Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Giêng, 2023, 05:25:22 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người con đất Quảng kiên trung  (Đọc 3756 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:50:03 am »

Quần nhau với địch suốt cả ngày, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã đánh thiệt hại nặng hai đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ, làm chết tại chỗ 165 tên. Biết trận địa đã bị lộ, sớm muộn gì địch cũng điều máy bay đến ném bom đánh phá nên ngay đêm hôm đó chúng tôi bí mật di chuyển đội hình về đóng quân ở thôn Vinh Huy, xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình. Lúc này, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2, Quân khu 5, đã chuyển về đứng chân ở các huyện Hiệp Đức và Quế Sơn. Biết Tiểu đoàn 70 chiến đấu cả ngày với hàng trăm máy bay địch, sợ có thương vong lớn xảy ra nên ngay tối hôm ấy đồng chí Thạch - Tư lệnh sư đoàn và đồng chí Đạo, Chính ủy Sư đoàn, đã điều một đại đội vận tải và một đội phẫu chi viện cho đơn vị để giải quyết công tác thương binh, liệt sĩ. Tuy nhiên, bằng cách đánh: “Đánh sát địch, bám thắt lưng địch mà đánh” nên quân số của tiểu đoàn thương vong rất ít. Nghe tin này, các đồng chí không kìm nén được niềm vui, đã ôm nhau cười hỉ hả và cùng đưa quân trở về.

Chúng tôi được lệnh hành quân lên Quế Sơn để củng cố đơn vị. Sau trận chiến đấu trên, đồng chí Tiểu đoàn trưởng bị thương phải đi nằm bệnh viện để điều trị. Vì thế, tôi đã kiêm luôn chức Tiểu đoàn trưởng, chỉ huy mọi hoạt động của đơn vị tại xã Sơn Long. Lúc này, một số vị trí nhỏ trong tiểu đoàn được thay đổi do các đồng chí đã bị thương hoặc hy sinh trong chiến đấu, chúng tôi phải điều chỉnh để đảm bảo chỉ huy, hỏa lực, xung lực trong thực hành chiến đấu.

Sáng ngày 23 tháng 7 năm 1967, đúng ngay rằm tháng 7, một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ từ Cấm Dơi lên Sơn Thắng. Buổi tối, chúng co cụm lại ở khu vực máy gạo. Chúng tôi hội ý chỉ huy nhận định đây là cơ hội diệt địch rất tốt. Ngay sau đó, cán bộ tiểu đoàn đi chuẩn bị chiến trường luôn. Đồng thời, các đồng chí ở lại phân công chỉ huy, hướng dẫn anh em làm công tác chuẩn bị chiến đấu trong đêm, Khi bộ phận đi trinh sát chuẩn bị chiến trường về, chúng tôi hội ý khẩn trương và xác định cách đánh, phân công lực lượng các hướng, mũi. Tôi động viên anh em và trực tiếp chỉ huy xuất kích. Đoàn quân bí mật lẫn vào bóng đêm với trái tim rực cháy quyết tâm chiến đấu và niềm tin chiến thắng. Đúng 2 giờ 30 phút ngày 24 tháng 7 năm 1967, các mũi áp sát nơi trú quân của địch, mũi chủ yếu đã cắm hẳn vào trung tâm. Không gian vẫn im như tờ. Bọn lính Mỹ vẫn say sưa giấc nồng, chỉ có tên lính gác đang gật gà, gật gù trông có vẻ như nửa thức, nửa ngủ. Chúng không hề biết phút báo tử của mình sắp đến. Các mũi của ta vẫn giữ được bí mật. Khi tất cả đã sẵn sàng, tôi ra lệnh nổ súng. Tức thi đồng loạt, lựu đạn, thủ pháo gầm lên xé nát sự tĩnh mịch của bóng đêm. Những quầng lửa hốc cao thiêu rụi doanh trại dã chiến của địch, Lính Mỹ bị bất ngờ, không kịp trở tay. Với quyết tâm không để địch hồi phục, phát huy hỏa lực, chúng tôi nhanh chóng nổ súng xung phong. Những đường bắn găm, bắn gần của bộ đội liên tiếp quật ngã những tên lính ngoan cố chống trả. Kết quả. sau hơn một giờ ba mươi phút chiến đấu, ta đã tiêu diệt gọn đại đội lính thủy đánh bộ của Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 85 tên, thu 50 súng. Trong trận này, cá nhân tôi đã sử dụng 3 quả lựu đạn đánh vào 3 hầm của lính Mỹ diệt 15 tên. Có thể nói, đây là một trận đánh thật chớp nhoáng, nhưng cũng rất hiệu quả, hiệu suất chiến đấu gần như tuyệt đối.

Sau đó, đơn vị cơ động về xã Sơn Thạch, huyện Quế Sơn để củng cố, sắp xếp lại lực lượng. Bất ngờ, ngày 2 tháng 8 năm 1967, một đại đội lính Mỹ từ Cấm Dơi hành quân lên Sơn Long. Gặp trời tối, chúng dừng lại đóng quân ở vườn dâu phía bắc đèo Rập Cu. Nhận được nguồn tin từ cơ sở, chúng tôi không ngờ cơ hội diệt địch đến nhanh như vậy. Không bỏ lỡ thời cơ, chỉ huy tiểu đoàn nhanh chóng hội ý phân công nhiệm vụ. Tôi trực tiếp cùng một số đồng chí cán bộ và chiến sĩ liên lạc đi trinh sát, chuẩn bị chiến trường. Với kinh nghiệm trận đánh trước, các đồng chí ở lại cũng triển khai tốt công tác chuẩn bị chiến đấu để đưa cả đội hình đi theo. Lợi dụng sơ hở của địch khi mới đứng chân, chúng tôi vừa quan sát vừa lên phương án chiến đấu. Ngay tại vị trí trinh sát, tôi phân công từng hướng mũi cho các chỉ huy bộ phận để các đồng chí chủ động lựa chọn hình thức tiếp cận mục tiêu của bộ phận mình. Chúng tôi làm công tác chuẩn bị đến 20 giờ thì hoàn thành. Tôi nhắc lại nhiệm vụ của từng đơn vị cụ thể, vị trí tạm dừng, tín hiệu hiệp đồng trong chiến đấu, v.v. để các đồng chí cán bộ chỉ huy nắm chắc và phổ biến cho bộ phận của mình. Đơn vị nhanh chóng cơ động áp sát mục tiêu. Các hướng mũi theo sự phân công từ trước đã chủ động cơ động tiếp cận mục tiêu được giao, nằm đợi lệnh nổ súng. Nhận được báo cáo của các đơn vị đã sẵn sàng, tôi ra lệnh cho đồng chí xạ thủ B41 nằm bên cạnh bắn tiêu diệt ngay ổ đại liên của địch bố trí ngay trước mặt làm hiệu lệnh trận đánh. Ngay lập tức các khẩu B40, B41 còn lại đồng thời phát hỏa thiêu rụi ngay mục tiêu đã được xác định phần tử bắn từ trước. Đồng thời, bộ binh tung lựu đạn, thủ pháo vào các nhà bạt được chúng quây tạm thời và đánh thẳng vào bên trong. Lựu đạn, thủ pháo nổ riết róng, súng AK bắn từ bốn phía khiến quân địch bị bất ngờ không biết đối phương từ hướng nào đến mà chống trả. Vì thế chúng bắn tứ tung, thậm chí bắn cả vào đồng bọn. Kết quả sau hơn một giờ chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã loại khỏi vòng chiến đấu 65 tên lính Mỹ, làm chủ trận địa, thu 12 khẩu súng AR15, 4 khẩu M79. Nghe tiếng súng nổ, quân địch ở Cấm Dơi biết bọn đi càn lên Sơn Long đã bị tập kích nên tổ chức phản ứng quyết liệt. Chúng dùng cả pháo binh, máy bay trực thăng và pháo sáng đánh thẳng vào đội hình đơn vị nên chúng tôi phải nhanh chóng lui quân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:50:30 am »

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có một điểm đặc biệt là các đơn vị trên chiến trường Quảng Nam ít khi đóng quân tại chỗ. Hễ gặp địch ở đâu là đánh đấy, sau đó lại cơ động đến địa bàn khác để đảm bảo an toàn và giữ vững yếu tố bất ngờ. Vì vậy, Tiểu đoàn 70 đánh xong trận này lại hành quân về xã Bình Phú, huyện Thăng Bình, đóng quân ở khu vực Đức An, An Lý. Đến bất cứ địa điểm đóng quân mới nào, chỉ huy đơn vị cũng phải kịp thời xác định tốt phương án chiến đấu cho mọi loại hình tiến công, phòng ngự sát với tình hình thực tế. Lần đó, chúng tôi đứng chân được hai ngày thì một tiểu đoàn lính Mỹ từ Cấm Dơi hành quân qua Vinh Huy, kéo xuống Đức An, An Lý... Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 lại thêm một cơ hội lập công lớn. Chúng tôi nhanh chóng triển khai lực lượng theo phương án sẵn sàng chiến đấu tại chỗ. Khoảng 10 giờ ngày 17 tháng 8 năm 1967, đội hình đi đầu của địch đã lọt vào khu vực tập trung tiêu diệt địch của Đại đội 2, Đại đội 1 và Đại đội 4. Chỉ huy tiểu đoàn lập tức ra lệnh nổ súng tiêu diệt gọn bộ phận đi đầu của địch. Trong chớp nhoáng, gần 100 tên lính Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu. Số còn lại phía sau vội vàng tháo chạy. Chúng co cụm lại ở dãy đồi 59-62. Do bị ta đánh quá gần, xác chết của lính Mỹ chỉ cách trận địa của Tiểu đoàn 70 từ 15 đến 20 mét, nên pháo binh và máy bay địch đều bắn vào phía sau đội hình của ta. Do đó, mặc dù chúng tôi chiến đấu cả ngày với địch, nhưng quân số thương vong rất ít.

Quyết tâm không bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt nốt số quân địch còn lại, tối hôm ấy, tức tối ngày 17 tháng 8 năm 1967, tôi trực tiếp cùng đồng chí Lạng - Đại đội trưởng Đại đội 3, chỉ huy đại đội tập kích địch trên đồi 62. Lúc này, lực lượng Đại đội 3 còn nguyên vẹn, chúng tôi tổ chức thành ba mũi tập kích vào đồi 62. Ban chiều, khi chúng rút chạy, chúng tôi quan sát thấy quân địch ở đồi 62 đang làm công sự. Chúng dùng bao đổ đầy đất, cát rồi đắp dựng lên để xây thành công sự. Buổi tối, tôi chỉ huy bộ phận trinh sát bò vào đến giữa đồi thì không thấy tên lính Mỹ nào. Lúc đó, tôi nghĩ chắc bọn này có tài độn thổ như trong phim thần thoại. Tuy nhiên, khi quan sát kỹ, chúng tôi phát hiện thấy chúng đang ở triền đồi. Sở dĩ địch chuyển địa điểm như vậy vì sợ bị ta pháo kích nên đã triển khai đội hình ở lưng chừng đồi 62. Sau khi nắm chắc cách bố trí của địch, tôi bí mật đưa anh em lên giữa đỉnh đồi và tổ chức thành 3 mũi từ trên đánh sả xuống, xé nát đội hình của địch. Bọn lính trên đồi 62 hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp chống trả. Cụ thể, sau hơn một giờ chiến đấu, ta đã diệt gọn một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ, làm chủ đồi 62, thu 40 khẩu súng AR15 và AR16. Như vậy, tính cả ngày hôm đó, chúng tôi đã thu được 60 vũ khí các loại. Do điểm cao 59 cách điểm cao 62 không xa nên địch phản ứng rất quyết liệt. Chúng dùng trực thăng quần đảo bắn phá liên tục, thả pháo sáng suốt đêm làm sáng cả khu vực xã Bình Phú. Mặc cho địch điên cuồng bắn súng, ném bom xuống đồi 62, sau khi tiêu diệt gọn đại đội lính Mỹ, chúng tôi vẫn tổ chức lui quân an toàn. Kết quả chung tính cả ngày và đêm hôm đó, Tiểu đoàn 70 đã loại khỏi vòng chiến đấu gần hết 2 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ. Về phía ta cũng có thương vong, nhưng rất ít.

Sau trận đánh, đồng chí Thạch - Tư lệnh sư đoàn và đồng chí Đạo - Chính ủy Sư đoàn 2 đi kiểm tra thực địa đã tấm tắc khen ngợi cách đánh của chỉ huy Tiểu đoàn 70 đúng là: “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, trận đánh đồi 62 là cách đánh “nở hoa trong lòng địch”. Thực ra, các đồng chí đi kiểm tra cùng vì tình nghĩa bạn chiến đấu của Tiểu đoàn 70 vừa tách khỏi đội hình sư đoàn về lại Quảng Nam. Hành động của đồng chí Thạch và đồng chí Đạo đối với tôi như một ân tình của người cán bộ chỉ huy dành cho cấp dưới trong chiến đấu. Đó cũng là bài học thực tế trong hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của tôi trong quá trình công tác.

Vị trí trú quân ở Thăng Bình không còn yếu tố bí mật, chúng tôi được lệnh hành quân về huyện Bắc Tam Kỷ và đứng chân ở các xã Kỳ Phước, Kỳ An. Khi đơn vị vừa ổn định nơi ăn ở, tôi cùng đồng chí Tiểu đoàn trưởng Vũ Thành Năm đi nhận nhiệm vụ ở trên. Cụ thể, Tiểu đoàn 70 có nhiệm vụ đánh sâu vào thị xã Tam Kỳ để rút kinh nghiệm cho chiến dịch lớn sau này và cũng nhằm mục đích kéo lực lượng địch càn quét ở phía tây Tam Kỳ về lại thị xã. Nhận thức đây là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong xây dựng quyết tâm chiến đấu của cấp trên, chỉ huy đơn vị chúng tôi đã hội ý khẩn trương, Đảng ủy Tiểu đoàn kịp thời ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ chiến đấu, phân công cán bộ phụ trách từng mặt công tác cụ thể, tỉ mỉ gắn với trách nhiệm từng đồng chí. Sau đó, bố trí cán bộ tiểu đoàn, đại đội cùng một số đồng chí chiến sĩ đi trinh sát, chuẩn bị chiến trường từ phía tây hướng Kỳ Thịnh, kiểm tra toàn bộ khu vực từ nhà lao vào đến cơ quan Sư đoàn bộ Sư đoàn 2 ngụy đóng ở gần sát phía đông Tam Kỳ. Do phạm vi chiến đấu rộng, quân số địch đông, đồn bốt được xây dựng kiên cố, vũ khí trang bị hiện đại, có máy bay, xe tăng và pháo binh chi viện trực tiếp nên tiểu đoàn được tăng cường thêm Đại đội 16 đặc công của tỉnh. Sau khi nghiên cứu mục tiêu, chúng tôi xác định hình thức tác chiến là hình thức mật tập, từ bên trong đánh ra. Sau khi được cấp trên thông qua cách đánh, đơn vị đắp sa bàn và tổ chức huấn luyện, thực hành hiệp đồng chiến đấu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:50:59 am »

Đêm mùng 5 tháng 9 năm 1967, đơn vị bắt đầu hành quân chiếm lĩnh trận địa. Ngoài tên lính gác ôm súng đi lại, trước mắt chúng tôi thị xã Tam Kỳ im lìm như một thiếu nữ đang say giấc ngủ. Tôi bình tĩnh chỉ huy đơn vị bố trí đội hình chiến đấu theo phương án. Đúng một giờ ngày mùng 6, tất cả các mũi đã áp sát mục tiêu. Đến giờ G theo hiệp đồng, tôi ra lệnh nổ súng. Ngay lập tức, lựu đạn, thủ pháo của ta dồn dập tấn công làm tê liệt hoàn toàn tiểu đoàn lính bảo an và tiêu diệt gần hết quân số cùng ban chỉ huy tiểu đoàn địch. Nghe tiếng súng rộ lên bất ngờ, địch từ các hướng phản ứng quyết liệt. Chúng dùng 8 chiếc xe tăng của Sư đoàn 2 ngụy từ dưới ga Tam Kỳ cùng với bộ binh địch ngồi trên xe cơ động lên bịt cửa mở phía tây của tiểu đoàn. So về tương quan lực lượng, ưu thế thuộc về phía địch. Vì vậy, từ đó trận đánh diễn ra rất quyết liệt. Trước tình hình như vậy, tôi hội ý với đồng chí Năm và quyết định lập tức mở đường ra phía bắc, tức hướng Phương Hòa, tổ chức cho đơn vị lui quân an toàn. Tuy nhiên, sau hơn hai giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 70 cùng với Đại đội 16 đã tiêu diệt gần hết một tiểu đoàn lính bảo an, làm náo động cả Tỉnh đường Quảng Tín. Vì thế, các đơn vị của địch càn quét phía tây buộc phải kéo về đối phó với tình hình thị xã Tam Kỳ, đúng như ý định chiến đấu của ta. Trong trận này, tôi vừa chỉ huy đơn vị vừa nổ súng tiêu diệt được 14 tên lính ngụy. Cấp trên đánh giá đây là một trận tập kích táo bạo ở sâu trong hậu phương địch của Tiểu đoàn 70 và Đại đội 16 đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Bây giờ, mặc dù chiến tranh đã trôi qua hàng thập kỷ, nhưng tôi vẫn không thể nào quên những ngày tháng hào hùng của dân tộc, tôi đã cùng đồng đội rong ruổi trên khắp chiến trường để “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Trong số đó, nhiều đồng chí không được may mắn như tôi đã đi hết cuộc chiến mà vĩnh viễn nằm lại nơi chiến địa. Có không ít lần tôi hứa trước anh linh của các anh nếu có điều kiện trở về sau cuộc chiến thì tôi sẽ viết về những năm tháng gian lao và anh dũng mà thế hệ chúng tôi đã trải qua để lớp con cháu sau này hiểu được giá trị của độc lập, tự do mà bao lớp cha ông đã không tiếc máu xương mới giành được. Trở lại thời kỳ cuối những năm sáu mươi của thế kỷ XX, Tiểu đoàn 70 chúng tôi vẫn tiếp tục hành quân “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Sau một thời gian chuẩn bị và tổ chức huấn luyện chiến đấu, đơn vị chúng tôi được phân công đánh cứ điểm Mộc Bài ở xã Quế Xuân, huyện Quế Sơn. Ở đây, địch bố trí một đại đội bộ binh nằm trong công sự, xung quanh cứ điểm được bao bọc bởi 5 lớp rào kẽm gai. Lúc này, đồng chí Năm vẫn làm Tiểu đoàn trưởng, còn tôi là Chính trị viên kiêm Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn. Sau khi đi trinh sát thực địa, nghiên cứu kỹ địa hình và cách bố phòng của địch, chúng tôi quyết định sử dụng phương pháp dùng bộc phá nổ liên tục phá vỡ các hàng rào, đưa lực lượng đột kích vào bên trong tiêu diệt địch. Tương tự những trận đánh trước, anh em đã có kinh nghiệm trong hành quân chiến đấu và thực hành chiến đấu. Vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng tôi đã phá tung 5 hàng rào kẽm gai của địch. Tôi dẫn đầu mũi chủ yếu, cũng là dẫn đầu đội hình xung phong đánh chiếm cứ điểm Mộc Bài. Khi vượt qua khỏi cửa mở, tôi trúng đạn của địch, bị thương nặng ngất đi, không còn biết gì. Anh em phải đưa về trạm phẫu. Năm ngày sau, tôi mới tỉnh dậy. Giật mình nhìn xung quanh, tôi biết mình vẫn còn sống và đang nằm trong hầm. Bất chợt, tôi nghe một tiếng reo khe khẽ:

- Anh ấy tỉnh rồi mẹ ơi!

- Ừ! Con đứng đây trông chừng để mẹ xuống hầm coi sao nhé!

Trước mắt tôi, một người mẹ già có gương mặt phúc hậu, đang cúi xuống nhìn tôi và mẹ lặng lẽ sờ trán tôi, thì thầm:

- Con tỉnh rồi, mẹ mừng lắm. Mấy hôm trước anh em khiêng đến, thấy con nằm mê man, mẹ sợ không qua khỏi.

Lúc này, tôi chưa nói được nhiều nên chỉ gật đầu, đưa ánh mắt ra hiệu cảm ơn người mẹ cơ sở. Vài hôm sau, khi sức khỏe của tôi dần hồi phục, người mẹ ấy mới tâm sự về gia đình. Từ đó, tôi mới biết đây là nhà bác Quế, tên thật là Nguyễn Thị Đài, nhưng chồng bà tên là Quế nên dân làng thường gọi là bà Hai Quế ở thôn Hà Bình, xã Hình Đào, nay là xã Bình Minh, huyện Thăng Bình. Khi viết những dòng này, dù đã nhiều năm trôi qua, song tôi vẫn nhớ như in về gia đình ân nhân của mình. Hồi ấy, mẹ Quế có hai người con gái còn nhỏ tên là Hoa và Huệ. Chồng mẹ, tức ông Hai Quế, là cán bộ tập kết. Ngoài ra, mẹ Quế còn có hai người con trai đi bộ đội, đã hy sinh. Ngày ấy, đội phẫu của Tỉnh đội Quảng Nam đóng tại thôn Hà Bình để cứu chữa thương binh. Tuy nhiên, sau đó ít ngày, Mỹ đã đổ quân càn quét khu vực này. Vì vậy, ta chưa kịp đưa thương binh đi nơi khác mà phải chuyển xuống hầm bí mật. Mẹ Quế là một trong những người đầu tiên tham gia đào hầm bí mật để nuôi giấu thương binh. Trạm phẫu đã bố trí cho tôi và 3 đồng chí thương binh khác ở tại nhà mẹ. Khi lính Mỹ đi càn, chúng dùng cây gậy hoặc những cái thuốn sắt nhọn xăm tìm hầm bí mật trong nhà, ngoài vườn. Trước tình hình này, mẹ Quế và hai cô con gái đã giả vờ đại tiện, tiểu tiện quanh hầm và nằm lăn ra để đánh lừa bọn lính Mỹ. Mặc cho chúng nói hay hỏi gì, ba mẹ con mẹ Quế đều trả lời: “No! No!”. Bởi vì trước đó, các đồng chí cán bộ binh vận đã dạy nhân dân đôi ba từ tiếng Anh như: “No! No!” (đọc là nâu, nâu), nghĩa là không, hoặc “OK” (đọc là ô kê), nghĩa là có. Do đó, khi lính Mỹ càn lên, bà con ta cứ thế “nâu, nâu”. Nhớ lại những năm tháng ấy, tôi mới thấm sâu ý nghĩa lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận: “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Chúng tôi đã được nhân dân đùm bọc chở che khi lâm trận, được nhân dân nuôi dưỡng lúc ốm đau, thương tật. Đối với tôi, thời gian được ở với gia đình mẹ Quế đã trở thành một kỷ niệm sâu sắc không thể nào quên. Mẹ đã che giấu, nuôi dưỡng chúng tôi gần hai tháng. Mẹ rất thương yêu và coi tôi như con ruột của mình. Dường như mẹ muốn bù đắp cho tôi những thiếu hụt tình cảm khi chiến đấu xa nhà. Quần áo của tôi, mẹ tự tay giặt giũ chứ không để cho con gái giặt. Hàng ngày, đến bữa ăn, mẹ đều dành cho tôi phần cơm có nhiều thức ăn ngon bảo em Hoa hoặc Huệ mang lên. Vì lúc đó, tôi ở nhà trên, gần bàn thờ gia tiên, chân đang bị gãy chưa đi lại được. Mỗi lần thấy các em đưa cơm lên, tôi phát hiện khi đi xuống họ cứ bước giật lùi. Tôi cứ thắc mắc mãi về chuyện này. Khi có điều kiện, mẹ Quế mới giải thích rằng, quan niệm của mẹ là con gái không được lên nhà trên và không quay lưng về phía bàn thờ. Nghe lời của mẹ, tôi càng thấy tình cảm của mẹ Quế dành cho tôi thật lớn lao. Vì tôi, mẹ đã chấp nhận để con gái đi qua chốn linh thiêng, mặc dù lúc đó bàn thờ nhà mẹ chỉ có một bát nhang bằng vỏ chai thủy tinh được cắt làm đôi. Nhắc đến mẹ Quế, tôi lại liên tưởng đến thói quen nhai trầu của mẹ. Kể cả những lúc người mẹ mảnh mai, hiền hậu, nhưng đầy mưu trí ấy dũng cảm đối mặt với kẻ thù, miệng mẹ vẫn bỏm bẻm miếng trầu cay như thể nó làm cho mẹ thêm phần sáng suốt để đấu trí với địch, nhằm bảo vệ đàn con chiến sĩ thương binh đang nằm dưới hầm bí mật. Để có được cuộc sống hôm nay, tôi luôn ghi lòng tạc dạ công ơn của gia đình mẹ Quế cũng như bà con lối xóm Hà Bình đã cưu mang, đùm bọc tôi và đồng đội vượt qua những ngày đen tối của chiến tranh. Bài học về cuộc chiến tranh nhân dân, toàn diện, có dân thì có tất cả lại thêm phần tỏa sáng trong mỗi trái tim cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 ngày ấy. Tôi cũng như các đồng chí khác đều có chung nhận xét, đối với anh em thương binh năm đó, mẹ Quế luôn là người mẹ anh hùng. Sau này, khi đất nước giải phóng được hơn ba mươi năm, để tưởng nhớ công ơn của mẹ Quế và gia đình, nhân dịp con cháu mẹ tổ chức trùng tu lại phần mộ của mẹ cùng những người con đã khuất, tôi đã làm 4 bộ bia đá về tặng gia đình để phần mộ mẹ được khang trang.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:51:30 am »

Những ngày cuối năm 1967, sau hơn một tháng rưỡi nằm điều trị vết thương tại đội phẫu ở vùng đông Thăng Bình, tôi trở về đơn vị. Sở dĩ tôi phải nằm lại nhà mẹ Quế lâu như vậy vì lúc này ta không thể chuyển thương binh đi được. Nguyên nhân do lính Mỹ lập các chốt chặn, kiểm soát gắt gao, ngăn giữ quốc lộ 1. Đồng thời, chúng tổ chức đánh phá ác liệt phía tây huyện Thăng Bình. Lúc đó, Tiểu đoàn 70 được lệnh về đóng quân ở xã Bình Triều. Gần hai tháng xa đơn vị, xa anh em, đồng chí, đồng đội, tôi không biết những con người vào sinh ra tử với tôi ai còn ai mất. Trong điều kiện địch bủa vây tứ phía nên tin tức về tiểu đoàn không dễ gì lọt đến chỗ chúng tôi. Vì vậy, mặc dù đường đi ẩn chứa nhiều nguy hiểm, nhưng tôi vẫn cố đi cho chóng để về sớm gặp được anh em. Khi vào đến khu vực đóng quân của đơn vị, một số đồng chí đã ùa ra ôm chầm lấy tôi, hỏi tíu tít:

- Thủ trưởng khỏi hẳn chưa? Trận đánh tiếp theo thủ trưởng có tham gia được không?

- Các đồng chí cứ yên tâm! Tuy vết thương chưa lành hẳn, nhưng tôi đã có thể sát cánh cùng anh em trong mọi trận đánh.

Tôi trả lời và bắt tay từng chiến sĩ, sau đó đi kiểm tra một số nơi về điều kiện ăn ở của bộ đội. Phát hiện thấy một số vị trí thiếu vắng, tôi biết anh em đã hy sinh hay bị thương đang điều trị, cổ tôi như nghẹn lại. Mỗi lần như vậy, tôi lại đứng nghiêm và thẩm hứa: “Các đồng chí hãy yên nghỉ. Chúng tôi sẽ thay các anh tiếp tục chiến đấu với quân thù để giành độc lập cho Tổ quốc”.

Tôi vừa về đến đơn vị được hai hôm, mới nắm lại tình hình tổ chức biên chế thì có một bộ phận sư đoàn không vận Mỹ đổ quân ngay tại khu vực đóng quân của chúng tôi. Lúc đó, các đồng chí cán bộ, chỉ huy tiểu đoàn về quân sự và cán bộ đại đội quân sự đều đi chuẩn bị chiến trường. Vì thế, chỉ có một mình tôi chỉ huy mọi hoạt động của đơn vị. Tôi phân công anh em theo dõi, nắm chắc tình hình địch, bám sát từng động tĩnh của chúng. Đồng thời, ta bố trí lực lượng sẵn sàng đón địch và đưa cổ chúng vào tròng. Khi địch vừa đổ quân bằng trực thăng xuống với lực lượng hơn hai đại đội và đoàn xe tăng từ Tuần Dưỡng, núi Quế đánh vào đội hình của Tiểu đoàn 70. Tuy nhiên, chúng tôi đã chủ động bố trí sẵn các loại hỏa lực, xung lực từ cổng 24 và 25, xã Bình Triều. Chờ cho đội hình địch lọt hẳn vào trận địa phục kích, chỉ cách quân ta từ 20 đến 30 mét, tôi ra lệnh nổ súng. Ngay lập tức, súng AK, lựu đạn đua nhau nổ. Số lính bộ binh Mỹ đi đầu rơi vào đúng vị trí tập trung diệt địch của ta nên nhanh chóng bị tiêu diệt. Xe tăng Mỹ lúc đó không còn bộ binh hộ tống đã liều lĩnh vượt lên, lao vào cổng 24. Các xạ thủ B40, B41 của Đại đội 2 ở cổng 24 đã xác định phần tử bắn, chỉ chờ có vậy để lập công. Kết quả, ba chiếc xe tăng địch bị thiêu rụi ngay tại chỗ, số còn lại phải tháo chạy ra ngoài xa. Trong khi đó, ở hướng cổng 25, xe tăng địch tiến vào sát cổng khoảng 30 đến 40 mét. Địch cũng không ngờ ở hướng này, các xạ thủ B40, B41 của Việt cộng đã chờ sẵn để khai tử cho chúng. Cụ thể, hướng cổng 25, ta bắn cháy hai xe, số còn lại tháo chạy về hướng núi Rướng, xã Bình Phục. Trong khi phía trước trận địa số lính Mỹ chết ngổn ngang, xe tăng còn cháy rần rật thì địch điều không quân lên tiếp ứng. Hàng chục chiếc máy bay, chia thành từng tốp liên tục bắn phá vào đội hình của Tiểu đoàn 70. Dù vậy nhưng địch vẫn không dám tiếp tục tấn công bằng bộ binh mà dùng pháo binh và xe tăng bắn phá vào đội hình của ta. Chớp thời cơ, Đại đội 4 là đại đội hỏa lực của tiểu đoàn được trang bị gồm súng máy phòng không 12,7mm và cối 81mm đã cùng hỏa lực của các đại đội bắn trả quyết liệt, làm cháy tại chỗ 5 chiếc máy bay trực thăng của địch.

Trận chiến đấu ác liệt trong thế giằng co giữa ta và địch suốt từ 10 giờ đến 18 giờ ngày 14 tháng 12 năm 1967. Mặc dù cán bộ quân sự đi vắng, quân số chênh lệch, kém ưu thế về vũ khí khí tài trang bị, v.v. nhưng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã thể hiện sự kiên cường, dũng cảm của người chiến sĩ cách mạng trong chiến đấu. Ta đã tiêu diệt tại chỗ trên 80 tên lính Mỹ. Nhiều đồng chí thực sự là tấm gương tiêu biểu để mọi người học tập. Trong đó, đặc biệt có đồng chí Trương - Đại đội trưởng Đại đội 2, tuy bị thương nhưng vẫn không rời trận địa. Ép mình sát thành công sự, đồng chí sử dụng súng AK bắn điểm xạ chính xác từng tên lính Mỹ. Khi pháo binh và xe tăng bắn dữ dội vào trận địa, một quả đạn rơi ngay xuống chiến hào nơi đồng chí Trương ẩn náu. Anh đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời chưa tròn ba mươi. Đêm hôm ấy, tiểu đoàn thu dọn chiến trường đưa liệt sĩ về thôn Phước Châu xã Bình Triều để an táng. Còn các đồng chí thương binh được chuyển về xã Bình Đào huyện Thăng Bình điều trị. Như vậy, sau nhiều trận chiến đấu với lính Mỹ, đây là lần đầu tiên Tiểu đoàn 70 chạm trán một bộ phận của lực lượng Sư đoàn không vận Mỹ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #24 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:05:09 am »

Bước sang năm 1968, Tiểu đoàn 70 hành quân về các xã Phước Tân, Phước Tiên, huyện Tiên Phước, để củng cố, bổ sung quân số, tổ chức huấn luyện chiến đấu để chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử mùa Xuân năm 1968. Lúc này, cấp trên chỉ phổ biến một số tình hình và nét lớn của nhiệm vụ trong thời gian tới. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thức được rằng chiến dịch này là chiến dịch tổng tiến công nổi dậy để giải phóng hoàn toàn miền Nam, ai cũng nhập tâm lời thề: “Thề quyết tử để Tổ quốc quyết sinh, giờ lịch sử đã đến”. Tuy nhiên, sau chiến dịch, khi tổng kết ta mới nói đó là trận tập kích chiến lược.

Theo yêu cầu nhiệm vụ của cấp trên, Tiểu đoàn 70 đảm nhiệm vai trò chủ công của lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam có nhiệm vụ tấn công vào thị xã Tam Kỳ. Nhiệm vụ cụ thể của tiểu đoàn là đánh chiếm vào Tỉnh đường Quảng Tín, tòa hành chánh tỉnh trưởng và giải phóng nhà lao. Trong quá trình chiến đấu, nếu bộ đội “bị thương thì bò vào bệnh viện Tam Kỳ để cứu chữa”. Chúng tôi nhận nhiệm vụ về cũng tiến hành quán triệt cho anh em yêu cầu nhiệm vụ như vậy, đồng thời nhấn mạnh về công tác thương binh, liệt sĩ mà cấp trên đã lưu ý. Đến thời điểm này, Ban chỉ huy tiểu đoàn vẫn chưa có gì thay đổi. Tiểu đoàn trưởng là đồng chí Vũ Thành Năm. Tôi làm Chính trị viên tiểu đoàn kiêm Bí thư Đảng ủy. Trong cuộc đời binh nghiệp của mình đã trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau, từ cán bộ quân sự đến cán bộ chính trị, tôi rút ra được rằng bất cứ tình huống nào yếu tố đoàn kết cũng luôn đóng vai trò then chốt trong việc giành chiến thắng. Để làm được điều đó, trước hết, phải bắt đầu từ mối quan hệ của những người chỉ huy. Quan hệ của tôi và đồng chí Năm có thể nói là một ví dụ điển hình. Trong quá trình công tác, chúng tôi luôn tôn trọng ý kiến của nhau, dù đó là vấn đề quân sự hay chính trị. Vì vậy, những năm tháng ấy, Tiểu đoàn 70 luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tham gia Chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, vết thương của tôi vẫn chưa lành hẳn, chân còn đi khập khiễng, muốn đi đâu phải chống gậy. Biết được tình trạng sức khỏe của tôi, cấp trên có ý định khuyên tôi nên đi chữa bệnh, lúc nào lành hẳn hãy trở về chiến đấu. Tôi hiểu đó là sự quan tâm, ưu ái của các anh dành cho mình. Lúc đó, tôi cũng phân vân. Song không phải phân vân chuyện tham gia chiến đấu hay đi chữa bệnh mà chưa biết lựa chọn cách giải thích như thế nào để cấp trên hiểu được tâm tư suy nghĩ của tôi. Bởi vì trong tình trạng vết thương chưa lành hẳn, tôi đi lại khó khăn sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình vận động chiến đấu của đơn vị. Qua cân nhắc, tôi báo cáo trung thực suy nghĩ của mình với cấp trên. Đó là, tôi tự thấy mình là cán bộ chính trị nên trong giờ phút lịch sử này phải có trách nhiệm đóng góp một phần công sức, trí tuệ, thậm chí cả tính mạng của mình vào chiến dịch, góp phần giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Hơn nữa, tôi cũng nghĩ rằng trong suốt những năm qua đã có biết bao đồng chí, đồng đội của mình vĩnh viễn nằm xuống mới có thể đi đến chiến dịch trọng đại này. Vì vậy, tôi đề nghị được ở lại chiến đấu để làm tròn nhiệm vụ của một chính trị viên tiểu đoàn, đồng thời cũng là chỉ huy mũi xung kích trong trận chiến lịch sử này. Nghe tôi trình bày, các anh đã nhất trí để tôi tiếp tục công tác cùng anh em.

Theo dự kiến ban đầu, Tiểu đoàn 70 sẽ tấn công từ phía tây, tức từ hướng Kỳ Thịnh xuống Tam Kỳ. Song do xác định thời gian có sự sai lệch về lịch âm, dương nên có nơi đã tuyên bố tổng tiến công và nổi dậy. Vì vậy, chúng tôi không thể thực hành tiến công vào hướng phía tây theo kế hoạch. Trước tình hình đó, tôi cùng với đồng chí tiểu đoàn trưởng đề nghị với tỉnh đội xin chuyển hướng tấn công từ phía tây sang phía bắc. Đồng chí Hoàng Minh Thắng lúc bấy giờ là Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam và đồng chí Trần Kim Anh - Tỉnh đội trưởng, người trực tiếp nhận báo cáo, đã nhất trí với phương án chiến đấu bổ sung của chỉ huy Tiểu đoàn 70. Ngay trong ngày hôm ấy, đội hình tiểu đoàn vận động chuyển sang hướng bắc, phải đi vòng qua nhiều khu vực địch chốt giữ. Khi đơn vị hành quân xuống đến Phương Hòa, tôi gặp đồng chí Trần Chí Thành - Thị ủy viên, Đội trưởng Đội công tác cánh bắc Tam Kỳ, để bàn bạc trao đổi tình hình, xác định quyết tâm chiến đấu, lựa chọn cách đánh, v.v. Do đổi hướng đánh, lựa chọn lại mục tiêu nên chúng tôi xác định sẽ gặp một số khó khăn trong quá trình thực hành tiến công vào Tỉnh đường Quảng Tín. Tôi đem những băn khoăn này trao đổi với đồng chí Thành. Anh bảo: “Các đồng chí yên tâm! Chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ trong suốt quá trình chuẩn bị chiến đấu và thực hành chiến đấu”. Sau đó, anh bố trí một lực lượng cơ sở mật, du kích mật, kể cả một số cơ sở trong trung đội nghĩa quân dẫn đường cho đội hình chúng tôi tiếp cận mục tiêu. Ở đây, cần nói thêm rằng trung đội nghĩa quân do đồng chí Thành tổ chức, đã có chi bộ mật hoạt động ở bên trong tỉnh đường và trực tiếp đồng chí Thành nắm giữ hoàn toàn; Tiểu đoàn 70 đánh chiếm được Tỉnh đường Quảng Tín là nhờ vào lực lượng này. Được sự nội ứng của anh em nghĩa quân dẫn đường, chúng tôi lách qua vị trí đóng quân của hai tiểu đoàn lính ngụy ở phía tây và tiểu đoàn lính bảo an đoạn nhà lao, phía đông là nơi chốt chặn của tiểu đoàn lính cộng hòa và chi đoàn xe tăng Mỹ, từng bước áp sát mục tiêu. Bộ phận Đại đội 2, do đồng chí Nguyễn Kỉnh làm đại đội trưởng, trong đó có trung đội của đồng chí Trung đội trưởng Trần Kim Chước làm mũi thọc sâu có nhiệm vụ đánh chiếm tòa thị chính và nhà tỉnh trưởng đã bí mật vượt qua sáu lớp rào thép gai, áp sát nhà tỉnh đường. Đồng thời, Đại đội 3 cũng áp sát bờ rào của nhà lao. Lực lượng của Đại đội 1 được chia thành hai bộ phận, trong đó hai trung đội làm dự bị cho Tiểu đoàn 70 và bộ phận còn lại tăng cường cho Đại đội 2.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #25 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:05:36 am »

Khi các mũi báo cáo đã sẵn sàng, khoảng 24 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1968, tôi và đồng chí tiểu đoàn trưởng đi kiểm tra toàn bộ đội hình của tiểu đoàn, động viên anh em quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi, sau đó về vị trí chỉ huy xin ý kiến tỉnh đội cho nổ súng. Đúng 1 giờ 30 phút ngày 1 tháng 2 năm 1968, lệnh nổ súng tấn công Tỉnh đường Quảng Tín được phát đi. Lập tức, trung đội của đồng chí Trần Kim Chước đánh thẳng vào nhà chỉ huy tỉnh đường, chiếm ngay nhà đại tá tỉnh trưởng Đào Mộng Xuân, cắm cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng trên nóc nhà tỉnh trưởng, phía dưới lá cờ có thêu dòng chữ “Núi Thành oanh liệt, quyết chiến lập công”. Lực lượng còn lại của Đại đội 2 tiếp tục nổ súng, sử dụng bộc phá bốc dỡ chướng ngại vật tiến vào tỉnh đường. Cùng lúc, hỏa lực và xung lực của Đại đội 3 tấn công dồn dập tiểu đoàn lính bảo an, sau đó hỏa lực chuyển làn bắn vào bên trong trận địa. Sau hơn một giờ chiến đấu, đồng chí Chước điện báo về Ban chỉ huy tiểu đoàn đã chiếm được tỉnh đường và tòa nhà tỉnh trưởng, các bộ phận còn lại tiếp tục chiến đấu, đồng chí Chước đã cắm cờ giải phóng lên nóc nhà tỉnh trưởng. Trận chiến đấu với lực lượng địch phía trong tỉnh đường của Tiểu đoàn 70 kéo dài đến khoảng 6 đến 7 giờ sáng.

Khoảng 6 đến 7 giờ sáng ngày 1 tháng 2, ở phía đông, lính cộng hòa và xe tăng Mỹ bắt đầu phản kích quyết liệt. Chúng tập trung hỏa lực đánh thẳng vào bên sườn của ta, cắt đứt đội hình Tiểu đoàn 70 thành hai bộ phận. Lúc này, Ban chỉ huy tiểu đoàn chỉ còn một mình tôi, vì đêm hôm đó đồng chí tiểu đoàn trưởng bị thương đã đưa ra trạm phẫu, đồng chí Tiến, Tiểu đoàn phó hy sinh. Địch phản ứng quyết liệt khiến lực lượng còn lại của ta không vào được bên trong. Tôi phải liên lạc với đồng chí Chước bằng máy thông tin 2 Oát - PRC25, để chỉ huy và động viên anh em giữ vững tinh thần chiến đấu. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng ác liệt. Nhờ có sự yểm trợ của hỏa lực mạnh, bộ binh địch đã từng bước chiếm lại được một số vị trí. Về phía ta, nhiều đồng chí đã chiến đấu dũng cảm và anh dũng hy sinh. Trước tình thế đó, tôi vừa trực tiếp chỉ huy điều động lực lượng dự bị tăng sức chiến đấu cho các bộ phận, vừa phải động viên anh em kiên quyết ngăn chặn, tập trung đánh bộ binh địch để bảo vệ thương binh, liệt sĩ. Trời càng về trưa, địch càng tăng thêm lực lượng với quyết tâm chiếm lại tỉnh đường. Một bộ phận quân cộng hòa và lính Mỹ đã áp sát sở chỉ huy của tiểu đoàn. Tình thế lúc này khá nguy nan. Tôi phải sử dụng khẩu súng AK của một đồng chí đã hy sinh để vừa nổ súng ngăn chặn, tiêu diệt những tên lính ngụy đi đầu để sở chỉ huy cơ động ra phía ngoài vừa bao quát toàn bộ trận đánh. Quân địch bị ta đánh trả quyết liệt đã lùi về phía sau để hỏa lực của xe tăng, pháo binh bắn mạnh vào đội hình đối phương, sau đó tổ chức tiến công tiếp. Lúc này, một đồng chí xạ thủ trung liên của Đại đội 2 bị trúng đạn hy sinh. Tôi vội bỏ khẩu AK xuống, nằm rạp bên cạnh khẩu trung liên tiếp tục thay vị trí người chiến sĩ đã anh dũng hy sình, bắn kìm chân, thu hút hỏa lực của địch để các đơn vị đưa anh em thương binh, thi thể các đồng chí hy sinh ra ngoài. Tôi vừa chỉ huy đơn vị, vừa bắn chặn địch và bám sát đội hình. Bôn cạnh tôi, chiến sĩ thông tin vẫn đảm bảo tín hiệu thông suốt và chiến đấu dũng cảm. Ta vừa đánh, vừa lui quân. Dần dần, đơn vị chúng tôi đã di chuyển đến Phương Hòa, thuộc thôn 1, xã Kỳ Thịnh, huyện Bắc Tam Kỳ. Đây cũng là một sự sáng tạo của Tiểu đoàn 70 trong quá trình thực hành chiến đấu, vì lúc hạ mệnh lệnh chiến đấu tỉnh đội đã không xác định hướng lui quân.

Trong lúc đó, mũi thọc sâu của đồng chí Chước vẫn giữ vững mục tiêu đã chiếm và chiến đấu kiên cường, đánh trả quyết liệt các đợt tiến công của địch, sử dụng hỏa lực mạnh không hiệu quả, gọi hàng bị đáp trả bằng những loạt đạn AK chính xác, cuối cùng địch phải dùng chất độc hóa học thần kinh CS, là loại chất độc hơi cay, đánh vào nhà tỉnh trưởng. Khoảng 10 giờ hôm ấy, tôi không còn bắt được liên lạc với đồng chí Chước. Tôi hiểu các đồng chí của tôi không còn nữa. Các anh đã chiến đấu và hy sinh anh dũng, giữ trọn lời thề: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn, song ưu thế về lực lượng, hỏa lực của địch đã gây cho chúng tôi nhiều khó khăn. Tiểu đoàn 70 đã đánh chiếm và giữ Tỉnh đường Quảng Tín trong suốt nhiều giờ. Địch tập trung các loại vũ khí hạng nặng, giở mọi thủ đoạn chiến tranh nhằm khuất phục quân ta. Nhưng những người lính của Tiểu đoàn 70 năm ấy vẫn kiên cường bám trụ với quyết tâm giữ vững mục tiêu đã chiếm được. Tuy nhiên, trước quân thù mạnh hơn ta gấp nhiều lần, được tăng viện thường xuyên lại có thời gian nghỉ ngơi giữa các đợt tiến công; trong khi đó chúng ta đã chiến đấu liên tục trong thời gian dài, một số đồng chí đã bị thương, hy sinh nên khả năng chiến đấu phòng ngự của ta có phần giảm sút. Vì vậy, chỉ huy tiểu đoàn quyết định vừa đánh, vừa lui để bảo toàn lực lượng còn lại. Sau khoảng 36 tiếng đồng hồ chiến đấu, đội hình của ta dần lùi ra khỏi khu vực chiến sự, là thời gian đồng chí cuối cùng rút khỏi tỉnh đường từ bò rào do cơ sở của đồng chí Thành đưa ra.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #26 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:05:58 am »

Trận đánh vào Tỉnh đường Quảng Tín đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Đó là một cuộc chiến đấu cực kỳ ác liệt, thể hiện sự quyết tâm cao độ của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70. Đây cũng là trận đánh mà đồng chí, đồng đội của tôi bị thương, hy sinh nhiều nhất từ trước đến nay. Bản thân tôi cũng bị mấy vết thương. Vết này chưa lành hẳn thì vết khác lại chồng lên. Tôi đặc biệt xúc động trước, sự hy sinh của đồng chí Hiểu trên đường cơ động, vì đồng chí đã bị thương nặng trong chiến đấu. Tôi vừa quan sát chỉ huy đội hình hành quân để đảm bảo bí mật và sẵn sàng chiến đấu, vừa đi cạnh anh em bị thương nặng để động viên các đồng chí khiêng cáng và những người bị thương. Dường như anh em cũng hiểu tâm trạng của người chỉ huy, tình hình đơn vị nên dù đau đớn vẫn không một lời rên la. Nhiều đồng chí toàn thân quấn băng trắng toát nhưng thấy tôi đến lại nhoẻn cười để tôi yên tâm lo công việc đơn vị. Lúc ấy, tôi đang đi chợt có tiếng gọi khẽ: “Anh Lý! Anh Lý cúi xuống”. Nhưng tôi vừa quay lại, chưa kịp cúi thì đồng chí Hiểu ngã xuống. Anh thều thào: “Em ra đi! Em đã hoàn thành nhiệm vụ”. Nói xong, đôi mắt Hiểu nhắm nghiền và im lặng mãi mãi. Tôi nghẹn ngào trước sự ra đi của người đồng chí, người bạn, người em thân thiết. Có lẽ không một ngòi bút nào có thể diễn tả nổi tâm trạng của tôi lúc ấy. Đó là sự pha trộn của tình thương, lòng kính phục và trách nhiệm của người chỉ huy. Để yên lòng anh em và giữ nghiêm tinh thần sẵn sàng chiến đấu, tôi đã bặm môi không dám khóc người chiến sĩ của mình trước lúc về với đất mẹ vẫn còn nhớ nhiệm vụ của người lính. Tôi ngậm ngùi bồng Hiểu đặt lên bờ ruộng, sửa lại tư thế để em nằm thẳng người rồi cởi hai chéo dù của mình đắp lên người đồng chí vừa hy sinh và đánh dấu để nhân dân đến chôn cất. Nhiệm vụ phía trước vẫn còn, tôi không thể chậm trễ nên vội ôm hôn người chiến sĩ lần cuối cùng với lòng xót thương ngậm ngùi. Sự hy sinh của Hiểu cũng như các đồng chí khác càng khắc sâu trong tôi lòng căm thù giặc sâu sắc. Nếu không có chiến tranh, không có sự xâm lược của đế quốc Mỹ thì những con người trẻ trung đâu phải ngã xuống khi mái tóc hãy còn xanh. Họ chính là lực lượng hùng hậu xây dựng đất nước phồn vinh, đưa nước nhà sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong. Tôi vừa miên man suy nghĩ vừa tiếp tục hành quân. Đi được một đoạn khoảng 100 mét, tôi lại gặp một đồng chí thương binh không bước nổi mà phải vừa đi vừa bò. Lúc đó, tôi cũng đang đi khập khiễng nên không thể cõng anh được, đành phải một tay chống cây gậy tre, còn tay kia đỡ anh ấy dậy, xốc nách và dìu nhau bước. Chúng tôi ra đến gần đường sắt thì gặp du kích xã Kỳ Thịnh. Tôi nhờ các đồng chí đưa về đội phẫu để chữa trị vết thương. Có thể nhận định rằng, đây là một cuộc chiến không cân sức, nên ta tổn thất khá nhiều. Tuy nhiên, bước đầu quân ta đã đánh bại được ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Từ đó, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán bốn bên tại Pa-ri và ký hiệp định vào tháng 1 năm 1973. Đồng thời, chiến thắng Mậu Thân 1968 đã góp phần làm nên ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975. Đối với bản thân, sau trận này, tôi được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì.

Dẫu thành công hay không thành công thì sau mỗi trận đánh, đêm về nằm ngủ, tôi vẫn không sao chợp mắt được. Tâm trạng tôi chứa biết bao trăn trở vì thương xót đồng chí, đồng đội mình đã hy sinh, ngã xuống nơi chiến trường khi tuổi đời còn rất trẻ. Những tiếng nói nụ cười vẫn đượm nét vô tư của lứa tuổi cắp sách đến trường cứ chập chờn trước mắt tôi. Chỉ mới ít phút trước đó có cậu quê miền Bắc còn nhại tiếng Quảng Nam để đùa mấy anh em trong này. Có người mang tấm ảnh người yêu ra khoe: “Em này mình tia suốt mấy năm, mãi đến hôm lên đường mới nhận lời”, v.v. Thế mà trong chớp mắt, những con người ấy đã ra đi mãi mãi. Đành rằng chiến tranh thì không thể tránh khỏi sự hy sinh, mất mát, các anh ngã xuống để đất nước được thống nhất, Tổ quốc sẽ không quên công lao của các anh hùng, liệt sĩ... nhưng tôi vẫn cảm thấy xót xa, tiếc thương đồng đội. Tất nhiên, có thể ngày mai, tôi cũng có thể là một trong số đó. Song trước mắt, bao nhiêu hình bóng đồng chí, đồng đội vừa mất đi đã thôi thúc tôi nung nấu ý chí căm thù, nhắc nhở tôi phải làm gì để các anh tin rằng đồng đội của họ đang bước tiếp trong cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc. Tôi thầm hứa: “Các đồng chí hãy yên lòng! Chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện ước mơ, hoài bão của thế hệ chúng ta”. Với suy nghĩ như vậy nên khi cấp trên gợi ý cho đi dưỡng bệnh, tôi đã xin ở lại chiến trường để tiếp tục chiến đấu cùng anh em.

Kết quả trận đánh vào Tỉnh đường Quảng Tín, Xuân Mậu Thân 1968 cũng gợi cho tôi nhiều suy ngẫm. Tôi thầm nhủ: “Ước gì đừng lộ, ước gì lúc ấy ta tổ chức tập kích chiến lược, v.v. thì hẳn rằng xương máu các đồng chí, đồng đội bớt đổ xuống. Nhưng nghĩ cho cùng mình chỉ là cấp cán bộ tiểu đoàn cũng không sao nói được”. Hơn nữa, trong chiến tranh, sự sống cái chết là lẽ thường tình. Biết vậy, nhưng lòng tôi không thể nào nguôi ngoai vì những kỷ niệm về tình đồng chí, đồng đội hạt muối cắn đôi, bát cơm sẻ nửa, điếu thuốc chuyền tay nhau hút. Nay bỗng chốc người còn người mất, dĩ nhiên, sự mất mát đó để cho Tổ quốc sinh tồn cũng là một điều vinh quang. Trước nấm mồ đồng đội, tôi cầu mong linh hồn các đồng chí nơi chín suối hãy yên lòng, việc còn lại để cho chúng mình còn đây tiếp tục hoàn thành như mong ước của Bác Hồ và triệu triệu người dân Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #27 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:06:20 am »

Sau mùa Xuân năm 1968, cấp trên điều đồng chí Năm - Tiểu đoàn trưởng về tỉnh đội. Tôi được giao nhiệm vụ kiêm luôn vị trí của đồng chí Năm. Sau những thất bại vì bất ngờ, Mỹ-ngụy tăng cường càn quét ra vùng giải phóng. Chúng liên tục ép buộc nhân dân tập trung vào ấp chiến lược. Để đối phó với tình hình trên, Tỉnh đội Quảng Nam có chủ trương đánh sâu vào hậu phương của địch, diệt gọn từng đơn vị để chúng quay về đối phó. Lúc đó, Tiểu đoàn 70 đang đứng chân ở Kỳ Quý, Bắc Tam Kỳ. Qua trinh sát nắm địch, chúng tôi biết được một đại đội lính cộng hòa và ban chỉ huy tiểu đoàn địch đi càn về, tổ chức đồn trú ở chân phía bắc ngọn núi Chóp Chài. Nhận định đây là thời cơ diệt địch thuận lợi, chỉ huy tiểu đoàn nhanh chóng phân công lực lượng đi trinh sát, chuẩn bị chiến trường. Trong quá trình trinh sát vị trí đóng quân của địch, khi dừng lại để quan sát, tôi đều phổ biến ý định chiến đấu và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận để các đồng chí cán bộ chỉ huy chủ động xác định phương án chiến đấu, bố trí lực lượng, lựa chọn đường cơ động cho bộ phận mình. Sau khi trinh sát xong, ngay trong đêm đó, tức đêm 25 tháng 2 năm 1968, chúng tôi tổ chức hành quân, bí mật tập kích diệt gọn ban chỉ huy tiểu đoàn địch và đại đội lính cộng hòa; thu 60 khẩu súng các loại, trong đó có 2 cối 60mm, 6 súng col. Tuy nhiên, trong trận đánh này đồng chí Ngọc, Chính trị viên Đại đội 2 đã hy sinh. Toàn đơn vị vô cùng tiếc thương người đồng chí, người anh đến từ quê hương Quảng Ngãi, có bản tính hiền hậu, ít nói, nhưng trong chiến đấu rất gan dạ, dũng cảm. Anh Ngọc hy sinh, Tiểu đoàn 70 mất đi một cán bộ mẫu mực, anh em chúng tôi mất đi một chỗ dựa tinh thần vững chắc. Nhưng quy luật của chiến tranh là như vậy.

Sau khi diệt gọn quân địch làm chủ trận đánh, chúng tôi tổ chức lui quân an toàn. Lực lượng địch đang càn quét ở khu vực Phước Tân, Phước Tiên, thuộc huyện Tiên Phước buộc phải kéo về để đối phó. Tỉnh đội Quảng Nam tiếp tục giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 70 bằng mọi giá phải đánh bằng được xe tăng và máy bay trực thăng của Mỹ. Vì lúc này trên chiến trường Quảng Nam, xe tăng Mỹ đi rất nghênh ngang, chỗ nào cũng có xe tăng. Còn máy bay trực thăng thì bay thấp, bay cao, muốn hạ chỗ nào thì hạ, muốn bắn vào đâu cứ mặc sức. Mỗi buổi sáng, chúng tôi vừa ngủ dậy đã thấy xe tăng từ Tuần Dưỡng kéo lên, trực thăng bay vù vù trên đầu từ lúc nào. Xe tăng dẫn đường bộ binh, bộ binh đi sau bảo vệ xe tăng; cứ như thế, địch tổ chức lùng sục khắp nơi. Đây là một nhiệm vụ không hề dễ dàng trong điều kiện vũ khí trang bị hiện có đối với cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70. Vì vậy, để đánh được lính bộ binh Mỹ, xe tăng, trực thăng địch, tôi phải cùng với các đồng chí cán bộ tiểu đoàn đi nghiên cứu thực địa, chọn chiến trường làm sao có thể đánh đồng thời ba thứ quân trên. Qua nghiên cứu, chúng tôi xác định trận địa phục kích ở Long Sơn 1 thuộc xã Kỳ Long huyện Bắc Tam Kỳ. Vì nơi này xe tăng, bộ binh địch thường xuyên qua lại, có địa hình đồi thấp xen kẽ với ruộng. Mặt khác, đồi có nhiều cây ăn trái tỏa hóng mát, thuận tiện cho việc bố trí lực lượng và che giấu, địch khó phát hiện. Hơn nữa, đây cũng là nơi ta có thể phục kích đánh lực lượng hỗn hợp của Mỹ gồm: bộ binh, xe tăng và máy bay trực thăng.

Chúng tôi xây dựng quyết tâm chiến đấu cho anh em, xác định dây là trận đánh có ý nghĩa quan trọng trong việc đập tan chiến thuật “trực thăng vận, thiết xa vận” của địch. Sau đó, đơn vị tổ chức hành quân, bố trí triển khai đội hình, đào công sự chiến đấu đảm bảo vừa đánh được máy bay, vừa đánh được xe tăng và bộ binh địch. Trong khi tiểu đoàn làm công tác chuẩn bị chiến đấu, chúng tôi được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân địa phương. Ngoài số người già, trẻ em đi sơ tán, những người dân khỏe mạnh còn lại và du kích đã tích cực tham gia cùng bộ đội đào công sự, ngụy trang. Các mẹ, các chị đảm bảo cơm nóng, canh ngon cho bộ đội. Vì vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, chúng tôi đã đào xong các hầm trú ẩn, hố chiến đấu cá nhân, hệ thống hào giao thông nối liền tiền duyên với vị trí chỉ huy, v.v. Tranh thủ thời gian địch chưa đến, tôi cho anh em huấn luyện chiến đấu ngay trên thực địa, tổ chức xử trí các tình huống có thể xảy ra trong quá trình chiến đấu một cách thuần thục, linh hoạt, phát huy tính sáng tạo của bộ đội.

Sáng ngày 25 tháng 3 năm 1968, nghĩa là sau 2 ngày chúng tôi hoàn thành công tác chuẩn bị và đang chờ đợi địch đến, khoảng 8 giờ, xe tăng, bộ binh Mỹ và trực thăng đã lọt vào khu vực mai phục của tiểu đoàn. Tôi động viên anh em bình tĩnh chờ địch đến thật gần mới nổ súng; đồng thời ra lệnh cho các đồng chí xạ thủ B40 B41, đại liên, trung liên xác định phần tử bắn để kịp thời nổ súng diệt địch một cách chính xác, hiệu quả. Xe tăng nghênh ngang đi vào trận địa phục kích của chúng tôi. Bộ binh địch được sự dẫn dắt của xe tăng, đi sau la ó om sòm. Chờ xe tăng, xe bọc thép địch đi cách đội hình của ta khoảng từ 30 đến 40 mét, máy bay trực thăng bay sát ngọn cây mít, tôi lập tức lệnh cho B40, B41 tiêu diệt tốp xe tăng đi đầu; bộ binh nổ súng chia cắt, tiêu diệt bộ binh Mỹ; hỏa lực 12,7mm bắn tốp máy bay bay thấp. Ngay từ loạt đạn đầu, quân ta đã bắn cháy 4 xe bọc thép, bắn rơi tại chỗ 5 máy bay trực thăng. 80 lính Mỹ còn lại tháo chạy ra ngoài, trực thăng vội bay vọt lên cao, xe tăng lùi lại bắn vào trận địa của tiểu đoàn. Chúng tôi phân công bộ phận cảnh giới, lực lượng còn lại vào hầm trú ẩn an toàn. Trận chiến đấu diễn ra trong thế giằng co từng tấc đất, từng mét chiến hào. Tuy nhiên, sau hơn hai giờ chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã loại khỏi vòng chiến đấu gần một đại đội lính Mỹ và một số máy bay, xe tăng bị thiêu hủy trước tiền duyên. Địch phải đổ quân để lấy xác, kéo xe tăng về căn cứ. Nhận định chúng sẽ tập trung hỏa lực tiến công vào trận địa sau khi thu dọn xong chiến trường, chúng tôi đã nghi binh và tổ chức lui quân an toàn. Cùng sau trận đánh này, lính Mỹ không còn đi lại ngông nghênh như trước. Mỗi lần chuẩn bị càn quét, trước khi hành quân, chúng đều tổ chức bắn phá dọn đường rồi mới xua quân đi. Đối với tôi, qua trận đánh này cũng rút ra được bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ huy là: “Có công sự tốt kết hợp với cách đánh gần, nghĩa là nắm thắt lưng Mỹ mà đánh, nên đã diệt được xe tăng, bắn rơi trực thăng Mỹ và thương vong của tiểu đoàn rất ít”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #28 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:06:42 am »

Tiếp tục thực hiện phương châm “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, sau chiến thắng ở Kỳ Long, chúng tôi được lệnh cơ động đội hình về củng cố lực lượng tại đồng Trăm trên và đồng Trăm dưới, thuộc xã Kỳ Phước, huyện Bắc Tam Kỳ. Bất ngờ, ngày 12 tháng 4 năm 1968, một đại đội lính Mỹ đi từ xã Bình Phú, huyện Thăng Bình càn qua khu vực Phước Sơn, Phước Cẩm của huyện Tiên Phước. Tối hôm ấy, chúng dừng lại ở khu vực Hố Sanh, thuộc thôn 1, xã Phước Cẩm, huyện Tiên Phước. Đây là nơi trước kia Tiểu đoàn 70 thường đóng quân. Nghe cơ sở quần chúng báo tin, tôi nhanh chóng tổ chức đi trinh sát nắm địch. Trong quá trình trinh sát, tôi cũng giao nhiệm vụ luôn cho các đại đội tại trận địa. Cụ thể, Đại đội 1 và Đại đội 2 chia thành hai mũi, bí mật áp sát mục tiêu, dùng lựu đạn, thủ pháo đánh phủ đầu quân địch. Hỏa lực B40, B41 tập trung đánh vào từng công sự của địch. Sau khi quán triệt nhiệm vụ đến mọi cán bộ, chiến sĩ, tôi ra lệnh xuất quân. Dọc đường hành quân khoảng một cây số, đơn vị luôn giữ vững đội hình và đảm bảo bí mật. Thực hiện nhiệm vụ được phân công theo kế hoạch, các mũi bí mật tiếp cận mục tiêu. Không gian vẫn yên ắng, thi thoảng vọng lại đâu đó tiếng côn trùng kêu nỉ non. Bọn lính Mỹ sau một ngày đi càn, gây tội ác với nhân dân đã mệt mỏi nên ngủ rất say sưa. Khoảng ba giờ, sau khi nhận được báo cáo của các bộ phận đã sẵn sàng, tôi phát lệnh nổ súng. Tức thì, hai đồng chí xạ thủ B40, B41 nằm bên cạnh phát hỏa thiêu rụi luôn hai công sự của địch phía trước mặt làm hiệu lệnh cho toàn trận đánh. Lúc này, cả trận địa, lựu đạn, thủ pháo thi nhau nổ xen lẫn tiếng súng AK điểm xạ hai phát một “tằng, tằng” nghe chắc nịch. Bọn địch bị tập kích chớp nhoáng nên không kịp có bất cứ một phản xạ nào. Do đó, chỉ sau hơn một giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 70 đã diệt gọn đại đội lính Mỹ, bắt sống 3 tên. Tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Phan Văn Nghĩa, Trung đội trưởng của Đại đội 2, đưa xuống hầm giam giữ. Quân địch ở Chu Lai nhận được tin đồng bọn bị đánh úp đã tổ chức phản kích quyết liệt. Chúng dùng hàng trăm lần chiếc máy bay trực thăng vũ trang, loại bộ đội ta thường gọi là máy bay cá mập, với đội hình từng tốp 10 chiếc bắn rốc-két vào trận địa và những nơi chúng nghi ngờ ta trú ẩn. Thật không may cho cả ta và địch, một quá tên lửa rốc-két đã đánh trúng hầm của đồng chí Nghĩa đang giữ 3 tên tù binh Mỹ. Quả đạn địch đã khiến đồng chí Nghĩa hy sinh, đồng thời giết luôn 3 tên đồng bọn của chúng. Trước đó, khi bắt được 3 tên lính Mỹ, tôi đã báo cáo về tỉnh qua máy thông tin liên lạc 15W, được trang bị cho Tiểu đoàn 70. Tỉnh đội ra lệnh cho chúng tôi phải giữ tù binh để đưa vô căn cứ. Không ngờ 3 tên lính bị chính rốc-két của chúng bắn chết. Vì thế, ta không thể đưa chúng về tỉnh đội được. Lúc hỏa lực địch tạm ngưng đánh phá, đơn vị chuẩn bị lui quân, các anh ở tỉnh hỏi về mấy tên tù binh tôi báo cáo chúng đã bị chết bởi rốc-két của Mỹ, Sau đó, tôi cử một bộ phận ở lại để tìm các đồng chí đã hy sinh đưa về an táng vả chỉ huy đơn vị lui quân an toàn. Sau trận tập kích diệt gọn đại đội lính Mỹ này, cùng với thành tích của toàn đơn vị, tôi được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì.

Chấp hành chỉ thị của Ban chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam, Tiểu đoàn 70 chuyển hướng hoạt động lên khu vực Phước Lâm, quận Hậu Đức để diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một số ấp chiến lược, đưa nhân dân về làng cũ. Quận lỵ Hậu Đức nằm trên một ngọn đồi thấp, sườn thoai thoải kéo dài khoảng 300 mét. Ở phía nam, cách đó khoảng 200 mét là cứ điểm do một tiểu đoàn bảo an chiếm giữ. Xung quanh quận lỵ Hậu Đức là các ấp chiến lược, mỗi ấp có một lớp rào tre và một lớp rào kẽm gai bao quanh. Bên ngoài ấp chiến lược là đồng ruộng, tiếp đến là rừng thưa và những vườn cây ăn quả của nhân dân. Nhìn toàn cảnh, quận lỵ Hậu Đức nằm lọt thỏm trong một thung lũng. Nhiệm vụ của Tinh đội giao cho Tiểu đoàn 70 tiêu diệt cơ quan quận lỵ Hậu Đức, các mâm tề và lực lượng dân vệ, gồm 12 trung đội dân vệ của các xã: Phương Đông, Dương Yên, Phước Lâm, Phước Hiệp, thuộc quận Hậu Đức. Nhận định đây là mục tiêu khó tiếp cận, địch dễ báo động và chi viện cho nhau chúng tôi tổ chức đi trinh sát chuẩn bị chiến trường tuyệt đối cẩn mật. Ban ngày, chúng tôi cải trang thành người dân đi lấy củi để quan sát bên trong quận lỵ. Khi màn đêm buông xuống, mỗi người mặc độc chiếc quần đùi, ngụy trang thân thể hòa màu cây cỏ, bò vào ấp chiến lược để kiểm tra. Sau đó, đoàn cán bộ trinh sát trở về đơn vị, tổ chức phổ biến kế hoạch chiến đấu dự kiến trên sa bàn. Trong quá trình đi trinh sát cũng như phổ biến nhiệm vụ, tôi đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu giữ bí mật. Vì ở đây, có một số dân có dính dáng quan hệ với địch khi phát hiện có hoạt động của ta là lập tức báo ngay cho địch. Do đó, việc giữ bí mật là rất quan trọng, một yếu tố góp phần làm nên chiến thắng. Khi hoàn thành mọi công tác chuẩn bị chiến trường, tôi và Ban chỉ huy tiểu đoàn tổ chức giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị như sau: Đại đội 1 và Đại đội 2 có nhiệm vụ luồn sâu đánh vào cơ quan quận lỵ, khi ta làm chủ trận đánh nhanh chóng triển khai lực lượng đánh quân tiếp viện; Đại đội 3 bạo vây bên ngoài đánh sâu vào ấp chiến lược, diệt 12 mâm tề và 12 trung đội dân vệ, bố trí mai phục sẵn ở các đường ra núi để diệt bọn địch bên trong tháo chạy ra rừng, sau đó đánh chiếm và chốt giữ đèo Liêu, đường đèo này nằm giữa hai quận lỵ Tiên Phước và Hậu Đức; Đại đội 4 dùng hỏa lực kiềm chế cứ điểm chính ở Hậu Đức. Trước lúc lên đường, tất cả cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đều xác định quyết tâm chiến đấu thắng lợi để giành lại cuộc sống tự do cho nhân dân bị chúng nhốt trong các ấp chiến lược.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11821


Lính của PTL


« Trả lời #29 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:07:16 am »

Trời vừa sẩm tối, lợi dụng bóng đêm của miền sơn cước, chúng tôi bắt đầu hành quân. Từng bộ phận lặng lẽ hòa mình vào bầu không khí âm u tĩnh mịch của núi rừng, sau đó tách ra cơ động theo kế hoạch chiến đấu. Dù không nói ra nhưng cứ mỗi lần chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới trong trái tim anh em chúng tôi đều có tâm trạng hồi hộp, chộn rộn. Không biết sau đêm hôm nay, ai sẽ là người hy sinh cho đất nước, ai tiếp tục bước đi trên con đường đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc. Đối với tôi, mỗi người lính, mỗi người đồng chí mình hy sinh đều đau như bị đứt một cánh tay. Chúng tôi đều hiểu rằng khi đất nước chưa giành được độc lập, quân thù còn ở phía trước thì những người lính còn tiếp tục cầm súng chiến đấu. Địa bàn này du kích của ta hoạt động mạnh nên địch cũng ít khi dám đổ biệt kích đi phục kích. Vì vậy, suốt chặng đường hành quân từ Phước Hiệp lên Hậu Đức, chúng tôi không phải vòng tránh lần nào.

Đến vị trí tập kết, tôi nhắc lại nhiệm vụ và ký, tín, ám hiệu trong quá trình chiến đấu và sau chiến đấu để anh em nắm chắc. Sau đó, các đồng chí cán bộ đại đội tự dẫn quân của mình cơ động chiếm lĩnh. Bọn địch trong cứ điểm vẫn để đèn sáng trưng, có nhóm cãi nhau inh ỏi. Chúng không hề biết rằng các chiến sĩ quân giải phóng của Tiểu đoàn 70 đang từng phút gút dần cái thòng lọng vào cổ để kết liễu cuộc đời lũ phản dân, hại nước. Lúc này, những chiếc kim đồng hồ trong tay tôi nhích chậm chạp. Mọi vật vẫn yên bình sau một ngày chịu cái nắng gay gắt của vùng rừng núi Quảng Nam, khiến tôi có cảm tưởng tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ như to hơn. Cũng như những trận đánh trước, tôi tuyệt đối tin tưởng vào anh em mình nên bình tĩnh chờ đợi các mũi báo cáo. Lâu lâu, tôi lại quay sang nhắc mấy đồng chí xạ thủ B40, B41 nằm bên cạnh chú ý xác định phần tử bắn phải thật chính xác, đảm bảo khi tôi ra lệnh nổ súng thì có thể diệt mục tiêu được ngay từ phát đạn đầu. Đèn điện trong cứ điểm ở một vài vị trí đã tắt. Tôi đoán chừng bọn lính sau khi ăn uống no say đã bắt đầu đi ngủ. Khi ta nổ súng, chắc chắn trong số đó sẽ có rất nhiều tên không bao giờ tỉnh lại.

Khoảng nửa đêm 27 tháng 5 năm 1968, khi các mũi báo cáo đã sẵn sàng chiến đấu, đồng thời cũng đã đến giờ G, tôi ra lệnh cho đồng chí xạ thủ B41 khai hỏa tiêu diệt ngay lô cốt bên trong cứ điểm để làm hiệu lệnh cho trận đánh. Ngay lập tức, quân ta từ các hướng nhanh chóng nổ súng tiến công đánh chiếm cơ quan quận lỵ. Tôi liên tục bám sát đội hình Đại đội 1 và Đại đội 2, kịp thời “chia lửa” và động viên anh em chiến đấu. Khi cơ quan quận lỵ Hậu Đức bị tê liệt hoàn toàn, bọn địch không còn sức kháng cự, các mũi từ quận lỵ nhanh chóng tỏa xuống các hướng đánh chiếm ấp chiến lược, giải phóng nhân dân khỏi sự kìm kẹp của địch. Kết quả sau hơn hai tiếng đồng hồ chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã tiêu diệt và làm chủ hoàn toàn cơ quan quận lỵ Hậu Đức, xóa sổ 12 mâm tề và 12 trung đội dân vệ, thây địch chết ngổn ngang. Địch không ngờ quân ta đã bày trận địa mai phục sẵn chỉ đợi chúng đến để nổ súng tiêu diệt. Cụ thể, trong trận này, chúng tôi đã thu hơn 150 khẩu súng các loại, phần lớn là súng calip, súng calip 2 nòng, tiêu diệt trên 200 tên tề, ngụy ác ôn.

Nhiệm vụ diệt ác, phá kềm đã hoàn thành, chúng tôi tổ chức đưa đồng bào bị lính ngụy dồn vào ấp chiến lược ra khỏi ấp, về lại làng cũ. Tôi không thể nói hết được tình cảm quân dân lúc đó. Nhiều bà mẹ đã ôm lấy bộ đội Giải phóng khóc như gặp lại đứa con đã đi xa lâu ngày. Đối với bà con còn khỏe mạnh, chúng tôi hướng dẫn để họ tự đi về. Còn các mẹ già, em nhỏ đi lại khó khăn, anh em chúng tôi thay nhau dìu dắt, bồng bế. Đồng bào được trở về ngôi nhà của mình tỏ ra mừng vui khôn xiết, miệng luôn nói: “Cảm ơn, cảm ơn bộ đội Giải phóng”.

Đầu năm 1969, ta tiến hành mở chiến dịch Xuân 1969, còn gọi là Z1, Z2. Hưởng ứng chiến dịch này, Ban chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam cho gọi tôi và đồng chí Tiểu đoàn trưởng Huỳnh Kim Sơn thay mặt cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 lên nhận nhiệm vụ tại xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước, nơi Ban chỉ huy Tỉnh đội đóng quân. Tham dự chiến dịch Xuân 1969, Tiểu đoàn 70 có nhiệm vụ mở hướng tấn công theo hướng tây nam của thị xã Tam Kỳ, đánh sâu vào thị xã nhằm diệt một bộ phận sinh lực địch, kéo địch về đối phó ở thị xã, đồng thời cũng góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Nắm chắc yêu cầu nhiệm vụ cấp trên giao, chúng tôi về triển khai kịp thời cho các bộ phận. Sau đó, tôi và các đồng chí cán bộ tiểu đoàn, đại đội tổ chức đi chuẩn bị chiến trường. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, chúng tôi được cơ sở và các đội công tác của thị xã Tam Kỳ dẫn đường nên công tác chuẩn bị đạt kết quả tốt.

Tối ngày 22 tháng 2 năm 1969, đơn vị bắt đầu hành quân chiếm lĩnh, xây dựng công sự chiến đấu. Đội hình của tiểu đoàn nằm rải theo các mục tiêu như: Phương Hòa, chốt gác ghi ngã ba Trường Xuân, đồi Thanh Phong... Các hướng mũi chủ động khắc phục vật cản, bí mật lót đội hình vào các mục tiêu. Sau thất bại Tết Mậu Thân 1968, địch có phần cảnh giác hơn. Bên cạnh việc bố trí hàng rào dây thép gai xen lẫn các bãi mìn rải không theo quy luật, chúng còn tăng cường thêm một số vọng gác ở các vị trí quan trọng, những nơi khả năng đối phương có thể đột nhập. Tuy nhiên, trong quá trình trinh sát chuẩn bị chiến trường, chúng tôi kiểm tra cẩn thận kết hợp với thông tin cơ sở cung cấp nên khi thực hành chiến đấu đơn vị không gặp những khó khăn, trở ngại bất ngờ. Đúng 24 giờ, các bộ phận đã sẵn sàng, đồng thời cũng đến giờ G theo hiệp đồng, tôi ra lệnh nổ súng. Có lẽ địch tin rằng chúng đã nằm sâu trong nội thị nên ta không thể dễ dàng đánh tới. Vì vậy, lực lượng địch trong các mục tiêu dường như lơ là mất cảnh giác. Chỉ đến khi nghe tiếng lựu đạn nổ, tiếng súng AK đanh gọn bên tai mới quáng quàng vơ vũ khí. Thị xã Tam Kỳ rền vang tiếng súng. Trong đêm, bị bất ngờ, địch không biết ta đánh từ hướng nào đến nên bắn loạn xạ theo mọi phía. Quân ta theo kế hoạch hiệp đồng, mục tiêu đã phân công nên trong một thời gian ngắn đã tiêu diệt phần lớn lực lượng địch mà không gặp phải sự kháng cự đáng kể nào. Sau 30 phút chiến đấu, các bộ phận đã chiếm được mục tiêu. Kể như nhiệm vụ thứ nhất của Tiểu đoàn 70 đã hoàn thành.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM