Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 06 Tháng Tám, 2021, 01:11:10 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt  (Đọc 2890 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3277



WWW
« Trả lời #160 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2021, 02:16:08 pm »

Công bằng mà xét, đúng là kế hoạch nhảy dù Bắc Kạn đã giữ được "bí mật tuyệt đối tới phút cuối cùng" và do đó, đã "tạo được thế hoàn toàn bất ngờ" như chính Xa-lăng khoe trong hồi ký. Đích thân Xa-lăng cùng một tốp sĩ quan tham mưu cùng ngồi trên một chiếc Ca-ta-li-na của hải quân, tốc độ chậm nhưng hoạt động được nhiều giờ và có thể hạ cánh khan cấp xuống một bãi cỏ hoặc trên mặt nước khi cần kíp. Xa-lăng đã trực tiếp quan sát những đơn vị dù đầu tiên của Xô-va-nhắc (Sauvagnac) tiếp đất nhanh chóng, an toàn vì lực lượng phòng không của đối phương rất yếu và hầu như không kịp chống trả. Tới gần trưa ngày 7, Xa-lăng mới quay trở về Hà Nội nhưng trên vùng trời Bắc Kạn vẫn còn có chiếc Ca-ta-li-na thứ hai (và sau đó là chiếc thứ ba) luân phiên hoạt động như một trạm quan sát trên không và một "tổng đài" trung gian chuyển những báo cáo từ mặt đất về sở chỉ huy cuộc tiến công đặt ở Hà Nội. Từ trạm trung chuyên trên không này, Xa-lăng vừa về tới đại bản doanh ở Hà Nội thì nhận được một loạt bức điện của cơ trưởng Tan-guy, trên vùng trời Bắc Kạn chuyển về, báo tin đã "bắt được Hồ Chí Minh”. Vốn tính cẩn thận, Xa-lăng tuy rất mừng nhưng ra lệnh "kiểm tra kỹ". Bức điện trả lời khẳng định: "Hồ Chí Minh đang nằm trong tay chúng tôi. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đã bắt được Chủ tịch Chính phủ Việt Nam". Bức điện tiếp theo báo cáo: "Hồ Chí Minh đang đề nghị xin ngừng bắn". Rồi lại bức điện nữa: "Chúng tôi đang tiếp tục tiến quân. Đích thân tôi sẽ giải Hồ Chí Minh về Hà Nội".


Suốt đêm mồng 7, Xa-lăng hồi hộp theo dõi việc dọn dẹp sân bãi ở thị xã Bắc Kạn để chờ sáng rõ sẽ cho một máy bay đáp xuống đưa Hồ Chí Minh về Hà Nội. Nhưng sáng sớm ngày 8, Xa-lăng nhận được bức điện cấp báo: "Chúng tôi đang bị đánh trả. Yêu cầu tăng viện ngay". Không có một báo cáo nào nhắc đến Hồ Chí Minh nữa. Việc cần kíp của Xa-lăng là lệnh cho đơn vị dù, đáng lẽ nhảy xuống Chợ Đồn, phải chuyển sang nhảy xuống Bắc Kạn. Trong hồi ký, Xa-lăng cho biết đã phải lập ủy ban điều tra xét xử, tìm hiểu ai là thủ phạm đã "sáng tác" ra những bức "điện ma" nói trên, nhưng không có kết quả. Cuối cùng, cơ trưởng Tan-guy là người nghe điện, nhận điện, chuyến điện bị ghép vào tội "mắc bệnh hoang tưởng" và đưa về Pháp. Tuy nhiên, Y-vơ Gra lại cung cấp thêm nhiều chi tiết rất đáng chú ý. Thứ nhất là, ngay sau khi nhận được "tin mừng" từ Hà Nội gửi vào Sài Gòn, Cao ủy và Đô đốc hải quân Ba-tét (Battet) (tạm quyền Tổng chỉ huy thay Va-luy về Pháp báo cáo) lập tức bay ra Hà Nội. Trước khi ra sân bay, Đô đốc Ba-tét đã lệnh cho viên chỉ huy hải quân đưa một chiếc Thông báo hạm từ Hải Phòng ra vịnh Hạ Long dùng làm nơi "tạm giam” Hồ Chí Minh, vì sợ nếu giam giữ trên đất liền có thể du kích Việt Minh được nhân dân trợ giúp sẽ giải thoát cho lãnh tụ của mình. Khi tới sân bay Bạch Mai, cả Cao ủy lẫn Tổng chỉ huy đều "chưng hửng" và nổi cáu, đòi Xa-lăng phải tìm ra thủ phạm để nghiêm trị! Thứ hai là, Y-vơ Gra cho biết, trong trận nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn, quân Pháp đã bắt giữ được gần 100 công nhân, viên chức "trong đó có một bộ trưởng". Căn cứ vào tư liệu này, có thể nghĩ đây là cụ Nguyễn Văn Tố, Bộ trưởng không bộ, nguyên là Trưởng ban Thường trực Quốc hội, thông thạo tiếng Pháp. Một số người dân Bắc Kạn kể lại đã nhìn thấy cụ bị địch bắt. Rất có thể trong giờ phút nguy kịch, cụ đã tự nhận là Cụ Hồ để quân Pháp không lùng sục sâu thêm nữa.


Rất rõ ràng, qua những tiết lộ của Ra-un Xa-lăng, người trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân và Y-vơ Gra, với tư cách là một nhà nghiên cứu, ghi trên giấy trắng mực đen, mọi người đều thấy lực lượng tinh nhuệ, nhất là quân dù, mặc dù tiến công táo bạo, bất ngờ nhưng đã không thực hiện được mục tiêu cao nhất, lớn nhất, bao trùm nhất của Pháp là "tiêu diệt chính phủ kháng chiến, bắt giữ Chủ tịch Hồ Chí Minh". Còn hai gọng kìm đường thủy, do Com-muy-nan (Communal) chỉ huy và đường bộ, do Bô-phơ-rê (Beaufre) chỉ huy thì như thế nào? Xa-lăng cho biết, ngay từ ngày 7 tháng 10, liền sau khi quân nhảy dù xuống Bắc Kạn thì Trung tá Com-muy-nan đã có mặt trên tàu chỉ huy sẵn sàng ra lệnh xuất phát. Nhưng mấy hôm trước liên tiếp mưa to, nước sông Hồng dâng cao, tàu chiến của Pháp không thể chui qua gầm cầu Long Biên đi ngược dòng sông được. Mãi sáng ngày 9, tàu mới có thể khởi hành giữa lúc nước lũ vẫn tiếp tục tràn về và chỉ cách Hà Nội khoảng 15km, chiếc tàu lớn đã bị đắm cùng với gần một phần ba quân số. Đoàn tàu tiếp tục cuộc hành quân ngược dòng với hai phần ba quân số còn lại, mãi tới ngày 13 mới tới được Tuyên Quang, ngày 17, tức chẵn 10 ngày sau khi quân dù nhảy xuống Bắc Kạn, quân thủy mới tới được Chiêm Hoá. Dĩ nhiên, kế hoạch phối hợp tác chiến bị phá sản.


Xa-lăng cố tình không nói gì thêm về giai đoạn tiếp theo đối với quân thủy của Com-muy-nan, nhưng Y-vơ Gra đã "bổ sung" thêm bằng cách ghi nhận, khi đoàn tàu vừa tiến vào sông Thao đã vấp phải sự giáng trả của Việt Minh. Ngày 23-10, một đội tàu 5 chiếc bị phục kích, 1 tàu LCM bị đắm; 4 tàu còn lại bị chặn đầu, khoá đuôi, tiến lên không được, quay về cũng không xong.


Trên thực tế, đội tàu này đã bị Việt Minh vây chặt suốt 5 ngày. Đội tàu ứng cứu từ Hà Nội ngược lên, nhưng tiến rất chậm. Ngày 28, Bộ chỉ huy Pháp phải cho quân dù nhảy xuống giải vây. Ngày 31, đội tàu cứu viện từ Hà Nội mới tới. Ngày 2-11, hai đội tàu từ Tuyên Quang quay về, từ Hà Nội ngược lên mới gặp nhau. Y-vơ Gra nhận xét, như vậy là Việt Minh đã giam chân đoàn tàu của Com-muy-nan suốt 10 ngày.


Về tình hình đoàn quân bộ từ Lạng Sơn đi Cao Bằng rồi đến Bắc Kạn, Xa-lăng cho biết: "Từ ngày 4-10, tôi đã tới Lạng Sơn, báo riêng cho Thiếu tá Bô-phơ-rê phải cho quân bộ "phi thật nhanh" từ Lạng Sơn qua Cao Bằng đến Bắc Kạn tiếp ứng cho Xô-va-nhắc, đề phòng quân dù nhảy xuống Bắc Kạn gặp khó khăn. Bô-phơ-rê hứa sẽ thực hiện đúng". Ngay buổi tối ngày 7-10, Bô-phơ-rê đã lập tức tiến hành một cuộc hành quân đêm, xuất phát từ Lạng Sơn. Cánh quân của Bô-phơ-rê chia làm 5 đội, đội nào cũng có công binh đi trước sửa đường vì bị Việt Minh phá hoại từ khi chiến tranh bắt đầu bùng nổ. Cũng như phần viết về binh đoàn thủy của Com-muy-nan, Xa-lăng không viết gì thêm về số phận của đoàn quân bộ do Bô-phơ-rê chỉ huy. Một lần nữa, Y-vơ Gra lại bổ sung bằng cách ghi nhận: Đường số 4 bị phá hoại, cắt đứt nhiều đoạn. Để đi từ Lạng Sơn tới Bắc Kạn, binh đoàn của Bô-phơ-rê trên thực tế phải vượt qua một chặng đường dài 300km và nhiều lần đã bị chặn đánh. Việt Minh không đánh lớn nhưng đánh liên tục những trận nhỏ. Ngày 10, bộ phận đi đầu của Bô-phơ-rê mới tới Thất Khê, ngày 12 mới tới Cao Bằng. Thật ra thị xã này đã bị quân dù nhảy xuống chiếm lĩnh từ ngày 9 và thị xã đã được quân và dân ta tiêu thổ từ trước. Khi Bô-phơ-rê tới, thị xã hầu như bỏ trống. Mặc dù vậy, mãi tới ngày 15, binh đoàn Bô-phơ-rê mới tới được đèo Gió, cách Bắc Kạn những 50km. Y-vơ Gra cũng ghi nhận, do nhân dân Việt Bắc phá đường rất tích cực, cho nên nhiều đoạn công binh và bộ binh của Bô-phơ-rê phải đi trước san, sửa đường, xe tăng và xe bọc thép đáng lẽ phải đi đầu bắn phá mở đường thì lại đi sau, có đoạn mãi một tuần sau mới theo kịp bộ binh.


Ngày 17 tháng 11, tức 40 ngày sau khi tiến hành chiến dịch, chứ không phải 21 ngày như đã cam kết, Xa-lăng gửi điện báo cáo với Bô-la là "Chính phủ Việt Minh đã hoàn toàn tan rã, đang bị quét sạch, không còn hoạt động gì được nữa". Nhưng Y-vơ Gra lại thừa nhận: "Trên thực tế, Việt Minh đang củng cố lực lượng, nhiều đơn vị đang tập hợp lại và tập trung lại các điểm cao ngay chung quanh thị xã Bắc Kạn. Nhiều đơn vị chủ lực quan trọng của Việt Minh chưa bị đánh thiệt hại, vẫn còn tập trung tại nhiều khu vực từ Tuyên Quang đến Thái Nguyên. Ban 2, Bộ Tổng Tham mưu, tức cơ quan tình báo quân sự Pháp, ước lượng có tới gần 10.000 bộ đội chủ lực Việt Nam đóng tại các khu vực dọc theo tuyến đường thị xã Thái Nguyên đến thị trấn Nhã Nam thuộc Bắc Giang. Sau trận tiến công quy mô lớn, trong đó có trận nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn, tình báo Pháp nhận định Chính phủ kháng chiến Việt Minh có thể đã lùi xa hơn, sâu hơn vào "những khu rừng rậm bạt ngàn" ở phía Bắc. Nhưng chỉ ít lâu sau, cũng vẫn cơ quan tình báo Pháp, lại phát hiện thấy một số cơ quan Chính phủ Việt Minh không lùi xa lên phía Bắc theo quy luật mà lại chuyển về khu vực Thái Nguyên. Cuối cùng, như mọi người đều biết, Chính phủ kháng chiến Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã "dời đô" từ Bắc Kạn tới Thái Nguyên, gần Hà Nội hơn.


Dĩ nhiên, cả Ra-un Xa-lăng cũng như Y-vơ Gra và nhiều tướng lĩnh Pháp, với quan điểm lập trường thực dân xâm lược, chưa thể nói thật, nói hết những thất bại toàn diện của Pháp trong cuộc tiến công quy mô lớn đánh lên Việt Bắc mùa Thu năm 1947. Dù sao, những tiết lộ của họ, với những dẫn chứng cụ thể, ít nhiều đã khẳng định tất cả các mục tiêu mà Pháp đề ra trước khi tiến công là: tiêu diệt Chính phủ kháng chiến, bắt giữ Chủ tịch Hồ Chí Minh; tiêu diệt các căn cứ địa cách mạng của Việt Nam tại khu vực thượng du và trung du; tiêu diệt các lực lượng chủ lực đang còn trong trứng nước của Việt Nam; mở rộng địa bàn chiếm đóng của quân đội Pháp; khoá chặt đường biên giới phía Bắc Việt Nam... đều hoàn toàn không đạt được kết quả. Những tiết lộ này càng khẳng định thắng lợi to lớn của nhân dân và quân đội ta ngay trong năm đầu Toàn quốc kháng chiến.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3277



WWW
« Trả lời #161 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2021, 02:26:22 pm »

TƯỚNG XA-LĂNG THỪA NHẬN THẤT BẠI
TRONG VIỆC CHỤP BẮT CHÍNH PHỦ HỒ CHÍ MINH


Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN MẠNH HÀ
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Đến giữa năm 1947, hình thái chiến tranh ở chiến trường Việt Nam, cụ thế là ở Bắc Bộ, đã thể hiện hai tình thế khá rõ rệt. Một bên là quân Pháp đã mở rộng địa bàn chiếm đóng ra một số tỉnh, sau khi phá được vòng vây ở các thành phố, thị xã khi chiến tranh bùng nổ trên phạm vi cả nước hồi cuối tháng 12-1946. Giờ đây, những kẻ cầm đầu về chính trị, quân sự của Pháp ở Đông Dương và cả Pa-ri đang toan tính có một hành động quân sự mạnh mẽ để hoàn tất chủ trương chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh", vốn được đề ra từ tháng 9-1945, với thời gian vài tuần lễ, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được. Một bên là cuộc kháng chiến anh dũng của quân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chính phủ Hồ Chí Minh. Tuy phải rút khỏi các thành phố, thị xã, nhưng đây là sự rút lui chủ động, có kế hoạch, có bài bản để có thể tiếp tục đánh lâu dài. Quân và dân ta đã thực hiện thành công nghệ thuật mở đầu chiến tranh, nghệ thuật tác chiến trong đô thị và nghệ thuật chuyển cả nước vào chiến tranh một cách nhanh chóng để có thể đủ sức đương đầu với các cuộc tiến công của kẻ thù. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bước đầu thành công trong việc triển khai thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện để kháng chiến lâu dài. Có thể thấy rằng, tình thế giằng co giữa hai bên đã bắt đầu xuất hiện từ đây.


Để thực hiện mưu đồ sớm kết thúc chiến tranh, Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương là Va-luy đã đề xuất một ý tưởng - sau này được Chính phủ Pháp đồng ý và cho gấp rút chuẩn bị thực hiện, đó là mở cuộc hành binh quy mô lớn đánh thẳng lên căn cứ địa Việt Bắc, nơi các cơ quan đầu não của Việt Minh đang đứng chân và thành lập chính quyền tay sai để điều hành sau khi đã thủ tiêu được Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh.


Va-luy phân tích: lực lượng kháng chiến của ta đã được hình thành thành một khỏi thống nhất, có gắn kết với nhau về cơ cấu trên dưới và đã trải qua thử thách - "một cơ cấu hình chóp và dựa vào một lý tưởng có tác động trong quần chúng". Vì thế, theo Va-luy, nếu chỉ đánh vào cơ quan đầu não, nghĩa là "tách cái đáy của hình chóp ra khỏi đầu não" thì vẫn chưa giải quyết căn bản được vấn đề, vì "không thủ tiêu được lý tưởng". Muốn tách được cái đáy (nhân dân) ra khỏi hình chóp (Trung ương Đảng và Chính phủ Hồ Chí Minh), quân viễn chinh Pháp phải cần nhiều thời gian, lực lượng phương tiện - điều mà nước Pháp hiện giờ không thể đáp ứng". Để giải quyết vấn đề này, Va-luy đề xuất, về mặt chính trị, phải "lập nên một hình chóp khác, cũng tập trung, tổ chức theo thứ bậc và theo một lý tưởng để chống lại hình chóp của Việt Nam". Để phối hợp với hoạt động chính trị, về quân sự cần phải tập trung lực lượng để "phá hủy hình chóp thù địch bằng cách đánh vào đầu não của nó bằng việc tổ chức các cuộc thọc sâu để hủy hoại tiềm lực quân sự của nó".


Kể từ sau cuộc gặp giữa Pôn Muýt, đại diện của Cao ủy Pháp Bô-la với Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 5-1947 tại Thái Nguyên không thành công, do phía Pháp đưa ra những điều kiện ngang ngược, buộc ta phải hạ vũ khí, giờ đây Va-luy cương quyết cự tuyệt thương lượng với Chính phủ ta, chuẩn bị lực lượng đánh lên Việt Bắc nhằm giành thắng lợi quân sự, xúc tiến việc lập chính phủ tay sai. Kế hoạch tiến công dự kiến vào mùa Thu 1947 và giao cho tướng Xa-lăng trực tiếp chỉ huy.


Toàn bộ kế hoạch tiến công Việt Bắc đã được Hội đồng phòng thủ Đông Dương, họp ngày 9-6-1947 thông qua, nhằm "bịt kín biên giới, ngăn chặn không cho Việt Minh tiếp xúc với Trung Quốc... loại trừ mọi sự chi viện từ bên ngoài vào; truy lùng Việt Minh đến tận sào huyệt, đánh cho tan tác mọi tiềm lực kháng chiến của họ"1 (R.Salan, Hồi ký, Nxb Presses de la Cité, Paris, 1971, Tập 2, tr. 58, 74, (bản dịch tiếng Việt)).


Ngày 10-9-1947, tại thị xã Hà Đông, Cao ủy Bô-la tuyên bố không công nhận Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh, không công nhận nền độc lập của Việt Nam và bóng gió đề cập đến một cuộc tiến công quân sự - lúc đó đã được Pháp bí mật chuẩn bị một cách ráo riết.


Ngay sau đó, vạch trần âm mưu và hành động chiến tranh của thực dân Pháp, ngày 15-9-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra liên tiếp hai chỉ thị "Bô-la nói gì - ta phải làm gì?" và "sửa soạn phá những cuộc tấn công lớn của địch", nhắc nhở quân và dân ta phải tích cực chuẩn bị để đối phó với cuộc tiến công Thu - Đông của giặc, đề phòng chúng có thể "đánh xuyên mũi dùi, đánh vòng thật rộng, nhảy dù đổ bộ sau lừng ta"1 (Văn kiện quân sự của Đảng, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 208).


Tiếp đó, Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4 (từ 27 đến 29-9-1947) cũng nhận định: thực dân Pháp "có thể mưu đồ cuộc đại tấn công vào Việt Bắc", rằng "nếu mạo hiểm thì chúng sẽ đánh Việt Bắc... Tấn công Việt Bắc, chúng sẽ chiếm các tỉnh Phúc Yên, Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, nối liền đường Hà Nội - Lạng Sơn...".


Như vậy, qua các văn kiện nêu trên, ta thấy Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng chỉ huy đều đã có phán đoán âm mưu và hành động của địch, dự kiến địch có thể đánh lên Việt Bắc và đã lệnh cho các tỉnh thuộc Việt Bắc chuẩn bị đối phó, ưu tiến công tác "tiêu thổ kháng chiến", làm "vườn không nhà trống", đắp ụ chướng ngại trên các con đường, cắm chông trên các bãi đất trống đề phòng địch nhảy dù... Tất nhiên, trong công tác chuẩn bị này, việc giữ bí mật, phương án di chuyển các cơ quan đầu não kháng chiến cũng đã được đặt ra khi có tình huống địch tấn công lên. Vấn đề chỉ là ta chưa nắm được cụ thể ngày giờ, địa điểm địch mở cuộc tiến công.


Về phía Pháp, không phải đến lúc vạch ra kế hoạch tiến công lên Việt Bắc, Bộ chỉ huy Pháp mới có ý định dò tìm nơi đứng chân của các cơ quan đầu não kháng chiến của ta, đặc biệt là chỗ ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo một số tài liệu, ngay trong năm 1946, trước khi nổ ra Toàn quốc kháng chiến, cơ quan Phòng Nhì của Pháp đã có kế hoạch theo dõi nơi ăn, ở, sự di chuyển của một số đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Chính phủ ta, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính vì thế, các cơ quan đầu não và một số đồng chí lãnh đạo của ta đã phải liên tục di chuyển, bí mật thay đổi chỗ ở, làm việc để đánh lạc hưởng địch, đảm bảo an toàn.


Ngay từ trước ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Bộ Quốc phòng... đã rời khỏi nội thành Hà Nội, chuyển ra các địa phương ở phía tây nam Thủ đô. Bộ chỉ huy Pháp vẫn tiếp tục theo dõi sát quá trình di chuyển này. Việc phái viên của Cao ủy Bô-la là Pôn Muýt lên Thái Nguyên gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 5-1947, cũng một phần nhằm xác định vị trí đứng chân của các cơ quan đầu não và của các đồng chí lãnh đạo của ta. Ngoài ra, có cán bộ của ta, do không chịu được khó khăn gian khổ, đã "dinh tê" (rời bở hàng ngũ kháng chiến, trở về Hà Nội), khai báo cho địch biết đường di chuyển của các cơ quan đầu não từ Hà Nội lên đến An toàn khu (ATK) ở Thái Nguyên, lên Bắc Kạn, Tuyên Quang... Đó là những cơ sở để Bộ chỉ huy Pháp lên kế hoạch "chụp bắt Chính phủ Hồ Chí Minh", coi đó là một mục tiêu quan trọng nhất của cuộc tiến công.


Sáng ngày 7-10-1947, binh đoàn quân dù, do trung tá Xô-va-nhắc chỉ huy, đã khởi đầu cuộc tiến công lên Việt Bắc bằng việc nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn và thị trấn Chợ Mới. Đồng thời, cánh quân đi đường bộ, do Bô-phơ-rê xuất phát từ Lạng Sơn, theo đường số 4 tiến lên Cao Bằng. Cánh quân đi đường thủy, do Com-muy-nan chỉ huy, xuất phát từ Hà Nội muộn hơn, vào ngày 9 tháng 10, do nước sông lên to, tàu chiến không thế chui qua gầm cầu Long Biên, tiến lên Phú Thọ được.


Việc cánh quân dù của thực dân Pháp đố bộ vào sâu trong căn cứ địa Việt Bắc, bước đầu có gây cho ta bất ngờ, vì ta không dự đoán địch có thể táo bạo thọc sâu vào khu vực trung tâm Việt Bắc như vậy. Cho đến bây giờ, những sách báo, tài liệu được công bô công khai chúng tôi được biết, cũng chưa đề cập rõ việc cơ quan tình báo Pháp biết đến mức độ nào địa điểm đứng chân của các cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Chúng tôi cũng chỉ được biết rằng, vào lúc quân Pháp nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn, ở khu vực này có mặt đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư - vừa đến đây công tác vào đêm hôm trước (6-10), có cụ Nguyễn Văn Tố, nguyên là Trưởng Ban thường trực Quốc hội (Chủ tịch Quốc hội bây giờ), lúc đó là Bộ trưởng không bộ trong Chính phủ thành lập ngày 3-11-1946; Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái... Trong cuộc nhảy dù bất ngờ này, quân Pháp đã bắt được một số cán bộ, nhân dân ta, trong đó có cụ Nguyễn Văn Tố.


Ra-un Xa-lăng, người được giao trọng trách làm phó tướng cho Lơ-cle, Tổng chỉ huy đầu tiên đội quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, đã từng có dịp tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi hai bên ký Hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp ngày 6-3-1946, từng cùng đi với Người trong chuyên thăm chính thức nước Pháp từ cuối tháng 5-1946, giờ đây đảm nhận chức vụ chỉ huy quân Pháp ở Bắc Đông Dương, là viên tướng trực tiếp vạch kế hoạch và chỉ huy cuộc tiến công Việt Bắc của 12.000 quân Pháp. Vì thế, Xa-lăng khá am hiểu tình hình Việt Nam và phần nào tính cách, thói quen của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3277



WWW
« Trả lời #162 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2021, 02:27:07 pm »

Dưới đây là câu chuyện thú vị và bí ẩn liên quan đến Xa-lăng, khi ông ta trực tiếp chỉ huy cuộc tiến công lớn nhất, kể từ đầu chiến tranh, lên căn cứ địa Việt Bắc nhằm chụp bắt Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí của Người, mà Xa-lăng đã ghi lại trong Hồi ký, xuất bản năm 1971 tại Pháp, 24 năm sau khi xảy ra sự kiện trên.


Xa-lăng viết trong Hồi ký: "Để trực tiếp theo dõi, đôn đốc cuộc hành quân, tôi đã sử dụng một chiếc máy bay loại nhẹ của hải quân. Đây là chiếc Ca-ta-li-na, tốc độ vừa phải nhưng bay được lâu, có bố trí nhiều thiết bị thông tin để có thể duy trì liên lạc thường xuyên với các đơn vị dưới mặt đất".


Binh đoàn quân dù của Xô-va-nhắc bắt đầu nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn lúc khoảng 8 giờ sáng ngày 7-10-1947. Chừng 3 tiếng đồng hồ sau, vào lúc 11 giờ trưa, Xa-lăng nhớ lại: khi chiếc máy bay của ông ta đang bay trên vùng trời Bắc Kạn, thì nhận được bức điện báo đầu tiên của chỉ huy Binh đoàn Xô-va-nhắc từ dưới đất đánh lên với nội dung: đơn vị nhảy dù đầu tiên cỡ chừng một đại đội đã chiếm được bệnh viện tỉnh, kho bạc, nhà máy điện. Quân dù đang toả ra đánh chiếm các vị trí trong thị xã, phát hiện ra nhà xe và kho hàng của nhà buôn người Hoa. Cuộc hành quân đang diễn ra thuận lợi, chỉ có một vài lính bị thương trong khi quân địch (tức Việt Minh) hoàn toàn bị bất ngờ... Những thông tin trên khiến Xa-lăng rất phấn khích. Xa-lăng càng phấn khích hơn khi viên thiếu tá Hắt-xơn, phụ trách điện đài trên chiếc máy bay Ca-ta-li-na, lại chuyển tới một bức điện, nhận được lúc 11 giờ 10 phút, có nội dung: "Binh đoàn S gửi Tổng tư lệnh, nhờ chuyển gấp về Hà Nội. Chúng tôi đã tóm được Chính phủ Việt Minh".

Tiếp tục sau đó có tới 4 bức điện từ dưới đất gửi lên, khẳng định đã bắt được Chính phủ Hồ Chí Minh sau khi Xa-lăng bán tín bán nghi yêu cầu phải kiểm tra lại tính xác thực của thông tin. Các bức điện có những câu như: Đúng rồi. Không nghi ngờ gì nữa; tôi có một bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đúng rồi. Không nghi ngờ gì cả. Chúng tôi vẫn tiếp tục hành quân. Tôi sẽ cho giải Hồ Chí Minh về đại bản doanh. Xa-lăng viết trong Hồi ký: "Mới đầu tôi rất ngạc nhiên và vui sướng. Cả Hắt-xơn và Lu-kê (viên đại úy, trưởng ban 3) cùng đi với tôi cũng rất mừng. Nhưng rồi chúng tôi suy nghĩ và tự hỏi: có đúng không? và nếu đúng thì quả là tuyệt.


Tôi quyết định quay trở về Hà Nội. Dù hãy còn đôi chút dè dặt, tôi thấy vẫn phải báo cáo với Tổng cao ủy là người đại diện Chính phủ Pháp. Tôi tự nhủ, tôi không có quyển giấu giếm những bức điện này, mặc dù trong ý nghĩ, tôi thấy nó vẫn khó hiểu".


Tuy nhiên, sự việc đã diễn biến theo chiều hướng mà Xa-lăng không mong đợi, khi sáng hôm sau, 8 tháng 10, ông ta nhận được điện cầu cứu của binh đoàn quân dù từ Bắc Kạn, do tổng đài Hà Nội chuyển tới: "Tăng viện gấp. Chúng tôi đang bị đánh". Bức điện "đã làm tôi lo ngại. Tôi vội lệnh cho trung tá Đờ-la-bôm chuyển ngay tiểu đoàn dù đang chuẩn bị nhảy xuống Bắc Kạn để tăng viện cho Xô-va-nhắc. Nhưng sau đó binh đoàn quân dù vẫn liên tiếp gửi điện về cầu cứu. Tôi lại phải cho thêm một tiểu đoàn dù nữa của Phô-xây nhảy xuống Bắc Kạn, đáng lẽ theo kế hoạch thì tiểu đoàn này nhảy xuống Chợ Đồn. Và rồi tôi lại nhận được một bức điện hoàn toàn ngược lại, cũng vẫn do binh đoàn quân dù chuyển về: "Đề nghị ngài ra lệnh phóng thích cho tôi để tôi được thương lượng với ngài về ngừng bắn... Ký tên Hồ Chí Minh". Quả là kỳ lạ và không thể tin được. Trong thâm tâm, Xa-lăng cay đắng biết rằng mình đã bị lừa. Nhưng sự việc đã quá muộn bởi Xa-lăng đã "vội vã" thông báo "chiến công" này cho Cao ủy Bô-la và Đô đôc Ba-tét ở trong Sài Gòn.


Nhận được báo cáo, Bô-la và Quyền Tổng chỉ huy Ba-tét (tạm thay Va-luy) bỏ mọi việc bay ngay ra Hà Nội. Chiếc Da-ko-ta hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm. Xuất hiện trên cửa cầu thang máy bay, hai viên chỉ huy chính trị, quân sự cao nhất Đông Dương tỏ ra hả hê vì chiến tích của cấp dưới. Họ không hề biết rằng Xa-lăng đang rối bời vì không biết phải xử trí ra sao. Nhưng cuối cùng, theo kỷ luật nhà binh, Xa-lăng đã đứng chào và báo cáo: Chúng tôi đã bị lừa.


Sau khi hiểu rõ sự tình, cả Cao ủy và Quyền Tổng chỉ huy ngay lập tức quay gót, lên máy bay trở lại Sài Gòn, sau khi Ba-tét tuyên bố: kẻ chịu trách nhiệm về việc này sẽ bị xử bắn. Trong lịch sử chiến tranh, có lẽ rất hiếm có trường hợp như vậy, nhất là trong điều kiện trang bị kỹ thuật của Pháp đã khá hiện đại và nhanh chóng.


Theo lệnh của Đô đôc Ba-tét, một ủy ban điều tra đã được lập ra. Kẻ giơ đầu chịu báng không phải là Xa-lăng, mà là viên sĩ quan phụ trách điện đài trên chiếc máy bay Ca-ta-li-na. Các cuộc thẩm vấn đã diễn ra trong nhiều ngày mà không được đưa lại một chứng cứ nào để có thể giải thích thoả đáng sự kiện ly kỳ đã diễn ra.


Trong hồi ký của mình, hoặc là để lẩn tránh trách nhiệm, hoặc là không muốn phơi bày nội vụ sự việc "xấu chàng hổ ai" này, nên Xa-lăng đã không đề cập cụ thê nội dung các cuộc thẩm vấn. Xa-lăng chỉ viện dẫn kết luận tạm thời của Ủy ban điều tra coi viên sĩ quan phụ trách điện đài bị hoảng loạn tâm thần hoặc đây là "tác phẩm của kẻ thứ ba?!". Quả là một bí ẩn của lịch sử.


Cuối tháng 12-1947, bằng chiến dịch phản công rộng khắp, có kế hoạch, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tiến công của thực dân Pháp. Chính phủ kháng chiến của Hồ Chí Minh vẫn được bảo toàn.


50 năm sau, vào năm 1997, nhân chuẩn bị kỷ niệm 50 năm chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, chúng tôi có đề nghị Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết bài cho Hội thảo khoa học về chiến thắng Việt Bắc. Nhân cuộc gặp mà Đại tướng dành cho chúng tôi tại khu biệt thự Hồ Tây, tôi có đem sự kiện nêu trên trong hồi ký của Xa-lăng hỏi. Đại tướng nghe xong, cười nói: Lúc đó chúng ta làm gì có phương tiện kỹ thuật điện đài hiện đại để mà lừa được Pháp. Có thể là quân Pháp ở dưới đất bắt được cụ Nguyễn Văn Tố lại tưởng nhầm là Hồ Chí Minh chăng? Còn Bác Hồ lúc đó không ở Bắc Kạn.


Đồng chí Tạ Quang Chiến, nguyên là người đi bảo vệ Bác Hồ (là một trong tám người được Bác đặt tên Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi), sau này là Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao, trong cuộc Hội thảo tại Thái Nguyên (12-1997), cũng nói rằng: Trong suốt thời gian quân Pháp đánh lên Việt Bắc, Bác Hồ đã sáu lần di chuyển nơi đứng chân để đảm bảo an toàn, bí mật.


Đồng chí Lê Dục Tôn, người được giao phụ trách việc di chuyển các cơ quan Trung ương trong thời kỳ diễn ra chiến dịch Việt Bắc, cũng viết trong hồi ký về quá trình di chuyển các cơ quan này một cách an toàn, tránh được các cuộc tấn công, càn quét của địch.


Như vậy, có thể khẳng định, mặc dù có bất ngờ ban đầu nhưng các cơ quan đầu não kháng chiến và các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Chính phủ ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có tinh thần cảnh giác, có kinh nghiệm giữ bí mật, an toàn trong mội hoạt động, nên quân Pháp không dễ gi theo dõi, "chụp bắt" như âm mưu chúng đề ra.


Chỗ đứng chân, ăn ở, làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sau này đã được chính Người đúc kết thành yêu cầu trong mấy câu thơ dễ đọc, dễ nhớ. Đó là phải: Trên có núi, dưới có sông; Tiện đường sang Bộ Tổng; Thuận lối tới Trung ương; Nhà thoáng ráo, kín mái; Gần dân không gần đường.


Sau 75 ngày tung những đơn vị tinh nhuệ nhất tiến công lên căn cứ địa Việt Bắc với mục tiêu chủ yếu là tiêu diệt, phá vỡ hình "chóp" - tức cơ quan đầu não kháng chiến, thực dân Pháp đã buộc phải rút đại bộ phận lực lượng khỏi Việt Bắc mà không thực hiện được kế hoạch đề ra. Đây là thất bại nặng nề nhất của quân Pháp kể từ đầu cuộc chiến tranh bởi Chính phủ kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những vẫn được bảo toàn, mà còn vững vàng, có nhiều kinh nghiệm hơn trong lãnh đạo, chỉ đạo cuộc chiến đấu của quân dân Việt Bắc và cả nước. Có thể nói đây là lần thứ hai thực dân Pháp âm mưu chụp bắt, vô hiệu hoá Chính phủ Hồ Chí Minh (lần thứ nhất vào cuối tháng 12-1946, trước khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ), nhưng bị thất bại. Từ sau Thu - Đông 1947 cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp (7-1954), thực dân Pháp không đặt ra và không thể thực hiện được âm mưu xoá bỏ chính phủ kháng chiến duy nhất của nhân dân Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Đây là thắng lợi to lớn, rất có ý nghĩa của ta nếu đem so sánh với 20 chính phủ của Pháp ở Pa-ri đã bị đổ mà lý do chủ yếu là do cuộc chiến tranh ở Đông Dương từ 1945-1954.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3277



WWW
« Trả lời #163 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 02:29:24 pm »

CHIẾN THẮNG VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947 VỚI VIỆC XÂY DỰNG KHU VỰC PHÒNG THỦ TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 1


Thiếu tướng VI VĂN MẠN
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính ủy Quân khu 1


Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời (2-9-1945), dã tâm muốn "cướp nước ta một lần nữa" của thực dân Pháp ngày càng lộ rõ. Với sự sáng suốt và tầm nhìn xa trông rộng, cùng với nỗ lực "chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm", Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược trên quy mô toàn quốc. Là nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố để xây dựng căn cứ địa kháng chiến của cả nước, Việt Bắc được chọn là nơi đặt đại bản doanh của Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng chỉ huy - trung tâm đầu não lãnh đạo, chỉ huy cả nước kháng chiến. Nhận rõ hậu phương vững chắc là nhân tố thường xuyên quan trọng góp phần quyết định thắng lợi trong chiến tranh chống kẻ thù có tiềm lực mọi mặt mạnh hơn ta; trước ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử các đồng chí trong Trung ương Đảng như Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh trực tiếp chỉ đạo củng cố, xây dựng căn cứ địa ở Việt Bắc.


Từ tháng 3-1947, các cơ quan Đảng. Chính phủ, Mặt trận, quân đội, cùng hàng chục vạn đồng bào từ các đở thị ở đồng bằng đã được sơ tán lên Việt Bắc. Các công binh xương, xí nghiệp, nhà máy, trường học cũng lần lượt chuyển lên căn cứ địa, phân tán ra các vùng để tiếp tục sản xuất, học tập, phục vụ công cuộc kháng chiến. Hàng vạn tấn gạo, muối, vải... cũng được chuyển lên để đáp ứng cho kháng chiến lâu dài. Thị xã Bắc Kạn và một số địa điểm như Điềm Mạc, Phú Đình, Định Biên, Yên Thông (Định Hoá - Thái Nguyên) được chọn làm nơi làm việc của Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng chỉ huy. Các huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), Chiêm Hoá, Sơn Dương (Tuyên Quang), Định Hoá, Đại Từ (Thái Nguyên) được xác định là vòng trong của An toàn khu (ATK). Việt Bắc lúc này đã thực sự chuẩn bị chuyển vào thời kỳ có chiến tranh, sẵn sàng chấp nhận cuộc đổì đầu lịch sử, lâu dài, gian khổ, ác liệt, nhưng với quyết tâm nhất định giành thắng lợi hoàn toàn.


Tại Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 3 (6-1947), Đảng ta đã dự đoán trước được ý đồ của giặc Pháp có thể mở cuộc "đại tiến công vào Việt Bắc" nên đã tích cực triển khai mọi công việc chuẩn bị chiến đấu. Về lực lượng trực tiếp cầm súng có 7 trung đoàn bộ binh, tổng cộng có 18 tiểu đoàn chủ lực, 30 đại đội độc lập, 4.228 dân quân du kích tập trung; ngoài ra còn có lực lượng tự vệ của các thị xã, thị trấn, công xưởng. Nhiều địa phương cấp xã có từ 1-2 trung đội dân quân vệ; huyện có từ 1-2 trung đội, tỉnh có từ 1-2 đại đội du kích thoát ly sản xuất. Từ Khu tới các tỉnh đều thành lập các "Ban phá hoại” để chỉ đạo bộ đội địa phương và dân quân tự vệ cùng nhân dân phá hủy các công trình kiên cố, cầu, đường; đào sẵn các hố chôn mìn, cắm chông tại các nơi địch có thể qua lại; bố trí lực lượng phòng thủ, làm trận địa giả, nghi binh... Các tỉnh, huyện, xã cũng tích cực, khẩn trương củng cố, tổ chức căn cứ kháng chiến. Tại đây, nếp sống thời chiến được vận dụng hàng ngày; hệ thống giao liên giữa các xã với trên được thiết lập; nhân dân dùng trông mõ, tù và làm phương tiện báo động; các cấp bộ đảng, chính quyền được củng cố, kiện toàn vững chắc. Công tác bảo vệ an toàn căn cứ được chú trọng: Dân quân đặt các trạm kiểm soát, canh gác tuần tra ở những nơi xung yếu. Công tác tiễu phỉ, trừ gian được triển khai tích cực, nhiều tụ điểm tình báo, các tổ chức phản động bị ta bắt và phá rã. Nhân dân được tuyên truyền giáo dục về ý thức cảnh giác, giữ bí mật, thực hiện "ba không". Đồng bào đã coi việc bảo vệ các cơ quan Đảng và Nhà nước là trách nhiệm và vinh dự, tự giác chấp hành nghiêm những quy định cụ thể. Khẩn trương thu hoạch vụ mùa, cất giấu lương thực, thực phẩm, thực hiện "Vườn không, đồng vắng"; tài sản được chuẩn bị sơ tán vào rừng sâu. Cán bộ, nhân viên cơ quan nhà nước thực hiện nếp sống quân sự hoá, tài liệu, đồ đạc ở nơi sinh hoạt, làm việc gọn gàng, sẵn sàng di chuyển, sơ tán khi chiến sự diễn ra.


Ngày 15-9-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Bô-la nói gì? - ta phải làm gì?” và "sửa soạn phá những cuộc tiến công lớn của địch". Sau khi vạch trần âm mưu của thực dân Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã nhắc nhở quân dân cả nước phải tích cực chuẩn bị đối phó với cuộc tiến công Thu - Đông của giặc; ra sức làm vườn không, nhà trống, lập làng chiến đấu và mở rộng tuyên truyền vận động binh lính địch... Hậu phương cũng phải ra sức chuẩn bị, vì địch có thể "đánh xuyên mũi dùi, đánh vòng thật rộng, nhảy dù đổ bộ sau lưng ta". Tại Hội nghị quân sự lần thứ 4 (cuối tháng 9), Đảng đề ra chủ trương: nắm vững bộ đội, giữ gìn chủ lực; kiên quyết tiêu diệt từng bộ phận quân địch, "bảo vệ căn cứ, không cố thủ", phá tan âm mưu lập ngụy quyền của địch. Mệnh lệnh của Bộ Tổng chỉ huy gửi cho các Khu, ngày 4-10, đã chỉ rõ âm mưu địch đánh lên Việt Bắc nhằm cô lập Việt Nam với quốc tế; phá căn cứ địa và đầu não kháng chiến, tiêu diệt chủ lực ta; khủng bố, đè bẹp tinh thần và lực lượng kháng chiến... làm cho Việt Bắc kiệt quệ, hết phương tiện duy trì kháng chiến. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy Khu 1 và Khu 12 xác định nhiệm vụ của Việt Bắc là: bảo tồn chủ lực, lập nhiều căn cứ, cản đường địch tiến nhưng không cố thủ; phát động du kích chiến tranh, bám lấy địch và tập trung lực lượng, đánh vận động tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; phá hoại, tiêu thổ tất cả các cơ sở hạ tầng trên đường địch tiến công, không cho chúng lợi dụng; phân tán, sơ tán các cơ sở sản xuất của ta, tránh sự tàn phá của địch.


Sáng ngày 7-10-1947, địch mở màn cuộc tiến công chiến lược lên Việt Bắc bằng sự liều lĩnh ném 2 tiểu đoàn dù xuống thị xã Bắc Kạn. Sau đó, chúng liên tiếp ném quân dù xuống phía nam và phía tây thị xã (Chợ Mới, Cao Kỳ, Chợ Đồn) hòng chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Cũng trong thời gian này, "hai gọng kìm" phía tây của địch (ngược sông Hồng, sông Lô và theo đường số 2 lên Tuyên Quang...), phía đông (theo đường số 4 từ Đình Lập - Lạng Sơn lên Cao Bằng, rồi theo đường số 3 xuống Bắc Kạn) bắt đầu siết lại. Đồng thời, chúng tiếp tục tung quân dù xuống một số nơi như Na Sầm (Lạng Sơn), thị xã Cao Bằng để hỗ trợ cánh quân bộ trên đường số 4. Giặc Pháp dự định lấy Đài Thị (Chiêm Hoá, Tuyên Quang) làm hợp điểm các cánh quân để ăn mừng thắng lợi. Mặc dù có gây cho ta bất ngờ và một số thiệt hại ban đầu, nhưng cơ bản quân Pháp đã bị rơi vào thế "thiên la, địa võng" của núi rừng Việt Bắc. Quân dù bị bao vây, kiềm chế và tiêu hao hầu như không phát triển được. Quân bộ bị bám đánh, bị cản trở giao thông, phải bỏ xe hành quân bộ với lừa, ngựa thồ. Quân thủy cũng mình đầy thương tích mới tới được thị xã Tuyên Quang. Các cánh quân địch tiến công đều bị chậm so với dự kiến từ 5 đến 7 ngày và bị tiêu hao, mệt mỏi, tinh thần sa sút. Âm mưu, thủ đoạn tiến công của quân Pháp đã lộ rõ, tham vọng của chúng đứng trước nguy cơ bị phá sản.


Ngày 15-10, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị: "Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp". Cùng ngày, Bộ Tổng chỉ huy xác định nhiêm vụ: "phải làm cho cuộc tiến công ở đây thành cuộc chiến đấu của toàn dân, không có phân biệt tiền phương, hậu phương". Phương châm chỉ đạo tác chiến "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" đã được triển khai. Trên các mặt trận đều có sự bố trí điều chỉnh lại lực lượng. Với chủ trương này, ta đã vừa phát động được, chiến tranh nhân dân, liên tục đánh địch một cách rộng khắp, vừa tạo được những trận tiêu diệt (quy mô tác chiến cỡ tiểu đoàn) đánh cho địch những đòn chí mạng như Chợ Mới (đêm 15-10), bến Đoan Hùng (24-10), đèo Bông Lau (30-10)... Những thắng lợi của ta đã củng cố niềm tin cho nhân dân vào khả năng của bộ đội và dân quân tự vệ, đẩy sâu quân địch vào thế bị động. Sau khi bị đánh trên 200 trận, đồng thời liên tục bị tiêu hao lực lượng, cuộc tiến công chiến lược của địch bước đầu thất bại, không đạt được mục tiêu đề ra.


Ngày 20-11, Bộ chỉ huy Pháp hạ lệnh rút một phần lực lượng và chuyển sang kế hoạch bình định, chiếm đóng hòng bám sâu trong lòng Việt Bắc. Nắm được âm mưu địch, ta đã kịp thời điều chỉnh lực lượng, chuyển hoá thế trận sang tiến công, truy kích địch. Hầu như quân địch tới đâu cũng bị lực lượng ta bám đánh. Mỗi người dân Việt Bắc, từ các cụ phụ lão, chị em phụ nử đến các em thiếu niên, đều có thế diệt giặc ngay trong làng bản, ruộng nữơng, quê hương mình. Bộ đội chủ lực, cùng với bộ đội địa phương kết hợp với dân quân tự vệ liên tục tổ chức phục kích trên mỗi chặng đường giặc qua trên các quốc lộ 3, 4, 37 (Đèo Giàng, Bằng Khẩu, Lũng Vài - Bố Củng, Đèo Khế...). Trên các tuyến đường liên huyện, đường mòn, các cánh rừng Định Hoá, Chợ Mới, Đại Từ, Võ Nhai, khu vực lân cận thị xã Thái Nguyên... cũng ngổn ngang xác giặc. Đặc biệt, quân và dân Bắc Kạn đã chủ động tập kích các đồn ở Phủ Thông, Nà Phặc, gây tác động mạnh tới tinh thần binh lính địch, tuy đóng trong vị trí có công sự vững chắc, với hàng rào bao quanh mà vẫn không tránh khỏi bị tiêu diệt.


Trải qua hai tháng rưỡi liên tục chiến đấu, quân và dân Việt Bắc đã góp phần quan trọng đập tan cuộc tiến công chiến lược bằng hải, lục, không quân của thực dân Pháp. Việt Bắc đã trở thành "mồ chôn" quân xâm lược. Cơ quan đầu não kháng chiến và tiềm lực mọi mặt của ta cơ bản được bảo toàn, lực lượng vũ trang (LLVT) ta đã có những bước trưởng thành trong tác chiến... Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã củng cố mạnh mẽ ý chí chiến đấu, củng cố niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến giữ nước anh dũng của nhân dân ta.


Nhìn lại quá trình chuẩn bị và diễn biến của chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947, chúng ta có thể liên tưởng như một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) thu nhỏ với đầy đủ các yếu tố. Đặc biệt thể hiện tính kế thừa truyền thống đánh giặc ngàn năm của cha ông, đồng thời mang đậm những quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí minh trong thời đại mới.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3277



WWW
« Trả lời #164 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 02:31:33 pm »

Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá, vận dụng một cách thiết thực vào nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân và khu vực phòng thủ (KVPT) địa phương vững chắc trên địa bàn Quân khu trong tình hình mới, trên một số nội dung sau:

1. Sự nghiệp xây dựng đất nước luôn gắn liền nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chống mọi biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác

Thấm nhuần quan điểm của Lê-nin: "Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn!" ngay sau khi giành được độc lập cho đất nước, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định phải chuẩn bị căn cứ địa để sẵn sàng chống sự xâm lăng của kẻ thù. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những tư tưởng "đại hậu phương chủ nghĩa", cho rằng quân Pháp không thể đánh sâu lên Việt Bắc; cũng như không triệt để phá hoại giao thông, các công trình kiến trúc ở các phố xá; chậm tiêu thổ kháng chiến ở thị xã Bắc Kạn, Cao Bằng... Tư tưởng trên đã gây cho ta những bị động, tổn thất ban đầu.


Ngày nay, xu thế chung của thế giới là hội nhập, cùng hợp tác và phát triển. Nhưng trong những năm gần đây, loài người đã phải chứng kiến bốn cuộc chiến tranh xâm lược lớn và hàng chục cuộc xung đột, tranh chấp vũ trang mang màu sắc chính trị, tôn giáo, sắc tộc... Âm mưu của các thế lực thù địch và bọn phản động đối với Việt Nam không hề thay đổi. Chúng luôn tìm mọi cách từ diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ đến sẵn sàng gây chiến tranh khi có thời cơ nhằm xoá bỏ Đảng Cộng sản, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta. Do vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, không ảo tưởng, không để bị động, bất ngờ. Trong thời đại tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ chiến tranh xảy ra sẽ rất nhanh chóng, để bảo vệ được đất nước, ta cần phải tích cực chuẩn bị từ thời bình. Vì vậy, vấn đề cấp bách bên cạnh phát triển kinh tế xã hội là phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân đủ sức chống được mọi cuộc chiến tranh xâm lược (nếu xảy ra). Trong đó, cụ thể là phải xây dựng KVPT tỉnh (thành phố), huyện (quận) vững chắc. Trước hết, mọi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục quán triệt và nắm vững những quan điểm của Đảng về quốc phòng an ninh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X; Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX); tiếp tục thực hiện một cách có hiệu quả tinh thần Nghị quyết 02/BCT (khoá VI) của Bộ Chính trị về xây dựng tỉnh (thành phố), huyện (quận) thành KVPT vững chắc và vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự và các sở, ban, ngành làm tham mưu xây dựng KVPT địa phương.


Trong tình hình hiện nay, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhân tố chính trị, tinh thần cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, sẵn sàng đối phó và đánh trả thắng lợi chiến tranh kiểu mới của địch. Công tác giáo dục quốc phòng cần được quan tâm đúng mức cho mọi đối tượng. Phải tạo điều kiện cho tất cả cán bộ trong diện bồi dưỡng kiến thức quốc phòng được học tập đầy đủ. Trong đó, cán bộ công chức, nhất là cán bộ chủ trì, những người được giao nhiệm vụ tham mưu, hoạch định chính sách, quy hoạch... giữ vai trò rất quan trọng. Đối với thế hệ trẻ, giáo dục kiến thức quốc phòng cần đi đôi với giáo dục lịch sử truyền thống cách mạng, truyền thống đánh giặc bảo vệ quê hương đất nước, lòng yêu nước, yêu chế độ... Mỗi dịp kỷ niệm những chiến công chói lọi của dân tộc không chỉ để tự hào biết ơn, mà còn là một dịp tiếp tục tổng kết, phân tích, làm rõ, rút ra những bài học gắn với hiện tại. Từ đó, vận dụng vào thực tiễn xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân và xây dựng KVPT trong tình hình mới.


2. Xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc dựa trên nền tảng thế trận lòng dân

Quan điểm lấy "Dân là gốc" được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh "... dân là chủ. Lực lượng bao nhiêu là nhờ dân hết”. Ngày 2-9-1947, trong thư gửi đồng bào các tỉnh Cao - Bắc - Lạng, Người viết: "Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi!". Nội hàm phần lớn ý của Bác là căn cứ địa có đứng vững được trước sự tiến công điên cuồng của giặc Pháp, phần rất lớn là nhờ sự chở che, đùm bọc của nhân dân các dân tộc Việt Bắc, nơi có truyền thống yêu nước và cách mạng, là phên dậu vững chắc của đất nước qua các thời kỳ lịch sử. Người dân Việt Bắc, dưới ách áp bức của thực dân, phong kiến, đã được Đảng giác ngộ, rèn luyện thử thách, nhất là từ cao trào kháng Nhật tới cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám. Trong những ngày đối mặt với cuộc tiến công của giặc Pháp, nhân dân các dân tộc không những đã sẻ chia từng bát cơm, củ sắn cho cán bộ, bộ đội, mà còn trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Hàng ngàn tên giặc đã bỏ xác ở nơi đây trước cách đánh du kích với vũ khí tự tạo thô sơ của nhân dân Việt Bắc.


Muốn xây dựng được thế trận lòng dân phải làm cho dân hiểu, dân tin. Phải củng cố vững chắc mới quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền với dân. Muốn vậy, chính quyền phải vì dân và do dân, "cán bộ phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân". Người dân Việt Bắc trước cách mạng rất nghèo khổ, được giác ngộ, tin ở Đảng vì Đảng đã đập tan xiềng xích thực dân phong kiến, mang lại tự do, cơm áo. Trong kháng chiến, mặc dù có nhiều gian khổ, hy sinh, nhân dân vẫn một lòng theo Đảng vì cán bộ và nhân dân miền xuôi và miền ngược đều đồng cam cộng khổ, chiến đấu cùng lợi ích. Ngày nay, khi đất nước đã có hoà bình, phát triển kinh tế từng bước theo cơ chế thị trường, mặc dù có định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng không thể tránh khỏi sự mất cân đối, bất bình đẳng trong xã hội. Xây dựng thế trận lòng dân trước hết cần xác định quan điểm phát triển kinh tế mạnh mẽ phải đi cùng với giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Cần chăm lo xoá đói giảm nghèo; ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về điện, đường, trường, trạm, phát triển kinh tế; đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, xây dựng nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo sử dụng cán bộ dân tộc ít người ngay tại địa phương; chăm lo xây dựng, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kiên trì giáo dục nâng cao dân trí, chống truyền đạo trái pháp luật, bài trừ tệ mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu và những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của bọn phản động...


Trong điều kiện hiện nay, xây dựng KVPT địa phương vững mạnh toàn diện về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và quốc phòng - an ninh, trong đó phải làm cho mọi người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, yêu chế độ, tin tưởng Ỷào Đảng, chính quyến, đoàn thể. Thế trận lòng dân còn phải được thể hiện rõ nét bằng sự gắn bó máu thịt giữa quân và dân. Phải xây dựng và phát huy phẩm chất tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ" trong quan hệ quân dân. Sức mạnh của KVPT không chỉ là sự giác ngộ chính trị, thế thiên hiểm của địa hình mà còn là tiềm lực của cả địa phương và sức mạnh vật chất trong mỗi người dân có thể huy động được. Khi thế trận lòng dân vững chắc, ta có thể phát huy được sức mạnh của toàn dân, giải quyết mọi tình huống trong thời bình cũng như khi có chiến tranh xảy ra.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3277



WWW
« Trả lời #165 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 02:32:35 pm »

3. Xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên cơ sở kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế xã hội phải nằm trong quy hoạch tổng thể gắn với quốc phòng, an ninh

Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế là nhiêm vụ trung tâm. Bộ mặt đất nước đã và đang thay đổi từng ngày, cơ sở hạ tầng giao thông, đô thị... được xây dựng; nhiều nhà máy, xí nghiệp, cơ sở dịch vụ mọc lên; diện tích trống, khu vực nông thôn dần thu hẹp lại. Đã có tình trạng ở một số địa phương do quá chú trọng tới vấn đề tăng trưởng kinh tế mà buông lỏng quản lý trong quy hoạch. Không ít dự án kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới thế trận KVPT, như làm lộ hoặc hư hại, giảm tác dụng của công trình quốc phòng; làm giảm không gian của các dải địa hình có tác dụng cho hoạt động quân sự, ảnh hưởng đến khả năng của các trận địa phòng không; thậm chí thao trường huấn luyện quân sự cũng bị thu hẹp...


Theo tinh thần Nghị quyết 02/BCT (khoá VI) của Bộ Chính trị: "Xây dựng các tỉnh (thành phố), huyện (quận) thành KVPT vững chắc theo kế hoạch (quy hoạch) thống nhất của từng quân khu và chung trong cả nước". Cơ quan quân sự địa phương phải tham mưu đầy đủ cho cấp ủy và chính quyền chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ về xây dựng KVPT tại địa phương, giúp các ban, ngành thực hiện thắng lợi công tác quốc phòng, quân sự địa phương. Hiện nay, chúng ta có điều kiện thừa hưởng những thành tựu của khoa học, công nghệ đề xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội cần được chuẩn bị để có thể chuyển hướng sử dụng khi có chiến tranh. Các công trình cần được tính toán để mang tính lưỡng dụng: kinh tế kết hợp với quốc phòng và quốc phòng kết hợp với kinh tế, trong đó đặc biệt chú ý xây dựng và quản lý các công trình ngầm, hang động. Các công trình kiên cố ở vị trí xung yếu, các công trình giao thông, điện lực, bưu điện, y tế... sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khi cần thiết.


Ta đã từng bị động khi hậu phương Bắc Kạn trở thành tiền phương ngay từ đầu khi quân Pháp tiến công lên Việt Bắc năm 1947. Do tiềm lực kinh tế của Việt Bắc lúc đó rất hạn chế, ở vùng rừng núi chỉ đủ tự cung tự cấp cho đồng bào, nên không thể bảo đảm đầy đủ hậu cần tại chỗ cho cơ quan Trung ương và cho bộ đội. Lương thực, thực phẩm và nhiều nhu yếu phẩm phải huy động ở vùng xuôi lên. Trong chỉ thị "Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp", Thường vụ Trung ương Đảng chỉ rõ: "... gắng tìm vật liệu trong nước mà chế tạo máy móc dụng cụ cho nhẹ nhàng, có thể di chuyển và cất dấu nhanh chóng. Phân tán xưởng máy, kho tàng, y viện thành các bộ phận nhỏ, để ở nhiều nơi, làm cho khu nào, tỉnh nào, huyện nào cũng có những xưởng nhỏ chế và sửa chữa vũ khí, những nhà bào chế thuốc ta và xưởng quân nhu, kho quân lương...". Từ thực tiễn lịch sử 60 năm qua, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi tính độc lập (tự cung, tự cấp) rất cao. Do đó, ngay từ thời bình phải kết hợp xây dựng kinh tế địa phương với xây dựng cơ sở hậu cần - kỹ thuật tại chỗ, hậu cần - kỹ thuật nhân dân, nhất là ở những nơi quy hoạch là căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương của KVPT địa phương.


4. Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân

Trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, do LLVT của ta còn non trẻ, bộ đội chủ lực phải thực hiện phương châm "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" để hoạt động, làm nòng cốt phát động chiến tranh nhân dân, đánh địch rộng khắp ở mọi lúc, mọi nơi, bảo toàn và phát triển được lực lượng. Bộ đội ta khi đó trình độ chỉ huy, tác chiến, trang bị còn rất hạn chế, nên những trận đánh phục kích, tập kích chỉ mang tính kiềm chế, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận địch, không thể có những trận hiệp đồng tiêu diệt lớn. Những hạn chế từ công tác nắm địch, đánh giá tình hình, thông tin liên lạc... đến cơ động, vận dụng chiến thuật, tiến hành công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu... đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả của từng trận đánh, bỏ lỡ không ít cơ hội diệt địch, gây tổn thất không đáng có.


Trong điều kiện hiện nay, với phương hướng tiếp tục xây dựng quân đội "Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại", cần chú trọng nâng cao sức mạnh chiến đấu của cả ba thứ quân trong điều kiện tác chiến mới, khi địch sử dụng vũ khí công nghệ cao. Bộ đội chủ lực quân khu phái giỏi cơ động tác chiến trong mọi địa hình đô thị, đồng bằng, trung du, rừng núi; mở những chiến dịch với những trận đánh hiệp đồng binh chủng, giáng cho địch những đòn tiêu diệt lớn... Bộ đội địa phương, làm nòng cốt giữ vững KVPT, biết vận dụng các hình thức chiến thuật phù hợp, giỏi tác chiến trên địa bàn của mình, trong thế cài xen với địch, có khả năng tác chiến hiệp đồng với bộ đội chủ lực, kiềm chế, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận địch. Lực lượng dân quân tự vệ, thời bình tham gia bảo đảm trật tự trị an ở địa phương khi chiến tranh xảy ra, dựa vào làng xã chiến đấu cùng nhân dân bám trụ, một tấc không đi, một ly không rời, dùng cách đánh du kích tiêu hao, quần lộn với địch. Theo tinh thần của Nghị quyết 02/BCT (khoá VI), trong KVPT, Chỉ huy trưởng quân sự tỉnh (thành phố), huyện (quận) chịu trách nhiệm chỉ huy thống nhất các LLVT trong tác chiến KVPT. Do vậy, các lực lượng bộ đội địa phương, biên phòng, công an, dân quân tự vệ phải giữ vai trò nòng cốt thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng - quân sự; phối hợp chặt chẽ với lực lượng của các ban, ngành, đoàn thể và các địa phương khi thực hiện các hoạt động của KVPT trong thời bình cũng như khi có chiến tranh. Để phát huy được sức mạnh tổng hợp của KVPT, ngay trong thời bình cần phải thường xuyên làm tốt các hoạt động huấn luyện, diễn tập KVPT, các hoạt động phối hợp hiệp đồng của các cơ quan, ban, ngành trong xử lý các tình huống tại địa phương.


Trong cơ chế thị trường, hệ thống chính trị ở địa phương vẫn luôn là cầu nối giữa quân đội và nhân dân. Để góp phần tích cực vào xây dựng lực lượng vũ trang, các địa phương cần làm tốt công tác tuyển quân, tạo điều kiện giúp đỡ về vật chất, tinh thần cho bộ đội trong sinh hoạt, rèn luyện, huấn luyện. Quân đội trong thời bình, một phần chủ yếu nằm ở trong dân. Do đó, địa phương cần quản lý chặt chê lực lượng dự bị động viên, tạo điều kiện cho họ được huấn luyện thường kỳ và tham gia diễn tập KVPT, thực hiện đúng chính sách đãi ngộ đối với họ. Mặt khác, địa phương cũng cần làm tốt chính sách hậu phương quân đội, qua đó, giáo dục trách nhiệm, nghĩa vụ công dân của thanh niên đối với Tổ quốc.


Để xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, Chính phủ đã có pháp lệnh, nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn. Cần chú ý, trong cơ chế thị trường, quá trình hội nhập, tỷ trọng và số lượng doanh nghiệp Nhà nước sẽ dần thu hẹp lại, nhiều công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân được thành lập. Bản thân nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng tự tổ chức lực lượng bảo vệ hoặc thuê từ những công ty vệ sĩ. cần phải có những quy định cụ thể để quản lý loại hình bảo vệ này và hướng họ hoạt động trong khuôn khổ như Pháp lệnh dân quân tự vệ quy định. Lực lượng dân quân ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới đã góp phần quan trọng trong bảo vệ trị an, chủ quyền lãnh thổ và bảo vệ chính quyền cơ sở. Do vậy, cần tiếp tục quan tâm bồi dưỡng nhận thức chính trị, giáo dục pháp luật, khả năng chiến đấu bảo vệ địa bàn, đồng thời chăm lo quyền lợi mọi mặt cho họ theo Pháp lệnh đã ban hành.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3277



WWW
« Trả lời #166 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 02:33:07 pm »

5. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quốc phòng - an ninh, nâng cao năng lực điều hành của chính quyền các cấp trong xây dựng khu vực phòng thủ

Bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, tổ chức phòng thủ trong những ngày tháng chiến đấu trong vòng vây kẻ thù ở Việt Bắc năm 1947 vẫn còn nóng hổi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Đó là sự nhìn xa, trông rộng, dự báo đúng tình hình để chủ động đối phó với âm mưu của thực dân Pháp, trong khi vẫn kiên trì vãn hồi hoà bình (thực chất là kéo dài thời gian chuẩn bị lực lượng). Khi địch tiến công lên Việt Bắc, Đảng ta đã kịp thời lãnh đạo điều chỉnh thế trận, thay đổi cách đánh cho phù hợp, phát động chiến tranh nhân dân rộng khắp, đánh vào chỗ yếu, tránh chỗ mạnh của địch, bảo toàn và phát triển lực lượng; đồng thời, chỉ đạo các chiến trường trong toàn quốc "chia lửa", chi viện nhân tài, vật lực cho Việt Bắc; đón đúng thời cơ, giành quyền chủ động. Đảng đã lãnh đạo quân dân Việt Bắc chuyển hoá thế trận, tiến hành phản công thắng lợi, đập tan cuộc tiến công chiến lược của giặc Pháp.


Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quốc phòng - an ninh hiện nay, trước hết là phải tiếp tục quán triệt những quan điểm, tư tưởng của Đảng về chiến lược BVTQ trong tình hình mới tới toàn thể cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Tiếp tục đưa tinh thần của Nghị quyết 02/BCT (khoá VI) của Bộ Chính trị vào cuộc sống, trong điều kiện hội nhập với thế giới và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh đạo phải gắn liền với công tác kiểm tra từng tổ chức Đảng, từng đảng viên, nhất là người đứng đầu, khi thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng. Trong đó, tập trung vào nội dung phát triển kinh tế địa phương phải kết hợp với xây dựng KVPT, không vì lợi ích trước mắt mà vi phạm quy hoạch tổng thể. Từng bước xây dựng căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, các công trình quốc phòng trong khu vực phòng thủ then chốt theo kế hoạch thống nhất. Kế hoạch này cũng cần điều chỉnh qua mỗi giai đoạn (5 đến 10 năm) cho phù hợp. Chăm lo xây dựng, củng cố LLVT trong KVPT cả về số lượng, chất lượng, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ trị an trong thời bình, chiến đấu bảo vệ quê hương khi chiến tranh xảy ra. Thường xuyên bồi dưỡng kiên thức quốc phòng cho cán bộ đáng viên, nhất là những đồng chí trong nguồn phát triển và mới được bỏ nhiệm chức vụ.


Để nâng cao năng lực điều hành của chính quyền trong công tác quốc phòng - an ninh, ngoài việc phải triệt để chấp hành chủ trương, nghị quyết của Đảng về xây dựng KVPT, xây dựng LLVT trong thời bình, còn phải chuẩn bị năng lực điều hành khi có tình huống phức tạp (thiên tai, thảm họa, diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ hay chiến tranh...) xảy ra. Cần nâng cao chất lượng diễn tập KVPT tỉnh, huyện theo "cơ chế 02", chấn chỉnh khắc phục biểu hiện hời hợt, thiếu trách nhiệm hoặc hình thức phô trương. Quá trình diễn tập cần thể hiện rõ vai trò điều hành của người đứng đầu chính quyền các cấp. Các cơ quan công quyền, các tổ chức phải thực sự vào cuộc, tham mưu đắc lực cho người đứng đầu, đề xuất phương án xử lý kịp thời, đúng các tình huống. Chỉ huy trưởng quân sự (tỉnh, huyện, thành, thị) phải thể hiện được vai trò chỉ huy thống nhất các LLVT trong KVPT. Các lực lượng thực binh (bộ đội thường trực, quân dự bị động viên, biên phòng, công an, dân quân tự vệ, quần chúng...) đều phải thể hiện được tính thực sự, thực tế với tình huống dự kiến... Những bài học kinh nghiệm rút ra sau diễn tập cần được điều chỉnh ngay vào kế hoạch KVPT địa phương và bổ sung vào huấn luyện cho các đối tượng. Diễn tập KVPT thực chất là phép thử rất nghiêm túc và sát gần thực tiễn đối với mỗi địa phương về khả năng đứng vững trước những thử thách khắc nghiệt. Đồng thời, cũng đánh giá sức mạnh, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong công tác quốc phòng, quân sự địa phương, nhằm đáp ứng với tình hình, nhiệm vụ mới.


Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 là một trong những mốc son chói lọi trên chặng đường kháng chiến trường kỳ, gian khổ và anh dũng của nhân dân ta. Lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh: "Thiên thời, địa lợi, nhân hoà" là những yếu tố dẫn tới thành công của mọi việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn đến nguyên nhân sâu xa của chiến thắng Việt Bắc, đã viết: "Lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch, nó đã đánh tan cuộc tiến công của bọn thực dân''. Những yếu tố quyết định của mọi thắng lợi cũng được Người khái quát: "Sự lãnh đạo sáng suốt của Chính phủ, sự điều khiển khôn khéo của Bộ Tổng chỉ huy, sự dũng cảm của tướng sĩ vệ quốc quân và dân quân du kích, sự hăng hái của toàn thể đồng bào". Tư tưởng của Người đã được đúc kết thành những bài học để vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhất là trong quá trình bảo vệ miền Bắc - hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa và bảo vệ các căn cứ địa cách mạng ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời đã đóng góp và làm phong phú thêm sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam cho các thế hệ mai sau tiếp bước.


Sáu mươi năm đã đi qua, dân tộc ta đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù trong những cuộc "đụng đầu lịch sử" để giành và giữ độc lập, tự do, thống nhất đất nước; tiếp đó đã và đang vượt qua những trở ngại trên con đường đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong tình hình mới, những nhận thức, quan điểm về bảo vệ Tổ quốc có những bước phát triển. Song, những bài học được đúc rút bằng xương, máu của thế hệ cha anh vẫn còn nguyên giá trị. Chúng ta phải có trách nhiệm tiếp tục nghiên cứu và phát triển những nhận thức, quan điểm trên cho sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3277



WWW
« Trả lời #167 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 02:36:38 pm »

PHÁT HUY CHIẾN THẮNG VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947 TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TỈNH THÁI NGUYÊN


NGUYỄN VĂN VƯỢNG
Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thái Nguyên


Thái Nguyên là mảnh đất có bề dày lịch sử văn hoá, giàu truyền thống yêu nước và cách mạng; là địa bàn thuộc chiến khu cách mạng Việt Bắc nổi tiếng; là tỉnh sớm có tổ chức Đảng Cộng sản. Từ những năm 1940-1941, Thái Nguyên đã có vinh dự được Trung ương Đảng, Bác Hồ chọn là nơi xây dựng Khu căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn - Võ Nhai. Để đáp ứng yêu cầu của phong trào cách mạng, ngày 15-9-1941, tại rừng Khuôn Mánh, xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, Trung đội Cứu quốc quân thứ 2 đã ra đời, là một trong những lực lượng tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.


Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Tuy nhiên, cả dân tộc chưa kịp hưởng niềm vui độc lập đã phải bước vào một cuộc chiến đấu mới chống sự tái chiếm của thực dân Pháp, bảo vệ nền độc lập, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Nhà nước non trẻ của chúng ta. Với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán được âm mưu, hành động của thực dân Pháp và Người đã chọn Việt Bắc là địa điểm xây dựng An toàn khu cho Trung ương. Người khẳng định: "Cách mạng đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi".


Với vị trí "tiến có thể đánh, lui có thể giữ" và là nơi có nhân dân tốt, có cơ sở chính trị tốt, sau ngày Toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy đã chọn một số huyện giáp ranh ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và Tuyên Quang làm căn cứ địa Trung ương, là Thủ đô kháng chiến chống thực dân Pháp của cả nước. Trong đó, ATK Định Hoá là khu tuyệt mật của Thủ đô kháng chiến, là nơi Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra nhiều quyết định liên quan đến các vấn đề quốc kế dân sinh trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Đặc biệt, là nơi Thường vụ Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng chỉ huy quyết định mở chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947, nơi phát lệnh chiến dịch Biên Giới năm 1950, bàn kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953-1954 và quyết định mở chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.


Cách đây 60 năm, ngày 7-10-1947, thực dân Pháp huy động khoảng 12.000 quân, với khoảng 800 xe quân sự, 40 máy bay, 40 tàu xuồng chiến đấu, mở một cuộc tấn công quy mô lớn lên căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, đánh quỵ bộ đội chủ lực và phá hủy cơ sở vật chất và mọi tiềm năng kháng chiến của ta. Trước cuộc tấn công ồ ạt của địch lên căn cứ địa Việt Bắc, ngày 15-10-1947, tại đồi Khau Tý, xã Điềm Mặc, huyện Định Hoá, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị"Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp" và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã gửi thư kêu gọi bộ đội, dân quân, du kích cùng toàn thể đồng bào ra sức đánh giặc.


Thực hiện chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và hưởng ứng thư kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng bộ đội, dân quân tự vệ, du kích tỉnh Thái Nguyên đã nhanh chóng ổn định tư tưởng, tổ chức, khẩn trương làm tốt công tác chuẩn bị kháng chiến, sẵn sàng đánh bại các cuộc tấn công của địch vào địa bàn tỉnh, quyết tâm bảo vệ vững chắc Trung tâm căn cứ địa Việt Bắc - Thủ đô kháng chiến của cả nước. Để kịp thời đối phó với các hành động tấn công, phá hoại của địch, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, ỦY ban kháng chiến hành chính tỉnh, Ban chỉ huy Tỉnh đội Thái Nguyên đã nhanh chóng triển khai công tác xây dựng lực lượng vũ trang. Cơ quan quân sự các cấp, từ tỉnh đến cơ sở, được kịp thời củng cố, kiện toàn; lực lượng dân quân, du kích được phát triển rộng rãi, nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Cùng với việc xây dựng, phát triển lực lượng dân quân, du kích rộng khắp, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp trong tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và chuẩn bị các điều kiện để chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Sau hơn hai tháng trực tiếp đương đầu với cuộc hành binh càn quét của thực dân Pháp, quân và dân tỉnh Thái Nguyên đã nêu cao tinh thần yêu nước và truyền thống cách mạng, vừa độc lập tác chiến, vừa phối hợp với bộ đội chủ lực đánh 123 trận lớn, nhỏ, tiêu diệt 490 tên địch và làm bị thương hơn 100 tên khác; bắn rơi tại chỗ 1 máy bay B.24, thu nhiều vũ khí và trang bị, góp phần cùng với quân và dân cả nước đập tan cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc, làm phá sản chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, bảo vệ an toàn căn cứ địa và cơ quan đầu não kháng chiến, bảo toàn và phát triển bộ đội chủ lực, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sang một bước ngoặt mới.


Trong quá trình chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, đồng thời với nhiệm vụ cùng các tỉnh trong vùng, trong cả nước trực tiếp tham gia chiến đấu trên các mặt trận đế góp phần cho thắng lợi của chiến dịch, quân dân Thái Nguyên còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Bác Hồ và cơ quan Trung ương trong các cuộc cơ động di chuyển, sơ tán từ Điềm Mặc, Định Hóa về Liên Minh, Võ Nhai và từ Liên Minh về Phú Đình, Định Hóa để lãnh đạo, chỉ đạo chiến dịch giành thắng lợi.


Sau chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, để tiếp tục đảm bảo vững chắc trung tâm căn cứ địa, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên vừa tập trung xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh, vừa đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự cấp, tự túc nhằm đảm bảo đời sống nhân dân vùng căn cứ địa, và đóng góp cho cuộc kháng chiến.


Phát huy thắng lợi của chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, quân và dân tỉnh Thái Nguyên tiếp tục có những đóng góp quan trọng cho chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950. Với trên 60 trận chiến đấu, quân và dân Thái Nguyên đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 800 quân Pháp, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 3 ca nô, tàu chiến, thu 160 súng bộ binh, làm thất bại hoàn toàn cuộc tấn công "Chó biển" của thực dân Pháp, trực tiếp bảo vệ an toàn của ngõ phía nam của trung tâm ATK.


Ngày 6-12-1953, tại Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hoá, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp nghe Tổng Quân ủy báo cáo và thông qua quyết định mở chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ trong cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954. Quân và dân Thái Nguyên vừa tiếp tục bảo vệ an toàn cho Bác Hồ và các cơ quan Trung ương Đảng đóng trên địa bàn, vừa chi viện sức người, sức của, góp phần cùng cả nước làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.


Sau ngày hoà bình lập lại, Đảng bộ và chính quyền tỉnh đã tập trung lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh vừa ra sức khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, vừa tích cực xây dựng lực lượng vũ trang, cùng với quân dân cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Phát huy truyền thống của quê hương cách mạng, Thái Nguyên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của hậu phương đối với tiên tuyến "Thóc không thiếu một căn, quân không thiếu một người". Với tinh thần vì miền Nam ruột thịt, nghe theo tiếng gọi của Đảng, lớp lớp thế hệ thanh niên Thái Nguyên đã tinh nguyện lên đường "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại tàn khốc bằng không quân của giặc Mỹ, quân dân Thái Nguyên đã phát huy truyền thống cách mạng, vừa sản xuất vừa chiến đấu, đã phối hợp với các lực lượng phòng không bắn rơi 69 máy bay giặc Mỹ, trong đó có 2 máy bay chiến lược B.52, góp phần cùng nhân dân cả nước làm nên chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975.


Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tỉnh Thái Nguyên có hơn 120 ngàn con em các dân tộc đã lên đường đánh giặc, trong đó có 10.000 người con ưu tú đã hy sinh, hiến trọn tuổi thanh xuân cho nền độc lập tự do của dân tộc; hơn 5.000 anh chị em trở thành thương, bệnh binh; hàng ngàn đồng chí đã trở thành dũng sĩ, chiến sĩ thi đua, chiến sĩ quyết thắng trên các mặt trận chiến đấu và lao động sản xuất.


Sự đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý. Trong các đợt phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, tỉnh Thái Nguyên và 81 địa phương, đơn vị trong tỉnh đã được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 134 Bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 21 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng lao động.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3277



WWW
« Trả lời #168 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 02:37:54 pm »

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi đã mở ra kỷ nguyên mới của cách mạng Việt Nam - kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Cùng với cả nước, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Thái Nguyên đã tập trung lãnh đạo nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế. Tất cả các cơ sở công nghiệp của Trung ương và địa phương bị máy bay Mỹ đánh phá đã được khôi phục lại như: Nhà máy gang thép Thái Nguyên; khu công nghiệp Sông Công; các cơ sở tiểu thủ công nghiệp được mở rộng sản xuất; nông nghiệp được phục hồi, cơ sở hạ tầng cho phát triển nông nghiệp được đầu tư xây dựng; các lĩnh vực văn hoá - xã hội được quan tâm; hệ thống chính trị được củng cố và kiện toàn.


Sau 60 năm chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 và sau hơn hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, đặc biệt là từ nàm 1997, khi tỉnh Thái Nguyên được tái lập, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên tiếp tục phát huy truyền thống quê hương cách mạng, nỗ lực phấn đấu vươn lên và đã có những bước tiến quan trọng trên con đường xây dưng và phát triển. Nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã đoàn kết chặt chẽ, phát huy truyền thống anh hùng trong đánh giặc cứu nước, đã vượt qua khó khăn thách thức, sáng tạo trong lao động, tạo sự chuyển biên toàn diện cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục và quốc phòng, an ninh. Từ một tỉnh miền núi, trình độ dân trí không đồng đều, với nền sản xuất tự cấp tự túc, tập quán canh tác lạc hậu, đời sống vật chất và tinh thần sau chiến tranh còn hết sức thấp kém, đến nay Thái Nguyên đã trở thành một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế của khu vực miền núi phía Bắc.


Ngày 1-7-2004, Bộ Chính trị (khóa IX) đã ra Nghị quyết số 37/NQ-TW về Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010, thể hiện sự quan tâm đầu tư, phát triển đối với các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và các tỉnh trong vùng Việt Bắc nói riêng. Theo tinh thần của nghị quyết, Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên tiếp tục được đầu tư, nâng cấp, mở rộng giai đoạn 1, giai đoạn 2, phấn đấu đến năm 2010 đạt sản lượng trên 1 triệu tấn thép cán. Tiếp tục đầu tư xây dựng Đại học Thái Nguyên trở thành một trong những trường đại học trọng điểm của vùng, nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh miền núi phía Bắc. Đầu tư nâng cấp hệ thống bệnh viện trên địa bàn tỉnh để Thái Nguyên trở thành trung tâm y tế vùng Đông Bắc. Quy hoạch tổng thể Khu du lịch hồ Núi Côc trở thành khu du lịch trọng điểm quốc gia; đồng thời tiếp tục đầu tư, tôn tạo và phát huy các di tích lịch sử kháng chiến, ATK trên cơ sở quy hoạch du lịch, quy hoạch cơ sơ hạ tầng, hệ thống giao thông để phát triển Khu du lịch văn hóa, lịch sứ cách mạng liên thông giữa ba tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Bắc Kạn.


Triển khai thực hiện Nghị quyết sô 37/NQ-TW của Bộ Chính trị (khoá IX), Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2006-2010) đã xác định mục tiêu phấn đấu rất cao, nhằm "Phát huy cao độ mọi nguồn lực, tiếp tục đấy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo sự phát triển nhanh và bền vững, phấn đấu đến năm 2010 đưa tỉnh thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo tiền đề quan trọng để Thái Nguyên trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020".


Sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết lần thứ XVII, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã giành được những thành tựu rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Nền kinh tế của tỉnh vẫn giữ được nhịp độ phát triển, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt mức tăng trưởng khá. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2006 đạt 10,8% và 6 tháng đầu năm 2007 đạt 11,86%; văn hoá - xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể có nhiều chuyển biến tiến bộ. Bộ mặt từ thành thị đến nông thôn có nhiều đổi mới. Đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện và từng bước được nâng cao.


Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại ATK Định Hoá (20-5-1947 - 20-5-2007) cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thực hiện chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, với vị trí trung tâm Thủ đô kháng chiến năm xưa, Thái Nguyên vinh dự được Chính phủ giao cho tổ chức Xăm du lịch quốc gia 2007 vỏi chủ đề "Về Thủ đô gió ngàn - Chiến khu Việt Bắc". Đây là sự kiện quan trọng, là một dịp tốt để tuyên truyền và giáo dục truyền thống của Việt Bắc - quê hương cách mạng, cho thế hệ trẻ; là thời cơ để thu hút đầu tư, quảng bá hình ảnh của vùng Việt Bắc đến với cả nước; là cơ hội để ngành du lịch Thái Nguyên nói riêng và du lịch của các tỉnh trong vùng Việt Bắc nói chung, có bước đột phá mới trong việc đánh thức mọi tiềm năng về du lịch sinh thái, văn hoá và lịch sử, nhằm tôn vinh những giá trị, tài sản quý báu của các địa phương trong vùng Chiến khu Việt Bắc năm xưa, nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh.


Được sự giúp đỡ tích cực của các bộ, ngành Trung ương và sự phối hợp chặt chẽ của các tỉnh bạn, tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức thành công Lễ công bố Năm du lịch quốc gia 2007 với chủ đề Về Thủ đô gió ngàn - Chiến khu Việt Bắc; Lễ kỷ niệm 60 năm Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ về ATK Định Hoá lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và phối hợp với các bộ, ngành, các địa phương tổ chức thành công cầu truyền hình với chủ đề: "Bản hùng ca bất diệt", nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày "Thương binh, liệt sĩ". Các hoạt động lớn mang tầm vóc quốc gia đó đã để lại những ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách và tạo không khí tưng bừng, phấn khởi trong các tầng lớp nhân dân. Có thể nói, Thái Nguyên đang từng bước phát triển, khẳng định vị thế của mình từng là trung tâm Thủ đô kháng chiến năm xưa và ngày nay là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế của vùng Đông Bắc.


Phát huy truyền thống của quê hương cách mạng. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên quyết tâm phấn đấu xây dựng quê hương Thái Nguyên ngày càng phát triển và giàu mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp đổi mới, cùng với quân dân cả nước xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3277



WWW
« Trả lời #169 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 02:40:20 pm »

PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG SÔNG LÔ NĂM 1947 QUYẾT TÂM XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG ĐẤT TỔ NGÀY CÀNG GIÀU MẠNH, VĂN MINH


NGUYỄN VĂN XUẤT
Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ


Cách đây 60 năm, ngày 24-10-1947, quân và dân Phú Thọ đã lập nên chiến công oanh liệt trên dòng sông Lô lịch sử tại địa phận huyện Đoan Hùng, góp phần bẻ gãy một trong hai mũi tiến công chủ yếu của địch, đóng góp xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của cuộc phản công Việt Bắc. Chiến thắng Sông Lô đã góp phần làm phá sản hoàn toàn chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến của dân tộc ta bước sang một giai đoạn phát triển mới. Đánh giá về ý nghĩa chiến thắng Sông Lô, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã viết: "Những trận đánh vô cùng anh dũng của quân ta trên sông Lô và trên con đường Tuyên - Hà, tuy chỉ tiêu diệt trên 1.000 quân tinh nhuệ của địch nhưng đã khiến cho binh lính địch hoảng sợ, mất tinh thần. Chẳng những nó làm sai kế hoạch của địch mà còn phá một phần kế hoạch tiến công Việt Bắc. Giá trị của những trận Sông Lô chính ở đó...". Mặc dù 6 thập kỷ đã trôi qua những chiến thắng Sông Lô vẫn mãi mãi là niềm tự hào của quân và dân cả nước nói chung, của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Phú Thọ nói riêng.


Trước tình hình thực dân Pháp ngày càng mở rộng chiến tranh xâm lược, thi hành chủ trương của Trung ương Đảng và lời kêu gọi cứu nước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Phú Thọ, cùng với cả nước, quyết tâm đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.


Đầu năm 1947, khi chiến tranh lan rộng ra nhiều nơi thì tỉnh Phú Thọ còn là vùng tự do. Là địa phương có vị trí chiến lược quan trọng cả về quân sự và chính trị, nên Thường vụ Trung ương Đảng quyết định chọn Phú Thọ làm căn cứ cho một số cơ quan của Trung ương Đảng, Chính phủ, công binh xưởng của Chiến khu 10. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường lên chiến khu Việt Bắc đã chọn Phú Thọ làm điểm dừng chân gần một tháng tại ba địa điểm là xã Cổ Tiết (Tam Nông), xã Chu Hoá (Lâm Thao) và xã Yên Kiện (Đoan Hùng). Xác định đây là vinh dự và cũng là trách nhiệm to lớn đối với Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, nến cấp ủy, chính quyền và đồng bào các địa phương đã nhiệt tình giúp đỡ, bảo vệ tuyệt đồi bí mật và an toàn. Cũng trong thời gian này, Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ còn đón tiếp 19 cơ quan, trường học và một bộ phận đồng bào từ Hà Nội và các tỉnh miền xuôi tản cư đến. Tình hình đó đặt ra cho Phú Thọ một nhiệm vụ cấp bách là phải nhanh chóng củng cố địa phương, ổn định trật tự xã hội, cung cấp lương thực cho hơn 4 vạn cán bộ và đồng bào tản cư. Với tinh thần "lá lành đùm lá rách", "thương người như thể thương thân", các ban tản cư, di cư và nhân dân địa phương đã đón tiếp nhiệt tình, thu xếp nơi ăn, chốn ở. giải quyết việc làm và đời sống cho đồng bào; tạo điều kiện để các cơ quan, đơn vị nhanh chóng ổn định nơi làm việc, sinh hoạt và học tập.


Quán triệt sâu sắc đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện của Đảng, thực hiện chủ trương "Phải phá đi để chặn Pháp lại, không cho chúng lợi dụng" quân và dân Phú Thọ hảng hái tham gia phong trào "Tiêu thổ để kháng chiến", chấp nhận hy sinh, gian khổ, tự phá đi nhiều công trình do mình đã đổ biết bao mồ hôi, công sức xây dựng nên. Chỉ tính riêng trong 8 tháng đầu năm 1947, toàn tỉnh đã phá sập 1.315 ngôi nhà gạch được xây dựng kiên cố; đào đắp nhiều giao thông hào, các ụ chướng ngại vật, chặt đồ hàng trăm cây to chắn ngang các tuyến đường bộ như quốc lộ 2, đường liên huyện, liên xã, bóc dỡ toàn bộ tuyến đường sắt dài gần 100km từ Việt Trì đi Yên Bái và phá hoại hơn chục chiếc cầu bắc qua các trục đường chính trên địa bàn tỉnh, góp phần cản bước tiến của xe cơ giới địch khi chúng đặt chân đến quê hương.


Sau khi phá được vòng vây ở các đô thị, Bộ chỉ huy Pháp đề ra kế hoạch với hai biện pháp cơ bản là, tập trung lực lượng mở đợt tấn công quân sự quy mô lớn lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến của ta, kết thúc chiến tranh một cách nhanh chóng; mặt khác, dựng lên hệ thống chính quyền tay sai để phục vụ cho sự thống trị của chúng.


Thực hiện kế hoạch trên, ngày 7-10-1947, thực dân Pháp mở cuộc hành binh tên Lê-a tiến công căn cứ địa Việt Bắc với lực lượng khoảng 12.000 tên, chủ yếu là lính Âu - Phi tinh nhuệ thuộc 5 trung đoàn bộ binh và lính thủy đánh bộ, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn công binh, 2 tiểu đoàn pháo binh, 800 xe vận tải, 40 máy bay, 40 ca nô. Cuộc tiến công lên Việt Bắc được chia thành 2 cánh. Một cánh gồm 1 binh đoàn, có máy bay yểm trợ, theo hướng đông từ Lạng Sơn lên Cao Bằng; một cánh gồm 1 binh đoàn thủy theo Đường sông Hồng lên theo Đường sông Lô lên Tuyên Quang, cả hai cánh quân hình thành thế gọng kìm bao vây, kết hợp với bộ phận quân dù sẽ được tung xuống những vị trí hiểm yếu ở Việt Bắc để vây chặt căn cứ địa.


Nắm âm mưu của địch, Khu ủy 10 đã họp, bàn phương hướng chỉ đạo quân và dân trong toàn khu chuẩn bị đối phó. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Phú Thọ có nhiệm vụ phối hợp đón đánh, xây dựng trận địa phục kích, trận địa nghi binh dọc hai bên bờ sông Lô, phối hợp với bộ đội chủ lực chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch.


Ngày 10-10-1947, một đoàn tàu và ca nô của địch có máy bay yểm trợ, từ Sơn Tây đánh chiếm thị trấn Việt Trì, sau đó theo Đường sông Lô tiến lên Tuyên Quang. Trên đường hành quân, chúng điên cuồng bắn phá nhiều làng mạc dọc 2 bờ sông, gây thiệt hại lớn về người và tài sản của nhân dân. Để góp phần chặn bàn tay tội ác của địch, quân và dân Phú Thọ nhanh chóng triển khai kế hoạch hành động. Ngày 11-10-1947, khi lực lượng thủy binh địch tiến dọc sông Lô đến Tiên Du (Phù Ninh), chúng đã vấp phải "chướng ngại vật" lớn sừng sững chắn ngang dòng sông, đó là "chiếc kè", bao gồm hàng ngàn tấn đá hộc cùng nhiều loại nguyên vật liệu khác (thuyền nan, tre, gỗ, củi, thanh ray, tà vẹt bằng sắt, cây cổ thụ...). Sau khi phải dùng máy bay thả bom, máy nhổ cọc sắt, đoàn tàu của chúng mới vượt qua được khúc sông này. Lên đến Đồn Hang (thuộc địa phận Tuyên Quang) và Sóc Đăng (Đoan Hùng), tàu chiến địch tiếp tục vấp phải vật cản tương tự kè Tiên Du. Quân Pháp kinh ngạc trước các "chướng ngại vật" trên sông Lô. Tuy không gây thiệt hại nhiều cho quân Pháp song những "chiếc kè" trên đã góp phần làm chậm bước tiến của chúng; đồng thời phía ta cũng rút ra được bài học cần linh hoạt trong chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch khi chúng phải dừng lại phá kè, mở đường.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM