Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Tư, 2021, 12:24:53 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt  (Đọc 1493 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2021, 06:03:35 pm »

Kế thừa nghệ thuật đánh giặc giữ nước của ông cha và lý luận quân sự Mác - Lênin, từ thực tiễn chiến đấu của quân và dân ta trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, do vũ khí, trang bị, lực lượng của ta lúc bấy giờ còn hạn chế, Đảng và Chủ tịch Hồ Chi Minh đã xác định, trong chiến dịch này ta không thể dùng "trận địa chiến" theo kiêu dàn trận mà phải dùng cách đánh du kích, đánh địa lôi. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến trong chiến dịch Việt Bắc là quán triệt tư tưởng tiến công, lấy ít thắng nhiều, triệt để dùng du kích chiến, vận động chiến để tiến công địch; triệt để phá giao thông, hạn chế khả năng cơ động của địch, tạo thế chia cắt, bao vây địch; đánh địch một cách chủ động, kiên quyết, linh hoạt, bí mật, bất ngờ. Theo tư tưởng chỉ đạo tác chiến đó, các trận đánh trong chiến dịch ngoài công sự với những hình thức chiến thuật là phục kích, tập kích. Quán triệt và thực hiện sáng tạo cách đánh đó quân và dân các dân tộc Việt Bắc đã phát huy sức mạnh của các lực lượng vũ trang mưu trí anh dũng chiến đấu tiêu diệt địch. Việt Bắc đã trở thành mồ chôn giặc Pháp với những địa danh đã đi vào lịch sử như Bình Ca, Thất Khê, Bông Lau, Chợ Mới, Chợ Đồn, Vũ Nhai, Tràng Xá...


Quyết tâm chiến lược và tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là kim chỉ nam cho mọi hoạt động tác chiến của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947. Nói về nguyên nhân thắng lợi của chiến dịch này, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Chính phủ, sự điều khiển khôn khéo của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy, sự dũng cảm của tướng sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích, nhờ sự hăng hái của toàn thể đồng bào, mà ta đã đánh tan cuộc tấn công vào Việt Bắc của thực dân Pháp"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 367).


Không những xác định quyết tâm chiến lược, đề ra cách đánh chiến dịch đúng đắn sáng tạo, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều hình thức biện pháp xây dựng và động viên chính trị - tinh thần làm cho quân và dân các dân tộc Việt Bắc quán triệt và thống nhất những quan điểm, nội dung cơ bản, tư tưởng chỉ đạo tác chiến và cách đánh chiến dịch. Công tác xây dựng và động viên chính trị - tinh thần trong chiến dịch Việt Bắc đã tập trung tuyên truyền giáo dục cho các lực lượng tham gia chiến dịch quán triệt quyết tâm của thực dân Pháp lên Việt Bắc. Làm cho bộ đội hiểu rõ vị trí, ý nghĩa chiến lược của chiến dịch đổi với quá trình phát triển của cách mạng và kháng chiến; nhận rõ nhiệm vụ của các lực lượng tham gia chiến dịch; những điểm mạnh và điểm yếu chí mạng của đối phương khi chúng mở cuộc hành quân lên Việt Bắc và cách đánh thắng chúng. Công tác giáo dục cổ vũ động viên đã được tiến hành một cách liên tục, bằng nhiều biện pháp, hình thức gắn liền với các giai đoạn, cả lúc thuận lợi cũng như khi khó khăn trong suốt chiến dịch. Trong suốt chiến dịch, Trung ương Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chỉ thị quan trọng, những lời kêu gọi kịp thời để cổ vũ ý chí, quyết tâm chiến đấu của quân và dân Việt Bắc để thực hiện mục tiêu chiến dịch. Công tác động viên chính trị, tuyên truyền cổ động, văn hóa văn nghệ đã thông tin chính xác, kịp thời tin chiến thắng, tình hình kháng chiến kiến quốc, những thắng lợi của ta trên toàn quốc. Nhờ làm tốt công tác xây dựng và động viên chính trị - tinh thần, lòng tin và quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta được củng cố, giữ vững trong suốt chiến dịch Việt Bắc.


Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Trong chiến dịch này, quân và dân ta không những bảo vệ vững chắc căn cứ địa và cơ quan đầu não kháng chiến của cả nước, mà còn bảo toàn được lực lượng, phát triển bộ đội chủ lực, tạo thế đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước sang một thời kỳ mới. Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc đã khẳng định sự đúng đắn của đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua chiến dịch Việt Bắc, Đảng, nhân dân và quân đội ta đã "trưởng thành trong kháng chiến, dày dạn trong gian khổ".


Sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí giành độc lập tự do thống nhất Tổ quốc. Với sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh ấy đã được nâng lên đạt đến đỉnh cao chói lọi trong chiến tranh nhân dân giải phóng. Điều rút ra từ đây là, sức mạnh chính trị - tinh thần chỉ được phát huy mạnh mẽ khi lý tưởng và mục tiêu chiến đấu của Đảng, Nhà nước và của toàn dân tộc là hoàn toàn thống nhất. Đó là cội nguồn của sức mạnh chính trị - tinh thần trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, của những thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta trong chiến tranh giải phóng dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay cũng như mai sau.


Để xây đắp và phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần trong sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, cần phải giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nước, ý chí kiên cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc cho mọi người dân. Phải chuyển ý chí chiến đấu vì độc lập tự do cho dân tộc và thống nhất Tổ quốc trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 thành ý chí quyết tâm xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phải làm cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thành ý chí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, thành hiện thực sinh động trên đất nước ta. Đây là điểm cốt lõi của sức mạnh chính trị - tinh thần để nhân dân ta chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, chiến thắng mọi kẻ thù của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ mới.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2021, 06:05:34 pm »

VIỆT BẮC TỪ SAU NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN
ĐẾN TRƯỚC CUỘC TẤN CÔNG THU - ĐÔNG NĂM 1947 CỦA THỰC DÂN PHÁP


PGS, TS. NGUYỄN VĂN NHẬT
Viện trưởng Viện Sử học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam


Địa danh Việt Bắc - phần lãnh thổ phía Bắc của nước Việt Nam, xuất hiện trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám, bao gồm các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, nơi có nhiều đồng bào các dân tộc ít người cùng chung sống, là căn cứ địa vững chắc của cách mạng Việt Nam.


Tên gọi Việt Bắc được sử dụng thành văn đầu tiên trong cuốn sách Kinh nghiệm Việt Minh ở Việt Bắc, xuất bản năm 1944 của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Sau đó, địa danh Việt Bắc được sử dụng rộng rãi trong nhiều tài liệu và báo chí của Đảng và Mặt trận Việt Minh.


Từ ngày 4-11-1949, địa danh Việt Bắc lần đầu tiên được Nhà nước đặt tên chính thức là cấp hành chính Liên khu với tên gọi Liên khu Việt Bắc, bao gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Hải Ninh, Hồng Gai (Đặc khu), Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Phúc Yên, Quảng Yên, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Yên và Yên Bái1 (Sắc lệnh 127/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 4-11-1949, thành lập Liên khu Việt Bắc trên cơ sở hợp nhất Liên khu I và Liên khu X. Có tài liệu ghi có cả châu Mai Đà (Hòa Bình) và tỉnh Lai Châu).


Sau thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc (1952), 4 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu tách khỏi Liên khu Việt Bắc để thành lập Khu Tây Bắc1 (Sắc lệnh134/SL ngày 28-1-1953 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký).


Nhân dân các dân tộc Việt Bắc có lòng yêu nước và truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường. Từ khi thực dân Pháp xâm lược Tổ quốc Việt Nam, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã anh dũng đứng lên chống xâm lược, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng.


Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nhất là khi phát xít Nhật kéo vào Đông Dương, phong trào cách mạng của đồng bào các dân tộc Việt Bắc chuyển sang một giai đoạn mới.


Năm 1941, khi về nước, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn Cao Bằng làm căn cứ để trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và theo sự phát triển của cách mạng, căn cứ dần được mở rộng ra các tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn, rồi tiếp đến Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Giang, Vĩnh Yên... Đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Khu Giải phóng ở Việt Bắc đã được thành lập gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Tuyên Quang (4-6-1945). Ủy ban lâm thời Khu Giải phóng được thành lập do lãnh tụ Hồ Chí Minh đứng đầu và ban hành 10 chính sách lớn trong Khu. Một nước Việt Nam mới thu nhỏ đã ra đời trên địa bàn của các dân tộc vùng Việt Bắc. Cũng tại Khu Giải phóng Việt Bắc, ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào quyết định Tổng khởi nghĩa. Ngay đêm 13-8, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và ra Quân lệnh số 1 hạ lệnh Tổng khơi nghĩa. Đại hội Quốc dân Tân Trào ngày 16-8-1945 bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng tức Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.


Ngày 16-8-1945, các lực lượng Giải phóng quân từ Tân Trào (Tuyên Quang) được lệnh tiến đánh Thái Nguyên, mở đường tiến về Hà Nội, mở đầu cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 giành độc lập cho dân tộc Việt Nam.


Như vậy, Việt Bắc hiểu nghĩa rộng là vùng trung du và miền núi phía Bắc Tổ quốc và cụ thể hơn là vùng căn cứ địa cách mạng Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà. Nơi đây là chiếc nôi của cách mạng, nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã nuôi dưỡng, che chở cách mạng từ những ngày còn trứng nước cho đến khi Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, Việt Bắc vẫn mang ý nghĩa ấy và thực sự là cơ quan đầu não, là linh hồn và là Thủ đô kháng chiến.


Với âm mưu "Quyết tâm cướp nước ta một lần nữa", ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập ngày 2-9-1945, ngày 23-9, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Nam Bộ. Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, mở đầu là nhân dân Nam Bộ, lại tiếp tục.


Sau nhiều nỗ lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta nhằm kiềm chế chiến tranh không thành, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến.


Việc thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta dự báo trước. Đi đôi với việc xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng; đẩy mạnh tăng gia sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, Đảng ta đã chú ý tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang, xâv dựng căn cứ địa kháng chiến, chuẩn bị mọi điều kiện để tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài.


Nhận rõ hậu phương - căn cứ địa là nhân tố thường xuyên, quyết định thắng lợi của chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã sớm chú trọng xây dựng căn cứ chiến lược cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Và một lần nữa Việt Bắc - cái nôi của cách mạng giải phóng dân tộc, lại được chọn làm căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Miền rừng núi Việt Bắc hiểm trở là nơi cất giấu kho tàng, che chở bộ đội, cán bộ, đồng thời ngăn chặn sự bao vây quân thù. Địa thế Việt Bắc rất thuận lợi cho chiến tranh du kích phát triển, chiến tranh toàn dân mở rộng. Những nương đồi, thung lũng đất đai màu mỡ, tài nguyên khoáng sản phong phú của Việt Bắc, cùng sự lao động cần cù của đồng bào các dân tộc là nhân tố quan trọng đảm bảo cung cấp một phần lương thực, thực phẩm cho cán bộ Trung ương, cho lực lượng vũ trang, đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến.


Nhân dân các dân tộc Việt Bắc vốn có truyền thống cách mạng, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện từ những ngày chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, có cơ sở chính trị quần chúng vững chắc, có lực lượng vũ trang đông đảo, có chính quyền nhân dân các cấp, đảm bảo đủ các yếu tố để xây dựng thành căn cứ kháng chiến của cả nước.


Đối với kẻ địch, điều kiện tự nhiên Việt Bắc trở ngại cho tác chiến chính quy, hiện đại, hiệp đồng lớn, hạn chế hiệu quả của vũ khí, khí tài hiện đại, khó khăn cho việc vận chuyển lực lượng lớn và tiếp tế lương thực.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2021, 06:06:21 pm »

Sau ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi, với tầm nhìn xa, trông rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử đồng chí Phạm Văn Đồng và một số cán bộ ở lại Việt Bắc giúp đồng bào xây dựng cuộc sống mới, qua đó củng cố thêm căn cứ địa cách mạng để làm hậu phương vững chắc nếu chiến tranh xảy ra.


Tháng 10-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử một phái đoàn Chính phủ, do đồng chí Nguyễn Lương Bằng dẫn đầu, lên Việt Bắc tiếp tục chuẩn bị căn cứ địa, trước hết là tìm địa điểm cho cơ quan lãnh đạo và di chuyển máy móc, lương thực, thực phẩm, vũ khí... dự trữ cho kháng chiến. Vùng giáp ranh giữa ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, bao gồm huyện Định Hóa (Thái Nguyên), nam Chợ Đồn (Bắc Kạn), Sơn Dương, Chiêm Hóa (Tuyên Quang), được chọn để xây dựng An toàn khu của Trung ương. Đó là những nơi "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ" như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Khi nguy cơ chiến tranh tới gần, tháng 11-1946, Đội công tác đặc biệt của Trung ương, do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách, tiếp tục được cử lên Việt Bắc. Đội đã tiến hành những công việc cần thiết phục vụ cuộc tổng di chuyển; dự kiến và bố trí đường đi, nơi ở, nơi đặt cơ quan, công xưởng, kho tàng... Thị xã Bắc Kạn và một số địa điểm như Điềm Mặc, Phú Bình, Yên Thông (Định Hóa, Thái Nguyên) được chọn làm nơi làm việc của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và quân đội. Nơi đây được xây dựng thành An toàn khu (ATK) của Trung ương và của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Tháng 3-1947, các cơ quan Đảng, Chính phủ, Mặt trận, quân đội cùng hàng chục vạn đồng bào, cán bộ, chiến sĩ từ các hướng tập trung lên Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc nhiều nơi ở Việt Bắc. Thời gian đầu, Người làm việc tại Sơn Dương (Tuyên Quang), sau đó chuyển sang Định Hóa (Thái Nguyên). Định Hóa trở thành An toàn khu Trung ương bao gồm địa bàn 4 xã Phú Bình, Điềm Mặc, Thanh Định, Định Biên kế liền trong một thung lũng rộng lớn. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cơ quan làm việc tại Khau Tý (xã Điềm Mặc), nơi có đường mòn đi Sơn Dương, xuống Đại Từ, lên Chợ Đồn, ra Phú Lương và nhiều lối tắt kín đáo, thuận lợi. Đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh ở và làm việc tại xóm Phong Hiển, xã Điềm Mặc. Các đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng... cùng các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Trung ương Quân ủy, Bộ Quốc phòng đóng tại An toàn khu cho đến ngày kháng chiến chống Pháp thành công.


Các công binh xưởng, xí nghiệp, nhà máy cũng lần lượt được chuyển lên căn cứ địa. Hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu được phân tán ra các vùng để tiếp tục sản xuất phục vụ cuộc kháng chiến. Hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm khác, bằng nhiều phương tiện khác nhau, đã được chuyển dần lên Việt Bắc, đáp ứng yêu cầu cho nhân dân và lực lượng kháng chiến. Gần 63.000 đồng bào vùng xuôi tản cư lên Việt Bắc được phân chia về các thị xã, thị trấn, làng bản, dần dần ổn định cuộc sống.


Tuy vậy, như chúng ta đã biết, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nước ta gặp muôn vàn khó khăn: sản xuất đình đốn, tài chính kiệt quệ, đời sống nhân dân gặp khó khăn... Chính phủ và nhân dân ta chưa kịp có thời gian khắc phục hậu quả thiên tai, nạn đói, khôi phục sản xuất, thì kẻ thù đã tấn công xâm lược từ Nam ra Bắc. Cuộc chiến tranh từ cục bộ lan ra cả nước, rồi kháng chiến toàn quốc bùng nổ.


Địch chiếm đóng tất cả các vùng đồng bằng màu mỡ và giàu có. Việt Bắc - vùng rừng núi và trung du Bắc Bộ kinh tế kém phát triển, mang nặng tính tự cung tự cấp, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn nhiều hạn chế.


Để Việt Bắc trở thành căn cứ cách mạng, Thủ đô kháng chiến, công tác xây dựng và bảo vệ được khẩn trương triển khai.

- Về chính trị, trên cơ sở chính quyền các cấp đã được xây dựng trước và sau Cách mạng Tháng Tám, Trung ương Đảng chỉ đạo các địa phương củng cố, kiện toàn để các cấp chính quyền, Mặt trận, các tổ chức đoàn thể phát huy hiệu lực, động viên sức dân phục vụ sự nghiệp kháng chiến. Công tác xây dựng Đảng cũng được coi trọng với việc phát triển thêm nhiều tổ chức cơ sở và đội ngũ đảng viên. Đến cuối năm 1947, toàn khu Việt Bắc có tói hơn 20.700 đảng viên, trong đó có gần 9.700 đảng viên là người thuộc các dân tộc thiểu số.

- Về kinh tế, việc tăng gia sản xuất được đẩy mạnh. Năm 1947, Việt Bắc trồng cấy được 379.289 ha lúa, ngô, khoai, sắn; thu hoạch 450.000 tấn lương thực.

- Về văn hóa, giáo dục, tại căn cứ Việt Bắc ta đã xây dựng 4 trường trung học, 741 trường tiểu học, phát triển mạnh các lớp bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ cho hơn 150.000 người. Cuộc sống mới, với đời sống văn hóa lành mạnh, phong phú, được xây dựng khắp các địa phương ở Việt Bắc.

- Về lực lượng vũ trang, đây là lực lượng trực tiếp chiến đấu và quyết định thành bại của cuộc chiến tranh, tuy đã được chú ý xây dựng, song còn quá nhỏ bé, trang bị vũ khí còn thô sơ và thiếu thốn, trình độ tác chiến còn hạn chế.


Do vậy, bước vào cuộc kháng chiến trực tiếp chống thực dân Pháp xâm lược, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang là nhiệm vụ quan trọng trước hết đối với các khu, các tỉnh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2021, 06:07:12 pm »

Quán triệt quan điểm chiến tranh nhân dân, đường lối vũ trang toàn dân, các cấp ủy Đảng từ khu đến tỉnh, huyện, xã đã coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân. Chỉ trong một thời gian ngắn, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ đều được tăng cường về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu tại chỗ cũng như cơ động chiến đấu. Ở các tỉnh Việt Bắc, đến giữa năm 1946, mỗi huyện đều có 1 trung đội du kích tập trung, có huyện có 1 đến 2 trung đội du kích thoát ly và 1 trung đội cảnh vệ; mỗi tỉnh có 1 trung đoàn và 1 đại đội cảnh vệ. Tỉnh Lạng Sơn có Trung đoàn 125, Cao Bằng có Trung đoàn 74, Bắc Kạn có Trung đoàn 23, Thái Nguyên và Phúc Yên có Trung đoàn 22, Hà Giang và Tuyên Quang có Trung đoàn 112 và Trung đoàn Sông Lô. Bình quân mỗi tỉnh, lực lượng vũ trang lên tới hơn một vạn người. Đó là chưa kể các đơn vị chủ lực của Khu và Bộ đóng trên địa bàn Việt Bắc.


Sự lãnh đạo của Đảng trong lực lượng vũ trang được kiện toàn. Hệ thống cơ quan chính trị hình thành. Cấp Khu có ủy viên chính trị, Phòng chính trị; trung đoàn, tiểu đoàn có Ban và Tiểu ban công tác chính trị. Bên cạnh người chỉ huy, các cấp từ trung đội trở lên đều có Chính trị viên.


Lực lượng dân quân du kích và tự vệ được tổ chức thống nhất từ trên xuống dưới, ở Khu có ban dân quân, các tỉnh thành lập Tỉnh đội bộ do Tỉnh đội trưởng đứng đầu, huyện có Huyện đội bộ và xã có Xã đội bộ. Về lực lượng, mỗi tỉnh, huyện có đại đội du kích tập trung thoát ly như Vệ quốc đoàn. Các huyện ở gần trung tâm căn cứ địa, lực lượng dân quân du kích được phát triển mạnh hơn. Tính đến tháng 7-1947, đã có 17 đại đội; huyện trọng điểm của tỉnh Bắc Kạn là Bạch Thông có tới 6 đại đội. Một số cơ sở như thị xã Bắc Kạn, thị trấn Chợ Mới đã có đại đội du kích tập trung được huấn luyện và trang bị khá hơn.


Ngoài các đại đội du kích tập trung của tỉnh, huyện, ở xã còn có lực lượng du kích làm nhiệm vụ tuần tra canh gác, tác chiến tại địa phương và lực lượng dân quân rộng khắp vừa sản xuất, vừa phục vụ chiến đấu như giao thông, vận tải, phá hoại cầu, đường... Tỉnh Thái Nguyên còn có nhiều đội du kích đều là phụ nữ, phụ lão và thiếu niên. Chủ trương "võ trang toàn dân", "tự vệ rộng rãi" của Đảng ta đã thu hút nhiều đồng bào từ vùng thấp đến vùng cao tham gia, thực hiện đúng khẩu hiệu "Toàn dân kháng chiến”.


Do yêu cầu nhiệm vụ chính trị và phát triển lực lượng vũ trang, Việt Bắc thành lập Trường Quân chính và Trường Lam Sơn, nhằm huấn luyện, đào tạo cán bộ. Hai trường liên tiếp mở các khóa học dài hạn và ngắn hạn, đào tạo được nhiều cán bộ từ tiểu đội đến đại đội, đáp ứng nhu cầu của Khu và cung cấp nhiều cán bộ ưu tú là con em các dân tộc ít người cho các đơn vị chủ lực của Bộ Tổng chỉ huy.


Các lực lượng vũ trang Việt Bắc ngày càng lớn mạnh và trưởng thành, nhưng vũ khí, trang bị và lương thực còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là dựa vào sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân. Bộ đội đóng quân ở đâu, chính quyền và nhân dân ở đó cung cấp lương thực, thực phẩm. Mặc dầu còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng với tinh thần yêu nước, tấm lòng yêu quý bộ đội, đồng bào các dân tộc tự giác, hăng hái đóng góp mỗi xóm 1 bộ quần áo, mỗi thôn 1 áo trấn thủ và 1 chăn kháng chiến cho chiến sĩ. Để giải quyết một phần khó khăn, các đơn vị bộ đội đều thành lập Đội Nông binh khai phá đất hoang, tăng gia sản xuất để tự túc một phần lương thực và vật dụng hàng ngày như mũ nan bọc vải, giỏ mây hoặc tre đựng lựu đạn, bát ống bương... Mỗi chiến sĩ được cấp 180 đồng (tiền tài chính) phụ cấp 1 tháng, chăn và áo rét chỉ đủ cấp cho nửa quân số.


Trang bị vũ khí cho bộ đội là yêu cầu bức thiết để nâng cao chất lượng chiến đấu. Dưới sự lãnh đạo của Khu ủy, Tỉnh ủy, các xưởng sửa chữa vũ khí và sản xuất súng, lựu đạn, địa lôi lần lượt ra đời. Ngày 20-3-1947, thành lập xưởng sản xuất súng kíp; cuối tháng 7-1947, xưởng sản xuất lựu đạn, địa lôi của Chiến khu 1 ra đời. Cao Bằng mở rộng binh công xưởng đã được xây dựng từ trước, tăng thêm máy móc, thiết bị, thu hút thêm cán bộ, công nhân. Xưởng PC của Thái Nguyên vừa sửa chữa súng, sản xuất lựu đạn, vừa chế Phuy-mi-nát thủy ngân làm hạt lửa. Ngoài ra, mỗi làng xóm, xã đều mở lò rèn sản xuất vũ khí tự tạo...


Tuy vậy, việc sản xuất ở các xưởng còn gặp nhiều khó khăn: thiếu công nhân kỹ thuật, ít kinh nghiệm sản xuất, thiếu nguyên vật liệu, máy móc, thiếu cán bộ quản lý có kinh nghiệm, đời sống công nhân quá thiếu thốn. Vì vậy, kết quả sản phẩm làm ra ít và chất lượng không cao. Tính trong 10 tháng đầu năm 1947, với 40 công nhân mới sản xuất được 3 "đại bác kíp", 40 dao găm, 12 thanh kiếm, 337kg thuốc súng... Bộ đội vẫn thiếu vũ khí. Ở Chiến khu 1, cứ 3 người có 2 khẩu súng. Chiến khu 12 thì 2 chiến sĩ mới được trang bị 1 khẩu súng và không đủ cơ số đạn.


Song song với nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, sẵn sàng chiến đấu, công tác tiêu thổ kháng chiến được tiến hành khẩn trương, ở mỗi tỉnh Việt Bắc đều thành lập ban phá hoại, có nhiệm vụ giải thích mục đích, ý nghĩa và hướng dẫn kỹ thuật, cách thức tổ chức phá hoại, tiêu thổ kháng chiến. Nhờ đó, nhân dân đã tự tay phá đi những gì do công sức của mình tạo dựng nên từ nhà cửa đến cầu đường, thậm chí cả đình, chùa, không cho địch lợi dụng để chống lại ta. Thị xã Thái Nguyên là một trong những địa phương thực hiện triệt để tiêu thổ kháng chiến, hầu hết nhà cửa đều bị phá. Trên trục Đường số 3 từ Việt Bắc trở về Hà Nội, ta đã đào hàng vạn hố răng lược, hố chống tăng, hào chữ chi, phá sập hàng chục cầu lớn nhỏ, đắp nhiều ụ đất, cắm cọc gỗ, bóc thanh tà vẹt, chặt hàng nghìn cây to cản mặt đường, làm tê liệt hàng chục ki-lô-mét đường ô tô. Trên các bãi trống được cắm cọc vót nhọn chống quân nhảy dù, dựng kè chắn ngang nhiều đoạn trên các dòng sông lớn.


Với chủ trương kịp thời và được nhân dân đồng tình, ủng hộ, đến cuối năm 1947, công tác phá hoại để kháng chiến ở nhiều địa phương đã hoàn thành tốt. Tuy nhiên, do dự đoán âm mưu địch chưa sát, bị chi phối bởi tư tưởng "đại hậu phương", nên công tác phá hoại, tiêu thổ kháng chiến ở phía sau căn cứ, từ thị trấn Chợ Mới đến thị xã Bắc Kạn, Phủ Thông, Đại Từ đi Tuyên Quang chưa hoàn thành, thậm chí có nơi chưa triển khai trước khi quân Pháp tấn công lên Việt Bắc.


Đi đôi với việc xây dựng căn cứ địa kháng chiến, việc giữ bí mật, bảo đảm an toàn các cơ quan của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh được Bộ Chỉ huy các chiến khu cũng như đồng bào các dân tộc Việt Bắc hết sức chú trọng. Ai cũng thấy đây là trọng trách rất nặng nề và vinh dự, là niềm tự hào được bảo vệ cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến. Tất cả các vùng rẻo cao, các cửa ngõ An toàn khu như các huyện Chợ Đồn, Chợ Rã, Bạch Thông (Bắc Kạn); Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương (Thái Nguyên); Sơn Dương, Chiêm Hóa (Tuyên Quang), việc giữ gìn bí mật đều xây dựng thành quy chế chặt chẽ. Khẩu hiệu ba không: "không biết, không nghe, không nói" đã được các tầng lớp nhân dân, từ người già đến em nhỏ, thường xuyên nhắc nhở nhau tự giác thực hiện và đã trở thành nếp sống hàng ngày.


An toàn khu thực sự là khu an toàn, được bảo vệ chu đáo, trước hết nhờ lực lượng đông đảo là đồng bào các dân tộc. Không có việc gì xảy ra ở đây qua được tai mắt tinh tường của đồng bào.


An toàn khu, căn cứ địa Việt Bắc trở thành nơi che giấu và bảo vệ cơ quan lãnh đạo kháng chiến, nơi xây dựng và đứng chân của các lực lượng vũ trang, thành một trong những hậu phương quan trọng, thành chiến trường và bàn đạp xuất phát tiến công tiêu diệt địch.


Như vậy, trải qua hơn một năm vừa xây dựng, vừa chiến đấu dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, quân và dân Việt Bắc đã trưởng thành về mọi mặt, cùng Trung ương xây dựng ATK - hạt nhân căn cứ địa kháng chiến của cả nước. Truyền thống đoàn kết, đấu tranh bất khuất của các dân tộc Việt Bắc ngày càng được phát huy. Các lực lượng vũ trang tuy trang bị còn thô sơ, thiếu thốn, kinh nghiệm tác chiến còn ít nhưng đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, cùng quân và dân cả nước giữ vững độc lập, chủ quyền trong chặng đầu của cuộc kháng chiến.


Việt Bắc đã và đang cố gắng xứng đáng với lời dạy và khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Việt Bắc trước kia là căn cứ của cách mệnh, đã nổi tiếng khắp cả nước, khắp thế giới. Thì ngày nay, Việt Bắc phải trở thành căn cứ của kháng chiến, để giữ lấy cái địa vị và cái danh giá vẻ vang của mình. Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2021, 06:34:40 pm »

ÂM MƯU, KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC CỦA
THỰC DÂN PHÁP TRONG NĂM 1947


Đại tá, TS. TRẦN VĂN THỨC
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Giữa tháng 1-1947, khi một lực lượng lớn quân viễn chinh Pháp đang bị vây hãm trong các đô thị Việt Nam ở phía bắc vĩ tuyến 16, thì tại chính quốc, trên vũ đài chính trị nước Pháp có sự thay đổi lớn, Vanh-xăng Ô-ri-ôn (Vincent Auriol) trúng cử Tổng thống. Tiếp đó, một Chính phủ mới được thành lập, do Pôn Ra-ma-đi-ê (Paul Ramadier) làm Thủ tướng thay cho Chính phủ của Lê-ôn Bơ-lum (Léon Blum). Hệ quả của sự thay đổi đó là Cao ủy Pháp ở Đông Dương, Đác-giăng-li-ơ (D'Argenlieu) - vốn là một thủy sư đô đốc, người theo đuổi chính sách quân sự cứng rắn, bị triệu hồi về nước (3-1947), thay vào đó là Bô-la (Emile Bollaert), một nghị sĩ thuộc đảng Xã hội cấp tiến.


Chưa đầy hai tháng sau ngày nắm quyền, trong một bài diễn văn đọc trước Quốc hội (18-3-1947), Thủ tướng Pháp, Ra-ma-đi-ê cho rằng vấn đề Đông Dương không thể giải quyết được bằng biện pháp quân sự đơn thuần, mà cần phải có sự kết hợp với chính trị.


Thực hiện sứ mệnh của mình, sau khi sang Đông Dương, Bô-la chủ trương nối lại các cuộc thương lượng với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (DCCH). Một trong những việc làm đó là cử phái viên Pôn-muýt (Paul Mus) tiếp xúc với đại diện Chính phủ ta là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám, tại Thái Nguyên, vào giữa tháng 5-1947. Trong cuộc gặp gỡ đó, đại diện của Bô-la đưa ra yêu sách đòi ta giải giáp, trao cho chúng 50% tổng số vũ khí; để cho lực lượng viễn chinh Pháp đi lại tự do trên lãnh thổ Việt Nam, đồng thời trao cho chúng số tù binh bị bắt. Đó là những điều kiện mà ta không thể chấp nhận được, thực chất là đòi ta phải hạ vũ khí đầu hàng. Kế đó, ngày 15-5, trong bài diễn văn đọc tại Hà Nội, Bô-la khẳng định sự có mặt của Pháp tại Đông Dương và vị trí của Đông Dương trong Liên hiệp Pháp, phủ nhận sự lãnh đạo của một đảng "độc quyền đại diện cho cả dân tộc Việt Nam" (ám chỉ Đảng Cộng sản Đông Dương), đồng thời "đón nhận sự hợp tác với tất cả các đảng phái" - tức là sẵn sàng đàm phán với các lực lượng quốc gia khác ngoài Việt Minh.


Chủ trương thương lượng với Chính phủ Việt Nam DCCH xuất phát từ quan điểm thực dân của Pháp trở nên bế tắc, không có lối thoát, Bô-la quay sang "giải pháp Bảo Đại". Ngày 10-9, trong bài diễn văn đọc tại thị xã Hà Đông, Bô-la công khai tuyên bố lập trường thực dân của Pháp về vấn đề Việt Nam với hai điểm chính. Một là, không công nhận Việt Nam độc lập và thống nhất. Hai là, không công nhận Chính phủ Việt Nam DCCH, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu là đại diện chính thức của Việt Nam. Thay vào đó, Việt Nam sẽ được hưởng quy chế tự trị với một chính phủ thân Pháp và nằm trong Liên bang Đông Dương. Liên bang này do một viên thượng sứ người Pháp đứng đầu, mọi vấn đề an ninh quốc gia, kinh tế và ngoại giao của Liên bang thuộc quyền định đoạt của nước Pháp. Bô-la công khai chủ trương lập chính quyền bù nhìn thân Pháp, mà nhân vật quan trọng là cựu hoàng Bảo Đại - vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, vốn đã buộc phải thoái vị trong mùa Thu cách mạng 1945.


Theo cách nhìn nhận của phía Pháp, thì Bảo Đại có thể là "chất keo" để gắn các lực lượng quốc gia thành một khối phục vụ quyền lợi của nước Pháp. Bởi lẽ đó, bọn thực dân cầm quyền Pháp ở Đông Dương, một mặt, luôn giữ sợi dây liên hệ với Bảo Đại ở Hồng Kông, tiến hành đàm phán với Bảo Đại về cái gọi là "chủ quyền, độc lập" của Việt Nam, mặt khác, lập các tổ chức chính trị giả hiệu và ngụy quyền các cấp, xúc tiến thành lập chính phủ bù nhìn trung ương, đối lập với hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân của chính thể Việt Nam DCCH.


Cùng với giải pháp chính trị và nhằm hỗ trợ cho giải pháp đó, thực dân Pháp luôn chú trọng giải pháp quân sự. Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương, tướng Va-luy (Jean Etienre Valluy) - một tên thực dân luôn chủ trương gắn hoạt động quân sự với việc lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân - cho rằng, trước khi thương lượng, cần phải hạ Việt Minh, nếu không mọi hiệp định sẽ không đi đến đâu, việc nổi loạn lại tái diễn và chính nó sớm muộn cũng sẽ đuổi chúng ta ra khỏi Đông Dương một cách vĩnh viễn, hoàn toàn và nhục nhã. Tướng Va-luy đề ra mục tiêu nhằm cô lập Mặt trận Việt Minh, tiếp đó hủy bỏ nó. Trước hết phải tách khối quần chúng nhân dân Việt Nam khỏi cái đầu năng động của nó (Chính phủ Việt Nam DCCH). Muốn vậy, phải chứng minh chắc chắn ưu thế về vật chất cũng như ý chí chiến thắng của chúng ta (Pháp); làm cho người Việt Nam thấy cuộc xung đột Việt - Pháp là vô ích và không đủ sức đánh đuổi hoặc chiến thắng người Pháp; gây sự hoài nghi và mất niềm tin của quần chúng đối với Chính phủ Việt Nam DCCH. Tiếp đó, làm tan vỡ Chính phủ Việt Nam DCCH bằng một thất bại về quân sự chắc chắn và quyết định. Thất bại đó sẽ kéo theo sự tan rã của các xu hướng độc lập, sẽ thủ tiêu những kẻ cực đoan hoặc làm cho họ mất hết quần chúng. Va-luy đưa ra chủ trương, trong đó, về chính trị cần phải có một đường lốỉ chắc chắn và trước hết tuyên truyền ý chí của Pháp tuyệt đối muốn chiến thắng và không bỏ Đông Dương, cắt đứt quan hệ với Chính phủ Việt Nam DCCH; về phương diện quân sự, số quân cần thiết cho Đông Dương tối thiểu phải là 115.000 quân; cơ bản bình định Nam Bộ trước mùa Thu 1947, sau đó, mục tiêu quan trọng, chủ yếu là vùng rừng núi Bắc Bộ - nơi cơ quan đầu não kháng chiến, quân đội chính quy và các kho tàng công xưởng đã sơ tán lên đấy.


Trong cuộc họp Hội đồng phòng thủ Đông Dương ngày 25-4, Va-luy đề ra những điều kiện mà ông ta xét thấy cần thiết để ngăn chặn Việt Nam DCCH khôi phục và phát triển lực lượng. Đó là trong thời hạn tối đa 15 ngày, Việt Nam DCCH phải nộp cho Pháp một phần quan trọng phương tiện chiến tranh; phải lập tức chấm dứt mọi hành động chiến tranh, khủng bố và tuyên truyền; phải trả tự do ngay cho các con tin và tù binh Pháp; phải giao nộp cho phía Pháp những người đào ngũ thuộc quân đội Pháp và cả số người Nhật đang ở trong hàng ngũ Việt Minh; quân đội Pháp được tự do di chuyển trên lãnh thổ Việt Nam. Những điều kiện này, tương tự như Pôn-muýt, đại diện của Bô-la, đưa ra trong tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám, tại Thái Nguyên (5-1947). Đó thực chất là yêu sách buộc ta phải hạ vũ khí đầu hàng.


Về quân sự, nàm 1947, Va-luy chủ trương gấp rút bình định, tiêu diệt lực lượng kháng chiến, giải quyết căn bản chiến tranh ở Nam Bộ trước mùa mưa, sau đó tăng cường lực lượng cho chiến trường Bắc Bộ, mở cuộc tiến công quân sự lớn vào vùng thượng du Bắc Bộ.


Để bình định Nam Bộ, Va-luy dành cho Nam Đông Dương một nửa số viện binh, đưa số quân Pháp ở chiến trường này lên đến 38.000, bằng 40% lực lượng quân Pháp ở Đông Dương. Từ tháng 2-1947, tướng Ny-Ô (Nyo), chỉ huy quân Pháp ở Nam Bộ, tiến hành hợp nhất 6 khu ở Nam Kỳ thành 3 miền để bình định. Ngày 17-2, Cao ủy lập ủy ban bình định Nam Kỳ. Quá trình thực hiện chương trình bình định Nam Bộ, quân Pháp vấp phải mâu thuẫn giữa tập trung lực lượng để càn quét và phân tán lực lượng để chiếm giữ đất đai, cùng với lực lượng hạn chế (khoảng 38.000 quân viễn chinh, 10.000 quân ngụy - vệ binh, thân binh) và quan trọng là phương thức hoạt động và cách đánh của lực lượng vũ trang và nhân dân ta rất linh hoạt, với nhiều hình thức, nên hiệu quả của chương trình bình định Nam Bộ thu được rất hạn chế.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #15 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2021, 06:36:27 pm »

Tuy thế, Va-luy vẫn quyết tâm đeo đuổi kế hoạch quân sự năm 1947 của ông ta. Va-luy cho rằng sở dĩ công cuộc bình định ở Nam Bộ thất bại là do đã sử dụng những biện pháp "bình định cổ truyền", không phù hợp với tình hình chính trị hiện tại ở Việt Nam. Theo Va-luy, hiện tại Việt Nam DCCH đã hình thành một khối "tập trung và theo hệ thống thứ bậc, với cơ cấu hình chóp và dựa vào một lý tưởng có tác động trong quần chúng"1 (Y-vơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông dương, Sđd,  tr. 182, 183). Nếu chỉ đánh vào cơ quan đầu não, tức là "tách cái đầu hình chóp ra khỏi đầu não"2 (Y-vơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông dương, Sđd,  tr. 182, 183) thì vẫn chưa thể giải quyết được vấn đề căn bản, "không thủ tiêu được lý tưởng"3 (Y-vơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông dương, Sđd,  tr. 182, 183). Và, muốn làm được như vậy, quân viễn chinh cần có thểm nhiều lực lượng, phương tiện quân sự hiện đại, điều mà nước Pháp không thể đáp ứng được. Do vậy, về chính trị, phải "lập nên một hình chóp khác, cũng tập trung, tổ chức theo thứ bậc và theo một lý tưởng để chống lại hình chóp của Việt Minh"4 (Y-vơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông dương, Sđd,  tr. 182, 183). Để hỗ trợ cho giải pháp chính trị nói trên, Va-luy thấy cần thiết phải mở cuộc tấn công quân sự lớn vào miền núi Bắc Bộ, nơi cơ quan đầu não kháng chiến, lực lượng vũ trang, các cơ quan đoàn thể, nhà máy, kho tàng, v.v... đã chuyển lên từ sau khi chiến tranh đã lan rộng trên phạm vi cả nước.


Trên cơ sở đó, Va-luy đệ trình Chính phủ Pháp kế hoạch tấn công quân sự trong Thu - Đông 1947. Theo đó, Pháp dự định bao vây toàn bộ vùng rừng núi Bắc Bộ bằng hai binh đoàn. Một binh đoàn xuất phát từ Lạng Sơn và một binh đoàn xuất phát từ Lào Cai. Hai binh đoàn này sẽ gặp nhau ở Hà Giang nhằm bịt kín toàn bộ biên giới Việt - Trung. Đó là một kế hoạch quân sự lớn, Va-luy dự kiến cần một khoảng thời gian 6 tháng và phải tập trung cho chiến trường Bắc Đông Dương một lực lượng chừng 50.000 quân mới bảo đảm thành công. Thế nhưng, trong quá trình nghiên cứu, kế hoạch đó bộc lộ nhiều khó khần, khó có thể khắc phục được.


Trên thực tế, vào thời điểm mùa Hè 1947, phía Pháp chỉ có thể huy động một lực lượng khoảng 32.000 quân cho chiến trường Bắc Đông Dương, khôi quân cơ động cũng chỉ có thể tập trung được khoảng 12.000 quân thay vì 20.000 quân theo dự kiên. Vì thế, kế hoạch tấn công của Pháp trong Thu - Đông 1947 buộc phải điều chỉnh. Phạm vi tấn công bao vây toàn bộ vùng núi Bắc Bộ được thu hẹp lại trong khu vực căn cứ địa Việt Bắc. Kế hoạch cụ thể của cuộc tiến công này được giao cho tướng Xa-lăng (Salan), Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Đông Dương, soạn thảo, được Va-luy đưa về Pháp thông qua Hội đồng phòng thủ Đông Dương (9-6-1947) và được Chính phủ Pháp phê chuẩn (7-1947).


Theo kế hoạch đó, địa bàn của cuộc tấn công bao gồm các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng và Lạng Sơn là căn cứ địa kháng chiến, nơi tập trung cơ quan lãnh đạo kháng chiến, các cơ quan, kho tàng, lực lượng chủ lực của ta. Đây là các tỉnh thuộc miền núi, trung du, địa hình hiểm trở, núi rừng trùng điệp, giao thông không thuận tiện, đường thủy và đường bộ đều ít và độc đạo. Về đường bộ, có đường số 4 chạy dọc theo biên giới Việt - Trung từ Móng Cái đến Cao Bằng; Đường số 2, Hà Nội - Việt Trì - Tuyên Quang - Hà Giang; Đường số 3, Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng, về đường thủy, theo sông Hồng từ Hà Nội đến Việt Trì, rẽ vào sông Lô qua Tuyên Quang, theo sông Gâm lên Chiêm Hoá.


Kế hoạch tiến công theo dự kiến là 2 bước, do tướng Xa-lăng trực tiếp chỉ huy. Đây là cuộc hành quân hỗn hợp của các binh chủng thủy, lục, không quân. Bước thứ nhất, mang mật danh Lê-a (thường vẫn được gọi là cuộc hành quân Lê-a), tên một đèo cao 1.362m trên Đường số 3 giữa Nguyên Bình và Bắc Kạn. Theo đó, quân dù thiện chiến sê đổ bộ xuống Bắc Kạn, Chợ Mới, Chợ Đồn, thực hiện càn quét vùng xung quanh các địa điểm trên. Toàn bộ quân dù sẽ hội quân tại một địa điểm cách Bắc Kạn 20km, đường Bắc Kạn - Chợ Đồn. Đồng thời với việc cho quân dù nhảy xuống Bắc Kạn, hình thành hai mũi như hai gọng kìm từ hai hướng Đông và Tây, tiến hành bao vây chặt vùng căn cứ địa Việt Bắc, bao gồm 5 tỉnh là Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Thái Nguyên, ở hướng Đông, từ Lạng Sơn, lực lượng "binh đoàn B" gồm cơ giới và bộ binh theo Đường số 4 lên Cao Bằng. Lực lượng này có nhiệm vụ vừa hành quân càn quét vừa triển khai chiếm đóng một số điểm dọc theo Đường số 4, nhằm phong toả biên giới Việt - Trung trên quãng đường đó. Sau khi tới Cao Bằng, một bộ phận của "binh đoàn B" sẽ xuống Bắc Kạn phối hợp và hỗ trợ cho lực lượng dù đã được ném xuống khu vực này trước đó. Hướng này sẽ tạo thành một gọng kìm dài hơn 420km kẹp toàn bộ phía Đông của Việt Bắc. Hướng Tây, từ Hà Nội, lực lượng "binh đoàn C" gồm quân thủy theo sông Hồng, sông Lô, sông Gâm qua Việt Trì lên Tuyên Quang, tới Chiêm Hoá, tạo thành gọng kìm dài 250km. Theo dự kiến, khoảng một tuần sau ngày mở đầu cuộc tấn công, hai gọng kìm sẽ kẹp lại, hội quân tại Đài Thị (Đông Bắc Chiêm Hóa 12km).


Bước hai, mang mật danh Clo-clo, trọng điểm đánh phá càn quét là vùng Chợ Chu. Lực lượng địch theo các hướng từ Bắc Kạn xuống, từ Chợ Mới sang, phối hợp cùng quân dù nhảy xuống Chợ Chu. Một đơn vị dù khác nhảy xuống phía Nam huyện Định Hóa nhằm chặn đường Chợ Chu - Thái Nguyên. Sau đó, tuỳ tình hình mà tiến hành càn quét, lùng sục vùng khu tam giác Bắc Kạn - Chợ Chu - Chợ Mới.


Không gian tổng thể của cuộc tiến công trải rộng trên một địa bàn các tỉnh vùng núi Việt Bắc, nhưng trọng tâm tập trung chủ yếu là khu tứ giác Tuyên Quang - Đài Thị - Bắc Kạn - Thái Nguyên (khoảng 360km2), trong đó trọng điểm chính là vùng tam giác Bắc Kạn - Chợ Chu - Chợ Mới. Về thời gian của cuộc tiến công, dự kiến kéo dài trong khoảng 3 tháng.


Chủ trương của Pháp trong kế hoạch quân sự Thu - Đông 1947 là sử dụng sức mạnh tổng hợp, hiệp đồng thủy - lục - không quân, táo bạo đánh sâu vào vùng căn cứ địa Việt Bắc, gây yếu tố bất ngờ, tiến hành càn quét từng khu vực, lấn chiếm dần để dồn vây ta hòng thực hiện các mục tiêu mà kế hoạch đã đề ra.


Sau khi kế hoạch tiến công Việt Bắc được thông qua, Va-luy chủ trương tiến hành hàng loạt các hoạt động quân sự trên toàn bộ chiến trường Việt Nam. Ở miền Bắc, chúng mở nhiều cuộc hành quân nhỏ ra vùng ven đô thị vừa để mở rộng phạm vi hoạt động, củng cố thêm cho các đô thị và các địa bàn trọng yếu, vừa có tính chất thăm dò lực lượng ta.


Mối quan tâm lớn của Bộ chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương là vấn đề điều động, tập trung lực lượng cho kế hoạch Thu - Đông. Mặc dầu đã có nhiều cố gắng, nhưng trong Hè - Thu 1947, cũng chỉ có thểm một số tiểu đoàn Âu - Phi trong lực lượng tăng viện từ Pháp sang đổ bộ lên Hải Phòng cùng một tiểu đoàn cơ động An-giê-ri, một tiểu đoàn cơ động thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 1 và 1 tiểu đoàn gồm 5 đại đội được điều từ Nam Bộ ra.


Đến tháng 9-1947, toàn bộ lực lượng quân Pháp trên chiến trường Bắc Đông Dương lên tới hơn 20 tiểu đoàn, bao gồm cả lực lượng chiếm đóng và cơ động, được bố trí trên các địa bàn chiến lược quan trọng. Trung đoàn 21 bộ binh thuộc địa (21è RIC gồm 2 tiểu đoàn) đóng ở Hải Phòng và đồng bằng ven biển. Trung đoàn 6 bộ binh thuộc địa (6è RIC) đóng ở Hà Nội, Nam Định. Trung đoàn 3 bộ binh lê-dương (3è REI) đóng trên trục giao thông chính đồng bằng Bắc Bộ. Bán lữ đoàn dù cơ động (3 tiểu đoàn) do trung tá Xô-va-nhắc (Sauvagnac) chỉ huy. Bán lữ đoàn Ma Rốc (2 tiểu đoàn) nòng cốt lấy từ trung đoàn 5 Ma Rốc (5è RICM). Lực lượng cơ động chiến lược do trung tá Bô-phơ-rê (Bauíré) chỉ huy. 13 chi đoàn cơ giới và 1 chi đoàn xe tăng. Một trung đoàn pháo binh thuộc địa Ma Rốc (RACM) gồm 7 pháo đội 105mm và hai trung đội 155mm. Một tiểu đoàn pháo độc lập chuyển từ Trung đoàn pháo binh thuộc địa Ma Rốc (RACM). Hai phi đội gồm 40 máy bay ném bom, trinh sát, vận tải. Một thủy đội với 40 tàu vận tải, ca nô, tàu đổ bộ các loại và một số đơn vị lính thủy đánh bộ. Ngoài ra còn có tiểu đoàn ngụy Thái ở Tây Bắc, 2 tiểu đoàn biệt kích ngụy Lào đóng ở Sầm Nưa. Phần lớn các lực lượng nói trên nằm trong thành phần chuẩn bị tấn công lên Việt Bắc.


Kế hoạch tiến công này được giữ bí mật hoàn toàn cho tới trước ngày, giờ chúng nhảy dù xuống quanh thị xã Bắc Kạn (7-10-1947).


Tóm lại, âm mưu, kế hoạch chiến lược của Pháp trong năm 1947 là kết hợp biện pháp chính trị với tiến công quân sự, mà mấu chốt là thực hiện cuộc tiến công chiến lược vào căn cứ địa Việt Bắc, phá tan cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bộ đội chủ lực ta, giành thắng lợi quân sự có tính quyết định, tiến tới thiết lập chính quyền bù nhìn trung ương, nhanh chóng kết thúc chiến tranh, lập lại ách thống trị thực dân lên toàn bộ đất nước ta.


Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cuộc tiến công chiến lược lên căn cứ địa Việt Bắc "là cuộc tiến công mang nhiều tham vọng nhất của Pháp trong suốt quá trình chiến tranh xâm lược Đông Dương, ngoài kế hoạch Na-va sau này, nhằm kết thúc chiến tranh trong danh dự"1 (Võ Nguyên Giáp, Chiến thắng Việt Bắc đã đánh bại chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của đế quốc Pháp, Bắc Kạn với chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, Tỉnh ủy Bắc Kạn - Bộ Tư lệnh Quân khu I xuất bản, 1997, tr. 6-7).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2021, 06:39:19 pm »

CHỦ TRƯƠNG VÀ KẾ HOẠCH QUÂN SỰ CỦA TA TRONG HÈ - THU 1947
CHUẨN BỊ ĐỐl PHÓ CUỘC TIẾN CÔNG THU - ĐÔNG CỦA ĐỊCH


Đại tá, TS. VŨ TANG BỒNG
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Kỹ thuật quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam



Sau ngày quân dân cả nước ta anh dũng đứng lên mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1947, thực dân Pháp tập trung lực lượng phản công và tiến công lớn trên khắp các mặt trận ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Nhưng chúng chẳng những không tiêu diệt được bộ đội ta, không lùng bắt được các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, không đè bẹp được phong trào kháng chiến của nhân dân ta mà còn bị thiệt hại nặng nề. Tuy chúng có giải vây được các thành phố, chiếm được một số thị trấn đã bị phá hoại và lập đồn bốt trên một số trục đường giao thông, nhưng ta vẫn làm chủ ở nông thôn và duy trì được các cơ sở kháng chiến trong các đô thị. Trong khi đó, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ ở Nam Bộ. Bằng các trận phục kích, tập kích nổi tiếng ở Cổ Cò (Sa Đéc), Tầm Vu (Hậu Giang), Giồng Dừa (Mỹ Tho), Mương Điều (Bạc Liêu)... quân và dân Nam Bộ đã thực hiện đúng chỉ thị của Trung ương Đảng "không để cho giặc Pháp đem hết của cải chiếm được ở Nam Bộ ra đánh Trung, Bắc"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 156).


Chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp tiếp tục bị phá sản. Từ tháng 5-1947, chúng phải tạm ngừng tiến công, chờ thêm viện binh từ chính quốc, ra sức tuyên mộ ngụy quân, ráo riết xúc tiến lập chính phủ bù nhìn tay sai, chờ đến Thu - Đông sẽ mở cuộc tiến công chiến lược "đánh thẳng vào tim quân thù", hòng giành thắng lợi quyết định.


Trước âm mưu, thủ đoạn mới của địch, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy đã lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân ta đã chuẩn bị đối phó ra sao để tiếp tục đưa sự nghiệp kháng chiến tiến lên?


Cuối tháng 4-1947, tại Việt Bắc, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì. Hội nghị nhận định "hơn 4 tháng kháng chiến toàn quốc đã chứng tỏ rõ địch không thể dùng võ khí tối tân mà tiêu diệt quân chủ lực của ta. Chúng phải đổi một giá rất đắt mới chiếm được một ít thành phố. Còn quân ta thì có tiến bộ về cách đánh du kích vận động. Chiến tranh sẽ quyết liệt hơn, nhưng ta rất có thể đánh lâu và bồi bổ thêm thực lực để một ngày kia phản công"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 176, 180).


Hội nghị chỉ rõ "Việt Nam không thể có căn cứ địa rộng rãi và vững chắc như Tàu. Những căn cứ địa ở Việt Nam đều có thể bị địch đánh xuyên mũi dùi vào hoặc bao vây. Nhưng Việt Nam đã có một mặt trận đoàn kết toàn dân, nhân dân đã được hưởng chế độ dân chủ rộng rãi và liều chết giữ vững chế độ ấy. Tình hình Pháp lại đặc biệt nguy khốn và nước Pháp xa nước Việt Nam hàng vạn cây số, nên Việt Nam vẫn có thể kháng chiến và nắm chắc thắng lợi bằng cách mở mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay cả ở sau lưng địch, trong ruột địch và tổ chức căn cứ địa không những ở rừng núi mà ở cả đồng bằng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-151).


Hội nghị đề ra những chủ trương và chính sách về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa nhằm thực hiện "toàn dân đoàn kết, kháng chiến lâu dài... vừa kháng chiến vừa kiến quốc, và lập nền kinh tế tự túc... vừa kháng chiến vừa dựng nên một nến văn hóa mới".


Về quân sự, Hội nghị chủ trương: "Phát triển du kích chiến ngay trong vùng địch kiểm soát và ngay trong những thành phố lớn mà địch tạm thời làm chủ, vừa tiêu hao, vừa tiêu diệt địch. Đồng thời bồi bổ những thiếu sót về vũ khí (kể cả vũ khí tối tân lẫn hạng nặng) về bộ đội và cán bộ để chuẩn bị tổng phản công"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-151).


Để thực hiện chủ trương trên, Hội nghị đề ra 6 nhiệm vụ cần kíp trước mắt là: "... Nắm vững và rèn luyện bộ đội... làm cho bộ đội ta xứng đáng là bộ đội cách mạng của nhân dân; cương quyết chuyển sang du kích, vận động chiến, giành quyền chủ động về chiến thuật; cấp tiến xúc tiến việc tổ chức huấn luyện vũ trang và lãnh đạo dân quân; tổ chức căn cứ địa ở miền rừng núi, ở đồng bằng; chế tạo các võ khí phá xe tăng, chặn ca nô (Ba-dô-ca, mìn, địa lôi) và vũ khí thô sơ; thực hành việc bộ đội tăng gia sản xuất"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-151).


Hội nghị quyết định "hóa một phần bộ đội thành dân quân"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-151) để phát động chiến tranh du kích.


Đánh giá cao kinh nghiệm kháng chiến của quân và dân ta ở Nam Bộ cùng những hình thức tổ chức chiến đấu sáng tạo mới xuất hiện như "làng kháng chiến" ở Bắc Ninh, Kiến An, "quyết tử quân" ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Hội nghị nhắc nhở cán bộ phải tích cực "trao đổi kinh nghiệm và cố gắng học tập để làm tròn nhiệm vụ của mình"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-151).


Với thực tiễn nóng hổi của 4 tháng đầu kháng chiến toàn quốc, Hội nghị cán bộ Trung ương một lần nữa khẳng định: "Kháng chiến nhất định thắng lợi"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-151). Nghị quyết Hội nghị làm phong phú thêm đường lối kháng chiến của Đảng ta và được quân dân cả nước ra sức thực hiện.


Theo phương châm vừa kháng chiến vừa kiến quốc, các vùng nông thôn rừng núi và đồng bằng trên cả nước đều được gấp rút tổ chức thành hậu phương kháng chiến.


Chính quyền và đoàn thể các cấp từ Bắc chí Nam được kiện toàn, củng cố. Việc tăng gia sản xuất được đẩy mạnh. Chợ búa được mở thêm. Đê điều được bồi đắp. Công tác văn hóa, giáo dục được triển khai rộng khắp. Đồng bào tản cư nhanh chóng ổn định nơi ăn ở. Hàng loạt "thị trấn kháng chiến” mọc lên ở vùng tự do và căn cứ kháng chiến.


Tiền Tài chính lưu hành rộng rãi, góp phần bảo đảm việc cung cấp tại chỗ cho bộ đội, công xưởng, trường học, cơ quan.


Đảng bộ, chính quyền các khu và các tỉnh, huyện tập trung xây dựng những căn cứ địa của từng cấp, từng địa phương.

Việc sản xuất vũ khí được toàn Đảng, toàn dân dốc sức chăm lo.

Đến mùa Hè năm 1947, toàn quốc đã xây dựng được gần 200 công binh xưởng. Nhiều xưởng có từ 200 đến 500 công nhân. Ngoài ra còn có nhiều tổ, nhiều xưởng nhỏ sửa chữa vũ khí có từ vài người đến vài chục người, do chính quyền kháng chiến và đoàn thể quần chúng ở các huyện, xã tự thành lập. Giáo, mác, súng kíp, mìn, lựu đạn được sản xuất hàng loạt. Đạn nhồi lại được cung cấp cho các mặt trận. Súng hỏng hóc được sửa chữa. Súng Ba-dô-ca, súng cối các cỡ, súng không giật, mìn lõm, bom phóng... được nghiên cứu và sản xuất ở nhiêu xưởng quân giới"1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập I, In lần thứ tư, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 221).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2021, 06:41:08 pm »

Thực hiện Sắc lệnh số 91 của Chính phủ về việc đổi tên Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia thành Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ, các ban chỉ huy tỉnh đội, xã đội dân quân thuộc Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp được thành lập. Ngày 27-5-1947, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy quyết định triệu tập Hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ nhất nhằm thống nhất việc tổ chức dân quân tự vệ và du kích trên cả nước.


Từ chỗ là những tổ chức vũ trang quần chúng do Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc xây dựng, dân quân tự vệ và du kích trở thành một bộ phận trong các lực lượng vũ trang của Nhà nước do cơ quan quân sự địa phương chỉ huy, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp. Đây là bước phát triển mới của các lực lượng vũ trang nhân dân ta, đặc biệt là đã kịp thời đáp ứng, kịp thời thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ mà Đảng ta đã sáng suốt đề ra ngay từ trước và trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc.


Trong thư gửi Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ nhiệm vụ và vị trí, vai trò chiến lược của dân quân tự vệ trong cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện và trường kỳ.

Người khắng định: "Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó thì địch nào cũng phải tan rã"1 (Hồ Chí Minh, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1970, tr. 174).


Đến Hè năm 1947, đã có hàng chục vạn nam, nữ, thanh niên, trung niên, phụ lão, thiếu niên thuộc các dân tộc ở Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ gia nhập dân quân du kích. Hàng ngàn làng kháng chiến được xây dựng. Hầu hết các thôn xã, làng bản đêu có các tiếu đội, trung đội, đại đội dân quân du kích.


Cùng với các công việc to lớn nói trên, ngày 12-6-1947, Bộ Tổng chỉ huy triệu tập Hội nghị quân sự lần thứ ba nhằm đề ra kế hoạch hoạt động để "phá sự chuẩn bị tiến công mùa Đông của địch", đồng thời gấp rút chuẩn bị, chấn chỉnh bộ đội, củng cố căn cứ địa, tích cực chuẩn bị tác chiến trong Thu - Đông.


Hội nghị nghiên cứu đặc điểm, thủ đoạn đánh phá của địch, bước đầu đúc rút kinh nghiệm tác chiến của quân và dân ta để huấn luyện cho bộ đội, dân quân du kích.


Căn cứ vào đường lối kháng chiến của Đảng và thực tiễn kháng chiến của quân và dân ta, Hội nghị quân sự lần thứ ba đã thống nhất xác định 11 nguyên tắc tác chiến chính của quân và dân ta. Đó là: Một: Giữ vững chủ động; Hai: Hiểu rõ lực lượng của ta và lực lượng của địch; Ba: Biết dùng lực lượng dự bị; Bốn: Biết tập trung binh lực khi cần, biết điều động rất nhanh chóng và kịp thời; Năm: Phải giấu lực lượng của mình, làm sai lạc phán đoán của địch; Sáu: Phải đánh bất thần, xuất kỳ bất ý, lợi dụng những nhược điểm của địch; Bảy: Phải thực hiện sự phối hợp về chiến lược và chiến thuật; Tám: Phải phối hợp bộ đội chủ lực với dân quân, du kích, tự vệ; Chín: Phải nặng về tiêu diệt chiến; Mười: Phải có kế hoạch thiết thực rành mạch; Mười một: Phải tiến cho kịp địch và hơn địch1 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 449, 450).


Tiếp theo đó, từ ngày 27 đến ngày 29-9-1947, Bộ Tổng chỉ huy lại triệu tập Hội nghị quân sự lần thứ tư nhằm phán đoán ý đồ tiến công của địch trong Thu - Đông sắp đến và bàn kế hoạch thống nhất cách đánh nhằm làm thất bại âm mưu "đánh nhanh thắng nhanh" của chúng. Hội nghị thống nhất nhận định: cuộc tiến công của địch trong Thu - Đông này nhằm bắt cơ quan đầu não kháng chiến, đánh quỵ chủ lực ta, phá các căn cứ của ta để tạo điều kiện cho việc thành lập một chính quyền tay sai, sau đó sẽ biến dần cuộc chiến tranh xâm lược thành một cuộc chiến tranh dũng người Việt đánh người Việt. Như vậy, Bắc Bộ sẽ trở thành chiến trường chính. Ở Trung Bộ, địch có thể chia cắt chiến trường thành nhiều khu vực nhỏ rồi tổ chức càn quét. Ở Nam Bộ, địch sẽ mở những cuộc càn quét lớn2 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 449, 450).


Về hướng tiến công chính của địch trong Thu - Đông, sau khi thảo luận, đa số các đại biểu tham dự hội nghị cho rằng địch có thể đánh đồng bằng Bắc Bộ hoặc Trung Bộ, nếu mạo hiểm chúng mới đánh lên Việt Bắc vì chiến trường Việt Bắc toàn là rừng núi, địch khó triển khai và phát huy ưu thế về binh khí kỹ thuật, lại là nơi ta tập trung chủ lực. Tuy nhiên, ở cả ba hướng trên, quân và dân ta phải tích cực chuẩn bị đối phó.


Khi bàn cách đối phó với cuộc tiến công mới của địch, Hội nghị cho rằng, với so sánh lực lượng hiện tại, ta không thể tiếp nhận một trận đánh quyết định với chủ lực địch mà cần làm thất bại âm mưu của địch tiêu diệt chủ lực ta. Do đó, Hội nghị chủ trương kiên quyết nắm vững bộ đội, giữ gìn chủ lực đi đôi với tiêu diệt từng bộ phận quân địch, bảo vệ căn cứ nhưng không cố thủ, thực hiện phối hợp chiến đấu giữa các khu và trên toàn quốc, phá tan âm mưu lập ngụy quyền của địch1 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 451, 462).


Về cách đánh, Hội nghị chủ trương: "Cách đánh của ta là du kích và vận động chiến. Kiên quyết phát động du kích chiến... Dùng đơn vị đại đội để hoạt động trên chiến trường của mỗi địa phương... kiên quyết tập trung từng tiểu đoàn cơ động đánh vận động chiến... Tránh phòng ngự chính diện, bộ đội phải ở lại sau lưng địch, Hóa chỉnh vi linh, Hóa linh vi chỉnh, Hóa trang lẫn vào dân khi cần..."2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam (Biên niên sự kiện), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 50).


Hội nghị nhấn mạnh: "Bao giờ cũng lấy việc bảo tồn chứ không phải việc giữ đất làm chủ... các cấp chỉ huy phải nắm vững bộ đội, độc lập tác chiến... mỗi đội viên Vệ quốc quân và dân quân du kích phải là một người cán bộ dân vận, một người cán bộ vũ trang tuyên truyền..."3 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 451, 462).


Hội nghị khẳng định: "Nếu chúng ta đối phó với cuộc tiến công mùa Đông của địch mà vẫn giữ được lực lượng là ta nắm phần thắng. Việc tiêu hao và tiêu diệt địch sẽ làm gia tăng phần thắng"4 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 451, 462).


Ngay sau Hội nghị quân sự lần thứ tư, căn cứ vào đường lối của Đảng, chủ trương của Thường vụ Trung ương Đảng, từ thực tiễn chiến đấu của các chiến trường, đặc biệt là các cuộc chiến đấu ở phía nam tỉnh Bắc Ninh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Tống Bí thư Trường Chinh nhất trí với đề xuất của đồng chí Võ Nguyên Giáp quyết định phân tán một bộ phận chủ lực thành các đại đội độc lập hoạt động ở vùng địch hậu để phát động chiến tranh du kích; bộ đội chủ lực của Bộ và Khu phần lớn tổ chức ở quy mô tiểu đoàn. Thực tế đã chứng minh hình thức tổ chức "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" là một chủ trương rất đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, phù hợp với giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến.


Trên đây là những chủ trương, kế hoạch tác chiến của quân và dân ta trong Hè - Thu 1947 chuẩn bị đối phó với cuộc tiến công Thu - Đông của địch. Những chủ trương, kế hoạch tác chiến đó có nội dung cốt lõi là đẩy mạnh chiến tranh du kích, triệt để áp dụng chiến thuật du kích, triệt để phát huy sức mạnh của toàn dân trong cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện để đánh thắng kẻ thù. Những chủ trương, kế hoạch tác chiến cụ thể và sáng tạo đó khẳng định sự chủ động về chiến lược của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy và là nhân tố quyết định làm nên thắng lợi của chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2021, 06:43:03 pm »

SỰ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


PGS, TS. NGUYỄN ĐĂNG THÀNH
Phó Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,
kiêm Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng


Cuộc phản công chiến lược Việt Bắc Thu - Đông 1947 của quân và dân ta đã đánh bại âm mưu và hành động phiêu lưu quân sự của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam ngay trong năm đầu toàn quốc kháng chiến. Đây là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng tạo bước ngoặt và mở ra một cục diện mới trong cuộc kháng chiến của quân và dân ta. Đó là thắng lợi của lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của toàn dân tộc Việt Nam, là thành quả điển hình của đường lối chiến tranh toàn dân, toàn diện, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là thắng lợi của trí tuệ, của bản lĩnh, của lòng quyết tâm đấu tranh vì hòa bình, độc lập của nhân dân Việt Nam, trong đó, trước hết là Bộ Tham mưu ưu tú của toàn thể dân tộc - Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Sáu mươi năm đã trôi qua, với độ lùi lịch sử, chúng ta càng thấy rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, sáng suốt, sát sao, kịp thời của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947. Có thể khái quát trên một số điểm sau đây:

1. Với tầm nhìn chiến lược, Trung ương Đắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm tiên liệu trước âm mưu chiến lược của kẻ thù và những thách thức đối với cách mạng Việt Nam, tích cực chuẩn bị về mọi mặt, giành thế chủ động trong cuộc kháng chiến

Khi cuộc chiến lan rộng ra toàn quốc, Thường vụ Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức nhiều hội nghị, nhiều phiên họp quan trọng đề ra những chủ trương, những quyết sách triển khai sâu rộng thế trận chiến tranh nhân dân trên cả nước1 (Hội nghị Quân ủy Trung ương mở rộng (2-1947), Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ hai (3 đến 6-4-1947), Hội nghị dân quân du kích (24-5-1947), Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 3 (12 đến 15-6-1947), Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng (16, 17-6-1947), Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4 (27 đến 29-9-1947), các phiên họp của Hội đồng quân sự toàn quốc lần thứ 4 (27 đến 29-9-1947), các phiên họp của Hội đồng Chính phủ (19-4, 30-4, 15-5, 2-6, 17-6,  5, 6-7, 26-7, 17-8, 12-9-1947...). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều chỉ thị, lời kêu gọi, viết nhiều bài báo chỉ đạo và động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm đưa cuộc kháng chiến kiến quốc đi đến thắng lợi. Trên cơ sở phân tích những biến động của tình hình thế giới, phân tích tình hình nước Pháp, tình hình Đông Dương, nhất là tình hình trong nước, làm sáng rõ hơn đường lối kháng chiến "toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh", Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng chỉ huy đã định rõ những phương pháp tổ chức, giáo dục, động viên toàn quân, toàn dân giữ vững quyết tâm và niềm tin vào cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi; phân tích sâu sắc hình thái của cuộc chiến tranh, đặc biệt chú ý phán đoán âm mưu chiến lược của địch trong thời gian sắp tới, nhằm chủ động chuẩn bị đối phó. Tháng 4-1947, Hội nghị cán bộ Trung ương đã họp bàn về nhiệm vụ xây dựng căn cứ địa và nhận định âm mưu tấn công lên căn cứ địa của địch. Hội nghị cảnh báo: những căn cứ địa ở Việt Nam đều có thể bị đánh xuyên mũi dùi hoặc bị bao vây.


Ngay trong mùa Hè 1947, Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 3 đã phán đoán mưu đồ chiến lược sắp tói của thực dân Pháp khi cho rằng chúng sẽ mở rộng phạm vi chiếm đóng trên những địa bàn chiến lược quan trọng còn do ta kiểm soát và chúng cũng có thể mưu đồ cuộc đại tiến công vào Việt Bắc nhằm tiêu diệt chủ lực của ta. Bởi vậy, trong khi đề ra nhiệm vụ chiến lược mùa Hè cho các lực lượng vũ trang một cách rất toàn diện (về cách đánh, các nguyên tắc tác chiến,...), Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ cụ thể về củng cố bộ đội chủ lực, củng cố cơ quan chỉ huy các cấp, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, củng cố căn cứ địa và nhiều biện pháp khác với tinh thần tích cực, chủ động khẩn trương, tạo thêm những yếu tố thuận lợi khi bước vào mùa khô.


Những cảnh báo về âm mưu chiến lược của thực dân Pháp tiếp tục được Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra trong bức thư gửi riêng cho đồng bào Việt Bắc (Khu 1), ngày 19-8-1947: "Hiện bây giờ Khu 1 chưa phải mặt trận chính. Nhưng đối với bọn thực dân hung ác, nay mai rất có thể Khu 1 trở nên mặt trận chính. Vì vậy chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 191); sự chuẩn bị đó tập trung vào xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng cán bộ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân...


Đặc biệt, ngày 12-9-1947, chỉ 2 ngày sau khi Cao ủy Pháp ở Đông Dương là Bô-la đọc bài diễn văn mà đằng sau "Luận điệu mơ hồ, danh từ bóng bẩy" là thái độ trịch thượng và lập trường ngoan cố của bọn thực dân phản động Pháp, khước từ thiện chí hòa bình, chà đạp lên khát vọng hòa bình độc lập, của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ tọa phiên họp của Hội đồng Chính phủ bàn về những công tác trước mắt trong đó có một nội dung quan trọng là bàn về kế hoạch đề phòng cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp. Tiếp đó, ngày 15-9-1947, Thường vụ Trung ương ra chỉ thị quan trọng: "Bô-la nói gì? Ta phải làm gì?". Chỉ thị vạch trần âm mưu của Pháp đối với nền độc lập của ta, đồng thời khẳng định "không dùng bạo lực mà đè bẹp ý chí xâm lược của thực dân Pháp thì không thể có độc lập và thống nhất thật sự"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, Tập 8, tr. 294, 300). Sau khi nêu lại lập trường kiên quyết kháng chiến giành độc lập thật sự của nhân dân ta, Thường vụ Trung ương yêu cầu phải động viên mọi lực lượng của dân tộc, "sửa soạn phá những cuộc tấn công sắp tới của địch". Chỉ thị nêu lên những nhiệm vụ cần kíp trên các mặt chính trị, tuyên truyền, cổ động, kinh tế tài chính... về quân sự, Chỉ thị kêu gọi nhân dân cả nước "tích cực chuẩn bị chiến dịch mùa Đông về mọi mặt (...) đặng đối phó với cuộc tiến công có thể lan rộng và ác liệt của quân đội Pháp sau mùa mưa (...). Chuẩn bị chống các cuộc quân thù đánh xuyên mũi dùi, đánh vòng thật rộng, hay nhảy dù, đổ bộ sau lưng ta"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, Tập 8, tr. 294, 300). Chỉ thị của Thường vụ Trung ương ngày 15-9-1947 có tầm quan trọng đặc biệt trong việc chuẩn bị cho cuộc đối đầu quy mô lớn giữa quân và dân ta với quân đội viễn chinh Pháp sắp diễn ra trong Thu - Đông 1947. Tổng Bí thư Trường Chinh đánh giá: "Bản chỉ thị lịch sử này đặt cơ sở cho chiến thắng của chiến dịch Việt Bắc, chuyển cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân ta sang giai đoạn mới".
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2021, 06:44:12 pm »

2. Vận dụng sáng tạo lý luận quân sự Mác - Lênin, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra quyết sách đúng đắn về phương hướng, nhiệm vụ và chiến lược quân sự phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Trước hết phải nói đến Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng; Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng Bí thư Trường Chinh. Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ mục đích chính trị của cuộc kháng chiến là giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới. Nhiệm vụ của cuộc kháng chiến được xác định là vừa kháng chiến chống thực dân phản động Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất Tổ quốc, vừa kiến quốc, xây dựng chế độ mới, chế độ dân chủ nhân dân. Lực lượng kháng chiến là toàn dân tộc, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi thước đất là một chiến hào. Phương châm của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo đó của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được sức mạnh của cả dân tộc vào cuộc kháng chiến với niềm tin: kháng chiến nhất định thắng lợi.


Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Bộ Tổng chỉ huy đã tổ chức các hội nghị quân sự để kiểm điểm tình hình, rút kinh nghiệm, nhận định âm mưu địch, xác định các nguyên tắc tác chiến và cách đánh của ta... Đặc biệt, khi thực dân Pháp đang rốt ráo chuẩn bị cuộc tấn công quy mô lớn vào căn cứ đầu não kháng chiến, thì Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4 (9-1947), đã trở lại những vấn đề đã được đặt ra trong Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 3, đó là dự kiến kế hoạch tấn công mùa khô của địch ở chiến trường Bắc Bộ. về chiến trường Việt Bắc, Hội nghị có những nhận định rất đáng chú ý: Chiến trường Việt Bắc là một chiến trường mới rất khó dự đoán..., nếu mạo hiểm, địch mới tấn công Việt Bắc trước. Nhưng dù tấn công từ hướng nào, thì mục đích của địch vẫn là diệt chủ lực của ta, phá tan căn cứ địa và cơ quan đầu não chỉ huy kháng chiến. Một phương hướng chiến lược quân sự mùa khô của ta đã được Hội nghị vạch ra: phải chủ động phá tan kế hoạch tấn công quân sự và âm mưu của địch, giữ gìn chủ lực, bảo vệ căn cứ. Biện pháp chiến lược được coi trọng là phát triển chiến tranh du kích, tùy theo tình huống và khả năng mà sáng tạo trong tập trung binh lực đánh vận động, coi trọng vũ trang tuyên truyền và củng cố cơ sở chính trị của quần chúng1 (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9/1997).


Giá trị chỉ đạo của Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4 đối với chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 là ở chỗ (mặc dù một số dự đoán chưa thật sát về thời điểm, hướng tiến công và địa điểm quân địch sẽ đổ bộ), đã đề ra những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trước mắt của lực lượng vũ trang, cả về tác chiến và xây dựng lực lượng kháng chiến, phương hướng hoạt động phù hợp trong điều kiện so sánh lực lượng ta - địch lúc đó cùng những biện pháp đúng đắn giải quyết mối quan hệ giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, giữa giữ gìn lực lượng và bảo vệ căn cứ địa... Hội nghị quân sự lần thứ 4 đã bàn sâu về hướng tấn công của địch trong Thu - Đông, về cách đối phó và đi đến kết luận: "Nếu chúng ta đối phó với cuộc tiến công mùa Đông mà giữ gìn được phần lớn lực lượng là ta nắm phần thắng"1 (Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1995, tr. 151).


Sự chỉ huy tài tình của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ đã kết hợp với sự nỗ lực vượt bậc, trí thông minh, sáng tạo, tinh thần chiến đấu dũng cảm, của các lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Việt Bắc. Đó là chủ trương phát huy cao độ tinh thần yêu nước của đồng bào các dân tộc, đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc: "Chúng ta, từ Chính phủ đến nhân dân, Nam đến Bắc, già đến trẻ, giàu đến nghèo, đều kiên quyết một lòng không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, không chịu chia rẽ... Lực lượng của 20 triệu người vì tự do, vì Tổ quốc, vì chính nghĩa mà kháng chiến là một lực lượng tất thắng"2 (Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1995, tr. 151).


Hưởng ứng lời kêu gọi ấy, dân quân du kích cùng đồng bào các dân tộc hăng hái tham gia bảo vệ và tiếp tục di chuyển máy móc, kho tàng, cơ quan, công xưởng về nơi an toàn để tiếp tục sản xuất. Nhân dân các làng bản nhanh chóng thu hoạch hoa màu, cất giấu của cải, đẩy mạnh việc phá hoại đường giao thông, ổn định hậu phương tại chỗ; chiến đấu, hỗ trợ chiến đấu và đảm bảo tốt công tác hậu cần để bộ đội ta đánh thắng giặc Pháp xâm lược.


Đó chính là động lực tinh thần quan trọng tạo nên sức mạnh đoàn kết và ý chí quyêt chiến quyết thắng, niềm tin vào thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bác và tạo nên nhiêu chiến công vang dội trên sông Lô, tại Đoan Hùng, đèo Bông Lau...


Khi thực dân Pháp mở cuộc hành quân lên Việt Bắc, ngày 15-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp. Đảng nhận định: "Địch càng dàn quân ra càng mỏng lực lượng. Chúng đem quân lên mạn ngược là một dịp cho ta để đánh chúng ở miền xuôi. Chúng đóng quân nơi xa càng dễ cho ta bao vây chúng và chặt đường tiếp tế, đánh chúng một cách rất có lợi trong khi chúng vận động"1 ().    Từ đó Đảng đề ra nhiệm vụ: "Đánh mạnh dưới đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ, khiến cho địch không thể đánh Việt Bắc"; giam chân, chặt đứt giao thông, liên lạc giữa các cứ điểm của địch, không cho chúng tiếp ứng và tiếp tế; củng cố căn cứ địa về mặt hành chính, dân vận, quân sự, kinh tế... quân sự hóa các cơ quan hành chính; củng cố bộ máy hành chính và kháng chiến ở vùng địch kiểm soát... Quán triệt Chỉ thị của Thường vụ Trung ương, quân và dân trên các chiến trường ở Bắc Bộ, Khu 5, Khu 6 và Nam Bộ đã tiến hành nhiều hoạt động chiến đấu phối hợp với Việt Bắc. Các cuộc tấn công của Bộ đội Tây tiến ở Sơn La, cuộc tổng phá tề ở ngoại thành Hà Nội, ở Nam phần Bắc Ninh, các cuộc tập kích ở Ninh Hòa, Cam Ranh... (Khu 5), các cuộc phục kích, tập kích ở Gia Định, vùng ven Sài Gòn, ở Biên Hòa, Mỹ Tho, Vinh Long, Cần Thơ... (Nam Bộ) đã chia lửa cùng Việt Bắc, buộc địch phải căng sức đối phó trên khắp các chiến trường.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM