Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Mười, 2021, 08:11:35 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946  (Đọc 1621 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3818



WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2021, 07:13:53 am »

GHI NHỚ VỀ BỘ ĐỘI NAM TIẾN


NGUYỄN CHÍNH (Du Phong)


Sáng sớm ngày 24 tháng 9 năm 1945, anh Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng cho gọi tôi (lúc đó là trưởng phòng bí thư) lên gặp có việc đột xuất.

Anh nói đại ý, ngày hôm qua (23-9) bọn Pháp đã đánh Sài Gòn. Theo chỉ thị của Bác Hồ và anh Văn (đồng chí Võ Nguyên Giáp), Bộ Tổng tham mưu cần đưa ngay lực lượng và điều cán bộ vào chi viện cho Nam Bộ.


Anh nói tiếp, ngay đêm qua đã điện vào Chiến khu 5, Chiến khu 6 đưa lực lượng chi viện vào Nam Bộ. Ngoài Bắc, nhất là Hà Nội đang trong cảnh "nghìn cân treo sợi tóc", "thù trong giặc ngoài”, vẫn phải đưa gấp mọi thứ vào chi viện cho Nam Bộ.


Anh Hoàng Văn Thái giao nhiệm vụ: Du Phong mời ngay các anh Nam Long, Vi Dân, Hữu Thành, Thu Sơn, Quang Trung... là những người đã được anh Văn báo cáo lên Bác, được Bác duyệt, về Bộ nhận nhiệm vụ vào Nam Bộ chiến đấu.

Tôi sang văn phòng viết giấy triệu tập, đóng dấu "hỏa tốc" đưa anh em đội liên lạc đặc biệt dùng xe ô tô (xe Jeép) đến từng người.

Dù đã có điện, có công văn cho các chi đội, các tỉnh, các trường quân chính về kế hoạch tác chiến, về việc chọn cử cán bộ vào Nam Bộ chiến đấu, nhưng để được khẩn trương hơn nữa, anh Hoàng Văn Thái trực tiếp xuống Nam Định kiểm tra, giao cho cơ quan quân sự tỉnh Nam Định nhiệm vụ thường trực đón tiếp bộ đội Nam tiến. Anh đến ngôi chùa có sân rộng cạnh ga Nam Định là nơi tập kết các đơn vị trước khi lên tàu vào Nam. Anh xuống Thái Bình giao thêm nhiệm vụ đào tạo cấp tốc cán bộ tiểu đội trưởng để bổ sung cho Nam Bộ. Rồi anh đi Kiến An, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn..., đôn đốc đơn vị Đông Triều, chi đội Bắc Bắc lên đường càng sớm càng tốt.


Tiếp đó, anh đi Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng. Tại Cao Bằng, tôi và anh Lê Tùng Sơn được dự lễ tiễn đưa trung đội do anh Hoàng Đình Giong chỉ huy. Lễ tiễn được tổ chức ở khu rừng trúc thuộc xã Trần Hưng Đạo, hầu hết đội viên là người các dân tộc Tày, Nùng. Đồng chí Lã, Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng đến nói chuyện. Nhân dân địa phương lưu luyến tiễn đưa anh em lên ô tô về Nam Định để lên tàu hỏa vào Nha Trang.


Xuống Thái Bình (lần thứ hai) anh Hoàng Văn Thái giao thêm nhiệm vụ cho tỉnh đăng cai nhận quân ở Hải Phòng, Kiến An sang, cùng với lực lượng của tỉnh xây dựng thành chi đội Hải Kiến Thái. Anh bàn với đồng chí Bắc, Tỉnh đội trưởng; đồng chí Nam, Chính trị viên Tỉnh đội về chọn cử cán bộ chỉ huy chi đội, kịp đưa cả chi đội sang Nam Định lên tàu Nam tiến.


Đúng vào thời điểm đó, anh Văn giao cho tôi vào làm chánh văn phòng giúp việc anh Nguyễn Sơn (anh Nguyễn Sơn vừa có quyết định làm chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam). Tôi đến gặp anh Nguyễn Sơn đang làm việc với anh Hoàng Văn Thái ở Bộ Tổng tham mưu (16 Nguyễn Du, Hà Nội).


Anh Hoàng Văn Thái ngoảnh sang anh Nguyễn Sơn ngồi cạnh, ân cần dặn tôi: Tôi và anh Sơn đã thống nhất giao cho Du Phong vào trong đó làm ba việc. Du Phong cần chuẩn bị tài liệu mang theo, để giúp anh Sơn làm việc:

Một là, giữ liên lạc thông suốt giữa Ủy ban kháng chiến miền Nam với Bộ Tổng tham mưu ở Hà Nội; tổ chức mạng lưới thông tin, có cả đội liên lạc đặc biệt để giữ được mạch máu thông tin giữa đơn vị đang tác chiến với Ủy ban kháng chiến miền Nam, cũng như với Hà Nội.

Hai là, do lực lượng chiến đấu tại chỗ và lực lượng chi viện ngày càng mở rộng mà cán bộ quá thiếu, trong ấy cũng như ngoài này quyết tâm thực hiện chỉ thị của Bác Hồ, vừa khẩn trương mở lớp bổ túc cán bộ ngắn hạn, vừa mở lớp tương đối quy mô dài hạn. Do đó cần có tài liệu huấn luyện, cần tổ chức mở lớp ngay mới có cán bộ. Có thể chuyển ra Hà Nội một số sau khi đào tạo, ngoài Hà Nội cũng chuyển vào, để trao đổi kinh nghiệm cho nhau.

Ba là, ngoài Hà Nội, Bộ sẽ cố gắng sớm chuyển vào trong đó một số vũ khí, quần áo, thuốc men, trong đó tổ chức tiếp nhận và chuyển đến các đơn vị đang chiến đấu kịp thời. Ngoài này cũng tận dụng đường thủy đưa đến Quy Nhơn. Anh Nguyễn Bá Phát đang tiếp nhận hàng bằng đường thủy đấy!

Còn các công việc khác anh Nguyễn Sơn sẽ giao.

Tôi gấp rút bàn giao công việc văn phòng Bộ Tổng tham mưu và văn phòng Bộ Quốc phòng cho anh Nguyễn Sĩ Là, đồng thời soạn một số tài liệu cần thiết mang theo. Tôi đến gặp anh Quang Đạm nhận các bộ luật mật mã, gặp anh Hoàng Đạo Thúy nhận tài liệu về tổ chức mạng lưới thông tin... Tôi còn sang Tổng hành dinh quân Tưởng ở Hà Nội lấy một bức công hàm, đề phòng dọc đường hành quân gặp quan quân Tưởng đang giải giáp quân Nhật ra ngăn chặn tàu hỏa gây khó khăn như đã xảy ra một số vụ ở ga Thanh Hóa và ga Đà Nẵng.


Khoảng 18 giờ một ngày cuối tháng 11 năm 1945, tôi lên xe con theo anh Hoàng Văn Thái xuống Nam Định để cùng anh em đi tàu Nam tiến như kế hoạch đã định. Công việc từ lúc được lệnh vào Nam đến lúc lên xe con đến Nam Định chưa đầy 24 giờ đồng hồ.


Khi đến khu tập kết Nam Định, các đơn vị được sắp xếp biên chế lại, bổ sang cán bộ. Tôi được bổ sung vào ban chỉ huy hành quân. Đoàn tàu Nam tiến lần này có cả toa chở vũ khí, quân trang, thuốc men, cả kiện quà tết bà con Hà Nội tặng anh em chiến đấu tại Nam Bộ.


Đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng đến thăm cán bộ nói chuyện với anh em đã tập hợp trước sân chùa. Tôi cũng được đứng trong hàng quân Nam tiến, được nghe đồng chí Tổng tham mưu trưởng động viên.


Anh Hoàng Văn Thái bắt nhịp cho cả đoàn quân hát bài hành khúc ca "Phất cờ Nam tiến" do anh sáng tác khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập. Có lần, anh kể, khi sáng tác bài hát này, anh đã mơ ước, một ngày nào đó, sẽ có đội quân hùng mạnh tiến về phía Nam. Hôm nay, mơ ước đã thành hiện thực. Đội quân ấy là các chi đội, các cán bộ, các chiến sĩ khí thế hùng dũng đang lên đường vào Nam. Bài hát có đoạn: "Cờ giải phóng phất cao, mau thẳng tiến, trời phương Nam dân chúng đang chờ ta!". Tiếng hát mỗi lúc một vang to, bay xa, hùng tráng "mau phất cờ lên tiến tới cho kịp thời cơ. Sông Cửu Long reo hò đang đón chờ. Dãy Trường Sơn chuyển mình giục quân ta mau tiến tới!". Bài hành khúc ca "Phất cờ Nam tiến" nhịp điệu hùng mạnh có sức cổ vũ lớn đối với cán bộ chiến sĩ hành quân Nam tiến.


Buổi tiễn đưa ở ga Nam Định rất cảm động. Không khí vui vẻ tin tưởng hẹn ngày chiến thẳng trở về. Đồng bào trên sân ga, cả anh chị em đường sắt đều hướng về đoàn quân Nam tiến, vỗ tay theo nhịp bài hát.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3818



WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2021, 07:14:48 am »

Anh Hoàng Văn Thái siết chặt tay tôi khi tôi bước lên tàu. Anh ân cần dặn như để tôi yên tâm: Du Phong cứ vào Nam công tác, chiến đấu, tôi sẽ đến gặp cụ, chị, cả Thục (em ruột tôi làm việc ở Bộ Tổng tham mưu)1 (Khi còn ở Thái Bình anh Hoàng Văn Thái cũng dạy học như tôi, từng chỉ đạo tôi đứng ra tổ chức Hội Ái hữu nhà giáo, sau là Hội Viên chức cứu quốc. Anh có biết bố tôi (ông Đồ Nho) và vợ tôi (hoạt động trong Phụ nữ cứu quốc Chợ Rã)).


Đoàn tàu xuôi vào Nam. Hai bên đường nhân dân tụ họp hoan hô bộ đội Nam tiến. Cờ đỏ sao vàng khắp nơi... Tôi suy nghĩ mung lung: Con ra đi vì Tổ quốc, không một lời từ biệt người bố thân yêu, chưa kịp thắp nén hương trước mộ người mẹ hiền vừa mất chưa tròn tháng; không một lời nhắn nhủ vợ con yêu quý vừa ở Chợ Rã về; không một lời nhắn lại với chú em ruột cùng ngủ chung một giường ở nhà số 10 + 12 Nguyễn Du, Hà Nội... rồi lại lan man nghĩ những việc anh Hoàng Văn Thái dặn, gặp bọn quan quân Tưởng ra ngăn chặn đoàn tàu Nam tiến thì ứng xử thế nào cho vẹn toàn; rồi những việc phải làm khi tới Ủy ban kháng chiến miền Nam, một chiến trường nóng bỏng, cần triển khai văn phòng thời chiến như thế nào cho thích hợp?...


Đến ga Thanh Hóa, nhân dân ra đón rất đông, cờ đỏ sao vàng cầm tay, tươi cười vẫy chào đoàn quân Nam tiến, nhiều người chạy vào ga reo hò "hoan hô" làm cho bọn quan quân Tưởng tay cầm súng mắt trơ trơ nhìn theo, không dám phản ứng gì.


Việc bảo đảm cho các đoàn quân Nam tiến được nhân dân các tỉnh chuẩn bị rất chu đáo và đón tiếp long trọng. Hội Phụ nữ cứu quốc các địa phương đứng ra vận động nhân dân quyên góp tiền bạc, lương thực và tổ chức các trạm đón tiếp, bảo đảm việc ăn ở tại ga. Bất cứ nửa đêm hay mờ sáng, dù ở ga nào, mỗi khi có đoàn tàu Nam tiến dừng lại, ở đó lại diễn ra những cuộc mít tinh đón tiếp và tiễn đưa bừng bừng khí thế chiến đấu.


Đoàn tàu đến Nghệ An rồi đến Huế. Thấy bà con ra đón, nhất là các em thiếu niên đánh trống ếch hát vang bài "Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi...." chúng tôi rất xúc động, tự hào là đoàn quân cách mạng vào Nam Bộ đánh đuổi quân cướp nước theo lệnh của Bác Hồ. Tàu vào đến Quảng Ngãi, nơi có phong trào du kích Ba Tơ, đến Bình Định quê hương của người anh hùng áo vải Quang Trung, những người ra đón, cả trai và gái, nhất là gái, ai cũng nai nịt gọn gàng, cắt tóc ngắn, tay cầm gậy, cầm đao. Khí thế cách mạng ở đây sôi sục, thật đáng khâm phục.


Ở trên đoàn tàu anh em chúng tôi được gặp gỡ thăm hỏi nhau, tình cảm thâm thiết như anh em một nhà. Tôi được gặp nhiều bạn bè cũ. Cùng viên chức cũ với nhau như anh Phi Hùng; cùng hoạt động trong Hội Ái hữu nhà giáo huyện Thái Ninh như anh Tô Văn Thiệu (có em ruột là Tô Đa Mạn, sau này là thiếu tướng); cùng tham gia Hội Thanh niên cứu quốc Thái Bình như anh Tô Hoàng Lân, Phan Thanh Lịch; cùng học với nhau ở Trường quân chính kháng Nhật như anh Triệu Đức Quang, Hồ Quang Đán... Tôi còn được gặp một số học trò cũ. Anh em xúm quanh chào: "Thưa cậu, thế là chúng em được đi cùng với cậu giáo vào Nam chiến đấu rồi!1 (Làng Thương Tầm (Thái Ninh, Thái Bình) lần đầu tiên mở trường hương sư, tôi làm thầy giáo còn rất trẻ, học trò hầu hết lớn tuổi (kém thầy giáo 6 đến 10 tuổi) nên được thân mật gọi là cậu giáo, học trò xưng là em với cậu giáo). Chúng em thích lắm! Chúng em được lên đường Nam tiến cho thỏa chí làm trai thời loạn!"... Các em còn "tố cáo" lẫn nhau: Cậu ạ, bạn này mới xấp xỉ 17 mà khai lên 18 mới được cử đi Nam đấy! Bạn này không chịu chờ ngày chiến thắng trở về lại cưới vợ ngay nên trong buổi tiễn đưa, bạn này với vợ bịn rịn, bốn mắt đỏ hoe, thế có phải là dại không hở cậu...


Tôi siết chặt tay các em để các em trở về toa của mình. Tôi ngẫm nghĩ, lời kêu gọi của Bác Hồ đã thấm đến từng làng quê, phố phường, thấm đến cả miền núi, miền xuôi... thanh niên trai tráng nô nức rủ nhau lên đường Nam tiến, không ai nhắc đến việc mọi gia đình đang vui lo cái tết độc lập đầu tiên dù vắng người thân đang hành quân vào mặt trận phía Nam. Số phận từng con người, từng mái nhà chưa bao giờ gắn bó máu thịt với số phận của dân tộc như lúc này...


Gần đến ga, anh em trong toa lại hát vang: "... Cờ giải phóng, phất cao mau thẳng tiến, trời phương Nam dân chúng đang chờ ta!". Xuống ga Bình Định đã có xe ô tô đón sẵn đưa tôi lên Phú Phong gặp anh Nguyễn Sơn. Tôi làm thư ký buổi họp ở Phú Phong, rồi cùng lên An Khê, làm thư ký hội nghị do anh Nguyên Sơn chủ trì. Dự hội nghị này có các anh Nguyễn Chánh, Phạm Kiệt, Trần Lương...


Tôi được phép xem các điện, các báo cáo của Chiến sĩ khu 5 để tổng hợp tình hình quân sự cho anh Nguyễn Sơn. Chỉ hai ngày sau khi quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, đơn vị quân giải phóng Ba Tơ đã vào chiến đấu tại mặt trận cầu Bình Lợi, sau đó nhập với chi đội Nam Long. Sự có mặt của chi đội Nam Long ở Biên Hòa là một cổ vũ lớn đối với nhân dân Nam Bộ nói chung và nhân dân Biên Hòa nói riêng.


Tôi cũng được biết tám cán bộ của Trường quân chính Việt Bắc đã tới Sài Gòn bổ sung kịp thời vào đơn vị vũ trang ở Nam Bộ như anh Đỗ Hy Vọng, Võ Văn Doãn...

Cuối năm 1945, đầu năm 1946, giặc Pháp đánh rộng ra các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Anh Nguyễn Sơn vào nhận chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam trong tình hình rất căng thẳng. Anh gật gù nói: "Ngoài Hà Nội, anh Hoàng Văn Thái nắm rất vững diễn biến tình hình phía Nam. Anh nhắc chúng ta phải khẩn trương vào, phải chủ động hơn nữa!". Tôi được theo anh Nguyễn Sơn đến thăm đơn vị Plây Cu (anh Hùng Việt), trung đoàn Bình Định (anh Trần Hoài Ân), chi đội Phú Yên (anh Hữu Thành)... Cùng với các anh trong Ủy ban kháng chiến miền Nam, anh chủ trương tập trung lực lượng đánh sâu vào vùng địch ở Khánh Hòa, tăng cường cán bộ chỉ huy cho các tỉnh Nam Trung Bộ...


Đã hơn 50 năm, kỷ niệm về những ngày Nam tiến đối với tôi vẫn vô cùng sâu sắc!
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3818



WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2021, 07:19:53 am »

TIẾNG GỌI NÚI SÔNG

Những dòng hồi ức, nhớ thương
Kính tặng các chiến binh chi đội Độc lập 1 thời Nam tiến

NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG


Cuối năm 1944, Trung ương Đảng chủ trương xây dựng khu căn cứ mới ở vùng Hiệp Hòa - Yên Thế, mở rộng đến Na Lương - Mỏ Sắt Trại Cau tiếp giáp thị xã Thái Nguyên thành ATK2 (An toàn khu) cũng là bàn đạp phát triển phong trào xuống vùng xuôi. Ban cán sự Bắc Giang đã xây dựng được trung đội cứu quốc quân Yên Thế trang bị khá mạnh, hoạt động võ trang tuyên truyền mở ra vùng Nhã Nam, các đồng chí Tỉnh ủy và Hà Thị Quế luôn theo sát chỉ đạo. Ở khu Na Lương, đồng chí Cát Lượng (tức Quốc Vinh) cũng xây dựng được trung đội giải phóng quân, quét sạch băng thổ phỉ lâu nay vẫn xưng hùng xưng bá ở đất này. Thanh thế giải phóng quân Na Lương từ đấy càng lớn, phong trào Việt Minh phát triển cơ sở đến cả những làng dọc sông Đào, ven đường Hà Nội - Thái Nguyên.


1. Ngày Tuyên ngôn độc lập

Cuộc họp đầu tiên của các đơn vị giải phóng quân từ sau ngày về Hà Nội diễn ra ngày 28 tháng 8. Đồng chí Vương Thừa Vũ thay mặt Tổng chỉ huy đến thăm hỏi sức khỏe bộ đội và phổ biến nhiệm vụ khẩn cấp:

- ... Thực dân Pháp đang tìm cách quay lại thống trị Đông Dương. Tưởng Giới Thạch cũng lợi dụng danh nghĩa giải giáp quân Nhật để xâm chiếm Việt Nam... Các thế lực phản động đang rắp tâm thủ tiêu Chính phủ Cụ Hồ, lập chính quyền thân Hoa, phái phản động thân Nhật vẫn ngấm ngầm phá hoại, phái theo Đờ Gôn lại trỗi dậy chuẩn bị lực lượng lật đổ Việt Minh...


... Ngày 2 tháng 9 này Chính phủ cách mạng lâm thời tổ chức lễ ra mắt đồng bào. Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ đọc Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam... Đế quốc và các đảng phái phản động âm mưu phá hoại. Đoàn thể giao trách nhiệm cho các chi đội giải phóng quân cùng với tự vệ Thành, phối hợp với nhân dân bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Chính phủ Cụ Hồ...


Đúng lệnh, các chi đội đến vị trí được phân nhiệm rất sớm. Sương thu vẫn còn vương trên búp cây, thảm cỏ quanh quảng trường, nhưng đã có vô vàn cờ sao rực rỡ. Biểu ngữ đỏ chói căng khắp ngả, những hàng chữ gây ấn tượng thiệt mạnh "Nước Việt Nam của người Việt Nam", "Độc lập hay là chết!". Anh Nông Văn Nùng người Tày giật giật tay tôi chỉ lên tấm vải đỏ thắm có dòng đại tự "Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh", ghé tai:

- Phải Ké Hồ Tân Trào không lố?

- Đúng. Hôm nay Ké Hồ đứng chỗ kia! - Tôi chỉ lên lễ đài.

Sương sớm tan dần. Các đoàn người băng cờ biểu ngữ tề chỉnh, quần áo đủ màu từ các cửa ô kéo đến. Thấp thoáng thấy cả những bạn học trường Bưởi, Thăng Long trong đội ngũ các đoàn thể cứu quốc. Lại có khoảng chục trung đội thanh niên tự vệ Thành tay đeo băng đỏ sao vàng, từ phía sau dinh toàn quyền cũ tiến sát các đơn vị giải phóng quân. Tất cả tạo thành một hàng rào che chắn quanh lễ đài.


Buổi lễ kết thúc. Nhân dân rầm rập diễu hành qua các đường phố. Khẩu hiệu ủng hộ Chính phủ, mặt trận được hô giãn lồng ngực. Các chi đội giải phóng quân hòa trong các đoàn tuần hành.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3818



WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2021, 07:21:37 am »

2. Lên đường chinh chiến.

Mới ba tuần sau lễ Tuyên ngôn độc lập, giặc Pháp đã nổ súng xâm lăng giữa Sài Gòn.

Chính phủ, Hồ Chủ tịch hiệu triệu đồng bào cả nước tăng cường lực lượng, ủng hộ mọi mặt cho cuộc đấu tranh oanh liệt của đồng bào Nam Bộ. Người tuyên bố: "... Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ!".


Cả nước căm phẫn, quyết tâm theo Chính phủ kháng chiến. Khí thế xung phong đầu quân bùng lên khâp nơi. Khẩu hiệu "Nam tiến giết giặc ngoại xâm" kích động hồn người, nhiều học sinh, sinh viên nghe hai từ "Nam tiến" liền bỏ lớp về đăng ký tình nguyện lên đường. Các tỉnh nhanh chóng thành lập những đội quân bừng bừng tinh thần "Sát Thát". Chính phủ quyết định đổi tên "Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân" là vệ quốc đoàn, phát triển thêm hơn chục chi đội mới. Đại đội Thanh Cao nhận lệnh vào Ninh Bình tuyển binh bổ sung lực lượng. Ban chỉ huy đặt trụ sở tại Nho Quan, phái cán bộ đi các huyện tuyển thanh niên đầu quân.


Ủy ban mặt trận huyện xã tận tình giúp đỡ mọi mặt. Các mẹ các chị sốt sắng lo việc tiếp tế cấp dưỡng cho bộ đội. Chỉ hơn một tháng đại đội đã tuyển được 36 phân đội (số quân tương đương 3 tiểu đoàn).


Quân đã đủ nhưng thiếu súng. Bộ chỉ huy Khu 2 nghe các tỉnh báo cáo tình hình quân Pháp trốn chạy trước đây đã giao nhiều vũ khí cho các lang đạo. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh, bọn sĩ quan ở Hòa Bình, Lạng Sơn đã giấu súng ở vùng này. Khu trưởng Hoàng Sâm chỉ thị cho đại đội Thanh Cao tổ chức lực lượng thu hồi bằng ba cách: thuyết phục quan lang ủng hộ, mua bằng bạc trắng, đổi súng săn để lấy súng trận. Đại đội điều một trung đội về Chi Nê nhận súng săn, điều một trung đội lên ngay Vụ Bản - Hòa Bình thực hiện việc thu hồi súng. Tuy đã được Ủy ban Việt Minh tỉnh, huyện nhiệt tình giúp đỡ mọi mặt, nhất là công tác vận động lang đạo, cán bộ chiến sĩ toàn trung đội hơn trăm người ráng hết sức trong hơn một tháng chỉ thu được gần 400 súng trường. Nguyên do chính là địa bàn quá rộng, lang đạo ở phân tán, thiếu lực lượng đi tiếp nhận, số bạc trắng không được giải quyết kịp thời. Khu trưởng đã khiển trách ban chỉ huy đại đội. Ít ngày sau có lệnh triệu hồi Thanh Cao về Hà Nội.


Khoảng giữa tháng 10 năm 1945, anh Ngô Thế Sơn (tức Kiểm) xuống Ninh Bình, triệu tập các cán bộ giải phóng quân nghe phản ánh tình hình, trực tiếp xem xét cụ thể mọi việc. Hai hôm sau anh kết luận:

- Phải phiên chế lực lượng theo tổ chức thống nhất của Bộ quyết định. Cấp tiểu đội có hai cán bộ trưởng, phó. Cấp phân đội lên trung đội có chính trị viên thành ban chỉ huy ba người. Đại đội có các tiểu ban chính trị, tham mưu, cung cấp. Chi đội có các ban chính trị, tham mưu, cung cấp. Tổ chức quân y theo hệ thống điều khiển chuyên môn từ chi đội xuống cứu thương phân đội. Chính trị viên ngang quyền với chỉ huy trưởng đơn vị. Sắp xếp tổ chức hai ngày xong, phải bắt tay vào huấn luyện theo chương trình đã định mới kịp tình hình. Ban chỉ huy đơn vị trực tiếp điều khiển...


Thật rõ ràng dứt khoát, không như trước chẳng hiểu cương vị trách nhiệm thế nào. Ngô Thế Sơn đưa mắt nhìn khắp lượt, từ tốn nói:

- Từ nay không lấy tên người chỉ huy đặt cho đơn vị như trước, mà gọi theo số. Tên chi đội, tôi đã thảo luận với các đồng chí lãnh đạo tỉnh đặt là chi đội Hoa Lư.


Trong thời kỳ tổ chức lại lực lượng có bao nhiêu chuyện giấy tờ sự vụ. Anh Sơn vốn biết tôi từ ngày ở chiến khu nên bảo tôi giúp việc.

Một hôm, sau cuộc họp, tiện miệng tôi hỏi:

- Nhiều chi đội đã Nam tiến đều mang tên chỉ huy, sao đơn vị mình lại đặt tên Hoa Lư?

- Úi! Cậu không nhớ một kỳ tích lịch sử ư? - Thế Sơn cười thú vị - Đinh Bộ Lĩnh cờ lau khởi nghĩa chính tại Hoa Lư đó. Cái tên ấy có ý nghĩa với quân cách mạng lắm chứ.

- Tên đơn vị chiến đấu nghe thế có thơ mộng quá không?

Thế Sơn suy nghĩ một chút, khe khẽ gật:

- Cái tên Hoa Lư nhiều ý nghĩa đấy, nhưng cũng hơi yếu thực. Mình có lúc chợt nghĩ thay đổi là Phòng Sơn hay Thành Sơn?


A! Ra anh cũng là người ham sử (!). Quả núi đứng mép sông Đáy thời xa xưa mang cái tên dân dã "Hòn Non Nước". Đinh Bộ Lĩnh sau khi đánh tan đạo quân cát cứ Phạm Phòng Ấp trên sông, ông thấy hòn Non Nước cách Hoa Lư khoảng 321 (Dặm ta bằng 444,4 mét, 32 dặm = 14km) dặm như một vị trí tiền tiêu trọng yếu của kinh đô thời ấy nên đặt tên Ngự Trấn Phòng Sơn. Khi Lê Hoàn nối ngôi vua Đinh đổi tên là Hộ Thành Sơn cho gọn... Có lẽ từ những sự tích đó mà anh Sơn muốn chọn tên gắn liền lịch sử chiến đấu cho đội quân được xây dựng trên đất này. Nhưng rồi mãi chẳng thấy đổi, tôi hỏi. Anh bảo:

- Tên mình cũng là Sơn, e bị hiểu lầm.

Tôi quý anh ở điểm ấy. Dù sau này anh đổi đi đơn vị khác, tôi vẫn mang mãi tình cảm đẹp về anh.


Tháng 11, anh Văn Tiến Dũng giao nhiệm vụ cho anh Nguyễn Quyết xuống Ninh Bình phụ trách chính trị viên, Ngô Thế Sơn chi đội trưởng, Kim Bảo chi đội phó. Vừa bắt tay vào chương trình tổ chức, huấn luyện thì Thế Sơn được giao nhiệm vụ đi chiến trường Khe Sanh, tây Quảng Trị. Anh Thịnh về thay.


Đầu tháng 1 năm 1946, chi đội đã được trang bị đủ súng. Bộ lại điều một phân đội của đại đội Việt - Mỹ được trang bị vũ khí Mỹ có cả tôm-sơn, ba-zô-ca, một phân đội quân giải phóng đã đánh Tam Đảo, trung đội Na Lương Thái Nguyên cũng trang bị khá mạnh, hai đơn vị thuộc đại đội Kiến Hải đủ vũ khí gia nhập đoàn quân Nam tiến. Các đơn vị này phân tán làm nòng cốt cho các trung, đại đội mới xây dựng. Ngẫu nhiên tôi được xếp trong một ban chỉ huy đều là giải phóng quân Việt Bắc.


Giữa tháng 1 năm 1946, toàn chi đội được Bộ cấp đủ quân trang, thống nhất ka ki vàng, mũ ca lô, giày da. Các trung đội, đại đội có cờ hiệu nghiêm chỉnh. Ban chỉ huy thống nhất với tỉnh cho hội quân về thị xã Ninh Bình làm lễ chính thức thành lập đoàn quân Nam tiến. Bộ Quốc phòng cho đổi tên là chi đội Độc lập 1 - mang ý nghĩa công khai đơn vị chính quy số 1 của quân đội Vệ quốc Việt Nam vào làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ đã độc lập.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3818



WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2021, 07:22:53 am »

Thực ra thì trước đó đã có nhiều chi đội vào Nam chiến đấu như chi đội Thu Sơn, Nam Long, Vi Dân, Bắc Bắc, v.v... Nhưng quân Tưởng mang danh lực lượng Đồng minh, đặt trạm kiểm soát ở các tỉnh vào đến vĩ tuyến 16, luôn cản trở ta. Các chi đội Nam tiến trước đều đi tay không như dân thường, vũ khí đóng gói chở bí mật theo đường biển, mất nhiều thời gian chờ đợi trong khi chiến sự ngày càng cấp bách. Chính phủ ta đã phải làm công tác "ngoại vụ" rất "tế nhị" với Bộ tư lệnh quân Tưởng, vì cũng có lợi nên họ chấp thuận để các đơn vị vệ quốc đoàn "di chuyển" mang theo vũ khí nhẹ. Cuối tháng 1 năm 1946 tức gần hết tháng chạp năm Dậu, chi đội nhận lệnh xuất quân. Bộ Giao thông công chính điều đoàn xe lửa đến ga Ghềnh đón.


Lần đầu tiên một đơn vị lớn, phần lớn là con em tỉnh nhà trang phục thống nhất tề chỉnh, mang đủ vũ khí hùng dũng vào Nam đánh giặc khiến nhân dân rất phấn khởi. Tỉnh ủy, mặt trận, ủy ban, các đoàn thể Ninh Bình tưng bừng đưa tiễn đến tận sân ga. Nhiều ông bố, bà mẹ ở các huyện xa cúng về chúc con em mình lên đường cứu nước. Một cụ ông khăn đóng áo đoạn, râu tóc như bông bước lên trước hàng quân vẫy chào, trang trọng nói to:

- Xưa nay vì nước vì dân tráng sĩ đâu có vương thê nhi! Lão thay mặt các cụ kính chúc đoàn hùng binh mã đáo công thành - Cụ cao giọng đọc câu thơ chứ Hán: "Nhất nhung đại định hà thần tốc. Giáp tẩy cung nang lạc thái bình".

Tiếng vỗ tay rào rào đáp lễ. Có anh biết chữ nho gật gù khen:

- Ông cụ khéo chọn thơ Nguyễn Trãi chúc ta đấy.

- Dịch nghe thử!

- A! Đại ý "Động binh dẹp loạn nhanh như lốc. Cởi giáp treo cung hưởng thái bình".


Nghe hay, tôi ghi để nhớ. Đến phút chót, một người cao lớn đi như chạy tới xin gặp ban chỉ huy hành quân. Anh vọt lên tàu chạy vào toa giữa, rập chân giơ tay chào:

- Báo cáo đồng chí! Tôi là Nguyễn Ngọc Trân cùng hai đồng chí nhận nhiệm vụ của tỉnh Hà Nam đưa đơn vị gia nhập đoàn quân Nam tiến.

Ban chỉ huy chi đội hết sức ngỡ ngàng, nhưng qua nét mặt, phong độ của người cán bộ không có gì đáng hoài nghi. Anh Nguyễn Quyết bắt tay Ngọc Trân:

- Hoan nghênh tinh thần xung phong chiến đấu của các đồng chí. Tuy hơi chậm nhưng còn kịp. Các đồng chí có đem giấy của tỉnh không?

- Báo cáo đủ ạ! Ngọc Trân mở sà cột rút kẹp giấy.

Nguyễn Quyết mở xem lướt chữ ký và dấu rồi gấp lại.

- Được rồi, chúng tôi sẽ xem - Anh quay sang người ngồi bên. - Đồng chí Kim Bảo sẽ chỉ toa để anh em lên.


Sắp đặt cho đơn vị yên chỗ, Ngọc Trân cùng Lê Ninh, Xuân Đài đến trình diện và chuyển thư của các đồng chí lãnh đạo tỉnh.

Đoàn tàu chuyển bánh, tăng dần tốc độ, tiến nhanh xuống phía Nam. Dù không đỗ ở các ga lẻ, nhưng cũng không sao tránh khỏi các cuộc đón tiễn của chính quyền đoàn thể nhân dân Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Mỗi nơi, nhanh gọn nhất cũng phải dừng lại hơn 3 tiếng, vì ở đâu chi đội cũng phải khuyên giải, ngăn giữ khá đông thanh niên đòi lên tàu vào Nam giết giặc. Một số nam nữ học sinh cứ ngồi giữa đường tàu đòi giải quyết... Mấy viên sĩ quan Tưởng đi theo chi đội thấy cảnh đó, bất giác thở dài: "Ở bên tôi lúc này phải lùng bắt lính mà cũng không được trai tráng đâu".


Do những chuyện dọc đường như thế, nên đúng chiều hôm tất niên, con tàu mới đến ga Thuận Hóa. Bà con đã túc trực từ khi được thông báo chi đội rời ga Quảng Trị. Tàu vừa dừng hẳn, đại biểu các đoàn thể liền lên tàu thăm hỏi úy lạo bộ đội. Ngọc Trân trực ban hành quân vội đón đoàn đến gặp chỉ huy, rồi xuống tàu gặp trưởng ga báo cáo lộ trình tiếp theo: "Tạm dừng ở Huế 2 tiếng, rồi đi Đà Nẵng thay đầu máy vào Quảng Ngãi kịp làm việc...". Nghe xong người trưởng ga cười to:

- Đồng chí vệ quốc đoàn ơi! Ông chủ tịch và chủ nhiệm Việt Minh vừa thông tri chưa làm kế hoạch vận hành cho "công-voa" ni. Đợi hội ý xong đã...

Ngọc Trân ngớ người. Thì ra đoàn đại biểu nào củng muốn lưu bộ đội qua đêm. Các mẹ nói thuyết phục lắm:

- Truyền thống tổ tiên mô có chuyện con cái cáo biệt ba mạ giữa đêm giao thừa...

Chẳng thể chối từ, ban chỉ huy phải điện báo cáo ra Hà Nội rồi thông tri cho chi đội dừng lại ăn tết Thuận Hóa đêm 30 và sáng mồng một, chiều đi.


Đến Quảng Ngãi, tin chiến sự ở Tây Nguyên hết sức khẩn trương. Pháp đang tấn công Buôn Ma Thuột... Chi đội nhận lệnh đi gấp vào Bình Định, xuống ga Tuy Phước hành quân bộ lên An Khê. Chi đội đóng quân theo kế hoạch bố phòng tuyến 2, sẵn sàng hỗ trợ hai mặt trận Buôn Hồ và Buôn Ma Thuột.


Sau ít ngày nghỉ hồi sức, chi đội tổ chức tập luyện tác chiến rừng núi; phối hợp với bộ đội Hùng Việt đánh địch ở Buôn Hồ, cùng chi đội 5 Gia Lai bố phòng chặn địch vượt đèo An Khê xuống Phú Phong... Không khí chuẩn bị chiến đấu đang khẩn trương, bỗng nghe tin Cụ Hồ đã ký Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3. Không có đài, mãi mới được tờ Cứu Quốc đăng tóm tắt nội dung chính. Nhiều từ ngữ khó hiểu: "Một nước tự do... trong khối liên hiệp Pháp...", "... trưng cầu dân ý về sự thống nhất ba kỳ...", "... quân đội Pháp vào Bắc Việt Nam thay thế quân đội Trung Hoa...". Mọi người xôn xao bàn cãi. Chính trị viên chi đội họp cán bộ giải thích nhưng vẫn cứ vướng mắc. Một hôm được lệnh tập trung đón "thượng cấp". Nghe tôn nghiêm quá, cả chi đội háo hức chờ đợi.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3818



WWW
« Trả lời #15 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2021, 07:23:58 am »

Đúng giờ. Một người dỏng cao, da ngăm đen chắc nịch bước lên bục. Chi đội trưởng Thịnh hô bồng súng chào. Chính trị viên Quyết giới thiệu:

- Đồng chí Nguyễn Sơn, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung Bộ đến thăm và nói chuyện với chi đội ta...


Cả đoàn quân rộ lên hoan nghênh kéo dài. Chủ tịch Sơn giơ hai tay đáp lễ. Ông đưa mắt nhìn đoàn quân khỏe mạnh, súng ống đầy đủ. Cán bộ chỉ huy đứng đầu hàng đi giày da, mang ghệt, súng ngắn, một số đeo cả kiếm Nhật lủng lẳng... Ông khẽ gật đầu, mỉm cười:    - Chi đội các đồng chí trông vẻ hùng dũng lắm. Đế quốc Pháp đã nổ súng xâm lăng Nam Bộ, đánh ra Trung Bộ. Các đồng chí rõ âm mưu của nó rồi chứ?

Nhiều tiếng đáp:

- Chúng tôi biết nên mới xung phong Nam tiến.

Nghe cách trả lời không điều lệnh của cán bộ, ông cười hà hà:

- Rất hoan nghênh tinh thần xung phong. Trải thời loạn mà! Nhưng còn phải học quân phong quân kỷ nữa đấy. Chuyện đó nói sau, bây giờ tôi muốn nói với các đồng chí một vấn đề hệ trọng...

Chúng tôi cảm nhận ngay ở ông phong thái nghiêm túc mà khoáng đạt. Ông cất tiếng sang sảng:

- Trước các đồng chí đã có ba chi đội Nam tiến rồi, nhưng không được mang súng. Các đồng chí có hiểu vì sao không?

- Vì quân Tưởng ngăn cản.

- Đúng đó! Hoa quân nhập Việt để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, nhưng chúng càn rỡ ngang nhiên cản trở ta để hậu thuẫn cho giặc Pháp dễ bề hành động. Ta buộc phải thương lượng cho nó chút ít, chi đội các đồng chí mới có thể mang theo súng.

Đoàn quân thoắt ào lên:

- Phải đuổi chúng nó cút khỏi nước ta...

Chủ tịch Sơn đưa hai tay vẫy vẫy ra hiệu trật tự:

- Đuổi chúng ra khỏi nước ta là đúng, nhưng làm như các đồng chí nghĩ lại sai. Vì quân Tưởng vào Việt Nam theo kế hoạch của phe Đồng minh, nếu ta nổi nóng thô bạo thì mình tự hóa thành người chống lại Đồng minh diệt phát xít, sẽ bị cô lập. Các đồng chí cần hiểu rõ điều đó.

Có tiếng hỏi to:

- Vậy làm sao lại ký tạm ước thuận cho quân Pháp ra Bắc? Khác nào chuyện rước cọp đuổi sói (?!).

Chủ tịch Sơn nhìn người vừa nói:

- Đồng chí tỏ ra nhớ cổ tích dân gian đấy nhỉ. Song các đồng chí có biết những ba con cọp với một con sói cùng lăm le vồ ta không?... Là Mỹ, Anh, Pháp và Tưởng đấy! Lại thêm Nguyễn Hải Thân, Vũ Hồng Khanh trùm phản động Việt quốc, Việt cách rất nguy hiểm đang dựa vào Tưởng ra sức phá ta từ bên trong để tiếp tay cho địch... - Ông nhìn khắp đoàn quân, rồi cao giọng. - Các đồng chí thử nghĩ một người vừa ốm khỏi, cùng lúc chọi với bốn năm kẻ dữ được không?... Cụ Hồ quyết tâm giành độc lập, cả nước đồng lòng, nhưng đánh tên địch nào? Đây là nghệ thuật chọn đối thủ dễ thắng và gạt bớt kẻ đánh hôi. Hiệp định 6 tháng 3 là cái "quyết bắt tà" tuyệt luân đấy. Mười tám vạn quân Tưởng phải ra đi, thay vào đó chỉ có một vạn rưỡi quân Pháp phối hợp với một vạn quân Việt Nam lam nhiệm vụ tiếp phòng... Thế là bọn phản động thân Tưởng mất chỗ dựa đành cuốn xéo. Ta đã ở trong khối liên bang Đông Dương thì Anh, Mỹ hết cớ nhảy vào xâu xé Việt Nam. Một đòn gạt bốn tên. Các đồng chí thấy sao?


Cả đoàn quân bừng lên hào hứng: "Hay lắm! Giỏi vô cùng". Chợt có tiếng hỏi to:

- Cụ Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, dựng nền dân chủ cộng hòa. Nhưng vì sao trong Hiệp định sơ bộ chỉ ghi nhận là "một nước tự do"?

- Một câu hỏi thời sự nóng hổi đấy! - Chủ tịch Sơn gật đầu: - Mục tiêu của cách mạng Việt Nam đúng như bản Tuyên ngôn 2 tháng 9, không thể khác được. Nhưng đấu tranh để tới đích là một quá trình gay go phức tạp. Kẻ địch đông, hùng mạnh hằm hè nuốt chửng ta, song chúng tham lam nên còn mắc dàn xếp với nhau. Ta thì đơn lẻ, sức còn yếu, phải có thời gian để phát triển lực lượng đủ mạnh. Nếu không tỉnh táo, bị khiêu khích thì cách mạng sẽ bị địch xúm lại dìm trong biển máu. Cụ Hồ là bậc đại cách mạng, chí thánh, nhà tư tưởng chiến lược vượt lên mọi tầm cao trí tuệ đương thời. Trong phút lâm nguy ngàn cân treo sợi tóc, Người quyết định "Hòa để tiến"... một truyền thống dân tộc "lấy chí nhân thay cường bạo", chứ không phải như các hòa ước 1883-1884 của nhà Nguyễn chịu sự đô hộ hoàn toàn... Xưa kia, Pháp chỉ có mấy cỗ đại bác mà làm được thế. Nay chúng đủ cả máy bay, xe tăng, tàu chiến mà phải nhận Việt Nam là một nước tự do, có chính quyền, quân đội, tài chính riêng... Đó là một thỏa ước pháp lý công bố toàn thế giới thì quả là thắng lợi ngoại giao chưa từng có trong thời thuộc Pháp... - Chủ tịch Sơn mỉm cười hỏi to: Các đồng chí còn gì chưa rõ?

Lê Ninh trung đội trưởng giơ tay:

- Xin hỏi: Thực dân Pháp rất xảo trá lật lọng, làm sao có thể tin được lời hứa của nó.

- Có nhiều anh em nghĩ thế không?

- Tất cả! Tất cả nghĩ vậy! - Đoàn quân ồn lên.

- Các đồng chí nghĩ đúng. Cụ Hồ đã dự kiến Pháp sẽ phản bội lời hứa, vì vậy chúng ta mới phải Nam tiến... Toàn dân đồng lòng ủng hộ hòa đàm và sẵn sàng tiến lên bằng cuộc kháng chiến trường kỳ. Chúng ta là quân nhân cũng đồng tâm chứ?

Một rừng tay vung cao:

- Sẵn sàng!

- Hòa để tiến!

- Quyết tâm kháng chiến trường kỳ!


Sau buổi nghe ông Sơn diễn giải, tôi cứ nghiền ngẫm mãi phương châm "Hòa để tiến", quả đã ứng nghiệm. Đến trước ngày bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc, thì công cuộc xây dựng vùng tự do các tỉnh miền Trung làm căn cứ và chuẩn bị kháng chiến đã vào nền nếp. Số lượng quân chủ lực tăng lên gấp 3-4 lần, tổ chức được các công xưởng chế tạo sửa chữa vũ khí, sản xuất quân trang. Thôn xã nào cũng có 1-2 trung đội dân quân du kích. Chi đội 5 Gia Lai và chi đội Độc lập 1 được chỉ thị phân tán làm nòng cốt cho 5 trung đoàn mới xây dựng của Khu 5 và Khu 15. Một số xung vào đội quân tình nguyện Việt - Lào, có đơn vị đươc điều gọn vào chiến trường Cực Nam, Nam Bộ. Riêng đại đội tôi bị phân tán đi nhiều nơi. Đại đội trưởng Phi Hùng nhận lệnh ra Bắc về đại đoàn 312, Triệu Đức Quang chính trị viên cùng mấy đồng chí đi trung đoàn 120 Bắc Tây Nguyên, tôi đại đội phó chuyển sang công tác chính trị vào chiến trường địch hậu Quảng Đà. Các anh Thịnh, Nguyễn Quyết, Kim Bảo cũng được, điều đi đơn vị khác...


Kể từ đấy, chi đội Độc lập 1 không còn nữa. Nó được hòa nhập vào các trung đoàn vệ quốc chiến đấu khắp mọi miền Tổ quốc. Một số tương đối đông qua được kháng chiến chống Pháp, lại tiếp tục vào cuộc trường chinh kháng Mỹ tới thắng lợi.


Đến nay đoàn quân gần hai nghìn người từ biệt đất Hoa Lư năm ấy, chỉ còn lại khoảng hơn nửa trăm người. Tất cả đều già yếu với nhiều thương tật. Nhưng so với bao đồng đội đã ngã xuống vì độc lập, chúng tôi được thấy cái đích phấn đấu lúc lên đường Nam tiến: độc lập, tự do.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3818



WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2021, 07:45:33 pm »

GIẢI PHÓNG QUÂN

Nhạc và lời: PHAN HUỲNH ĐIỂU


Đoàn giải phóng quân một lần ra đi.
Toàn thắng vinh quang ghi ngày trở về.
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi.
Ra đi ra đi thà chết chớ lui.
Cờ bay phấp phới ngời màu Lạc Hồng.
Kèn reo vang tiếng gọi dòng Lạc Hồng cùng giải phóng quân.
Ra đi ra đi theo hồn sông núi, thù bao năm xưa có bao giờ nguôi.
Dưới cờ oai nghiêm sao vàng bay.
Đoàn quân Việt Nam có hay.
Ngày xưa biết bao vị hùng anh.
Quyết vì non sông ra tay bao lần.
Ngày nay đoàn quân ta gắng làm sao giành quyền tự do hạnh phúc cho dân.

Đoàn giải phóng quân một lần ra đi.
Dù có gian nguy nhưng lòng không nề.
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi.
Ra đi ra đi thà chết chớ lui.
(Cờ bay phấp phới...) lui!
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3818



WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2021, 07:47:38 pm »

CHI ĐỘI BẮC BẮC


Đại tá NGÔ TỪ VÂN
Thay mặt đồng chí Lê Văn Lương, Trung tướng Lư Giang,
đồng chí Lê Chính (phân đội trưởng), đồng chí Lụa (chiến sĩ quân y),
thượng tá bác sĩ Hàn Thị Trang (vợ đồng chí Lư Giang)
   

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, giặc Pháp được quân Anh giúp đỡ vũ khí phương tiện và lực lượng đã khởi hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa giành được độc lập.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào Nam Bộ và đồng bào toàn quốc kêu gọi nhân dân Nam Bộ kiên quyết kháng chiến và nhân dân toàn quốc ra sức chi viện miền Nam đánh bại quân xâm lược, bảo vệ nền độc lập và thống nhất của nước nhà.


Theo chỉ thị của Trung ương và lời kêu gọi của Bác Hồ, các địa phương theo khả năng của mình, khẩn trương tổ chức lực lượng võ trang và tuyển chọn ra đơn vị tinh nhuệ nhất để đưa vào miền Nam chiến đấu sát cánh với đồng bào Nam Bộ đánh bại bọn thực dân phản động Pháp đang âm mưu thôn tính nước ta một lần nữa.


Trên toàn miền Bắc và miền Trung, nhiều đoàn quân đã lên đường Nam tiến trong đó có những chi đội tập trung như chi đội Nam Long, Vi Dân, Thu Sơn Hữu Thành và những trung đội độc lập của nhiều huyện, nhiều tỉnh, từ Việt Bắc đến Bình Định, Phú Yên.


Thường vụ Tỉnh ủy ba tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Yên đã khẩn trương tổ chức lực lượng và tuyển chọn ra một số đại đội thành lập đơn vị Nam tiến của ba tỉnh Bắc Bắc Quảng. Đồng chí Lư Giang tên thật là Lê Bá Ước, được chỉ định làm chi đội trưởng, đồng chí Từ Vấn làm chi đội phó, đồng chí Lê Văn Lương chính trị viên chi đội. Tiếp sau đó, đồng chí Lê Hữu Quán được chỉ định làm chi đội phó trực tiếp chỉ huy lực lượng của tỉnh Quảng Yên nằm trong chi đội. Trong quá trình tổ chức biên chế chi đội, cả ba tỉnh đều lựa chọn những chiến sĩ, thanh niên tự nguyện, có sức khỏe và khả năng chiến đấu, đặc biệt ưu tiên những đồng chí đã tham gia Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, cứu quốc quân và các đội vũ trang thoát ly của các địa phương.


Trên thực tế ở ba tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Yên ngay từ sau ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám mỗi nơi đã tổ chức một chi đội. Do đó ban chỉ huy chúng tôi chỉ tập trung vào lựa chọn những cán bộ chiến sĩ ưu tú nhất từ ba chi đội để thành lập một chi đội Nam tiến. Theo phân công, anh Từ Vân đến Bắc Ninh tuyển chọn hai trung đội (thời đó trung đội ngang với đại đội hiện nay). Hai trung đội của Bắc Ninh tuyển chọn xong đưa lên Bắc Giang đóng tại Hà Vị cùng với lực lượng đã tuyển chọn ở Bắc Giang học tập chính trị và huấn luyện quân sự. Trong khi đó ở Quảng Yên cũng tuyển chọn một trung đội và phân công anh Lê Hữu Quán phụ trách huấn luyện tại chỗ, chờ có lệnh trên sẽ sáp nhập vào lực lượng đang huấn luyện ở Hà Vị để tổ chức thành chi đội. Như vậy khi hình thành, chi đội Bắc Bắc Quảng đã có 4 trung đội bộ binh (tương đương 4 đại đội), ngoài ra còn có một đội trinh sát và một phân đội hậu cần trực thuộc chi đội. Trong phân đội hậu cần có đội cứu thương và cấp dưỡng, chủ yếu là các chị em phụ nữ như các chị Tuấn, Thăng, Triệu, Tâm, Lụa... trong đó chị Thăng nguyên là chiến sĩ giải phóng quân ở Bắc Giang. Bốn trung đội trưởng là các anh: Chử, Quyết, Sơn, Lạng (tức Lê Chính). Sau khi tổ chức ổn định, các trung đội bước vào xây dựng nền nếp các mặt, từ sinh hoạt đến học tập chính trị, quân sự, rèn luyện kỷ luật và tác phong của quân nhân cách mạng. Chi bộ đảng được thành lập gồm có 4 đảng viên là: Lê Văn Lương, Từ Vân, Trà Sơn (tức Công), Lư Giang. Anh Lê Văn Lương được chỉ định làm bí thư chi bộ.


Trang bị của chi đội lúc đó khá mạnh. Chiến sĩ có súng trường (súng Nga, Pháp, Nhật). Hỏa lực trung đội có súng phóng lựu, trung liên. Hỏa lực của chi đội có súng cối 60 ly, đại liên "Hốt kít". Cán bộ chỉ huy từ trung đội trở lên đều có súng ngắn, một số có thêm kiếm. Ngày đó quân trang quân phục của chúng tôi có gì mặc nấy, quân phục Nhật hoặc lính bảo an cũ, có đồng chí mang cả áo blu-dông dạ, đội mũ cát két, ca lô, mang xanh tuya rông, quần soóc, đi giày da của nhà binh cũ. Cán bộ chỉ huy chi đội đều có ống nhòm.


Sau ngày tổng tuyển cử 6 tháng 1 năm 1946 (tức là ngày 8 tháng 12 âm lịch) hai trung đội Bắc Ninh và Bắc Giang đóng ở Hà Vị tập kết về thị trấn Lục Nam chuẩn bị làm lễ lên đường Nam tiến. Hai ngày trước khi lên đường, tất cả anh em bộ đội Nam tiến được về thăm gia đình, song có đồng chí vì lo công việc, đã không kịp về thăm.


Lãnh đạo tỉnh, cơ sở, đoàn thể, nhân dân đến chia tay tiễn biệt hẹn ngày chiến thắng. Chị Hà Thị Quế nguyên ủy viên quân sự tỉnh Bắc Giang thay mặt lãnh đạo hai tỉnh Bắc Bắc đọc lời chào mừng và giao nhiệm vụ. Không khí thật sôi động và cũng không ngờ cuộc ra đi như vậy đến mười mấy năm sau anh em chúng tôi mới có dịp trở về thăm quê nhà.


Đúng ngày 10 tháng 1 năm 1946, chúng tôi chuyển lên ba chiếc tàu mang tên Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư và Ký Con. Khi ba chiếc tàu cùng nổi lên hồi còi dài tiễn biệt, cảnh tượng thật cảm động. Kẻ ở người đi rưng rưng nước mắt. Hai mạn tàu vẫn có hàng chục người đuổi theo, cốt xin được nhập đoàn Nam tiến. Chúng tôi thuyết phục mãi anh em mới chịu quay trở về. Song cá biệt chúng tôi nhận giấu một vài người, thường là những anh em tha thiết, nhiệt tình, có năng khiếu quân sự.


Khi đi ngang đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo tại bến Lục Đầu Giang, ba con tàu dàn thành hàng ngang oai nghiêrn, dừng lại họp mít tinh với nhân dân trên bờ tổ chức tuyên thệ long trọng trước uy linh tổ tiên.

Đến Hải Dương chúng tôi được biết tin Chính phủ liên hiệp đã chính thức ra mắt do cụ Hồ Chí Minh làm chủ tịch.

Chúng tôi đi thành đội ngũ chỉnh tề và tuyên bố chúng tôi là lực lượng giải phóng quân thuộc Việt Minh nay trở thành vệ quốc quân Nam tiến. Nhân dân vỗ tay chào mừng nhiệt liệt.

Rời Hải Dương, tàu chúng tôi xuôi xuống Ninh Giang, rồi theo dòng sông Thái Bình xuống Nam Định, ở đây chúng tôi gặp bộ đội Quảng Yên do anh Lê Hữu Quán chỉ huy và hợp lại thành 4 trung đội (đại đội). Anh Quán được bổ nhiệm phó chỉ huy bộ đội Bắc Bắc Quảng. Anh Hà Kế Tấn chỉ huy trưởng bộ đội tỉnh Nam Định cùng nhân dân tiếp đón rất long trọng, có người tặng chúng tôi hàng ngàn chiếc thắt lưng da.


Anh Hoàng Văn Thái đại diện Bộ Quốc phòng về Nam Định trực tiếp chỉ đạo chúng tôi ổn định tổ chức. Một buổi chiều chúng tôi nhận được điện của Bác Hồ gửi đến, thật là vui mừng khôn xiết. Bức điện khá dài, hết ba tờ giấy bưu điện. Chúng tôi giữ mãi bức điện ấy, nhưng đến năm 1949 thì bị mất trong một trận chống càn ở Hòn Hèo. Tôi còn nhớ đại ý bức điện của Bác: Nghe tin các cháu tình nguyện nhiều lần, nay đã được cấp trên đồng ý cho Nam tiến cùng bộ đội và đồng bào trong Nam đánh giặc Pháp. Tôi hoan nghênh lòng yêu nước của các cháu... Thanh niên được cống hiến cao nhất là ra tiền tuyến, đó là phần thưởng cao quý mà Tổ quốc dành cho các cháu... Kẻ địch, thực dân Pháp được bọn Anh - Ấn giúp sức đều là quân hùng tướng mạnh, nhưng ta có chính nghĩa thì nhất định thẳng. Các cháu không được chủ quan khinh địch, thắng không kiêu bại không nản. Các cháu vào Nam phải thực hiện đoàn kết Bắc Trung Nam, gương mẫu dũng cảm khắc phục khó khăn, bộ đội và đồng bào miền Nam đang hăng hái dũng cảm diệt địch. Các cháu phải noi gương học tập để xứng đáng là thanh niên Việt Nam. Tôi bận việc, tiếc là không đến thăm được, vậy đánh điện thay lời chúc các cháu lên đường mạnh khỏe lập nhiều chiến công.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3818



WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2021, 07:48:31 pm »

Trong cuộc mít tinh nội bộ, chúng tôi đọc bức điện của Bác. Tất cả im lặng lắng nghe từng lời Bác căn dặn, lòng vô cùng xúc động. Tiếng hô "Hồ Chủ tịch muôn năm" vang lên. Sau đó chúng tôi thông qua một quyết tâm thư gửi lên Bác Hồ và Chính phủ hứa làm tròn nhiệm vụ.


Đoàn quân Nam tiến Bắc Bắc Quảng của chúng tôi rời Nam Định vào một buổi sáng. Bắt đầu từ đấy chúng tôi đi bằng tàu hỏa. Khi chúng tôi lên tàu đồng bào cắm cờ quanh tàu và tặng quà bánh đầy toa.


Miền Trung và Nam Trung Bộ lúc đó còn xen kẽ nhiều lực lượng. Từ vĩ tuyến 16 (Đà Nẵng) trở ra do quân đội Trung Hoa giải giáp quân đội Nhật, nên từ Nam Định đã có một viên thiếu tá được giới thiệu làm sĩ quan liên lạc đưa chi đội đi. Qua Vinh chúng tôi gặp viên sư đoàn trưởng quân đội Trung Hoa. Đến Huế chúng tôi lại gặp một viên sư trưởng khác và chúng tôi phải tiếp xã giao với họ.


Từ Đà Nẵng trở vào đáng lẽ phải chuyển sang giao tiếp với quân Anh, nhưng vì quân Anh đang mở đường cho quân Pháp đánh Nha Trang nên chỉ có bộ đội và nhân dân gặp gỡ nhau, vui mừng khôn xiết. Tam Kỳ là nơi phân chia hai lực lượng Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Bọn quốc gia liên minh âm mưu đặt mìn phá cầu để ngăn cản bộ đội ta hành quân vào Nam, nhưng bị ta phát hiện kịp thời, chúng không thực hiện được. Từ Tam Kỳ chúng tôi hành quân bí mật hơn.


Khoảng ngày 17-18 tháng 1 năm 1946, chúng tôi đến Quảng Ngãi gặp anh Nguyễn Sơn là chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam. Quảng Ngãi đang sẵn sàng chiến đấu, phố xá im lặng, canh gác nghiêm ngặt. Chúng tôi đều nghĩ "sắp đến mặt trận rồi".


Anh Nguyễn Sơn triệu tập ban chỉ huy chúng tôi đến giao nhiệm vụ. Anh nói tình hình ở đây rất khẩn trương, địch đã chiếm Phan Thiết và thành phố Nha Trang, đồng thời đang chuẩn bị đánh thông từ Phan Thiết ra Nha Trang. Mặt khác, từ phía tây chúng đang chuẩn bị chiếm Buôn Ma Thuột và sẽ từ Buôn Ma Thuột đánh xuống đường 21 cùng với lực lượng Nha Trang đánh lên, hợp điểm ở Ninh Hòa. Như vậy con đường xe lửa vào Nam Bộ sẽ bị tắc nghẽn. Trước tình hình đó, chúng tôi sẽ không vào Nam Bộ như đã được giới thiệu mà dừng lại ở miền Nam Trung Bộ, tham chiến ở Nha Trang, và sẽ tách đại đội Quảng Yên do đồng chí Lê Hữu Quán chỉ huy lên tăng cường phòng thủ mặt trận Buôn Ma Thuột. Qua ga Ninh Hòa, bộ đội Quảng Yên tách khỏi chi đội Bắc Bắc, ngược lên nam Tây Nguyên. Cũng vào khoảng ngày 17 - 18 tháng 1 năm 1946 chúng tôi được vinh dự đón đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Chủ tịch Quân ủy hội đang trên đường vào kiểm tra tình hình và truyền đạt những chỉ thị của Trung ương Đảng và Chính phủ. Với giọng nói ấm áp đầy yêu thương, anh căn dặn: "Các cậu có lực lượng hùng hậu nên sẽ có ảnh hưởng lớn và tác dụng lâu dài, kẻ địch sẽ thấy sức mạnh của cách mạng chỉ trong một thời gian ngắn đã tổ chức được hàng chi đội mà lại có kỷ luật nghiêm minh. Nhưng lần này vào mặt trận phải có nhận thức mới cần chú ý rằng: ban đầu ta đánh có đội hình quy củ trang bị mạnh, phát huy tính ngoan cường chủ động linh hoạt. Song sau này có khi không chiến đấu trong đội hình lớn mà phải phân tán trong lòng địch, phân tán đến từng tiểu đội, từng tổ, từng người, phát huy kinh nghiệm thời kỳ bí mật, chiến đấu du kích linh hoạt, biết giương đông kích tây. Khi quyết định đưa quân vào Nam, Bắc và Trung ương đã có cân nhắc kỹ lưỡng. Bác còn lưu ý thêm đánh ở mặt trận có chỉ huy, chỉ đạo, hậu cần tiếp tế, quân dự bị tiếp viện, còn đánh sâu trong lòng địch phải tự lo liệu lấy, ốm không thuốc, đói không cơm, thậm chí phải tự độc lập quyết định chiến đấu, dự kiến khi mất liên lạc phải độc lập xử trí. Do đó phải có tinh thần không sợ địch, luôn dựa vào dân và tìm cách đánh thích hợp. Phải chiến đấu đến cùng, quyết không để lọt vào tay địch".


Thế rồi chúng tôi đi xe lửa, anh Giáp đi ô tô. Tối đến chúng tôi lại gặp nhau. Anh cho chúng tôi xem bài nói chuyện của Bác căn dặn anh em học sinh trong ngày lễ tốt nghiệp khóa 5 Trường huấn luyện quân sự Việt Nam, ngày 15 tháng 1 năm 1946. Chỉ thị của Bác về tinh thần độc lập sáng tạo của người cán bộ đã khắc sâu vào tâm trí chúng tôi. Bác lấy ví dụ các anh cần đi Sài Gòn, người chỉ đường nói các anh cần đi về phương nam đi qua Thanh Hóa, Vinh, Huế... đã có phương hướng sẵn anh em cứ theo đó mà đi, đến tỉnh nào qua con sông ngọn núi nào anh em tìm tòi sau, miễn là anh em biết đi theo phương nam chứ không lầm đường đi ngược ra bắc là được.


Nghe những lời căn dặn đó, chúng tôi nhận thấy, Hồ Chủ tịch và các anh đã lường trước thế trận và căn dặn bày vẽ đường đi nước bước theo nhiều hoàn cảnh và khả năng khác nhau. Khi qua Đèo Cả và đến bắc Nha Trang xe anh Giáp cũng đi theo tàu chúng tôi. Quá nửa đêm chúng tôi đi qua đèo Rù Rì thuộc địa phận Lương Sơn. Chúng tôi gặp lại anh lần nữa. Trong bóng đêm, giọng anh sang sảng: "những ý kiến chỉ đạo của Bác và Trung ương tôi đã trao đổi với các anh nhất là việc chiến đấu lâu dài, còn nhiệm vụ trước mắt khi cần phải chuyển hướng từ đánh chính quy sang đánh du kích, đánh phân tán. Cần đánh một số trận thọc sâu đánh mạnh, đánh bất ngờ, tiêu diệt gọn để tạo thanh thế rồi hãy rút lui".


Như vậy trên đường Nam tiến, ngay từ đầu chúng tôi đã được tiếp nhận tư tưởng chỉ đạo của Bác thông qua đồng chí Võ Nguyên Giáp. Những điều đó giúp chúng tôi có đủ nhận thức và đứng vững trong khó khăn gian khổ...


Phía trước chúng tôi cách 15 ki-lô-mét là thị xã Nha Trang. Phía trong chúng tôi là Phan Rang, Phan Thiết, sau lưng là Buôn Ma Thuột, mặt trận diễn ra ở ba phía. Tới thị xã Khánh Hòa, đơn vị Bắc Bắc đóng tại phủ Diên Khánh, ban chỉ huy gặp đồng chí Trần Công Khanh là khu trưởng và Hà Văn Lâu tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy mặt trận. Nhiệm vụ của chúng tôi là chiến đấu tại mặt trận Nha Trang. Trung đội do Lê Văn Lương chỉ huy được điều đi bảo vệ căn cứ, hai trung đội còn lại do Lư Giang và Từ Vân chỉ huy được điều xuống mặt trận để thay phiên cho đơn vị Nguyễn Hải và Thu Sơn đang phòng ngự ở khu vực từ núi Xuân Sơn sang Cây Đa Quán Giếng và làng Phú Nấm chiều ngang khoảng 5 ki-lô-mét, cách ga Phú Vinh chừng 500 mét. Đồng chí Từ Vân chỉ huy trung đôi 3 đóng bên Xuân Sơn. Đồng chí Lư Giang chỉ huy trung đội 1 đóng ở Phú Nẫm. Trận địa quân ta phần lớn nằm bên hữu ngạn sông Cái, giữ quốc lộ 1 từ Nha Trang đến Khánh Hòa để khỏi sơ hở cạnh sườn. Phân đội đồng chí Chính sang tả ngạn sông Cái đề phòng địch đánh xuyên hông. Hậu cần, quân y do các nữ y tá của chi đội và một số cô ở Nha Trang, Huế phụ trách.


Đêm 24 tháng 12 âm lịch (tức 26 tháng 1 năm 1946) ban chỉ huy dự kiến đánh một trận tập kích vào nhà ga nhưng có lệnh trên rút lui khỏi mặt trận Nha Trang về Đồng Trăng nhận nhiệm vụ mới, vì tình hình các mặt trận lúc đó rất khẩn trương, địch từ Buôn Ma Thuột đang tiến xuống Ninh Hòa và từ Phan Rang, Phan Thiết đánh ra. Cả hai mặt trận đều bị thủng, khả năng đêm nay chúng sẽ đánh đến Khánh Hòa. Cùng với việc giúp đồng bào tản cư, đơn vị rút ra sông Cái, lập tuyến phòng ngự mới ở tả ngạn sông Cái.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3818



WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2021, 07:49:16 pm »

Khoảng 9 giờ sáng ngày 27 tháng 1 năm 1946, với sự yểm trợ của máy bay, xe tăng, đại bác, súng cối, địch tấn công nhiều lần nhưng đều bị đánh lui. Bến đò T là nơi diễn ra ác liệt nhất, mấy lần chúng liều chết nhảy xuống thuyền bơi qua nhưng đều bị phân đội của đồng chí Chính quật ngã, quân địch chết chồng lên nhau dọc bên sông. Suốt một ngày chiến đấu khoảng 50 tên địch bị tiệt, ta hi sinh 4 đồng chí. Thắng lợi đầu tiên bên bờ sông Cái làm nức lòng bộ đội và nhân dân địa phương. Ngay đêm đó, bộ đội rút lui lặng lẽ theo hướng tây bắc. Phân đội đồng chí Chính rút lui sau cùng. Khi kiểm tra lại thì thấy thiếu 1 tiểu đội. Ban chỉ huy ra lệnh cho đồng chí Chính quay lại tìm, té ra tiểu đội này tự động tập kích địch. Họ cử ra một tổ vượt qua sông, dùng lựu đạn phá hủy 1 xe tăng và diệt 1 tiểu đội địch, rồi rút lui an toàn.


Nhưng rồi mặt trận Nha Trang bị vỡ. Địch chia làm ba mũi từ Buôn Ma Thuột (phía tây), Phan Rang (phía nam) và từ Ninh Hòa (phía bắc) tạo thành thế gọng kìm đánh ra Nha Trang. Nhờ có chủ trương đúng, toàn mặt trận cho rút quân sớm, ta không bị vây kẹp.


Thực tế là ở mặt trận Nha Trang, ta vừa phòng ngự, vừa đánh địch và rút lui bảo toàn lực lượng theo tinh thần chủ động để tính kế lâu dài, phù hợp với ý định chỉ đạo của Trung ương mà đồng chí Võ Nguyên Giáp đã truyền đạt cho cán bộ chỉ huy toàn mặt trận. Suốt ba ngày đêm địch cho nhiều tốp trinh sát thăm dò, nhưng đều bị ta chặn đánh sát thương, buộc phải rút về.


Sau ngày mồng 1 tết (tức 3 tháng 2 năm 1946), địch lại ồ ạt tấn công vào trận địa mới của chi đội. Do lực lượng quá chênh lệch, sau nhiều đợt tấn công địch chiếm được trận địa của chi đội, mặc dù bị thiệt hại không ít về binh lính và xe cộ. Trong trận này, đồng chí Đức phụ trách đại liên bình tĩnh bẳn vào từng chiếc xe và diệt nhiều lính lê dương trên xe. Anh chiến đấu rất dũng cảm và cuối cùng đã anh dũng hy sinh.


Quân địch tập trung đông, gấp ta 5-6 lần, lực lượng ta quá mỏng nên địch thọc được vào hữu ngạn sông Cái cắt đôi trận địa ta. Trong hoàn cảnh ấy, chúng tôi nghĩ thế địch đang mạnh, nếu ta tiếp tục giữ tuyến sông Cái trong điều kiện bị tiêu hao, hở sườn thì dễ có khả năng bị địch tiêu diệt. Hai mươi đồng chí đã chiến đấu dũng cảm và hy sinh tại chiến hào. Chúng tôi rút vào trong khe núi, địch sợ không dám đuổi theo. Kể từ đó chúng tôi hầu như độc lập tác chiến, không còn nhân được sự chỉ đạo của trên nữa. Do các cánh quân rút lui theo nhiều hướng khác nhau, mấy ngày sau, vào ngày mồng 5 tết âm lịch (8 tháng 2 năm 1946), trừ những người đã hy sinh, chúng tôi tập hợp 204 người, đủ cán bộ chỉ huy của đại đội, phân đội. Đồng chí Chính bị thương ở cánh tay phải trong trận đánh ở sông Cái.


Nhân dân cho ăn uống tử tế, lại cho quần áo của địa phương để cải trang. Chúng tôi vào các thôn xóm vận động đồng bào chôn cất các đồng chí hy sinh, đồng bào đã chuẩn bị sẵn sàng, chôn cất chu đáo. Thế là thêm một số đồng chí an nghỉ nơi đây, máu các đồng chí đã thấm sâu xuống mảnh đất này. Các con cháu sau này sẽ kính cẩn và tự hào rằng: "Chỗ ta đứng và trưởng thành là nơi xưa kia các chiến sĩ Nam tiến tận ngoài Bắc xa xôi vào đây cùng ba má ta đánh giặc và đã hy sinh oanh liệt".


Địch đã rút về thành Khánh Hòa. Dưới chân đèo đã có mặt trận, phía sau Vạn Giã là trận địa của quân ta. Bộ chỉ huy mặt trận không biết đóng ở đâu, cơ quan tỉnh nghe nói ở khu rừng xung quanh đây, ở một phía còn có bộ đội Khánh Hòa do anh Lê Anh Thông, Hà Vi Tùng phụ trách. Anh Nguyễn Văn Vĩnh, Nam Hồ phụ trách phân đội ở Nam Bộ rút ra sau khi vỡ mặt trận bắc Sài Gòn.


Địch mới chỉ chiếm được tỉnh lỵ. Bộ đội ta vẫn bám trụ xung quanh. Riêng với chi đội Bắc Bắc, phải làm gì đây để liên lạc với cấp trên, phải tự lo liệu việc tiếp tế, cách đánh của bộ đội ra sao? Đánh tập trung hay phân tán, đi tiếp vào Nam Bộ hay ra Bắc hoặc ở lại đây để tổ chức đánh du kích, và nếu ở lại chúng tôi sẽ sống và chiến đấu theo phương cách nào? Tất nhiên chúng tôi sẽ gặp nhiều khó khăn vì mới từ Bắc vào hơn một tháng, bộ đội chưa am hiểu phong tục tập quán của đồng bào địa phương... Nhưng những khó khăn này ta sẽ khắc phục được. Trong thời kỳ thử thách vừa qua, nhân dân Khánh Hòa đã hết lòng giúp đỡ chúng tôi. Xét cho cùng địch chỉ mới chiếm được tỉnh lỵ, chưa chiếm được dân. Tuy vỡ mặt trận, nhưng bộ đội ta và lòng dân chưa vỡ, chúng ta còn tất cả. Chúng tôi tin tưởng vào thắng lợi. Đa số bộ đội Bắc Bắc tinh thần vẫn vững vàng chỉ ân hận chưa làm được gì nhiều. Song cũng có một số ít anh em sợ khổ, sợ khó khăn, tuy không dám nói ra, nhưng có nhiều lo lắng.


Chúng tôi suy nghĩ mãi. Chính những lúc này tư tưởng của Bác đã soi sáng cho chúng tôi, làm cho bộ đội Bắc Bác củng cố lòng tin.

Sáng sớm hôm sau chúng tôi triệu tập toàn bộ cán bộ và đảng viên họp bàn về nhiệm vụ sắp tới. Chúng tôi thống nhất tập họp toàn chi đội, đề ra ba phương hướng cho anh em lựa chọn:

1. Ai ở lại chiến đấu du kích sẽ hòa vào dân, sống lâu dài trong lòng địch, sẽ phải chịu mọi thiếu thốn gian khổ.

2. Ai về với đại quân ở mặt trận cách đây 70 cây số sẽ đánh trận có bài bản, có chỉ huy đơn vị tập trung.

3. Ai muốn ra Bắc sẽ cho giao thông đưa ra.


Hầu hết anh em ở lại, chừng 30 người xung phong ra mặt trận. Có vài ba người xin ra Bắc. Nắm được tư tưởng củạ anh em, chúng tôi bố trí những anh em ra Bắc trong lúc chờ đợi sẽ làm công tác hậu cần ở sâu trong căn cứ. Anh em ra mặt trận phải tạm thời ở lại vì địch án ngữ mọi con đường. Lực lượng ở lại đánh du kích chúng tôi cho tăng cường trinh sát, phân tán thành nhiều đơn vị nhỏ, lập nhiều căn cứ khác nhau, có nhiều kho vũ khí, lương thực, có một khu hậu cần để nuôi dê, bò, trồng ngô, lúa. Tôi được cử đi gặp đồng chí Tôn Thất Vĩ, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Khánh Hòa và đồng chí Hà Văn Lâu. Thì ra anh Hà Văn Lâu cũng mất liên lạc với cấp trên. Gặp chúng tôi anh Vĩ và anh Lâu rất mừng. Chúng tôi trình bày với các anh kế hoạch phân tán, hoạt động đánh du kích của đơn vị. Anh Lâu, anh Vĩ xiết chặt tay chúng tôi hoan nghênh và dặn chúng tôi mấy điều cần thiết về tình hình địch, tình hình dân. Anh Vĩ cho rằng việc làm của chúng tôi là hết sức đúng đắn. Anh chỉ thị cụ thể cho các xã hết sức ủng hộ bộ đội cùng phối hợp chặt chẽ với nhau để đẩy mạnh phong trào du kích chiến. Anh Vĩ bảo chúng tôi ít hôm nữa anh sẽ xuống ở đây với chúng tôi. Anh em muốn ra Vạn Giã về với các đơn vị vũ trang tập trung dần dần đã ở lại với chúng tôi.


Bộ đội về với dân như cá với nước. Các cụ, các mẹ và cô bác đều nghĩ rằng, chúng tôi xa gia đình vợ con vào đây hy sinh vì miền Nam ruột thịt.

Giờ đây chúng tôi cũng áo bà ba đen, đội nón lá, đi chân đất, chúng tôi làm ruộng, làm vườn... Tối đến, chúng tôi đi họp, củng cố các tổ chức quần chúng, huấn luyện các đội du kích tự vệ chiến đấu, bắt đầu chiến đấu từ hình thức thấp đến cao: trừ gian diệt tề, bắn tỉa giặc đi càn, phá hoại đường xe lửa đánh sập cầu...


Đồng bào rất phấn khởi. Sau đó nhờ liên kết với lực lượng địa phương chúng tôi đã góp phần khôi phục được một số cơ sở huyện xã. Lúc này ở địa bàn chúng tôi còn có anh Nguyễn Văn Vĩnh, anh Nguyễn Trọng Xuyên từ Nam Bộ ra. Đơn vị anh Hà Vi Tùng trước giữ trận địa tiến công ở đèo Rù Rì cũng ở lại địa bàn chiến đấu theo kế hoạch chung đã thống nhất với Ủy ban kháng chiến và Tỉnh ủy Khánh Hòa. Các phân đội của chúng tôi thâm nhập sâu vào dân bản, đồng bào các dân tộc, chia thành tổ vận động các giới ủng hộ kháng chiến.


Trong tình hình thực tế lúc đó, chúng tôi đã liên kết phối hợp mọi lực lượng quân sự tạo nên thế trận chiến tranh du kích rộng rãi. Nhờ cuốn sách chiến thuật đánh du kích được anh Lư Giang giữ gìn từ hồi học quân sự ở Thái Nguyên, chúng tôi đưa ra hướng dẫn cho anh em học tập. Lực lượng được chia làm 4 phân đội, 2 phân đội vốn là lực lượng cũ của Khánh Hòa, 2 phân đội của Bắc Bắc. Chúng tôi cùng anh Tôn Thất Vĩ, Chủ tịch Ủy ban Khánh Hòa chỉ đạo chung, chia Khánh Hòa ra làm 4 khu để dễ phụ trách. Nhờ việc bắt rễ sâu trong các tổ chức nhân dân, phong trào du kích vẫn được giữ vững trong suốt thời kỳ chống Pháp.


Nói riêng ở giai đoạn đầu sau khi ta ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, tổ chức chính quyền 84 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đã được bảo vệ. Ta có lực lượng lấn ra, địch co về tỉnh lỵ, ta giữ vững địa bàn và phát huy ảnh hưởng tích cực cho đến lúc toàn quốc kháng chiến. Phương châm chuyển từ ngăn chặn sang chiến tranh du kích bề sâu và bề rộng để chuẩn bị phát triển lực lượng trong giai đoạn sau được chứng minh là đúng đắn. Được như thế vì chúng tôi đã vận dụng đúng đắn và sáng tạo quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh, ở đây cũng cần nhắc lại "Hiệp định 6 tháng 3" và "Tạm ước 14 tháng 9". Đồng bào và đồng chí miền Nam đã lợi dụng được dịp đó để xây dựng lực lượng, thực sự là rất phù hợp với địa bàn chúng tôi đứng chân. Đến cuối năm 1946, các lực lượng ở mặt trận Khánh Hòa được chuyển thành trung đoàn 80 gồm 3 tiểu đoàn. Riêng tiểu đoàn 4 do đồng chí Lư Giang làm tiểu đoàn trưởng, Từ Vân làm tiểu đoàn phó gồm đại đội 1 là đại đội Bắc Bắc do anh Trà Sơn và anh Thọ chỉ huy; đại đội 2 chủ yếu là đại đội ở mặt trận bắc Sài Gòn ra có một số cán bộ chiến sĩ Bắc Bắc do anh Nguyễn Đình Mười và anh Nam Hồ chỉ huy; đại đội 3 chủ yếu là bộ đội Khánh Hòa do anh Hà Vi Tùng, Lê Anh Thông và anh Nguyễn Niệm chỉ huy.


Năm 1947, trung đoàn 80 được tổ chức lại, hợp với trung đoàn 83 thành liên trung đoàn 803, chủ lực của miền Nam Trung Bộ. Đồng chí Lư Giang là liên trung đoàn trưởng. Cán bộ chiến sĩ của chi đội Bắc Bắc tiếp tục cùng với quân dân Khánh Hòa, Phú Yên lập được nhiều chiến công vẻ vang trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, xứng đáng với lời hứa hẹn trước lãnh đạo và nhân dân quê hương Bắc Bắc khi lên đường Nam tiến.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM