họ.


Đến tác phẩm Hải ngoại huyết thư (1907), từ sự thông cảm sâu sắc với người lính tập, Phan Bội Châu thúc giục họ hãy dũng cảm quay súng chống lại người Pháp khi có thời cơ: "Các anh vì Pháp mà bôn tẩu cũng chỉ vì bị bức vào thế vạn bất đắc dĩ, hẳn cũng mong có được một cơ hội để tỏ rõ cái chí không quên đồng bào của mình?... Các anh ngày ngày cầm binh khí của Pháp, cùng người Pháp quanh quẩn bên nhau, việc các anh làm hả giận rất dễ. Nhịn nhục chất chứa, lòng căm giận cực sâu, lại gặp cơ hội làm hả giận rất dễ. Việc các anh quay giáo chống giặc lập đại công, thành đại danh, tạo đại ân đối với đồng bào ta chỉ là chốc lát mà thôi"1 (Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.138, 135).


Kỳ vọng và tin tưởng ở lực lượng lính tập như vậy, Phan Bội Châu kêu gọi "Sự đồng lòng của lính tập cả nước"2 (Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.138, 135) và chủ trương đưa người vào lính tập để được huấn luyện quân sự, đồng thời làm công tác tuyên truyền, vận động binh lính tham gia hàng ngũ cứu quốc, sẵn sàng phản chiến khi thời cơ đến. Trong tác phẩm Sùng bái giai nhân (1907), Phan Bội Châu cho rằng, việc thực dân Pháp tuyển người Việt vào làm lính tập là cơ hội tốt để ta đưa người vào luyện tập quân sự, học tập binh pháp của nước ngoài và làm công tác binh vận. Khi vào lính rồi thì phải gần gũi với lính tập; nhân đó lấy truyền thống yêu nước của cha ông để giáo dục lòng yêu nước, yêu đồng bào của họ, làm cho họ sẵn sàng hy sinh vì nước nhà. Thường ở xung quanh binh lính và sĩ quan giặc, lâu ngày thân thiện, nhìn xem ở những điểm mấu chốt, mật ngó tình hình, có thể làm đường dây liên lạc trong ngoài để phối hợp hành động khi có thời cơ1 (Xem Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.236-237). Thực hiện chủ trương này, rất nhiều người đã tình nguyện vào lính tập. Nguyễn Hữu Cương, người ở huyện Kiến Xương (Thái Bình) đã cho người con đầu là Nguyễn Công Vân vào lính tập và sau đó đã dựa vào thổ binh mưu việc đánh úp thành Thái Bình. Hồ Sĩ Phấn cũng vào lính tập và lên đến chức Đội, sau đã cùng một số đồng đội nổi dậy chiếm thành Hà Tĩnh.


Trong tác phẩm Việt Nam Quang phục quân phương lược (1912), ông cũng dành nhiều điều quy định rất cụ thể về chính sách binh, địch vận và chính sách đối với tù binh hàng. Điều 9 ghi rõ: "Những người làm quan lại hoặc đi lính tập cho Pháp, không kể từ bao giờ, nếu giết được quan Pháp, lính Pháp, hoặc làm phản chính ở các thành, ấp, hoặc bí mật cung cấp tình hình địch, hoặc làm nội ứng, thì bản quân đều coi như "đồng chí", được đối xử và khen thưởng một cách đặc biệt trừ những kẻ trung thành với giặc, tội không thể tha, còn thì tất cả đều không hỏi đến"2 (Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.369-370). Đối với binh lính người Pháp, Điều 11 quy định: "Những lính Pháp, nếu trong khi tác chiến, biết quay súng lại giết giặc, mang vũ khí quân lương về với ta thì bản quân coi như những người có công, đều được trọng dụng. Nếu trong khi chiến bại mà đầu hàng, thì không bị giết. Người nào tự đầu hàng mà sau đó lại tự nguyện đi lập công, cũng đều được lục dụng"1 (Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 370).


Ngoài ra, còn nhiều điều quy định cụ thể về chế độ ưu đãi đối với những người biết tôn trọng nhân đạo, đóng góp sức người sức của, hoặc đem tài nghệ bày kế hoạch giúp bản quân tiến hành mọi việc...; đồng thời khẳng định nghiêm khắc trừng trị theo pháp luật đối với những người theo Pháp áp bức nhân dân, xâm chiếm tài sản của nhân dân, chống lại chủ trương của bản quân.


Có thể nói, xuất phát từ niềm tin hễ là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước và kỳ vọng vào lòng yêu nước của lính tập, Phan Bội Châu đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp cụ thể để tuyên truyền, vận động họ "quay súng bắn vào quân Pháp"; đồng thời, bước đầu đề ra chính sách binh, địch vận và chính sách tù, hàng binh. Chính nhờ vậy mà trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ nhất, Việt Nam Quang phục Hội của Phan Bội Châu đã gây được những cuộc binh biến lớn như cuộc khởi nghĩa của Trần Cao Vân, Thái Phiên ở Huế (1916), cuộc khởi nghĩa của Lương Ngọc Quyến, Đội Cấn ở Thái Nguyên (1917)... Đó là những đòn nặng đánh vào kế hoạch "dùng người Việt trị người Việt" của thực dân Pháp. Đánh giá về tư tưởng binh vận của Phan Bội Châu, Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng, mặc dù Phan Bội Châu "chưa quan niệm được nếu không có cuộc khởi nghĩa của nhân dân thì những cuộc khởi nghĩa của binh lính chỉ có thể thất bại mà thôi... nhưng tư tưởng binh vận của Phan Bội Châu thực sự đã góp phần tạo nên một truyền thống binh vận mạnh mẽ ở nước ta, một cố gắng thường xuyên làm tan rã một khí cụ thống trị chủ yếu của quân thù"1 (Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, Sđd, t.2, tr.146-147).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2021, 05:49:45 pm »

e) Quan điểm về giải quyết vấn đề vũ khí

Cùng với việc chăm lo xây dựng tổ chức, vận động lính tập, vấn đề vũ khí cũng được Phan Bội Châu và các đồng chí của ông trong tổ chức Duy tân Hội và Việt Nam Quang phục Hội hết sức quan tâm.


Phan Bội Châu cho rằng, một trong những nguyên nhân người Pháp đánh chiếm và thống trị được nước ta là do họ có ưu thế về vũ khí, trang bị. ông phê phán triều Nguyễn thời bình không tiến hành cải cách đất nước, mua sắm vũ khí, trang bị cho lực lượng quân đội. Vì thế, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, chúng đã đánh bại quân đội triều Nguyễn đông hơn gấp nhiều lần. Đối với phong trào Cần Vương, Phan Bội Châu đặc biệt đề cao sáng kiến chế tạo vũ khí, tinh thần tự chủ của Cao Thắng và cho rằng, sở dĩ cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng kéo dài được trên 10 năm là một phần nhờ vào số vũ khí do Cao Thắng tự chế tạo. Khi đến căn cứ Phồn Xương của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu thấy rằng, nghĩa quân Yên Thế mặc dù tinh thần chiến đấu dũng cảm, nhưng cũng đang gặp khó khăn lớn là thiếu thốn vũ khí.


Từ thực tế đó, Phan Bội Châu khẳng định, muốn đánh thực dân Pháp thì không thể dựa vào các loại vũ khí ngày xưa được mà phải trang bị vũ khí mới. Trong Ngục trung thư, Phan Bội Châu viết: "Phải chi mình ở vào đời Đinh, Lý, Lê, Trịnh thuở xưa, thì chỉ vung tay mà kêu lên một tiếng, tức thời sóng dậy sấm vang chỉ là việc thành công trong khoảng giây lát mà thôi. Nhưng đời nay thì khác hẳn. Từ lúc đời có súng đạn phát minh ra, bao nhiêu khí giới gọi là gươm, giáo, đao, thương đã hóa ra đồ bỏ. Cái thứ để chặt cây làm mác kia, đời xưa người ta vác đi đánh Tần đuổi Sở được, chứ đời nay có dùng nó làm nên trò vè gì. Phải biết vũ khí của người Pháp tinh nhuệ hơn của người mình muôn lần ngàn lần"1 (Phan Bội Châu: Ngục trung thư, bản dịch của Đào Trinh Nhất, Nxb. Nippon - Buaka - Kaikan, Hà Nội, 1945, tr.27).


Vì thế, Phan Bội Châu đặt vấn đề làm thế nào để có vũ khí đánh giặc. Ban đầu, ông có ý định tìm nguồn vũ khí bằng cách cướp khí giới của giặc để trang bị cho mình. Nhưng phương án đó rất khó thực hiện do các cơ sở chế tạo quân giới, các kho vũ khí của thực dân Pháp đều có binh lính canh gác rất nghiêm ngặt.


Như vậy, ngay từ ngày đầu khởi sự, vấn đề vũ khí là vấn đề gay go nhất đặt ra đối với Phan Bội Châu và các đồng chí của ông. Phan Bội Châu kể lại: "Các ông sách sĩ (người chuyên nghĩ mưu kế) trong đảng chúng tôi lúc ấy gặp phải một vấn đề khó khăn lớn mà không giải quyết được, chính là vấn đề quân giới... Anh em chúng tôi lo quanh tính quẩn, mất nhiều ngày giờ mà chỉ có vấn đề quân giới, mỗi khi nghĩ đến, ai nấy bứt rứt lo âu, cám cảnh mình thiếu mất một ngón thứ nhất cần dùng"1 (Phan Bội Châu: Ngục trung thư, Sđd, tr. 27, 30).


Tại Hội nghị thành lập Duy tân Hội (1904), vấn đề khí giới tiếp tục được bàn tính rất sôi nổi. Phan Bội Châu và các đồng chí đều cho rằng: "vấn đề quân giới nếu không có nước ngoài giúp cho mình thì không xong"2 (Phan Bội Châu: Ngục trung thư, Sđd, tr. 27, 30). Vì vậy, hội đặt ra nhiệm vụ: xuất dương cầu viện.


Đầu năm 1905, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ xuất dương cầu viện. Trên đường sang Nhật Bản, khi đến Quảng Đông (Trung Quốc), Phan Bội Châu tranh thủ vận động một số nhân sĩ và quan lại Trung Quốc để giúp cách mạng Việt Nam như Phùng Tự Do (Chủ nhiệm Trung Quốc nhật báo), phái Tôn Văn và Sầm Xuân Huyền, Tổng đốc Quảng Đông, nhưng việc vận động không thành, vì thế, Phan Bội Châu càng quyết chí sang Nhật cầu viện.


Trên đất Nhật Bản, sau những cuộc trao đối với Lương Khải Siêu và một số chính khách Nhật Bản, Phan Bội Châu nhận thấy rằng, dù đồng văn, đồng chủng, đồng châu cũng không thể đem quân hoặc khí giới giúp ta được; vấn đề cầu viện vũ khí cũng như các vấn đề khác không thể trông chờ nhiều ở nước ngoài, mà phải dựa vào thực lực trong nước là chính. Nhận thức đó giúp Phan Bội Châu có sự chuyển hướng trong việc tìm nguồn vũ khí - từ việc cầu viện vũ khí sang chủ trương đào tạo cán bộ quân giới, vận động nhân dân trong nước góp tiền mua vũ khí, đồng thời tiến hành lập các "binh công xưởng" để tự sản xuất vũ khí.


Thực hiện chủ trương này, nhiều học sinh Đông du đã được Duy tân Hội cử vào học các trường cao đẳng công nghiệp hoặc bách khoa. Trong số đó có nhiều người nỗ lực học tập, nghiên cứu chế tạo vũ khí như: Đặng Tử Mận, tự nghiên cứu chế được thuốc nổ không khói và tạc đạn; Nguyễn Quỳnh Lâm, say mê nghiên cứu các loại hóa chất, chế được thuốc nổ, tạc đạn và bộc phá; Lê Cầu Tinh, sau khi thôi học ở Nhật, chuyên tâm vào việc chế tạo binh khí, tự chế được súng trường theo kiểu súng Nhật thời Minh Trị thứ 30 (1897)... ở trong nước, Trần Văn Bỉnh cũng tự nghiên cứu tài liệu và giao du với lính tập để tìm cách chế tạo vũ khí, sau đó đã xây dựng được một xưởng đúc nhỏ, chế tạo được súng và thuốc súng cung cấp cho Đặng Thái Thân, Ngô Quảng... hoạt động ở Nghệ Tĩnh.


Từ khi phong trào Đông du thất bại, cùng với hoạt động nghiên cứu, chế tạo vũ khí chuẩn bị lâu dài cho chủ trương bạo động vũ trang, việc vận động nhân dân trong nước góp tiền mua khí giới cũng được xúc tiến mạnh mẽ. Bằng nhiều hình thức vận động, đến giữa năm 1909, Đặng Thái Thân đã góp được 2.500 đồng gửi cho Phan Bội Châu để mua vũ khí. Lúc này, Phan Bội Châu đang ở Hương Cảng đã giao cho Đặng Tử Mận và Ngọ Sinh bí mật sang Nhật mua được 500 khẩu súng trường (trong đó 400 khẩu là mua chịu), vận chuyển đến cất giấu ở Hương Cảng. Thế nhưng, việc chở vũ khí về nước chưa kịp thực hiện thì được tin Đặng Thái Thân - trụ cột của phong trào bạo động ở Trung Kỳ - hy sinh, quân Đề Thám bị tan vỡ, cuộc vận động lính tập ở Nghệ An, Hà Tĩnh của Đội Phấn, Đội Tuyền cũng thất bại... khiến Phan Bội Châu vô cùng thất vọng. Kế hoạch đưa vũ khí về nước để cứu vãn cho nghĩa quân Đề Thám đã không thực hiện được. Trong tình hình đó, hội đã đem hầu hết số súng mua được tặng lại cho đảng cách mạng Trung Quốc1 (Theo Ngục trung thư, Sđ d,  trang 63 thì số súng này bị cảnh sát Anh tịch thu. Còn theo Phan Bội Châu niên biểu, Sđd, trang 130, thì số quân khí này tặng lại cho đảng cách mạng Trung Quốc, do anh của Tôn Trung Sơn là Tôn Thọ Bình phái người đến lấy. Có lẽ là khi đảng cách mạng Trung Quốc đến nhận thì đã bị cảnh sát Anh tịch thu) nhằm "gây mối cảm tình để mong họ sẽ báo đáp sau khi họ đã thành công"2 (Phan Bội Châu niên biểu, Sđd, tr.130). Sau đó, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông đến Xiêm (Thái Lan - BT) chờ thời cơ xây dựng lại phong trào.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2021, 05:50:24 pm »

Năm 1912, khi Việt Nam Quang phục Hội được thành lập, để có vũ khí chiến đấu và phục vụ các hoạt động khác, hội đã có nhiều hình thức vận động tài chính phong phú.

Thứ nhất là, vận động sự giúp đỡ của cá nhân và các tổ chức cách mạng Trung Quốc. Bằng quan hệ cá nhân, Phan Bội Chầu đã chủ động tìm gặp những người quen biết trong đảng cách mạng Trung Quốc như Lưu Sư Phục (lãnh tụ của Tâm xã theo chủ nghĩa cộng sản), Quan Nhân Phủ (thống lĩnh dân quân), Trần Mỹ Kỳ (Đô đốc Thượng Hải)... để vận động tài chính và vũ khí. Nhờ đó, hội có thêm tiền và 30 quả tạc đạn. Hoàng Trọng Mậu cũng nhờ có mối quan hệ với một số sĩ quan Trung Quốc nên được họ giúp đỡ vũ khí trong những lần vượt biên giới về nước đánh địch ở Móng Cái, Lạng Sơn và Hà Khẩu (1915). Ngoài ra, hội còn liên lạc với người Đức ở Băng Cốc và được lãnh sự Đức tặng một vạn tiền Xiêm. Số tiền này được dùng vào việc mua khí giới chống thực dân Pháp.


Thứ hai là, phát hành tín phiếu Quân dụng phiếu và Thông dụng ngân phiếu để huy động sự đóng góp tài chính của nhiều người. Đây là hình thức vận động tài chính theo cách của đảng cách mạng Trung Quốc. Mặt sau của tờ Quân dụng phiếu ghi rõ: "Phiếu này do lâm thời quân chính phủ của Việt Nam Quang phục quân phát hành, để đổi lấy thực ngân theo số tiền đã ghi trong phiếu, đợi sau này chính phủ dân quốc chính thức thành lập, sẽ đem thực ngân đổi lại và trả gấp đôi..."1 (Phan Bội Châu niên biểu, Sđd, tr.149).


Thứ ba là, đứng ra vận động thành lập Hội Chấn Hoa hưng Á (8-1912), nhằm mục đích chủ yếu là viện trợ cho Việt Nam Quang phục Hội thực hiện nhanh chóng việc đánh đổ thực dân Pháp. Thông qua tổ chức này, Quân dụng phiếu được mua ở Quảng Đông khá nhiều, một số chị em phụ nữ đã góp hơn 1.000 đồng cho hội.


Bắt nguồn từ mục đích cứu nước, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông đã tìm kiếm mọi khả năng, mọi cơ hội để có được vũ khí đánh đuổi thực dân Pháp. Bên cạnh tìm sự giúp đỡ, mua sắm vũ khí từ bên ngoài, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông đã đề ra giải pháp có tính lâu dài, đó là đào tạo con người, lập binh công xưởng tự chế tạo vũ khí - phát huy sức mạnh nội lực để giải quyết vấn đề vũ khí cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Vì thế, trên tất cả các vấn đề, trong đó có vũ khí, Phan Bội Châu luôn nhắc nhở mọi người rằng: "Nay trước hết chúng ta phải cần phải dựa vào chính sức mình. Chúng ta sẽ không làm được gì được nếu chỉ ngồi chờ mọi thứ từ bên ngoài"1 (Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.247).


Như vậy, điểm cốt lõi xuyên suốt trong tư tưởng cứu nước Phan Bội Châu và các đồng chí của ông là trên cơ sở khẳng định chủ trương bạo động cách mạng, luôn coi trọng phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, trong đó nội lực là yếu tố quyết định; vận động nhân dân tham gia bạo động cách mạng, trong dó lính tập và quân đội được xem là lực lượng nòng cốt; phương thức tiến hành bạo động linh hoạt, luôn bám sát thực tiễn, tùy thời hành động - bạo động bằng sức mạnh của nhiều người, nhưng trong tình thế cần thiết không loại trừ bạo động cá nhân. Trong xây dựng lực lượng vũ trang chú trọng toàn diện, nhưng đặt lên hàng đầu xây dựng mục tiêu lý tưởng, tinh thần chiến đấu cho binh lính; coi trọng vận động lính tập làm "cánh nội ứng", phát huy truyền thống cha ông "lấy gậy ông đập lưng ông", dùng súng giặc giết giặc; đề ra nhiều chủ trương, giải pháp để tìm nguồn vũ khí đánh giặc... Tất cả đều nhằm khai thác, quy tụ sức mạnh để hướng đến một cuộc bạo động vũ trang quy mô lớn theo phương thức "nội công, ngoại kích", giải phóng dân tộc. Tuy chưa phải là một hệ thống lý luận chặt chẽ, khoa học và còn nhiều hạn chế nhưng nhiều quan điểm ở một chừng mực nhất định đã được triển khai, vận dụng vào thực tiễn, có tác dụng thổi bùng lên ngọn lửa căm thù quân giặc, thôi thúc nhân dân kiên trì đứng lên chống thực dân Pháp suốt những thập kỷ đầu thế kỷ XX, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam. "Sự thất bại của họ đối với vận động cách mạng sau này vẫn là một pho kinh nghiệm mà giai cấp công nhân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã phê phán, đã rút lấy bài học chiến lược cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hơn thế nữa, nó đã góp phần vào việc đào tạo cho ngày sau một số cán bộ ưu tú"1 (Đặng Thai Mai: Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1961, tr.35). Các quan điểm quân sự của Phan Bội Châu và đồng chí của ông trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX với những nhân tố tiến bộ cũng như hạn chế đều có nhiều ý nghĩa; bởi đó là sự tích lũy nhận thức, bước đệm quan trọng chuẩn bị cho bước nhảy vọt tất yếu trong tiến trình phát triển của đường lối cách mạng Việt Nam về sau.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2021, 08:11:49 pm »

2. Quan điểm đấu tranh vũ trang của Việt Nam Quốc dân Đảng (1927-1930)

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), cùng với quá trình đẩy mạnh khai thác thuộc địa, sự ra đời hệ thống thành thị kiểu phương Tây và nền giáo dục Pháp - Việt đã tạo nên những thay đổi về lối sống, tập quán của một bộ phận dân cư, chủ yếu là thị dân ở Việt Nam. Các tư tưởng mới càng có điều kiện xâm nhập trong các tầng lớp nhân dân, dẫn tới sự hình thành các nhóm chính trị và các tổ chức yêu nước. Việt Nam Quốc dân Đảng - tổ chức tiêu biểu nhất của khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản trong những năm 20 của thế kỷ XX ra đời trong bối cảnh đó. Trong quá trình tồn tại, mặc dù chưa đưa ra được một cương lĩnh chính trị nhất quán, rõ ràng, nhưng chủ trương làm cách mạng bằng vũ trang bạo động luôn được Việt Nam Quốc dân Đảng thực hiện với quyết tâm cao. Trên cơ sở phân tích bản chất của thực dân Pháp và qua kinh nghiệm hoạt động của mình, những người lãnh đạo Việt Nam Quốc dân Đảng đã rút ra kết luận rằng, đối với bè lũ thực dân thì không thể đấu tranh bằng con đường hòa bình mà phải dùng đấu tranh vũ trang để lật đổ ách thống trị của chúng. Trong những năm 1927-1929, Việt Nam Quốc dân Đảng đã tổ chức nhiều hoạt động vũ trang, để lại nhiều bài học thiết thực cho cách mạng Việt Nam.


a) Vài nét về sự ra đời của Việt Nam Quốc dân Đảng

Cuối năm 1926, nhóm Nam Đồng thư xã được chính thức thành lập ở Hà Nội. Sáng lập viên là các nhà giáo Phạm Tuấn Tài (Mộng Tiên), Hoàng Phạm Trân (Nhượng Tống) và Phạm Tuấn Lâm (Dật Công). Mục đích của Nam Đồng thư xã là xuất bản, biên soạn và phát hành các loại sách báo yêu nước, tiến bộ nhằm tuyên truyền, khích lệ tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc trong các tầng lớp nhân dân, nhất là tầng lớp thanh niên trí thức. Nam Đồng thư xã nhanh chóng trở thành đầu mối "tập hợp các ý chí rời rạc", nơi thu hút và tụ họp của một số trí thức thanh niên, sinh viên hồi đó, trong đó có Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Hồ Văn Mịch, Lê Văn Phúc, Lê Thành Vị, Nguyễn Thái Trác, Vũ Huy Trân, Nguyễn Hữu Đạt, Vũ Hiển, Phan Ngọc Trúc, Nguyễn Văn Lô, Trần Vĩ, Lưu Văn Phùng...


Khoảng giữa năm 1927, tại trụ sở Nam Đồng thư xã, Nguyễn Thái Học và nhóm Nam Đồng thư xã quyết định thành lập một đảng theo chủ nghĩa quốc gia cách mạng nhằm giành lại độc lập dân tộc mà hạt nhân là Đệ nhất chi bộ. Theo Phạm Tuấn Tài, lúc đầu Nguyễn Thái Học và nhóm dự định thành lập đảng vào ngày 26-8-1927 với lý do "thấy bọn thực dân không thể nào hợp tác được,... nên đã quyết định đi vào con đường cách mạng"1 (Nhượng Tống: Nguyễn Thái Học (1901-1930), (in lần thứ hai có bổ sung), Tân Việt, Hà Nội, 1949, tr.19). Nhưng giữa Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài và Nhượng Tống ban đầu cũng có những chủ trương khác nhau. Nhượng Tống muốn hòa bình phát triển cách mạng, đặt ra chương trình hành động trong sáu năm với các bước thực hiện: thành lập các đoàn thể hợp tác xã nhằm đoàn kết các tầng lớp dân chúng xã hội và tự sản xuất, tích lũy mọi thứ cần thiết để sinh họạt, sau đó yêu cầu người Pháp cho Việt Nam tự trị. Nếu không được tự trị thì nổi dậy bãi khoá, bãi công, bãi thị làm tê liệt mọi hoạt động kinh tế của chính quyền thực dân. Chương trình của Nhượng Tống bị Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm kiên quyết bác bỏ. Nguyễn Thái Học cho rằng: "Thực dân đem sắt và máu đô hộ Việt Nam, chúng ta không thể nào dùng lối khoanh tay đối phó với súng đạn được. Xem nhóm các nhà nho tay không có một tấc sắt mà có vô số những người bị chết chém, bị đày ra Côn Đảo. Ngày nay còn chủ trương hòa bình cách mạng là đi vào vết xe cũ rất uổng công vô ích mà thôi"1 (Bạch Diện: Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc dân Đảng, tư liệu của thư viện viện Sử học, ký hiệu V.1018). Từ phân tích đó, Nguyễn Thái Học chủ trương "phải dùng sắt và máu", tiến hành cách mạng theo phương thức khởi nghĩa vũ trang để giành độc lập dân tộc. Chủ trương này được đa số tán thành. Cuối cùng, cả nhóm đi đến quyết định thành lập một đảng bí mật theo đường lối vũ trang bạo động và tổ chức ra Đệ nhất chi bộ tại Hà Nội.


Sau khi ra đời, Đệ nhất chi bộ tích cực bắt mối liên lạc và phát triển mối quan hệ với các nhóm, cá nhân yêu nước ở các địa phương; tăng cương xúc tiến hoạt động tập hợp lực lượng, chuẩn bị các điều kiện, tiến tới thành lập một đảng chính trị. Trong thời gian này, Đệ nhất chi bộ có mối liên hệ chặt chẽ với các nhóm Việt Nam Dân quốc của Nguyễn Khắc Nhu (Xứ Nhu) ở phủ Lạng Thương, nhóm Nguyễn Thế Nghiệp ở Bắc Ninh, nhóm Hoàng Văn Đào và Hoàng Văn Tùng ở Thanh Hóa. Trên thực tế, giữa Đệ nhất chi bộ và nhóm Việt Nam Dân quốc đã có kế hoạch phối hợp hành động đánh chiếm Đáp Cầu, Bắc Ninh và Phả Lại do Việt Nam Dân quốc phát động tháng 11-1927. Tuy kế hoạch bị vỡ do sơ suất trong quá trình chuẩn bị, nhưng từ sau sự kiện này, quan hệ giữa Đệ nhất chi bộ với Việt Nam Dân quốc càng chặt chẽ hơn, tạo điều kiện để sau này hợp nhất về mặt tổ chức giữa Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Dân quốc. Cùng với nỗ lực tập hợp lực lượng và qua nhiều lần bàn bạc, tất cả thành viên trong Đệ nhất chi bộ đều nhất trí học tập kinh nghiệm và mô hình tổ chức của Trung Hoa Quốc dân Đảng do Phạm Tuấn Lâm tiếp thu từ Hứa Gia Ngũ, một đảng viên của Quốc dân Đảng Trung Quốc.


Sau những nỗ lực vận động, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức, vào đêm 24 rạng ngày 25-12-1927, Hội nghị thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học làm chủ tọa đã nhóm họp tại làng Thể Giao (Hà Nội), nhưng do có động nên cuộc họp được chuyển về trụ sở Nam Đồng thư xã. Tham gia hội nghị, ngoài những người trong Đệ nhất chi bộ còn có các đại biểu của các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Kiến An, Hà Nam, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Tuyên Quang, Thanh Hóa. Hội nghị thảo luận và đi đến thống nhất thành lập một đảng cách mạng bí mật với tên gọi là Việt Nam Quốc dân Đảng. Hội nghị nhất trí thông qua Điều lệ và Chương trình hành động của Đảng. Bản Điều lệ quy định tôn chỉ, mục đích, hệ thống tổ chức của Đảng; điều kiện kết nạp đảng viên cũng như nguyên tắc tổ chức đảng theo lối dân chủ. Ngoài ra, Điều lệ còn quy định cách thức tổ chức và chức năng của các cơ quan tổng bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ và chi bộ, xác định rõ thời gian của một nhiệm kỳ là 6 tháng... Hội nghị bầu ra Tổng bộ lâm thời gồm 15 ủy viên phụ trách 7 ban. Nguyễn Thái Học được bầu làm Chủ tịch Đảng, Nguyễn Thế Nghiệp làm Phó Chủ tịch Đảng, về phương hướng phát triển tổ chức đảng, hội nghị nhấn mạnh phải xây dựng bằng được cơ sở đảng trong binh lính.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2021, 08:13:01 pm »

b) Chủ trương làm cách mạng bằng bạo động vũ trang của Việt Nam Quốc dân Đảng

Trong những năm 1925-1926, trước việc Toàn quyền Đông Dương Varen (A. Varenne) hứa hẹn sẽ cải cách nhằm xoa dịu phong trào của quần chúng, Nguyễn Thái Học - người sáng lập tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng cũng từng có tư tưởng đấu tranh hòa bình bằng việc gửi thư, viết báo trình bày Chương trình cải cách xã hội toàn diện của mình cho Toàn quyền Đông Dương. Cho đến đầu năm 1927, ông còn đề nghị Thống sứ Bắc Kỳ cho xuất bản tờ báo lấy tên là Nam Thanh để cổ súy, bênh vực cho nền công nghiệp bản xứ. Nhưng mọi nỗ lực của ông đều không được chấp nhận. Từ đó, ông đi đến kết luận: không thể cộng tác với người Pháp mà chỉ có dùng bạo lực đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước.


Ngày 25-12-1927, Việt Nam Quốc dân Đảng chính thức thành lập, đánh dấu bước phát triển đến đỉnh cao của phong trào dân tộc tư sản. Theo hai yếu nhân của Đảng là Phạm Tuấn Tài và Trần Huy Liệu thì tôn chỉ, mục đích đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng là "trước làm dân tộc cách mạng, sau làm thế giới cách mạng"1 (Trần Huy Liệu, Văn Tạo, Nguyễn Khắc Đạm: Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, Sđd, t.I, tr.81, 105) về mục đích, Đảng nêu rõ phải đánh đổ thực dân Pháp và nền quân chủ chuyên chế, lập nước Việt Nam dân quốc cộng hòa, nhân dân được hưởng các quyền tự do ngôn luận, đi lại, hội họp, tự do tín ngưỡng.


Cuối năm 1928, vì thấy điều lệ đầu tiên quá sơ sài, theo đề nghị của Nguyễn Khắc Nhu, Việt Nam Quốc dân Đảng soạn thảo điều lệ thứ hai, nêu chủ nghĩa của Đảng là xã hội dân chủ. Mục đích của Đảng là tập hợp lực lượng thực hiện các mục tiêu: "Đẩy mạnh cách mạng dân tộc; xây dựng nền dân chủ trực tiếp; giúp đỡ các dân tộc bị áp bức"2 (Trần Huy Liệu, Văn Tạo, Nguyễn Khắc Đạm: Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, Sđd, t.I, tr.81, 105). Việt Nam Quốc dân Đảng chủ trương thực hiện đường lối bạo lực đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập dân tộc và xây dựng chế độ cộng hoà; sau đó giúp đỡ các nước thuộc địa đứng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc.


Tiếp đó, trong Điều lệ sửa đổi công bố tháng 2-1929, Việt Nam Quốc dân Đảng lại thay bằng ba nguyên tắc tư tưởng Cách mạng Pháp năm 1789: "Tự do - Bình đẳng - Bác ái". Mục đích của Đảng là tiến hành "cách mạng dân tộc, cách mạng chính trị và cách mạng xã hội''3 (Trần Huy Liệu, Văn Tạo, Nguyễn Khắc Đạm: Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, Sđd, t.I, tr.81, 105). Cho đến "đêm trước" của cuộc bạo động Yên Bái, Việt Nam Quốc dân Đảng vẫn muốn thay đổi lại cương lĩnh, tôn chỉ của Đảng. Nhưng vì thời gian quá gấp, nên họ đã "bưng" toàn bộ chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn làm tôn chỉ, mục đích của mình, song những chính sách có tính cách mạng như "bình quân địa quyền" và chính sách "liên Nga, liên Cộng, phù trợ công nông" lại bị loại bỏ.


Trong Bản tuyên án tử hình Toàn quyền Pasquier đầu năm 1930, Việt Nam Quốc dân Đảng nói đến cuộc cách mạng vô sản Nga, cách mạng dân tộc ở Trung Hoa và tuyên bố vì nhân dân Việt Nam bị bọn đế quốc, tư sản áp bức, bóc lột nặng nề về mọi mặt nên phải vùng lên làm cách mạng. Bản tuyên án đó còn định rõ đường lối chiến lược và sách lược cách mạng của Việt Nam Quốc dân Đảng: Hiện nay đang diễn ra trong nước ta hai dòng thác cách mạng: 1) Cách mạng dân tộc; 2) Cách mạng dân chủ. Việt Nam Quốc dân Đảng là đội tiên phong của cách mạng dân tộc... Hiện nay, Đảng ta đề ra sách lược kép: 1) Sách lược tích cực; 2) Sách lược tiêu cực. Sách lược tích cực là tuyên truyền trong quần chúng, sách lược tiêu cực là khủng bố và ám sát. Theo sách lược tiêu cực này, Đảng ta sẽ thực hiện ám sát lần lượt:
   Các nhân vật quan trọng nhất của chính phủ đế quốc tư bản.
   Những tên mật thám tài giỏi nhất.
   Các viên quan lại cản trở sự nghiệp cách mạng.
   Các đảng viên phản bội.
   Nhằm để giảm dần dần sức mạnh của bọn đế quốc1 (Dẫn theo Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam 1919-1930, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007, t.VIII).


Mặc dù chưa đưa ra được một cương lĩnh chính trị nhất quán, nhưng chủ trương làm cách mạng bằng vũ trang bạo động luôn được Việt Nam Quốc dân Đảng khẳng định. Tuy nhiên, do tầm nhìn hạn chế, chủ trương bạo động của Việt Nam Quốc dân Đảng không được thực hiện bằng một đường lối cách mạng khoa học mà chủ yếu "là hành động theo những gì mà họ có thể suy nghĩ được với cái vốn quá nghèo nàn về tri thức cách mạng"1 (Xem: Khởi nghĩa Yên Bái tháng 2-1930 - một số vấn đề lịch sử, kỷ yếu hội thảo, Yên Bái, 1997). Nếu như trước đây, Phan Bội Châu đề ra chủ trương ám sát cá nhân nhằm mục đích chủ yếu là tuyên truyền, làm thức tỉnh lòng người, hâm nóng nhiệt tình cứu nước của nhân dân, thì Việt Nam Quốc dân Đảng lại đưa ám sát cá nhân thành phương châm đấu tranh của đảng. Họ thành lập một Ban Ám sát bên cạnh Trung ương Đảng, tiến hành ám sát cá nhân ngay cả khi chưa phải là tình thế trực tiếp cách mạng. Điều đó đã tạo cơ hội cho kẻ thù khủng bố đoàn thể cách mạng, khủng bố quần chúng. Nguồn gốc của việc lấy ám sát cá nhân làm phương châm hoạt động là do Việt Nam Quốc dân Đảng không nhận thấy sức mạnh của quần chúng nhân dân. Họ cho rằng, muốn đánh đổ kẻ thù bằng bạo lực thì trước hết phải có súng đạn, có luyện tập, những thứ đó đã có sẵn ở binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp. Cho nên, Việt Nam Quốc dân Đảng rất quan tâm đến việc binh vận và chế tạo bom mà không đặt lên hàng đầu vấn đề tổ chức quần chúng, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân vào mặt trận chống thực dân.


Về các bước chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang. Trong Chương trình hoạt động đầu tiên (1927), Việt Nam Quốc dân Đảng đã chỉ ra những điều kiện khởi nghĩa và chia quá trình cách mạng thực hiện theo ba bước, qua ba thời kỳ phát triển từ thấp đến cao: 1) Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ phôi thai hay thời kỳ bí mật, tiến hành phát triển đảng viên, xây dựng cơ sở chính trị; 2) Thời kỳ thứ hai là dự bị bán công khai, chú trọng xây dựng lực lượng, phát triển các đoàn thể quần chúng (binh đoàn, nông đoàn, công đoàn...), đồng thời lập ra báo chí để cổ súy chấn hưng dân khí, tích cực chuẩn bị đội ngũ cán bộ và các phương tiện vật chất để bước vào thời kỳ khởi nghĩa; 3) Thời kỳ thứ ba là thời kỳ khởi nghĩa hay công khai. Trong thời kỳ này, dựa trên các lực lượng đã được chuẩn bị, Việt Nam Quốc dân Đảng sẽ thành lập những đoàn quân cảm tử phối hợp với các anh em binh lính Việt Nam yêu nước trong quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của các cán bộ quân sự được đào tạo ở nước ngoài nổi dậy ở các thành thị để giành thắng lợi.


Trong Chương trình hành động cuối cùng của Việt Nam Quốc dân Đảng (1929), đảng chủ trương cách mạng bốn thời kỳ, trong đó xác định cụ thể hơn những công việc chuẩn bị và hình thức tiến hành khởi nghĩa: 1) Thời kỳ phôi thai, đảng sẽ bí mật tập hợp lực lượng nhân dân trong các đoàn thể quân sự, học sinh, vô sản và nông dân; 2) Thời kỳ dự bị, bí mật chuẩn bị lương thực, vũ khí, quân trang và vật chất cần thiết; chuẩn bị các đơn vị tác chiến, tổ chức đội quân nòng cốt; chiếm các địa điểm quan trọng; điều tra lực lượng binh lính Pháp, nơi chứa vũ khí, bom, quân dụng, máy bay, tàu chiến, đại bác...; 3) Thời kỳ công khai, tuyên bố bất hợp tác với Chính phủ Pháp và triều đình nhà Nguyễn; vận động tổ chức bãi khóa, bãi công, không nộp thuế, tiến lên đánh đuổi giặc Pháp và triều đình phong kiến, thiết lập dân quyền; 4) Thời kỳ kiến thiết, tiến hành thành lập chính phủ cộng hòa, nâng cao dân trí, thực hiện tự do dân chủ.


Với bản chương trình này, quan điểm khởi nghĩa vũ trang của Việt Nam Quốc dân Đảng đã được bổ sung, hoàn chỉnh hơn. Tuy nhiên trên thực tế, Việt Nam Quốc dân Đảng không tuân thủ theo các bước: xây dựng lực lượng, chuẩn bị khởi nghĩa, tiến hành khởi nghĩa như họ đã vạch ra. Khi quyết định khởi nghĩa Yên Bái, Việt Nam Quốc dân Đảng vẫn chưa vượt qua thời kỳ thứ nhất (tập hợp, xây dựng lực lượng). Nguyên nhân trực tiếp làm bùng nổ khởi nghĩa Yên Bái là sự khủng bố đàn áp của thực dân Pháp sau vụ ám sát Bazin (tháng 2-1929), chứ không phải nổ ra trong tình thế những điều kiện cơ bản cần thiết của một cuộc khởi nghĩa đã được chuẩn bị. Đứng trước nguy cơ bị kẻ thù đàn áp, tiêu diệt hoàn toàn, các lãnh tụ của Đảng đã bất chấp gian khổ, hy sinh, kiên quyết giữ vững đường lối bạo động vũ trang, phát động cuộc khởi nghĩa Yên Bái với khẩu hiệu "Không thành công cũng thành nhân".
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2021, 08:13:55 pm »

c) Về chủ trương tập hợp, xây dựng lực lượng chống thực dân Pháp

Trong các bản chương trình, điều lệ được soạn thảo năm 1927, Việt Nam Quốc dân Đảng đều xác định rõ: thời kỳ đầu là tiến hành phát triển đảng viên, xây dựng cơ sở chính trị; thời kỳ thứ hai, chú trọng xây dựng lực lượng, phát triển các đoàn thể quần chúng (binh đoàn, nông đoàn, công đoàn...), đồng thời lập ra báo chí để cổ súy, chấn hưng dân khí, tích cực chuẩn bị đội ngũ cán bộ và các phương tiện vật chất để bước vào thời kỳ khởi nghĩa. Thực hiện chủ trương này, trong gần hai năm tồn tại, Việt Nam Quốc dân Đảng đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng lực lượng yêu nước ở các địa phương.


Sau khi ra đời, Việt Nam Quốc dân Đảng đã thu hút, tập hợp được nhiều nhóm có cùng tư tưởng ở một số địa phương. Trong đó đáng chú ý là sự kiện sáp nhập toàn bộ phái Việt Nam Dân quốc ở Bắc Ninh vào Việt Nam Quốc dân Đảng tháng 2-1928. Với sự tham gia của Nguyễn Khắc Nhu và bộ phận lãnh đạo của đảng này, "chủ trương võ trang cách mạng được thắng thế trong Việt Nam Quốc dân Đảng để rồi trở thành hiện thực trong các cuộc khởi nghĩa võ trang đầu năm 1930"1 (Khởi nghĩa Yên Bái tháng 2-1930 - một số vấn đề lịch sử, Tlđd, tr.135). Tiếp đó, các nhóm của Nguyễn Thế Nghiệp (Bắc Ninh), Hoàng Văn Tùng và Hoàng Văn Đào (Thanh Hóa) cũng lần lượt gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng. Từ giữa năm 1928, nhận thức được yêu cầu phải đoàn kết, thống nhất các lực lượng giải phóng dân tộc, Việt Nam Quốc dân Đảng đã có nhiều cố gắng trong việc tìm cách hợp nhất với các đảng phái cách mạng trong và ngoài nước như Tân Việt Cách mạng Đảng, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên... Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, những nỗ lực của Việt Nam Quốc dân Đảng đều không có kết quả.


Cùng với chú trọng hợp nhất các nhóm yêu nước, từ đầu năm 1928, Việt Nam Quốc dân Đảng bắt đầu tiến hành xây dựng hệ thống tổ chức cơ sở ở các tỉnh nhằm phát triển lực lượng, tiến tới khởi nghĩa vũ trang trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, trên thực tế, Việt Nam Quốc dân Đảng chỉ phát triển được cơ sở mạnh ở Bắc Kỳ gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Sơn Tây, Tuyên Quang, Hòa Bình... Tính đến tháng 2-1929, riêng ở Bắc Kỳ, Việt Nam Quốc dân Đảng đã xây dựng được 120 chi bộ với số lượng 1.500 đảng viên, ở Trung Kỳ, do vấp phải sự lấn át của các tổ chức cơ sở đảng khá mạnh từ trước của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tân Việt Cách mạng Đảng nên Việt Nam Quốc dân Đảng không thể phát triển được lực lượng; ngoài một chi bộ ở Thanh Hóa, Việt Nam Quốc dân Đảng chỉ có một số đảng viên rải rác tại các tỉnh Đà Nẵng, Phan Rang, Phan Thiết... Ở Nam Kỳ, việc gây dựng lực lượng do phái viên Nguyễn Ngọc Sơn (lúc này giữ chức vụ Trưởng ủy ban Ngoại giao của Đảng) đảm trách. Sau khi sang Xiêm để tuyên truyền gây dựng cơ sở đảng không thành công, cuối năm 1928, Nguyễn Ngọc Sơn quay lại Sài Gòn và tổ chức tại đây một chi bộ Việt Nam Quốc dân Đảng. Ngoài ra, Nguyễn Ngọc Sơn còn xây dựng được 12 chi bộ ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ, 10 chi bộ ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Cùng thời gian này, Phó Đức Chính (lúc đó là Trưởng ban Tổ chức Tổng bộ) được bổ làm Tham tá công chính ở tỉnh Xavẳnnakhẹt (Lào). Nhân dịp này, ông cũng đã tuyên truyền và xây dựng được một số chi bộ ở Lào.


Về thành phần tham gia cách mạng, trong các bản chương trình, điều lệ được soạn thảo vào các năm 1928, 1929, Việt Nam Quốc dân Đảng xác định phương châm cơ bản là đoàn kết các lực lượng cả nam và nữ, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, lứa tuổi để tranh đấu thực hiện tôn chỉ mục đích của Đảng. Tuy nhiên, giữa lý luận và thực tiễn không có sự thống nhất. Lực lượng tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng phần đông là trí thức tiểu tư sản, sinh viên, học sinh, công chức, người làm nghề tự do; một số tư bản thành thị, các thân hào, địa chủ, phú nông, quan lại "bản xứ" vả binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp... trong đó, bộ phận trí thức tiểu tư sản, sinh viên, viên chức vừa là lực lượng nòng cốt, vừa đóng vai trò lãnh đạo. Vì thế, Đảng đặc biệt quan tâm tập hợp và phát triển lực lượng đảng viên trong nhóm xã hội này.


Riêng về mặt thu nhận phụ nữ, lúc đầu, Việt Nam Quốc dân Đảng không có chủ trương kết nạp đảng viên nữ mà chỉ chấp nhận họ vào các đoàn thể phụ nũ. Phải đến khi có sự tham gia của bộ phận Xứ Nhu, trong Đảng mới có phụ nữ. Điều này đã thể hiện tính chất tiến bộ trong việc đánh giá vai trò, vị trí phụ nữ đối với phong trào cách mạng. Trên thực tế, hơn hai năm tồn tại của Việt Nam Quốc dân Đảng, các nữ đảng viên đã góp phần quan trọng trong công tác binh vận, thông tin liên lạc, phát truyền đơn và nhiều hoạt động khác của Đảng.


Còn đối với giai cấp công nhân và nông dân, sau vụ ám sát Bazin (tháng 2-1929), trong một cuộc họp Tổng bộ, các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng mới đề xướng chủ trương phát triển đảng vào hai thành phần này. Đảng còn có một chương trình thành lập hệ thống tổ chức quần chúng của Đảng dưới hình thức các đoàn như Đoàn phụ nữ, Đoàn công nhân, Đoàn nông dân, Đoàn học sinh và các binh đoàn trong quân đội. Mục đích thành lập các đoàn là để hướng dẫn quần chúng trở thành người hoàn toàn cách mạng, khi cần thiết sẽ tổ chức họ thành các đội chiến đấu.


Đặc biệt, trong quá trình xây dựng và phát triển tổ chức, Việt Nam Quốc dân Đảng rất chú trọng tuyên truyền, thu phục giới binh sĩ Việt Nam trong quân đội Pháp. Nhiều cơ sở và đầu mối hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng đã được xây dựng trong các đơn vị quân đội Pháp ở Bắc Ninh, Phả Lại, Sơn Tây, Hải Phòng... Cho đến cuối năm 1928, ở Bắc Kỳ, Việt Nam Quốc dân Đảng đã kết nạp được khoảng 400 đảng viên là binh lính Việt Nam; tại Nam Kỳ là 256 người. Đây chính là chỗ dựa và là lực lượng nòng cốt để Việt Nam Quốc dân Đảng tiến hành cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Yên Bái và các địa phương khác vào đầu tháng 2-1930. Việc phát triển lực lượng binh sĩ Việt Nam yêu nước là "nét độc đáo của Việt Nam Quốc dân Đảng nhằm khai thác đến mức tối đa các điều kiện sẵn có để đánh địch, tạo ra yếu tố bất ngờ và bất lợi cho kẻ địch. Đường lối đó là sự tiếp nối tư tưởng của cha ông ta "lấy gậy ông đập lưng ông" và là sự tiếp nối truyền thống binh vận của dân tộc qua các phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX, cuộc binh biến ở Hà Nội vào năm 1908 và khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917"1 (Nguyễn Văn Khánh: Việt Nam Quốc dân Đảng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005, tr.94).


Về công tác tuyên truyền, huấn luyện cách mạng, trong cơ cấu tổ chức của Việt Nam Quốc dân Đảng từ cấp tổng bộ cho tới chi bộ đều có một bộ phận gọi là Ban Tuyên truyền. Ngoài ra, ở cấp tổng bộ còn có một ủy viên quân sự (thuộc Ban Chấp hành) phụ trách công tác quân sự nhằm nghiên cứu các vấn đề quân sự của Đảng; tổ chức huấn luyện quân sự cho đảng viên và các đoàn thể. Tuy nhiên, trong suốt thời gian tồn tại, công tác tuyên truyền, huấn luyện không được Việt Nam Quốc dân Đảng chú trọng. Cơ quan tổng bộ của Đảng chưa bao giờ tiến hành mở các đợt học tập đường lối, cương lĩnh chính trị hay huấn luyện quân sự... cho đảng viên, ở một vài nơi, Việt Nam Quốc dân Đảng có tiến hành công tác tuyên truyền, huấn luyện cho đảng viên, nhưng đó chỉ là việc làm mang tính chất cục bộ địa phương.


Như vậy, trong gần hai năm tồn tại, Việt Nam Quốc dân Đảng đã có nhiều cố gắng trong hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng, phát triển lực lượng. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tam dân không chủ trương đấu tranh giai cấp; mặt khác, lại bị chi phối bởi cuộc đấu tranh tư tưởng diễn ra gay gắt giữa Việt Nam Quốc dân Đảng với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhằm đi tới xác định vị trí, vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam, nên đường lối xây dựng lực lượng và khối đoàn kết dân tộc của Việt Nam Quốc dân Đảng thiếu khách quan và không hợp lý. Thêm nữa, do thành phần phức tạp và tổ chức lỏng lẻo nên Việt Nam Quốc dân Đảng không có khả năng thu phục quần chúng và không xây dựng được cơ sở rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2021, 08:15:05 pm »

d) Khởi nghĩa Yên Bái (2-1930) - nỗ lực cuối cùng của Việt Nam Quốc dân Đảng

Đứng trên lập trường tư sản, Việt Nam Quốc dân Đảng không nhìn thấy sức mạnh của đông đảo nhân dân Việt Nam mà đi tìm sức mạnh trong từng cá nhân, đề cao chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Nhiều hành động bạo lực diễn ra nhưng không phải là hành động bạo lực của quần chúng mà chủ yếu là các vụ tống tiền, ám sát cá nhân. Tháng 2-1929, Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức ám sát Bazin tại phố Huế (Hà Nội). Sau sự kiện này, thực dân Pháp ra sức khủng bố, bắt hầu hết các đảng viên từ trung ương đến địa phương, hàng loạt cơ sở của Việt Nam Quốc dân Đảng bị vỡ. Hai lãnh tụ của Đảng là Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu và một số cán bộ khác đang đi khảo sát tình hình địa phương nên thoát nạn.


Trước tình hình đó, Nguyễn Thái Học đã triệu tập hội nghị Tổng bộ khẩn cấp để bàn phương hướng hoạt động của Đảng trong hoàn cảnh mới. Phân tích tình hình của Đảng, ông khẳng định: "Theo hoàn cảnh hiện tại, Đảng chúng ta phải lãnh đạo nhân dân làm cuộc khởi nghĩa gấp mới được. Nếu để chậm lại theo chương trình Đảng đã dự liệu thì chắc chắn chúng ta sẽ bị thực dân bắt hết, chết dần chết mòn trong tù và Đảng chúng ta sẽ tan"1 (Hoàng Văn Đào: Việt Nam Quốc dân Đảng (lịch sử đấu tranh cận đại 1927-1954), Nxb. Giang Đông, Sài Gòn, 1965, tr.62-63). Các yếu nhân của Đảng như Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính đều nhất trí chủ trương khởi nghĩa vũ trang trong năm 1929.


Để thống nhất phương hướng và kế hoạch khởi nghĩa, ngày 17-9-1929, Nguyễn Thái Học quyết định triệu tập Hội nghị đại biểu toàn quốc của Việt Nam Quốc dân Đảng tại Lạc Đạo (Hưng Yên). Trong hội nghị này xuất hiện hai phái: Phái cải tổ do Lê Hữu Cảnh đứng đầu, chủ trương tiến hành theo chương trình ba thời kỳ của Đảng và đặt ra nhiệm vụ của Đảng lúc này là bảo toàn lực lượng, nối lại những đường dây liên lạc đã đứt, tiến hành một cuộc cải tổ Đảng. Phái khởi nghĩa do Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu đứng đầu chiếm ưu thế trong hội nghị, chủ trương phải bạo động ngay để cứu sự tan vỡ của Đảng. Cuối cùng, chủ trương khởi nghĩa vũ trang được hội nghị thông qua.


Tiếp theo hội nghị ở Lạc Đạo, Việt Nam Quốc dân Đảng còn tổ chức một cuộc hội nghị nữa ở Đức Hiệp (Thuận Thành, Bắc Ninh) đế bàn kế hoạch khởi nghĩa. Hội nghị đề ra một bản "Tổng công kích kế hoạch" gồm các điểm chính:

1) Đảng chỉ huy một cuộc tổng bạo động, cùng một lúc đánh vào những đô thị lớn và những nơi yếu điểm quân sự của giặc Pháp.

2) Vũ khí giết giặc phần chính nhằm vào những vũ khí cướp được của địch và bom, dao do mình chế tạo lấy.

3) Lực lượng chính trong cuộc bạo động là những binh lính trong hàng ngũ Pháp. Lực lượng phụ là những đảng viên ở ngoài.

4) Quân kỳ dùng trong cuộc khởi nghĩa có hai sắc: nửa đỏ nửa vàng.


Quân trang: Nghĩa quân mặc quần áo dạ vàng, đội mũ hình lưỡi trai, đi giày cao su, đeo băng vàng ở cánh tay phải đề chữ "Việt Nam cách mạng quân".

Công tác cấp thiết phải làm ngay là mở cuộc tuyên truyền rộng rãi những người nằm trong những hàng ngũ binh lính Pháp và lập những cơ quan chế bom1 (Xem Trần Huy Liệu, Văn Tạo, Nguyễn Khắc Đạm: Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, Sđd, t.V, tr.56).


Thực hiện chủ trương khởi nghĩa, công tác chuẩn bị được triển khai và đẩy mạnh ở các địa phương. Sau vụ ám sát Bazin, Việt Nam Quốc dân Đảng đã cử ba nữ đảng viên Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Thị Bắc và Đỗ Thị Tâm lên Yên Bái móc nối, thâm nhập vào trại lính khố đỏ, lập được một chi bộ Việt Nam Quốc dân Đảng với số lượng khoảng 5-6 đảng viên (gồm Quản Cầm, Đội Trịnh, Cai Hoàng, Cai Thuyết...) và vài chục đoàn viên cảm tình, tổ chức thành binh đoàn Yên Bái. Ở các tỉnh Phú Thọ, Sơn Tây, Hải Dương, Hải Phòng... hệ thống tổ chức cơ sở đảng có bước phục hồi và hoạt động khá tích cực. Đến tháng 9-1929, các xưởng chế bom được lập ra tại các tỉnh Bắc Ninh, Phú Thọ, Hải Dương đã sản xuất được hàng ngàn quả bom xi măng. Ngoài ra, Việt Nam Quốc dân Đảng còn tổ chức rèn dao, kiếm, mã tấu và đưa đi cất giấu ở những nơi kín đáo chờ ngày khởi sự. Các cơ sở may cờ, quân phục và in truyền đơn cũng làm việc liên tục suốt ngày đêm.


Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị, trong Đảng lại xảy ra nhiều biến cố do sự phản bội của một số đảng viên nắm giữ những vị trí chủ chối trong việc thực hiện kế hoạch khởi nghĩa như Phạm Thành Dương, Bùi Tiến Mai, Nguyễn Văn Kinh, Nguyễn Văn Ngọc... Những kẻ phản bội đã chỉ điểm cho thực dân Pháp triệt phá thêm hàng loạt cơ sở của Đảng và bắt một số đảng viên quan trọng của Đảng. Biến cố đó đã gây tổn thất nặng nề cho Đảng và làm ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện kế hoạch khởi nghĩa.


Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, ngày 26-1-1930, Nguyễn Thái Học triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tại làng Mỹ Xá (Nam Sách, Hải Dương) để triển khai cụ thể kế hoạch khởi nghĩa, dù chưa có sự chuẩn bị chu đáo. Tại hội nghị, Nguyễn Thái Học nhận định: "Chúng ta làm cách mạng bằng sắt, bằng máu, bao giờ cũng phải lấy lực lượng quân đội làm phần chủ lực. Nay Phạm Thành Dương đã tạo phản, phần chủ lực ấy đã bị sứt mẻ rồi. Phần khác, số khí giới dự trữ được cũng đã bị địch khám phá được rất nhiều. Nếu chúng ta không hành động ngay, thì tất số võ trang đồng chí và số vũ khí còn lại cũng sẽ bị địch làm tan vỡ hết"1 (Hoàng Văn Đào: Việt Nam Quốc dân Đảng (lịch sử đấu tranh cận đại 1927-1954), Sđd, tr.90, 91). Từ nhận định đó, Nguyễn Thái Học khẳng định phải khởi nghĩa ngay, nếu "không thành công thì cũng thành nhân"2 (Hoàng Văn Đào: Việt Nam Quốc dân Đảng (lịch sử đấu tranh cận đại 1927-1954), Sđd, tr.90, 91).


Căn cứ vào thực lực, hội nghị phân công: khu vực Yên Bái do Nguyễn Văn Khôi chỉ huy; khu vực Sơn Tây do Phó Đức Chính chỉ huy; khu vực Hưng Hóa, Lâm Thao do Nguyễn Khắc Nhu phụ trách; khu Phả Lại, Hải Dương do Nguyễn Thái Học phụ trách, Nguyễn Văn Tuyên và Phạm Bá Phổ làm phụ tá chỉ huy; khu vực Hải Phòng, Kiến An do Vũ Văn Giản (tức Vũ Hồng Khanh) phụ trách; khu Hà Nội do Đoàn Trần Nghiệp (tức Ký Con) phụ trách.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM