Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Mười, 2021, 11:04:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Cứu quốc quân  (Đọc 1105 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2021, 03:00:18 pm »

Thực hiện chỉ thị «Phải kịp củng cố Đảng về mọi phương diện»(1) của Hội nghị Ban thường vụ Trung ương (tháng 2 năm 1943), để đẩy mạnh các mặt công tác của Cứu quốc quân, công tác xây dựng Đảng trong đội Cứu quốc quân được chú ý. Các buổi sinh hoạt tổ Đảng, chi bộ tuy gặp rất nhiều khó khăn do hoạt động bí mật và phân tán, nhưng vẫn tổ chức thường xuyên để kịp thời rút kinh nghiệm công tác, tăng cường bồi dưỡng và giáo dục giác ngộ cách mạng cho cán bộ và đảng viên. Cho nên, sự giác ngộ về quyền lợi giai cấp và dân tộc, ý thức tổ chức và kỷ luật, lý tưởng cách mạng và tinh thần quốc tế vô sản... ngày càng được nâng cao. Đồng thời, các buổi học tập chỉ thị nghị quyết để nắm vững chủ trương, đường lối cách mạng, chính sách dân tộc của Đảng, cũng được chú ý tổ chức. Do đó, nội bộ luôn luôn đoàn kết, năng lực vận động và tổ chức quần chúng không ngừng được nâng cao, tinh thần và ý chí chiến đấu của Cứu quốc quân ngày càng sắc bén.

Quán triệt chỉ thị của Đảng về gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa, các tổ công tác của Cứu quốc quân nhanh chóng được kiện toàn. Mỗi tổ công tác của Cứu quốc quân đều có tổ Đảng lãnh đạo. Việc liên lạc giữa các tổ công tác với Ban chỉ huy Cứu quốc quân và chiến khu cũng như giữa hai phân khu với nhau, đã được tổ chức thành mạng lưới gồm nhiều trạm, nhiều đường liên lạc. Các tổ công tác của Cứu quốc quân hòa mình trong phong trào quần chúng, thực hiện cùng ăn, cùng ở, cùng lao động sản xuất với bà con các dân tộc để củng cố và phát triển các Hội cứu quốc, các đội tự vệ. Những buổi triển lãm bằng tranh ảnh, tổ chức mít tinh diễn thuyết về tội ác của phát-xít Pháp, Nhật, về những tấm gương hi sinh dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng, được Cứu quốc quân tổ chức ở nhiều địa phương, làm cho đồng bào các dân tộc căm thù địch sâu sắc và hăng hái thi đua ủng hộ cách mạng. Sau khi đã tập hợp được lực lượng, Cứu quốc quân liền tiến hành lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống phu, chống thuế, chống áp bức bóc lột, để tập dượt quần chúng đấu tranh, mở rộng sự tuyên truyền và tổ chức, xây dựng lực lượng cách mạng ngày càng vững mạnh. Kết quả, đến tháng 9 năm 1944, phong trào cách mạng trên cả hai phân khu của chiến khu Hoàng Hoa Thám đều phát triển mạnh. Địa bàn hoạt động của Cứu quốc quân được mở rộng xuống phía Nam châu Sơn Dương (Tuyên Quang) giáp Lập Thạch (Vĩnh Yên), lên Hàm Yên, Nà Hang (Tuyên Quang). Ban chấp hành Việt Minh các cấp được thành lập ở nhiều địa phương, chiếm được lòng tin của đông đảo đồng bào các dân tộc, làm chức năng như chính quyền cách mạng.

Công tác xây dựng và phát triển lực lượng tự vệ ở các địa phương cũng được Cứu quốc quân đấy mạnh. Đến cuối năm 1944, ở hầu hết các xã thuộc địa bàn hoạt động của Cứu quốc quân, đều đã tổ chức được các trung đội, tiểu đội tự vệ. Lực lượng tự vệ này cũng đã được Cứu quốc quân huấn luyện về chính trị và quân sự để làm giao thông liên lạc, bảo vệ cơ sở và cán bộ cách mạng, làm công tác tuyên truyền đường lối cách mạng của Đảng, trừng trị bọn tay sai phản động, tổ chức quần chúng vào các Hội cứu quốc. Đây là nguồn bổ sung lực lượng rộng lớn của Cứu quốc quân. Để có đầy đủ vũ khí chiến đấu, Cứu quốc quân đã phát động phong trào tự mua sắm sôi nổi trong các đơn vị tự vệ. Do đó, lò rèn sửa chữa vũ khí, rèn dao găm, mã tấu... xuất hiện ở nhiều địa phương. Phong trào này còn lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia. Đồng bào các dân tộc trong các Hội cứu quốc hăng hái góp tiền của để mua sắm vũ khí ủng hộ các đội tự vệ.

Cứu quốc quân cũng rất chú ý công tác vận động binh lính và tầng lớp lý dịch tay sai của thực dân Pháp. Các tổ công tác của Cứu quốc quân lấy đường lối, chính sách của Đảng, của Việt Minh để tuyên truyền, giác ngộ, lôi kéo họ về với cách mạng, cô lập cao độ bọn đầu sỏ. Kết quả đã có một số anh em binh lính đào ngũ trở về với gia đình hoặc tham gia cách mạng, một số tồng đoàn, xã, lý trưởng... ở Đại Từ, Định Hóa, Sơn Dương... không cộng tác với địch, có người còn đứng hẳn về phía nhân dân, tham gia các Hội cứu quốc.

Phong trào cách mạng phát triển mạnh, uy tín của Mặt trận Việt Minh ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng các dân tộc, làm cho các thế lực phản động càng điên cuồng. Chúng câu kết với bọn phỉ nhũng nhiễu nhân dân ta, đánh phá phong trào cách mạng. Với phương châm kiên quyết trừng trị bọn đầu sỏ, thuyết phục, lôi kéo những tên a tòng, công tác tiễu phỉ, trừ gian của Cứu quốc quân và các đội tự vệ đã thu được nhiều kết quả. Bọn phỉ cùng những tên phản động địa phương câu kết với nhau hoạt động ở vùng biên giới Việt-Trung, vùng núi tiếp giáp Thái Nguyên — Bắc Giang, Lạng Sơn — Bắc Tuyên Quang — Vĩnh Yên... đã bị tan rã trước sức mạnh chiến đấu của Cứu quốc quân và lực lượng tự vệ. Cuộc đấu tranh này có lúc, có nơi diễn ra rất gay go, quyết liệt như ở vùng Nam châu Sơn Dương, Chiêm Hóa, Hàm Yên (Tuyên Quang). Lập Thạch (Vĩnh Yên). Song dù có gian ngoan, quỷ quyệt đến đâu, chúng cũng đã bị thất bại. Tính mệnh và tài sản của nhân dân cung như cơ sở cách mạng ở những nơi đó được bảo vệ an toàn.


(1) Văn kiện Đảng (1939—1945) Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1963, tr. 400
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2021, 03:01:55 pm »

Con đường liên lạc Nam tiến và Bắc tiến bị gián đoạn do địch khủng bố mạnh ở Cao Bằng, Bắc Cạn, được Cứu quốc quân cũng như Ban xung phong Nam tiến khẩn trương tổ chức lại. Với phương châm: phát triển đi liền với củng cố, các đội Bắc tiến của Cứu quốc quân dựa chắc vào các cơ sở cũ để phát triển thêm nhiều cơ sở mới, tạo thành một mạng lưới giao thông liên lạc rộng lớn và vững chắc từ địa phương này sang địa phương khác. Đến tháng 9 năm 1944, việc liên lạc với căn cứ Cao Bằng đã được nối lại ở Tràng Định — Đông Khê. Đến tháng 11 năm 1944 thì được nối lại ở hướng Định Hóa — Chợ Đồn. Đồng thời, mạng lưới giao thông liên lạc giữa các địa phương trong chiến khu Hoàng Hoa Thám cũng đuợc củng cố và mở rộng.

Chiến khu Hoàng Hoa Thám đã mở rộng, đòi hỏi phải được tăng cường thêm cán bộ để củng cổ kịp thời. Bồng thời, chuyến biến của tỉnh hình ngày càng dồn dập. Do đó, Trung ương chỉ thị cho Cứu quốc quân tổ chức vượt ngục, đưa các đồng chí cán bộ, đảng viên bị địch cầm tù trong các trại giam ở Thái Nguyên ra chiến khu hoạt động. Đây là một nhiệm vụ nặng nề và khó khăn. Nhưng với tinh thần chấp hành triệt để chỉ thị Trung ương, với lòng dũng cảm và mưu trí, đến ngày 11 tháng 10 năm 1944, Cứu quốc quân đã tổ chức cuộc vượt ngục thành công, đưa 12 đồng chí cán bộ, đảng viên bị địch giam cầm ở trại giam Chợ Chu (Định Hóa) ra ngoài tham gia Cứu quốc quân(1). Đồng chí Song Hào được Trung ương chỉ định cùng đồng chí Chu Văn Tấn lãnh đạo chiến khu Hoàng Hoa Thám, phụ trách phân khu B. Trước đó, đêm 21 rạng 22 tháng 8 năm 1944, Ban cán sự an toàn khu dự bị (Hiệp Hòa — Phú Bình — Phổ Yên) của Trung ương, đã tổ chức thành công cuộc vượt ngục, đưa 8 đồng chí ở «căng» Bá Vân (Đồng Hỷ) ra chiến khu hoạt động.

Chấp hành chỉ thị «Sửa soạn khởi nghĩa» ra ngày 7 tháng 5 năm 1944 của Tổng bộ Việt Minh, và lời kêu gọi «Sắm vũ khí đuổi thù chung» ra ngày 10 tháng 8 năm 1944 của Trung ương Đảng, sau khi được tăng cường thêm cán bộ, Ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định phân công, và giao nhiệm vụ cụ thể cho các tổ công tác của Cứu quốc quân ở các địa phương, đẩy mạnh công tác chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

Ở phân khu B, các tổ công tác được phân công công tác ở các vùng sau đây:

a) Vùng Định Hóa, Chợ Đồn do một đơn vị phụ trách, có nhiệm vụ phát triển phong trào lên Bắc Chợ Đồn, Chợ Rã, giữ vững con đường liên lạc quần chúng với căn cứ Cao Bằng — Bắc Cạn.

b) Đơn vị Cứu quốc quân công tác ở Sơn Dương có nhiệm vụ phát triển cơ sở quần chúng ra xung quanh thị xã Tuyên Quang, xuống phía Nam Sơn Dương (Tuyên Quang), Lập Thạch (Vĩnh Yên), Phù Ninh, Đoan Hùng (Phú Thọ).

c) Đơn vị Cứu quốc quân công tác ở Đại Từ có nhiệm vụ mở rộng cơ sở quần chúng xuống Nam Đồng Hỷ, Phổ Yên.

d) Đơn vị Cứu quốc quân công tác ở khu vực Yên Sơn, Chiêm Hóa, thì phát triển phong trào cách mạng lên Hàm Yên, Nà Hang (Tuyên Quang).

e) Đơn vị Cứu quốc quân công tác ở Phú Lương có nhiệm vụ phát triển cơ sở quần chúng theo dọc quốc lộ số 3 lên Chợ Mới, Bạch Thông (Bắc Cạn), đồng thời củng cố con đường liên lạc sang Võ Nhai với phân khu A.

g) Một đơn vị Cứu quốc quân hoạt động chủ yếu ở trung tâm Sơn Dương, bảo vệ cơ quan bí mật, kho lương thực, làm báo, in truyền đơn, sửa chữa vũ khí.

Kết quả, đến đầu năm 1945, phong trào cách mạng trên phân khu B đã phát triển mạnh. Cơ sở Việt Minh ở Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa, Nà Yên (Tuyên Quang) Chợ Đồn, Chợ Mới (Bắc Cạn), Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương, Đồng Hỷ (Thái Nguyên) đã được Cứu quốc quân phát triển và củng cố sâu rộng. Các Hội cứu quốc ở trong và vùng xung quanh thị xã Tuyên Quang ngày càng đông đảo hội viên. Một vùng rộng lớn từ Đồn Cóc (Sơn Dương) lên vùng Cây Si, Cây Duối, Nà Phù, dọc theo quốc lộ số 2 từ cày số 31 đi Hà Giang lên đến Thanh Mai, Cánh Vân, Đào Lâm (Hàm Yên), từ Yên Linh lên giáp giới địa phận Hà Giang, đều đã trở thành địa bàn hoạt động thuận lợi của Cứu quốc quân, ở đó đông đảo đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh, Cao Lan... đã hăng hái tham gia các đoàn thể cứu quốc, tích cực ủng hộ và giúp đỡ Cứu quốc quân. Phong trào Việt Minh ở phân khu B đang được Cứu quốc quân phát triển mạnh theo hướng Bắc và Tây-Bắc. Ở hướng Nam qua phân khu B, Cứu quốc quân cũng đã mở rộng địa bàn hoạt động xuống giáp vùng trung du. Tháng 3 năm 1945, đơn vị cứu quốc quân do đồng chí Lê Dục Tôn chỉ huy hoạt động ở Nam Sơn Dương, đã bắt được liên lạc với đơn vị công tác võ trang tuyên truyền của Trung ương do đồng chí Hoàng Bắc Dũng phụ trách, từ Vĩnh Yên phát triển lên Thiện Kế. Hai bèn cùng phối hợp công tác, đẩy mạnh xây dựng cơ sở Việt Minh ở Tam Dương, Lập Thạch (Vĩnh Yên).


(1) Đó là các đồng chí: Song Hào, Lê Hiến Mai, Tạ Xuân Thu, Lê Trung Đình, đồng chí Chì, đồng chí Phong, đồng chí Nhị Quý, đồng chí Kháng, đồng chí Môn, đồng chí Sơn, đồng chí Chu Nhữ, đồng chí Tùng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2021, 03:02:50 pm »

Ở phân khu A, Đệ nhị trung đội Cứu quốc quân cũng chia thành nhiều tổ công tác, đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố các Hội cứu quốc và các đội tự vệ ở các địa phương. Do đó, Mặt trận Việt Minh ở các huyện Tràng Định, Thoát Lãng, Bình Gia, Bắc Sơn (Lạng Sơn) Võ Nhai, Đồng Hỷ (Thái Nguyên), Bắc Yên Thế và Hữu Lũng (Bắc Giang) đã tập hợp được đông đảo đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh... Các đội tự vệ ở đó cũng ngày càng phát triển. Đặc biệt, phong trào cách mạng ở Bắc Sơn, Võ Nhai đã vượt qua những khó khăn sau thời kỳ địch khủng bố, nay lại phát triển mạnh.

Ở Bắc Sơn, phong trào Việt Minh phát triển rộng, đặc biệt sôi nổi là các xã Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Bắc Sơn... Từ giữa năm 1944, Cứu quốc quân đã liên tục tổ chức các lớp huấn luyện tự vệ ở Búp Húi (Hưng Vũ), Lân Hoài, Lân Lắc (Bắc Sơn), Lân Khinh, Lân Nghiến (Chiêu Vũ). Các đội viên tự vệ được học về các khoa học quân sự như bắn súng, ném lựu đạn, đâm lê, chiến thuật du kích. Đồng thời còn được học cả về phương pháp hoạt động và tổ chức quần chúng, làm công tác binh vận.

Ở Võ Nhai, các Hội cứu quốc và các đội tự vệ cũng được củng cố và phát triển nhanh chóng. Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác tổ chức quần chúng, Cứu quốc quân còn chú ý công tác học tập chính trị và huấn luyện quân sự. Đặc biệt phong trào học văn hóa rất sôi nổi. Phong trào đã thu hút nhiều người theo học, nhất là nam, nữ thanh niên, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển sâu rộng. Đến giữa năm 1944, ở các xã Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá... lực lượng tự vệ đã được Cứu quốc quân huấn luyện về nhiệm vụ của đội tự vệ và những động tác quân sự cơ bản. Phong trào tự sắm, tự trang bị vũ khí sôi nổi đã bảo đảm mỗi đội viên có một vũ khí chiến đấu. Các cuộc mít tinh kỷ niệm khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam-kỳ, xô-viết Nghệ — Tĩnh, Quốc tế lao động, Cách mạng tháng Mười Nga... được tổ chức gần như công khai, đã có sức cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng phát triển.

Cùng với công tác củng cố và phát triển phong trào cách mạng, các tổ công tác của Cứu quốc quân ở phân khu A còn chú ý công tác bảo đảm giao thông liên lạc giữa các địa phương. Đường liên lạc và trạm giao thông giữa các địa phương trong Phân khu, con đường liên lạc Bắc tiến lên Đông Khê với căn cứ Cao Bằng, xuống Phú Bình, Phổ Yên và sang phân khu B, được Cứu quốc quân phát triển thành mạng lưới gồm nhiều trạm, nhiều đường để việc giao thông liên lạc luôn luôn thông suốt giúp cho lãnh đạo nắm chắc được tình hình ở các địa phương.

Những hoạt động tích cực của Cứu quốc quân ở phân khu A đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp Phong trào cách mạng ở Làng Mười, Tràng Xá, Lâu Thượng, Phú Thượng (Võ Nhai) và Cây Thị (Đồng Hỷ) xuống Bắc Yên Thế và Hữu Lũng có sự liên hệ chặt chẽ với nhau. Tổ công tác của Cứu quốc quân ở vùng Tràng Định — Bình Gia đã phát triển phong trào Việt Minh ở Hội Hoan (Thoát Lãng), Văn Mịch (Bình Gia), và lên vùng cao các xã Chi Lăng, Bác Ái, Vĩnh Tiến, Khánh Long (Tràng Định).

Tổ công tác của Cứu quốc quân ở Nà Hình, Hội Hoan còn tiến hành tiễu phỉ bảo vệ tính mệnh và tài sản của nhân dân. Ở Bắc Yên Thế và Hữu Lũng tổ công tác của Cứu quốc quân đã mở rộng phong trào Việt Minh ở vùng Mỏ Sắt, Canh Nậu, Đồng Vương, Khuôn Đổng, Khuôn Cát.

Nhìn chung đến đầu năm 1945, phong trào cách mạng trên cả hai phân khu A và B đã phát triển khá rầm rộ. Kết quả đó đã mở rộng thêm địa bàn hoạt động của Cứu quốc quân. Đồng thời, phong trào cách mạng ở chiến khu Hoàng Hoa Thám cũng bộc lộ một số nhược điểm. Phong trào cách mạng phát triển nhanh, rộng, nhưng việc củng cố không kịp thời và toàn diện. Việc đào tạo cán bộ các cấp, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ đảng viên mới làm còn ít, không đáp ứng kịp thời sự đòi hỏi của phong trào cách mạng. Công tác giữ gìn bí mật không triệt để. Nhiều địa phương tổ chức mít tinh, tập luyện tự vệ gần như công khai. Phong trào ở các vùng phát triển không đồng đều, Khi gặp địch khủng bố, phong trào khó khăn, thì thiếu cán bộ vững vàng lãnh đạo. Những nhược điểm đó đã có ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển của phong trào cách mạng.

Ngày 16 tháng 9 năm 1944, kẻ địch bắt được đồng chí cán bộ lãnh đạo phân khu A Hà Châu (Phú Bình, Thái Nguyên). Đến ngày 11 tháng 10 năm 1944, ta tiêu diệt tên đội khố xanh gian ác ở Phú Bình. Thời gian này ở Võ Nhai tổ chức các cuộc mít tinh kỷ niệm một cách công khai. Do những sự kiện nói trên, thực dân Pháp biết được những hoạt động của Cứu quốc quân. Cho nên, bắt đầu từ cuối tháng 10 năm 1944, một lần nữa, thực dân Pháp lại mở một cuộc khủng bố quy mô lớn vào Võ Nhai.

Từ Phú Bình, địch dắt dây khủng bố lên Cây Thị (Đồng Hỷ) Làng Mười, Tràng Xá (Võ Nhai). Ngày 5 tháng 11 năm 1944, địch bắt toàn bộ Ban chấp hành Việt Minh xã Tràng Xá. Từ Tràng Xá, kẻ địch khủng bố lan rộng ra các xã Lâu Thượng, Phú Thượng. Lúc này lúa ngoài đồng đang chín rộ, nhân dân mới chỉ gặt được quá nửa. Địch không bắt được người ban đêm, chúng đi bắt ban ngày. Những cán bộ cơ sở phải chạy vào rừng hoạt động bí mật, tham gia Cứu quốc quân. Cũng đã có một số gia đình chạy vào rừng sâu tránh địch khủng bố. Tình hình rất căng thẳng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2021, 03:08:41 pm »

Đứng trước cuộc khủng bố lan tràn của địch, các đồng chí lãnh đạo phân khu A đã họp liên tiếp để tìm cách chống địch khủng bố. Ngày 6 tháng 11, các đồng chí lãnh đạo họp ở Ma Hin (Phú Thượng). Ngày 10 tháng 11 lại họp ở Đồng Mỏ (Phú Thượng). Ngày tháng 11 lại họp ở Chùa Đon (Phủ Thượng). Tại cuộc họp ở Nghè Đồng Mỏ ngày 10 tháng 11 năm 1944, các đồng chí lãnh đạo phân khu A đã nhất trí quyết định:

a) Cho tự vệ chiến đấu và những thanh niên trung kiên thoát ly vào rừng tham gia Cứu quốc quân.

b) Triệt để trừng trị những tên tay sai đắc lực của thực dân Pháp.

c) Cất giấu lương thực lên núi, vào hang để chuẩn bị chiến đấu.

d) Đấu tranh vũ trang chống khủng thành lập các ban chuyên môn như ban ám sát, ban phá hoại, ban trinh sát, ban vườn không nhà trống... làm các nhiệm vụ diệt mật thám tay sai đầu sỏ, phá cầu, đắp ụ cản giao thông, đánh địch hành quân đi càn quét.

Sang cuộc họp ngày 12 tháng 11 năm 1944 ở Chùa Đon, các đồng chí lãnh đạo phân khu A lại nhất trí quyết định thêm là, thực hiện vườn không nhà trống triệt để, đưa nhân dân lên hang núi, tiến đánh Đình Cả, Tràng Xá, La Hiên. Cuộc họp còn quyết định chỉ thị cho Cứu quốc quân ở Bắc Sơn phối hợp, phá cầu, chặn đường tiến công của địch từ Lạng Sơn kéo vào Bắc Sơn xuống Võ Nhai.

Đầy lòng căm thù giặc Pháp, lại có kinh nghiệm đánh du kích trong tám tháng chống khủng bố trước đây, Cứu quốc quân, tự vệ cùng đồng bào các dân tộc đã nhiệt tình hưởng ứng quyết định của ban lãnh đạo phân khu A. Ngày 8 tháng 11 Cứu quốc quân tiêu diệt phó tổng Tý, tổng đoàn Thiện. Ngày 11 tháng 11, Cứu quốc quân phá cầu Trúc Mai (ở cây số 25, trên đường Thái Nguyên đi Đình cả) cắt đứt liên lạc của địch từ Thái Nguyên đi Đình Cả. Sáu lần địch cho liên lạc về Thái Nguyên để xin chi viện đều bị ta bắt. Liên tiếp sau đó, Cứu quốc quân cùng tự vệ đánh đồn Quang Thái, đồn Đình Cả, tịch thu súng dõng, bắt 10 tên mật thám ở Lâu Thượng. Quân địch vô cùng tức tối. Một mặt chúng tích cực sửa chữa ngay cầu đường. Mặt khác, chúng tăng binh lính đi đàn áp lên tới hàng nghìn tên, gồm lính lê dương, lính khố đỏ, có cả máy bay và sơn pháo, từ ba mặt Thái Nguyên, Bắc Giang, Lạng Sơn hùng hổ tiến vào Võ Nhai. Chúng đến đâu thì nhà cửa, ruộng vườn bị đốt phá tới đó, nhất là ở dọc con đường Thái Nguyên lên Đình Cả. Tình cảnh rất tàn khốc. Đồng bào phải bồng bế con cái lên hang núi. Theo quyết định của cuộc họp Chùa Đon, đồng bào các dân tộc ở Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá cùng ban phá hoại đã tự tay đốt nhà, kéo vào sống ở Lân Hang, Lân Cùng, Mỏ Gà, Cây Hồng. Đêm ngày 12 tháng 11, thực dân Pháp cho khoảng 700 tên lính khố đỏ, tiến từ Thái Nguyên lên Võ Nhai, vừa hành quân vừa sửa chữa cầu đường, để tiếp sức cho đồn Tràng Xá đang bị Cứu quốc quân và tự vệ bao vây. Ngày 13 tháng 11, đơn vị Cứu quốc quân phục kích ở gốc đa La Hóa bắn chết 10 tên và thu vũ khí. Ngày 15 tháng 11 tên quan một đồn Đình Cả đi về Thái Nguyên xin chi viện, bị Cứu quốc quân chặn đánh. Y hoảng hốt bỏ ô tô chạy trốn. Ta cướp được ô-tô đem đốt. Ngày 17 tháng 11, thực dân Pháp lại cho khoảng 300 tên lính từ Thái Nguyên tiến lên Võ Nhai, có cả máy bay yểm trợ. Lực lượng của ta chỉ có 20 Cứu quốc quân với 15 khẩu súng trường, đã anh dũng chặn địch ở dốc Đất Đỏ. Ta diệt được một số tên địch, thu 3 khẩu súng. Sau đó, Cứu quốc quân rút về Làng Hang (Lâu Thượng) an toàn. Ngày 18 tháng 11, tên tuần Phủ Thái Nguyên Cung Đình Vận đi lên Đình Cả xem xét tình hình, bị Cứu quốc quân phục kích bắn bị thương.

Sang cuối tháng 11, thực dân Pháp tiếp tục tăng cường cuộc khủng bố. Ngày 26 tháng 11, địch tiến vào Làng Hang, bắt 120 dân sơ tán ở đây về trại tập trung Hang Bụt (La Hiên). Ngày 27 tháng 11, thực dân Pháp lại huy động một lực lượng khá lớn binh lính từ ba mặt Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên tiến vào Võ Nhai. Chúng tiến công lên hàng Mỏ Gà, nơi có hàng nghìn quần chúng sơ tán vào đấy. Cứu quốc quân cùng tự vệ đã anh dũng chiến đấu chặn địch, bảo vệ dân. Sau hai ngày tiến công, quân địch mới tiến lên hang được, nhưng chúng đã bị thất bại. Chúng chỉ bắt được một số người già yếu, còn phần lớn đồng bào đã an toàn rút sang Đồng Toong, Làng Phật. Ngày 20 tháng 11 năm 1944, quân địch lại tiến vào Lân Han (xã Lâu Thượng). Lần này, chúng huy động cả lính Âu — Phi. Đêm đến, lợi dụng trời tối, Cứu quốc quân cùng bà con sơ tán ở đây đã bí mật rút sang đập Cây Hồng.

Sau gần một tháng đấu tranh chống địch khủng bố bằng cuộc đấu tranh vũ trang đánh đồn, phục kích địch hành quân, chặn địch tiến công, phá cầu đường, cắt giao thông, diệt mật thám tay sai, bảo vệ nhân dân, lực lượng Cứu quốc quân vừa phát triển, vừa thu được những thắng lợi nhất định. Nhưng cuộc đấu tranh đó cũng ngày càng gặp nhiều khó khăn. Nhân dân một số bị kìm kẹp trong các trại tập trung, đời sống rất cực khổ, một số phải ẩn náu ở trong rừng sâu, trong hang đá. Cứu quốc quân vừa lo chiến đấu, lại vừa lo bảo vệ dân. Trong khi đó đường liên với các nơi bị cắt đứt, Cứu quốc quân phải chiến đấu cô độc trong vòng vây của địch. Ban chỉ huy chiến khu Hoàng Hoa Thám khi nhận được báo cáo đã trực tiếp sang, nhưng mấy lần đi đều không lọt, liền báo cáo với Trung ương và Xứ ủy. Bắt được thư của Ban chỉ huy chiến khu Hoàng Hoa Thám, Trung ương Đảng đã cử đồng chí Ngô Thế Sơn là ủy viên thường trực Ủy ban quân chính Bắc-kỳ theo đường giao thông quân sự lên Võ Nhai, để truyền đạt chỉ thị ngừng tiếng súng của Trung ương Đảng. Ngày 7 tháng 12 năm 1944, đồng chí Ngô Thế Sơn đã triệu tập cuộc họp các đồng chí lãnh đạo phân khu A bàn kế hoạch thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, ngừng tiếng súng, chuyển sang đấu tranh chống địch khủng bố bằng những hình thức thông thường, đưa dân trở về làng cũ làm ăn sinh sống.

Ban thường vụ Trung ương Đảng đã biểu dương tinh thần bất khuất của Cứu quốc quân và đồng bào các dân tộc Võ Nhai. Đồng thời, Ban thường vụ Trung ương cũng đã nghiêm khắc phê phán chủ trương chống địch khủng bố của các đồng chí lãnh đạo phân khu A, coi đó là hành động tiểu tư sản, bộc lộ lực lượng quá sớm. Trong bài «Chúng ta học tập được những gì trong cuộc đấu tranh võ trang ở Thái Nguyên», đồng chí Trường Chinh — Tổng bí thư của Đảng, đã nêu ba ưu điểm, hai khuyết điểm và viết: «Các đồng chí Võ Nhai coi thường bạo động. Đáng lẽ chỉ vận động quần chúng đấu tranh chống dồn làng và bắt người, chống khủng bố theo những hình thức thông thường, thì các đồng chí ấy đã căn cứ vào một hai tin không chắc chắn... mà phát động du kích một cách cô độc. Các đồng chí Võ Nhai tưởng có thể tiến thẳng lên khởi nghĩa, nên đã hạ lệnh cho quần chúng thực hành «đồng không, nhà vắng» đến triệt để, đưa một số dân chúng không thể chiến đấu lên núi và do đó tự đeo thêm quả tạ vào chân bộ đội du kích»(1).

Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo phân khu A đã nhanh chóng lãnh đạo Cứu quốc quân và quần chúng chuyển hướng đấu tranh. Cứu quốc quân ở Võ Nhai được phân chia thành hai bộ phận. Một bộ phận chuyển sang phân khu B công tác. Đại bộ phận lực lượng Cứu quốc quân chuyển xuống vùng Bắc Yên Thế và Hữu Lũng (Bắc Giang cũ) để củng cố. Còn bộ phận ở Võ Nhai thì chia thành các tổ công tác ở Phú Thượng, Lâu Thượng, Tràng Xá, La Hiên lãnh đạo nhân dân chống bắt người, cướp của, tổ chức đưa dân chúng trở về làng cũ làm ăn.

Bộ phận rút xuống Bắc Yên Thế và Hữu Lững gặp nhiều khó khăn, các đồng chí lãnh đạo cử liên lạc đi báo cáo Ban lãnh đạo chiến khu và Ban thường vụ Trung ương Đảng, xin tạm rút lên biên giới Việt — Trung. Khi cán bộ liên lạc về tới Phú Bình thì nhận được chỉ thị «Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta!» của Ban thường vụ Trung ương Đảng, liền quay về báo cáo với các đồng chí lãnh đạo phân khu A.

Do Trung ương Đảng kịp thời chỉ thị uốn nắn, cho nên cơ sở cách mạng ở Võ Nhai vẫn được giữ vững. Kết quả đó tạo điều kiện rất thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Võ Nhai. Sau ngày Nhật đảo chính lật đổ Pháp, Võ Nhai là một châu giành được chính quyền tương đối sớm của tỉnh Thái Nguyên.


(1) Cờ giải phóng, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1956, tr 116
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #24 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2021, 03:10:00 pm »

V — CỨU QUỐC QUÂN KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN VÀ
THỐNG NHẤT VỚI ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN
THÀNH VIỆT NAM GIẢI PHÓNG QUÂN

Đúng như dự đoán của Trung ương Bảng, đêm mồng 9 tháng 3 năm 1945, phát-xít Nhật nổ súng lật đổ Pháp cùng một lúc trên toàn cõi Đông Đương Cuộc đảo chính đã kết thúc nhanh chóng bằng sự sụp đổ thảm hại của chính quyền thực dân Pháp. Cuộc đảo chính lật đổ Pháp độc chiếm lấy Đông Dương của phát-xít Nhật là thời cơ thuận lợi để Đảng ta phát động cao trào chống Nhật, cứu nước tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Bắt mạch được tình hình Nhật chuẩn bị lật đổ Pháp, ngày 9 tháng 3 năm 1945, Ban thường vụ Trung ương Đảng đã họp hội nghị mở rộng ở Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh). Trong khi đang họp thì cuộc đảo chính Nhật, Pháp đã nổ ra. Hội nghị chủ trương đem khẩu hiệu «đánh đuổi phát-xít Nhật» thay cho khẩu hiệu «đánh đuổi Pháp, Nhật» trước đây, phát động cao trào chống Nhật cứu nước mạnh mẽ để tiến tới tổng khởi nghĩa. Toàn bộ những quyết định sáng suốt của Hội nghị đã được ghi rõ trong bản chỉ thị lịch sử «Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta!» ra ngày 12 tháng 3 năm 1945 của Ban thường vụ Trung ương Đảng.

Ngay trong khi Nhật, Pháp đang bắn nhau, các cấp đảng bộ căn cứ vào chủ trương, đường lối của Đảng đã vạch ra từ trước, liền chớp lấy cơ hội đó lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa. Đặc biệt bản chỉ thị của ban thường vụ Trung ương Đảng ra ngay 12 tháng 3 năm 1945 đã có tác dụng chỉ đạo rất kịp thời, phát huy được tinh thần độc lập, sáng tạo của các đảng bộ địa phương trong cao trào chống Nhật, cứu nước. Cao trào này đã diễn ra vô cùng sôi nổi, hào hứng ở khu căn cứ Việt Bắc.

Tại chiến khu Hoàng Hoa Thám, căn cứ vào những hành động của thực dân Pháp (như di chuyển binh lính, vũ khí bằng ô-tô trên đường Thái Nguyên — Tuyên Quang), căn cứ vào chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã đề ra trước đây, Ban lãnh đạo chiến khu đã triệu tập một cuộc họp để phán đoán tình hình, dự định kế hoạch khởi nghĩa khi Nhật, Pháp đánh nhau. Sau cuộc họp này, Ban lãnh đạo chiến khu đã tổ chức một cuộc mít tinh quần chúng tại Khuôn Kẹn (Sơn Dương, Tuyên Quang) để tố cáo tội ác của phát-xít Nhật, Pháp, cổ vũ nhân dân sẵn sàng nổi dậy khởi nghĩa. Trong lúc đang họp mít tinh thì Ban lãnh đạo chiến khu nhận được tin tàn binh Pháp bị Nhật đánh bại, chạy ngược theo Sông Đáy lên Đồn Cóc, tìm đường ra biên giới Việt — Trung. Căn cứ vào chỉ thị «sửa soạn khởi nghĩa» của Tổng bộ Việt Minh, thấy rằng lực lượng cách mạng (Cứu quốc quân, tự vệ, các Hội cứu quốc) đã lớn mạnh, phân bố khá đồng đều ở các địa phương, hai kẻ thù của dân tộc đang cắn xé nhau chí tử, Ban lãnh đạo chiến khu Hoàng Hoa Thám quyết định ra lệnh cho các đơn vị Cứu quốc quân khởi nghĩa giành chính quyền. Kế hoạch khởi nghĩa của Ban lãnh đạo chiến khu Hoàng Hoa Thám gồm có mấy điểm sau đây:

a) Cứu quốc quân phối hợp cùng các đội tự vệ ở các địa phương phải nhanh chóng, kịp thời tước võ khí của địch đem trang bị cho lực lượng của ta, phối hợp với quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền ở các địa phương.

b) Phá các kho thóc, gạo, muối... đem chia cho nhân dân nghèo đói, đem nuôi cán bộ cách mạng và lực lượng võ trang.

c) Ban chấp hành Việt Minh các cấp ở các địa phương phải tích cực, chủ động phối hợp với các đội võ trang làm công tác tuyên truyền, phát triển mạnh mẽ các Hội cứu quốc và tổ chức Ủy ban giải phóng dân tộc lâm thời các cấp các địa phương.

d) Đẩy mạnh công tác binh vận và địch vận, kêu gọi binh lính, ngụy quyền nhanh chóng bỏ hàng ngũ địch trở về với nhân dân, với cách mạng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #25 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2021, 03:12:02 pm »

Ở phân khu B:

Mặc dù phát-xít Nhật chưa đánh thị xã Thái Nguyên, nhưng bọn Pháp ở đây đã hoang mang tột độ. Chúng vội vã lên ô-tô chạy lên Tuyên Quang. Trên đường chạy trốn, quân Pháp còn bắt phu khuân vác đồ đạc, sục sạo vào các làng bản ven đường cướp lương thực, lợn gà... của nhân dân. Những hành động đó của chúng càng đốt cháy thêm ngọn lửa căm thù của nhân dân ta.

Thấy quân Pháp từ Thái Nguyên chạy theo quốc lộ số 2 lên Tuyên Quang, và nghe tiếng súng đại bác từ Việt Trì, (Phú Thọ) vọng sang, biết rằng Nhật, Pháp đã cắn xé nhau, tuy lúc này chưa có chỉ thị của Trung ương, nhưng căn cứ vào nhưng chỉ thị, nghị quyết đã đề ra. từ trước, đồng chí Chu Văn Tấn chỉ huy một đơn vị Cứu quốc quân phục kích đánh Pháp ở Đèo Khế, trên con đường quốc lộ số 2. Đây là một cái đèo nằm ở giữa địa giới hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, địa hình rất hiểm trở, dốc cao, vực sâu. Ngày 10 tháng 3 năm 1945, khi quân Pháp mò qua Đèo Khế, Cứu quốc quân liền nổ súng chặn đánh. Bị tiến công bất ngờ, quân Pháp hốt hoảng, rút chạy trở lại tỉnh lỵ Thái Nguyên, rồi sau đó kéo xuống Gia Sàng đầu hàng quân Nhật. Vũ khí và đồ dùng quân sự Cứu quốc quân đoạt được trong trận này đủ để trang bị cho hàng đại đội. Sau đó, Cứu quốc quân kéo xuống Đại Từ, Định Hóa tịch thu súng dõng, và sổ sách, giấy tờ của tổng lý, kỳ hào, giải phóng xóm làng.

Ở Định Hóa, ngày 26 tháng 3 năm 1945, Cứu quốc quân cùng tự vệ địa phương, tiến đánh Chợ Chu, giải phóng châu lỵ. Cứu quốc quân cùng tự vệ phá trại giam Chợ Chu, giải thoát hơn 30 tù chính trị. Đồng thời, Cứu quốc quân phá kho thóc đem chia cho dân nghèo, thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc làm thời, phủ Định Hóa.

Ở Đại Từ, chiều ngày 29 tháng 3 năm 1945, Cứu quốc quân cùng tự vệ địa phương tiến về bao vây phủ lỵ. Quân ta nổ súng uy hiếp, kêu gọi ngụy quyền tay sai cùng binh lính địch ra hàng. Trước sức mạnh của quân cách mạng, quân địch bỏ súng đạn, tìm đường chạy trốn. Cứu quốc quân thu vũ khí, hoàn toàn làm chủ phủ ly Đại Từ. Sáng ngày 30 tháng 3 năm 1945, Cứu quốc quân tổ chức một cuộc mít tinh quần chúng ở phủ lỵ, tuyên bố chính quyền địch đã bị xóa bỏ, hiệu triệu mọi người góp công, góp sức ủng hộ cách mạng, xây dựng chính quyền mới. Ngay sau đó, Cứu quốc quân dẫn đầu đoàn người, kéo đi phá kho thóc Hùng Sơn và Yên Nhuận, đem chia cho nhân dân.

Những đơn vị Cứu quốc quân ở Tuyên Quang cũng nhanh chóng phối hợp với tự vệ và nhân dân các dân tộc ở các địa phương khởi nghĩa, giải phóng bản làng. Tối mồng 10 tháng 3 năm 1945, đơn vị Cứu quốc quân ở Sơn Dương giải phóng xã Thanh La, lập ra ủy ban giải phóng dân tộc lâm thời xã. Sau đó, Cứu quốc quân chọn những hội viên thanh niên cứu quốc khỏe mạnh, hăng hái, tổ chức một trung đội tự vệ của xã, để bảo vệ chính quyền nhân dân vừa được thành lập và cùng Cứu quốc quân giải phóng châu lỵ Sơn Dương. Sáng ngày 11 tháng 3 năm 1945, Cứu quốc quân tổ chức một cuộc tuần hành võ trang kéo từ Thanh La tiến đánh đồn Đăng Châu. Trên đường hành quân đi qua các xã, Cứu quốc quân đã tiến hành tịch thu súng dõng và sổ sách, bằng triện khế ước của bọn hào lý, tổ chức chính quyền cách mạng. Đồng thời, Cứu quốc quân cùng tự vệ còn chặn đánh tàn binh Pháp ở Lũng Cò (xã Minh Khai), Phượng Liễn (xã Bình Yên), diệt nhiều tên và thu nhiều vũ khi. Nhân dân các xã vừa được giải phóng lại hòa cùng đoàn tuần hành võ trang do Cứu quốc quân dẫn đầu tiến về giải phóng châu lỵ Sơn Dương. Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Cứu quốc quân cùng tự vệ và nhân dân bao vây đồn Đăng Châu (châu lỵ Sơn Dương). Hoảng sợ trước khí thế sôi sục của cách mạng, quân Pháp và tên tri châu đã bỏ chạy từ chiều hôm trước, chỉ để lại 10 tên lính cơ giữ đồn. Quân ta tiến vào đồn, thu toàn bộ vũ khí, làm chủ châu lỵ Sơn Dương không tốn một viên đạn nào. Sau khi giải phóng châu lỵ Sơn Dương, Cứu quốc quân rút về xã Thanh La để kiểm điểm và rút kinh nghiệm những trận chiến đấu vừa rồi, kiện toàn và củng cố đội ngũ, chuẩn bị cho những trận chiến đấu mới.

Phát-xít Nhật sau khi lấy được thị xã Tuyên Quang từ tay Pháp, liền cho «bảo an binh» tiến về Sơn Dương, chiếm lại đồn Đăng Châu. Trước tình hình đó, Ban chỉ huy chiến khu Hoàng Hoa Thám quyết định tiêu diệt bọn «bảo an binh» đánh tan uy thế bọn tay sai của Nhật, củng cố lòng tin của nhân dân. Tối ngày 15 tháng 3 năm 1945, Cứu quốc quân cùng lực lượng tự vệ nổ súng đánh đồn Đăng Châu từ ba mặt. Trước khí thế tiến công dũng cảm của quân cách mạng, bọn «bảo an binh», bọn lính đánh thuê của phát-xít Nhật vừa được tổ chức, vô cùng khiếp sợ. Đại bộ phận lính bảo an không dám chống cự lại quân cách mạng. Chỉ có một số ít lính bảo an cùng những tên cầm đầu ngoan cố không chịu đầu hàng. Chúng giả vờ điều đình với ta để chờ quân tiếp viện tới cứu nguy. Biết rõ âm mưu đó của chúng, quân ta kiên quyết tiến công, vừa đánh vừa kêu gọi chúng đầu hàng. Sau khi tên quan ba «bảo an binh» phải đền tội, tên huyện trưởng Sơn Dương bị bắt sống, cùng nhiều tên lính bảo an bị thiệt mạng, bọn lính bảo an ở đồn Đăng Châu như rắn mất đầu, hoàn toàn tan rã. Châu ly Sơn Dương lại được giải phóng khỏi nanh vuốt của kẻ thù. Đây là một trận chiến đấu kết hợp giữa tiến công quân sự với công tác binh vận của Cứu quốc quân và lực lượng tự vệ địa phương. Sau khi giành được thắng lợi, Cứu quốc quân tổ chức một cuộc mít tinh quần chúng ở châu lỵ, tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc lâm thời châu, gọi là châu Tự Do.

Trên đà thắng lợi đó, Ban chỉ huy chiến khu Hoàng Hoa Thám cử cán bộ mang vũ khí từ Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) lên Chợ Đồn (tỉnh Bắc Cạn) tổ chức một trung đội tự vệ tại làng Nghĩa Tá. Đội viên của trung đội này chủ yếu là người Dao. Sau khi thành lập, trung đội tự vệ này đã cùng với Cứu quốc quân giải phóng hoàn toàn tổng Nghĩa Tá. Rồi sau đó phối hợp cùng đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân giải phóng châu lỵ Chợ Đồn. Đồng thời, Ban chỉ huy chiến khu Hoàng Hoa Thám chỉ thị cho Cứu quốc quân tiến lên phía Bắc tỉnh Tuyên Quang, khởi nghĩa giành chính quyền. Từ Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên), Cứu quốc quân tiến lên Nam Chợ Đồn, sang giải phóng châu Chiêm Hóa. Ngày 30 tháng 3 năm 1945, Ủy ban dân tộc giải phóng lâm thời châu Chiêm Hóa (tỉnh Tuyên Quang) được thành lập, gọi là châu Khánh Thiện. Từ Sơn Dương, Cứu quốc quân vượt sông Lô tiến lên giải phóng châu Yên Sơn. Ngày 1 tháng 4 năm 1915, châu Yên Sơn được giải phóng, Ủy ban dân tộc giải phóng lâm thời châu được thành lập, gọi là châu Hồng Thái. Từ Chiêm Hóa, một bộ phận Cứu quốc quân tiến lên giải phóng châu Nà Hang, và một bộ phận tiến sang giải phóng châu Hàm Yên. Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Cứu quốc quân phối hợp cùng một đơn vị của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân giải phóng hoàn toàn châu Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang. Từ Hàm Yên, Cứu quốc quân tiến sang giải phóng Đồng Lạng, Ngọc Thị thuộc châu Yên Bình (tỉnh Yên Bái).

Trong tháng 4 và tháng 5 năm 1945, hoạt động của Cứu quốc quân ở vùng giáp trung du cũng rất sôi nổi. Ngày 2 tháng 4 năm 1945, Cứu quốc quân tiến đánh châu lỵ, giải phóng châu Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên). Từ bắc Sơn Dương, Cứu quốc quân tiến xuống giải phóng Thiện Kế (nam Sơn Dương). Ngày 16 tháng 5 năm 1945, Ủy ban dân tộc giải phóng lâm thời châu Kháng Địch(1) được thành lập.


(1) Châu Kháng Địch gồm một sổ xã phía nam châu Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) và phía Bắc châu Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Yên).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #26 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2021, 03:12:46 pm »

Ở phân khu A:

Ngày 13 tháng 3 năm 1945, Cứu quốc quân phối hợp cùng lực lượng tự vệ và nhân dân các dân tộc tiến vào phố Đình Cả (Võ Nhai) đánh tan một tiểu đội địch, phá kho thóc và kho muối ở đây đem chia cho nhân dân. Tối ngày 15 tháng 3, Cứu quốc quân và tự vệ lại phá kho thóc ở đồn điền Boóc-đi-ê ở xã Phú Thượng (Võ Nhai) đem chia cho nhân dân.

Trong lúc nhân dân ta đang bị nạn đói đe dọa, khẩu hiệu phá kho thóc, kho gạo đem chia cho nhân dân của Đảng ta có một nghĩa chính trị rất sâu sắc. Những lần phá kho thóc, kho gạo đem chia cho nhân dân, của Cứu quốc quân, đã tập hợp và đưa nhân dân các dân tộc tham gia cuộc khởi nghĩa giành chính quyền càng đông đảo và mạnh mẽ.

Tối ngày 17 tháng 3 năm 1945, một số Cứu quốc quân cùng tự vệ bao vây đồn Đình Cả, còn đại bộ phận lực lượng Cứu quốc quân và tự vệ cùng đông đảo nhân dân tiến về La Hiên, giải phóng châu lỵ Võ Nhai. Suốt mấy ngày đêm tiến công quân sự quyết liệt, kết hợp với công tác chính trị và binh vận sắc bén, phân hóa kẻ thù, trừng trị những tên ngoan cố, quân cách mạng đã buộc địch ở châu lỵ Võ Nhai phải đầu hàng. Đến sáng ngày 20 tháng 3 năm 1945 tên tri châu Võ Nhai đã đem toàn bộ vũ khí, tài sản, sổ sách nộp cho Cứu quốc quân. Ngày 21 tháng 3, hàng nghìn nhân dân cùng tự vệ và Cứu quốc quân thị uy võ trang, từ châu lỵ La Hiên đi bao vây đánh đồn Đình Cả. Cùng ngày hôm đó, một đơn vị Cứu quốc quân đánh đồn Tràng Xá. Sau khi hạ đồn, đơn vị này cùng nhân dân xã Tràng Xá cùng kéo ra đánh đồn Đình Cả. Quân và dân ta bao vây, vừa đánh vừa gọi hàng. Tên chỉ huy đồn giả vờ điều đình, ra gặp ta để thăm dò lực lượng. Thấy vũ khí ta ít ỏi, thô sơ, y tỏ ý khinh thường, dùng kế hoãn binh để chờ quân tiếp viện từ tỉnh lỵ lên giải vây. Trưa ngày 27 tháng 3, tên chỉ huy đồn trá hàng, mời cán bộ ta lên đồn để trao vũ khí. Do thiếu cảnh giác, đồng chí Thái Long (tức Nông Văn Cún) là một cán bộ dũng cảm của Cứu quốc quân, do tên cai lính cơ Nhật Tân vừa ra hàng dẫn đi lên đồn, đã bị địch ám hại. Hành động đê hèn đó của địch không làm cho chủng thoát khỏi số phận bị tiêu diệt. Quân cách mạng sôi sục căm thù, tiếp tục siết chặt vòng vây, liên tục nổ súng bắn tỉa. Cuối cùng, viện binh chẳng thấy tới cứu nguy, nguy cơ bị tiêu diệt ngày càng gần cho nên 3 giờ sáng ngày 10 tháng 4, chúng quyết định mở con đường máu, rút chạy về tỉnh lỵ Thái Nguyên. Nhưng chúng đã bị Cứu quốc quân truy kích và phục kích đánh thiệt hại. Trong trận phục kích ở Đèo Khế (Đồng Hỷ), Cứu quốc quân đã bắn chết 10 tên và nhiều tên khác bị thương. Số còn lại chạy tan tác vào rừng, tìm đường về tỉnh lỵ Thái Nguyên. Ta thu được 19 súng trường, 2 súng máy cùng nhiều đạn dược. Sau nhiều ngày chiến đấu, đến ngày 10 tháng 4 năm 1945, Cứu quốc quân cùng tự vệ các địa phương đã hoàn toàn giải phóng châu Võ Nhai, chính quyền cách mạng ở các xã, châu được thành lập.

Sau khi giải phóng hoàn toàn châu Võ Nhai, Ban lãnh đạo phân khu A đem phần lớn lực lượng tiến lên Lạng Sơn và xuống Bắc Giang để cùng các tổ công tác của Cứu quốc quân ở đó khởi nghĩa giành chính quyền. Đồng thời cho một đơn vị tiến xuống Đồng Bẩm (Đồng Hỷ) gây dựng cơ sở quần chúng, chuẩn bị tiến về giải phóng tỉnh lỵ Thái Nguyên.

Ở phía Bắc Giang, ngày 15 tháng 4, Cứu quốc quân cùng tự vệ địa phương đột nhập vào phủ lỵ Yên Thế, thu 14 súng. Sau khi giải thích chính sách Việt Minh cho nhân dân ở phố Nhã Nam, Cứu quốc quân tiến lên châu lỵ Hữu Lũng. Tri châu đầu hàng, đem nộp 400 sủng kíp mà chúng đã cướp giật của nhân dân cho Cứu quốc quân để trả lại cho đồng bào. Ngày 18 tháng 4, Cứu quốc quân tiến vào xí nghiệp Mỏ Sắt thu vũ khí và chiếm lấy kho muối, Cùng ngày hôm đó, Cứu quốc quân phá kho thóc Cầu Mây (Phú Bình, Thái Nguyên) đem chia cho nhân dân. Cùng với việc đánh đồn giải phóng xóm làng, Cứu quốc quân còn cùng với tự vệ địa phương tiễu phỉ, trừ gian bảo vệ tính mệnh và tài sản của nhân dân. Những toán phỉ ở Phố Vị, Yên Nhuận, Bảo Đài... bị đánh tan. Trật tự, trị an ở những nơi này được ổn định. Thắng lợi liên tiếp của Cứu quốc quân làm cho bọn quan lại ở các châu, làng, xã hoang mang. Tri phủ Yên Thế chạy trốn về tỉnh để thoát thân. Tri phủ Hiệp Hòa thì tích cực liên lạc với cách mạng, để lập công chuộc tội.

Ở phía Lạng Sơn, ngày 15 tháng 4 năm 1945 Cứu quốc quân đánh tan bốt Tam Thái (Mỏ Gà). Ngày 10 tháng 4 đánh tan bốt Vũ Lễ. Ngày 17 tháng 4 đánh đồn Nam Nhi (Vũ Lăng), phá kho thóc ở đây đem chia cho nhân dân. Nghe tin ở Võ Nhai đã thuộc về cách mạng, tri châu Bắc Sơn và tên châu úy đồn Nam Nhi liền tập trung bọn tay sai tổng đoàn, xã đoàn, lính dõng các địa phương về giữ châu lỵ. Nhưng khi các bốt Tam Thái, Vũ Lễ và đồn Nam Nhi bị đánh tan, thì chúng hốt hoảng chạy sang Bằng Mạc. Ngày 18 tháng 4, từ Nam Nhi, Cứu quốc quân tiến đánh châu ly Bắc Sơn theo hai đường. Một đường đi qua các xã Hữu Vĩnh, Quỳnh Sơn, Bắc Sơn... thu súng dõng, lập Ủy ban giải phóng dân tộc lâm thời các xã. Một đường tiến thẳng đến châu lỵ Bắc Sơn. Khi quân ta tiến vào châu lỵ thì quân địch đã chạy trốn. Quân ta làm chủ châu lỵ, thu 20 súng trường, 30 súng khai hậu, 30 hòm đạn, 30 bao muối và một kho gạo. Ủy ban giải phóng dân tộc lâm thời và Ban chấp hành Việt Minh châu Bắc Sơn được thành lập. Đông đảo thanh niên trong các đội tự vệ ở Bắc Sơn tình nguyện tham gia Cứu quốc quân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #27 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2021, 03:16:31 pm »

Sau khi đã hoàn toàn làm chủ châu lỵ. Cứu quốc quân để lại một đơn vị làm lực lượng nòng cốt, cùng lực lượng tự vệ địa phương giải phóng và thành lập chính quyền cách mạng các xã ở châu Bắc Sơn. Còn lại bộ phận lực lượng thì tiến sang giải phóng Bình Gia, Bằng Mạc. Những tin tức từ Bắc Sơn dội sang làm cho tên đồn trưởng đồn Bình Gia Các-ben và tên tri châu Bình Gia lo sợ, giao quyền cho lên tri phủ đã về hưu trốn chạy xuống Đồng Mỏ (Châu Ôn). Khi Cứu quốc quân tiến sang Bình Gia, tên tri phủ về hưu cùng khoảng 40 lính khố xanh không dám chống cự. Quân cách mạng làm chủ châu lỵ, thu 20 súng trường, 30 súng khai hậu, 30 hòm đạn, 30 bao muối và một kho gạo. Ngày 19 tháng 4 năm 1945, Ủy ban giải phóng dân tộc lâm thời và Ban chấp hành Việt Minh châu Bình Gia được thành lập. Ngày 20 tháng 4, Cứu quốc quân từ Bình Gia tiến vào Văn Mịch, phối hợp với một đơn vị của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân từ Tràng Định tiến sang, đánh đồn Văn Mịch. Tên bang tá đồn Văn Mịch đầu hàng, giao toàn bộ vũ khí và tài sản trong đồn cho quân cách mạng. Sau đó, ta tổ chức một cuộc mít tinh quần chúng tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch.

Đơn vị Cứu quốc quân tiến sang Bằng Mạc sau khi đã hạ đồn Vạn Linh, thì ngày 2 tháng 5 năm 1945, tiến lên bao vây đồn và châu lỵ Bằng Mạc. Cứu quốc quân khép chặt vòng vây, viết thư thuyết phục tên tri châu đầu hàng. Hoảng sợ trước sức mạnh của quân cách mạng, tri châu xin đầu hàng quân cách mạng. Ta hoàn toàn làm chủ châu lỵ, thu một súng hiệu, một súng lục, một khẩu trung liên và 24 súng trường, một kho thóc và một kho gạo. Biết tin quân Nhật chuẩn bị từ Đồng Mỏ tiến lên chiếm Bằng Mạc, Cứu quốc quân rút về Bình Gia để tránh cuộc tập kích của một lực lượng lớn quân Nhật, sau khi đã giải thích chính sách Việt Minh cho bọn lục sự, thừa phái và binh lính.

Ở Tràng Định, Cứu quốc quân phối hợp cùng Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân từ Cao Bằng tiến xuống và tự vệ địa phương phá bốt, đánh đồn, giải phóng xóm làng. Ngày 1 tháng 5 năm 1945, quân cách mạng chiếm kho muối Bản Trại, đem chia cho nhân dân. Ngày 3 tháng 5, quân cách mạng đánh đồn Pò Mã, bắt được tên chánh tổng gian ác đem xử bắn. Số súng đoạt được đủ đem trang bị cho một trung đội tự vệ. Đối với phủ lỵ Thất Khê do quân Nhật đóng, có công sự phòng thủ kiên cố, quân ta chủ trương không đánh, mà tiến về giải phóng vùng nông thôn. Trong khoảng một thời gian ngắn, hầu hết các xã ở Tràng Định đã được giải phóng, chính quyền cách mạng được thành lập. Thanh niên các đội tự vệ xung phong tham gia quân cách mạng, số lượng khoảng hai đại đội.

Thế là đến trung tuần tháng 5 năm 1945, Cứu quốc quân cùng với lực lượng tự vệ và đồng bào các dân tộc đã giải phóng được một vùng rộng lớn và liền mảnh, ở phân khu 13, vùng giải phóng của ta kéo dài từ Đại Từ, Phú Lương, Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên) lên tới Chợ Đồn (Bắc Cạn), và từ Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) lên đến Yên Sơn, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Nà Hang, sang giáp Yên Bình (tỉnh Yên Bái) và xuống Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Yên). Ở phân khu A, vùng giải phóng của ta kéo dài từ Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên) lên Bắc Sơn, Bình Gia, Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn), xuống Bắc Yên Thế và Hữu Lũng (tỉnh Bắc Giang) Ở vùng giải phóng của ta, bên cạnh lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đông đảo, chính quyền cách mạng đã được thành lập. Đây là kết quả to lớn của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền từng phần ở chiến khu Hoàng Hoa Thám sau ngày Nhật đảo chính Pháp. Thắng lợi đó xác định vai trò trụ cột của Cứu quốc quân trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.

Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở chiến khu Hoàng Hoa Thám đã diễn ra rất sôi nổi, kịp thời và mau lẹ. Nó được tiến hành bằng hai lực lượng: lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, và hai hình thức đấu tranh: đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị bằng mũi tiến công binh vận và địch vận sắc bén. Cuộc đấu tranh này có nơi diễn ra rất quyết liệt, như giải phóng đồn Đình Cả, giải phóng đồn Đăng Châu lần thứ hai. Nhưng cũng có nơi cách mạng đã giành được thắng lợi nhanh chóng và thuận lợi như ở Phú Lương, Bắc Sơn, Bình Gia. Nhìn chung cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở chiến khu Hoàng Hoa Thám là đánh đồn, chiếm châu lỵ rồi tỏa đi giải phóng các tổng xã. Cuộc khởi nghĩa đó giành được thắng lợi tương đối nhanh chóng. Thắng lợi đó là kết quả của cả một quá trình lâu dài chuẩn bị lực lượng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhạy bén chớp lấy thời cơ, kiên quyết vùng dậy khởi nghĩa, góp phần cho sự ra đời của khu giải phóng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2021, 03:18:44 pm »

Sau khi hất cẳng Pháp, phát-xít Nhật, một mặt thực hành chính sách lừa gạt nhân dân ta, một mặt tìm cách phá hoại, tiêu diệt cách mạng nước ta. Ngay từ hạ tuần tháng 3 năm 1945, phát-xít Nhật đã cho binh lính từ các tỉnh lỵ Việt Bắc đột nhập vào nhiều châu, phủ. Lúc đầu chúng cho những đơn vị nhỏ đi do thám, thăm dò lực lượng ta, tuần tiễu từng địa phương một. Nhưng chúng đã bị quân cách mạng chặn đánh, gây nhiều thiệt hại cho chúng. Ngày 3 tháng 4 năm 1945, phát-xít Nhật cho quân từ tỉnh lỵ Thái Nguyên tiến lên Định Hóa, Đại Từ. Chúng đi tới đâu thì giở trò cướp bóc, đốt phả, hãm hiếp tới đó. Cánh quân tiến lên Định Hóa đã bị Cứu quốc quân đánh phục kích nhiều trận từ cây số 31 đến cầu Tà Ma (cách Định Hóa 2 cây số) trên con đường số 3b, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Nhân dân ta thực hiện «vườn không nhà trống», cùng Cứu quốc quân bao vây kinh tế, phá hoại giao thông, làm cho quân Nhật gặp khó khăn chồng chất. Cánh quân tiến lên Đại Từ cũng bị Cứu quốc quân chặn đánh, diệt 4 tên sĩ quan Nhật cùng một số tên tay sai.

Cao trào chống Nhật, cứu nước của nhân dân ta phát triển một cách mạnh mẽ. «Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này»(1).

Do đó, tháng 4 năm 1945, Ban thường vụ Trung ương Dàng đã triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc-kỳ. Hội nghị quyết định phát triển mạnh mẽ các lực lượng vũ trang cách mạng, thống nhất hai lực lượng vũ trang Cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Xuất phát từ nhận định «Chúng ta đang ở vào giai đoạn chiến lược phát động du kích»(2), Hội nghị quyết định thành lập 7 chiến khu trong cả nước, phát động chiến tranh du kích «để chuẩn bị phát động tổng khởi nghĩa»(3). Đồng thời, Hội nghị đã cử ra Ủy ban quân sự cách mạng Bắc-kỳ gồm có các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh... để «chỉ huy các chiến khu miền Bắc Đông Dương về mặt chính trị và quân sự, đồng thời có nhiệm vụ giúp đỡ cho toàn quốc về mặt quân sự»(4).

Chấp hành Nghị quyết của Hội nghị quân sự cách mạng Bắc-kỳ, ngày 15 tháng 5 năm 1945, đội Cứu quốc quân và đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã tổ chức lễ thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân tại Định Biên Thượng (Định Hóa, Thái Nguyên). Buổi lễ có đông đảo cán bộ và chiến sĩ của hai đội tham dự, hết sức phấn khởi thấy đội ngũ của mình đã phát triển. Bộ đội chủ lực của Việt Nam giải phóng quân lên tới 13 đại đội. Ở một số tỉnh, huyện trong vùng giải phóng Việt Bắc cũng tổ chức nhiều trung đội, đại đội giải phóng quân khác. Hầu hết đội viên Cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã trở thành cán bộ chỉ huy. Bộ tư lệnh đầu tiên của Việt Nam giải phóng quân gồm có các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, và Trần Đăng Ninh. Từ đây, Cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được mang danh hiệu vẻ vang là Việt Nam giải phóng quân, đi vào các trận chiến đấu chống Nhật bảo vệ vùng giải phóng, nhanh chóng xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt để sẵn sàng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là trụ cột của cuộc tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến, với niềm tự hào và tin tưởng sâu sắc.

Sau lễ thống nhất, hai đơn vị giải phóng quân, một đơn vị do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy và một đơn vị do đồng chí Chu Văn Tấn chỉ huy, đi đón và bảo vệ Hồ Chủ tịch từ Cao Bằng xuống Bắc Cạn về Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang). Sau khi nghe báo cáo tình hình chung và nghị quyết Hội nghị quân sự Bắc-kỳ, Hồ Chủ tịch chỉ thị là, vùng giải phóng miền núi Bắc-bộ, địa thế nối liền nhau, thì thành lập một khu căn cứ kháng Nhật kiểu mẫu, lấy tên là khu giải phóng, không nên chia thành nhiều chiến khu như vậy. Chấp hành chỉ thị của Người, ngày 4 tháng 6 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh đã triệu tập hội nghị cán bộ các tỉnh đã được giải phóng tuyên bố chính thức thành lập khu giải phóng gồm sáu tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang. Khu giải phóng đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng, do Hồ Chủ tịch đứng đầu. Mười chính sách lớn của Việt Minh được đem thực hiện ngay trong khu giải phóng nhằm xây dựng khu giải phóng vững mạnh về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa xã hội.


(1) Văn kiện Đảng (1939—1945) Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1963, tr. 494
(2) Văn kiện Đảng (1939—1945) Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1963, tr. 497
(3) Văn kiện Đảng (1939—1945) Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1963, tr. 497
(4) Văn kiện Đảng (1939—1945) Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1963, tr. 502
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10569


Lính của PTL


« Trả lời #29 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2021, 03:20:20 pm »

Trước thanh thế của cách mạng ngày càng lên cao, và sau những trận đánh vào chiến khu bằng những đơn vị nhỏ không mang lại kết quả, trung tuần tháng 5 năm 19-15, phát-xít Nhật tổ chức một cuộc tiến công quy mô lớn vào khu căn cứ ở giữa sông Lô và quốc lộ số 3. Chúng huy động khoảng 2.000 tên lính tiến công vào khu vực Tân Trào-Núi Hồng là trung tâm của khu căn cứ địa Việt Bắc. Một mặt từ thị xã Bắc Cạn tiến lên Chợ Rã rồi vòng xuống Chợ Dồn, tiến công vào phía Bắc. Một mặt từ Vĩnh Yên, Thiện Kế tiến lên và từ thị xã Tuyên Quang tiến vào, hợp quân ở Thanh La để tiến công vào phía Tây-Nam. Từ Thái Nguyên, quân Nhật theo hai đường, tiến công vào phía Đông-Nam. Một cánh quân tiến lên Đại Từ, đánh dọc theo sườn phía Tây của Núi Hồng. Một cánh tiến lên Định Hóa, đánh dọc theo sườn phía Đông Núi Hồng. Tất cả các mũi tiến công của quân Nhật đều bị Giải phóng quân chặn đánh, gây nhiều thiệt hại, làm thất bại âm mưu của chúng. Cánh quân tiến lên Định Hóa bị Giải phóng quân phục kích từ cây số 31 đến cầu Tà Ma (cách Chợ Chu khoảng 2 km), đánh nhiều trận. Quân Nhật tiến vào được Chợ Chu, nhưng bị Giải phóng quân bao vây, cắt đường tiếp tế. Có khoảng một trung đội lính Nhật được tụi mật thám dẫn đường, tiến từ Chợ Chu xuống Quảng Nạp rẽ ra Na Mao (Đại Từ) để nhập vào cánh quân từ Thái Nguyên tiến lên Đại Từ. Ngày 25 tháng 5 năm 1945, chúng bị Giải phóng quân chặn đánh ở Na Mao, một tên chết và 8 tên bị thương. Cảnh quân tiến lên Đại Từ cũng bị Giải phóng quân chặn đánh ở Vai Cày, Phú Minh, Ký Phú, Làng Đèo, tiêu biểu là trận Hoàng Nông ngày 29 tháng 5 năm 1945. Trong trận này Giải phóng quân đã diệt được 9 tên Nhật. Mũi tiến công của quân Nhật vào phía Tây-Nam đã bị Giải phóng quân bẻ gãy trong trận Đèo Chắn gần Thanh La (Sơn Dương), ngày 27 tháng 5 năm 1945. Trong trận này lực lượng của ta chỉ có gần một đại đội kể cả tự vệ địa phương. Nhưng dựa vào lợi thế địa hình, dũng cảm chiến đấu, Giải phóng quân đã kiên quyết chặn đánh, kết quả ta diệt khoảng 60 tên địch, thu nhiều vũ khí, đánh bại cuộc tiến công của hơn 500 tên địch định tiến thẳng vào Tân Trào — thủ đô của khu giải phóng.

Trong tháng 5 và tháng 6 năm 1945, Giải phóng quân còn đánh phục kích quân Nhật ở Chợ Chu (Định Hóa, Thái Nguyên), Chiêm Hóa (Tuyên Quang), đèo Canh Tiếm và đèo Tam Canh (Bắc Sơn, Lạng Sơn), Sa Lung, Lịch Sơn (Võ Nhai, Thái Nguyên), Lục Nam (Hữu Lũng, Bắc Giang cũ), Phủ Thông (Bắc Cạn), Tĩnh Túc (Cao Bằng)... Ngoài ra. Giải phóng quân còn giải phóng thêm đất đai, lập chính quyền cách mạng ở vùng Đoan Hùng (Phú Thọ), Lục Ngạn (Bắc Giang) Lục Yên Châu (Yên Bái); và tiễu phỉ ở Nam Sơn Dương, Bắc Lập Thạch, vùng núi Tam Đảo... bảo vệ tính mệnh và tài sản của nhân dân. Giải phóng quân tiến công trại tù binh Tam Đảo, cứu thoát nhiều tù binh Pháp bị Nhật giam giữ. Việc này đã có ý nghĩa chính trị lớn, tranh thủ được cảm tình của người Pháp.

Đồng thời với việc chiến đấu chống Nhật bảo vệ khu giải phóng, Giải phóng quân cũng tích cực xây dựng lực lượng vững mạnh. Công tác xây dựng Đảng và công tác chính trị trong các đơn vị Giải phóng quân được chú trọng. Trang bị, vũ khí của Giải phóng quân cũng nhanh chóng được cải tiến và tăng cường. Công tác huấn luyện bộ đội, đào tạo cán bộ rất khẩn trương. Nhiều trường, lớp quân chính kháng Nhật ngắn ngày được tổ chức ở nhiều địa phương. Thực hiện nghị quyết của Hội nghị quân sự cách mạng Bắc-kỳ, để đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển nhanh chóng của Giải phóng quân, tháng 7 năm 1945, trường quân chính kháng Nhật được thành lập, do đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách.

Những hoạt động sôi nổi cùng những chiến thắng liên tiếp của Giải phóng quân vang dội khắp cả nước, làm cho thanh thế của cách mạng ngày càng to, làm cho bọn Nhật e sợ. Thanh niên miền xuôi tìm đường lên khu giải phóng tham gia Giải phóng quân ngày càng đông. Cao trào chống Nhật cứu nước của đồng bào các dân tộc ở chiến khu đã góp phần quan trọng thúc đẩy những điều kiện chủ quan của cuộc tổng khởi nghĩa phát triển mau chóng.

Mùa thu năm 1945, tình thể trực tiếp của cuộc cách mạng đã xuất hiện, cả điều kiện chủ quan lẫn khách quan đều đã chín muồi. Do đó, Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào (Tuyên Quang) từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, để quyết định tổng khởi nghĩa. Ngay đêm 13 tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do Tổng bộ Việt Minh thành lập(1) đã ra Quân lệnh số 1. Khi Hội nghị toàn quốc của Đảng bế mạc thì, ngày 16 tháng 8 năm 1945, «Quốc dân đại hội» cũng khai mạc tại Tân Trào. Quốc dân đại hội hoàn toàn tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng, cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa) do Chủ Tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Theo lệnh tổng khởi nghĩa của Đảng, của Tổng bộ Việt Minh và Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, cả nước đã nhất tề nổi dậy. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, một đơn vị Giải phóng quân giải phóng tỉnh lỵ Tuyên Quang. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, đơn vị chủ lực của Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, xuất phát từ Tân Trào tiến đánh thị xã Thái Nguyên, mở đường tiến về đồng bằng và thủ đô Hà Nội. Còn một số đơn vị Giải phóng quân khác thì nhanh chóng hạ các đồn binh của Nhật còn lại ở các châu lỵ, tỉnh lỵ trong khu giải phóng. Ngày 26 tháng 8 năm 1945, chi đội Giải phóng quân đầu tiên tiến vào Hà Nội trong niềm hân hoan, trìu mến của nhân dân thủ đô. Cùng ngày hôm đó, Hồ Chủ Tịch từ Tân Trào về đến Hà Nội. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trước cuộc mít tinh lịch sử của 50 vạn nhân dân thủ đô chào mừng Chính phủ, Hồ Chủ Tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập, trịnh trọng tuyên bố:

«Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy»(2).


(1) Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc gồm có các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị. Ủy ban này do đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư của Đảng, phụ trách.
(2) Hồ Chí Minh: Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1970, tr, 55,
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM