Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Giêng, 2021, 09:39:58 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tình báo vô tuyến điện tử  (Đọc 972 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2021, 10:11:43 pm »

 
        - Tên sách : Tình báo vô tuyến điện tử

        - Tác giả : B. Anin, A. Petrovich

        - Nhà xuất bản Công an nhân dân
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Giêng, 2021, 05:26:48 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #1 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2021, 03:30:26 pm »


NHẬP ĐỀ

        Đừng tìm sự thống nhất trong tống thể mà hãy tìm sự chia rẽ trong nhất thể
K. Prutkov, “Những trước tác”.       

        Tình báo vô tuyến điện tử là gì

        Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, có những quốc gia đã đối địch quyết liệt với nhau. Trong cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo, giành thắng lợi thường là người biết trước những ý đồ của đối thủ. Và để làm việc đó, từ xa xưa có một phương tiện đã được thử thách là tình báo.

        Khi nhân loại bước vào kỷ nguyên điện tử, các phương thức tình báo cổ điển đã được bổ sung thêm các phương tiện tình báo điện tử. Thuộc số đó là những tổ hợp thiết bị dùng để thu thập thông tin mật với các bộ phận chính dựa trên các nguyên lý điện tử. Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, “bệnh dịch hạch điện tử”, thuật ngữ thường dùng để chỉ tình báo điện tử, đã gây thương tổn cho tất cả các nước. Trong đó, chiếm vị trí chủ yếu là tình báo vô tuyến điện tử. Các phương thức tình báo vô tuyến điện tử bao gồm những hành động có chủ đích nhằm chặn thu những tín hiệu mà con người hoặc các phương tiện kỹ thuật trao đổi với nhau với sự trợ giúp của truyền tin hữu tuyến và vô tuyến (vô tuyến điện, điện báo, điện thoại). Mục tiêu cuối cùng của việc chặn thu này là phát hiện ra các tham số của những hệ thống truyền tin này (vị trí, công suất...), cũng như thông tin được truyền qua chúng. Tình báo vô tuyến điện tử cũng chú ý tới tính năng của các thiết bị kỹ thuật vô tuyến điện, ví dụ như các đài radar phòng không. Những dữ liệu thu được, sau đó, có thể sử dụng để chế áp khả năng chiến đấu của lực lượng phòng không trong tác chiến.

        Nhưng việc có được văn bản báo cáo một cách đơn thuần thường là hoàn toàn không đủ để tìm hiểu nội dung của nó. Ngay từ thời xa xưa, con người đã học được cách che giấu ý nghĩa của các thông điệp của mình bằng mật mã. Đồng thời, bản thân sự tồn tại của bức điện được mã hoá thì lại không được che giấu bởi lẽ muốn đọc nó phải biết cách giải mã. Bởi vậy, được liệt vào các phương pháp tình báo vô tuyến điện tử còn có khả năng không chỉ chặn thu (tức là tư liệu hoá và tái tạo không sai lệch) mà còn giải mã các bức điện, tức là vượt qua lớp bảo vệ dưới dạng các loại mật mã. Một dạng của tình báo vô tuyến điện tử là điệp báo truyền thống nếu như mục tiêu của nó là thu thập tin tức có liên hệ trực tiếp tới việc tiến hành tình báo vô tuyến điện tử.

        Lẽ nào nhà nước hiện đại cần phải có tình báo vô tuyến điện tử đến thế? Rõ ràng là một thiên niên kỷ, loài người vẫn đâu có sao khi không có nó mà chi cần điệp báo thông thường, trong đó đóng vai trò hàng đầu không phải là máy móc tinh quái vô hồn mà là con người.

        Đúng, con người đã không cần nó. Nhưng thế kỷ XX đã cho thấy rất rõ là thông tin thu thập bằng các phương pháp tình báo vô tuyến điện tử, nhất là tại những thời điểm quan trọng trong lịch sử như các cuộc chiến tranh thế giới “nóng” và “lạnh”, đã đóng vai trò quyết định. Quan điểm của các chiến lược gia quân sự và chính trị gia lỗi lạc cho thấy thông tin thu được nhờ tình báo vô tuyến điện tử luôn là bộ phận tin tức chiến lược, chiến thuật về địch có giá trị nhất đối với họ.

        Sự phát triển vũ bão của công nghệ đã làm cho vai trò của tình báo vô tuyến điện từ trong những thập niên cuối của thế kỷ XX trở nên càng quan trọng hơn. Không phải ngẫu nhiên mà chính trong thời kỳ này, những thành tựu trong lĩnh vực tình báo vô tuyến điện tử, cùng với sự sở hữu vũ khí hạt nhân và các chương trình vũ trụ toàn cầu, đã trở thành một tiêu chí đặc trưng của một đại cường quốc.

        Trong khi không hề giảm nhẹ vai trò của các phương tiện quang học do thám hàng không và vũ trụ, cần lưu ý rằng, chúng chỉ có tác dụng với những sự kiện đã hoàn tất. Nhờ chụp ảnh, chỉ có thể ghi nhận sự triển khai đã có hoặc đã bắt đầu của các mục tiêu quân sự và chiến lược trên mặt đất. Tình báo vô tuyến điện tử đã mang lại những tin tức mà thường còn đang tồn tại ở dạng những kế hoạch chưa được thực hiện. Chính vì vậy. nó giúp không chỉ phản ứng với những cái đã xảy ra, mà cả tác động tới tương lai.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #2 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2021, 03:30:50 pm »


        Tình báo vô tuyến điện tử không chỉ là phương thức gián điệp giàu thông tin hơn mà còn tin cậy hơn. Nó có thể được tiến hành liên tục vào mọi lúc trong năm, suốt ngày đêm, trong mọi thời tiết và đồng thời là cái mà đối phương không thể đụng tới được. Dĩ nhiên là có thể tạo ra những mạng lưới thông tin liên lạc giả để truyền những thông tin bóp méo. Tuy vậy, nếu tiến hành ở quy mô lớn, trò chơi vô tuyến điện này tất yếu sẽ bị phát giác.

        Tình báo vô tuyến điện tử có khả năng bao quát những khoáng cách và không gian rộng lớn mà ranh giới của nó chỉ được quy định bởi những đặc điểm lan truyền của sóng điện từ. Chính những ranh giới đó vào thời đại chúng ta là phương tiện truyền tải chủ yếu các thông tin của con người. Tuy vậy, việc hạn chế sự lan truyền tín hiệu vô tuyến chỉ ở trong phạm vi những người nhận hợp pháp những tín hiệu đó là không thể về mặt kỹ thuật hoặc không thực tế do những chi phí vô cùng lớn để chế tạo những trang thiết bị cần thiết.

        Và cuối cùng, tình báo vô tuyến điện tử được tiến hành một cách bí mật. Người ta thường khó xác định không chỉ quy mô mà cả sự xâm nhập của tình báo vô tuyến điện tử. Nếu như một quốc gia nào đó dù sao vẫn phát hiện ra là mình trở thành đối tượng của tình báo vô tuyến  điện tử thì xì căng đan thường không xảy ra như trong trường họp bắt được gián điệp. Tình báo vô tuyến điện tử thường được tiến hành mà không có sự tiếp xúc trực tiếp với đối tượng của nó. Kể cả những vụ ầm ĩ nhất về tình báo vô tuyến điện tử “sạch” cũng không có sự pha trộn của điệp báo, không có những cuộc vây ráp của cảnh sát và nguy cơ tống những nghi can vào sau song sắt. Thực vậy, khó mà đe doạ hoặc trừng phạt các nước, hay cả những nhóm nước đồng minh vì những việc làm không quân tử là nghe trộm từ lãnh thổ thuộc chủ quyền của họ! Bởi lẽ, những sợi dây điều khiển hoạt động tình báo vô luyến điện tử quy mô lớn luôn dẫn đến các giới chính trị cao cấp.

        Thoạt nhìn có thể nghĩ rằng, tình báo vô tuyến điện tử là rẻ tiền. Chỉ cần đưa một anh lính binh nhì ngồi cạnh một máy thu để chặn thu các bức điện mật mã và một sĩ quan ngồi cạnh bàn viết để giải phá chúng và cặp song ca này đã trở thành phôi thai cho một đơn vị tình báo vô tuyến điện tử hoàn chỉnh. Tuy vậy, khả năng có thể đạt được hiệu suất cao nhất của tình báo vô tuyến điện tử đã luôn là đặc quyền của các tổ chức khổng lồ và các quốc gia giàu có nắm trong tay công nghệ tiên tiến. Những nước nghèo sẽ không thể mua sắm các thiết bị chặn thu đắt tiền, cũng như duy trì một đội quân các chuyên gia lành nghề đông đảo.

        Các phương pháp tình báo vô tuyến điện tử, dĩ nhiên, cũng có những khiếm khuyết. Một là những người có dính líu đến những bí mật của nó nhiều khi phóng đại sự hiểu biết của mình. Hai là có thế rất dễ dàng mất đi một nguồn tin quý giá chỉ cần đối phương thay đổi các phương pháp mã hoá các bức điện của mình. Ba là tình báo vô tuyến điện tử là một phương pháp thu thập tin tình báo thụ động: nếu như các mạng lưới thông tin liên lạc của đối phương không được đưa vào hoạt động thì mọi phương tiện theo dõi chúng dù là thông minh nhất cũng hoàn toàn vô dụng. Nhưng những nhược điểm của tình báo vô tuyến diện tử không hề làm giảm những ưu điểm hiển nhiên của chúng - phạm vi toàn cầu, tính liên tục. linh hoạt, độ tin cậy và tính bí mật.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #3 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2021, 03:31:26 pm »


        Cuốn sách này viết về cái gì

        Cuốn sách này viết về lịch sử tình báo vô tuyến điện tử. Tình báo vô tuyến điên tử được hiểu là hoạt động bất kỳ do các cơ quan dân sự và quân sự nước ngoài tiến hành để tiếp cận những thông tin mật mà chủ nhân của những thông tin đó cố giữ kín. Hoạt động với mục đích tương tự của các cơ quan đặc biệt Nga/Liên Xô xưa nay vẫn được gọi là hoạt động tình báo. Đồng thời, việc sử dụng ngôn từ có cùng gốc với danh từ “tình báo” và “gián điệp” vẫn tùy thuộc vào lương tâm các tác giả của các cuốn sách và câu nói được trích dẫn. Điều đó cũng liên quan đến tên gọi các cơ quan gián diệp nước ngoài, trong đó từ “tình báo” là phần không thể tách rời.

        Cuốn sách tập trung chú ý vào hoạt động của Cục An ninh Quốc gia (NSA) của Mỹ, Trung tâm Thông tin liên lạc Chính phủ (GCHQ) của Anh và Uỷ ban An ninh Quốc gia (KGB) của Liên Xô với tư cách những cơ quan nhà nước lớn nhất làm công tác thu thập thông tin mật từ các kênh thông tin liên lạc. Sách cũng đề cập ở mức độ thấp hơn tới hệ thống tình báo vô tuyến điện từ của các nước khác.

        Nằm ngoài phạm vi của cuốn sách này chỉ còn lại phương diện thuần túy kỹ thuật của tình báo vô tuyến điện tử - các phương pháp phá mã, các phương tiện tính toán... được sử dụng. Nó được đề cập rất hạn chế trong những nguyên bản được sử dụng để viết cuốn sách này và cũng không được đa số độc giả quan tâm cho lắm. Bởi vậy, đối tượng xem xét trước hết là những hành động, mối quan hệ tương hỗ và động cơ hành động của những người có liên hệ với lĩnh vực tình báo vô tuyến điện tử. Bởi lẽ con người luôn là con người. Họ đi lại, ăn, ngủ và làm nhiều thứ khác, kể cả ở bên ngoài phần lãnh thổ được bảo vệ gắt gao mà các cơ quan tình báo vô tuyến điện tử trú đóng. Điều đó không thể diễn ra một cách vô hình đối với những người xung quanh. Các máy tính và máy móc chặn thu không thể nói gì về những ưu nhược điểm của mình. Chúng không thể chạy sang phía kẻ thù vì động cơ lý tưởng hay do sợ những hành vi xấu xa bị khám phá.

        Lịch sử tình báo vô tuyến điện tử được giới thiệu ở cuốn sách trong bối cảnh lịch sử thế giới và trù định sự hiểu biết nhất định của độc giả về lĩnh này. Bởi vậy, tất cả các sự kiện vượt ra ngoài phạm vi của tình báo vô tuyến điện tử chỉ được cắt nghĩa rộng hơn nếu điều đó hoàn toàn cần thiết để làm rõ lịch sử của nó.

        “Người biết bí mật là người không nói đến nó. Kẻ nói đến là kẻ không biết ” - một câu ngạn ngữ phương Đông đã nói như vậy. Kết quả các công trình khoa học được tiến hành nhằm chế tạo các phương tiện tình báo vô tuyến diện tử, công nghệ chế tạo chúng, xu hướng và các khoản mục đầu tư cho việc tiến hành tình báo vô tuyến điện tử, quy mô chi phí thực sự cho nó cùng nội dung của các phương pháp cụ thể nhằm thu thập thông tin mật luôn được bảo vệ rất cẩn mật. Nhưng đối khi trên báo chí, phát thanh và truyền hình, vẫn xuất hiện những sự việc cho thấy những cái được thực hiện ở đằng sau tấm bình phong đứng đắn và bức màn ngôn từ về trách nhiệm cao cả của các cơ quan tình báo vô tuyến điện tử trước xã hội. Các cuốn sách, các chương trình phát thanh và truyền hình dựa trên những sự việc đó thường được tạo ra như các chuyên gia đã quen thể hiện trong lĩnh vực tình báo, bằng “phương pháp ghép mảnh”. Bởi vậy, không nên làm phiền lòng một độc giả chú tâm bằng sự dư thừa các nguồn tham khảo dùng để viết cuốn sách này và số lượng tài liệu sự kiện được tập hợp trong đó. Đó là vô số những sách được xuất bản ở phương Tây và ở Nga trong bốn thập niên cuối của thế kỷ XX. Báo chí nước ngoài và báo chí Nga cũng không lọt khỏi tầm chú ý. Đồng thời, không một dòng nào trong cuốn sách này chứa dù là một mẩu tin tức có được từ các nhân viên các cơ quan tình báo vô tuyến điện tử bằng cách riêng tư mà bỏ qua các phương tiện thông tin đại chúng hay trên cơ sở kinh nghiệm bản thân.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #4 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2021, 03:32:19 pm »


        Ai là ai trong ngành tình báo vô tuyến điện tử

        Cuốn sách này gồm 4 chương. Chương 1 viết về tình báo vô tuyến điện tử của Mỹ vốn khởi nguồn từ cuối chiến tranh thế giới thứ I, nhưng chỉ được hình thành thực sự về mặt tổ chức vào năm 1952 với sự ra đời của của NSA.

        Chương 2 lướt qua lịch sử các cơ quan tình báo vô tuyến điện tử của nước Anh. Phần then chốt là cuộc đấu tranh nhàm tiếp cận thông tin mật từ các kênh thông tin liên lạc của nước Đức trong thời chiến tranh thế giới thứ II.

        Trong "Báo cáo của KGB Liên Xô về các kết quả hoạt động nghiệp vụ năm 1989" đã nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng mà cơ quan tình báo này giành cho việc “thu thập các tài liệu mật của các cơ quan lãnh đạo các nước tư bản chủ nghĩa và các khối quân sự - chính trị của họ bằng cách chặn thu và giải mã thư tín đi qua các hệ thống thông tin liên lạc khác nhau”. Quan điểm này của báo cáo được minh hoạ rõ ràng bằng đánh giá của các chuyên gia nước ngoài, theo đó Liên Xô không chỉ không thua kém nước ngoài trong lĩnh vực tình báo vô tuyến điện tử, mà ở một vài phương diện còn vượt cả họ. Trong chương 3 tập hợp các tư liệu về hai cơ quan của nhà nước Xô-viết đảm nhiệm hoạt động tình báo vô tuyến điện tử - đó là tình báo quân sự mà đến đầu những năm 1940 vẫn còn nằm dưới quyền lãnh đạo của Cục 4 Bộ Tổng Tham mưu Hồng quân, sau đó được chuyển sang thuộc quyển Tổng cục Tình báo GRU được thành lập trên cơ sở Cục 4, và về các cơ quan an ninh quốc gia Nga/Liên Xô mà ở các thời kỳ có những tên viết tắt khác nhau như VChK (1917- 1922), GPU (1922-1923). OGPU (1923-1934), NKVD (1934-1941), NKGB (1941-1946), MGB (1946-1953), MVD (1953-1954) và KGB (1954-1991).

        Trong chương cuối là những thông tin hấp dẫn, tuy khá ngắn, về những sự kiện trong lịch sử các cơ quan tình báo vô tuyến điện tử của 9 nước khác là Áo, Đức, Israel, Italia, Canada, Ba Lan, Pháp, Thụy Điển và Nhật Bản.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #5 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2021, 09:16:56 pm »


        Thuật ngữ của ngành tình báo vô tuyến điện tử

        Mỗi loại hình công việc đều có kho từ vụng của mình để việc giao tiếp nghề nghiệp được dễ dàng và đơn gián. Từ điển của chuyên gia trong lĩnh vực tình báo vô tuyến điện tử rất không đơn giản, bởi vậy việc làm quen sơ bộ với các thuật ngữ của nó giúp cho độc giả dễ dàng hơn nhiều để hiểu nhũng gì được trình bày trong cuốn sách này.

        Bản rõ - đó là thông tin cần phải bảo mật trước khi truyền đi dưới dạng bức điện theo các kênh thông tin liên lạc. Bản rõ có thể đọc được mà không cần biện pháp xử lý sơ bộ nào.

        Tình báo vô tuyến điện tử thực hiện công việc với các bức điện chặn thu được mà để bảo mật chúng người ta áp dụng biện pháp mã (hoá). Sau khi được mã hóa, nội dung bức điện trở thành không thể hiểu được đối với người ngoài nhờ các phương pháp biến đổi bản rõ gọi là các mật mã.

        Mật mã có thể mật mã thủ công và mật mã máy tùy thuộc vào quá trình mã hóa được thực hiện thủ công hay tự động. Thiết bị dùng để mã hóa tự động các bức điện được gọi là máy mã. Nếu máy mã được bán trên thị trường tự do giống như máy móc điện tử dân dụng như máy thu hình, máy giặt và đầu máy video thì nó được gọi là máy mã thương mại.

        Tồn tại hai loại mã chính là mã hoán vị và mã thay thế. Khi hoán vị, các ký tự của bản rõ được thay đối vị trí, thứ tự bình thường của các ký tự bị phá vỡ. Trong trường hợp thay thế, các ký tự của bản rõ được thay thế bằng các ký tự, chữ số hay biểu tượng khác.

        Các hệ mã thay thế phổ biến hơn các hệ mã hoán vị. Chúng dựa trên ý tưởng bảng mã - danh sách các ký tự tương đương được sử dụng để biến đổi bản rõ thành bản mã hóa, việc được gọi là mã hóa. Khi người ta chỉ dùng vẻn vẹn một bảng mã để mã hóa thì hệ mã đó được gọi là hệ mã một bảng mã. Nhưng khi người ta sử dụng hai bảng mã trở lên để mã hóa thì hệ mã đó trờ thành hệ mã nhiều bảng mã.

        Tập hợp các quy tắc quy định toàn bộ quá trình mã hóa/giải mã các bức điện - tức là việc chuẩn bị bản rõ cho việc mã hóa, bản thân các hành động tiến hành chuyển đổi bản rõ thành bản mã và ngược lại, phương pháp truyền phát các bức điện mật mã đến người nhận - gọi là hệ mã.

        Trong số các phương pháp mã hóa kiểu thay thế, người ta chia ra mã từ (code) và mã ký tự (cypher). Mã từ gồm hàng ngàn từ, cụm từ, âm tiết và các từ mã tương ứng với chúng và dùng để thay thế các phần tử này trong bản rõ. Trong các mã ký tự, đơn vị chính của văn bản được biến đổi là ký tự, đôi khi là cặp ký tự.

        Các từ mã có thể hoán vị hoặc thay thế giống như bất kỳ một nhóm ký tự nào. Sự biến đổi này của văn bản mã hóa gọi là mã lập.

        Trong nhiều loại mật mã có sử dụng khóa mã. Nó quy định trình tự của các ký tự trong bảng mã hay phương pháp dịch chuyển trong mã hoán vị, hay vị trí trạng thái ban đầu của máy mã trước khi bắt đầu quá trình mã hóa bức điện. Các khóa mã là một bộ phận của hệ mã và quy định các phần tử khác nhau của nó.

        Cái nhận được nhờ quá trình mã hóa bản rõ được gọi là bản mã (hóa). Bức điện được chuẩn bị xong để gửi đi được gọi là bức điện mã hóa (mật mã). Bức điện mật mã (mã hóa) nhấn mạnh hơn đến bản thân sự truyền phát và là tương đương với từ “bức điện báo”, trong khi đó bản mã hóa là kết quá của quá trình mã hóa.

        Giải mã (dịch mã) là quá trình tiến hành các chuyên đối ngược bản mã của bức điện để nhận được bản rõ tương ứng với nó. Điều đó có thể do người nhận điện hợp pháp hay người ngoài thực hiện. Trong trường hợp đầu, người ta nói bức điện được giải mã; còn trong trường hợp thứ hai thì người ta nói bức điện bị phá mã.

        Việc phân tích mã, ở đây xin dùng thuật ngữ mã thám, đối với một hệ mã được hiểu là việc nghiên cứu, phân tích nhằm tìm ra các quy tắc để biết được nội dung bức điện mã hóa mà không biết đầy đủ về hệ mã này và các khóa mã của nó.

        Việc nghiên cứu phân tích mã thành công một hệ mã thì người ta gọi là phá mã. Còn người ta gọi những điện tín mật mã có sử dụng hệ mã đã bị phá giải là những điện tín mật mã có thể đọc được.

        Mật mã khó bị phá giải được gọi là mật mã vững chắc. Phái lưu ý là không loại mật mã nào là tuyệt đối vững chắc. Độ vững chắc của các thuật toán mã được quy định bởi thời gian cần để giải phá chúng. Mật mã được coi là tốt nếu nó đòi hỏi mất nhiều năm mới phá giải được. Sau thời gian này thì hoặc là thông tin được bảo mật bằng mật mã đã bị mất tính thời sự, hoặc chi phí để giải phá mã còn cao hơn giá trị của chính thông tin.

        Mã thám có thể tạm chia thành phần lý thuyết khi mà các quy tắc phân tích hệ mã nhằm giải phá nó dựa trên nền tảng kiến thức khoa học và được hình thành xuất phát từ điều chuyên gia mã thám đã biết về hệ mã này, và phần ứng dụng khi hệ mã cùng các khóa của nó đơn giản là được đánh cắp.

        Mật mã học là ngành khoa học bao trùm cả việc thiết kế các mật mã lẫn mã thám. Thuật ngữ “mật mã học” ở nghĩa rộng còn liên quan đến cả việc bảo đảm an ninh truyền tin trong các kênh thông tin liên lạc, cả việc lấy thông tin này từ các kênh đó vì mục đích gián điệp.

        Một câu chuyện chi tiết về lịch sử tình báo vô tuyến điện tử sẽ không thể không nhắc đến các phương pháp mã hóa mà đôi khi trực tiếp và nhiều khi là gián tiếp liên quan đến các sự kiện nào đó. Trước khi đọc cuốn sách này, độc giả nên có một vài hình dung về chúng.

        Điều đó là nên chứ không phải bắt buộc. Hơn nữa, nếu bắt đầu kể về lịch sử ngành tình báo vô tuyến điện tử từ những lập luận chi tiết (không thể nói bằng 1-2 câu được) về việc mã hóa thông tin mật ra sao, ta sẽ mạo hiểm làm cho độc giá không có kiến thức toán học căn bản phát ngán. Bởi vậy, việc mô tả các phương pháp mã hóa không được đưa vào cuốn sách này. Những người muốn tìm hiểu sâu lĩnh vực mật mã để hiểu rõ hơn lịch sử ngành tình báo vô tuyến điện tử có thể tham khảo các công trình khoa học nghiêm túc. Những độc giả còn lại có lẽ sẽ làm điều đó sau khi việc làm quen với lịch sử ngành tình báo vô tuyến điện tử đã khơi dậy sự quan tâm tới hoạt động mã thám.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #6 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2021, 09:17:21 pm »


        Lấy hấp dẫn làm phương châm!

        Cần rất thận trọng khi tiếp nhận những sự việc được dẫn ra trong cuốn sách. Sự buồn tẻ của sách báo nghiêm túc, đáng tin cậy về lịch sử tình báo vô tuyến điện tử không tạo cơ hội làm rõ chân tơ kẽ tóc tất cả đã diễn ra thế nào trên thực tế dù là bằng cách so sánh thông tin về cùng một sự kiện từ các nguồn khác nhau. Điều đó cũng dễ hiểu bởi lẽ tình báo vô tuyến điện tử là một loại hình hoạt động của con người được che giấu cẩn mật với tai mắt người ngoài. Bởi vậy, câu chuyện về các cơ quan tình báo vô tuyến điện tử tầm cỡ nhất cần được xem như một cố gắng thể hiện hoạt động của họ.

        Cho đến giữa những nãm 1980, phần lớn thông tin về hoạt động của các cơ quan tình báo vô tuyến điện tử nước ngoài và Nga ở Liên Xô đã bị kiểm duyệt rất khắt khe. Các phương tiện thông tin đại chúng đã cố khẳng định trong nhận thức đời thường quan niệm về các phương pháp bảo vệ thông tin bằng mật mã như một loại bệnh nghề nghiệp của gián điệp - bệnh cuồng mật mã, nghĩa là muốn mã hóa tất tần tật. Chỉ cần nhớ đến một đoạn độc thoại trào phúng được thực hiện vào đầu những năm 1990 trên các sân khâu nhạc nhẹ. Trong đó, một bác sĩ ngốc có thói quen nghĩ ra các mật mã để gọi tên các loại bệnh. IM có nghĩa là nhồi máu cơ tim (Infarct Myocardium), YaB - bệnh loét (Yazvennaya Bolezn)... Sự ham mê này đã khiến các bệnh nhân nghi ngờ vị bác sĩ là một cựu tình báo viên.

        Có thể đánh giá rõ nhất trình độ hiểu biết về các phương pháp bảo mật thông tin đã có thể khai thác chủ yếu từ các cuốn tiểu thuyết trinh thám phổ biến qua kinh nghiệm của một hãng Mỹ khi vào đầu năm 1990 họ đã nảy ra sáng kiến tổ chức bán tại Nga thiết bị kỹ thuật đặc biệt dùng để đối phó với tình báo công nghiệp. Theo lời các nhân viên của hãng, kể cả với những doanh nhân Nga nhận thức được sự cần thiết phái trang bị các máy mã cho các điện thoại văn phòng của mình thì họ cũng phải thuyết phục rất lâu để họ mua các máy mã thành từng cặp để lắp cho hai đầu dây điện thoại chống nghe trộm. Các khách hàng Nga không nghĩ ra nếu không mua như thế thì các máy móc đã mua sẽ đơn giản chỉ còn là đồ bỏ vô dụng.

        Cùng với các tín ngưỡng của các bộ lạc vùng nhiệt đới châu Á và châu Đại Dương, việc bản thân những khái niệm sơ đẳng của họ đã là nền tảng cho cái gọi là phương pháp mã hóa cũng không giúp nâng cao tầm quan trọng của mật mã học trong con mắt quần chúng. Phương pháp này đã được phát minh vào đầu những năm 1970 để điều trị bệnh nghiện rượu và được biết đến rộng rãi 20 năm sau đó. Tác giả của nó coi mình và các môn đệ của mình là có khả năng phát trường năng lượng sinh học vốn là môi trường để lan truyền thông tin được mã hóa chứa lệnh cấm uống rượu mà họ gửi đi. Lệnh cấm đó phải hoạt động ở mức tiềm thức của người nghiện rượu và không thể phá vỡ vì khi được mã hóa, nó không thể được nhận thức như một lệnh cấm.

        Từ việc chú ý tạo ra ở con người thái độ xem nhẹ đối với việc báo vệ thông tin bằng mật mã và việc những kẻ bịp bợm sử dụng lý thuyết của nó để khoác cái vỏ hiện đại cho những thủ đoạn lang băm cổ xưa mà họ thực hành cho đến việc kết luận về sự vô dụng của tình báo vô tuyến điện tử và tất cả những gì liên quan đến nó là một khoảng cách rất gần. Sau sự “tẩy não” như vậy, người ta sẵn sàng tin tất cả mọi người đều là anh em và không cần giấu gì với nhau cả. Hay là việc các tổng thống và thủ tướng theo dõi các sự kiện qua các bản tin truyền hình hoặc biết về chúng từ các bức điện báo khẩn cấp mà không cần đợi đến lúc người ta giải mã xong các bức điện từ các sứ quán. Hay là như điều đã xảy ra ở Iran thì chính Thánh Allah là gián điệp giỏi nhất của họ. Tất cả bất đầu năm 1981 với việc Arập Xêut mua của Mỹ những máy bay AWACS đắt không thể tưởng, được trang bị những thiết bị tình báo vô tuyến điện tử hiện đại nhất thời bấy giờ. Tại Iran, người ta đã chính thức lên án vụ mua bán này nhưng với ngụ ý mới đố kỵ làm sao! Chà từng đấy tiền cơ mà! Khí tài kỹ thuật mới tối tân làm sao! Không lâu sau, trên một tờ báo ớ Teheran đã xuất hiện một tác phẩm tuyên truyền có nội dung như sau: “Hai chiến binh Hồi giáo dũng cảm vượt qua một khu vực có cài mìn, từng giây chờ đợi mìn nổ mà không hề sợ chết. Bỗng nhiên từ đâu xuất hiện một con bò cái, chạy nhanh như chớp vượt qua các chiến sĩ can đảm và vấp phái quả mìn nằm đúng trên đường đi của họ. Con bò cái ấy có thể từ đâu ra trên cái vùng sa mạc này nhỉ. Đúng là Thánh Allah đã phái nó tới rồi. Chúng ta không cần những thiết bị thông minh đắt tiền để phát hiện nguy hiểm. Thánh Allah là AWACS của chúng ta”.

        Khác với Nga, Mỹ có quan điểm thực tế hơn về vai trò của mật mã. Trên báo chí Mỹ, những câu đố nan giải đầy hấp dẫn từ lâu mà để giải chúng phải biết đọc các cụm từ mã hóa đã trở nên quen thuộc. Còn việc dựng tượng đài Điệp viên Vô danh vào năm 1993 ở Mỹ dưới dạng một tấm biển đồng bình thường trên đó có ghi dưới dạng mã hóa họ tên của hơn một ngàn điệp viên nổi tiếng trên thế giới với mục đích không chỉ là đời đời ghi nhớ “những chiến sĩ trên mặt trận vô hình”. Tượng đài này, theo ý đồ của những người xây dựng nó, cần phải nhấn mạnh việc biết bảo vệ bí mật quan trọng như thế nào đối với một quốc gia.

        Cuốn sách này giới thiệu với độc giả lịch sử tình báo vô tuyến điện tử và tạo cho họ có một thái độ thích hợp đối với vai trò mà tình báo vô tuyến điện tử đã có trong thế kỷ XX trong đời sống của bất kỳ quốc gia nào. Làm việc này không phải dễ. Nhiều phương án mà những sự kiện có thực tạo ra đã đặt các tác giả trước một lựa chọn - trình bày từng phương án trong đó hay chọn phương án đáng tin nhất. Khi chọn hấp dẫn làm phương châm của cuốn sách, chúng tôi trong từng trường hợp cụ thể đã hành xử khác nhau.

        Trong việc lựa chọn, lý giải và phối trí tư liệu, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của G.v. Balakin, V.N. Karpov và R.F. Grigoriev. Và nếu như không có sự kiên nhẫn vô hạn của những người thân, những người trong một thời gian dài đã phải chấp nhận sự say mê và công việc khó nhọc khi viết cuốn sách này thì công trình của chúng tôi đã không thể hoàn thành.

        Đọc nó sẽ giúp một độc giả ưa suy ngẫm làm rõ được những bức tranh về các sự kiện của quá khứ hay là dù chỉ tạo ra những nghi vấn về sự đúng đắn, đầy đủ trong những hình dung của họ về chúng.

        Mạn phép giới thiệu với quý vị lịch sử tình báo vô tuyến điện tử của thế giới!
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #7 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2021, 09:18:39 pm »


       
TÌNH BÁO VÔ TUYẾN ĐIỆN TỬ CỦA MỸ

        Búng vào mũi con ngựa cái, nó sẽ vẫy đuôi.
K. Prutkov. “Những trước tác"       

        KHÚC DẠO ĐẦU

        Sự ra đời

        Ngày 4 tháng 11 năm 1952, vào lúc 12 giờ 01 phút, đã ra đời một cơ quan liên bang mới của Mỹ. Khác với các cơ quan khác, sự ra đời của nó diễn ra hoàn toàn trong im lặng. Giấy chứng sinh của nó, tức sắc lệnh gửi Ngoại trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng, là do Tổng thống Mỹ H. Truman ký. Nội dung của nó là chỉ thị thành lập cơ quan có tên Cục An ninh Quốc gia (National Security Agency - NSA).

        Tên gọi của cơ quan mới được chọn một cách cố ý để người ta không phán đoán ra vai trò và vị trí thật sự của nó trong lĩnh vực báo đảm an ninh quốc gia Mỹ. Bản thân sắc lệnh dài 7 trang này, kể từ thời điểm ký, cũng là một trong những văn kiện bí mật nhất của Mỹ. Mãi đến năm 1957, lần đầu tiên, người ta mới đưa một đoạn mô tả NSA rất ngắn gọn và mơ hồ vào danh bạ “Các cơ quan chính phủ Mỹ”. Đoạn mô tả chung chung này gồm ba câu. Hai câu đầu thông báo việc thành lập NSA và quy chế của nó: “Cục An ninh Quốc gia được thành lập theo sắc lệnh của Tống thống vào năm 1952. Cơ quan này nằm trong biên chế của Bộ Quốc phòng và hoạt động của nó do Bộ Quốc phòng chỉ dạo và kiểm soát”. Câu thứ ba là khuôn mẫu của kiểu nói mà có thể nói là không nói gì: “Cục An ninh Quốc gia tiến hành ở cấp cao nhất các chức năng kỹ thuật chuyên biệt và điều phối liên quan đến an ninh quốc gia”.

        Nhưng dù sao thì cách mô tả NSA ở dạng được chấp nhận vào năm 1957 là đúng, mặc dù cực kỳ thiếu. Ví dụ, các chức năng “kỹ thuật” của NSA là chặn thu luồng điện tín và tiến hành mã thám các điện mã chặn thu được của tất cả các nước, bất kể là bạn bè hay thù địch với Mỹ. Các chức năng “điều phối” bao gồm chú yếu là bảo đảm an ninh thông tin liên lạc, tức là tổ chức, kiểm soát và hợp nhất nỗ lực của tất cả các đơn vị thuộc ngành cơ yếu Mỹ nhằm đạt hiệu quá tối đa trong việc sử dụng các hệ mã dùng trong tất cá các quân chủng của quân đội và cơ quan nhà nước Mỹ cần đến thông tin liên lạc mật.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #8 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2021, 09:19:00 pm »


        Các quý ông đọc lén cái gì?

        Một câu hói tất yếu nảy sinh: Điều gì đã xảy ra ở Mỹ trước khi con quái vật tình báo vô tuyến diện tử khổng lồ có tên NSA ra đời? Không phải là ít nếu tính đến việc Hải quân Mỹ bắt đầu quan tâm đến tình báo vô tuyến điện tử từ năm 1899, tức là từ thời điểm trang bị máy phát vô tuyến điện cho chiến hạm đầu tiên của họ. Thực ra, trước khi Mỹ tham gia chiến tranh thế giới thứ I, mối quan tâm này vẫn chỉ dừng ở mức độ nghiệp dư.

        NSA xuất thân từ một số cơ quan tình báo Mỹ mà cho đến đầu thập niên 1950 vẫn tiến hành các hoạt động tình báo vô tuyến điện tử. Dĩ nhiên, lịch sử ra đời của NSA rắc rối và đầy rẫy những tên gọi các cơ quan và tổ chức đã từ lâu không còn tồn tại. Bởi vậy, người ta có ý định đặt tên ngắn gọn để không phải trình bày dài dòng những tình tiết không cần thiết.

        Trong thập niên 1920, công tác mã thám trong quân đội Mỹ được tập trung tại cái gọi là “Phòng đen” do Herbert Osborne Yardley tổ chức năm 1917. “Phòng đen” hoạt động bí mật chủ yếu ở New York, được Bộ Chiến tranh và Bộ Ngoại giao Mỹ cung cấp kinh phí

        Để có hình dung tương đối về quy mô hoạt động của “Phòng đen" chỉ cần dẫn ra đây một ví dụ. Trong thời gian tồn tại của “Phòng đen” từ năm 1917-1929. nó đã giải mã hơn 10.000 bức điện mật mã từ luồng điện tín của Argentina, Brazil, Vatican. Đức, Trung Quốc, Costa Rica, Cuba, Liberia, Mehico, Nicaragua, Panama, Peru, Salvador và Liên Xô. Những thành tựu của nó thật ấn tượng!

        Thành công lớn nhất của “Phòng đen” là giải phá được các mật mã ngoại giao của Nhật. Năm 1921, trong quá trình đàm phán tại Hội nghị Washington về giải trừ quân bị. Hoa Kỳ đã cố làm cho Nhật về chấp thuận tỷ lệ tương quan trọng tải cho hạm đội Mỹ và Nhật là 10:6. Trong khi đó người Nhật đến Hội nghị này với ý đồ công khai là giành tỷ lệ tương quan 10:7. Trong các cuộc đàm phán ngoại giao, cũng như mọi cuộc mặc cả, ưu thế chủ yếu là phải biết đối tác có thể sẵn sàng chấp nhận những nhượng bộ nào. Việc “Phòng đen” giải mã điện tín liên lạc của các nhà ngoại giao Nhật ở Washington với Tokyo đã cung cấp cho chính phủ Mỹ tin rằng, nếu phía Mỹ gây áp lực thì Nhật Bán sẵn sàng chấp nhận tương quan như họ mong muốn. Mỹ đã nhanh chóng tạo áp lực cần thiết mà không ngại làm hỏng hội nghị.

        Năm 1929, Bộ Ngoại giao Mỹ do Stimson lãnh đạo. Khi một bức điện do “Phòng đen” giải mã xuất hiện trên bàn mình, Stimson đã có một câu nói lịch sử: “Các quý ông không có đọc lén thư tín của nhau” - và hạ lệnh “ngừng cấp ôxy” cho tình báo vô tuyến điện tử, tức là không chi thêm tiền cho hoạt động của “Phòng đen”.

        Stimson sau này đã cố biện minh cho quyết định hấp tấp của mình là do không khí yêu hòa bình đang ngự trị trong cộng đồng quốc tế khi đó. Sau một cuộc chiến đẫm máu dài bốn năm, tất cả đều mong muốn hòa bình. Chẳng có kẻ thù nào mà chỉ có một bên là quý ông Mỹ Stimson, còn bên kia là các quý ông của những nước khác được cử đến Mỹ với tư cách các đại sứ hay đại diện toàn quyền. Câu nói của Stimson đã trở thành lời có cánh, mặc dù đôi khi các chuyên gia mã thám đã quên mất ý nghĩa thực sự của nó - đó là các quý ông sẽ là bất nhã khi đọc thư tín của các quý ông khác, chứ không phải thư tín của người khác nói chung.

        Sau khi về nghỉ, Yardley mải mê, đắm chìm vào văn chương và đã viết hai cuốn tiểu thuyết phiêu lưu - “Mặt trời đỏ của Nhật Bản ” và “Nữ bá tước tóc vàng’’. Hãng phim Metro Goldwin Meyer cho rằng, các nhân vật của các tiểu thuyết của Yardley - nữ bá tước - gián điệp tóc sáng xinh đẹp và một nam nhân vật không chỉ là một mỹ nam tử mà còn là một chuyên gia mã thám tài năng - rất thích hợp để dựng một bộ phim ly kỳ. Đối với tác giả kịch bản, khó khăn là ở chỗ nhân vật chính buộc phải thể hiện năng khiếu xuất chúng trong một công việc buồn tẻ là giải mã. Hãng Metro Goldwin Meyer đã giải quyết êm đẹp tình thế khó khăn này bằng cách sửa đổi cốt truyện “Nữ bá tước tóc vàng” và nhà khoa học bàn giấy bướng bình, vào thời điểm chiến tranh khó khăn đối với đất nước, đã lên đường chiến đấu ở bên kia đại dương. Bộ phim có tên là Rendezvous. Tờ báo Mỹ New York Times đã mô tả bộ phim này như một “vở kịch thông tục sống động và cuốn hút”.

        Tiền nhuận bút mà Yardley nhận được từ việc cốt truyện sách của ông được sử dụng cho phim không tiêu xài được lâu. Năm 1938, Tưởng Giới Thạch đã thuê cựu chuyên gia mã thám đã nhẵn túi này. Tại Trung Quốc, Yardley làm việc giải mã các bức điện mã của quân đội Nhật đang chiếm đóng nước này.

        Năm 1940, Yardley từ Trung Quốc sang Canada và lập ra một văn phòng mã thám tư nhân. Ông đã bị trục xuất khỏi đây do áp lực của Stimson, mặc dù người Canada không muốn chia tay ông. Cho đến khi qua đời vào năm 1958, Yardley đã làm nhân viên tại Cơ quan thực phẩm Mỹ. Một năm trước khi chết. Yardley đã xuất bản cuốn sách "Dạy chơi bài poker".
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #9 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2021, 04:29:00 pm »


        Suối nhỏ biến thành sông lớn

        Sau khi “Phòng đen” chấm dứt tồn tại, Bộ Quốc phòng Mỹ đã quyết định củng cố và tăng cường hoạt động tình báo vô tuyến điện tử của mình. Nhằm mục đích đó, vào năm 1930, quân đội Mỹ đã thành lập Cục Mã thám Lục quân của riêng mình, trong biên chế của nó, ngoài người đứng đầu còn có ba chuyên gia mã thám và hai thư ký.

        Do căng thẳng gia tăng trong quan hệ Mỹ - Nhật, người ta đòi hỏi Cục Mã thám Lục quân thu thập từ các kênh thông tin liên lạc của Nhật ngày càng nhiều loại tin tình báo mà để bảo đảm an toàn và tiện trích dẫn, nguồn tin này đã được Cục trưởng tình báo Hải quân Mỹ đặt mật danh là Magic ngay từ đầu thập kỷ.

        Cần phái nói là người Nhật không hề coi nhẹ mật mã. Năm 1934, Hải quân Nhật đã mua một loạt máy mã thương mại của Đức. Cũng trong năm đó, họ bắt đầu sử dụng chúng cả ở Bộ Ngoại giao Nhật. Tại đây, dựa trên máy mã này, người ta đã xây dựng hệ mã bí mật nhất của Nhật. Ngoài hệ mã này, đất nước mặt trời mọc còn có nhiều hệ mã khác. Bộ Chiến tranh, Bộ Hải quân và Bộ Ngoại giao Nhật đã sử dụng mã lặp để liên lạc. Đồng thời, mỗi bộ lại có một bộ các mật mã của mình. Ví dụ, riêng Bộ Ngoại giao Nhật cũng có tới bốn hệ mã được sứ dụng tùy thuộc độ mật của tin tức cần truyền đi. Ngoài các mã này, họ còn sử dụng các hệ mã bổ trợ nữa.

        Dòng suối nhỏ Magic khởi nguồn vào đầu thập niên 1930, sau năm 1940 đã trở thành dòng sông lớn mà từ đó giới quân sự Mỹ khai thác được các tin tức quan trọng về các kế hoạch quân sự và chính trị của Nhật Bản. Công lao trong việc này không chỉ thuộc về người Nhật vì họ đã trang bị rộng rãi cho các nhà ngoại giao của mình các loại mã không tin cậy, mà còn thuộc về cả thiếu tướng Mỹ Joseph Morborne, người được bổ nhiệm làm Tư lệnh binh chủng Thông tin liên lạc của Bộ Quốc phòng Mỹ vào tháng 10 năm 1937.

        Morborne từ lâu đã quan tâm đến mã thám. Năm 1914, khi còn là một trung úy trẻ, ông đã giải phá được mật mã quân sự của Anh và viết cuốn sách dày 19 trang mô tả kỹ thuật giải mã mà ông đã áp dụng. Đó là ấn phẩm đầu tiên về mã thám mà chính phủ Mỹ cho phép xuất bản.

        Trở thành Tư lệnh thông tin liên lạc, Morborne lập tức hạ lệnh tăng cường công tác mã thám. Ông đã cải tổ Cục Mã thám Lục quân thành một cơ quan độc lập trực tiếp trực thuộc ông, mở rộng phạm vi hoạt động của nó, tăng ngân sách và biên chế, thành lập các chi nhánh. Ông trở thành người khới xướng các khóa học mã thám hàm thụ, hiện đại hóa và tăng cường các phương tiện chặn thu.

        Morborne về hưu tháng 9 năm 1941. Đến lúc đó, Cục Mã thám Lục quân đã trở thành một tổ chức hiệu quả và hùng mạnh với gần 200 sĩ quan, binh sĩ và nhân viên dân sự ở Washington và 150 người hoạt động tại các trạm chặn thu. Cơ quan này có trường riêng để dạy mật mã học cho các sĩ quan và nhân viên dự bị. Trong biên chế của cơ quan này còn có đại đội tình báo vô tuyến điện tử phụ trách báo dưỡng các trạm chặn thu và bốn phân đội ở thủ đô là hành chính, mã thám, mật mã và nguy trang tin tức (stenography1).

-------------------
        1. Stenography là tập hợp các phương pháp che giấu tin tức (ví dụ như sử dụng mực mật) - ND.
Logged

Trang: 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM