Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Năm, 2021, 10:45:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt  (Đọc 2348 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2520



WWW
« Trả lời #70 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2021, 03:24:39 pm »

Hơn 2.000 bộ đội và dân quân du kích đã trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong trận sông Lô. Các lực lượng vũ trang non trẻ của ta lần đầu tiên dùng pháo đặt gần bắn thẳng và dùng đạn có ngòi nổ trên không tiêu diệt giặc trên boong tàu, trên mặt nước và mặt đất, gây cho giặc bao nỗi kinh hoàng.


Sau thất bại ở Khoan Bộ và nhất là ở Đoan Hùng, quân Pháp buộc phải bỏ Chiêm Hoá, về Tuyên Quang, tập kết lực lượng chuẩn bị rút chạy. Bộ Tư lệnh Khu 10 quyết định truy kích địch trên cả đường thủy và đường bộ. Để đánh địch trên sông Lô, Bộ Tư lệnh Khu 10 chủ trương xây dựng trận địa Khe Lau (ngã ba sông Lô), sông Gâm (Tuyên Quang). Do tình hình khẩn trương, bộ đội phải tháo pháo thành nhiều bộ phận và khiêng vác từ ngã ba sông Lô, sông Chảy (Đoan Hùng) lên Khe Lau. Dân quân du kích các xã thuộc huyện Đoan Hùng lại một lần nữa không quản gian lao, kề vai sát cánh cùng bộ đội chuyển pháo lên phía trước. Chính tại Khe Lau này, ngày 10-11-1947, đã diễn ra trận đánh thắng lợi, quân ta bắn chìm, bắn cháy 3 tàu chiến và tiêu diệt trên 200 tên địch. Thắng lợi đó làm nên "bể lửa Khe Lau", ghi thêm một dấu son vào trang sử vàng sáng ngời của lực lượng Pháo binh Việt Nam trẻ tuổi phối hợp rất nhịp nhàng với lực lượng bộ đội địa phương Phú Thọ.


Ngày 22-11-1947, quân Pháp lặng lẽ rút quân khỏi Tuyên Quang. Biết sông Lô giờ đã trở thành con đường nguy hiểm, nên cánh quân phía Tây của địch hết sức đề phòng. Cánh quân rút theo dòng sông Lô, dưới sông có tàu chiến, ca nô, trên bờ có bộ binh đi sục sạo đề phòng ta phục kích, trên trời có máy bay yểm trợ. Lực lượng thủy binh gồm 2 chiếc tàu chiến và 4 ca nô. Ngày 24-11-1947, đoàn tàu chiến của giặc xuôi đến Lã Hoàng, nơi một tháng trước đó chúng bị thảm bại. Một chiếc tàu chiến của giặc trúng thủy lôi của ta, bị xé làm đôi, chìm xuống đáy sông, mang theo gần trăm tên giặc, phần lớn là sĩ quan tham mưu và nhân viên kỹ thuật. Những chiếc còn lại vội vàng chạy thoát thân. Thế nhưng, về tới Phan Lương, lại một chiếc LCT bị bắn đắm và hơn một trung đội giặc bị tiêu diệt. Ngày 26 tháng 11 năm 1947, đoàn quân thủy của giặc về đến bến Cóc (xã Trị Quận) bị mắc kè. Quân giặc phải dừng lại 2 ngày. Bộ đội và du kích kịp thời phục kích, bắn đắm 2 ca nô.


Trong khi đó, toán quân bộ của địch đến địa bàn Phù Ninh, trúng địa lôi của ta, 50 tên và 18 con ngựa bị diệt. Bộ đội và dân quân du kích xã Đông Quan (Phú Nham, Tiên Du, Gia Thanh ngày nay) còn chặn đánh địch ở cống Tiên Du, Vũng Gáo, chùa Nghè, diệt 13 tên. Ban đêm, một trung đội của Tiểu đoàn 510, phối hợp với dân quân du kích Tiên Du, tập kích vào đội hình trú quân của giặc, tiêu diệt một số tên. Trên toàn tuyến, dọc hai bờ sông Lô và quốc lộ 2, pháo binh, bộ binh và dân quân du kích các xã đã bám sát địch, truy đuổi liên tục, đánh vào đội hình hành quân của chúng.


Để yểm trợ cho đoàn quân thất trận ở Tuyên Quang rút lui theo Đường sông Lô, ngày 22-11-1947, Pháp cho Trung đoàn Ma-rốc số 5 từ Hoà Bình tràn sang càn quét khu vực Hưng Hoá, Thu Cúc. Một tiểu đoàn từ Hưng Hóa vượt sông Hồng tại ngã ba sông Đà - sông Hồng sang Lâm Thao, càn quét và chiếm Việt Trì. Trên đường tiến quân lên Việt Bắc, theo sông Lô, cũng như cuộc hành quân đỡ đòn cho cánh quân phía Tây trước đó, lần này giặc Pháp lại gây bao tang tóc cho đồng bào ta. Chỉ tính riêng các huyện Lâm Thao, Hạc Trì, Phù Ninh và Đoan Hùng, 150 người dân bị giết và bị thương, 181 người bị bắt. Địch còn đốt phá 2.416 nóc nhà, 7 đình chùa, nhà thờ, cướp 72 con trâu bò và vô số lợn, gà. Khi giặc tấn công sông Lô, đồng bào huyện Phù Ninh phải tản cư, bỏ hoang 1.000 mẫu ngô không chăm bón và thu hoạch được. Địch ở Trung Hà (Sơn Tây) bắn súng cối tới tấp vào các làng xã vùng hạ huyện Lâm Thao, làm cho nhiều nhà bị cháy, vườn tược bị đạn chém nát. Dưới làn đạn địch, du kích các xã vẫn bình tĩnh bám sát các trạm gác, đánh kẻng báo động cho đồng bào tản cư, đồng thời tổ chức chiến đấu chặn các mũi tiến quân của địch vào làng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.


Ngày 24-11-1947, địch tiến vào xã Vĩnh Lại. Trung đội du kích xã chia làm hai tổ, bố trí dưới giao thông hào, nổ súng chặn địch. Do lực lượng địch đông gấp bội, hoả lực mạnh, nên sau ít phút chiến đấu, một tổ du kích bị đánh bật ra khỏi làng, tổ còn lại bị địch bao vây.


Tại huyện Hạc Trì, nơi diễn ra những trận giao tranh quyết liệt giữa ta và địch, đã xuất hiện những tấm gương ngời sáng về tinh thần anh dũng chiến đấu, hy sinh của quân và dân nơi đây. Trung đội nữ du kích Minh Hà (xã Chính Nghĩa) xung phong ra trận giật bom diệt địch. Đội lão du kích Minh Khai ra sát trận địa để phối hợp chiến đấu cùng bộ đội.


Ngày 19-12-1947, đúng một năm sau ngày toàn quốc kháng chiến, số quân địch còn lại ở Việt Trì phải rút hết về xuôi trong những ngày đông ảm đạm, chấm dứt cuộc tấn công Việt Bắc đầy tham vọng và thất bại nặng nề.


Hướng chính trên địa bàn Khu 10 đã thảm bại, hướng phối hợp, địch cũng bị thất bại nặng nề. Theo kế hoạch, để phối hợp với cuộc tấn công lên Việt Bắc, nhằm phân tán lực lượng ta ở Mặt trận Sông Lô, từ ba mặt Hoà Bình - Sơn La, Quang Huy (Nghĩa Lộ) - Thượng Bằng La (Yên Bái), giặc Pháp tiến công càn quét vùng Tây - Nam Phú Thọ.


Ngày 2-10-1947, giặc Pháp từ Quang Huy và Sơn La tiến ra càn quét huyện Thanh Sơn, chiếm Thu Cúc. Từ Thu Cúc, chúng mở rộng phạm vi càn quét ra cả huyện Thanh Sơn, Yên Lập và Cẩm Khê. Ngày 8-10-1947, quân Pháp từ Quang Huy, Thu Cúc, Thượng Bằng La tiến sang càn quét vùng Hiền Lương, Đan Thượng, Đan Hà (Hạ Hoà) hòng phối hợp với cánh quân bên kia sông Lô, buộc ta phải giãn lực lượng ra đối phó. Ngày 12-10, từ Hoà Bình, Sơn Tây, 300 quân Pháp đánh sang Tu Vũ, rồi càn quét vùng Thanh Thủy, Tam Nông. Trong các cuộc hành quân càn quét vùng tây nam Phú Thọ, địch đốt hơn 4.000 nóc nhà, phá 8 nhà thờ, 43 đình, chùa, giết 351 người, bắt 48 người và cướp bóc nhiều tài sản của nhân dân. Chúng bắt hàng nghìn đồng bào Mường (Thanh Sơn) và Thái (Sơn La) tản cư sang huyện Thanh Sơn, đem về xây dựng đồn bốt ở Thu Cúc và Tu Vũ. Chúng còn ra sức lôi kéo linh mục, dụ dỗ giáo dân đi lính và lợi dụng bọn hào lý để lập tề ở địa phương. Đối với những ai không cam tâm làm tay sai cho Pháp, chúng thẳng tay trừng trị. Không lôi kéo, dụ dỗ được giáo dân Hưng Hoá, ngày 15-10-1947, giặc Pháp chiếm đóng nhà thờ Hưng Hoá, đập phá nhà thờ, tàn sát nhân dân, hãm hiếp phụ nữ. Khi rút về Đồn Vàng, chúng đã bắt cả linh mục, thầy dòng và một số giáo dân đem theo. Sau vụ này, đồng bào Công giáo càng nhận rõ hơn bộ mặt của kẻ thù, thêm tin tưởng vào chính quyền kháng chiến. Giáo dân ở Hà Thạch (Lâm Thao) đã tổ chức mít tinh, phản đối hành động dã man của giặc Pháp và đòi phải trả lại tự do cho những người bị bắt.


Tại vùng tây nam Phú Thọ, nhân dân các xã phía nam các huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Cẩm Khê đề cao cảnh giác, khẩn trương chuẩn bị kháng chiến. Riêng các xã phía Tây các huyện Thanh Sơn, Thanh Thủy, Yên Lập, công tác chuẩn bị kháng chiến gặp nhiều khó khăn. Nơi đây, đất rộng, địa hình không thuận lợi cho phá hoại và tiêu thổ kháng chiến. Đây là vùng giáp giới với Hoà Bình, Sơn La, là những địa phương mà địch đã chiếm đóng. Nhân dân phần lớn là đồng bào Mường và một số đồng bào Thái (Sơn La) tản cư sang, trình độ giác ngộ chính trị không đồng đều. Lực lượng dân quân du kích và các cơ quan chính quyền, đoàn thể mới thành lập, đang trong thời kỳ xây dựng, thậm chí, một số nơi chưa có chi bộ Đảng. Trung đoàn 148 bộ đội chủ lực hoạt động ở Sơn La mới rút về Thanh Sơn, nhằm phối hợp chiến đấu với lực lượng vũ trang địa phương, nên còn thiếu kinh nghiệm vận động đồng bào dân tộc ít người. Thực tế này khiến những cuộc chống càn thời gian đầu của bộ đội gặp nhiều khó khăn. Các đại đội độc lập phối hợp với dân quân, du kích chỉ tổ chức đánh được 6 trận ở huyện Thanh Thủy và 5 trận ở huyện Yên Lập, tiêu hao một phần sinh lực địch. Còn vùng Thanh Sơn, sau vài trận chống càn yếu ớt ở Thạch Khoán, Đồn Vàng, Lai Đồng, Xuân Đài, Thu Cúc, 2 đại đội độc lập của Trung đoàn 148 phải rút lui về Giáp Lai, Thạch Khoán, bỏ trống vùng thượng huyện Thanh Sơn. Bọn phản động lợi dụng thời cơ nổi lên lập tề ở Thu Cúc, Lai Đồng, Khả Cửu, Đồn Vàng và Tu Vũ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2520



WWW
« Trả lời #71 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2021, 03:25:07 pm »

Từ thực tế chống càn ở vùng tây nam Phú Thọ, cho thấy chiến tranh du kích muốn phát triển và đạt hiệu quả chiến đấu cao, thì cán bộ, bộ đội phải bám đất, bám dân, dựa vào dân để giết giặc, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết lương giáo, cô lập và đi đến trừng trị những tên phản động tay sai. Trên cơ sở đó và căn cứ vào tình hình chiến sự vùng tây nam Phú Thọ, tỉnh điều động 3 trung đội bộ đội địa phương tăng cường cho mặt trận Tu Vũ và 2 trung đội cho mặt trận Thu Cúc. Cấp ủy, chính quyền và đoàn thể các huyện và xã vùng tây nam đã tổ chức cho nhân dân sơ tán vào rừng khi địch càn quét, địch rút lui lại trở về bám đất làm ăn. Khi địa phương bị địch chiếm đóng, cán bộ và bộ đội rút vào hoạt động bí mật, hóa trang thành những đội đặc biệt (như võ trang tuyên truyền, võ trang trừ gian) để bám dân, bảo vệ dân, tạo thêm điều kiện để nhân dân giữ vững tinh thần kháng chiến. Công an tỉnh tổ chức đội công an danh dự gồm 23 đồng chí vào đây làm nhiệm vụ diệt tề, trừ gian, giám sát, ngăn chặn hoạt động phá hoại của bọn phản động. Công an các xã Thu Ngạc, Võ Miếu, Tinh Nhuệ, Lai Đồng, Thu Cúc, Kiệt Sơn, Thạch Kiệt đã lập được danh sách 40 tên tề và do thám tay sai của giặc để phục vụ cho công tác phá tề, trừ gian và đưa người của ta vào hoạt động trong các ban tề.


Mặc dù gặp nhiều khó khăn, địch vẫn tăng cường càn quét, liên tục lùng sục gắt gao, nhưng quân và dân vùng tây nam Phú Thọ quyết không để cho địch rảnh tay, củng cố lại vị trí chiếm đóng và yểm trợ cho đồng bọn đang bị ta đánh ở Mặt trận Sông Lô. Từ ngày 20-11 đến ngày 23-12-1947, quân và dân các huyện tây nam Phú Thọ phối hợp với bộ đội chủ lực tích cực tổ chức các trận chống càn, liên tục bao vây, quấy rối vị trí trú quân và đóng quân của địch. Quân và dân ta đã tiêu diệt 100 tên ở Đồn Uốt (Ngọc Lập), làm tan rã 1 trung đội ngụy binh ở Tu Vũ, vận động được 60 lính dõng ở đồn Thu Cúc trở về với gia đình, buộc địch phải rút khỏi Đồn Vàng. Du kích dân tộc Mường xã Ngọc Lập (Yên Lập) dùng tên nỏ tẩm thuốc độc diệt 9 tên, khiến địch lo sợ, hoang mang. Trước hoạt động chống càn ngày càng mạnh của quân và dân vùng tây nam Phú Thọ, địch buộc phải co lại cố thủ ở hai vị trí Thu Cúc và Tu Vũ.


Tóm lại, trên cả hai Mặt trận Sông Lô và tây nam Phú Thọ, quân dân Phú Thọ đã chiến đấu và phối hợp chiến đấu chặt chẽ, góp phần bẻ gãy gọng kìm sông Lô, đánh bại cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp lên Việt Bắc, làm phá sản chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của chúng, bảo toàn được lực lượng và giữ vững hậu phương, đưa cuộc kháng chiến của dân tộc chuyển sang giai đoạn mới. Những hoạt động chiến đấu và phục vụ chiến đấu của nhân dân và lực lượng vũ trang Phú Thọ trong chiến dịch này, đã để lại những kinh nghiệm rất quý báu. Giáp mặt với quân xâm lược Pháp, quân dân các địa phương trong tỉnh không tránh khỏi bỡ ngỡ. Nhưng lòng yêu nước, chí căm thù giặc, sự vững tin vào kháng chiến của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể cứu quốc và sự trưởng thành của lực lượng vũ trang, là những nhân tố đảm bảo chiến thắng. Hình thái chiến tranh nhân dân địa phương ở nước ta được xác định rõ ràng. Hình thức tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân được cụ thể hóa thêm, vừa chiến đấu vừa luyện quân ngay trong chiến đấu để lập công, được coi là một quy luật xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang trong chiến tranh nhân dân. Đó là những nhân tố vô cùng quan trọng, đảm bảo cho phong trào kháng chiến trên quê hương Phú Thọ không ngừng phát triển, thu được nhiều thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954.


Sáu mươi năm đã trôi qua, những tên đất, tên làng như Chí Đám, Sóc Đăng, Phan Lương, Khoan Bộ - Đoan Hùng... mãi mãi đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc. Chiến thắng Sông Lô đã thể hiện truyền thống chiến đấu kiên cường, kinh nghiệm đoàn kết hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng vũ trang, nhân dân các dân tộc Khu 10 và tỉnh Phú Thọ.


Ngày nay, chiến thắng Sông Lô vẫn còn vang vọng, là niềm tự hào của lực lượng vũ trang Phú Thọ. Vinh dự là những người chiến sĩ cách mạng chiến đấu dưới lá cờ bách chiến bách thắng của Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, phát huy truyền thống "Trung thành - Anh dũng - Chiến thắng", lực lượng vũ trang Phú Thọ tiếp tục phát huy bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, thi đua lập nhiều thành tích mới trong các lĩnh vực công tác, mãi mãi xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc Đất Tổ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2520



WWW
« Trả lời #72 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2021, 03:26:33 pm »

CHIẾN THẮNG SÔNG LÔ - MỘT THẮNG LỢI QUAN TRỌNG TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Đại tá HÀ ĐỨC DỤC
Trưởng phòng KHCN và MT Quân khu 2


Trong cuộc tiến công của thực dân Pháp lên Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, sông Lô và đường số 2 được chúng xác định là một trong hai gọng kìm lớn để "siết chặt", "nghiền nát" trung tâm đầu não kháng chiến và chủ lực ta, hòng kết thúc chiến tranh một cách nhanh chóng.


Thực hiện sự chỉ đạo, chỉ huy của Trung ương Đảng và Tổng chỉ huy, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 10 đã xác định và xây dựng quyết tâm chiến đấu phá tan cuộc tiến công của Pháp, bẻ gãy "gọng kìm phía Tây" của chúng.


Cùng với các đơn vị chủ lực của Khu, thế trận toàn dân đánh giặc được xây dựng dọc sông Lô và đường số 2. Nơi nơi đều thực hiện "giương bẫy, giăng thành" với quyết tâm: địch đến bị đánh, địch lui bị chặn. Bằng thế trận đó, quân và dân Khu 10 đã ngoan cường, sáng tạo trong chiến đấu, cùng với cả Việt Bắc làm nên "mồ chôn giặc Pháp". Trong những chiến công còn vang vọng mãi, không thể không nhắc tới những trận đánh trên sông Lô lịch sử, như ước vọng "bao nhiêu dân Khu 10, mơ thành người sông Lô".


Để đối phó với cuộc tiến công của địch, ngày 15-10-1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp". Trung ương Đảng chủ trương tập trung lực lượng và cử cán bộ chủ chốt của Bộ Tổng chỉ huy tổ chức đánh địch trên các mặt trận: Mặt trận Sông Lô - đường số 2, Mặt trận Đường số 4, Mặt trận Đường số 3.


Mặt trận Sông Lô - đường số 2 rộng, trải khắp Khu 10, từ Vĩnh Yên, Việt Trì, Đoan Hùng lên Tuyên Quang, Chiêm Hóa và Sơn Dương. Là một trong hai hướng phản công, có ý nghĩa quyết định đến việc đánh bại cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp, nên Mặt trận Sông Lô - đường số 2, được Bộ Tổng chỉ huy cử hai đồng chí Trần Tử Bình và Tạ Xuân Thu chỉ đạo, có nhiệm vụ đánh quân cơ động trên đường bộ, đường thủy, ngăn chặn tăng viện tiếp tế, tiến tới bẻ gãy gọng kìm phía Tây của địch.


Với niềm tin tưởng tuyệt đối vào đường lối kháng chiến của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện chủ trương của Khu ủy, quân và dân Khu 10 hăng hái, quyết tâm tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, bẻ gãy gọng kìm sông Lô của chúng, góp phần phá tan cuộc tiến công Thu - Đông, bảo vệ căn cứ địa kháng chiến. Được chuẩn bị khẩn trương và chu đáo, với quyết tâm chiến đấu cao và cách đánh linh hoạt, sáng tạo trên cả đường thủy và trên bộ; sự phối - kết hợp giữa bộ binh, pháo binh và công binh, các lực lượng vũ trang Khu 10 (tiền thân của lực lượng vũ trang Quân khu 2 ngày nay) đã liên tục chặn đánh địch từ Phan Dư, Khoan Bộ, Đoan Hùng, Bình Ca, Khe Lau đến km 7 đường số 2, Đầm Hồng, Bản Ty, Chiêm Hoá... tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bắn cháy nhiều tàu chiến, bẻ gãy gọng kìm phía Tây của chúng.


Chiến thắng sông Lô của quân và dân Khu 10, góp phần cùng quân dân cả nước làm phá sản chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp, đánh bại cuộc tiến công Thu - Đông 1947 của chúng lên Việt Bắc, bảo vệ an toàn căn cứ địa và cơ quan đầu não kháng chiến trong những năm đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.


60 năm đã qua đi, nhưng chiến thắng Sông Lô vẫn luôn là niềm tự hào của các lực lượng vũ trang và nhân dân Khu 10, là một trong những chiến thắng điển hình của Quân đội nhân dân Việt Nam, góp phần tô thắm thêm truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc và mãi mãi đi vào lịch sử. Nghiên cứu về chiến thắng sông Lô, chúng ta thấy:

Một là: Chiến thắng sông Lô là bước khởi đầu, góp phần khắng định sự tất thắng của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện trong chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.


Vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng và chiến tranh giải phóng Việt Nam, kế thừa và phát huy truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc, trước kẻ thù là thực dân Pháp xâm lược có binh hùng, tướng mạnh, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra đường lối lãnh đạo đúng đắn, dẫn dắt toàn quân, toàn dân đương đầu và từng bước đánh thắng kẻ thù. Điều đó được thể hiện một phần qua sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân Khu 10.


Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, sau ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, lực lượng vũ trang Khu 10 còn nhiều thiếu thốn về vũ khí, trang bị... phương tiện kỹ thuật chiến tranh, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.


Nhận thấy "điểm yếu chí mạng" của giặc Pháp là gọng kìm quá dài, buộc phải dựa vào đường bộ và đường sông để giải quyết vấn đề tiếp tế và chuyển quân, lực lượng bị rải ra trên các trục đường bộ, đường sông, đội hình kéo dài, địa hình hiểm trở, xa căn cứ, vận tải tiếp tế khó khăn, Trung ương Đảng đã chỉ đạo các khu, các mặt trận tổ chức đánh địch rộng khắp bằng mọi thứ vũ khí, buộc địch phải phân tán đối phó, để hỗ trợ cho các đơn vị chủ lực của ta đánh địch. Đồng thời, sử dụng một phần ba tổng số bộ đội chủ lực, tổ chức thành những đại đội độc lập, trung đội vũ trang tuyên truyền, ban xung phong công tác, luồn sâu vào vùng địch tạm chiếm, động viên tổ chức nhân dân, phát động chiến tranh du kích tiêu hao địch rộng rãi, đồng thời làm nòng cốt cho phong trào quần chúng, buộc địch phải căng kéo lực lượng đối phó và bị động trên nhiều hướng, khiến cho chúng quân đông mà bị phân tán, trang bị mạnh nhưng không thể phát huy được hiệu lực.


Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Khu ủy Khu 10 đã chỉ đạo cho các tỉnh xây dựng, củng cố tinh thần, tư tưởng, ý chí chiến đấu cho nhân dân và lực lượng vũ trang. Các tỉnh tiến hành thành lập các tổ công tác và đội tuyên truyền vào vùng địch hậu hoạt động, vừa xây dựng cơ sở chính trị vừa vận động nhân dân tích cực tham gia kháng chiến. Các đội võ trang tuyên truyền đã phối hợp tốt cùng các đại đội độc lập của các trung đoàn chủ lực Khu 10, thực hiện luồn sâu vào hoạt động vùng sau lưng địch xây dựng cơ sở, phát động chiến tranh du kích, toàn dân đánh giặc. Nhân dân trong vùng địch tạm chiếm thực hiện tiêu thổ kháng chiến "vườn không nhà trống", tản cư vào các lán bí mật trong rừng, nuôi giấu cán bộ, bộ đội và du kích hoạt động. Nhân dân vùng tự do, đi đôi với việc tích cực ủng hộ vật liệu, phương tiện và dụng cụ, hàng triệu người, đã tham gia các đợt tổng phá hoại các công trình kiến trúc kiên cố, cầu cống, đường giao thông, đắp ụ trên đê, cắm kè trên sông, rào làng, để ngăn cản bước tiến của quân giặc. Các đội du kích, sau khi được xây dựng, củng cố về lực lượng, vũ khí, trang bị, đã kiên cường bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở, diệt tề, trừ gian ở các địa phương, ngăn cản bước tiến và tiêu hao, tiêu diệt quân địch.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2520



WWW
« Trả lời #73 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2021, 03:27:17 pm »

Như vậy, để đối mặt và giành được thắng lợi với kẻ thù mạnh hơn ta gấp bội về tiềm lực quân sự, Trung ương Đảng đã đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh là hoàn toàn đúng đắn. Quân và dân Khu 10 đã phát huy hết sức mạnh của mình, vận dụng linh hoạt cách đánh du kích, bằng nhiều loại vũ khí tự tạo, phát huy được thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, trong đó lực lượng vũ trang ba thứ quân đã tỏ rõ vai trò nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Đây chính là bước tiếp nối truyền thống đánh giặc trong lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha, là bước thể nghiệm để Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chủ trương, đường lối "Kháng chiến toàn dân, toàn diện" giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam.


Hai là: Chiến thắng sông Lô cùng với những thắng lợi trong chiến dịch phản công của ta trong Thu - Đông 1947, đã mở đầu cho sự hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Sau khi giành được độc lập, Chính phủ đã ban hành các sắc lệnh đặt nền tảng cho việc xây dựng quân đội chính quy của quốc gia, các chi đội Vệ quốc đoàn đã phát triển thành các trung đoàn và tiểu đoàn độc lập. Nhưng do khả năng tác chiến ở quy mô cấp trung đoàn hạn chế, trình độ kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội, trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ và tình hình trang bị của ta chưa đủ điều kiện để tiến hành những trận đánh lớn có thể chặn đứng cuộc tiến công của địch. Các binh chủng Công binh, Pháo binh, Phòng không chưa được tổ chức thành các đơn vị lớn. Phương tiện thông tin liên lạc thô sơ, chủ yếu là chạy bộ. Cung cấp hậu cần dựa vào chính quyền và nhân dân địa phương là chính. Đồng thời, địa bàn tác chiến của Mặt trận Sông Lô nói riêng và chiến dịch Việt Bắc nói chung rộng, khó bố trí đội hình tác chiến lớn.


Nhận thấy giặc Pháp "phải mạo hiểm... gặp khó khăn lớn, nếu ta biết khai thác đánh vào chỗ yếu của địch thì nhất định cuộc tiến công sẽ thất bại...", nên chỉ đạo, chỉ huy của ta trong chiến dịch Việt Bắc nói chung và Mặt trận Sông Lô nói riêng, là đã không đem các trung đoàn chủ lực (còn hạn chế về vũ khí trang bị và kinh nghiệm chiến đấu...) ra đối mặt với lực lượng lớn của địch, có trang bị hiện đại. Thường vụ Trung ương Đảng đã chủ trương sử dụng lực lượng và hình thức tác chiến là: "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" để đối phó với cuộc tiến công Việt Bắc của địch. Bằng các đơn vị nhỏ (phổ biến là đại đội), với chiến thuật phục kích là chủ yếu, phối hợp hoạt động tác chiến giữa chủ lực và địa phương, ta đã thực hiện tiêu hao, tiêu diệt địch rộng rãi.


Ngày 15-10-1947, Bộ Tổng chỉ huy ra Huấn lệnh ĐB/101, đã nêu những nguyên tắc mới về tổ chức bộ đội và bố trí lực lượng, về nhiệm vụ của các đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung. Huấn lệnh chỉ rõ: "... Bố trí và tác chiến cần phải thích hợp với tình thế... thực hiện ngay việc lấy đại đội làm đơn vị bố trí trên các chiến trường địa phương... Bộ đội chủ lực thì đặt ở những nơi cơ động gần mặt trận hoặc đường giao thông quan trọng trên nguyên tắc là nên tập trung từng tiểu đoàn phụ trách từng khu vực một". Nhiệm vụ của đại đội độc lập là: "Quấy rối, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ của địch, đôn đốc phá hoại trong địa phương, giúp đỡ vũ trang tuyên truyền và phối hợp tác chiến với dân quân địa phương khi địch đến. Phối hợp với bộ đội lưu động đánh những trận đánh lớn". Nhiệm vụ của các tiểu đoàn tập trung là: "Phối hợp với các đại đội độc lập và du kích địa phương tiêu diệt địch ở những vị trí lẻ hay đang vận chuyển trên đường giao thông". Hình thức tác chiến chủ yếu được xác định: "trên cả ba mặt trận là đánh phục kích với quy mô cấp đại đội độc lập, nhằm tiêu hao, tiêu diệt bộ phận nhỏ quân địch đang cơ động là chủ yếu. Các tiểu đoàn tập trung phải luôn đứng chân ở địa bàn, sẵn sàng cơ động đánh địch khi chúng xuất hiện".


Có thể nói, chiến thắng sông Lô là một trong những chiến thắng trong năm đầu sau toàn quốc kháng chiến của quân đội ta, đánh dấu bước mở đầu cho sự hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch của quân đội ta, thể hiện sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc "lấy yếu đánh mạnh", "lấy nhỏ thắng lởn", "lấy ít địch nhiều" của tổ tiên ta, để chiến thắng kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Những trận đánh nhỏ, rộng khắp, cùng các trận đánh lớn, quan trọng như trận phục kích diệt địch cơ động đường sống ở Khoan Bộ, Đoan Hùng, Khe Lau..., hay phục kích tiêu diệt quân cơ động vận chuyển bằng đường bộ tại km 7 - đường số 2, đã thực hiện được ý định chung của chiến dịch, cả ba mục đích của cuộc hành binh đều không đạt được, địch buộc phải lui quân với những tổn thất nặng nề, làm thất bại hoàn toàn cuộc tiến công của giặc Pháp, bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến, bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc. Vượt qua những thử thách to lớn đầu tiên, quân đội ta đã trưởng thành một bước quan trọng nghệ thuật tác chiến, càng đánh càng hiểu về địch, hiểu mình. Thông qua tác chiến chiến dịch Thu - Đông 1947, đã hình thành nên nghệ thuật chiến dịch phản công của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Ba là: Chiến thắng sông Lô là chiến thắng của sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ lực lượng giữa bộ binh, pháo binh, công binh và phòng không của quân đội ta.


Trong số những trận đánh vang dội của quân và dân Khu 10 trên Mặt trận Sông Lô trong Thu - Đông năm 1947, thì chiến thắng tại Đoan Hùng, ngày 24-10-1947, là trận đánh then chốt có hiệu quả nhất, thể hiện cách đánh hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, tinh thần chiến đấu dũng cảm, cách đánh mưu trí, sáng tạo của quân và dân Khu 10, góp phần quan trọng trong việc bẻ gãy gọng kìm thứ 2 của địch.


Ngày 24-10-1947, Bộ chỉ huy Khu sử dụng 2 trung đội pháo binh 200 và 225 với 2 khẩu pháo 75mm, 2 đại đội bộ binh (663, 664), đại đội cảnh vệ Khu và lực lượng du kích địa phương, tổ chức phục kích ở khu vực ngã ba sông Lô và sông Chảy, nơi có nền đất tốt, ngụy trang kín đáo. Tại đây, ngoài các trận địa chính ta đã bố trí một số trận địa giả, dùng cây bôi sơn đen giả làm nòng pháo, dùng rơm rạ đốt khi trận địa chính nổ súng để ngụy trang, lừa máy bay địch đến bắn phá. Một đại đội bộ binh được bố trí ở Sóc Đăng sẵn sàng đánh địch đổ bộ bằng đường không, ngăn chặn tuyến đường bộ từ Việt Trì - Yên Bình - Tuyên Quang. Một đại đội khác được bố trí ở Ngọc Trúc để bảo vệ trận địa pháo. Đại đội cảnh vệ được bố trí chặn đánh địch từ Tuyên Quang tiến công theo bờ sông xuống ứng cứu. Đồng thời để nghi binh, lừa địch, ta đã sử dụng hơn 200 quả bưởi được sơn đen giả làm thủy lôi, thả trôi trên sông Lô để làm chậm tốc độ cơ động đường sông, buộc tàu chiến địch phải đi vào đúng luồng đã định để ta tiêu diệt.


Kết quả, ta đã bắn chìm 1 tàu chiến và 2 ca nô, bắn trọng thương 2 ca nô khác, bắn rơi 1 máy bay; hơn 100 tên địch bị tiêu diệt, nhiều tên bị thương, 3 tên bị bắt; ta thu 17 súng trường Mỹ, 3 tiểu liên, 3 súng máy 12,7mm, 4 súng FM, 1 súng cối 60mm có 20 viên đạn, 4 khẩu súng côn 12mm, 1 cối 81mm có 22 viên đạn, 1 pháo 75mm, 1 Ba-zô-ca, 5 lựu đạn, 1 máy vô tuyến điện, 1 thùng đạn và một số lớn thuốc tân dược. Đó là kết quả của sự phối hợp, hiệp đồng lực lượng chặt chẽ giữa bộ binh, pháo binh, công binh và phòng không của quân đội ta; hiệp đồng giữa quân và dân Khu 10. Từ trận đánh trên, cùng với những thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc, nhiều nguyên tắc tác chiến, chỉ huy hiệp đồng binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã được hình thành.


Cuộc tiến công lên căn cứ địa Việt Bắc trong Thu - Đông 1947 của thực dân Pháp là một thử thách vô cùng quyết liệt đối với toàn quân, toàn dân ta trong năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc. Với tinh thần "Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ", bằng ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến, quyết thắng và trí thông minh sáng tạo, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã kịp thời đưa ra giải pháp thích hợp, từng bước chuyển thế trận, giành lại thế chủ động đánh địch, chuyển yếu thành mạnh, làm cho địch từ mạnh sang yếu, mất thế và lực. Từ đây, thực dân Pháp phải theo đuổi cuộc chiến tranh một cách bị động, kéo dài ngoài ý muốn của chúng. Thắng lợi và kinh nghiệm chiến thắng sông Lô, cùng với ý nghĩa của chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, là vốn quý để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vững bước tiến lên, từng bước làm thất bại các âm mưu, kế hoạch của kẻ thù.


60 năm qua, ý nghĩa và giá trị của chiến thắng Sông Lô vẫn luôn đi cùng với những bước trưởng thành, lớn mạnh của quân đội ta nói chung và quân, dân Khu 10 nói riêng. Chiến thắng đó luôn cổ vũ và tiếp sức cho lực lượng vũ trang Quân khu 2 tiếp bước cha anh, thi đua giành được nhiều thành tựu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mai sau.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2520



WWW
« Trả lời #74 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2021, 11:02:23 am »

VIỆT BẮC - NƠI RA ĐỜI CÁC QUYẾT SÁCH LỚN CỦA ĐẢNG
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945-1954)


Đại tá TRẦN XUÂN QUANG
Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 1


Trước âm mưu của thực dân Pháp quyết tâm xâm lược nước ta một lần nữa, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung lãnh đạo toàn dân và toàn quân ta "kháng chiến và kiến quốc". Nhằm tạo chỗ đứng chân, xây dựng tiềm lực chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng chỉ đạo xây dựng căn cứ địa kháng chiến của Trung ương và căn cứ địa của từng địa phương.


Sau ngày tuyên bố độc lập một thời gian ngắn, Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tích cực củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh lần lượt được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ bí mật đi xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, lấy các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương (Thái Nguyên); Chợ Mới, Chợ Đồn (Bắc Kạn); Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa (Tuyên Quang) làm địa bàn chính.


Việt Bắc, quê hương của Cách mạng Tháng Tám, một lần nữa lại được đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử, được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm căn cứ địa của cả nước. Việt Bắc là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, có khả năng cơ động cao, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Tiến có thể đánh, lui có thể giữ”. Hơn nữa, núi rừng Việt Bắc rộng lớn và thiên hiểm, có khả năng che mắt và cản trở hoạt động của địch, tạo thuận lợi cho hoạt động của ta. Việt Bắc lại là vùng kinh tế tự cấp, tự túc khá phong phú, với nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ trong nhân dân. Đặc biệt, nhân dân các dân tộc Việt Bắc có truyền thống đoàn kết yêu nước, anh dũng, bất khuất chống ngoại xâm và có tinh thần cách mạng cao, một lòng theo Đảng và được rèn luyện trong cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám, sẵn sàng và kiên quyết kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ tháng 3 đến tháng 5-1947, các cơ quan Đảng, Chính phủ, Mặt trận, quân đội, các nhà trường, công xưởng cùng hàng vạn đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ở Hà Nội và các tỉnh miền xuôi đã lên Việt Bắc để tham gia kháng chiến. Từ đây, căn cứ địa Việt Bắc trở thành "Thủ đô kháng chiến"; hằng ngày, những tin tức, chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, Chính phủ được truyền đi trên làn sóng điện của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Việt Bắc trở thành niềm tin kháng chiến nhất định thắng lợi của nhân dân cả nước.


Căn cứ địa Việt Bắc là nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, nơi Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng chỉ huy đã ra các quyết sách lớn mang tính quyết định của cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược, quan trọng là từ An toàn khu Định Hóa (Thái Nguyên), ngày 15-10-1947, Thường vụ Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm "Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp"; quyết định triển khai phương châm "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" trên toàn quốc; quyết định mở các chiến dịch ỏ Đông Bắc và Tây Bắc; hạ quyết tâm mở chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950; các chiến dịch Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà - Nam - Ninh, chiến dịch Hoà Bình, Tây Bắc, Sầm Nưa; đặc biệt là chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.


Từ giữa năm 1947, sau khi nhận thêm một số quân mới tăng viện từ Pháp sang, thực dân Pháp tiếp tục mở các cuộc tiến công ra vùng nông thôn và ráo riết chuẩn bị mở cuộc tiến công quân sự quy mô lớn trong Thu - Đông 1947. Về quân sự, địch điều thêm quân ra Bắc Bộ, tăng cường trinh sát đường không, huấn luyện quân dù, biệt kích... Về chính trị, Cao ủy Pháp Bô-la tuyên bố thiết lập trở lại sự thống trị của Pháp ở Đông Dương, xây dựng chính quyền bù nhìn.


Về phía ta, từ ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), cuộc kháng chiến đã được phát động trên phạm vi toàn quốc. Trước "thế địch như lửa", chủ trương của Đảng ta là giữ gìn chủ lực, đánh bại chiến lược "Đánh nhanh, thắng nhanh" của địch. Phát hiện dấu hiệu về những hành động quân sự mới của địch, ngày 15-9-1947, tại Việt Bắc, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị tích cực chuẩn bị tác chiến mùa Đông về mọi mặt (đó là động viên tinh thần kháng chiến, huấn luyện bộ đội, cất giấu kho tàng...), sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công có thể lan rộng và ác liệt của quân đội Pháp (trong đó có việc sẵn sàng chống các cuộc hành binh của địch đánh xuyên mũi dùi, đánh vòng thật rộng và nhảy dù đổ bộ sau lưng ta). Cùng ngày, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Sửa soạn phá những cuộc tấn công lớn của địch". Tiếp đó, từ ngày 27 đến ngày 29-9-1947, Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ tư. Hội nghị đã nhận định âm mưu chiến lược sắp tới của quân Pháp là tiêu diệt chủ lực của ta, phá các căn cứ, cơ quan đầu não của ta; đồng thời phán đoán hướng tiến công chủ yếu của cuộc hành binh lớn của địch.


Quán triệt và tổ chức thực hiện chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ tư, ngày 4-10-1947, Bộ Tổng chỉ huy ra Mệnh lệnh tác chiến, khẳng định địch tiến hành cuộc tiến công lớn trong Thu - Đông 1947. Về hướng tiến công chủ yếu của địch, Bộ Tổng chỉ huy dự kiến có ba khả năng: đồng bằng Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, Việt Bắc. Nếu đánh lên Việt Bắc, hướng chính của địch là từ trung du (Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ...) đánh lên.


Như vậy, trước Thu - Đông 1947, Thường vụ Trung ương Đảng, Hội nghị quân sự toàn quốc và Bộ Tổng chỉ huy đã nhận định đúng về âm mưu địch tăng cường và mở rộng chiến tranh; phán đoán đúng ý đồ hành binh lớn của địch. Từ đó, Đảng ta đã lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân cả nước, đặc biệt là chiến trường chính Bắc Bộ, tích cực chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng phá tan cuộc tiến công mùa Đông của thực dân Pháp.


Sáng ngày 7-10-1947, cuộc tiến công chiến lược của Pháp lên Việt Bắc bắt đầu.

Ngay tối hôm đó, Thường vụ Trung ương Đảng điện cho các Khu ủy: "7 tháng 10; Pháp nhảy dù chiếm Bắc Kạn, Chợ Mới mưu tấn công Việt Bắc. Vậy Đoàn thể ra lệnh: Khu ủy và Chiến khu ủy chỉ huy bộ đội đánh mạnh để chia sẻ lực lượng địch và phá kế hoạch của chúng".


Cũng ngay ngày 8-10, Bộ Tổng chỉ huy ra Nhật lệnh kêu gọi bộ đội và dân quân chiến đấu phá tan cuộc tiến công mùa Đông của địch và Quân lệnh diệt địch, bảo vệ Việt Bắc. Nhật lệnh và Quân lệnh vạch rõ mưu đồ tiến công của thực dân Pháp, chỉ thị những nhiệm vụ cụ thể cho Vệ quốc quân, du kích, dân quân tự vệ, ủy ban kháng chiến các cấp và toàn thể đồng bào. Bộ Tổng chỉ huy cũng ra lệnh cho quân và dân cả nước phá kế hoạch Thu - Đông của địch "Chiến đấu theo mệnh lệnh đã định để phối hợp với Việt Bắc”.


Ngày 9-10, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị cần kíp cho tỉnh Bắc Kạn kịp thời lãnh đạo quân và dân trong tỉnh đánh địch, bảo vệ nhân dân, cơ quan, kho tàng. Thường vụ Trung ương Đảng khẳng định: "Chúng ta có ba điều kiện để thắng: thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Điều cần thiết là chúng ta biết lợi dụng triệt để những điều kiện ấy để giành lấy thắng lợi".
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2520



WWW
« Trả lời #75 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2021, 11:03:15 am »

Ngày 15-10-1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp". Chỉ thị nhận định: "Cuộc tấn công này của địch không tỏ ra chúng mạnh... mà tỏ ra chúng yếu, phải mạo hiểm" và "cuộc tấn công này chỉ ồ ạt lúc đầu". "Địch dàn quân ra càng mỏng... là dịp cho ta để đánh chúng ở miền xuôi, chúng đóng quân nơi xa càng dễ cho ta bao vây chặt đường tiếp tế, đánh chúng một cách rất có lợi trong khi chúng vận động". Chỉ thị vạch rõ phương hướng hành động cụ thể cho quân và dân ta là: "Giam chân địch tại mấy căn cứ chúng vừa chiếm, bao vây những căn cứ đó... Triệt để làm vườn không nhà trống xung quanh chỗ địch chiếm đóng... Chặt đứt giao thông liên lạc giữa các cứ điểm của địch, không cho chúng tiếp ứng và tiếp tế... Phải giữ gìn chủ lực, nhưng đồng thời cũng phải nhằm những chỗ yếu của địch mà đánh những trận vang dội, những trận tiêu diệt... bắt địch chuyển sang thế phòng thủ"...


Bản chỉ thị ngày 15-10 đã nêu cao tinh thần quyết thắng của quân và dân ta, phân tích một cách khách quan, đầy đủ tình hình ta và địch khi Pháp vừa đưa quân lên Việt Bắc, khẳng định giặc Pháp nhất định chuốc lấy thất bại, ta nhất định giành được thắng lợi to lớn. Chỉ thị ngày 15-10-1947 là nhân tố quyết định quan trọng trong tình thế cực kỳ khó khăn, đã góp phần đưa quân và dân cả nước nói chung, quân và dân Việt Bắc nói riêng, đến chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947.


Trên cơ sở quyết định của Thường vụ Trung ương Đảng, trong cuộc họp chiều ngày 14-10-1947, về việc thực hiện ngay phương châm "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, Bộ Tổng chỉ huy đã ra "Huấn lệnh ĐB/101 gửi các khu 1, 10, 12, 14", nhấn mạnh: "Về chiến lược hiện nay không có sự phân biệt hậu phương và tiền phương... Về sự cần thiết phát động du kích chiến tranh rộng rãi... thực hiện ngay việc lấy đại đội làm đơn vị bố trí trên các chiến trường địa phương... bộ đội chủ lực thì đặt ở những nơi cơ động gần mặt trận hoặc đường giao thông quan trọng và nguyên tắc là nên tập trung từng tiểu đoàn phụ trách từng khu vực một". Huấn lệnh cũng định rõ nhiệm vụ của "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung"...


Chấp hành huấn lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, chỉ trong thời gian ngắn, Chiến khu 1, Chiến khu 12 đã phái 23 đại đội bộ đội chủ lực về các địa phương làm nhiệm vụ. Với phương châm trên, các đại đội độc lập đã đảm nhiệm tốt vai trò làm nòng cốt của chiến tranh nhân dân địa phương, giúp đỡ xây dựng lực lượng dân quân du kích và phối hợp, dìu dắt trong chiến đấu và lập nên nhiều chiến công. Các tiểu đoàn tập trung đã liên tục cơ động trên các mặt trận, bám sát địch, vận dụng các hình thức chiến thuật liên tục đánh địch trên đường cơ động càn quét và ở ngay cả những nơi chúng đồn trú.


Có thể nói phương châm "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" trong chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947 là một sáng tạo về nghệ thuật quân sự Việt Nam trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó không chỉ là bài học kinh nghiệm ở tầm chiến dịch mà về cả chiến lược, không chỉ ở chiến trường Việt Bắc Thu - Đông 1947 mà trên phạm vi cả nước trong những năm sau đó.


Qua 75 ngày đêm anh dũng chiến đấu, quân và dân Việt Bắc đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu chiến và ca nô, bắn cháy, phá hủy hàng trăm xe quân sự, hơn 100 pháo, cối và hàng nghìn vũ khí bộ binh, thu hàng trăm tấn quân trang quân dụng... Điều quan trọng là đã làm phá sản chiến lược "Đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp, đánh bại cuộc hành binh chiến lược của chúng với "đòn quyết định" hòng đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân ta để kết thúc chiến tranh.


Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 của quân và dân cả nước nói chung, quân và dân Việt Bắc nói riêng, là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tạo ra bước ngoặt mới của kháng chiến thần thánh của nhân dân ta. Bằng sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, được khởi nguồn từ "quần chúng chiến tranh" ở Việt Bắc, quân và dân ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, tạo đà để ta chuyển cục diện kháng chiến, liên tục tiến công địch trên khắp các chiến trường.


Tại căn cứ địa Việt Bắc, trong những ngày tháng Thu - Đông 1947 đầy khó khăn thử thách trong vòng vây kẻ thù, nhưng trước sự đùm bọc, che chở, bảo vệ an toàn tuyệt đối của đồng bào các dân tộc, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tổng chỉ huy luôn nắm chắc, bám sát tình hình trên chiến trường cả nước, sáng suốt và kịp thời đề ra những quyết sách lớn lãnh đạo toàn dân kháng chiến. Đặc biệt, đó là sự thường xuyên, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng chỉ huy đối với quân và dân Việt Bắc, đó cũng là niềm vinh dự, tự hào động viên lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Việt Bắc hăng hái chiến đấu bảo vệ căn cứ địa kháng chiến của cả nước.


Bị thất bại nặng nề trong cuộc hành binh chiến lược lên Việt Bắc Thu - Đông 1947, thực dân Pháp phải chuyển sang đánh kéo dài, thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Trong 2 năm 1948 - 1949, giặc Pháp tăng cường củng cố các vị trí chiếm đóng ở Việt Bắc, đặc biệt là phòng tuyến Đông Bắc, nhằm ngăn chặn, chia cắt mối liên hệ của ta với bạn bè quốc tế.


Thu - Đông 1950, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch tiến công Biên Giới, nhằm: tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở đường giao thông với các nước bạn, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Chiến dịch này chỉ cho đánh thắng, không cho đánh bại", Bộ Tổng tư lệnh đã sử dụng tập trung phần lớn lực lượng chủ lực trên chiến trường Bắc Bộ (tương đương 2 đại đoàn) và huy động một lực lượng lớn quân và dân Liên khu Việt Bắc tham gia chiến đấu và phục vụ chiến dịch. Đây cũng là chiến dịch mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra trận.


Sau 29 ngày đêm liên tục chiến đấu tiến công địch, chiến dịch Biên giới đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó. Quân và dân ta đã tiêu diệt và bắt gần 8.300 tên địch, thu trên 3.000 tấn vũ khí, trang bị và phương tiện chiến tranh, giải phóng hoàn toàn Việt Bắc, mở thông biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn).


Chiến thắng Biên Giới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cục diện của cuộc kháng chiến; mở ra thời kỳ mới chuyển sang phản công và tổng phản công. Đối với thực dân Pháp, thất bại ở Biên giới là "thất bại chưa từng có trong lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp", thất bại này còn kéo theo sự phá sản của hàng loạt các kế hoạch quân sự, chính trị khác của thực dân Pháp.


Những năm tiếp theo, tại căn cứ địa Việt Bắc, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng tư lệnh tiếp tục chỉ đạo các chiến dịch tiến công ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là chỉ đạo chiến lược chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954.


Đông - Xuân 1953-1954, được đế quốc Mỹ giúp sức, chi phí phần lớn cho chiến tranh, thực dân Pháp đã đề ra và ráo riết thực hiện kế hoạch Na-va, quyết chuyển bại thành thắng. Trung tâm kế hoạch này là tổ chức, sử dụng khối chủ lực cơ động, quyết chiến với chủ lực ta ở chiến trường Bắc Bộ hòng giành thắng lợi quyết định. Đầu năm 1954, Pháp đã đưa tổng số quân lên đến 480.000 tên, trong đó có 146.000 lính Âu - Phi, xây dựng khối chủ lực cơ động gồm 100 tiểu đoàn bộ binh, 10 tiểu đoàn dù, sẵn sàng mở các cuộc hành quân quy mô lớn để diệt chủ lực của ta, đồng thời sẵn sàng cơ động ứng cứu những nơi bị uy hiếp, sẵn sàng đọ sức và đánh bại các cuộc tiến công của chủ lực ta.


Trước âm mưu của địch, tại Việt Bắc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở nhiều hướng tiến công để phân tán khối chủ lực cơ động của địch vừa tập trung được, tiêu diệt nhiều sinh lực của chúng; đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch. Bộ Chính trị đề ra nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến là giữ quyển chủ động, chọn nơi địch sơ hở, nơi địch tương đối yếu mà đánh, kiên quyết buộc địch phải phân tán, đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt, vừa đánh địch vừa bồi dưỡng lực lượng ta.


Trước nguy cơ bị uy hiếp ở những hướng, khu vực chiến lược, địch buộc phải phân tán phần lớn các tiểu đoàn cơ động đã tập trung được ở đồng bằng Bắc Bộ, vội vã thiết lập nhiều tập đoàn cứ điểm trên khắp Đông Dương, trong đó Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm lớn.


Ngày 6-12-1953, tại lán làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đồi Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, Bộ Chính trị họp nghe Tổng Quân ủy báo cáo quyết tâm và đã quyết định mở chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, trận quyết chiến chiến lược của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược.


Việt Bắc - nơi cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, nơi đã từng diễn ra các cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và giặc Pháp trong những năm đầu kháng chiến, nay trở thành hậu phương lớn, hậu phương trực tiếp của Điện Biên Phủ. Từ nơi đây, các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Bộ Tổng tư lệnh đã cùng nhiều đoàn quân, nhiều đoàn dân công lên đường ra mặt trận.


Những ngày tháng đầu năm 1954, quân và dân Việt Bắc vừa tiếp tục làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình là bảo vệ an toàn căn cứ địa Trung ương, đồng thời vừa động viên cao độ sức người, sức của cho Điện Biên Phủ với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” và xứng đáng với lời tiên đoán, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi".
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2520



WWW
« Trả lời #76 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2021, 11:05:22 am »

QUÂN VÀ DÂN THÁI NGUYÊN
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Đại tá NGUYỄN VĂN TRÌNH
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên


Thái Nguyên là một tỉnh miền núi và trung du thuộc Bắc Bộ, nằm ở vị trí trung tâm của vùng chiến lược phía bắc sông Hồng, "Sẵn đường giao thông với quốc tế; liền với trung tâm tam giác, tức là có cái thế uy hiếp Hà Nội. Phía Đông có thể men theo rừng núi mà tiến đến lân cận Hải Phòng và đi ra bể. Phía Tây có thể men theo rừng núi mà tiến về Hà Đông hay liên lạc với Thanh Nghệ"1 (Võ Nguyên Giáp, Khi giải phóng - một sự nghiệp vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc). Nhân dân các dân tộc Thái Nguyên vốn có truyền thống đoàn kết, giàu lòng yêu nước và cách mạng, cần cù trong lao động và kiên cường anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm.


Thái Nguyên là một vùng đất có hội tụ đủ các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa". Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, ông cha ta đã từng coi "Thái Nguyên là phên giậu phía Bắc của kinh thành Thăng Long".


Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Thái Nguyên là 1 trong 6 tỉnh của Khu Giải phóng Việt Bắc. Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chọn vùng đất giáp ranh các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn (gồm các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên; Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang và Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn) để xây dựng thành Trung tâm ATK của Căn cứ địa Việt Bắc - "Thủ đô kháng chiến" của cả nước. Từ đầu mùa Hè năm 1947, các cơ quan của Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy đã đến ở và làm việc tại Thái Nguyên. Ngày 20-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến ATK Định Hóa (Thái Nguyên), cùng với Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân và toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Nhận rõ vinh dự và trách nhiệm của một địa bàn chiến lược, được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm Trung tâm Căn cứ địa kháng chiến của cả nước, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, quân và dân Thái Nguyên đã đoàn kết một lòng, quyết tâm xây dựng và bảo vệ vững chắc khu căn cứ.


Thu - Đông 1947, thực dân Pháp huy động khoảng 12.000 quân, với khoảng 800 xe, 40 máy bay, 40 tàu xuồng, mở cuộc hành binh chiến lược, bất ngờ tiến công lên căn cứ địa Việt Bắc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: "Có thể nói trong kháng chiến chống Pháp, cho đến trước Điện Biên Phủ thì đây là cuộc tiến công chiến lược lớn nhất, tập trung ở mức độ cao lực lượng thủy, lục, không quân của thực dân Pháp lúc bấy giờ đánh lên Căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc, nhằm mục tiêu tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bộ đội chủ lực, phá hủy cơ sở vật chất và mọi tiềm năng kháng chiến của ta, thực hiện chiến lược "Đánh nhanh, thắng nhanh”, tạo điều kiện thành lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại để nhanh chóng đi đến chấm dứt cuộc chiến"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phát biểu tại Hội thảo khoa học "50 năm Thái Nguyên trong chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 (1947-1997), do Tỉnh ủy Thái Nguyên tổ chức ngày 6-12-1997).


Mở đầu cuộc tiến công này, trong hai ngày 7 và 8-10-1947, giặc Pháp huy động hàng chục máy bay2 (Theo sách "Lịch sử quân dù Pháp" lưu tại Thư viện Trung ương quân đội thì "tổng số máy bay địch huy động để đánh phá và thả quân dù xuống thị xã Bắc Kạn là: 14 chiếc JU52 (Gioong ke) + 20 chiếc ĐaK (Đa-cô-ta), thị trấn Chợ Mới: 4 JU + 10 ĐaK, huyện lỵ Chợ Đồn: 5 Ju + 8 ĐaK) đến ném bom, bắn phá và thả khoảng 1.200 quân dù xuống đánh chiếm thị xã Bắc Kạn. Cũng trong ngày 7-10, cánh quân đường bộ, khoảng 7.000 tên, xuất phát từ Lạng Sơn theo đường số 4 lên Cao Bằng, sau đó quặt theo đường số 3 đánh xuống Bắc Kạn, hình thành thế gọng kìm bao vây Căn cứ địa Việt Bắc từ phía Bắc và Đông Bắc. Ngày 9-10, cánh quân đường thủy, khoảng 2.200 tên từ Hà Nội ngược sông Hồng lên sông Lô lên đánh chiếm Tuyên Quang, hình thành gọng kìm bao vây Căn cứ địa Việt Bắc từ phía Tây và Tây Bắc. Ý đồ của địch là hình thành 2 gọng kìm phía Đông và Tây, kết hợp với ném thẳng quân dù xuống khu vực thị xã Bắc Kạn, đánh phá, càn quét, lùng sục khu vực thị xã Bắc Kạn, thị trấn Chợ Mới (Bắc Kạn) và thị trấn Chợ Chu (Thái Nguyên) nhằm chụp bắt Chính phủ kháng chiến của ta để kết thúc chiến tranh.


Trước cuộc tấn công bất ngờ và ồ ạt của địch lên Việt Bắc, ngày 8-10, Bộ Tổng chỉ huy ra Nhật lệnh và Quân lệnh chỉ rõ những nhiệm vụ cụ thể cho bộ đội, dân quân du kích, tự vệ chiến đấu và Ủy ban kháng chiến các cấp, cùng toàn thể nhân dân. Tiếp đó, ngày 15-10, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Phải phá tan cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp", nhấn mạnh: "Cuộc tấn công này của địch không chứng tỏ chúng mạnh, có đủ sức đánh ta ở khắp các mặt trận mà chứng tỏ chúng yếu, phải mạo hiểm"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng (từ 25-11-1945 đến 31-12-1947), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1969, tr. 158), nhiệm vụ của quân và dân ta phải "làm cho địch thiệt hại nặng không thể gượng lại được sau mùa Đông này”. Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi bộ đội, dân quân du kích cùng toàn thể đồng bào ra sức đánh giặc.


Thực hiện Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và hưởng ứng Thư kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang Thái Nguyên đã nhanh chóng ổn định tư tưởng, tổ chức, khẩn trương làm công tác chuẩn bị kháng chiến, sẵn sàng đánh bại các cuộc tấn công của địch vào địa bàn tỉnh, quyết tâm bảo vệ vững chắc Trung tâm Căn cứ địa Việt Bắc. Việc địch nhảy dù chiếm đóng Bắc Kạn và tấn công theo hai đường thủy, bộ hình thành 2 gọng kìm bao vây Việt Bắc từ hai phía Tây - Tây Bắc và Bắc - Đông Bắc đã đặt tỉnh Thái Nguyên ở vào tình thế bị địch bao vây, uy hiếp từ nhiều phía. Ở phía Bắc, ngay sau khi nhảy dù đánh chiếm thị trấn Chợ Mới, quân Pháp đã cho một bộ phận tấn công sang chiếm đóng cầu Ổ Gà nằm giáp ranh địa bàn huyện Phú Lương. Hàng ngày, từ các vị trí chiếm đóng ở thị trấn Chợ Mới và cầu Ổ Gà, quân Pháp liên tiếp sục sạo, càn quét, đốt phá, cướp bóc của cải, giết hại nhân dân và thăm dò lực lượng ta ở huyện Phú Lương. Cùng thời gian trên, địch "tăng cường cho máy bay ném bom, bắn phá dọc hai bên đường số 3 từ cầu Đa Phúc lên thị trấn Chợ Mới, có tính cách dọn đường cho quân nhảy dù hơn là phá hoại các cơ quan kháng chiến của ta"2 (Báo cáo đặc biệt của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thái Nguyên. Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Nguyên).


Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, Ban chỉ huy Tỉnh đội Thái Nguyên đã nhanh chóng triển khai công tác củng cố xây dựng lực lượng vũ trang. Cơ quan chỉ huy dân quân các cấp từ tỉnh xuống các huyện, xã được kịp thời củng cố, kiện toàn đủ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy. Các ban: Quân sự, Chính trị, Văn thư - Hành chính giúp việc cho Ban chỉ huy Tỉnh đội đều được khẩn trương củng cố, kiện toàn. Các Ban chỉ huy Huyện đội được kiện toàn đủ 3 cán bộ chỉ huy gồm: Huyện đội trưởng, Huyện đội phó và Chính trị viên.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2520



WWW
« Trả lời #77 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2021, 11:06:14 am »


Ngay sau khi địch nhảy dù xuống Bắc Kạn, Tỉnh ủy Thái Nguyên đã chỉ thị cho Ban chỉ huy dân quân các cấp tập trung chỉ đạo xây dựng, củng cố và phát triển lược lượng dân quân du kích. Ban chỉ huy Tỉnh đội điều động cán bộ, chiến sĩ, kiện toàn quân số và vũ khí trang bị cho trung đội du kích tập trung của tỉnh; bố trí trung đội này lên xã Yên Ninh (huyện Phú Lương) làm nhiệm vụ ngăn chặn các cuộc hành quân, càn quét của địch từ Chợ Mới, cầu Ổ Gà sang huyện Phú Lương.


Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy và lệnh của Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, Ban chỉ huy Tỉnh đội đã chỉ đạo mỗi huyện xây dựng 1 trung đội du kích tập trung, biên chế 35 cán bộ, chiến sĩ, thoát ly sản xuất, do Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp tỉnh, huyện trợ cấp nuôi dưỡng và trang bị vũ khí. Các trung đội này làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu, phục vụ chiến đấu, có thể độc lập hoặc phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực trên địa bàn từng huyện. Lực lượng dân quân du kích được phát triển rộng rãi, nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Thực hiện phương châm "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" của Bộ Tổng chỉ huy, Trung đoàn 121 (Thái Nguyên - Phúc Yên), do đồng chí Mã Thành Kính làm Trung đoàn trưởng, phái 5 đại đội độc lập về các huyện Phú Lương, Định Hoá, Đại Từ, Võ Nhai, Đồng Hỷ để vừa xây dựng, huấn luyện, dìu dắt dân quân du kích, hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích ở địa phương, vừa sẵn sàng đánh địch bảo vệ địa bàn đứng chân, bảo vệ trục di chuyển của các cơ quan đầu não kháng chiến.


Trước thời điểm địch mở cuộc hành quân Xanh-tuya đánh vào Thái Nguyên, số lượng dân quân du kích toàn tỉnh đã lên tới trên 7.000 cán bộ, chiến sĩ (trong đó có 4.144 du kích ở các cơ sở, làng, xã, vừa sản xuất, vừa sẵn sàng làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu; 280 du kích tập trung thoát ly sản xuất ở huyện, tỉnh). Hầu hết mỗi xã trong tỉnh đều xây dựng được ít nhất 1 trung đội; mỗi thôn, xóm đều xây dựng được ít nhất 1 tiểu đội dân quân, du kích. Trung bình mỗi trung đội ở xã thuộc các huyện trung du (Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ) có 4 tiểu đội; trung đội xã Tân Tiến (nay là xã Đông Cao) huyện Phổ Yên, có tới 5 tiểu đội. Mỗi trung đội ở các xã thuộc các huyện miền núi trung bình có 3 tiểu đội. Hầu hết các xã dọc các trục đường giao thông chính (đường số 3, 13 A, 1B) đều xây dựng được từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội du kích bán thoát ly sản xuất, làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác, bảo vệ giao thông, kiểm tra, kiểm soát người lạ mặt đi vào vùng ATK.


Trên địa bàn Thái Nguyên, có nhiều đơn vị bộ đội chủ lực của Bộ và của Chiến khu đứng chân làm nhiệm vụ chiến đấu. Nhân dân các dân tộc đã nhường áo, sẻ cơm, tích cực đóng góp, ủng hộ nhiều lương thực, thực phẩm. Lực lượng dân quân du kích giúp đỡ bộ đội đào hầm, hào công sự chiến đấu.


Cùng với việc xây dựng, phát triển lực lượng dân quân du kích rộng khắp, công tác "tiêu thổ kháng chiến" và tản cư, theo phương châm "vườn không, nhà trống", cũng được các cấp ủy Đảng, chính quyền và cơ quan chỉ huy dân quân các cấp trong tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo. Công tác này, trước khi địch mở cuộc tấn công lên Việt Bắc Thu - Đông 1947, đã được nhân dân Thái Nguyên thực hiện tương đối triệt để ở thị xã Thái Nguyên và dọc đường số 3 (đoạn từ Đa Phúc lên thị xã Thái Nguyên). Do ảnh hưởng của tư tưởng "Hậu phương chủ nghĩa" nên các huyện phía Bắc tỉnh chưa phá hủy triệt để các nhà cửa kiên cố, đường sá và cầu, cống. Dọc đường số 3, đoạn từ Quán Triều đến thị trấn Chợ Mới, nhà cửa hai bên đường và toàn bộ hệ thống cầu cống hầu như chưa được phá. Các chợ Quán Triều, Giang Tiên, Đu và các nơi tập trung đông dân ở ngã ba Bờ Đậu, Đuổm, Trào... hằng ngày từ sáng sớm đến nửa đêm lúc nào cũng tấp nập kẻ mua, người bán, nên khi địch nhảy dù chiếm đóng thị trấn Chợ Mới, nhân dân hoảng loạn; lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên và huyện Phú Lương phải tập trung ổn định tư tưởng, giải quyết nơi ăn, ở và việc làm cho hàng trăm hộ dân trong tình thế bị động.


Trước tình hình đó, Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thái Nguyên đã khẩn trương cử cán bộ xuống giúp đỡ huyện Phú Lương tổ chức, huy động nhân dân và lực lượng dân quân du kích tập trung đi đào, phá đường, đánh sập tất cả các cầu, công trên đường số 3, lấy đất đắp thành ụ cản xe cơ giới địch. Tất cả các nhà lớn hoặc công trình kiên cố ở hai bên đường số 3 và các trục đường chính khác ở trên địa bàn huyện Phú Lương đều được nhân dân nhanh chóng thực hiện "tiêu thổ kháng chiến". Nhân dân ở các thôn, bản hai bên đường số 3, từ xã Sơn Cẩm lên xã Yên Ninh, đã thực hiện khá triệt để việc tản cư, làm "vườn không, nhà trống". Cán bộ, công nhân mỏ than Phấn Mễ đã lên tận km 31, sát cánh cùng nhân dân huyện Phú Lương đào, phá đường, đắp ụ cản xe cơ giới của địch.


Nhân dân và dân quân, du kích huyện Đồng Hỷ tập trung phá hoại các tuyến đường từ thị xã Thái Nguyên đi Võ Nhai, làng Hít và đập Thác Huống; huyện Phú Bình đào đất, đắp ụ cản xe cơ giới địch trên đê sông Máng; huyện Phổ Yên triển khai phá hoại triệt để các đường Sơn Cốt - Phúc Thuận, Phúc Thuận - Đèo Nhe; huyện Định Hóa tập trung phá đường đoạn km 31 - Quán Vuông - Chợ Chu... Các cầu lớn như Gia Bảy (thị xã Thái Nguyên), Huy Ngạc (Đại Từ), Giang Tiên (Phú Lương) trước đây do nhu cầu đi lại và vận chuyên hàng hóa nên ta chưa phá, nhưng từ khi địch mở cuộc tấn công, Tỉnh đội đã kịp thời huy động lực lượng dân quân du kích phá sập tất cả các cầu này. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ "phá hoại", "tiêu thổ kháng chiến", nhân dân và dân quân du kích trong tỉnh đã không chỉ đổ mồ hôi mà còn phải hy sinh cả xương, máu. Ngày 22-10-1947, du kích xã Yên Trạch, huyện Phú Lương đi phá cầu Suối Bốc, vướng mìn của địch cài lại, 4 chiến sĩ bị thương vong.


Do ta kịp thời làm tốt công tác "phá hoại", "tiêu thổ kháng chiến", khi quân địch tấn công vào Thái Nguyên, các phương tiện cơ giới của chúng đã bị vô hiệu hoá. Đi đến đâu chúng cũng gặp cảnh "đổ nát, hoang tàn", "vườn không, nhà trống", và bị lâm vào cảnh "đói, khát, què, điếc, mù, cảm".


Cùng với việc "phá hoại", "tiêu thổ kháng chiến” và tản cư thực hiện "vườn không, nhà trống", nhân dân và dân quân du kích Thái Nguyên đã hăng hái tự tạo vũ khí đánh giặc, làm hàng vạn chiếc chông tre, nứa vót nhọn cao từ một mét rưỡi đến hai mét, cắm khắp các cánh đồng, bãi trống, đồi trọc để chống quân địch nhảy dù. Đồng chí Nguyễn Phương - Tỉnh đối phó, được Ban chỉ huy tỉnh đội phân công trực tiếp theo dõi chỉ đạo, đôn đốc các Ban chỉ huy huyện đội tổ chức việc huy động nhân dân và dân quân, du kích làm chông, cắm chông. Tuy hiệu quá của việc cắm chông chưa cao, nhưng sau này, trong cuốn Lịch sử quân dù Pháp, người Pháp đã phải thừa nhận "khi Phân đội A nhảy dù xuống Tràng Xá (Võ Nhai), do Việt Minh chôn những cọc tre nhọn, nên một số lính nhảy dù đã bị thương khi tiếp đất”.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2520



WWW
« Trả lời #78 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2021, 11:07:22 am »


Để đảm bảo sửa chữa và sản xuất vũ khí trang bị, đáp ứng cho nhu cầu chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ xưởng quân giới của Tỉnh đội ở các xã An Khánh, Cù Vân (Đại Từ) vào tận các hang ở núi Hồng để lấy phân dơi mang về chế thành thuốc nổ và ngày đêm lặn lội, tìm đào, phá bom "điếc" để lấy thuốc nổ về làm lựu đạn, mìn và địa lôi. Nhân dân đã thu nhặt hàng chục tấn lưỡi cày, diệp cày hỏng, chảo gang vỡ cung cấp cho xưởng quân giới của Tỉnh đội làm vỏ đạn, mìn...


Một trong những việc làm có ý nghĩa to lớn của nhân dân và lực lượng vũ trang Thái Nguyên trong thời gian này là đã bảo vệ và dẫn đường cho các cơ quan đầu não kháng chiến. Từ ngày 15-10-1947, các cơ quan đầu não kháng chiến bắt đầu di chuyển từ ATK Định Hóa sang ATK Võ Nhai. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rời nơi làm việc ở Khau Tý thôn Điềm Mặc (Thanh Định, Định Hoá) chuyển lên Khuôn Đào1 (Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ - nguyên Thư ký riêng của Bác Hồ), sau đó đồng chí Chu Văn Tấn - Bí thư Khu ủy, Chỉ huy trưởng Chiến khu 1, trực tiếp dẫn đường cho Người di chuyển an toàn sang làng Vang, xã Liên Minh, huyện Võ Nhai.


Theo yêu cầu của Trung ương, tỉnh Thái Nguyên đã kịp thời thành lập trung đội du kích người địa phương, thông thuộc địa hình, có giác ngộ cách mạng và phẩm chất đạo đức tốt, được trang bị vũ khí bổ sung cho Đội Bắc Sơn làm nhiệm vụ bảo vệ và dẫn đường cho các cơ quan đầu não kháng chiến. Đội Bắc Sơn gồm 3 trung đội của tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, do đồng chí Lê Dục Tôn - một trong những người chỉ huy đầu tiên của Đội Cứu quốc quân II, trực tiếp làm Chính trị viên. Các đồng chí Hà Châm, Triệu Khánh Phương1 (Đều là cán bộ chỉ huy Cứu quốc quân trước đây) và một số cán bộ, chiến sĩ du kích xã Tràng Xá (Võ Nhai) được cử vào Đội Bắc Sơn làm nhiệm vụ liên lạc, văn thư, đánh máy...


Từ trung tuần tháng 11-1947, ta phán đoán "địch đã đánh hơi thấy Trung ương và Chính phủ ta chuyển về Võ Nhai nên có thể chúng sẽ táo bạo mở cuộc hành quân tập kích"2 (Lê Dục Tôn, Bảo vệ cuộc di chuyển của Trung ương từ Tràng Xá (Võ Nhai) đến Phú Minh (Đại Từ) - Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Thái Nguyên trong chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947", tr. 67); phối hợp với cánh quân từ Bắc Kạn đánh xuống Thái Nguyên, địch sẽ ném quân dù xuống các huyện Đại Từ, Võ Nhai, thị xã Thái Nguyên. Để đối phó với tình huống đó, từ ngày 17-11-1947, các cơ quan đầu não kháng chiến và các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ và quân đội ta lại di chuyển từ ATK Võ Nhai về ATK Định Hoá. Bác Hồ di chuyển từ làng Vang, xã Liên Minh, huyện Võ Nhai về xã Phú Đình, huyện Định Hoá.


Sau gần một tháng rưỡi tung quân lên Việt Bắc, ngoài việc đốt phá được một số kho tàng mà ta chưa di chuyển kịp và chiếm giữ được một vài nơi, quân Pháp không thực hiện được một mục tiêu cơ bản nào của cuộc tấn công. Chiếc ô chụp xuống Việt Bắc bị thủng nhiều mảng lớn. Cuộc hành binh Lê-a của Pháp cơ bản bị thất bại. Bộ chỉ huy Pháp quyết định chuyển sang thực hiện cuộc hành binh Xanh-tuya, kết hợp với việc rút lui tiến hành bao vây, càn quét khu vực tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Việt Trì - Phủ Lạng Thương, rộng hơn 8.000km2, nhằm tiếp tục "lùng bắt kỳ được cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bằng được chủ lực Việt Minh, phá nát căn cứ địa". Ngoài lực lượng chặn ta ở vòng ngoài, hướng càn quét chính của cuộc hành quân Xanh-tuya là Thái Nguyên, hai hướng khác là sông Thương - Yên Thế và Chợ Mới - Tuyên Quang xuống tới đồng bằng.


Tại Mặt trận Đường số 3, quân Pháp rút bỏ một số vị trí phía Bắc và Tây Bắc, tập trung lực lượng xuống Chợ Mới để chuẩn bị càn quét Thái Nguyên, hướng chủ yếu của kế hoạch Xanh-tuya. Sau khi thực hiện một loạt các hoạt động nghi binh, đêm 24-11-1947, từ Chợ Mới, 1 trung đoàn địch với khoảng 1,500 tên, bí mật hành quân theo đường số 3 xuống km 31, rẽ sang đường đi Chợ Chu (Định Hoá), lên chiếm đóng Phố Ngữ và Quán Vuông. Sáng hôm sau, từ Phố Ngữ và Quán Vuông, quân địch toả ra bao vây, càn quét, lùng bắt cán bộ, giết hại dân thường, cướp phá tài sản của nhân dân trong vùng. Từ Quán Vuông, quân địch càn lên chiếm đóng thị trấn và làm sân bay dã chiến ở cánh đồng Chợ Chu. Cũng sáng ngày 25-11, từ thị trấn Chợ Mới, 1 tiểu đoàn địch theo đường mòn qua Đồng Danh, làng Muồng càn vào các xã Tân Dương, Tân Thịnh ở phía Bắc huyện Định Hoá.


Ngày 26-11-1947, tại huyện Võ Nhai, địch cho máy bay ném bom, bắn phá và thả 1 tiểu đoàn dù (khoảng 500 quân) xuống chiếm đóng thị trấn La Hiên, khoảng 200 quân dù xuống đánh chiếm xã Tràng Xá. Tại huyện Đại Từ, địch huy động máy bay thả 400 quân dù xuống đánh chiếm làng Ngò (xã An Khánh) và khu Ba Gò (xã Cù Vân).


Tính đến chiều 26-11-1947, trên địa bàn các huyện Định Hoá. Đại Từ, Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên đã có khoảng 2.600 quân Pháp chiếm đóng (Định Hóa 1.500 tên, Đại Từ 400 tên. Võ Nhai 700 tên). Từ ngày 27-11, quân Pháp toả rộng ra càn quét, truy tìm lực lượng kháng chiến của ta. Cùng thời gian trên, từ cầu Đuống (Hà Nội), 1 trung đoàn bộ binh, do Ghi-rô chỉ huy, chia làm hai mũi: một mũi theo đường số 3, qua cầu Đa Phúc lên đánh chiếm thôn Phù Lôi, xã Thuận Thành; phố Thanh Xuyên, xã Trung Thành; làng Sơn Cốt, xã Đắc Sơn (huyện Phổ Yên); một mũi qua Phúc Yên, men theo sườn Tam Đảo lên đánh chiếm vùng tây nam huyện Đại Từ. Với đợt tấn công mới này, hàng nghìn quân Pháp đã toả ra chiếm đóng tới 32 điểm nằm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, quân và dân Thái Nguyên đã trực tiếp đương đầu với cuộc hành binh Xanh- tuya của địch. Ngày 25-11, tiểu đội du kích xã Tân Dương (Định Hoá) phục kích tại làng Muồng, chặn một tiểu đoàn địch từ thị trấn Chợ Mới càn quét vào vùng đông bắc huyện Định Hoá, buộc chúng phải vòng lên phía Bắc. Ngày 26-11, du kích các xã Tân Dương, Phượng Tiến phối hợp với tự vệ Nhà máy Trần Quốc Toản chặn đánh 1 đại đội địch từ Chợ Chu càn vào, diệt 7 tên khi chúng còn cách nhà máy 200m, buộc chúng phải rút lui. Tại Đồng Mon, tự vệ Nhà máy quân giới A4, phối hợp với du kích xã Đồng Thịnh, chặn đánh 1 đại đội địch từ Quán Vuông càn xuống, diệt 1 tên, bắn bị thương nhiều tên, buộc chúng phải rút lui, bảo vệ an toàn nhà máy.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2520



WWW
« Trả lời #79 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2021, 11:08:23 am »


Ngày 27-11, địch cho 1 tiểu đội bí mật tập kích vào Nhà máy Trần Quốc Toản, bị 1 tiểu đội bộ đội chủ lực phục kích, diệt 2 tên. Một cánh quân khác của địch càn vào các xã Kim Sơn, An Lạc, nhằm dò tìm lực lượng ta, cũng bị du kích địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực chặn đánh, buộc phải rút về Chợ Chu.


Sau 3 ngày liên tiếp tung quân đi càn quét ở Định Hóa không thu được kết quả, sáng ngày 28-11, địch tập trung lực lượng, tổ chức thành hai cánh quân càn quét từ Tây Bắc xuống Tây Nam huyện Định Hoá. Dân quân du kích các xã của huyện Định Hóa phối hợp với bộ đội chủ lực chặn đánh địch ở khắp nơi. Cánh quân thứ nhất của địch vừa xuất quân đã bị bộ đội và du kích các xã Phúc Chu, Đồng Thịnh, Yên Thông chặn đánh ở Khau Chan, Đồng Bén, Thẩm Rộc, Bãi Cọ, diệt và làm bị thương nhiều tên. Cánh quân thứ hai của địch cũng bị bộ đội và du kích ta chặn đánh liên tiếp. Trung đội du kích xã Trung Lương phục kích, đánh một trận táo bạo ngay trên mặt đường qua địa bàn xã, diệt và làm bị thương nhiều tên. Bị chặn đánh liên tiếp, hai cánh quân của địch bỏ kế hoạch gặp nhau tại Bình Yên. Chiều ngày 28-11, từ Bình Thành, quân Pháp tiếp tục chia làm hai mũi: một mũi càn thắng vào xã Phú Đình, một mũi càn sang thôn Điềm Mặc (Thanh Định). Quyết tâm bảo vệ căn cứ địa, các đơn vị bộ đội chủ lực và du kích huyện Định Hóa đã chặn đánh quyết liệt, chặn đứng cuộc tấn công của địch vào Phú Đình, diệt 10 tên. Đây là một trận đánh không lớn, số quân địch bị tiêu diệt không nhiều, nhưng có ý nghĩa to lớn, vì đã trực tiếp bảo vệ an toàn địa bàn của ATK. Trong trận đánh quyết liệt này, 8 cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực và du kích huyện Định Hóa đã anh dũng hy sinh. Cùng thời gian trên, mũi tiến công của địch lên Điềm Mặc, cũng bị Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 103 chặn đánh quyết liệt gần 1 giờ, diệt 10 tên và làm nhiều tên khác bị thương.


Bị chặn đánh quyết liệt, quân Pháp buộc phải quay lại xã Bình Thành. Hôm sau (29-11), quân Pháp càn xuống xã Phú Minh (Đại Từ). Tại quán Ông Già, chúng bị Tiểu đoàn Vũ Lăng phối hợp với trung đội du kích tập trung huyện Đại Từ chặn đánh, diệt 10 tên. Đại bộ phận quân địch phải quay lại Bình Thành, còn một bộ phận nhỏ tiếp tục càn xuống thôn Tảo Dương, xã Cảnh Thịnh (Đại Từ). Đêm 29-11, bộ đội chủ lực và du kích xã Bình Thành tập kích vào nơi trú quân của địch ở Quảng Nạp, tiêu diệt và làm bị thương hàng chục tên. Sáng hôm sau, quân Pháp phải cho máy bay hạ cánh bắt buộc xuống cánh đồng Quảng Nạp để chở xác những tên bị chết và những tên bị thương về Hà Nội. Vì số địch bị chết và bị thương quá đông, nên máy bay của chúng chỉ chở được những tên bị thương và xác những tên da trắng, còn xác của những tên da đen chúng đem ném xuống giếng để phi tang1 (Theo lời kể của cụ Tiến (lão du kích) hiện ở xã Bảo Cường, huyện Định Hóa).


Ngày 2-12-1947, từ Bình Thành, địch định vòng lên Quán Vuông đi ra km 31, theo đường số 3 về thị xã Thái Nguyên. Nhưng toán quân đi trước dò đường đến Phố Ngữ bị bộ đội chủ lực và du kích chặn đánh, phải quay lại Bình Thành rồi rút qua Phú Minh, về Hùng Sơn (Đại Từ).


Qua 10 ngày đánh phá vùng ATK Võ Nhai không thu được kết quả, ngày 7-12-1947, quân Pháp rút dần về Đồng Hỷ. Trên đường rút quân, địch bị bộ đội và du kích ta chặn đánh ở dốc Măng Đắng, Trại Táo, La Thông, Na Đành, tiêu diệt và làm bị thương hàng chục tên. Đêm 7-12, tiểu đội du kích xã Đồng Bẩm đã tập kích địch, giải vây an toàn cho số du kích bị địch bao vây ở Chùa Hang. Lực lượng dân quân, du kích huyện Đại Từ phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực đánh địch ở khắp nơi, gây cho chúng nhiều tổn thất.


Ngày 30-11, tại xóm Cây Thị, Đại đội Tô Văn (bộ đội chủ lực) đã chặn đánh 1 toán quân địch từ làng Ngò lên Hùng Sơn, diệt 15 tên. Cùng ngày, tại thôn Đông Lực, du kích xã Cảnh Thịnh chặn đánh 1 toán quân địch càn từ thôn Tảo Dương xuống xã Phú Minh, diệt 7 tên.


Trong hai ngày 3 và 4-12, du kích Đại Từ phối hợp với bộ đội chủ lực liên tiếp tấn công vào vị trí đóng quân của địch ở làng Ngò, diệt 2 tên. Tại quán Ông Già, Đại đội Việt Hổ phối hợp với 1 tiểu đội du kích địa phương chặn đánh quân địch từ Bình Thành (Định Hoá) rút xuống Phú Minh (Đại Từ), diệt 5 tên.


Trong ngày 5-12, tại Khôi Kỳ, Bình Khang, Bình Thuận và Hùng Sơn, dân quân du kích tổ chức chặn đánh và tập kích diệt 60 tên, làm nhiều tên khác bị thương, quân Pháp buộc phải cho máy bay xuống sân bay dã chiến ở Hùng Sơn để chở những tên bị chết và bị thương về Hà Nội.


Trong các ngày tiếp theo, quân và dân Thái Nguyên đã phối hợp với bộ đội chủ lực của Bộ liên tục tổ chức chặn đánh, tập kích vào các lực lượng địch, diệt và làm bị thương nhiều tên Pháp. Tiêu biểu là trận Nông Vụ (còn gọi là Đan Hạ), trung đội du kích tập trung huyện Phổ Yên nhờ thông thạo địa hình, 4 chiến sĩ đã nghi binh rút lui nhử địch vào xóm, rồi bất ngờ nổ súng đánh bật chúng trở lại để 9 du kích mai phục ở trên đồi phía ngoài xóm bắn xuống. Bị kẹp giữa hai làn đạn chéo cánh sẻ của ta, địch đã phải rút chạy, bỏ lại 15 xác chết. Đây là một trong những trận đánh đạt hiệu quả chiến đấu cao của dân quân du kích.


Trải qua gần một tháng trực tiếp đánh trả cuộc hành quân Xanh-tuya của địch, quân và dân Thái Nguyên đã nêu cao tinh thần yêu nước và cách mạng, độc lập tác chiến và phối hợp với bộ đội chủ lực đánh 123 trận lớn, nhỏ, tiêu diệt 490 tên địch và làm bị thương hơn 100 tên khác, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay, thu nhiều vũ khí và trang bị. Đặc biệt, đã góp phần bảo vệ an toàn tuyệt đối các cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến. Qua chiến đấu, lực lượng vũ trang Thái Nguyên đã lớn mạnh và thu được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến đấu, phát động rộng rãi "quần chúng chiến tranh" bảo vệ vững chắc căn cứ địa kháng chiến Trung ương và bảo vệ quê hương.


Bên cạnh các hoạt động chiến đấu, phục vụ chiến đấu, Thái Nguyên đã xuất bản các tờ báo "Tiếng loa”, "Thái Nguyên kháng chiến" để tuyên truyền tin chiến thắng trong nhân dân. Ủy ban tản cư, di cư đã tiếp nhận, giúp đỡ 15.000 người ở các tỉnh khác tản cư đến. Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh đã vận động nhân dân đóng thóc địa tô cho Quân nhu Cục để tiếp tế cho bộ đội chủ lực và trực tiếp nuôi dưỡng các đơn vị du kích tập trung. Ty y tế của tỉnh đã tự pha chế được một số thuốc thông thường để cấp phát cho nhân dân và phục vụ lực lượng vũ trang địa phương đánh giặc. Đặc biệt, nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đã thể hiện xuất sắc truyền thống yêu nước và cách mạng, một lòng trung thành với Đảng, với công cuộc kháng chiến của dân tộc. Trong Thu - Đông 1947, các vị trí đứng chân của các cơ quan Trung ương đều được giữ bí mật tuyệt đối. Khi bị địch chiếm đóng, không có người dân nào hiệp thông theo giặc.


Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã đánh bại mưu đồ của thực dân Pháp, chuyển cục diện của cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc Việt Nam sang một giai đoạn mới, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên.


Sáu mươi năm đã đi qua, hôm nay, trên con đường đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, trước những vận hội và thách thức, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Thái Nguyên nguyện không ngừng phát huy những truyền thống quý báu và đầy tự hào, cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM