Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Giêng, 2021, 12:09:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tình báo vô tuyến điện tử  (Đọc 939 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #20 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2021, 07:57:16 pm »


        Tình báo vô tuyến điện tử đứng trên luật pháp

        Những năm đầu sau chiến tranh, trong quân đội Mỹ, tình báo vô tuyến điện tử do các cục thông tin liên lạc của cả ba quân chủng tiến hành. Để khắc phục tình trạng đó và bảo đảm cho tình báo vô tuyến điện tử Mỹ có được ưu thế của lãnh đạo tập trung, vào năm 1949. Bộ Quốc phòng Mỹ đã thành lập Cục An ninh Quân đội AFSA (Armed Forces Security Agency). Nó đảm nhiệm các chức năng tình báo vô tuyến điện tử chiến lược và phụ trách điều phối hoạt động của các cục cơ yếu thuộc ba quân chủng. AFSA vẫn để lại cho các cục này các chức năng được thực hiện hiệu quả nhất ở gần khu vực chiến sự (nghĩa là tiến hành tình báo vô tuyến điện từ chiến thuật), cũng như trách nhiệm bảo đảm an ninh thông tin liên lạc ở cấp thấp.

        Cơ sở pháp lý cho hoạt động của AFSA đã được hình thành trước khi cơ quan này được thành lập một năm. Năm 1948, theo sắc lệnh đặc biệt của Hội đồng thống nhất gồm các đại diện của Bộ Ngoại giao, quân đội và các cơ quan tình báo Mỹ, hoạt động của các cơ quan tình báo Mỹ liên quan đến thu thập thông tin từ các kênh liên lạc nước ngoài được giải phóng khỏi sự kiểm soát của mọi đạo luật và quy định của chính quyền hành pháp nếu như trong đó không nêu rõ các đơn vị thực hiện loại hoạt động đó.

        Việc lựa chọn các kênh liên lạc nước ngoài để chặn thu diễn ra như thế nào? Một nhóm đại diện các cơ quan tình báo, Bộ Ngoại giao và các đơn vị tình báo Hải, Lục, Không quân Mỹ đã được tập hợp. Mỗi tháng một lần. nhóm này nhận được một tấm bản đồ thế giói có đánh dấu các mục tiêu có thể để tiến hành chặn thu. Các bộ. ngành hữu quan Mỹ phải đánh giá tầm quan trọng của các mục tiêu bằng các con số từ 1 đến 5. Tuy vậy, với hệ thống này, các nhiệm vụ chặn thu được nêu ra quá rộng. Họ cũng chưa có cơ cấu nhằm xác định các kênh liên lạc cụ thể để đạt được các mục đích đặt ra.

        Các nhược điểm đã bộc lộ rõ vào đầu thập niên 1950 trong cuộc chiến Triều Tiên khi Mỹ không xác định rõ các kênh liên lạc của Triều Tiên cần chặn thu nên đã bỏ qua những thông tin quý báu. Vì thế Mỹ đã tiến hành một loạt cải cách các cơ quan tình báo vô tuyến điện tử, trong quá trình đó đã thành lập NSA. Tuy vậy, trong thập kỷ đầu tiên tồn tại của NSA, vị trí trung tâm trong cộng đồng tình báo Mỹ vẫn do CIA nắm giữ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #21 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2021, 07:13:48 pm »


        ĐẠI BẠI

        Đừng cắt tất cả những cái mọc được.
K. Prutkov. “Những trước tác”.
       

        “Cấm vào trừ phi được Bộ Chỉ huy Tối cao cho phép”

        Ngày 27 tháng 9 năm 1947, Tổng thống Mỹ H. Truman đã ký Đạo luật An ninh Quốc gia, theo đó Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA đã được thành lập. Ngoài nhiệm vụ lãnh đạo CIA. Giám đốc CIA còn điều phối hoạt động của tất cả các cơ quan, đơn vị trong cộng đồng tình báo Mỹ, giữ vai trò cố vấn thứ nhất của Tổng thống về các vấn đề tình báo và bảo đảm thông tin về nước ngoài cho lãnh đạo tối cao của Mỹ.

        Trong thành phần của CIA có bốn cục (directorate). Cục lớn nhất là Cục Hoạt động. Cục này phụ trách tiến hành các chiến dịch tình báo và các hoạt động lật đổ ngầm ở nước ngoài. Cục Phân tích thông tin đảm nhiệm phân tích, chuẩn bị và báo cáo các tin tức do tất cả các thành viên của cộng đồng tình báo Mỹ thu thập được. Cục Khoa học kỹ thuật thực hiện các dự án nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực tình báo bằng phương tiện kỹ thuật, duy trì quan hệ với các hãng công nghiệp quân sự thực hiện đơn đặt hàng chế tạo phương tiện kỹ thuật tình báo mới. Cuối cùng, Cục Hành chính, ngoài các chức năng chung, “hàng ngày” như hậu cần, tài chính, y tế, còn thâu tóm các chức năng an ninh, liên lạc và huấn luyện.

        Dĩ nhiên, một cơ quan tình báo hùng mạnh như thế không thể bỏ qua tình báo vô tuyến điện tử.

        Một trong những chiến dịch tình báo vô tuyến điện tử quy mô lớn đầu tiên của CIA bắt đầu vào năm 1953. Chính thời đó, đại bản doanh CIA ở Washington đã nhận được tin nói rằng, ở Berlin, trên lãnh thổ Cộng hòa Dân chủ Đức, có một trạm điện thoại lớn ngầm dưới đất hoạt động, thông qua đó có một bộ phận đáng kể lưu lượng liên lạc điện thoại của các cơ quan nhà nước của Cộng hòa Dân chủ Đức. Sự quan tâm của người Mỹ đối với Berlin không phải là tình cờ. Thủ đô Cộng hòa Dân chủ Đức là đầu mối thông tin liên lạc quan trọng thứ hai ở Đông Âu. Điều đó có nghĩa là chẳng hạn khi Tư lệnh Quân quản Liên Xô ở Bucarest hay Varsava liên lạc với Moskva thì cuộc gọi bắt buộc phải đi qua Berlin.

        Cuối năm 1954, được sự đồng ý của sếp CIA A. Dulles, các nhân viên ở trung tâm CIA tại Berlin đã bất tay vào một việc khác thường đối với họ là đào một đường ngầm dưới đất. Chưa ai từng làm việc tương tự, nhưng người Mỹ cho rằng, đào đường hầm là cách duy nhất để xâm nhập vào trạm điện thoại của Đông Berlin. Các cơ quan tình báo Anh có đôi chút kinh nghiệm đào đường ngầm thẳng đứng. Chính vì vậy, người Mỹ đã tin tưởng giao phó cho họ việc nghiên cứu biện pháp đào thẳng đứng mà không làm biến dạng bề mặt lớp đất trên cùng. Họ cũng phái viện đến sự giúp đỡ của người Anh khi lắp đặt máy móc nghe lén trong đường hầm.

        Công việc được tiến hành bằng các phương tiện kỹ thuật xây dựng hiện đại nhất và kéo dài gần bốn tháng. Tại Tây Berlin, bên cạnh đường biên giới. Không quân Mỹ đã vội vã lắp đặt một đài radar mới. Để đánh lạc hướng chú ý, xung quanh đài đã xây dựng nhiều tòa nhà khác bao quanh bằng hàng rào với các vọng gác. Đường hầm cũng được đào từ vị trí đó. Từ bên trong tầng hầm rộng lớn của đài radar, các máy khoan công suất lớn bắt đầu đào dường hầm ở độ sâu 7 m dưới mặt con đường nhựa nối Tây Berlin với thủ đô Cộng hòa Dân chủ Đức. Một số lượng lớn đất sét được moi ra từ đường hầm ban đầu đổ tạm ra tầng hầm đài radar, sau đó được bí mật chở đi trong những contenơ lớn. Trên các contenơ có ghi các hàng chữ hoàn toàn vô hại để đánh lừa những kẻ tò mò nhất. Việc thi công được tiến hành thông tầm, suốt 24/24 giờ.

        Họ đã xây dựng nên một công trình kiên cố đặc thù kiểu Mỹ. Đường hầm có đường kính gần hai mét và gồm những khẩu bêtông nối nhau, bên trong xếp bao cát. Không khí được điều hòa, các máy bơm được dùng để bơm nước ngầm phun lên. Các bảng công tắc được đấu với các máy tăng âm. Tổng cộng, họ đã triển khai 400 máy tăng âm - mỗi kênh liên lạc lắp một máy - và từng đấy máy nghe lén và ghi âm. Ỏ đầu kia đường hầm có lắp hai cánh cửa thép và các đường dây đi qua đó. Các đường dây được nối với những đường cáp điện thoại ở Đông Đức và được đấu sao cho không làm đứt đoạn lấy một giây liên lạc qua trạm điện thoại. Không lâu sau đã đến ngày ăn mừng khi 400 máy ghi âm đồng thời bước vào hoạt động.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #22 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2021, 07:14:06 pm »


        Trong suốt gần một năm, chính quyền Mỹ đã sử dụng đường hầm này để nghe lén các cuộc điện đàm giữa Moskva và Berlin. Bằng ghi âm các cuộc điện đàm được gửi đi London để một nhóm dân Nga lưu vong luôn sẵn sàng dịch ngay lập tức. Các nội dung chặn thu điện báo cần giải mã thì được gửi đến Nuremberg. Tại đó, có một nhóm đặc biệt nữa gồm năm chuyên gia mã thám. Tại Washington, một nhóm lớn nhân viên CIA trong nhiều tháng trời sẽ tiến hành phân tích và hệ thống hóa thông tin thu được trong đường hầm để chuyển cho các cơ quan chính phủ tương ứng. Tuy vậy, các văn bản đánh giá thông tin này rất khác nhau. Một số thì khẳng định đường hầm này đã cứu mạng không ít điệp viên Mỹ vì nhờ các tin tức thu được, các điệp viên này đã kịp thay đổi phương pháp và kế hoạch hoạt động. Các văn bản đánh giá khác thì nói đường hầm cung cấp được rất ít tài liệu loại một. Và quả thực, nói một cách nhẹ ra thì phần lớn tin tức thu được có giá trị đáng ngờ. Chẳng hạn, Mỹ đã chặn thu được thông tin nói phía Liên Xô có kế hoạch bắt giữ Tư lệnh Quân quản Tây Berlin của Mỹ, tướng Descher khi ông ta đi thăm hội chợ Leipzig. Người Mỹ không hề băn khoăn về tính không tưởng của tin này nên trong một thời gian dài, họ đã tìm đủ lý do để hủy bỏ chuyến thăm hội chợ của Descher mà không để lộ nguồn tin. Vấn đề tự nó giải quyết khi mà Descher bất ngờ ốm vì viêm phổi.

        Để giữ thể diện, sau này người ta có thể nhắc đi nhắc lại bao nhiêu tùy thích về “chiến dịch tuyệt vời về sự táo bạo và sáng tạo” đã tạo cơ hội cho CIA trong cả năm trời “bắt được mạch của Liên Xô” để cảnh báo kịp thời cho chính phủ Mỹ về cuộc tấn công đang chuẩn bị của Liên Xô. Nhưng kể cả những kẻ biện giải bênh vực C1A cũng buộc phải thú nhận rằng, nói cho cùng chi phí của đường hầm gián điệp cao hơn nhiều giá trị thông tin thu được nhờ nó.

        Một câu hỏi dĩ nhiên nảy sinh: nếu người Mỹ trong một năm đã nghe lén được một số lượng lớn các cuộc gọi điện thoại trên 400 kênh thì chả lẽ tất cả đều là nguồn tin hạng hai? Còn việc khám phá chiến dịch của CIA - có thực là nó đã xảy ra như người ta đã thông báo chính thức cho công luận thế giới? Giả thuyết của người Mỹ về điều đã xảy ra ngày 22 tháng 4 năm 1956 như sau.

        Một đêm tháng 4, bốn quân nhân Mỹ đã được huấn luyện đặc biệt như mọi khi vẫn ngồi bên các máy móc được đấu với các kênh điện thoại chính phủ và quân sự của Cộng hòa Dân chủ Đức. Ở trong một boongke tiện nghi đối với họ là chuyện hoàn toàn bình thường. Họ thấy thoải mái như đang làm việc trong đơn vị mình. Nỗi lo sợ đeo đẳng họ trong những tuần trực đầu trong boongke đã qua đi từ lâu. Các trang bị kỹ thuật hoạt động rất tốt, các nhân viên vận hành có thể thư giãn, thậm chí cười đùa. Điểm mà họ khoái nói đến nhất là người Nga sẽ nói gì một khi biết các cuộc gọi điện thoại của mình bị nghe lén. Nhưng lần này, chuyện đùa đã tắc nghẹn trong họng những kẻ hóm hỉnh. Vấn đề là việc bộ đội thông tin Liên Xô tiến hành kiểm tra định kỳ trạm điện thoại. Một người lính đã đụng phải những đường dây không rõ công dụng, sau đó là một cánh cửa thép với dòng chữ tiếng Nga đầy hăm doạ “Cấm vào. trừ phi được Bộ Chỉ huy Tối cao cho phép!” Sau một chút dao động, các chiến sĩ thông tin Liên Xô đi sâu vào đường hầm cách âm này. Tại đó. họ không thấy ai. Ngay lúc có ai đó chạm vào một dây dẫn nào đó thì một thiết bị tự động sẽ phát tín hiệu báo động cho nhân viên của đài radar Mỹ đang là bình phong của đường hầm gián điệp này. Nhưng trong đường hầm đèn vẫn sáng, máy điều hòa nhiệt độ vẫn làm việc, tất cả các máy móc vẫn bật, các máy bơm nước vẫn chạy vo vo như không hề có chuyện gì xảy ra, một trong các điện thoại dã chiến vẫn réo chuông không ngớt.

        Liên Xô đã gửi công hàm kịch liệt phản đối Mỹ. Đường hầm với tư cách bằng chứng hoạt động gián điệp của Mỹ đã được hàng ngàn khách tham quan đến thăm. Và mặc dù Mỹ giữ im lặng tuyệt đối nhưng chẳng ai trên thế giới mảy may nghi ngờ về tác giả của việc này. Người ta thừa hiểu nếu khách tham quan đi xa hơn nữa theo đường hầm thì sẽ nhanh chóng có mặt trên lãnh thổ Tây Berlin, ngay trong tòa nhà có thiết bị radar Mỹ trên nóc. Lời mời đến tham quan đường hầm đã được gửi cho Tư lệnh Quân quản Mỹ ở Tây Berlin Descher. Đáp lại,ông ta nói đây là lần đầu tiên được nghe thấy nói về những chuyện này và nhất quyết từ chối đến thăm. Phải 14 năm sau khi phát hiện đường hầm thì câu chuyện chân thực về nó mới được biết đến đầy đù nhờ con trai một người Do Thái Hà Lan giàu có từng cùng gia đình chạy nạn từ Hà Lan sang Anh khi Đức chiếm đóng Hà Lan. Tại Anh, gia đình này đã đổi từ họ Behar không may sang họ Blake quen thuộc hơn với cái tai của người Anh.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #23 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2021, 07:14:47 pm »

         
        Kết cục của chiến dịch Gold

        Ngày 22 tháng 10 năm 1966, trước một bệnh viện của London có một cảnh rất nhộn nhịp. Giờ thăm bệnh nhân đã bắt đầu. Trên bãi đậu xe của bệnh viện không còn đủ chỗ. Lúc đó, các đường phố cũng đang tắc nghẽn nên không ai để ý đến một chiếc ôtô đang đỗ bên cạnh bức tường gạch đỏ trước tòa nhà gần bệnh viện, đối diện nhà tù. Từ chiếc xe bước xuống một người đàn ông tay cầm bó hoa cúc. Người ta vẫn thường mang hoa đến bệnh viện nên chả ai chú ý đến anh ta. Thêm vào đó, trời lại mưa lâm thâm. Hai giờ sau, tất cả đã thay đổi. Còi báo động rú inh ỏi, xe ôtô cảnh sát rầm rập lao đến. Trong sân nhà tù đang tiến hành lục soát vì tù nhân George Blake, cựu sĩ quan tình báo Anh bị án tù dài nhất trong lịch sử tư pháp Anh vào năm 1961 do hoạt động tình báo cho Liên Xô, đã biến khỏi buồng giam.

        Năm 1952, nhận thấy đường lối chính nghĩa và cơ cấu nhà nước nhân đạo của Liên Xô nên sĩ quan tình báo Anh lỗi lạc này đã tự nguyện đề nghị cộng tác với tình báo Liên Xô. Trong nhiều năm dài, ông đã làm việc không vụ lợi cho Liên Xô hoàn toàn vì động cơ lý tưởng. Tuy vậy, các tài liệu mà nhân viên tình báo Ba Lan Mikhail Goleniewski phản bội chạy sang phương Tây đem theo đã giúp người Anh lần ra Blake.

        Theo bán án, Blake phải ngồi tù không dưới 2/3 thời hạn tù mà tòa đã tuyên, có nghĩa là may ra ông chí có thể được tự do vào tuổi 66. Ngồi tù được bốn năm và hết hy vọng được Bộ An ninh Quốc gia Liên Xô (MGB) hỗ trợ cứu ra khỏi tù, Blake quyết định tự sắp xếp cuộc chạy trốn. Ông đã tìm được một người tiếp tay trong số tù nhân - một người Ireland có tên Sean Bourke đang sẵn sàng làm mọi việc chỉ để gây phiền toái cho chính quyền Anh. Bourke sắp được thả. Blake đã kịp thống nhất đại thể với ông ta về kế hoạch chạy trốn sắp tới của mình. Sau khi Bourke ra tù, họ đã bàn bạc chi tiết với nhau bằng cách liên hệ trực tiếp qua các máy vô tuyến điện xách tay. Chỉ máy định vị cơ động bố trí riêng trong khu vực nhà tù mới có thể chặn thu được các cuộc đàm thoại của họ. Tuy vậy, tình báo vô tuyến điện tử Anh hoàn toàn tập trung cho việc chặn thu các điện tín liên lạc gửi ra nước ngoài, chứ họ chẳng quan tâm đến các máy phát công suất nhỏ có bán kính hoạt động 10 m.

        Kế hoạch chạy trốn được suy tính từng ly từng tý. Thậm chí, số điện thoại mà Blake cần gọi sau khi thoát được khỏi nhà tù, được ghi trên mẩu giấy và đặt tại chỗ quy định cũng được người tiếp tay mã hóa. Còn khóa mã thì Blake chi biết được khi đã ở trong chiếc ôtô đợi đón ông ở gần nhà tù vào giờ chạy trốn đã định.

        Bốn năm sau, trong một căn hộ ấm cúng ở Moskva, các cán bộ của tòa báo Izvestya (Tin tức) đã trò chuyện với Blake. Vì công lao đối với Liên Xô, ông đã được tặng thưởng hai huân chương cao quý nhất. Khi trò chuyện, Blake đã hồi tưởng cả những sự kiện đã diễn ra hơn 15
năm trước - đó là chiến dịch Gold. Tháng 12 năm 1953, các quan chức cao cấp CIA đã đến London bàn bạc với các đồng nghiệp Anh kế hoạch phối hợp tiến hành một hành động đặc biệt. Đó là về đường hầm gián điệp trên lãnh thổ Cộng hòa Dân chủ Đức. Trong các cuộc trao đổi, về phía Anh có cả Blake tham gia vì anh là phó trưởng phòng phụ trách và bảo đảm các điệp vụ kỹ thuật.

        Họ đã lập biên bán ghi nhận kết quả đàm phán của hai cơ quan tình báo và lúc rỗi rãi Blake cũng đã nói cẩn thận. Sau đó, vì tầm quan trọng và tính khẩn cấp của vấn đề, ông đã xin gặp khẩn cấp liên lạc viên của tình báo Liên Xô. Đưa ra quyết định đó không phải là dễ dàng vì tất cả các cuộc gặp với liên lạc viên đều mạo hiểm, kể cả khi có thời gian chuẩn bị. Dù sao thì cuộc gặp của Blake với liên lạc viên cũng đã diễn ra suôn sẻ.

        Như vậy, trong khi người Mỹ còn đang cặm cụi thực hiện dự án đài radar và rất lâu trước khi họ chở chiếc contenơ đựng đất đầu tiên ra khỏi tầng hầm đài radar thì ở Moskva người ta đã biết tỏng tất cả. Còn lúc này, vào năm 1970, Blake tươi cười kể cho các nhà báo Liên Xô những thông tin “cực kỳ giá trị” nào mà người Mỹ đã nhận được cho đến khi phản gián Liên Xô ấn định ngày 22 tháng 4 năm 1956 để “khám phá” hành động tình báo vô tuyến điện tử này của CIA. Chiến dịch Gold mà lúc mới đầu đã làm những người tổ chức nó tràn trề hy vọng và bị định đoạt trở thành một trong những thất bại lớn nhất của CIA trong lĩnh vực tình báo vô tuyến điện tử đã chấm dứt như vậy đấy. Việc khám phá ra nó đã được thực hiện rất tinh tế nên các ủy ban đặc biệt của CIA được thành lập để điều tra vụ này đều đã nhất trí kết luận rằng, Liên Xô đã “tình cờ” phát hiện ra đường ngầm gián điệp này. Hơn nữa, phần lớn các cuộc đàm thoại bị người Mỹ nghe lén trong quá trình chiến dịch Gold quả thực là có các thông tin tin cậy.

        Tin cậy nhưng giá trị thấp bởi vì phía Liên Xô đã được Blake cảnh báo kịp thời nên đã chuyển tất cả những cuộc đàm thoại quan trọng nhất sang các kênh liên lạc khác được triển khai để đi vòng qua tổng đài điện thoại Berlin. Còn thông tin vẫn đi qua tổng đài này bị hy sinh để kéo sự nghi ngờ khỏi điệp viên quý giá là Blake.

        Mãi sau này, người Mỹ mới biết ủy ban đặc biệt của CIA đã nhầm, còn CIA thì vẫn say sưa với những thành công ảo tưởng lại tiếp tục xếp đặt nền móng cho một thất bại đau đớn tai tiếng không kém nữa.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #24 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2021, 09:44:37 pm »


        Sự ra đời của máy bay do thám U-2

        Không lâu sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Tư lệnh Không quân Mỹ, tướng Arnold đã gửi cho Bộ trưởng Chiến tranh một loạt báo cáo tổng kết kinh nghiệm chiến đấu. Liên quan đến các vấn đề gián diệp, ông ta viết rằng, những quan điểm cũ về tình báo không còn phù hợp với yêu cầu của thời đại. Việc nắm bắt toàn diện, chi tiết và thường xuyên hoạt động dân sự và quân sự trên lãnh thổ kẻ địch thực tế hay tiềm tàng là cực kỳ cần thiết để hoạch định đúng đắn các biện pháp hành động, kể cả khi có chiến tranh lẫn trong thời bình. Bởi vậy, trong cơ cấu của Không quân Mỹ phải có một cơ quan tình báo không quân có thẩm quyển và tích cực, có thể phối hợp với cộng đồng tình báo quốc gia.

        Các báo cáo này đã phát huy hiệu quả. Máy bay của Không quân Mỹ bắt đầu bay do thám dọc biên giới Liên Xô và trong thập niên 1950 còn xâm nhập không phận Liên Xô. Mỹ đã sử dụng các máy bay B-36 và RB-47 cải tiến vào mục đích này. Chúng có thể mang theo trên khoang một lượng lớn thiết bị chụp ảnh và vô tuyến điện tử tối tân. Tuy vậy, các máy bay này có trần bay thấp nên dề bị tên lửa và máy bay tiêm kích phòng không bắn hạ.

        Họ cũng thử một phương tiện khác là khinh khí cầu mang theo phương tiện kỹ thuật do thám. Được thả từ các căn cứ không quân Mỹ ở Scandinayia, Tây Đức và Thổ Nhĩ Kỳ, chúng bị các dòng không khí đưa đi và bay ngang lãnh thổ Liên Xô về hướng Nhật Bản. Tuy vậy, cả phương pháp do thám này cũng không đáp ứng sự trông đợi. Sau khi bắn hạ được một số khinh khí cầu, chính quyền Liên Xô đã kịch liệt phản đối gây tiếng vang xã hội rộng rãi.

        Mỹ lại phải quay lại với máy bay. Nhưng công việc vẫn khó khăn bởi vấn đề quan trọng và nan giải là trần bay. Đích thân Giám đốc CIA Allen Dulles đã chỉ đạo xây dựng các kế hoạch xâm nhập không phận Liên Xô. “Chúng ta rất cần thông tin tình báo chính xác, - Tổng thống Mỹ Eisenhower đã viết trong cuốn sách “Gánh nặng của thế giới" của mình, - và trong tình trạng đó, theo Allen Dulles, cần phải chế tạo một máy bay siêu cao mới để do thám từ trên không. “Tháng 11 năm 1954. Allen Dulles và các cố vấn khác đã đến gặp tôi để xin phép tiếp tục chương trình chế tạo 30 máy bay siêu cao tổng trị giá 35 triệu USD. Nhiều hạng mục thiết kế đã gần hoàn tất. Tôi đã phê chuẩn đề xuất này”.

        Một phần lớn công việc thiết kế và phát triển máy bay mới được tiến hành tại căn cứ không quân Wright- Patterson ở bang Ohio. Chiếc máy bay một chỗ ngồi U-2 do hãng Lockheed của Mỹ phát triển là một loại máy bay mới về nguyên tắc. Các đặc điểm thiết kế của máy bay (đặc tính rẽ dòng tốt với chiều dài 15 mét và sải cánh gần 30 mét) cho phép nó bay cao hơn nhiều tầm với của tất cả các loại tên lửa và máy bay đánh chặn hiện có lúc đó và có tầm bay xa bởi ở độ cao này, mức tiêu thụ nhiên liệu giám nhiều do lực cản không khí nhỏ. Ngoài ra, vỏ máy bay còn được phủ một lớp men đặc biệt làm giảm khả năng bị radar phát hiện.

        U-2 được trang bị các thiết bị siêu nhạy để chụp ảnh bề mặt trái đất, cũng như để thu và ghi các loại tín hiệu vô tuyến điện. Nhưng để lên tới độ cao mà các máy bay khác không với tới cùng vói một phi công và các thiết bị chụp ảnh và vô tuyến diện tử trên khoang, lại thêm nhiên liệu đủ cho 9 giờ bay liên tục, máy bay cần phải cực kỳ nhẹ. Cần phải hy sinh cái gì đó. Người Mỹ đã hy sinh sự vững chắc. Kết quả là máy bay trở nên quá mỏng mảnh nên đòi hỏi phi công phải có trình độ rất cao.

        Tháng 8 năm 1955, U-2 thực hiện các chuyến bay thử đầu tiên và đã thỏa mãn các yêu cầu cần thiết, thậm chí còn vượt quá một số yêu cầu. Trong giới tình báo chuyên nghiệp, Dulles không ngót nhấn mạnh rằng, “máy bay này sẽ có thể thu thập thông tin nhanh hơn, chính xác hơn, tin cậy hơn bất kỳ điệp viên nào trên mặt đất”.

        Sau khi hoàn tất chế tạo máy bay U-2, CIA bắt tay vào tuyển mộ phi công để thực hiện các chuyến bay do thám. Trong số các ứng cử viên có cả thượng úy không quân Mỹ Garry Francis Powers.

        Nhóm mà Powers được biên chế vào gồm các phi công siêu đẳng, có nhiều giờ bay trên các máy bay một động cơ, một chỗ ngồi, chính thức có tên là phi đội 2 của cơ quan khí tượng, tên không chính thức là đơn vị 10-10. Nhóm này được triển khai tại căn cứ Mỹ - Thổ Incirlik, gần thành phố Adana. Theo các chuyên viên CIA, căn cứ này có nhiều ưu thế. Thứ nhất, về địa lý, căn cứ này là điểm xuất phát tuyệt vời cho các chuyến bay xa. Thứ hai, nằm ở miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ, gần Địa Trung Hải, căn cứ này ở khá xa Liên Xô để các đài radar Liên Xô không thể với tới, đồng thời cũng đủ gần để không quá tốn nhiên liệu cho chuyến bay. Thứ ba là tại căn cứ này đã có sẵn một đơn vị nhỏ của Không quân Mỹ.

        Đơn vị 10-10 được thành lập như một phi đội thông thường. Đứng đầu là phi đội trưởng (một quân nhân thuộc Không quân Mỹ) và Tham mưu trưởng (một đại diện của CIA). Tất cả thành viên, từ chỉ huy đội mặt đất cho đến kỹ thuật viên đều được lựa chọn đặc biệt và là những chuyên gia tay nghề cao.

        Tháng 9 năm 1956. các phi công của nhóm bắt tay vào thực hiện những chuyến bay do thám đầu tiên. Bời lẽ U-2 là máy bay dễ nhận ra nên NASA đã công bố một thông báo chính thức về việc sử dụng loại máy bay mới U-2 của hãng Lockheed để nghiên cứu các dòng chảy không khí và khí tượng. Không lâu sau, trên báo chí Mỹ, người ta còn có thể đọc được một tin giả khác: “Máy bay U-2 sẽ được sử dụng để đo độ nhiễm xạ ở các tầng cao của khí quyển, cũng như để quan sát khí tượng và nghiên cứu bức xạ hồng ngoại... Các phi công và đội ngũ phục vụ mặt đất đều là nhân viên các công ty dân sự Mỹ”.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #25 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2021, 09:44:51 pm »


        Năm 1957 đã mang lại những thay đổi cơ bản bất ngờ đối với Mỹ. Ngày 27 tháng 8 năm 1957, Liên Xô tuyên bố đã phóng thành công tên lửa đường đạn xuyên lục địa đầu tiên. Còn ngày 4 tháng 10, vệ tinh nhân tạo đầu tiên được Liên Xô phóng lên quỹ đạo gần trái đất. Điều đó đã làm rung chuyên cả thế giới và làm giới cầm quyền Mỹ rất lo ngại. Các chuyến bay U-2 có vai trò còn quan trọng hơn trong các kế hoạch của Washington và đồng thời cũng trở nên ngày càng mạo hiểm hơn. C1A đã áp dụng các biện pháp để mở rộng mạng lưới căn cứ cho máy bay U-2 và đẩy mạnh hoạt động của chúng. Trước đó, ngoài căn cứ ở Thổ Nhĩ Kỳ, đã xuất hiện thêm các căn cứ ở Wiesbaden (Tây Đức) và gần Yokohama (Nhật Bản). Cùng với các chuyến bay nhộn nhịp hơn thì cũng có ngày càng nhiều tin tức lọt lên báo chí khiến các phi công và Bộ Chỉ huy Mỹ thật sự lo lắng.

        Ngày 14 tháng 7 năm 1957, một tạp chí Đức đã đưa tin một chiếc U-2 đã bị các máy bay tiêm kích Trung Quốc chặn bắt trên lãnh thổ Trung Quốc, còn một tạp chí Canada thì đưa tin phi công lái chiếc máy bay này là một người Hoa, nhân viên của Không quân Mỹ, đã cho nổ tung máy bay của mình trên không. Bắc Kinh đã lên tiếng phản đối vì vụ việc này, nhưng Mỹ đã không để ý lắm đến việc đó. Để đánh lạc hướng chú ý. Không quân Mỹ đã thông báo một máy bay ném bom Mỹ do quân đội Đài Loan sử dụng đã gặp nạn.

        Ngày 24 tháng 9 năm 1959, tại sân bay tàu lượn cách không xa Tokyo, vào thời điểm cao trào của ngày làm việc, lại có thêm một máy bay U-2 phải hạ cánh bất buộc. Các vận động viên tàu lượn khi chạy đến gần máy bay đã trông thấy một phi công được vũ trang bằng súng ngắn và từ chối mở nắp cabin. Máy bay này quay về từ chuyến bay do thám vùng Siberia. 15 phút sau, một trực thăng và một xe ôtô rú còi chở các nhân vật dân sự tới nơi. Họ huơ vũ khí đe doạ để xua đuổi những người Nhật ra xa khói chiếc máy bay.

        Dĩ nhiên là Liên Xô đã biết về các chuyến bay U-2. Và không chỉ qua báo chí nước ngoài. Các phi công U-2, khi trở về sân bay, theo quy định phải báo cáo về chuyến bay vừa thực hiện. Họ cũng phải báo cáo việc họ bị phát hiện từ mặt đất, điều này được ghi nhận bởi các thiết bị do thám trên khoang máy bay của họ. Một lần, một phi công kể rằng, anh ta cảm thấy có tiếng nổ tên lửa đâu đó quãng ba kilômét dưới máy bay của mình. Mạng lưới radar Liên Xô đã ghi nhận được đa số các hoạt động không thám có sử dụng U-2 của Mỹ. Theo lời khai của Powers, các đại diện CIA đã thực sự lo lắng về việc tờ báo "Không quân Xô-viết" (Sovietskaya Aviatsya), cơ quan ngôn luận chính thức của Không quân Liên Xô, đã đăng một loạt bài báo về “công cụ do thám xấu xa” U-2. Trong các bài báo này, người ta khẳng định các phi vụ của U-2 được thực hiện từ Wiesbaden.

        “Chúng tôi hiểu rõ rằng, bất kỳ mưu toan xâm nhập nào cũng sẽ không thể tránh khỏi trừng phạt, - Powers nhớ lại trong cuốn sách của mình "Chiến dịch "Chuyến bay xa" " - ở độ cao đó, chúng tôi không quá sợ các máy bay MiG bắn hạ, nhưng lại lo các tên lửa đất đối không, mặc dù người ta cố trấn an tôi là do tên lửa có tốc độ cao và khí quyển cực kỳ loãng nên không thể điều khiển chính xác đường bay cho tên lửa”.

        Để bảo vệ trước tên lửa không đối không phóng từ máy bay tiêm kích đánh chặn, U-2 đã được lắp thiết bị đối phó vô tuyến để gây nhiễu radar trên máy bay đối phương. Tính đến khả năng máy bay có thể bị tiêu diệt nên ghế lái đã được chuyển thành loại ghế phóng. Người ta cũng dự tính cả các trang bị cứu nạn như phao cao su thổi, quần áo, lượng dự trữ nhỏ nước và thực phẩm, la bàn, pháo hiệu, diêm, hóa chất để nhóm lứa từ củi ẩm, cũng như gói sơ cứu y tế cá nhân. Quần áo gồm bộ đồ săn mùa đông dày mà kiểu dáng của nó được Powers cho rằng mặc nó thì phi công chẳng có mấy hy vọng trà trộn được vào đám đông mà không gây nghi ngờ. Trong bộ dụng cụ còn có một chiếc tấm vải lụa có ghi những lời cầu khẩn bằng 14 thứ tiếng: “Tôi là người Mỹ, tôi không nói được thứ tiếng của các vị. Tôi cần thức ăn, nhà ở và sự giúp đỡ. Tôi sẽ không gây hại cho quý vị. Tôi không có ý đồ tội ác với nhân dân các vị. Các vị sẽ được hậu thưởng về sự giúp đỡ”. Ngoài ra, phi công còn được cấp hơn 7 ngàn rúp Liên Xô, tiền, nhẫn và đồng hồ đeo tay bằng vàng. Như vậy là người Mỹ đã tính đến cả nước dù không biết tiếng Nga, phi công Mỹ vẫn có thể thỏa thuận bằng thứ ngôn ngữ của vàng mà mọi dân tộc trên thế giới đều hiểu.

        Trước mỗi phi vụ, người ta lắp và tháo ngay khi máy bay trở về một khối thuốc nổ kích nổ 70 giây sau khi bấm nút. Người ta trù tính là trong thời gian đó, phi công sẽ kịp bấm ghế phóng hay rời khỏi máy bay bằng cách nào khác. Tuy vậy, các phi công U-2 lo rằng chắc gì CIA không thiết kế khối nổ để khi bấm nút nó sẽ nổ tức thì để sát hại luôn phi công.

        Thêm một chi tiết mới nữa xuất hiện trong trang bị của phi công U-2 là đồng đôla bằng bạc có lỗ. Có thể đeo nó như một đồ trang sức trên cổ hay trên chùm chìa khóa. Bên trong đồng đôla này là một kim găm hoàn toàn không bình thường đựng một mũi kim mảnh có một rãnh nhỏ chứa một chất màu nâu. Người ta giải thích cho phi công rằng đó là thuốc độc loại kurare (loại chất độc mà thổ dân Nam Mỹ sử dụng để tẩm vào các mũi tên). Khi chích kim, cái chết sẽ đến tức thì.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #26 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2021, 09:45:19 pm »


        Chuyến bay định mệnh

        Người ta đã dự tính tiến hành hai chuyến bay xâm nhập không phận Liên Xô trong tháng 4 năm 1960. Trong chuyến bay đầu. Powers được chỉ định là phi công dự bị.

        Chuyến bay này diễn ra ngày 9 tháng 4 với cự ly bay không xa và diễn ra thuận lợi bởi vậy Powers hy vọng cả chuyến bay thứ hai do anh ta lái cũng sẽ xuôn xẻ. Thực ra, chuyến bay này chẳng giống mấy với tất cả các chuyến bay trước đó. Đó là một chuyến bay xa thực sự. Trước tiên, phải bay qua toàn bộ lãnh thổ Liên Xô, qua Dushanbe, biển Aral, Chelyabinsk, Sverdlovsk, Arkhangelsk, bán đảo Kola, Kandalaksha, Murmansk, sau đó bay về hướng căn cứ Bodo ở Nauy. Thời gian dự tính của chuyến bay kéo dài 9 giờ. Phi vụ được thực hiện từ căn cứ Peshawar (Pakistan), nơi đã có hơn 20 người được đưa tới để phục vụ cho phi vụ này. Để bảo mật, máy bay này chỉ được dưa tới Peshawar vào đêm trước chuyến bay.

        Theo kế hoạch bay, phi vụ được ấn định vào ngày thứ tư, nhưng chuyến bay đã bị đình hoãn mấy lần. Chủ nhật, ngày 1 tháng 5, Powers đã bị đánh thức lúc bình minh. Anh ta phải bay. 5 giờ 20 phút, anh ta vào buồng lái. Giờ xuất phát dự định là 6 giờ 00, nhưng lệnh cất cánh bị trì hoãn để chờ Nhà Trắng cho phép. Đó là điều. Powers khẳng định, lần đầu tiên được làm. “Thông thường, người ta nhận được lệnh phê chuẩn của tổng thống từ trước. Tôi sẽ phải bay mà không được liên lạc vô tuyến điện với mặt đất. bởi vậy ở trên không, chỉ có thể trông cậy vào máy lục phân. Tuy vậy, do tất cả các tính toán được đưa ra là dựa trên thời điểm cất cánh là 6 giờ 00 nên máy lục phân trở nên vô ích. Tôi đã nghĩ là chuyến bay sẽ bị hủy bỏ và mơ được cởi bỏ bộ quần áo đẫm mồ hôi thì lúc 6 giờ 20 phút bỗng có tín hiệu: được phép cất cánh. Tôi lập tức khởi động động cơ và cất cánh”.

        Thời tiết không tốt. Mây dăng phủ kín cả núi non, tuy nhiên đối với nhiệm vụ do thám thì điều đó chả có vấn đề gì bởi vùng núi đâu có gì đáng để quan tâm. Sau 1.5 giờ bay, tia sáng đầu tiên xuất hiện trong các đám mây. Máy bay đang ở Đông Nam biển Aral. Độ cao bay đang là tối đa có thể. Bị chệch đường bay một chút. Powers điều chỉnh lại và lập tức trông thấy cái gì đó làm anh ta lo sợ. Khá xa bên dưới máy bay, anh ta trông thấy dấu vết một máy bay phản lực siêu âm bay song song với chiếc U-2. Powers nói tiếp: “Thật kỳ lạ, nhưng còn chưa đến biên giới, tôi đã cảm thấy người ta đã đợi sẵn tôi... Mây lại dày đặc và chỉ sau ba giờ bay. mây mới bát đầu tan bớt. Cách Chelyabinsk khoảng 50 dặm thì mây tan. Trong thân máy bay, camera chụp ảnh và các máy móc dùng để ghi tín hiệu vô tuyến điện từ mặt đất vào băng từ bắt đầu làm việc. Tôi lại bay theo hướng cũ, mây đã ở phía sau, tôi hơi an tâm. Lúc đó, máy lái tự động làm việc không chính xác nên máy bay bắt đầu ngóc mũi. Tôi tắt máy lái tự động và tự lái bằng tay trong mấy phút. Sau đó, tôi lại bật máy lái tự động và tình hình lại lặp lại. Tôi buộc phải tắt hẳn máy lái tự động. Một tình huống rất khó chịu xảy ra. Tất cả phụ thuộc vào quyết định của tôi: hoặc là bay quay lại, hoặc là tiếp tục bay. Chỉ một giờ trước, chắc tôi sẽ không nghĩ đến chuyện quay về và thế là xong. Nhưng lúc này tôi đã vào sâu không phận Liên Xô 1300 dặm, bay qua tầng mây, tầm nhìn phía trước thật tuyệt vời. Tôi quyết định bay tiếp... Khi thấy một hồ nước lớn, tôi đánh dấu nó trên bản đồ. Sau đó, tôi nhìn thấy cả một tổ hợp công trình quân sự hoặc dân sự và đánh dấu nó có chú thêm “mục tiêu lớn”, để lưu ý khi viết báo cáo sau chuyến bay... Gần Sverdlovsk, tôi phải đổi hướng bay về phía Tây Bắc. Tôi đổi hướng và bay theo hướng bay mới trên vùng ngoại ô Tây Nam thành phố. Chuyến bay đã diễn ra gần bốn giờ đồng hồ. Khi thấy một sân bay không được ghi trên bản đồ, tôi đánh dấu nó lại. Đường bay của tôi đi qua đúng trên sân bay này. Tôi phải ghi lại thời gian, độ cao, tốc độ, nhiệt độ khí xả và các tham số làm việc của động cơ hiển thị trên các thiết bị. Tôi đang ghi thì bỗng có một tiếng va chạm khô khốc, máy bay đột ngột vọt về phía trước và một quầng lửa màu da cam ghê sợ sáng loà buồng lái và bầu trời. Máy bay lập tức bắt đầu rơi và tôi cảm thấy cánh và đuôi máy bay sắp văng ra đến nơi. Có thể máy bay không bị bắn trúng trực tiếp, nhưng nó đã bị hỏng do sóng xung kích và mảnh đạn... Máy bay rơi vào trạng thái bay xoắn ốc khác thường có dạng lộn ngược: mũi hướng lên trên trời, đuôi chúi xuống dưới, xuống đất. Tôi bật hệ thống cấp ôxy khẩn cấp. Bộ đồ bay tầng cao của tôi phồng lên hơi sớm (tuy nhiên lúc đó tôi chẳng cảm thấy gì): buồng lái đã bị mất độ kín. Bộ quần áo bay bó chẹt các cử động, còn trọng lực đẩy chúi tôi về phía trước, về phía mũi máy bay lôi khỏi ghế ngồi. Với tay đến các công tắc của khối nổ, tháo bỏ các tấm chắn an toàn, nhưng tôi chủ chừ, 70 giây không phải là quá nhiều... Tôi mở nắp cabin và cởi thắt lưng. Nửa thân người tôi lập tức bị ép chặt vào bảng đồng hồ, còn nửa thân kia thì lơ lửng bên ngoài. Điều đó diễn ra nhanh đến mức tôi bị đập người vào kính quan sát phía sau và nó đã biến mất vào không trung. Đó là cái cuối cùng tôi nhìn thấy vì mặt nạ lập tức bị sương phủ mờ tịt. Có cái gì đó còn níu chặt tôi với máy bay. Tôi bỗng nhớ ra: các ống dẫn ôxy. Tôi đã quên tháo chúng ra. Máy bay tiếp tục quay. Sau khi cử động mạnh đôi chân và thoát được cả người ra, có lẽ tôi đã làm đứt đôi chân vì thế mà tôi bất ngờ được tự do - thân tôi rơi và bay lượn rất nhẹ nhàng. Cảm giác thật dễ chịu và sung sướng. Đó chính là điều tôi cảm nhận vào lúc đó. Chắc chắn tôi đang ở trạng thái sốc”.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #27 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2021, 09:45:35 pm »


        Dù bung ngay lập tức. Chiếc U-2 không còn người lái bay là là và hạ cánh. Chiếc máy bay rơi xuống cánh đồng mới cày, trượt bụng một quãng, sau đó thân của nó gãy gập xuống dưới. Nhiều mảnh nhỏ của thân và cánh chiếc U-2 bị vãng ra bởi vụ nổ tên lửa cũng rơi theo sau xuống đất. Các chi tiết đặt cao trên thân máy bay khi tiếp đất không bị hư hại.

        Sau khi phát hiện chiếc U-2 biến mất, CIA và Bộ Ngoại giao bắt đầu có những cuộc họp ráo riết. Người ta đã chấp thuận giả thiết máy bay bị nổ tung, phi công đã chết và không còn có chứng cứ nào về hoạt động do thám. Nhưng bỗng ngày 5 tháng 5, Liên Xô đã công bố việc chiếc máy bay quân sự Mỹ bị bắn rơi trên lãnh thổ nước mình. Washington liền có ngay phản ứng chính thức. Cùng ngày, đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ trong cuộc họp báo chính thức đã tuyên bố rằng, chiếc máy bay U-2 của Mỹ khi tiến hành nghiên cứu khí tượng ở tầng trên khí quyển gần biên giới Liên Xô-Thổ Nhĩ Kỳ, do trục trặc của hệ thống cấp ôxy của phi công nên đã bay lạc đường. Tiếp đó, trong lời tuyên bố còn nói phi công bị ngất, còn máy bay do hệ thống điều khiển tự động lái đã bay lạc vào không phận Liên Xô. Chiếc máy bay, theo cam đoan của Bộ Ngoại giao Mỹ, không thuộc về Không quân Mỹ, mà thuộc về NASA. Giả thiết lập tức được NASA xác nhận bằng cách tuyên bố máy bay bị thất lạc. Họ cũng đã đãng những số liệu “chính xác” về chuyến bay của chiếc U-2 trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, về các thiết bị đặc biệt của nó để lấy mẫu thử không khí và để thu thập số liệu bức xạ phóng xạ. Trong phần còn lại của tuyên bố, NASA lập lại những điều đã nêu trong tuyên bố trước đó của Bộ Ngoại giao.

        Hai ngày sau, tại Moskva đã diễn ra kỳ họp của Xô- viết Tối cao Liên Xô, trong đó đã đưa ra tuyên bố chính thức về việc phi công chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi vẫn còn sống và đang ở Moskva và có những bằng chứng không thể bác bỏ về tính chất gián điệp của chuyến bay này. Bị dồn vào chân tường bởi các sự kiện và bằng chứng, Bộ Ngoại giao Mỹ liền thay đổi chiến thuật và đưa ra lời tuyên bố mới, trong đó thừa nhận chiếc U-2 đã được phái vào lãnh thổ Liên Xô để thu thập các số liệu do thám quân sự, nhưng nói là giới chức Washington đã không cho phép thực hiện chuyến bay đó. Ngay trước kỳ tranh cử tổng thống, tuyên bố này là rất hấp tấp. Eisenhower đứng trước một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Nếu thừa nhận chuyến bay được thực hiện mà ông ta không biết gì thì điều đó sẽ làm tổn hại nghiêm trọng uy tín của tổng thống Mỹ và chính quyển của ông ta. Còn nếu thừa nhận tổng thống đã cho phép tiến hành chuyến bay do thám thì các cuộc đàm phán thượng đỉnh Xô-Mỹ sắp diễn ra trong mấy ngày tới có thể bị phá vỡ. Allen Dulles đề nghị được đứng ra nhận toàn bộ trách nhiệm về vụ này. Eisenhower đã bác bỏ đề xuất này và trong bài phát biểu ngày 11 tháng 5 đã thừa nhận các chuyến bay do thám của các máy bay Mỹ trên lãnh thổ Liên Xô đã được tiến hành với sự cho phép của ông ta và theo Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947, ông ta đã áp dụng các sắc lệnh để soạn thảo và thực hiện chương trình quan sát rộng rãi từ trên không bằng cách cho các máy bay do thám Mỹ xâm nhâp không phận Liên Xô.

        Ngày 17 tháng 8 năm 1960, tại Moskva đã bắt đầu phiên tòa, trong đó Powers đã thú nhận chuyến bay của anh ta hoàn toàn phục vụ mục đích gián điệp. Kết quả thẩm định các mảnh vụn của thiết bị chụp ảnh và thiết bị vô tuyến điện tử, cũng như các cuộn phim đã chụp và các cuộn bằng đã ghi đã khẳng định điểu đó. Tại ngày thứ ba của phiên tòa, viên phi công Mỹ đã bị tước quyền tự do 10 năm, trong đó 3 năm đầu phải ở tù.

        Một năm rưỡi sau, ngày 10 tháng 2 năm 1962, tại Berlin, anh ta đã được trao trả cho người Mỹ để đổi lấy tình báo viên Liên Xô Rudolf Abel. Ngày 2 tháng 8 năm 1977, báo chí Mỹ đã đưa tin Francis Garry Powers, cựu phi công CIA từng thực hiện chuyến bay do thám trên lãnh thổ Liên Xô, đã tử nạn trong một tai nạn trực thăng gần Los Angeles.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #28 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2021, 10:48:34 pm »


        Dù bung ngay lập tức. Chiếc U-2 không còn người lái bay là là và hạ cánh. Chiếc máy bay rơi xuống cánh đồng mới cày, trượt bụng một quãng, sau đó thân của nó gãy gập xuống dưới. Nhiều mảnh nhỏ của thân và cánh chiếc U-2 bị vãng ra bởi vụ nổ tên lửa cũng rơi theo sau xuống đất. Các chi tiết đặt cao trên thân máy bay khi tiếp đất không bị hư hại.

        Sau khi phát hiện chiếc U-2 biến mất, CIA và Bộ Ngoại giao bắt đầu có những cuộc họp ráo riết. Người ta đã chấp thuận giả thiết máy bay bị nổ tung, phi công đã chết và không còn có chứng cứ nào về hoạt động do thám. Nhưng bỗng ngày 5 tháng 5, Liên Xô đã công bố việc chiếc máy bay quân sự Mỹ bị bắn rơi trên lãnh thổ nước mình. Washington liền có ngay phản ứng chính thức. Cùng ngày, đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ trong cuộc họp báo chính thức đã tuyên bố rằng, chiếc máy bay U-2 của Mỹ khi tiến hành nghiên cứu khí tượng ở tầng trên khí quyển gần biên giới Liên Xô-Thổ Nhĩ Kỳ, do trục trặc của hệ thống cấp ôxy của phi công nên đã bay lạc đường. Tiếp đó, trong lời tuyên bố còn nói phi công bị ngất, còn máy bay do hệ thống điều khiển tự động lái đã bay lạc vào không phận Liên Xô. Chiếc máy bay, theo cam đoan của Bộ Ngoại giao Mỹ, không thuộc về Không quân Mỹ, mà thuộc về NASA. Giả thiết lập tức được NASA xác nhận bằng cách tuyên bố máy bay bị thất lạc. Họ cũng đã đãng những số liệu “chính xác” về chuyến bay của chiếc U-2 trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, về các thiết bị đặc biệt của nó để lấy mẫu thử không khí và để thu thập số liệu bức xạ phóng xạ. Trong phần còn lại của tuyên bố, NASA lập lại những điều đã nêu trong tuyên bố trước đó của Bộ Ngoại giao.

        Hai ngày sau, tại Moskva đã diễn ra kỳ họp của Xô- viết Tối cao Liên Xô, trong đó đã đưa ra tuyên bố chính thức về việc phi công chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi vẫn còn sống và đang ở Moskva và có những bằng chứng không thể bác bỏ về tính chất gián điệp của chuyến bay này. Bị dồn vào chân tường bởi các sự kiện và bằng chứng, Bộ Ngoại giao Mỹ liền thay đổi chiến thuật và đưa ra lời tuyên bố mới, trong đó thừa nhận chiếc U-2 đã được phái vào lãnh thổ Liên Xô để thu thập các số liệu do thám quân sự, nhưng nói là giới chức Washington đã không cho phép thực hiện chuyến bay đó. Ngay trước kỳ tranh cử tổng thống, tuyên bố này là rất hấp tấp. Eisenhower đứng trước một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Nếu thừa nhận chuyến bay được thực hiện mà ông ta không biết gì thì điều đó sẽ làm tổn hại nghiêm trọng uy tín của tổng thống Mỹ và chính quyển của ông ta. Còn nếu thừa nhận tổng thống đã cho phép tiến hành chuyến bay do thám thì các cuộc đàm phán thượng đỉnh Xô-Mỹ sắp diễn ra trong mấy ngày tới có thể bị phá vỡ. Allen Dulles đề nghị được đứng ra nhận toàn bộ trách nhiệm về vụ này. Eisenhower đã bác bỏ đề xuất này và trong bài phát biểu ngày 11 tháng 5 đã thừa nhận các chuyến bay do thám của các máy bay Mỹ trên lãnh thổ Liên Xô đã được tiến hành với sự cho phép của ông ta và theo Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947, ông ta đã áp dụng các sắc lệnh để soạn thảo và thực hiện chương trình quan sát rộng rãi từ trên không bằng cách cho các máy bay do thám Mỹ xâm nhâp không phận Liên Xô.

        Ngày 17 tháng 8 năm 1960, tại Moskva đã bắt đầu phiên tòa, trong đó Powers đã thú nhận chuyến bay của anh ta hoàn toàn phục vụ mục đích gián điệp. Kết quả thẩm định các mảnh vụn của thiết bị chụp ảnh và thiết bị vô tuyến điện tử, cũng như các cuộn phim đã chụp và các cuộn bằng đã ghi đã khẳng định điểu đó. Tại ngày thứ ba của phiên tòa, viên phi công Mỹ đã bị tước quyền tự do 10 năm, trong đó 3 năm đầu phải ở tù.

        Một năm rưỡi sau, ngày 10 tháng 2 năm 1962, tại Berlin, anh ta đã được trao trả cho người Mỹ để đổi lấy tình báo viên Liên Xô Rudolf Abel. Ngày 2 tháng 8 năm 1977, báo chí Mỹ đã đưa tin Francis Garry Powers, cựu phi công CIA từng thực hiện chuyến bay do thám trên lãnh thổ Liên Xô, đã tử nạn trong một tai nạn trực thăng gần Los Angeles.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #29 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2021, 10:49:01 pm »


        Điệp viên Penkovsky

        Ngày 3 tháng 5 năm 1963, tại Moskva, đã khai mạc phiên tòa xử đại tá GRU (Tổng cục Tình báo - Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Liên Xô) Oleg Vladimirovich Penkovsky. Một tuần sau, tòa đã tuyên án hắn: Penkovsky đã thú nhận phạm tội phản bội tổ quốc và bị tuyên án tử hình bằng xử bắn, bị tước quân hàm, tất cả các huân huy chương, tài sản riêng bị tịch thu. Các tờ báo Pravda (Sự thật) và Izvestya (Tin tức) đã đưa tin một tên nghiện rượu, tha hóa về đạo đức, một sĩ quan đã phản bội tổ quốc mình, làm gián điệp cho CIA.

        Những người bảo trợ Penkovsky ở CIA, trái lại, đã bày tỏ sự tri ân đối với tên tay sai của họ sau khi chết. Theo họ, Penkovsky, trong những năm tháng rực rỡ nhất của đời mình, đã góp một phần quan trọng vào việc giải toả các cuộc khủng hoảng quốc tế liên quan đến khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân.

        Bất kể việc Mỹ ca ngợi vai trò bảo vệ hòa bình đặc biệt của Penkovsky thì kể cả trong thời cải tổ ở Liên Xô, cũng không có ai vội vàng công khai cảm ơn hắn về việc đã cứu vãn thế giói khỏi hiểm hoạ chiến tranh hạt nhân. Thậm chí trái lại, năm 1990, KGB đã công bố danh sách các tài liệu quan trọng nhất mà Penkovsky đã chuyển cho CIA. Từ danh sách này, có thể thấy Penkovsky đã đóng vai trò không đáng kể trong việc giảm bớt căng thẳng đối đầu giữa hai siêu cường vào đầu thập niên 1960.

        Đáp lại yêu cầu thu thập và ghi nhận mọi thông tin về các kênh thông tin liên lạc của Liên Xô, của CIA về hoạt động mã thám, cơ yếu và các phương pháp của công tác nhân sự trong lĩnh vực này, Penkovsky đã mô tả đặc điểm của các hệ thống thông tin liên lạc chính phủ của Liên Xô vào đầu thập niên 1960. Thời đó có hai hệ thống như vậy. Một hệ được gọi là VCh và nối bằng cáp ngầm các phòng làm việc của các cán bộ đảng cao cấp trong Điện Kremlin với tất cả các thành phố của Liên Xô. Hệ thống kia được gọi là “Kremlievka”. Đây hoàn toàn là hệ thống điện thoại nội hạt Moskva nối với tất cả các công sở chính phủ ở thủ đô. Một phiên bản của “Kremlievka” là “Vertushka” nối trực tiếp các quan chức nhà nước cao cấp nhất với Điện Kremlin. Trên mạng “Vertushka”, điện thoại sẽ được kết nối lập tức nếu một người dùng nào đó nhấc ống nghe trên một đầu dây của nó. Không thể kết nối với hệ “Kremlievka” từ mạng điện thoại thành phố. Việc phân phối điện thoại được phép đấu với các hệ thống thông tin liên lạc chính phủ do Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, cơ quan lãnh đạo của chính đảng duy nhất ở Liên Xô, phụ trách. Ngoài ra, Penkovsky còn chuyển cho Mỹ các quy tắc tổ chức liên lạc và mật mã của Thổ Nhĩ Kỳ trong những năm 1955-1956.

        Liên Xô và Mỹ bất đồng không chỉ trong đánh giá tầm quan trọng của thông tin mà Penkovsky đã cung cấp cho phương Tây. Người ta cũng không thể có được câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi KGB đã khám phá Penkovsky như thế nào. Đó là vì trong cũng như ngay sau chiến tranh lạnh, các cuộc tranh cãi về những sự kiện và đông cơ được che giấu trong hoạt động của các cơ quan tình báo và điệp viên của họ là bản chất của cuộc chiến bí mật
không ngơi nghỉ giữa KGB và các đối thủ phương Tây của nó. Cả hai phía thường thích cắt nghĩa các sự kiện lịch sử theo cách dễ chịu cho mình.

        Năm 1990, đại diện chính thức của KGB đã ra tuyên bố, trong đó có nói rằng, chỉ ra dấu vết của tên phản bội là Charles Chisholm, người đã đến Moskva vào tháng 6 năm 1960 với cương vị bí thư thứ hai sứ quán Anh. Trước đó, KGB đã biết ông ta và vợ là những gián điệp cáo già. Hoạt động theo dõi ngoài đối với bà Chislholm đã dẫn đến Penkovsky.

        Theo một giả thiết khác, tình báo Liên Xô đã chặn thu và giải mã được một bức điện gửi đến sứ quán Mỹ ở Moskva, trong đó họ tên của Penkovsky đã được đặc biệt nhấn mạnh về việc cần cấp ngay cho hắn visa để đến hội chợ ở Seattle mùa xuân năm 1962.

        Cũng có thể Penkovsky đã bị điệp viên của Liên Xô trong NSA là Jack Edward Dunlap tố giác. Vấn đề là ở chỗ, chi có rất ít người ở ngoài CIA được tiếp cận các báo cáo của Penkovsky. Ngoài giám đốc NSA, chỉ còn có khoảng 20 người nữa của cơ quan này được tiếp xúc với chúng. Sau khi lục soát tại nhà Dunlap đã tìm thấy một số tài liệu không phải là bí mật nhất được cho là của “nguồn tin Xô-viết tin cậy”. Tác giả của chúng là Penkovsky. Và mặc dù các tài liệu này khó lòng giúp xác định được nhân thân của hắn, nhưng có lẽ chúng đã là tín hiệu cho KGB thấy đã có một tên phản bội trong giới quân sự Liên Xô.

        Còn một giả thiết nữa dựa trên phỏng đoán Penkovsky bị một điệp viên khác của Liên Xô tố giác - đó là trung tá William Henry Whelan, trường phòng cơ yếu tại Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân của Bộ Quốc phòng Mỹ. Ông ta cũng được tiếp cận các tài liệu thu được từ Penkovsky và có thể giúp KGB giám đáng kể thời gian cần để lần ra Penkovsky với tư cách nghi can chính.

        Cuối cùng, nguồn tin có thể đã tố giác Penkovsky còn có thể là một điệp viên khác của KGB - Robert Lee Johnson, trung sĩ Mỹ phục vụ tại trạm quân bưu (Armed Forces Courier Station) ở sân bay Orly, cách không xa Paris. Do thông tin của Penkovsky cũng được chuyển cho giới chi huy quân sự cao cấp Mỹ ở Tây Âu nên chúng hoàn toàn có thể đã lọt vào tay Johnson. Cả trong trường hợp này thì tên họ Penkovsky cũng không bị nêu rõ ra mà chỉ được đề cập là một sĩ quan cao cấp Liên Xô. điều đó đã khiến KGB tung hết lực lượng ra để truy tìm. Việc xâm nhập của Johnson vào kho bưu phẩm bí mật của trạm quân bưu trùng với thời gian theo dõi bà Chisholm ở Moskva.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM