Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Tư, 2021, 08:43:25 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt  (Đọc 1472 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #120 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2021, 02:37:05 pm »

Một sự kiện đặc biệt đã xảy ra vào ngày 9-10-1947, bộ đội ta bắn rơi chiếc máy bay chở đại tá Lăm-be - Phó tham mưu trưởng quân viễn chinh Pháp ở Bắc Đông Dương và thu được chiếc cặp tài liệu về kế hoạch tiến công Việt Bắc của địch. Với tinh thần dũng cảm, mưu trí, sáng tạo và được sự giúp đỡ tận tình của chính quyền và nhân dân địa phương, đồng chí Nguyễn Doanh Lộc - chiến sĩ liên lạc của Ban liên lạc nội bộ, sau 4 ngày đêm vượt suối, băng rừng, đã kịp thời giao tài liệu rất quan trọng này tới tận tay Bộ Tổng chỉ huy.


Qua nghiên cứu bản kế hoạch hành quân tiến công lên khu căn cứ địa Việt Bắc của địch, Bộ Tổng chỉ huy nhanh chóng lên kế hoạch tác chiến và quyết định tiến hành phản công địch trên 3 mặt trận chính: Sông Lô - Đường số 2, Bắc Kạn - đường số 3, Cao Bằng - đường số 4.


Đồng thời, Bộ Tổng chỉ huy cũng giao nhiệm vụ cho Phòng Thông tin liên lạc quân sự nhanh chóng tổ chức các phân đội thông tin có biên chế gọn, nhẹ, đi theo các sở chỉ huy tiền phương của Bộ trên cả 3 mặt trận, có nhiệm vụ: phối hợp với các phân đội thông tin tại chỗ của Khu 1, Khu 10 và Khu 12, tổ chức hệ thống thông tin tại các sở chỉ huy tiển phương của Bộ; bảo đảm thông tin kịp thời cho Bộ Tổng chỉ huy chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang của ta trên các hướng phản công chiến dịch, bẻ gãy các cánh quân địch tiến công vào căn cứ địa Việt Bắc. Tổ chức mạng thông tin vô tuyến điện, phối hợp với thông tin chuyển đạt, bảo đảm tốt thông tin liên lạc giữa Bộ Tổng chỉ huy, Bộ Tổng Tham mưu ở Khu A, Khu B, với các mặt trận của Việt Bắc và với các chiến trường trong cả nước.


Ngày 27-10-1947, trên tất cả các phương tiện thông tin, thông tin quân sự đã kịp thời chuyển bản Mệnh lệnh số 132 của Bộ Tổng chỉ huy: "Đánh mạnh ở mặt trận sông Lô và đường số 4; phá vận tải và tiếp tế; phục kích các đường rừng, đánh đường sông; tại những căn cứ địch luôn quấy rối, đối với những vị trí nhỏ bao vây tiêu diệt. Các khu đánh mạnh để phối hợp với Việt Bắc", đến tất cả các Khu và các chiến trường trên cả nước.


Ở hướng mặt trận Sông Lô - Đường số 2, nhận được Mệnh lệnh 132 của Bộ Tổng chỉ huy, Khu 10 đã sử dụng lực lượng bộ binh và pháo binh của chiến khu tiến hành phục kích cánh quân địch đang tiến công lên Việt Bắc bằng đường sống, bẻ gãy "'gọng kìm sông Lô" của địch.


Đảm bảo thông tin cho Khu 10 chỉ huy các lực lượng của chiến khu chiến đấu, Ban Thông tin liên lạc của Khu 10 đã tổ chức các đường trục chính, trục dự bị của thông tin chuyển đạt và sử dụng rộng rãi thông tin tín hiệu, thông tin nhân dân, để phối hợp chiến đấu giữa các lực lượng chủ lực, lực lương pháo binh của Khu, bố trí phục kích địch ở hai bên bờ sông Lô. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các phân đội thông tin cơ động của Bộ đi theo sở chỉ huy tiên phương, ra sát sông Lô, kịp thời thông báo cho các đơn vị chiến đấu của Khu 10 về tình hình hành quân của địch và nhận các chỉ thị, mệnh lệnh chiến đấu của Bộ Tổng chỉ huy. Lần đầu tiên trong trận đánh phục kích địch trên dọc sông Lô, liên lạc vô tuyến điện giữa Bộ Tổng chỉ huy với Khu 10 luôn thông suốt, vững chắc, bảo đảm thông tin chỉ huy, hiệp đồng chiến đấu kịp thời, giúp cho Bộ Tổng chỉ huy và lực lượng vũ trang Khu 10 nắm chắc kế hoạch hành quân của địch trên sông Lô ngay từ khi chúng xuất phát ở Hà Nội và chỉ huy các lực lượng chủ lực của Khu tổ chức bố trí phục kích, đánh chìm nhiều tàu chiến địch trên các đoạn sông có địa thế hiểm yếu.


Trên Mặt trận Cao Bằng - đường số 4, đồng chí Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp trực tiếp theo dõi và chỉ đạo. Khu 1 tổ chức lực lượng, đánh địch rộng khắp trên toàn Mặt trận Cao Bằng - đường số 4, điển hình là các trận phục kích địch trên đường số 4. Bảo đảm thông tin cho Bộ Tổng chỉ huy trực tiếp chỉ đạo Mặt trận này, Văn phòng Bộ Tổng chỉ huy đã bố trí 1 tổ đài, bảo đảm liên lạc vô tuyến điện với sỏ chỉ huy Mặt trận và 1 tổ đài phục vụ Tổng chỉ huy.


Để tổ chức đánh địch trên Đường số 4, Bộ chỉ huy Khu 1 đã sử dụng 1 trung đoàn chủ lực (Trung đoàn 74) tiến hành phục kích địch ở đèo Bông Lau.

Ban Thông tin mặt trận (nòng cốt là Ban Thông tin Khu 1) đã tổ chức phân đội thông tin hữu tuyến điện cơ động, phối hợp với phân đội thông tin của Phòng Thông tin liên lạc quân sự, xuống tăng cường, để tổ chức hệ thống thông tin tại Sở chỉ huy tiền phương của Bộ và Bộ chỉ huy Khu 1, đảm bảo chỉ huy Trung đoàn 74 thực hành tác chiến trên đường số 4.


Phân đội thông tin cơ động của Khu 1, với quân số gần một trung đội, được trang bị 10 máy điện thoại và 10km dây bọc dã chiến, đã triển khai bảo đảm thông tin từ Sở chỉ huy tiền phương của Bộ đến Trung đoàn 74 và từ Trung đoàn 74 đến các tiểu đoàn, đại đội đang tổ chức phục kích tại khu vực đèo Bông Lau trên đường số 4. Do đó, đã bảo đảm cho Sở chỉ huy tiền phương của Bộ và chỉ huy trung đoàn nắm chắc tình hình địch ngay từ khi chúng còn ở xa và kịp thời chỉ huy các đơn vị trong toàn trung đoàn nổ súng, tiến công tiêu diệt khi chúng lọt vào ổ phục kích của trung đoàn. Trận đánh phục kích địch ở đèo Bông Lau của Trung đoàn 74, diễn ra nhanh chóng và kết thúc thắng lợi; ta đã tiêu diệt gọn 33 xe cơ giới, gần 300 tên địch, thu toàn bộ vũ khí và một số trang bị thông tin vô tuyến điện của địch. Trong suốt quá trình chuẩn bị và diễn ra trận phục kích này, thông tin liên lạc luôn thông suốt, vững chắc, bảo đảm cho sở chỉ huy tiền phương của Bộ và Trung đoàn 74, chỉ đạo và chỉ huy các đơn vị chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Ngày 30-10-1947 được đánh dấu là ngày chiến thắng giòn giã của quân đội ta, đồng thời cũng là ngày ghi nhận chiến công đầu của lực lượng thông tin hữu tuyến điện trong lịch sử của Bộ đội Thông tin liên lạc. Lần đầu tiên xuất trận, lực lượng thông tin hữu tuyến điện dã chiến đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần vào chiến công của bộ đội chủ lực Khu 1, bẻ gãy "gọng kìm trên bộ” của thực dân Pháp.


Tại Mặt trận Bắc Kạn - đường số 3, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái trực tiếp phụ trách, chỉ huy các lực lượng vũ trang của ta trên địa bàn Khu 12, tổ chức chặn đánh địch trên đường Bắc Kạn - Cao Bằng, bảo vệ các cơ quan đóng trong khu vực trung tâm căn cứ địa Việt Bắc.


Cơ quan thông tin Sở chỉ huy tiền phương của Bộ trên mặt trận này sử dụng 2 tổ đài vô tuyến điện (1 tổ đài vô tuyến điện của sở Vô tuyến điện Việt Nam và 1 tổ đài vô tuyến điện của Khu 1 tăng cường) để chỉ huy các đơn vị chiến đấu và bảo đảm thông tin với Bộ Tổng chỉ huy. Đồng thời, lực lượng thông tin tại chỗ của mặt trận này cũng đã tận dụng tốt các đường điện thoại của Bưu điện, kết hợp với việc tổ chức tốt các tuyến thông tin chuyển đạt để chỉ huy các lực lượng vũ trang Khu 12 tổ chức đánh địch rộng khắp trên toàn địa bàn, điển hình là trận đánh địch ở Đầm Hồng và Yên Thịnh. Trong trận này, Ban Giám hiệu Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn đã tận dụng triệt để đường dây điện thoại của Bưu điện để bảo đảm thông tin cho chỉ đạo, chỉ huy 2 đơn vị học viên của trường, tổ chức chặn đánh 2 cánh quân địch tại Đầm Hồng và Yên Thịnh, khi chúng định tiến ra, thực hiện âm mưu hợp vây quân ta ở Bản Ty, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #121 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2021, 02:37:49 pm »

Nhờ sự chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy, nên từ thế bị động ban đầu, các lực lượng vũ trang của ta trong căn cứ địa Việt Bắc, đã bảo toàn được lực lượng và nhanh chóng giành lại thế chủ động, chuyển sang phản công địch trên khắp các mặt trận. Với phương thức tác chiến phục kích là chủ yếu, quân ta đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề; điển hình là các trận phục kích, đánh địch trên sông Lô của bộ đội pháo binh, trận phục kích tiêu diệt địch trên đèo Bông Lau...


Đến ngày 19-12-1947, sau 75 ngày tiến công lên Việt Bắc không đạt được mục đích và liên tiếp phải chịu những tổn thất nặng nề, thực dân Pháp buộc phải kết thúc cuộc tiến công.


Thất bại của địch khi tiến công vào căn cứ địa Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 đã làm phá sản chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp. Trong chiến công chung của quân và dân ta ở Việt Bắc có sự đóng góp công sức không nhỏ của Bộ đội Thông tin liên lạc. Lực lượng thông tin trong toàn căn cứ địa Việt Bắc đã bảo đảm thông tin liên lạc luôn thông suốt, vững chắc cho Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy, Bộ Tổng Tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang của ta tác chiến thắng lợi.


Thực tế diễn biến bảo đảm thông tin trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 cho thấy hệ thống thông tin liên lạc quân sự ở Việt Bắc đã trải qua những thử thách đầy khó khăn và ác liệt, nhưng đã hoàn thành nhiệm vụ và lập được nhiều chiến công vang dội.


Trong quá trình bảo đảm thông tin cho chiến dịch, do yêu cầu chỉ đạo, chỉ huy tác chiến rất khẩn trương, nên khối lượng các công điện, các mệnh lệnh, chỉ thị, công văn hỏa tốc có độ mật và độ khẩn cao là rất lớn. Bên cạnh đó, để đảm bảo thông tin luôn được thông suốt, vững chắc cho Bộ Tổng chỉ huy, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang của các mặt trận, thì lực lượng thông tin liên lạc, các cơ sở thông tin cũng luôn phải cơ động, di chuyển; đồng thời thành lập thêm các phân đội thông tin cơ động để đáp ứng yêu cầu chỉ huy tác chiến. Mọi nhiệm vụ được giao, dù khó khăn đến đâu, lực lượng thông tin liên lạc đều hoàn thành, có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc như: bảo đảm tốt thông tm cho chỉ huy lực lượng pháo binh ta phục kích địch trên sông Lô; chỉ huy Trung đoàn bộ binh 74 phục kích tiêu diệt địch ở đèo Bông Lau...


Hệ thống thông tin quân sự tại chỗ của Bộ Tổng chỉ huy, Bộ Tổng Tham mưu và của Khu 1, Khu 10, Khu 12, nhất là mạng thông tin vô tuyến điện, phối hợp chặt chẽ với hệ thống thông tin hữu tuyến điện của Bưu điện, thông tin chuyển đạt và thông tin nhân dân, trải qua những thử thách, khó khăn ban đầu, đã trưởng thành và không ngừng lớn mạnh, góp phần quan trọng vào chiến công chung: phá tan cuộc tiến công chiến lược của địch vào căn cứ địa Việt Bắc; bảo toàn được lực lượng ta, đáp ứng được yêu cầu phát triển của du kích chiến và đẩy mạnh vận động chiến (tuy còn ở quy mô nhỏ), bước đầu hình thành nên nghệ thuật tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc trong chiến dịch phản công của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp.


Từ thực tế công tác tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, có thể rút ra một số nội dung chủ yếu về nghệ thuật tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc trong chiến dịch đầu tiên của quân đội ta.


Cơ quan thông tin cấp chiến lược và các cơ quan thông tin cấp chiến dịch của quân đội ta, tuy mới được hình thành và đang từng bước hoàn chỉnh, lần đầu tiên tiến hành tổ chức, bảo đảm thông tin cho một chiến dịch tác chiến phản công thành công, đã cho thấy lực lượng thông tin các cấp có khả năng tổ chức và bảo đảm thông tin cho một chiến dịch có quy mô lớn, diễn ra trên một địa bàn rộng, với nhiều lực lượng tham gia.


Lần đầu tiên, cơ quan thông tin cấp chiến lược đã tổ chức các phân đội thông tin cơ động, phối hợp với lực lượng thông tin tại chỗ của các khu, để bảo đảm thông tin cho các sở chỉ huy tiền phương của Bộ trên cả 3 mặt trận trong căn cứ địa Việt Bắc; bảo đảm thông tin cho Bộ chỉ đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang của các khu, chỉ huy một số trận đánh có tính then chốt. Đồng thời hỗ trợ trực tiếp cho Bộ chỉ huy của các khu liên lạc được với các đơn vị. Đây chính là cơ sở, tiền đề để cơ quan thông tin cấp chiến lược, chiến dịch tổ chức ra các phân đội thông tin cơ động với các quy mô khác nhau, thiết lập hệ thống thông tin cấp chiến lược, chiến dịch; đáp ứng các yêu cầu về tổ chức, sử dụng lực lượng thông tin cơ động sau này của quân đội ta.


Hệ thống thông tin tại chỗ của các chiến khu đã được củng cố và phát triển, kết hợp với lực lượng thông tin cấp chiến lược tăng cường xuống đã đảm bảo tốt cho công tác chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang của ta trong quá trình chiến dịch. Đặc biệt, mạng thông tin vô tuyến điện sóng ngắn, với phương thức liên lạc điện báo, đã được Phòng Thông tin liên lạc quân sự và các cơ quan thông tin các khu, chiến trường, xác định là phương tiện thông tin chủ yếu, đã bảo đảm tốt thông tin liên lạc cho Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy chỉ đạo, chỉ huy kịp thời các lực lượng vũ trang của ta từ thế bị động ban đầu, đã chuyển sang thế chủ động tiến công địch; sử dụng các hình thức tác chiến phục kích, vận động chiến, trong đó lấy phục kích là hình thức tác chiến chủ yếu, để phản công địch và gây cho quân Pháp nhiều tổn thất nặng nề khi chúng cơ động trên đường bộ, đường sông.


Vào thời điểm địch nhảy dù xuống Bắc Kạn, Bộ chỉ huy các Khu trong căn cứ địa Việt Bắc, tuy đã có sự chuẩn bị từ trước, nhưng do trình độ chỉ huy tác chiến còn hạn chế, công tác nắm địch chưa tốt; mặt khác, phương tiện thông tin tại các Khu còn thiếu thốn, không gian chiến dịch lại rộng, nên nắm tình hình địch không chắc, báo cáo tình hình lên Bộ còn chậm. Tuy nhiên do Bộ Tổng chỉ huy nắm được kế hoạch hành binh của địch, nhanh chóng tổ chức các phân đội thông tin cơ động, các sở chỉ huy tiền phương của Bộ xuống tăng cường cho các Khu và trực tiếp chỉ huy, điều hành tác chiến qua mạng thông tin vô tuyến điện, nên đã giúp Bộ chỉ huy các Khu kịp thời chỉ huy lực lượng vũ trang của khu tác chiến, giành lại thế chủ động, đánh bại các đợt tiến công của địch.


Trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, lực lượng thông tin hữu tuyến điện đã tích cực tận dụng các đường dây thông tin hữu tuyến điện của Bưu điện để bảo đảm thông tin cho chỉ đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang của các khu chiến đấu như trận Đầm Hồng - Yên Thịnh của Ban Giám hiệu Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Đặc biệt, lần đầu tiên ta đã tổ chức và sử dụng lực lượng thông tin hữu tuyến điện với tư cách là một lực lượng bảo đảm thông tin chủ yếu, độc lập, để phục vụ cho chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp một trận đánh (trận phục kích địch tại đèo Bông Lau trên đường số 4). Đây chính là phân đội thông tin hữu tuyến điện đầu tiên được tổ chức sử dụng để bảo đảm tác chiến cho một chiến dịch trên chiến trường Bắc Bộ và cũng là cơ sở đầu tiên để hình thành, phát triển nghệ thuật sử dụng thông tin hữu tuyến điện trong chiến dịch của quân đội ta; điểm mốc đánh dấu chiến công đầu của lực lượng thông tin hữu tuyến điện.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #122 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2021, 02:39:18 pm »

Trong chiến công chung của Bộ đội Thông tin có sự đóng góp công sức không nhỏ của lực lượng thông tin chuyển đạt của quân và dân Việt Bắc. Các trục thông tin chuyền đạt đã có từ trước, với tinh thần dũng cảm, mưu trí sáng tạo, kết hợp sử dụng các ký, tín hiệu để chuyển thông tin đi một cách nhanh nhất. Lực lượng thông tin chuyển đạt đã giúp cho Bộ Tổng chỉ huy, Bộ Tổng Tham mưu, cũng như Bộ chỉ huy các chiến khu trong căn cứ địa Việt Bắc, luôn có một phương tiện liên lạc vững chắc, an toàn để chỉ đạo và chỉ huy các chiến khu chiến đấu, trong điều kiện trang thiết bị thông tin còn thiếu thốn... Một trong những chiến công quan trọng của Bộ đội Thông tin liên lạc là chiến sĩ giao liên đã chuyển kịp thời, an toàn chiếc cặp tài liệu mang nội dung kế hoạch tiến công lên Việt Bắc của địch, giúp cho Bộ Tổng chỉ huy nhanh chóng định ra kế hoạch đối phó với địch và kịp thời tổ chức điều hành, chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang của ta chuyển từ thế bị động ban đầu sang giành lại quyền chủ động, từng bước đánh bại các cuộc hành binh của địch trên tất cả 3 mặt trận của Việt Bắc.


Trong các trận chiến đấu, lực lượng thông tin chuyển đạt cũng có rất nhiều đóng góp trong việc bảo đảm tốt thông tin cho các Sở chỉ huy tiền phương của Bộ, Bộ chỉ huy các khu chỉ đạo và chỉ huy các đơn vị chiến đấu giành những thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, điển hình là trận chiến đấu phục kích địch trên sông Lô. Trong trận đánh này, Ban thông tin liên lạc của Khu 10 đã chuẩn bị tốt các đường trục chính, dự bị của tuyến thông tin chuyển đạt, đồng thời kết hợp chặt chẽ với việc sử dụng các tín hiệu như: đốt lửa, trống, mõ, kèn đồng, tù và... để đảm bảo thông tin nắm địch và chỉ huy phối hợp chiến đấu giữa lực lượng pháo binh của ta bố trí hai bên bờ sông Lô, bắn chìm và bắn cháy nhiều tàu chiến và ca nô cứa địch, góp phần quan trọng vào chiến công bẻ gãy "gọng kìm sông Lô" của địch.


Trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, các cơ quan thông tin chiến lược, chiến dịch đã phối hợp chặt chẽ và tận dụng tốt thông tin tại chỗ, thông tin nhân dân để bảo đảm cho chỉ đạo, chỉ huy sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Đồng thời, phát huy tốt vai trò lực lượng thông tin cơ động, huy động được sự giúp sức của dân quân, du kích và nhân dân địa phương tham gia vào công tác thông tin liên lạc để kịp thời giải quyết các tình huống chiến dịch.


Tuy nhiên, công tác bảo đảm thông tin liên lạc trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 còn bộc lộ những tồn tại, nhược điểm mà chúng ta cần nhìn nhận và đánh giá khách quan:


Cơ quan thông tin cấp chiến lược và cơ quan thông tin của các khu làm nhiệm vụ bảo đảm thông tin chiến dịch, nhưng mới chỉ dừng lại ở trình độ và khả năng tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc cho các sở chỉ huy mặt trận. Việc chỉ đạo công tác thông tin liên lạc cho các đơn vị cấp dưới tham gia chiến dịch còn hạn chế, do đó chưa phát huy được tác dụng cao nhất của hệ thống thông tin cấp trên, cấp dưới, để sử dụng thông tin tập trung, thống nhất, đặc biệt là trong chỉ đạo, chỉ huy các trận đánh then chốt của chiến dịch.


Trang bị thông tin của ta còn thô sơ, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, trình độ chỉ huy thông tin trong tác chiến của cán bộ các cấp còn hạn chế; khả năng khai thác trang bị, trình độ nghiệp vụ chuyên môn chưa thuần thục; xử trí các tình huống thông tin còn chậm, không kịp thời.


Tuy còn có những hạn chế, khuyết điểm, nhưng những thành công của công tác bảo đảm thông tin liên lạc trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, đã góp phần xứng đáng vào chiến công chung của quân và dân ta tại căn cứ địa Việt Bắc, phá tan cuộc tiến công chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp.


Những kinh nghiệm thành công và hạn chế ban đầu của lực lượng thông tin các cấp trong chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947, chính là những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu đối với lực lượng thông tin liên lạc trong quân đội ta ngày nay. Những bài học kinh nghiệm này tạo ra tiền đề và là cơ sở đầu tiên để hình thành nên nghệ thuật tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc trong các chiến dịch nói chung và trong chiến dịch phản công nói riêng của quân đội ta. Các bài học từ chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 vẫn còn nguyên giá trị đối với cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai của quân đội ta nói chung và Bộ đội Thông tin liên lạc nói riêng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #123 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2021, 02:48:21 pm »

PHÁO BINH TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU-ĐÔNG 1947


Thiếu tướng VŨ THANH LÂM
Tư lệnh Binh chủng Pháo binh


Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 thành công, nhân dân ta giành được chính quyền trong cả nước. Cùng với việc tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng, tại Hà Nội, ngày 29-6-1946, Bộ Tổng Tham mưu đã công bố quyết định thành lập Đoàn pháo binh Thủ đô, gồm 3 trung đội pháo, bố trí ở 3 pháo đài: Láng, Xuân Canh, Xuân Tảo. Đây là những đơn vị pháo binh tiền thân đầu tiên được thành lập cùng với lực lượng pháo binh cả nước, với hơn 40 khẩu pháo các loại thu được của Pháp, Nhật và quân Trung Hoa dân quốc. Từ đó đến nay, ngày 29-6 hàng năm trở thành ngày truyền thống vẻ vang của Binh chủng Pháo binh anh hùng.


Bước sang Hè - Thu năm 1947, quân Pháp đã chiếm hầu hết các thành phố lớn, chúng tăng cường lực lượng ở Bắc Bộ nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng và chuẩn bị cho kế hoạch mùa khô.


Để đối phó với tình hình trên, cùng với sự phát triển các lực lượng, tháng 7-1947, Ban Pháo binh Khu 10 được thành lập, có 5 trung đội pháo trực thuộc, mang phiên hiệu 175, 200, 225, 250 và 275, với 6 khẩu pháo các loại gồm 1 khẩu ca nông 25mm, 1 khẩu sơn pháo 75mm, 1 khẩu cao xạ 75mm, 1 khẩu thủy pháo 75mm và 2 khẩu dã pháo 75mm. Đây là lực lượng pháo binh lớn nhất ở miền Bắc lúc bấy giờ. Sự ra đời Ban Pháo binh có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự phát triển về tổ chức lực lượng góp phần tích cực bảo vệ cơ quan Trung ương đóng ở Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên.


Khi thực dân Pháp mở cuộc tiến công lên căn cứ địa Việt Bắc (7-10-1947), 5 trung đội pháo binh Khu 10 vừa trải qua một thời gian củng cố chưa đầy 2 tháng. Ngoài kinh nghiệm quý báu qua những trận chiến đấu ở Thủ đô, các đơn vị pháo binh cùng bộ binh tập khiêng pháo, triển khai hành quân theo tình huống chiến đấu giả định, tổ chức cho bộ đội học tập chính trị, xây dựng quyết tâm chiến đấu.


Theo kế hoạch tác chiến của Bộ chỉ huy Khu 10, năm trung đội pháo binh được bố trí trên 2 hướng, hướng chủ yếu sông Lô sử dụng 3 trung đội pháo với 6 khẩu (2 khẩu sơn pháo 75mm, được bố trí 1 khẩu thủy pháo 75mm, 2 khẩu cao xạ 75mm và 1 khẩu tiểu pháo 25mm). Bố trí sát bờ sông ở Khoan Bộ, Bến Xiểng và Gò Đồn, gần bến phà Đoan Hùng. Hướng phối hợp sông Hồng, về phía tây thị xã Yên Bái, sử dụng 2 trung đội, 4 khẩu dã pháo 75mm1 (Lịch sử nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr. 16).


Ngày 9-10-1947 thủy đội Pháp, gồm 40 tàu đổ bộ và ca nô, bắt đầu rời bến Sơn Tây và Hà Nội ngược sông Hồng đi về phía Việt Trì. Cùng ngày, Bộ chỉ huy Khu 10 giao nhiệm vụ cho các đơn vị pháo binh "bẻ gãy bằng được gọng kìm Sông Lô để hợp vây với gọng kìm trên đường số 4" của địch. Các trận địa pháo của ta bố trí ở Phan Dư, Đoan Hùng, Bình Ca, Khoan Bộ đã nổ súng nhưng không bắn trúng được tàu nào. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ chỉ huy Khu 10, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị pháo binh tổ chức rút kinh nghiệm tìm ra nguyên nhân bắn không trúng và đã táo bạo đề ra phương án đưa pháo ra sát bờ sông, ngắm trực tiếp vào tàu giặc để bắn.


Ngày 23-10-1947, tại Khoan Bộ, trung đội sơn pháo trang bị 1 khẩu 75mm, với 45 viên đạn và 1 khẩu tiểu pháo 25mm với 60 viên đạn, được tiểu đoàn bộ binh bảo vệ, bắn trọng thương 2 tàu LCT, diệt một số lính địch trên tàu. Tuy nhiên, trong trận này, cán bộ, chiến sĩ pháo binh chưa có kinh nghiệm sử dụng thiết bị pháo trên đất mềm nên loạt đạn đầu bắn không trúng, chưa biết ngắm bắn vào chỗ hiểm yếu nhất của tàu địch, đạn dự trữ để quá xa, không tìm hiểu kỹ luồng lạch của dòng chảy, không bố trí một lực lượng ở làng An Lão nên không diệt gọn được địch. Vì thế, địch bắn phá uy hiếp trận địa sơn pháo của ta và dòng dây cứu thoát được 2 tàu. Tiếp đó, vào lúc 11 giờ 45 phút, ngày 24-10-1947, tại Đoan Hùng khẩu pháo cao xạ 75mm bố trí sát bờ sông với 100 viên đạn. Để đảm bảo chắc thắng ta điều thêm 1 khẩu sơn pháo 75mm mới được sửa chữa, lắp ráp từ Bình Ca về Đoan Hùng cùng 50 viên đạn, bố trí ở phía nam sông Chảy, trên gò huyện lỵ Đoan Hùng, cả hai trận địa đều có xạ giới rộng, tầm quan sát xa, được tiểu đoàn bộ binh bố trí ở 2 đầu bảo vệ pháo và sẵn sàng tiêu diệt địch từ Tuyên Quang xuống theo đường số 2 hoặc từ dưới sông đổ bộ lên bờ. Huyện đội Đoan Hùng cử một số đơn vị dân quân du kích phối hợp tuần tra canh gác, báo động chiến đấu, làm trận địa giả nghi binh. Kết quả, ta bắn chìm tại chỗ 1 ca nô LCVP và 1 tàu LCM, diệt toàn bộ binh lính trên tàu, bắn hỏng tàu LCT1 và LCT2, loại khỏi vòng chiến đấu Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 43 của Binh đoàn Com-muy-nan. Ngay ngày hôm sau (25-10-1947), địch triển khai 1 cánh quân từ thị xã Tuyên Quang theo đường số 2 về Đoan Hùng phản kích lại và thu gom tàn quân còn sót ở làng Hữu Đô. Do khẩu cao xạ 75mm quá nặng nền bộ đội không thê khiêng đi được, chỉ tháo nòng chôn xuống giao thông hào gần đó. Địch phát hiện, đào lên cho mìn nổ phá vỡ nòng pháo.


Trận Đoan Hùng trên sông Lô là một trận đánh hay của lực lượng pháo binh còn non trẻ. Trận này, bộ đội ta đã tổ chức lực lượng bộ binh bảo vệ, đặt pháo sát bờ sông, ngắm bắn trực tiếp, tập trung hoả lực diệt từng mục tiêu, tổ chức đốt khói nghi binh thu hút máy bay, thả bưởi sơn đen trên sông đánh lừa địch. Mặc dù trang bị kỷ thuật kém, ta vẫn bắn cháy tàu giặc, góp phần quan trọng bẻ gãy gọng kìm phía tây, làm thất bại cuộc hành binh lớn nhất lên Việt Bắc Thu - Đông 1947 của địch.


Việc tổ chức chiến đấu ở hướng sông Lô, đã thể hiện sự quán triệt chủ trương của Hội nghị quân sự toàn quốc về chiến tranh nhân dân, với hình thức chiến thuật phục kích là chủ yếu.


Từ thắng lợi của hai trận trên cho thấy, muốn bắn chìm tàu địch phải bắn gần, tính lượng bắn đón chính xác, tập trung hoả lực hợp lý và bắn vào chỗ hiểm yếu. Thành công của hai trận Khoan Bộ và Đoan Hùng còn thể hiện nghệ thuật nghi binh và khả năng hiệp đồng chiến đấu ăn ý trong điều kiện thiếu phương tiện thông tin liên lạc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #124 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2021, 02:49:41 pm »

Theo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy Khu 10, ngày 7 tháng 11, Trung đội sơn pháo 225 cơ động bằng khiêng vác pháo từ Đoan Hùng, sau 3 ngày đêm chiếm lĩnh trận địa ở Khe Lau (gần ngã ba sông Lô - sông Gâm), phục kích đánh địch. 10 giờ ngày 10 tháng 11, chỉ với 4 viên đạn ta đã bắn chìm 2 tàu địch. Đây là trận đánh đạt hiệu suất cao nhất của pháo binh, là thắng lợi thể hiện tinh thần chấp hành mệnh lệnh triệt để của bộ đội pháo binh, khắc phục khó khăn gian khổ, cơ động nhanh, bố trí trận địa bí mật bất ngờ (trên bãi lau sát bờ sông), nổ súng đúng thời cơ, bắn trúng mục tiêu ngay từ phát đạn đầu.


Các trận đánh Khoan Bộ, Đoan Hùng, Khe Lau mở đầu cho lối đánh bắn tàu chiến địch cơ động trên sông, tuy ở cấp khẩu đội, trung đội, sức chiến đấu còn thấp, khả năng đánh tiêu diệt hạn chế, nhưng bước đầu đã hình thành chiến thuật độc lập phục kích bắn tàu chiến địch trên sông của pháo binh ta.


Trên mặt trận Cao Bằng - đường số 4, ngày 30-10-1947, Tiểu đoàn 374 Trung đoàn 11, được pháo binh chi viện, phục kích đoàn xe địch 30 chiếc ở đèo Bông Lau, giành thắng lợi lớn.


Bông Lau là một trận đánh giao thông đường bộ tiêu biểu trên chiến trường Bắc Bộ. Trận này, lực lượng pháo binh tham gia chưa nhiều nhưng góp phần đáng kể chi viện bộ binh chặn đánh quân địch kịp thời. Pháo binh đã khéo lợi dụng địa hình, có kế hoạch chu đáo, khi tiến hành hoả lực giữ được bí mật, tạo được bất ngờ, nhất là hoả lực Ba-zô-ca. Mặc dù còn một số hạn chế trong phân chia khu vực đánh địch cho súng cối và Ba-zô-ca, chưa đủ số lượng pháo cần thiết trong các bộ phận, nhưng trận Bông Lau bước đầu đã hình thành chiến thuật phục kích của pháo binh chi viện bộ binh đánh địch trên đường bộ, có hoả lực chặn đầu, khoá đuôi, bộ phận đánh địch chủ yếu, tiến hành hoả lực theo kế hoạch tác chiến, đặc biệt, công tác chuẩn bị chiến đấu như: trinh sát bố trí trận địa, công sự ngụy trang, hiệp đồng tác chiến cùng bộ binh, quan sát và chỉ huy bắn được chuẩn bị chu đáo.


Trên các mặt trận ở Việt Bắc, nhiều trận phục kích đường bô Đường sông diễn ra đều giành thắng lợi, khiến cho quân Pháp tổn thất nặng nề, bị sa lầy trong thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Ở càng lâu trên núi rừng Việt Bắc, khó khăn đối với chúng càng lớn, sinh lực bị tiêu hao, lương thực, thuốc men thiếu thốn, tinh thần binh lính sa sút. Trong khi đó, ta đánh mạnh vào giao thông tiếp tế và đẩy mạnh công tác địch vân làm nảy sinh mâu thuẫn trong hàng ngũ địch. Để bảo toàn lực lượng, Bộ chỉ huy Pháp quyết định rút khỏi Việt Bắc.


Chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947 là chiến dịch có phạm vi rộng, thời gian dài và quy mô lực lượng lớn. Chiến dịch đồng thời diễn ra trên hai hướng, nhưng lực lượng pháo binh còn ít; vì vậy, sử dụng tập trung pháo binh vào một hướng quan trọng trên sông Lô là phù hợp. Dù pháo đạn có ít, chất lượng kém, thiếu phương tiện chỉ huy và kinh nghiệm chiến đấu, nhưng đã bắn chìm, bắn cháy nhiều tàu địch, góp phần bẻ gãy một gọng kìm tiến công và làm thất bại ý đồ chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của quân Pháp.


Từ thực tế sử dụng pháo binh trong chiến dịch, bước đầu pháo binh đã thành công trên một số vấn đề về nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch.

1. Tập trung ưu thế lực lượng pháo binh vào hướng chủ yếu, đối tượng mục tiêu chủ yếu của chiến dịch

Trong điều kiện pháo đạn hạn chế, chiến dịch lại diễn ra trên nhiều hướng, Bộ chỉ huy Khu 10 đã sử dụng những khẩu pháo tốt nhất, cùng với 3/5 pháo binh hiện có, triệt để khai thác và tận dụng mọi yếu tố về địa hình, phối hợp tác chiến với bộ binh, dân quân du kích và nhân dân địa phương, quyết tâm bẻ gãy một gọng kìm trên hướng sông Lô. Đây là kết quả vận dụng thành công bước đầu nguyên tắc tập trung.


2. Lập thế bố trí pháo binh có lọi, chặn đánh địch cơ động tiếp tế Đường sông, làm mất tác dụng gọng kìm phía tây của địch.

Việc bố trí 3 trung đội ở 3 vị trí khác nhau dọc theo sông Lô và đưa trận địa ra sát bờ sông đã tạo thành thế đánh có lợi của pháo binh, khắc phục những khó khăn về pháo, đạn, nhất là về kính ngắm của pháo thủ, phương tiện tổ chức chỉ huy, làm cho địch luôn bị bất ngờ. Kết quả, pháo binh đã bắn cháy, bắn chìm tàu địch trong các trận Khoan Bộ, Đoan Hùng, Khe Lau cho thấy ta đã tạo được thế bố trí pháo binh có lợi, sẽ phát huy được sức mạnh hoả lực ở mức cao, tiêu diệt nhiều tàu địch, làm cho gọng kìm phía tây của chúng mất vai trò trong chiến dịch, góp phần làm cho địch phải thay đổi tình huống, phải sớm kết thúc chiến dịch.


3. Đặt gần bắn thẳng là cách đánh có hiệu quả cao của pháo binh trong chiến dịch đầu tiên và trở thành cách đánh truyền thống của pháo binh ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.   

Tuy đã trải qua các đợt tác chiến ở các thành phố, lại được huấn luyện, củng cố suốt mùa Hè năm 1947, song pháo binh còn yếu kém về nhiều mặt, nhất là về khả năng bắn trúng mục tiêu trong chiến đấu. Từ kinh nghiệm không hoàn thành nhiệm vụ diệt tàu đích ngày 11 tháng 10, pháo binh đã đề ra phương châm "đặt gần bắn thẳng"; bằng cách đánh nó, đã đem lại hiệu quả chiến đấu cao cho những trận sau, mà điển hình là trận Khe Lau (10-11), bằng 4 viên đạn, bắn chìm 2 tàu địch.


Cách đánh gần của pháo binh trên sông Lô đã được đúc kết kinh nghiệm và trở thành cách đánh phổ biến của pháo binh ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp.


Lực lượng pháo binh tham gia chiến dịch tuy ít, tập trung trên một hướng, chủ yếu đánh độc lập, nhưng qua thắng lợi lớn ở sông Lô, đã xuất hiện những yếu tố cơ bản của nghệ thuật sử dụng pháo binh và là cơ sở thực tiễn để khẳng định sự hình thành nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch.


Chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947 là chiến dịch đầu tiên của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đã qua đi cách đây tròn 60 năm. Hôm nay, trên chính mảnh đất giàu truyền thống cách mạng này quân dân ta nói chung, bộ đội pháo binh nói riêng có quyền tự hào về những năm tháng trường kỳ kháng chiến và hào hùng của dân tộc. Những kinh nghiệm tích lũy được trong những năm đầu của cuộc kháng chiến nói chung và trong chiến dịch phản công Việt Bắc nói riêng, là nền móng đầu tiên, quan trọng của nghệ thuật sử dụng pháo binh trong các chiến dịch sau này. Kinh nghiệm đó được phát huy, kế thừa, dần dần hoàn chỉnh, trở thành một nội dung phong phú trong nghệ thuật chiến dịch Việt Nam, góp phần đánh thắng hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách thống trị của thực dân cũ và mới, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #125 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2021, 10:27:20 am »

CẢ NƯỚC PHỐI HỢP VỚI VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Trung úy, ThS. LÊ VĂN CỬ
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Thu - Đông năm 1947, thực dân Pháp mở cuộc tiến công chiến lược lớn lên căn cứ địa Việt Bắc, nhằm chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến; tiêu diệt bộ đội chủ lực ta; phá tan khu căn cứ kháng chiến của cả nước, khoá chặt biên giới Việt - Trung, ngăn chặn mối quan hệ của cách mạng Việt Nam với cách mạng Trung Quốc; tạo ra một chiến thắng quân sự quyết định để gây thanh thế và tiến tới thiết lập một chính phủ bù nhìn tay sai. Mục tiêu cuối cùng của chúng là nhanh chóng kết thúc chiến tranh và đặt lại ách thống trị thực dân lên toàn bộ đất nước ta. Trải qua 75 ngày đêm chiến đấu anh dũng (7-10 - 19-12-1947), quân và dân ta đã lập nên chiến công hiển hách, đánh bại cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn, mạo hiểm và đầy tham vọng của Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp. Việt Bắc trở thành mồ chôn quân Pháp. Cơ quan đầu não kháng chiến của ta được bảo vệ an toàn, bộ đội chủ lực ta không những không bị tiêu diệt mà còn trưởng thành và lớn mạnh về mọi phương diện. Chiến thắng Việt Bắc là đòn quyết định làm thất bại hoàn toàn chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến của dân tộc ta sang giai đoạn mới.


Là căn cứ địa của cả nước, biểu tượng của ý chí, niềm tin và quyết tâm kháng chiến của dân tộc Việt Nam, nên khi Việt Bắc bị thực dân Pháp tiến công, cùng với quân dân Việt Bắc quấn dân cả nước ở vùng tự do cũng như vùng tạm bị chiếm, từ nông thôn đến thành thị, từ miền rừng núi đến đồng bằng, từ Bắc vào Nam đã hướng về "thủ đô kháng chiến" với niềm tin tưởng tuyệt đối vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, sẵn sàng làm tất cả để chi viện, phối hợp cùng Việt Bắc, quyết tâm bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến, bảo vệ căn cứ địa thần thánh của dân tộc.


Ngay từ khi chiến dịch Việt Bắc bắt đầu, Trung ương Đảng đã chủ trương: đánh mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ khiến cho địch không thể tập trung quân đánh lên Việt Bắc. Theo đó, quân và dân cả nước ta đã thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, phối hợp với Việt Bắc, "chia lửa" cùng Việt Bắc, tiến công địch trên khắp các mặt trận quân sự, chính trị, binh vận,... ở các chiến trường trong cả nước.


Tại vùng đồng bằng Bắc Bộ, quân và dân các địa phương đẩy mạnh việc củng cố cơ sở, kiện toàn các tổ chức quần chúng, nhất là ở những nơi tình hình chính trị có nhiều diễn biến phức tạp; điều chỉnh thế trận trên các địa bàn, phát động chiến tranh du kích, sẵn sàng chiến đấu chống lại kẻ địch lấn chiếm; đưa lực lượng vào vùng tạm chiếm, xây dựng cơ sở, thực hiện phá tề, trừ gian, chủ động tiến công địch bằng lực lượng nhở trên khắp địa bàn.


Ở Hà Nội, chỉ vài ngày sau khi thực dân Pháp mở màn tiến công Việt Bắc, công an nội thành, bằng tinh thần dũng cảm, mưu trí, đã dùng lựu đạn giết tên chủ tịch Hội đồng An dân Bắc Việt (11-10-1947). Trong hai tháng cuối năm 1947, các lực lượng vũ trang Hà Nội cùng với Trung đoàn 48 đẩy mạnh đánh địch trên các phòng tuyến mà quân Pháp vừa mới thiết lập được, liên tiếp tập kích vào các vị trí Ngải Cầu, Giá, Cầu Giấy, Quang Tó, Văn Điển, Đông Anh, Mễ Trì, Vĩnh Tuy,... diệt 189 tên địch. Khắp mọi nơi trong thành phố, các lực lượng vũ trang tiến hành tổ chức "địa lôi chiến" đánh các đoàn xe cơ giới của địch. Để có vũ khí đánh giặc, anh em tổ chức tháo gỡ hàng trăm quả mìn xung quanh các vị trí của địch, ngoài ra một số đơn vị du kích sử dụng đầu đạn đại bác và đạn súng cối thu được của địch cải tiến thành địa lôi, đánh xe cơ giới trên đường số 1 và đê Đại Hà.


Đầu tháng 10-1947, bộ đội Khu 2 chặn đánh cuộc tiến công của địch ở Sơn Động (Sơn Tây) diệt hàng trăm tên. Quân và dân Khu 10 đánh địch ở Hướng Hoá, Thu Cúc, Tu Vũ, diệt nhiều tên, buộc chúng phải rút về Hoà Bình, hướng nghi binh của chúng bị phá vỡ. Quân và dân ta trên hướng Sơn La tăng cường hoạt động, làm cho hàng trăm ngụy binh người Thái đào ngũ hoặc ra hàng. Dân quân, du kích Khu 12 đồng loạt phá tề, thu nhiều vũ khí và giành quyền làm chủ. Liên khu 1 và Liên khu 3 cũng hoạt động đều khắp và mạnh mẽ, tích cực phá tề, trừ gian, phát triển chiến tranh du kích, phá rã hoặc lôi kéo ngụy quân, ngụy quyền, làm mất ổn định hậu phương của địch. Để phá kế hoạch mở rộng vùng kiểm soát, bắt người, cướp của nhằm phục vụ chiến tranh của địch, Khu ủy Khu 3 tăng cường cán bộ, đảng viên xuống cơ sở củng cố lực lượng, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Nhiều nơi thành lập các đội trừ gian, công an danh dự cùng với du kích đập tan nhiều ổ nhóm phản động, tập kích các vị trí đóng quân, tiêu hao sinh lực địch. Trên trục đường số 5, đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, quân và dân các địa phương tổ chức phá đường, tháo ốc, lật ray, tà vẹt đường sắt, gài mìn, đào phá đường 5, 39, 17, hạn chế một phần sự vận chuyển của địch trên các tuyến giao thông quan trọng này.


Ở Bình - Trị - Thiên, trong tháng 10-1947, bộ đội địa phương được tổ chức thành các đại đội độc lập trở về vùng tạm chiếm xây dựng lại cơ sở quần chúng, phát động phong trào chiến tranh du kích, tổ chức chống phá hội tề, diệt trừ Việt gian phản động, chống phá các cuộc càn quét, lùng sục phá cơ sở ta của địch.


Tại chiến trường Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, quân và dân ta liên tục tiến công địch ở hầu khắp các tỉnh. Trung đoàn 68 liên tục tiến công một loạt cứ điểm địch ở Quan Nam, Phò Nam. Tại Khánh Hoà, lực lượng vũ trang địa phương tổ chức tiến công địch ở thị trấn Ninh Hoà, tiêu diệt và làm bị thương 200 tên. Bộ đội địa phương Cam Ranh bắn chìm một tàu chiến ở mũi Va-ren-la và san bằng 2 vị trí địch. Ở Quảng Nam, Trung đoàn 93 phục kích phá cứ điểm Bà Rén. Quân dân các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận liên tiếp tiến công các cứ điểm ở Phú Thọ (8-10), phục kích diệt 2 đoàn tàu hoả trên đường Mường Mán - Phan Thiết (9-11) và ở Đồng Me (28-11); phục kích giao thông trên đường Cà Ná - Vinh Hảo (2-12), tiêu diệt và bắt sống hàng trăm tên địch, lật nhào 2 đoàn tàu hoả. Ngày 8-12, một đơn vị gồm 17 chiến sĩ cảm tử đã cải trang, dùng ô tô chạy thẳng vào cổng đồn Xóm Lục, bắn chết lính gác rồi xông vào chiếm đồn.


Quân và dân địa phương các tỉnh Tây Nguyên đẩy mạnh công tác diệt tề, trừ gian, tiến công tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, hỗ trợ tích cực cho công tác gây dựng cơ sở, vận động đồng bào các dân tộc lập căn cứ địa kháng chiến tận các miền hẻo lánh thuộc các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, phục hồi và phát triển phong trào kháng chiến ở vùng địch hậu. Đặc biệt, ngày 12-11, trong trận đánh trên đường 19 tại Rộc Dừa, "quyết tử quân" Ngô Mây đã ôm bom lao vào quân địch, tạo điều kiện cho đồng đội xung phong diệt một trung đội Âu - Phi.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #126 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2021, 10:28:11 am »

Phối hợp với Việt Bắc, quân dân ta ở Nam Bộ, đặc biệt là khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã tăng cường các hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế, làm cho quân địch phải liên tục đối phó trên diện rộng. Cuối tháng 10-1947, đồng thời với việc phổ biến chỉ thị: "Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp" của Trung ương Đảng, Khu bộ Khu 7 đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ phải "đánh địch để phối hợp với Việt Bắc", trong đó quân dân Sài Gòn phải "mở một đợt đấu tranh chính trị và quân sự rộng khắp, không cho địch yên tâm để chi viện cho chiến trường chính"1 (Trần Đức Cường, Chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ với chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5-1997, tr. 23). Đánh mạnh để phối hợp với Việt Bắc lúc này không chỉ là việc thực hiện chỉ thị của cấp trên mà là hành động biểu hiện cụ thể tấm lòng của mỗi cán bộ, chiến sĩ Nam Bộ đối với Thủ đô kháng chiến Việt Bắc, với Trung ương Đảng và Bác Hồ.


Để đẩy mạnh các hoạt động chiến tranh du kích, Thành đội bộ dân quân tỉnh Gia Định, Thành đội bộ dân quân Sài Gòn - Chợ Lớn... và tiếp đó, các quận, xã đội bộ dân quân ở các quận, huyện, xã lần lượt được thành lập.


Tăng cường các hoạt động vũ trang, ngày 26-10, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương phục kích địch ỏ xóm Gò Nổi, xã An Nhơn Tây (Gia Định), diệt và bắt sống nhiều tên địch, trong đó có 1 sĩ quan Pháp, thu 1 trung liên và 12 khẩu súng các loại. Ngày 28-10-1947, Đại đội 15 Chi đội 16 tổ chức chặn đánh địch trên đường 33 Thủ Đức, diệt 20 tên, bắt một số tên, trong đó có 1 quan ba Pháp, thu 16 khẩu súng. Đêm 12 rạng ngày 13-11, Đại đội 10 và Đại đội 11 thuộc Chi đội 16 cùng 2 tiểu đội du kích đánh bại cuộc hành quân của một trung đoàn Âu - Phi khi chúng tiến công vào Phú Hữu, một xã nhỏ ở phía tả ngạn sông Nhà Bè, diệt 40 tên, thu 1 trung liên, 1 súng cối, 1 tiểu liên, 16 súng trường và 1 súng ngắn. Ngày 22-11, tự vệ Sài Gòn tiến công địch tại một số tiệm ăn, nhà hàng ngay tại đường Ca-ti-na, gây cho địch nhiều thiệt hại, khiến chúng rất hoang mang, phải lúng túng đối phó.


Trong tháng 11-1947, phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị dấy lên mạnh mẽ, hơn 400 trí thức, nhân sĩ ở Sài Gòn ký vào bản tuyên bố gửi Chính phủ Pháp phản đôi chiến tranh xâm lược, đòi nghiêm chỉnh đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau sự kiện đó, đêm 4-12-1947, các chi đội 4, 6, 25, Tiểu đoàn Ký Con phối hợp với Ban công tác thành Sài Gòn đồng loạt tiến công địch ở Thị Nghè, Bà Chiểu, Gò Vấp, Bến Cát, Bà Quẹo, Bà Điểm, Phú Thọ Hoà, Phú Lâm, ngã ba Chú Ía, khu vực cầu chữ Y, Nhà Bè và một số câu lạc bộ, rạp chiếu bóng dành riêng cho sĩ quan và binh lính Pháp, gây cho chúng nhiều thiệt hại.


Tại tỉnh Thủ Dầu Một, ngày 5-12, trên quốc lộ 13 đoạn Phú Văn - Búng, lực lượng vũ trang địa phương tổ chức phục kích giao thông, phá hủy 2 xe vận tải, 1 xe Jeep, 3 xe thiết giáp, diệt 10 tên Pháp (có 1 trung úy) và làm bị thương 10 tên khác. Ngày 16-12, Chi đội 6 liên tục tiến công vào các vị trí địch ở Thị Nghè, Bà Chiểu, Gò Vấp, gây tổn thất và làm hoang mang tinh thần binh lính địch. Nhân kỷ niệm ngày Toàn quốc kháng chiến, ngày 19-12-1947, Chi đội 10 phối hợp với Chi đội 1 huy động 8 trung đội tổ chức đánh đoàn xe địch trên đường 14 tại Đồng Xoài, phá hủy 1 thiết giáp và 9 xe chở lính, diệt 60 tên địch, bắt sống một số tù binh, thu 2 trung liên, 9 súng khác và một máy vô tuyến điện. Ngày 22-12, Trung đoàn Phạm Hồng Thái phối hợp với lực lượng vũ trang nội thành Sài Gòn đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, bốt Phú Thọ Hoà, Rạch Chiếc. Các lực lượng nội thành dùng lựu đạn đồng loạt tiến công vào các bốt, nơi tập trung sĩ quan Pháp và sĩ quan ngụy ở hộ 17, 18 Chợ Lớn. Các chiến sĩ biệt động đã mưu trí diệt tên Việt gian đầu sỏ Nguyễn Văn Sâm. Mặc dù trong các trận đánh đó, binh lực địch bị tổn thất không lớn, song nó đã khích lệ, cổ vũ và tạo thêm niềm phấn khởi tin tưởng cho nhân dân vào cuộc kháng chiến của dân tộc.


Phối hợp với các trận tiến công địch của lực lượng vũ trang, công nhân lao động Sài Gòn, Gia Định, Thủ Dầu Một... đốt phá cơ sở hậu cần địch, làm hư hỏng nhiều kho tàng, quân trang, quân dụng của địch. Nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước tuyên bố ủng hộ kháng chiến, ủng hộ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Uy tín của Chính phủ kháng chiến ngày càng được khẳng định cả ở vùng tự do và vùng tạm bị địch chiếm.


Ở chiến trường Khu 8, tháng 11-1947, Tiểu đoàn 305 ở Gò Công đã tổ chức chiến đấu chặn địch khi chúng sử dụng 1 tiểu đoàn quân lê dương đánh vào Gia Thuận. Đại đội 915 bố trí ở xóm Bà Tham, Tân Niên Tây, Đại đội 913 bố trí ở xóm Đập Tân Phước, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, sau đó rút về Gia Thuận, tổ chức phòng ngự. Đến chiều, thêm một lần nữa, các đại đội 915 và 913 lại giành thắng lợi đánh bại quân địch khi chúng tiến đánh Gia Thuận. Kết quả gần 100 tên địch bị tiêu diệt, ta thu 1 đại liên, 2 trung liên 1 khẩu cối 60mm.


Tại Mỹ Tho, Trung đoàn 120 hoạt động mạnh ở các huyện phía đông lộ Đông Dương giáp Chợ Gạo, vừa tác chiến vừa xây dựng cơ sở. Chỉ trong tháng 12-1947, trung đoàn đã đánh 13 trận, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch. Ngày 4-12, một lực lượng của trung đoàn tiến công đồn Tịnh Hà; ngày 7-12, các đơn vị thuộc 3 đại đội 1075, 1072 và 1080 tổ chức đánh lại các đợt tiến công của địch ở hướng Thanh Bình, gây cho chúng nhiều tổn thất, đồng thời đơn vị đã bảo vệ được gần 100 cán bộ, cơ quan, nhân dân rút khỏi trận địa về xã Lương Hoà Lạc và Phúc Khiết an toàn. Kết thúc trận chiến đấu, gần 200 tên địch, trong đó đa số là lính Bắc Phi và lê dương bị loại khỏi vòng chiến đấu.


Ở Khu 9, bộ đội và du kích tỉnh Bạc Liêu phục kích tàu địch ở nhiều nơi, tiêu biểu là trận đánh đắm tàu địch ở gần Ao Kho (11-1947), cả đại đội lính lê dương chỉ còn 1 tên sống sót. Sau trận đánh, ta tổ chức tìm kiếm vũ khí ở tàu đắm, thu được 2 khẩu đại liên, 2 trung liên 13,2mm và 50 súng trường. Các trận phục kích bằng thủy lôi ở Bạc Liêu và Rạch Giá đã làm cho kẻ thù nhiều phen khiếp sợ.


Thắng lợi của đợt hoạt động quân sự phối hợp trong cả nước đã góp phần đáng kể vào thắng lợi chung của chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947. Các hoạt động đó đã làm cho kẻ địch không thể rảnh tay để tập trung lực lượng tăng viện cho chiến trường Bắc Bộ, đặc biệt là chiến trường Việt Bắc; đồng thời nó chứng tỏ sự phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương, các chiến trường trong cả nước; giữa các mặt trận đấu tranh quân sự, chính trị và sự trưởng thành của lực lượng vũ trang trong cả nước về năng lực tổ chức chỉ huy, trình độ tác chiến, bản lĩnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ ta. Trong nhiệm vụ "chia lửa" với Việt Bắc, sự phối hợp của các chiến trường đã được Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy đánh giá là tích cực và có hiệu quả.


Cuộc chiến đấu phối hợp của quân dân cả nước với chiến trường Việt Bắc trong Thu - Đông 1947, phần nào đó còn có một số hạn chế nhất định, diễn ra chưa thật đều khắp trong cả nước và chưa làm rung chuyển mạnh hậu phương của địch, song với tình hình thực tế ở các địa phương lúc bấy giờ, thì đóng góp đó là sự nỗ lực cao độ, góp phần làm cho địch lâm vào tình trạng phải đối phó khắp nơi, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho quân và dân ta ở chiến trường Việt Bắc chiến đấu, đập tan âm mưu của thực dân Pháp. Các địa phương vừa đánh địch để hỗ trợ tích cực cho lực lượng ta ở Việt Bắc, vừa cải thiện tình hình ở địa phương mình, thực hiện càng đánh càng mạnh. Hoạt động sôi nổi của các chiến trường cả nước trong Thu - Đông năm 1947 phản ánh sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Thường vụ Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy, cùng sự chủ động của các địa phương, đơn vị.


Cuộc phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong việc chỉ đạo và thực hành phối hợp chiến lược trong cả nước. Những bài học quý báu đó tiếp tục được phát huy mạnh mẽ trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #127 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2021, 10:29:38 am »

CHIẾN TRƯỜNG NAM TRUNG BỘ TỪ
SAU TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN ĐẾN THU - ĐÔNG NẰM 1947


Thượng tá CAO PHI HÙNG
Trưởng phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường, Quân khu 5


Sau hơn nửa năm kể từ khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, về cơ bản, quân Pháp đã chiếm được các thành phố lớn và một số thị xã. Tuy nhiên, chúng lại vấp phải những khó khăn: Thứ nhất, thực dân Pháp phải đối mặt với sức mạnh tổng hợp của cả một dân tộc "quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập" đã giành được trong Cách mạng Tháng Tám, với quyết tâm "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Thứ hai, dù được tăng cường thêm lực lượng, nhưng quân viễn chinh Pháp vẫn buộc phải phân tán lực lượng để đối phó với thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Tại chiến trường chính Bắc Bộ, quân Pháp chỉ đủ sức chiếm giữ một số thành phố, thị xã quan trọng như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương... và đang ở tình trạng bị cô lập, ít có khả năng chi viện, hỗ trợ lẫn nhau. Đến mùa Hè năm 1947, quân Pháp được tăng cường thêm lực lượng chuẩn bị cho một cuộc tiến công mới.


Đối với ta, cuối tháng 4-1947, tại Việt Bắc, Hội nghị cán bộ Trung ương họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội nghị đề ra những chủ trương và chính sách về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa nhằm thực hiện "toàn dân đoàn kết, kháng chiến lâu dài", "vừa kháng chiến vừa kiến quốc, và lập nền kinh tế tự túc", "vừa kháng chiến, vừa dựng lên một nền văn hóa mới". Mọi mặt của cuộc kháng chiến đã có những bước phát triển mới. Bộ đội chủ lực ngày càng được phát triển mạnh cả về số lượng lẫn trình độ tác chiến, cơ quan đầu não kháng chiến được bảo vệ an toàn. Thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng được củng cố và phát triển. Vùng căn cứ du kích của ta ngày càng được mở rộng.


Để giải quyết bài toán về tái chiếm Đông Dương, từ đầu năm 1947, thực dân Pháp đưa ra rất nhiều phương án. Cuối cùng, phương án của tướng Va-luy1 (Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương) được chọn. Phương án Va-luy là sự kết hợp chặt chẽ giữa thủ đoạn chính trị và biện pháp quân sự.


Về chính trị, âm mưu thiết lập nên một chính quyền bù nhìn bản xứ, lôi kéo, lừa bịp quần chúng bằng một thứ chủ nghĩa quốc gia giả tạo đối lập với chủ nghĩa yêu nước chân chính của dân tộc ta. Chúng ráo riết thực hiện âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động chủ nghĩa ly khai, gieo rắc mâu thuẫn tôn giáo và sắc tộc, thành lập lực lượng vũ trang phản động. "Giải pháp Bảo Đại" vẫn được thực dân Pháp lựa chọn cho thủ đoạn chính trị của mình.


Về quân sự, chúng vừa ra sức bình định miền Nam vừa tập trung lực lượng lớn để đánh đòn quyết định ở miền Bắc, âm mưu đè bẹp tinh thần và lực lượng kháng chiến của ta. Va-luy chủ trương bình định Nam Bộ trước mùa mưa, tiêu diệt lực lượng kháng chiến, giải quyết về căn bản chiến tranh ở Nam Bộ; thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", vơ vét nhân tài vật lực ở miền Nam phục vụ hành động xâm lược miền Bắc, đưa một phần quân viễn chinh tăng cường cho Bắc Bộ.


Theo phương án đó, Va-luy cho rằng cần thiết phải mở cuộc tiến công quân sự quy mô lớn vào thượng du Bắc Kỳ với phương châm "đánh nhanh thắng nhanh" nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, kết thúc chiến tranh, lập lại chế độ thuộc địa. Chấp nhận phương án Va-luy, Hội đồng Phòng thủ Đông Dương thông qua kế hoạch tiến công Thu - Đông năm 1947 với mục đích: "bịt kín biên giới, ngăn chặn không cho Việt Minh tiếp xúc với Trung Quốc... loại trừ mọi sự chi viện từ ngoài vào; truy lùng Việt Minh đến tận sào huyệt, đánh cho tan tác mọi tiềm lực kháng chiến của họ"1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986, tr. 150). Từ mùa Hè năm 1947, Va-luy chủ trương tiến hành hàng loạt các hoạt động quân sự trên toàn bộ chiến trường Việt Nam. Tướng Xa-lăng, Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Đông Dương, được giao chỉ huy cuộc tiến công lên Việt Bắc. Kế hoạch tiến công Việt Bắc của thực dân Pháp đặt sự nghiệp kháng chiến của dân tộc trước một thử thách to lớn.


Ngày 12-6-1947, Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ ba họp nhận định tình hình, bàn biện pháp phá âm mưu chiến lược mới của địch. Hội nghị xác định nhiệm vụ của quân và dân ta là: "Đánh vào các đô thị, đánh rất mạnh vào các đường giao thông, đánh mạnh hơn trong các vùng do địch kiểm soát, đập tan mưu mô chính trị và kinh tế của địch... Phối hợp hoạt động quân sự, vũ trang tuyên truyền với các cuộc đấu tranh chính trị trong những vùng địch kiểm soát"1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986, tr. 152). Ngày 15-9-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Sửa soạn phá những cuộc tấn công lớn của địch. Ngày 27-9-1947, Hội nghị quân sự lần thứ năm được triệu tập để thống nhất nhận định về âm mưu và hướng tiến công sắp tới của giặc Pháp, đề ra chủ trương tác chiến trong Thu - Đông. Chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ được lệnh đánh mạnh để làm yếu sức địch ở Bắc Bộ. Khẩu hiệu "Đập tan cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp" được giương cao ở khắp nơi!


Tại chiến trường Nam Trung Bộ, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh phối hợp chiến đấu với chiến trường chính, quân và dân ta vừa liên tiếp tiến công tiêu diệt địch, vừa tranh thủ phát động nhân dân mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích, nhằm căng kéo, tiêu diệt sinh lực địch, giam chân địch, giảm áp lực quân sự đối với chiến trường Việt Bắc. Nam Trung Bộ  là địa bàn chiến lược quan trọng ở miền Nam và Trung Đông Dương, có Tây Nguyên hùng vĩ là mái nhà của Đông Dương, có địa thế dễ bị chia cắt, là chiến trường có khả năng tiêu diệt lớn quân địch. Do đó, sự phối hợp chiến đấu của quân và dân Nam Trung Bộ với mặt trận chính Việt Bắc càng có ý nghĩa lịch sử to lớn, vì thắng lợi chung của sự nghiệp kháng chiến của cả nước.


Đến giữa năm 1947, vùng căn cứ cách mạng ở bốn tỉnh Nam - Ngãi - Bình - Phú vẫn được giữ vững trước âm mưu đánh chiếm vùng tự do của địch. Điều đó có ý nghĩa bước đầu phá được một phần âm mưu bình định miền Nam trước mùa mưa để tập trung lực lương đánh đòn quyết định ở miền Bắc của Va-luy.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #128 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2021, 10:30:35 am »

Thực hiện chủ trương triệt để phá hoại, Đảng bộ và chính quyền các tỉnh vùng tự do huy động hàng triệu ngày công đào, đắp, phá nát các tuyến đường số 1, số 14, số 19, các đường liên tỉnh số 5, số 6, số 7 và hàng chục tuyến đường liên huyện. Riêng đường xe lửa, các địa phương tháo gỡ đường ray, tà vẹt đưa về giấu kín ở các chiến khu. Các thị xã Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tuy Hòa và hàng chục thị trấn đều bị phá hủy. Nhân dân còn đào, phá, san bằng các tòa thành cổ ở Quảng Ngãi, Bình Định. Thực hiện chủ trương "phá hoại để kháng chiến", theo lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Đánh thì phải phá", "phá cho bọn Pháp không lợi dụng được", "phá để chặn chúng lại, không cho chúng tiến lên"1 (Tổng cục Chính trị, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 284, 616), quân và dân các tỉnh vùng tự do Nam Trung Bộ đã triệt để phá hoại tất cả những gì quân Pháp có thể lợi dụng để tiến công ta, nhằm ngăn cản bước tiến của quân thù. Đồng thời, nhân dân cùng các lực lượng vũ trang ngày đêm xây dựng các trận địa vây đánh địch ở tất cả các ngả đường.


Trong đó, trận đánh phục kích trên đèo Hải Vân lần thứ 22 (Chiến thắng Hải Vân lần thứ nhất vào tháng 2-1947) vào tháng 5-1947 trở thành chiến công lớn nhất của chiến trường Nam Trung Bộ trong năm 1947, cũng là một chiến công vẻ vang của quân dân cả nước trong thời gian đó. Trận đánh do Trung đoàn 96 thực hiện, được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân vùng tây bắc Hòa Vang (Quảng Nam). Ta đánh địch bằng bom, mìn, hỏa lực với xung phong, giáp lá cà, liên tục đánh ba đoàn xe bộ binh của địch từ Đà Nẵng ra và từ Huế vào. Kết quả ta bắn cháy và phá hủy 7 xe địch, diệt 113 tên địch (trong đó có đại tá Rô-gơ - Chỉ huy phân khu Đà Nẵng), thu nhiều súng các loại.


Sau thất bại Hải Vân lần thứ 2, quân Pháp tăng cường đánh phá vùng tự do Nam Trung Bộ, âm mưu mở rộng phạm vi chiếm đóng, tiêu diệt lực lượng kháng chiến để tập trung mọi lực lượng đánh lớn ở chiến trường Bắc Bộ. Tháng 6-1947, chúng tấn công hai huyện Duy Xuyên và Đại Lộc (Quảng Nam). Tháng 8, chúng đánh phá vùng tây bắc huyện Hòa Vang. Chúng thực hiện chính sách đốt sạch, phá sạch, giết sạch. Về phía ta, các đơn vị của Trung đoàn 96 cùng với nhân dân địa phương tổ chức chặn đánh địch quyết liệt, cử các phân đội thọc sâu vào vùng sau lưng địch, đánh vào căn cứ và đường giao thông của chúng. Liên tục bị lực lượng vũ trang của ta quấy rối, tiêu hao, quân Pháp buộc phải quay về vùng tạm chiếm để đối phó với phong trào chiến tranh du kích. Tuy chiếm thêm được một số đất đai và lập được một số đồn bốt ở phía bắc sông Thu Bồn, nhưng quân Pháp không thể nào dập tắt được ngọn lửa chiến tranh nhân dân trong vùng tạm chiếm đang bùng lên mạnh mẽ.


Trong khi tại chiến trường Bắc Bộ, quân Pháp chưa tổ chức tiến công Việt Bắc thì ở các chiến trường khác, quân dân ta tiếp tục tiến công địch, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính, làm thất bại âm mưu chiến lược mới của chúng. Tại Quảng Nam, Đà Nẵng, phong trào chiến đấu vẫn tiếp tục dâng cao. Ở những nơi phong trào còn yếu, cán bộ, đảng viên, du kích tìm mọi cách gây dựng cơ sở rồi từng bước phát động quần chúng đấu tranh. Ở những nơi có phong trào phát triển mạnh, nhân dân cùng dân quân du kích tổ chức bố phòng, nắm tình hình địch, đào hầm bí mật, từng bước xây dựng làng chiến đấu, quấy rối, bắn tỉa, tiêu hao quân địch, chống địch lùng sục thôn xóm...


Ở Tây Nguyên, nhiều nơi dân cư tự động rào làng, cắm chông, cài thò không cho lính Pháp lùng sục vào buôn rẫy. Chính quyền cách mạng đã được thành lập trong một số buôn của người Ba Na ở An Khê (Gia Lai). Trong tháng 7-1947, nhiều đơn vị Tây tiến của Nam Trung Bộ đã vượt đèo Mang Giang tiến công nhiều cứ điểm địch ở Đắc Đoa, Biển Hồ... Mặc dù còn nhiều khó khăn do địa bàn quá rộng, nhưng phong trào kháng chiến ở vùng sau lưng địch trên địa bàn Tây Nguyên vẫn phát triển. Nhờ đó, thế trận phối hợp chiến đấu giữa vùng tự do và vùng sau lưng địch ngày một hoàn chỉnh.


Từ cuối tháng 6-1947, địch tập trung quân lớn ở Tây Nguyên chuẩn bị mở cuộc tiến công xuống Bình Định. Đến ngày 2-7, chúng chia quân tiến công Phú Phong, chuẩn bị bàn đạp đánh chiếm toàn tỉnh Bình Định. Trước tình hình đó, các trung đoàn 94, 95 cùng nhân dân Bình Định tổ chức đánh trả: Một là, sử dụng lực lượng bộ đội và du kích tại chỗ thành từng phân đội nhỏ, tích cực ngăn chặn địch ngay từ đấu, thực hiện tiêu hao, tiêu diệt từng tốp nhỏ quân địch; Hai là, tổ chức cho nhân dân lánh cư, bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của đồng bào ở mức cao nhất, đồng thời thực hiện "vườn không nhà trống" không để địch cướp bóc. Mệnh lệnh chiến đấu được truyền đi khắp các đơn vị, địa phương. Ngày 4-7, một bộ phận của Trung đoàn 95 phục kích tại đèo Bô Bô, tiêu diệt 150 tên địch. Trên khắp các mặt trận, quân địch phải đối diện với thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn của quân dân Bình Định. Chúng bị tiêu hao, mỏi mệt, buộc phải rút lui với những thiệt hại tương đối lớn. Về phía ta, tuy chưa thực hiện được những trận tiêu diệt, nhưng các đơn vị bộ đội và dân quân du kích đã vận dụng cách đánh du kích đều khắp, rộng rãi, diệt được địch, bảo vệ được tính mạng và tài sản của nhân dân, tích cực phối hợp chiến đấu với chiến trường chính Bắc Bộ.


Tại chiến trường Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, để thực hiện âm mưu "bình định", quân Pháp tăng cường bắt lính, dồn dân lập "vành đai trắng" để bao vây các căn cứ kháng chiến, đồng thời tiến hành càn quét, mua chuộc, dụ dỗ, đi đôi với khủng bố... Tuy vậy, phong trào kháng chiến của nhân dân ta vẫn không ngừng dâng cao. Trong tháng 6, một tiểu đoàn của Trung đoàn 83 phối hợp với dân quân du kích và nhân dân địa phương tổ chức đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn quân Pháp càn quét vào các xã phía nam sông Đà Rằng (ngày 15), tiêu diệt cứ điểm Lầu Ông Hoàng - pháo đài bảo vệ phía đông thị xã Phan Thiết - thu toàn bộ vũ khí, gây chấn động mạnh tinh thần binh sĩ và bọn ngụy quyền trong thị xã1 (Trong trận đánh này, có 2 hàng binh người Đức đóng giả sĩ quan Pháp dẫn 1 trung đội chủ lực của ta cải trang làm lính ngụy ngang nhiên vào đồn, bất ngờ diệt địch). Trong tháng 7, ta đột kích đồn Phan Rí, tiêu diệt một tiểu đội địch (ngày 12), phục kích trên đường Biên Hòa - Phan Thiết, lật đổ một đoàn xe lửa ở Bàu Cá, diệt 200 tên địch, thu 60 súng, đồng thời tiêu diệt đồn Phú Hải, thu trên 20 súng (ngày 14); bộ đội Bình Thuận phục kích một đoàn xe quân sự của địch từ Quao đi Ma Lâm, diệt 60 tên, thu hàng chục súng (ngày 15), phục kích địch trên đường Phan Thiết - Di Linh (ngày 25). Trong tháng 8, bộ đôi Ninh Thuận đột nhập đánh địch trong thị xã Phan Rang và thị trấn Tháp Chàm (8-8), ba lần đột nhập đánh địch trong thị xã Phan Thiết (từ ngày 6 - 15-8), đánh Thượng Điền, phá nhà máy điện (25-8). Trong tháng 9, bộ đội Khánh Hòa bí mật tập kích tiêu diệt đồn Khố Xanh ở thị trấn Vạn Giã; ta chiếm được đồn, diệt và làm bị thương hơn 90 tên Pháp, thu hơn 50 súng các loại và nhiều quân trang, quân dụng khác (8-9), ta còn phục kích ở Phan Rí, chống càn ở Thái An, diệt hàng trăm tên địch...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #129 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2021, 10:31:50 am »

Tất cả những hoạt động đều khắp đó của quân và dân Nam Trung Bộ không những đánh mạnh vào âm mưu "bình định” miền Nam để tiến công miền Bắc của địch, mà còn góp phần bảo vệ, củng cố các căn cứ địa, làm cho nhân dân càng tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.


Tại chiến trường Bắc Bộ, ngày 7-10-1947, quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn, chính thức mở màn cuộc tiến công lên Việt Bắc. Theo kế hoạch phối hợp tác chiến, đêm ngày 8-10, một bộ phận của Trung đoàn 80 phối hợp với bộ đội địa phương Ninh Hòa (Khánh Hòa) tấn công Chi khu Ninh Hòa, diệt và làm bị thương 190 tên địch, thu nhiều vũ khí đạn dược và đồ dùng quân sự. Tiếp theo, quân và dân Khánh Hòa lại táo bạo thọc sâu vào trong lòng địch, bắn chìm một tàu chiến ở Mũi Nạy và san bằng hai cứ điểm địch ở Cam Ranh.


Ngày 15-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị Phải phá tan cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp. Theo chỉ thị, nhiệm vụ của quân dân Việt Bắc và cả nước lúc này là: "Làm cho địch thiệt hại nặng để không gượng lại được sau chiến dịch mùa Đông này”, "bắt địch chuyển sang thế thủ". Phương hướng hành động của quân và dân ta là: "Giam chân địch tại mấy căn cứ chúng vừa chiếm, bao vây những căn cứ đó thu nhỏ lại như những hòn đảo giữa bể; chặt đứt đường giao thông liên lạc giữa các cứ điểm của địch, không cho chúng tiếp ứng và tiếp tế; giữ gìn chủ lực nhưng cũng phải nhè những chỗ yếu của địch mà đánh những trận vang dội, những trận tiêu diệt; phải đánh mạnh chúng ở miền xuôi; toàn quốc tự cấp tự túc, địa phương tự lập. Nhân dân tiếp tế cho bộ đội tác chiến, bộ đội giúp đỡ nhân dân làm ăn"1 (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 231, 448).


Do tập trung tiến công Việt Bắc nên từ nửa cuối năm 1947, hoạt động quân sự trên chiến trường Nam Trung Bộ của quân Pháp tạm thời lắng xuống. Lợi dụng tình hình đó và theo chủ trương gấp rút "bồi dưỡng, chấn chỉnh bộ đội", "củng cố căn cứ địa kháng chiến" của Hội nghị quân sự lần thứ ba, ta tổ chức thay quân và củng cố lực lượng. Hàng ngàn tân binh trẻ, khỏe được bổ sung cho các đơn vị chiến đấu. Những cán bộ kém năng lực, hoặc tinh thần chiến đấu kém, dần dần được thay thế. Để tăng cường công tác tư tưởng trong điều kiện chiến đấu độc lập, phân tán, hệ thống cán bộ chính trị và chiến sĩ chính trị được tổ chức xuống đến cấp trung đội và tiểu đội. Nhằm đẩy mạnh hoạt động trong thành phố, thị xã và đánh phá giao thông địch, các đơn vị lần lượt tổ chức các đội "cảm tử" hoặc biệt động và các đơn vị chuyên trách đánh địa lôi. Tháng 9-1947, Phân khu 15 được thành lập ở Tây Nguyên. Tiếp đến, Trung đoàn 210 được thành lập và tăng cường cho tỉnh Gia Lai. Vừa chấn chỉnh lực lượng, các đơn vị vừa tích cực đẩy mạnh tiến công tiêu hao, tiêu diệt địch.


Quân dân Ninh Thuận, Bình Thuận liên tiếp tiến công tiêu diệt địch ở cứ điểm Phú Thọ (8-10), phục kích tiêu diệt 2 đoàn xe lửa địch trên đường Mưòng Mán - Phan Thiết (9-11) và ở Đồng Me (28-11), phục kích giao thông trên đường Cà Ná - Vĩnh Hảo (2-12), tiêu diệt và bắt sống hàng trăm tên địch, lật nhào 2 đoàn xe lửa quân sự. Đặc biệt, ngày 8-12, mười bảy chiến sĩ "cảm tử" đã cải trang dùng xe ô tô chạy thẳng đến công đồn Xóm Lụa, bắn chết lính gác rồi xông vào chiếm đồn. Quân địch ở Phan Thiết cho xe thiết giáp chặn đường. Các chiến sĩ của ta đã anh dũng đánh trả, tiêu diệt thêm một số địch rồi rút về căn cứ an toàn.


Ở Tây Nguyên, chính quyền cách mạng được thành lập ở phần lớn vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa dọc đường số 5 từ Kon Plong đến Đắc Hà, Đắc Tô. Đến cuối năm 1947, chính quyền cách mạng đã được thành lập ở 700 buôn làng, cơ sở cách mạng còn được xây dựng ở một số vùng ven thị xã Kon Tum và Đà Lạt, góp phần làm thất bại âm mưu chia rẽ Kinh - Thượng, lương - giáo của địch. Quân và dân Tây Nguyên cũng đẩy mạnh công tác diệt tề, trừ gian, tiến công tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, hỗ trợ tích cực cho công tác gây dựng cơ sở, vận động đồng bào các dân tộc thiểu số lập các căn cứ địa kháng chiến tận những nơi hẻo lánh của các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, phục hồi và phát triển phong trào kháng chiến ở vùng địch hậu.


Trên mặt trận quân sự, tiêu biểu nhất là trận tiêu diệt hớn 1 trung đội Âu - Phi, (12-11), của quyết tử quân Ngô Mây ở Rộc Dừa. Khi trận đánh gặp khó khăn, đơn vị tổ chức yểm trợ để rút lui. Quân Pháp ào tới, Ngô Mây cổ quàng khăn đỏ ôm bom lao vào địch. Ngô Mây và chiếc khăn quàng đỏ trở thành biểu tượng cho tinh thần quyết tử, bám đất, bám dân, đánh địch của cán bộ, chiến sĩ Nam Trung Bộ.


Trong khi quân Pháp ở Nam Trung Bộ bị đánh mạnh, thì tại chiến trường Việt Bắc, các cuộc hành quân Lê-a và Xanh-tuya lần lượt bị đánh bại. Việt Bắc trở thành mồ chôn quân viễn chinh Pháp. Cuộc tiến công lên căn cứ địa Việt Bắc trong Thu - Đông 1947 của thực dân Pháp là một thử thách to lớn đối với toàn quân và toàn dân ta trong năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc. Bằng ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến, quyết thắng và trí thông minh sáng tạo, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã kịp thời đưa ra những biện pháp thích hợp, xoay chuyển tình thế, từng bước chuyển thế trận, giành lại quyền chủ động đánh địch, chuyển yếu thành mạnh, làm cho địch từ mạnh sang yếu, mất thế và lực nên dẫn đến thất bại. Chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh”, với đòn quyết định nhằm đè bẹp đối phương, kết thúc chiến tranh, dựng lại nền thống trị của thực dân Pháp, đã hoàn toàn bị phá sản. Cách mạng Việt Nam không những không bị tiêu diệt mà còn phát triển mạnh hơn cả về chất và lượng.


Trong hoàn cảnh chung của cả nước, với ý chí sắt đá vì độc lập tự do, quân và dân Nam Trung Bộ đã kiên cường đánh giặc, phối hợp chặt chẽ với chiến trường Việt Bắc, góp phần làm thất bại chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của địch, thực hiện được những mục tiêu chiến lược đề ra từ ngày đầu kháng chiến, đã giữ vững được một vùng tự do rộng lớn. Thắng lợi của quân và dân Nam Trung Bộ có ý nghĩa chiến lược, làm suy yếu sức mạnh của địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng để đối phó với phong trào cách mạng ở Nam Trung Bộ, góp phần giảm áp lực quân sự đối với chiến trường Việt Bắc, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân hai miền, tiến tới giành thắng lợi lớn mang tính quyết định ở chiến trường chính, đồng thời để lại cho quân dân Nam Trung Bộ những bài học kinh nghiệm quý giá về đấu tranh cách mạng cho thời kỳ tiếp theo.


Sự phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa các chiến trường trên cả nước nói chung, chiến trường Nam Trung Bộ nói riêng, với chiến trương Việt Bắc trong Thu - Đông 1947, là một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân, của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện. Thắng lợi chung đó càng khẳng định chân lý sáng ngời mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: "Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta"1 (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Tập 2, Toàn quốc kháng chiến, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 281, 323).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM