Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Tư, 2021, 08:56:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 1  (Đọc 2658 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2139



WWW
« Trả lời #100 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2021, 09:39:53 am »

KẾT LUẬN


1. Tư duy, tư tưởng quân sự Việt Nam xuất hiện từ buổi đầu dựng nước và giữ nước, có một quá trình hình thành, phát triển liên tục chủ yếu do nhu cầu chống ngoại xâm, luôn gắn liền trong mối quan hệ giữa chiến tranh và hòa bình, giữa dựng nước và giữ nước. Suốt dọc dài lịch sử từ thế kỷ III Tr.CN đến đầu thế kỷ XV, dân tộc ta đã nêu cao tinh thần bất khuất, độc lập tự cường, lòng yêu nước, trí thông minh và tài năng thao lược; xây dựng nên một truyền thống tư tưởng, văn hóa quân sự độc đáo. Mỗi giai đoạn lịch sử, ông cha ta đều có những tư duy, quan điểm, tư tưởng quân sự sáng tạo, đều giành được nhiều chiến công, lập nên những chiến tích phi thường trong sự nghiệp đánh giặc, giữ nước.


Trong giai đoạn dựng nước và giữ nước thời Hùng Vương - An Dương Vương, nhiều truyền thống dân tộc đã được hình thành, tư duy, tư tưởng quân sự Việt Nam xuất hiện và phát triển bước đầu. Nhân dân Văn Lang - Âu Lạc phải liên tục chống nhiều thứ giặc, tiêu biểu là hai cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ III Tr.CN) và chống Triệu (thế kỷ II Tr.CN). Vừa dựng nước, tổ tiên ta đã phải nghĩ đến đánh giặc, giữ nước. Qua đấu tranh với thiên tai và địch họa, ý thức cộng đồng, ý chí chống ngoại xâm phát sinh và phát triển. Người Việt đã rút ra được nhiều bài học, trong đó có bài học chiến thắng quân thù xâm lược và bài học mất nước thời An Dương Vương.


Tư duy quân sự nhỏ đánh lớn đã hình thành trong hơn mười năm kháng chiến chống Tần. Thành Cổ Loa và các vũ khí bảo vệ thành như nỏ Liên Châu là những sáng chế lớn về kỹ thuật quân sự, thể hiện tư duy quân sự độc đáo của nhân dân Âu Lạc.


Thất bại của An Dương Vương đã dẫn đến thảm họa nước ta liên tục bị phong kiến phương Bắc từ Triệu, Hán đến Tùy, Đường đô hộ. Thời Bắc thuộc kéo dài hơn một nghìn năm với âm mưu đồng hóa thâm độc của ngoại bang là một thử thách hết sức nghiêm trọng đối với sự mất còn của dân tộc ta. Tư duy, tư tưởng quân sự của ông cha ta giai đoạn này chứng tỏ người Việt từ sốm đã có ý thức dân tộc, ý chí quật cương và tinh thần bền bỉ bảo vệ giống nòi, tổ tiên, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa lâu đời, quyết tâm giành lại tự do, độc lập. Tinh thần và ý chí đó được biểu hiện qua bao cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ách đô hộ, chống sự đồng hóa tàn bạo, thâm hiểm của kẻ thù.


Sau chiến thắng Bạch Đằng (938), khi nước Đại Việt độc lập đang vươn lên mạnh mẽ để xây dựng một quốc gia văn minh, thịnh vượng, thì ở phương Bắc cũng xuất hiện những thế lực bành trướng, xâm lược và nạn ngoại xâm vẫn không ngừng đe dọa. Nhân dân ta lại phải tiếp tục đánh giặc, giữ nước. Hai nhiệm vụ dựng nước và giữ nước luôn gắn bó khăng khít với nhau. Gần năm thế kỷ phục hưng đất nước cũng là một giai đoạn huy hoàng của lịch sử dân tộc với bao thành tựu rạng rỡ của nền văn hóa Thăng Long và nhiều chiến công hiển hách trong sự nghiệp giữ nước. Tư tưởng quân sự của ông cha ta giai đoạn này phát triển mạnh mẽ, thể hiện nguyện vọng hòa bình, ý chí thống nhất quốc gia, tinh thần độc lập, tự cường dân tộc và quyết tâm chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ non sông đất nước. Chiến công của Đinh Tiên Hoàng dẹp yên "loạn mười hai sứ quân" chứng tỏ tư tưởng quyết không để đất nước bị chia cắt, không để thế nước suy giảm vì sự xẻ chia. Chiến thắng của Lê Đại Hành (981) khẳng định ý chí bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện cho đất nước bước vào kỷ nguyên văn minh Đại Việt. Giai đoạn Lý - Trần thể hiện tư duy, tư tưởng quân sự của ông cha ta trong việc xây dựng và phát triển một nền binh chế và kế sách giữ nước tiến bộ của Nhà nước Đại Việt. Biết bao quan điểm, tư tưởng quân sự độc đáo, tiến bộ xuất hiện. Và từ đó một tổ chức quân sự với nhiều thứ quân ra đời bao gồm cấm quân (quân triều đình), quân các đạo, lộ (quân địa phương) và dân binh, hương binh các làng bản. Kỹ thuật quân sự giai đoạn này cũng vì thế có những bước phát triển mới, từ bạch khí chuyển sang hỏa khí. Tư tưởng và nghệ thuật quân sự đã đạt đến một đỉnh cao chói lọi, thể hiện trí tuệ, tài năng quân sự của dân tộc ta.


Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý và bài thơ Nam quốc sơn hà - Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên nổi tiếng, chứng tỏ sự phát triển của tinh thần yêu nước, cũng như hành động và nhận thức vê chủ quyền dân tộc. Ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên thắng lợi cùng với những bộ Binh thư, Hịch tướng sĩ, Di chúc của Trần Quốc Tuấn phản ánh sự trưởng thành về tư tưởng, lý luận quân sự Việt Nam, của tư duy quân sự gắn nước với dân, dựa vào dân để tiến hành cuộc chiến tranh giữ nước. Cuộc kháng chiến chống Minh thời Hồ đã để lại những bài học về sai lầm trong tổ chức và chỉ đạo chiến tranh. Tư tưởng quân sự chỉ dựa vào quân đội và thành trì, không dựa vào dân để đánh giặc, cũng như tư tưởng chiến lược phòng ngự bị động thời Hồ đã dẫn đến thảm họa mất nước. Khởi nghĩa Lam Sơn nêu cao ngọn cờ đại nghĩa, phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mang đậm tính chất nhân dân sâu rộng. Nhiều quan điểm, tư tưởng xuất sắc trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh giải phóng dân tộc xuất hiện. Bình Ngô đại cáo vang động núi sông, thể hiện ưỏc vọng của cả nước: "Mở nền thái bình muôn thuở". Lịch sử quân sự dân tộc thế kỷ X - XV để lại nhiều bài học, trong đó có bài học trong lĩnh vực tư duy, tư tưởng về tổ chức xây dựng lực lượng và phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân chống xâm lược, về kế sách giữ nước và nghệ thuật đánh giặc... Kỷ nguyên Đại Việt thật đáng tự hào với bao thành tựu trên cả hai lĩnh vực xây dựng và bảo vệ đất nước, rực rõ văn trị, chói lọi võ công.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2139



WWW
« Trả lời #101 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2021, 09:41:01 am »

2. Lịch sử dân tộc từ thế kỷ III Tr.CN đến đầu thế kỷ XV đã chứng tỏ rằng, không thời kỳ nào, không triều đại nào, nhân dân ta không phải chống ngoại xâm. Có thế kỷ dân tộc ta phải liên tục ba lần đứng lên tiến hành kháng chiến (thế kỷ X, thế kỷ XIII); họa mất nước có khi kéo dài hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm. Do vậy, ông cha ta thời nào cũng phải đề cao cảnh giác, suy nghĩ phương sách để giữ nước. Nguyễn Trãi từng nói rằng: "Trải biến cố nhiều thì suy tính sâu, lo việc xa thì thành công lạ"; thực tiễn lịch sử đã hun đúc nên những phẩm giá cao đẹp, ý chí kiên cường, trí tuệ sáng tạo và những tư duy, tư tưởng quân sự tiến bộ của nhân dân ta. Nhìn tổng quát, tư tưởng quân sự giai đoạn này hàm chứa những nội dung chủ yếu như sau:


Thứ nhất là, tư duy, tư tưởng về chủ quyền dân tộc, ý chí độc lập, tự chủ, tinh thần quyết tâm đánh giặc, bảo vệ và giải phóng quê hương, đất nước. Lòng yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ đã hình thành rất sớm và trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong ký ức dân gian còn truyền tụng biết bao câu chuyện phản ánh tinh thần và ý chí đó. Câu chuyện cậu bé làng Phù Đổng vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân, tuy là huyền thoại, nhưng đã thắm đượm tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm trong buổi đầu giữ nước. Lời thề của Bà Trưng, Bà Triệu, những câu nói nổi tiếng của bao vị anh hùng như Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Trần Bình Trọng... đã thể hiện tinh thần và khí phách của quân và dân ta trước họa ngoại xâm. Tiếng hô "Đánh" trong Hội nghị Diên Hồng, ý chí quyết giết giặc "Sát Thát" của quân đội nhà Trần, bài thơ Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo... đều toát lên ý chí độc lập, tự chủ, nguyện vọng hòa bình, tinh thần đánh giặc, giữ nước của ông cha. Đó chính là cội nguồn của mọi thắng lợi.


Thứ hai là, tư duy, tư tưởng quân sự về xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội. Ngay từ thời Hùng Vương - An Dương Vương, từ thời Bắc thuộc, ông cha ta đã biết dựa vào lực lượng dân binh, hương binh trong các bản làng, thôn ấp để chiến đấu, để xây dựng quân đội và nghĩa quân đánh giặc. Các triều đại phong kiến tiến bộ thời kỳ độc lập đều dựa vào dân, xây dựng lực lượng quân sự nhiều thứ quân mà nòng cốt là quân triều đình (Thiên tử quân, cấm quân). Tư tưởng xây dựng "quân cốt tinh không cốt nhiều" là tư tưởng phù hợp với điều kiện dựng nước phải gắn liền với giữ nước. Tư tưởng xây dựng lực lượng vũ trang theo chính sách "ngụ binh ư nông", gắn việc binh với việc nông, gắn kinh tế với quốc phòng, luôn phù hợp với yêu cầu cân đôi giữa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu. Tư tưởng xây dựng một đội quân "phụ tử chi binh", đã tạo nên sức mạnh đánh giặc giữ nước trong nhiều triều đại.


Thứ ba là, tư tưởng thân dân, dựa vào dân, động viên toàn dân, cả nước đánh giặc. Các cuộc khởi nghĩa và kháng chiến thời Bắc thuộc như khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Lý Bí, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan... đã mang tính toàn dân đánh giặc. Các vị minh quân, hiền thần, các nhà quân sự nổi tiếng thời Tiền Lê, Lý, Trần đều có tư tưởng thân dân, biết động viên và tổ chức nhân dân cả nước tiến hành chiến tranh giữ nước. Nguyễn Trãi cho rằng "Lật thuyền chở thuyền mới biết sức dân như nước" (Phúc chu thủy tín dân do thuỷ) và đã cùng Lê Lợi "tập hợp bốn phương manh lệ" khởi nghĩa thành công. Đặt trong bối cảnh lịch sử buổi đầu thời trung đại thì tư tưởng "khoan thư sức dân", "việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" là những tư tưởng hết sức tiến bộ và chính đó là nguồn gốc tạo nên sức mạnh giữ nước.


Thứ tư là, tư tưởng xây dựng đất đứng chăn - căn cứ địa khởi nghĩa và kháng chiến. Ngay từ đầu Công nguyên, Cấm Khê (Ba Vì - Sơn Tây) đã trở thành một căn cứ địa kháng chiến của Hai Bà Trưng. Dựa vào đó, quân đội của Trưng Vương đã cầm cự với quân Mã Viện trong hai, ba năm liền. Giữa thế kỷ thứ VI, Triệu Quang Phục đã lập căn cứ ở đầm Dạ Trạch, "làm kế trì cửu chiến", tạo ra thời cơ đánh thắng quân Lương. Sang đầu thế kỷ XV, các lãnh tụ của nghĩa quân Lam Sơn đã chọn Nghệ An làm đất đứng chân để xây dựng và phát triển lực lượng, tiến lên giải phóng cả nước. Như vậy, từ sớm, ông cha ta đã nhận thức được rằng, muốn khởi nghĩa và kháng chiến thắng lợi, phải xây dựng căn cứ địa hay đất đứng chân của mình. Có thể đấy là những vùng có địa hình hiểm trở, thuận lợi cho hoạt động của ta và gây khó khăn cho quân địch, hay là những địa bàn đất rộng, người đông, đủ các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là quan điểm, tư tưởng tiến bộ.


Thứ năm là, tư tưởng nghệ thuật quân sự "dĩ đoản chế trường" "dĩ quả địch chúng dĩ nhược chế cường" (lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh). Người Việt từ buổi đầu giữ nước đã biết lánh sức mạnh của giặc, dùng lối đánh phục kích, tập kích, ngày ẩn, đêm hiện để tiêu hao địch và tạo ra thời cơ phản công giành thắng lợi (kháng chiến chống Tần, kháng chiến chống Lương). Đặc biệt, trong kỷ nguyên Đại Việt, trong hai lần chống Tống, ba lần chống Mông - Nguyên và trong chiến tranh giải phóng chống quân Minh, tư tưởng nêu trên trở nên phổ biến và được vận dụng thành công. Cách đánh của Trần Quốc Tuấn đã phát huy tốt cái "sở đoản" của quân đội nhà Trần và hạn chế cái "sở trường" của giặc Mông - Nguyên. Trong khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi luôn chủ trương: "lánh chỗ thực, đánh chỗ hư, tránh nơi vững chắc, đánh nơi sơ hở (của địch)"; Nguyễn Trãi cũng chủ trương: "Công kỳ vô bị" tức là đánh địch khi chúng không phòng bị. Chính vì vậy, trong khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, Lê Lợi thường "dùng sức một nửa mà công được gấp đôi" và đã chiến thắng. Đó là tư tưởng chiến lược và chiến thuật thích hợp nhất với hoàn cảnh một nước nhỏ phải thường xuyên chống lại những kẻ thù lớn mạnh, quân nhiều.


Thứ sáu là, tư tưởng nhân nghĩa, nhân văn quân sự trong chiến tranh. Nhìn chung, trong quan hệ đối ngoại quân sự, ông cha ta luôn có cách ứng xử đúng đắn. Trên cơ sở sức mạnh chính trị, kinh tế và quân sự, nhiều triều đại phong kiến giai đoạn này đã chủ trương một đường lối đối ngoại quân sự khéo léo, đúng mực đối với lân bang. Đó là mềm dẻo, nhún nhường có nguyên tắc với nước lớn; khoan hòa, linh hoạt nhưng cứng rắn với nước nhỏ, với mục tiêu giữ vững hòa hiếu, duy trì hòa bình xây dựng đất nước. Trong chiến tranh thì tìm cách hòa hoãn, tránh chiến tranh và để có thời gian chuẩn bị lực lượng; biết kết hợp giữa quân sự với chính trị, ngoại giao và binh vận. Khi đã thắng lợi thì chủ động "bàn hoà" (thời Lý) hay "mở đường hiếu sinh" cho kẻ địch bị bắt, nhằm mục đích như Nguyễn Trãi viết:

   "Nghĩ về kế lâu dài của nhà nước,
   Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh.
   Sửa hòa hiếu cho hai nước,
   Tắt muôn đời chiến tranh"1 (Xem Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học: Nguyễn Trãi toàn tập, Sđd, tr.87).


Đó là tư tưởng kết thúc chiến tranh mang đậm tinh thần đại nghĩa và nhân văn của dân tộc Việt Nam.

Tư tưởng quân sự của ông cha ta trong giai đoạn này còn có những nội dung khác... Nhìn chung, đó là những quan điểm, tư tưởng tiến bộ. Tuy nhiên, cũng có những thời kỳ, triều đại, những người lãnh đạo kháng chiến đã mắc sai lầm trong tư duy, tư tưởng chiến lược, dẫn đến thất bại trước kẻ thù, như thời An Dương Vương chống Triệu Đà và thời Hồ chống quân Minh.


Tư tưởng quân sự mỗi thời kỳ, mỗi triều đại đều có những đặc trưng riêng, nhưng nhìn tổng thể thì nội dung tư tưởng hầu như đều có tính nối tiếp, kế thừa và tính thống nhất tương đối. Mỗi triều đại đều có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam. Tư tưởng quân sự mỗi triều đại được biểu hiện tập trung và nổi bật trong tư duy, tư tưởng quân sự độc đáo của các nhà lãnh đạo đất nước, các nhà quân sự kiệt xuất - những nhân vật nổi tiếng đóng vai trò quyết định trong các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm. Mỗi giai đoạn lịch sử đều xuất hiện những nhà tư tưởng quân sự kiệt xuất. Nét đặc sắc trong tư tưởng quân sự của Hai Bà Trưng là quy tụ sức mạnh của toàn dân dưới ngọn cờ yêu nước, tiến hành tổng khởi nghĩa đồng thời trên phạm vi cả nước, kết hợp với đòn quyết định về quân sự của nghĩa quân đánh vào trung tâm đầu não của địch, nhanh chóng giành thắng lợi. Nét đặc sắc trong tư tưởng quân sự Ngô Quyền là sự hội tụ các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để tạo lực, lập thế, tranh thời và tạo sự chuyển hóa cả về thế, thời và lực đế thực hiện tiêu diệt chiến lược bằng trận quyết chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng năm 938, tiêu diệt đạo quân chủ lực trọng yếu của địch, đánh tan ý chí xâm lược của nhà Nam Hán, kết thúc chiến tranh; đồng thời chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc hơn một nghìn năm, mở ra thời kỳ phát triển độc lập của dân tộc. Nét đặc sắc trong tư tưởng quân sự của Lý Thường Kiệt là tư tưởng tiến công rất cao, luôn chủ động, tích cực và liên tục tiến công chiến lược bằng lực lượng chủ lực cơ động mạnh với lực lượng vũ trang địa phương, đánh đòn phủ đầu quân xâm lược "tiên phát chế nhân" và trong tình thế bị kẻ thù tiến công đã tổ chức phòng ngự chiến lược tích cực, kiên quyết phản công chiến lược khi thời cơ đến để đánh bại kẻ thù. Nét đặc sắc trong tư tưởng quân sự Trần Quốc Tuấn là chủ động rút lui chiến lược và phản công chiến lược, dựa vào dân và phát động chiến tranh nhân dân rộng khắp, bao vây, chia cắt và đánh tiêu hao, từng bước đưa địch vào thế khốn quẫn, tạo thế và lực để thực hành phản công chiến lược bằng các đạo quân chủ lực mạnh, đánh trận quyết chiến chiến lược, đánh tan ý chí xâm lược của địch, kết thúc chiến tranh. Nét đặc sắc trong tư tưởng quân sự của Lê Lợi - Nguyễn Trãi là tư tưởng chỉ đạo "lấy dân làm gốc", "lấy nhân nghĩa thắng hung tàn", giương cao ngọn cờ đại nghĩa, phát động khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân, kết hợp giữa đấu tranh chính trị với tiến công quân sự, ngoại giao và địch vận, đánh vào lòng người (công tâm), đánh thắng từng bước, chuyển hóa lực lượng và thế trận, đánh trận quyết chiến chiến lược, kết thúc chiến tranh có lợi nhất cho sự phát triển lâu dài của đất nước...


Tóm lại, tư tưởng quân sự Việt Nam từ thế kỷ III Tr.CN đến đầu thế kỷ XV trải qua nhiều giai đoạn phát triển.


Giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương và giai đoạn Bắc thuộc là giai đoạn buổi đầu hình thành những tư duy, tư tưởng quân sự. Đó là tư duy quân sự buổi đầu dựng nước và giữ nước; là tư duy, tư tưởng quân sự khởi nghĩa và chiến tranh chống Bắc thuộc. Giai đoạn đất nước độc lập từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XV là giai đoạn xuất hiện và phát triển nhiều quan điểm, tư tưởng quân sự tiến bộ, thậm chí có những quan điểm, tư tưởng tiên tiến vượt thời đại. Chính đó là cội nguồn tạo nên sức mạnh đánh giặc, giữ nước trong giai đoạn này.


Tuy thực tiễn lịch sử đã lùi xa, nhưng những nội dung tư tưởng quân sự nêu trên vẫn có giá trị bất biến, nó có ý nghĩa thực tiễn lớn. Đó là cơ sở để ông cha ta trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo kế thừa và phát triển. Đó là những giá trị tinh thần, tư tưởng vô cùng quý giá, được các thế hệ sau trân trọng gìn giữ, kế thừa và vận dụng trong sự nghiệp đánh giặc, giữ nước của mình.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2139



WWW
« Trả lời #102 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2021, 09:43:46 am »

TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Ph.Ăngghen: Tuyển tập luận văn quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1978, 2 tập.

2. Ph.Ăngghen, Lênin, Stalin: Bàn về chiến tranh nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1970.

3. Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Văn Tiến Dũng, Song Hào: Bàn về chiến tranh nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1966.

4. Võ Nguyên Giáp: Vũ trang quần chúng cách mạng xây dựng quân đội nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973.

5. Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, 1975, t.I, II.

6. Đào Duy Anh: Lỉch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960.

7. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1964.

8. Đặng Xuân Bảng: Sử học bị khảo, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997.

9. Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981.

10. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam - Tập 1 - Buổi đầu giữ nước thời Hùng Vương - An Dương Vương, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.

11. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam - Tập 2 - Đấu tranh giành độc lập tự chủ (từ 179 Tr.CN đến 938), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

12. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam - Tập 3 - Thời Ngô - Đinh - Tiền Lê - Lý (939-1225), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.

13. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam - Tập 4 - Hoạt động quân sự thời Trần, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.

14. Nguyễn Phương Chi: Chế độ điền trang thái ấp nhà Trần, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.

15. Trần Bá Chí: Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1992.

16. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1960 - 1961, t.I, II, III, IV.

17. Nguyễn Xuân Cần - Anh Vũ: Truyền thuyết vương triều Lý, Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc, Hội Văn học, nghệ thuật Bắc Giang, Hà Nội, 2001.

18. Nguyễn Anh Dũng: Chính sách Ngụ binh ư nông các thời Lý - Trần - Lê Sơ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981.

19. Nguyễn Hồng Dương - Phan Đại Doãn: Sơ thảo lịch sử bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự xã hội Việt Nam (cổ trung đại), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1990.

20. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967, t.I, II, III.

21. Đại Việt sử ký toàn thư, dịch theo bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, t.I-II.

22. Đại Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ môn Châu Á học, Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.

23. Lê Quý Đôn: Toàn tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977-1978, t.I-IV.

24. Giáo trình lịch sử quân sự - tập II - Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam (từ thế kỷ III Tr.CN đến đầu thế kỷ XX), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997.

25. Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980.

26. Trần Văn Giàu: Tư tưởng yêu nước, Nxb. Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.

27. Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Ban tu thư, Đại học Vạn Hạnh ấn hành, Sài Gòn, 1966.

28. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X - XVII, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976.

29. Nguyễn Đình Khoa: Các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1972.

30. Phan Huy Lê: Tìm về cội nguồn, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1994,   t.I, II.

31. Phan Huy Lê: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960, t.2.

32. Phan Huy Lê - Phan Đại Doãn: Khởi nghĩa Lam Sơn, in lần thứ ba, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.

33. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí: Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976.

34. Lịch sử Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, t.I.

35. Lịch sử Việt Nam thời kỳ chế độ phong kiến dân tộc, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội, 1967.

36. Lịch sử Việt Nam, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985, t.I.

37. Lê Lợi và Thanh Hóa, Nxb. Thanh Hóa, 1976.

38. Hồng Nam và Hồng Lĩnh (Chủ biên): Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Hoa xâm lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984.

39. Đỗ Văn Ninh: Thành cổ Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983.

40. Lịch Đạo Nguyên: Thủy kinh chú, Quốc học sơ bản tùng thư, Thương vụ ấn thư quán.

41. Nghệ thuật quân sự Việt Nam cổ, trung đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1989, t.1, 2.

42. Kỷ yếu hội thảo khoa học Lý Công Uẩn và vương triều Lý, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001.

43. Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và giữ nước, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990.

44. Nguyễn Danh Phiệt: Hồ Quý Ly, Viện Sử học và Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1997.

45. Hoàng Đình Phu: Mấy vấn đề về sự phát triển kỹ thuật quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976.

46. Nguyễn Vinh Phúc: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ỏ Hà Nội, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 1983.

47. Phạm Ngọc Phụng: Tổ tiên ta đánh giặc, Nxb. Quân giải phóng, Sài Gòn, 1975.

48. Nguyễn Tường Phượng: Lược khảo binh chế Việt Nam qua các thời đại, Nxb. Ngày mai, Hà Nội, 1950.

49. Vũ Quỳnh, Kiều Phú; Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1960.

50. Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, t.I, II.

51. Lê Đĩnh Sỹ: Binh chế Đại Việt thế kỷ XI - XV, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006.

52. Lê Đình Sỹ (Chủ biên): Trần Hưng Đạo - nhà quân sự thiên tài, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.

53. Lê Đình Sỹ (Chủ biên): Hai mươi trận đánh trong lịch sử dân tộc (thế kỷ X - thế kỷ XVIII), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002.

54. Lê Đình Sỹ, Nguyễn Danh Phiệt: Kế sách giữ nước thời Lý - Trần, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994.

55. Lê Đình Sỹ (Chủ biên): Thăng Long - Hà Nội, những trang sử vẻ vang chống ngoại xâm, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2010.

56. Ngô Thì Sĩ: Việt sử tiên án, bản dịch, Văn hóa Á châu xuất bản, Sài Gòn, 1960.

57. Phạm Hồng Sơn: Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc, Học viện quân sự cấp cao, Hà Nội, 1990, t.III.

58. Phạm Văn Sơn: Việt sử toàn thư, Sài Gòn, 1960.

59. Văn Tân: Dựng nước đi đối với giữ nước, một quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam, Tạp chí Quân đội nhân dân, số 96, 3-1967.

60. Hà Văn Tấn: Bản sắc văn hóa Việt cổ, trong sách Văn hóa - phát triển và bản sắc, Hà Nội, 1995.

61. Hà Văn Tấn (Chủ biên): Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.

62. Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, in lần thứ tư, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1.975.

63. Trần Quốc Tuấn: Binh thư yếu lược, phụ Hổ trướng khu cơ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.

64. Thế kỷ X - những vấn đề lịch sử, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.

65. Chu Thiên: Chống quân Nguyên - lịch sử kháng chiến thời Trần (1257-1288), Nxb. Xây dựng, Hà Nội, 1957.

66. Bùi Thiết: Làng xã ngoại thành Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1985.

67. Thơ văn Lý - Trần, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, t.I, II, III.

68. Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981.

69. Nguyễn Tài Thư (Chủ biên): Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, t.I.

70. Hoa Bằng, Hoàng Thúc Trâm: Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, 1950.

71. Đỗ Trình, Lê Đình Sỹ, Hoàng Thị Thảo: 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, những hoạt động quân sự tiêu biểu, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000.

72. Nguyễn Văn Trò: Cố đô Hoa Lư, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1998.

73. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện sử học: Nguyễn Trãi toàn tập, in lần thứ hai, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976.

74. Viện Sử học: Lich sử Việt Nam, thế kỷ X - đầu thế kỷ XV, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002.

75. Việt sử lược, bản dịch của Trần Quốc Vượng, Nxb. Văn - Sử - Địa, Hà Nội, 1960.

76. Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng: Quân thủy Việt Nam trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1983.

77. Trần Quốc Vượng: Tìm hiểu truyền thống thượng võ của dân tộc, Nxb. Y học và Thể dục thể thao, Hà Nội, 1969.

78. Trần Quốc Vượng: Theo dòng lịch sử, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1996.

79. Trần Quốc Vượng (Chủ biên): Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1997.

80. Lý Tế Xuyên: Việt điện u linh, Nxb. Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1960.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM