Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Tư, 2021, 10:25:51 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người con đất Quảng kiên trung  (Đọc 1673 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10245


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:30:36 am »

Một thời gian sau, niềm hạnh phúc lại bất ngờ đến với chúng tôi: Bác Hồ về thăm con em miền Nam ra tập kết. Đây cũng là lần đầu tiên tôi được gặp người Cha già vô cùng kính yêu của dân tộc. Hôm ấy, đơn vị chuẩn bị lễ đón Bác rất chu đáo như tổ chức hàng rào danh dự, cắm cờ, kết hoa trông thật trang nghiêm. Song chúng tôi chờ mãi vẫn không thấy Bác đến. Ai cũng hướng về cổng chính trông ngóng vị lãnh tụ vĩ đại cho thỏa bấy lâu chờ mong. Nhưng chúng tôi càng trông càng không thấy Bác đâu. Bất ngờ, một đồng chí phát hiện Bác đến bằng cổng sau. Chúng tôi ngỡ ngàng quay lại. Mọi con mắt hướng về Bác mà tưởng như Người từ trên trời xuống. Các đồng chí cảnh vệ cho biết, trước khi đến nơi đón tiếp, Bác Hồ đã đi thăm nhà ăn, nhà bếp của sư đoàn. Người bước đi chậm rãi, nhưng trông rất oai phong trong trang phục bộ đồ ka ki, đôi dép cao su bình dị. Chúng tôi ngồi quây quần bên Bác, kể cho Người nghe chuyện chiến đấu ở miền Nam. Bác ôn tồn thăm hỏi đời sống của nhân dân, bộ đội trong đó ra sao. Không khí buổi gặp gỡ hôm ấy thật thân mật, gần gũi. Tôi có cảm giác đây là cuộc gặp của người cha với các con sau nhiều năm xa cách, chứ không phải là một vị Chủ tịch nước với cán bộ, chiến sĩ của đơn vị bộ đội. Đứng quanh tôi, nhiều anh em thì thào: “Bác như tiên từ trên trời hạ xuống, từ bước đi, lời nói của Bác thật thân mật biết bao!”. Đối với tôi, lần gặp Bác đầu tiên ấy đã trở thành kỷ niệm tôi mang theo suốt cuộc đời, cũng là bài học quý giá trong quá trình công tác trên mọi cương vị.

Theo yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, năm 1955, Sư đoàn 305 được lệnh hành quân ra tỉnh Nam Định và đóng quân tại đây. Trên địa bàn công tác mới, chúng tôi được cấp trên quán triệt nhiệm vụ của đơn vị là vừa huấn luyện, vừa tuyên truyền vận động giáo dân chống di cư. Bây giờ có thời gian nhớ lại những năm tháng ấy, tôi vẫn không thể hình dung nổi sự thâm độc, xảo quyệt của bọn phản động đội lốt tôn giáo. Chúng không những tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ chế độ mà còn dùng những thủ đoạn mị dân hết sức bịp bợm. Còn tình hình lúc đó, bà con giáo dân xôn xao, bàn tán trước những chiêu bài kích động, dụ dỗ của bọn phản động. Chúng đi ngược giáo lý “Chúa ở trong tim mọi người”, tuyên truyền Chúa đã vào Nam. Thậm chí, tại một nhà thờ, bọn phản động còn đổ hai bình nước ở trên cao, phía sau tượng Đức Mẹ, cho kín, đứng dưới ngó lên không thấy, mở vòi cho nước chảy nhỏ giọt vào hai mắt của Đức Mẹ. Giáo dân đứng dưới nhìn lên chỉ thấy nước mắt Đức Mẹ chảy xuống. Chúng tuyên truyền rằng vì con chiên không đi vào miền Nam nên Đức Mẹ khóc. Quả thật, với trình độ dân trí lúc ấy còn chưa cao nên đã không ít người tin theo lời bọn phản động.

Đơn vị chúng tôi được lệnh đóng quân gần một nhà thờ để làm công tác dân vận. Chỉ huy đơn vị xác định đây là cuộc chiến đấu cam go trên mặt trận tư tưởng. Chỉ cần một lời nói, hay hành động thiếu chuẩn xác có thể dẫn đến hậu quả khôn lường. Đó là, hàng chục, thậm chí hàng trăm gia đình giáo dân sẽ bỏ miền Bắc di cư vào Nam theo lời tuyên truyền lừa bịp của bọn phản động đội lốt tôn giáo, điều đó cũng đồng nghĩa với việc thất bại của ta trước “trận chiến” này. Vì vậy, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thực sự là mũi nhọn xung kích trong tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân hiểu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo là: “Tốt đời, đẹp đạo, sống Phúc âm trong lòng dân tộc”.

Trên cơ sở nhiệm vụ cấp trên giao cho, tôi cùng các anh em trong đơn vị tích cực gần gũi giải thích cho giáo dân nắm được chủ trương của ta, giúp họ thấy được âm mưu của bọn phản động. Tuy nhiên, chúng cũng rất quỷ quyệt, đã bày ra nhiều mưu kế để lừa dụ bộ đội ta. Ví dụ như kích động giáo dân không cho bộ đội vào nhà, đổ các thứ bẩn thỉu lên chỗ đóng quân, thậm chí ép buộc các cô gái có hành vi trái thuần phong mỹ tục để dụ bộ đội ta. Nếu bộ đội mắc bẫy thì lập tức bọn chúng sẽ la làng vu cáo bộ đội miền Nam làm nhục con gái giáo dân. Tuy nhiên, chúng tôi đã được giáo dục phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng, được nhận thức về những thủ đoạn của bọn phản động có thể sử dụng. Sau này gặp lại đồng đội, chúng tôi thường nói vui đó là “liều thuốc kháng sinh” trong công tác dân vận lúc bấy giờ. Vì thế, toàn đơn vị không một ai vi phạm, thậm chí còn tuyên truyền ngược lại cho giáo dân biết đấy là trò bịp bợm của bọn phản động.

Chúng tôi đã không ngại khó khăn, xua đi mọi sự khác biệt về giọng nói vùng miền để tiếp cận, gần gũi nhân dân, tạo cơ hội để tuyên truyền cho giáo dân hiểu về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về đồng bào Công giáo. Ban đầu, mặc dù không được sự ủng hộ của một số giáo dân, bộ đội vẫn xắn tay vào làm các việc của địa phương như vệ sinh đường sá, khai thông cống rãnh, mương máng, v.v. Những lúc như vậy, bọn phản động đã xui khiến thanh niên địa phương đi trên bờ kích động, khiêu khích. Chúng tôi bảo nhau tuyệt đối không mắc mưu chúng, việc mình mình làm, rồi đồng bào sẽ hiểu. Chứng kiến hình ảnh những người lính từ miền Nam ra cần cù, chịu thương chịu khó, kiên trì nhẫn nhịn, nhiều giáo dân đã có cảm tình. Họ bắt đầu nhờ chúng tôi giúp việc gia đình. Những lúc giải lao, chúng tôi tranh thủ gần gũi chuyện trò, hỏi han tâm sự về cuộc sống gia đình, đồng thời tranh thủ tuyên truyền giáo dục quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo cho đồng bào hiểu. Ngoài ra, chỉ huy đơn vị còn phối hợp với chính quyền, tổ chức Đoàn thanh niên địa phương tổ chức giao lưu văn nghệ, dạy cho trẻ em những bài hát ca ngợi cách mạng, giúp các cháu học tập, v.v. Tình cảm chân thành của bộ đội thông qua các hoạt động như vậy đã làm cho giáo dân dần dần hiểu được tấm lòng của chúng tôi. Từ đấy, bà con đã quý mến những đứa con của miền Nam, đồng thời cũng không nghe lời bọn xấu bày trò chống đối chính quyền nữa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10245


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:31:46 am »

Cũng cần phải nói thêm rằng, lúc bấy giờ, tình hình các vùng đồng bào công giáo trên miền Bắc bị bọn phản động kích động, lôi kéo giáo dân di cư vào miền Nam có xu hướng ngày càng phức tạp. Vì thế, các đơn vị bộ đội bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu thường xuyên còn phải tăng cường các hoạt động công tác dân vận, nhất là ở địa phương có đồng bào giáo dân sinh sống. Đơn vị chúng tôi cũng không nằm ngoại lệ. Là một chiến sĩ trưởng thành trong chiến đấu, tôi nhận thức được rằng để đất nước đến ngày thống nhất, hai miền hòa hợp là chặng đường dài cam go, phức tạp trên tất cả các lĩnh vực. Vì thế, việc rèn luyện đôi chân không mỏi, ý chí không sờn đối với người lính lúc bấy giờ thật ý nghĩa biết bao. Những bài học quý báu đó đã được tôi đúc rút trên suốt chặng đường hành quân, chiến đấu. Mỗi khi nhớ lại lý do xin đi bộ đội của mình tôi vẫn thấy buồn cười, vẫn còn có cảm giác trẻ con trong đó. Nhưng tất nhiên có một điều không hề trẻ con chút nào là lòng yêu nước, quyết tâm chiến đấu để giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Đầu năm 1956, Sư đoàn 305 chuyển về đóng quân tại tỉnh Thái Bình. Trung đoàn chúng tôi được bố trí ở huyện Tiền Hải để vừa tổ chức huấn luyện chiến đấu ở Đồng Châu, vừa vận động tuyên truyền nhân dân chống di cư. Trong thời gian này, địch thỉnh thoảng vẫn gây hấn ngoài biển và lăm le đổ bộ lên đất liền. Vì vậy, đơn vị chúng tôi còn có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu chống quân địch đổ bộ từ biển vào. Song, do yêu cầu nhiệm vụ nên đến cuối năm 1956, sư đoàn lại được lệnh hành quân về tỉnh Phú Thọ. Đơn vị tôi đóng quân ở huyện Phù Ninh, ngay ngã ba Thậm Thình. Tại đây, chúng tôi cũng thực hiện nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, kết hợp làm công tác dân vận. Đối với bản thân tôi, thời gian công tác ở Phú Thọ đã cho tôi ăn hai cái tết trên quê hương đất tổ Hùng Vương. Trước đây, tôi thường nghe nói quê hương Phú Thọ có bưởi Đoan Hùng ngon nổi tiếng, bấy giờ mới được thưởng thức. Quả bưởi không to lắm, chỉ nhỉnh hơn quả cam một chút, vỏ vàng. Nhưng đặc biệt ở chỗ hương vị của nó. Khác với bưởi trong Nam, bưởi Đoan Hùng có vị ngọt thanh đậm đà. Tuy nhiên, giá trị tinh thần, không riêng gì bản thân tôi mà tất cả những đứa con từ miền Nam ra tập kết, đều cảm nhận được là tình cảm nồng ấm của nhân dân nơi đây và đặc biệt là giá trị của độc lập, tự do.

Giữa năm 1957, tôi được đơn vị cử đi học văn hóa ở Lạng Sơn để tạo nguồn chuẩn bị cho lớp sĩ quan dự kiến sẽ đào tạo tại Liên Xô. Tiếc rằng khi kiểm tra sức khỏe, tôi không đạt tiêu chuẩn nên trở về tiểu đoàn tiếp tục công tác. Tôi cũng không lấy đó làm buồn. Vì khi đi bộ đội, tôi chỉ nghĩ đơn giản được chiến đấu để đánh đuổi kẻ thù, giành độc lập, tự do cho đất nước. Do đó, đi cũng tốt, không được thì tôi cũng không ngừng phấn đấu, miễn rằng được cống hiến theo đúng lý tưởng của mình đã chọn. Lúc ấy, tôi nhớ câu chuyện Bác Hồ kể về chiếc đồng hồ quả quýt sao mà thấm thía với mình đến thế Nếu tất cả cùng đi học thì lấy ai ở lại trực tiếp xây dựng đơn vị, tham gia công tác đoàn thể. Với suy nghĩ như vậy, tôi càng không bận tâm về chuyện đi học văn hóa.

Tiếp tục công tác một thời gian, tôi được phong quân hàm chuẩn úy, đó cũng là năm đầu tiên quân đội ta tổ chức phong quân hàm, và được đề bạt làm cán bộ trung đội, kiêm Bí thư chi đoàn thanh niên. Không ngờ những năm công tác trên đất Tổ, tôi lại được gặp Bác Hồ lần thứ hai. Giống như hồi ở Thanh Hóa, Bác lên thăm đơn vị vẫn ân cần dặn dò: “Các chú bộ đội miền Nam cố gắng học tập rèn luyện”. Chúng tôi nhớ lời Bác dạy, hăng say học tập để chờ ngày trở về xây dựng quê hương miền Nam yêu dấu. Nhưng thực tế đã bước sang năm thứ ba kể từ sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, nước nhà vẫn chưa thực hiện được Tổng tuyển cử để thống nhất hai miền. Trong khi đó, theo một số thông tin tình báo cũng như truyền miệng của nhân dân, ở miền Nam chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn đang thực hiện các âm mưu chống phá hiệp định. Chúng đã sử dụng các thủ đoạn dã man, hèn hạ để trả thù các gia đình có người thân đi tập kết hoặc tham gia kháng chiến. Những chuyện trên đã ít nhiều tác động đến tâm tư suy nghĩ của chúng tôi. Song tất cả đều tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo tài tình của Đảng, Bác Hồ, tin chắc ngày cách mạng thắng lợi đã cận kề.

Trong thời gian này, miền Bắc xã hội chủ nghĩa đang tiến hành thực hiện cải cách ruộng đất, nghĩa là lấy ruộng của địa chủ chia cho dân nghèo. Công việc này không chỉ có chính quyền và nhân dân địa phương tham gia, mà có sự góp sức của toàn xã hội. Đối với bộ đội, đơn vị cũng lựa chọn một số đồng chí tham gia, trong đó có tôi. Chúng tôi nhận nhiệm vụ về làm công tác sửa sai cải cách ruộng đất tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Sau 5 tháng, bộ phận đi công tác hoàn thành tốt nhiệm vụ, trở lại đơn vị tiếp tục huấn luyện, chiến đấu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10245


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:32:05 am »

Không lâu sau đó, năm 1958, tôi tiếp tục được cử đi lao động xã hội chủ nghĩa tại công trình đại thủy nông Bắc Hưng Hải. Có thể nói, đây là một công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc nước ta lúc bấy giờ. Vì vậy, nó đòi hỏi một nguồn nhân lực rất lớn và có tinh thần trách nhiệm cao. Để duy trì tốt tiến độ, phong trào thi đua luôn được chú trọng, phát huy. Thực tế, phong trào thi đua lao động xã hội chủ nghĩa luôn diễn ra rất sôi nổi. Vì vậy, anh em chúng tôi lao động không biết mệt mỏi. Lúc đầu chưa quen, mỗi người chỉ gánh nổi 2 trạc (đơn vị đo của một số địa phương miền Bắc ngày xưa, có trọng lượng khoảng 20 cân), về sau quen dần với công việc, chúng tôi lại gánh lên 4 trạc, rồi 8 trạc một lần. Thậm chí, có nhiều đồng chí gánh tích cực đến nỗi bị sút lưng gãy xương sống phải nằm tại chỗ.

Cuộc đời binh nghiệp của tôi chính thức chuyển sang trang mới khi đầu năm 1959, tôi được đơn vị cử đi học Trường sĩ quan Lục quân Việt Nam tại Sơn Tây. Năm đó, trường đã tổ chức đến khóa 11, do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Hiệu trưởng. Trước đây, tham gia chiến đấu một số trận trong kháng chiến chống Pháp với vai trò là một chiến sĩ, hiểu biết của tôi về mặt quân sự thật đơn giản. Lúc đó, tôi nghĩ rằng chỉ cần dũng cảm, nhanh nhẹn là có thể thắng giặc. Bây giờ, có bước vào học tập tôi mới hiểu ra rằng, quân sự cũng là một ngành khoa học được nghiên cứu, tổng hợp từ thực tế chiến đấu, kết tinh thành lý luận và đem  kiểm chứng tại thực tiễn. Vì vậy, tôi càng học càng khám phá ra nhiều điều mới mẻ nên càng hăng say. Bên cạnh học tập quân sự, chúng tôi được nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lê-nin, toán học, v.v. và cáo môn thuộc lĩnh vực khoa học xã hội. Kết quả kiểm tra kết thúc các môn học, tôi đều đạt điểm khá cao. Do đó, vừa nhập trường năm trước thì đến đầu năm sau, tức năm 1960, tôi được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Trong thời gian học tập tại trường, tôi tiếp tục được nhiều lần gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi Đại tướng đến thăm nhà trường. Bám sát chương trình học tập, huấn luyện chiến đấu của chúng tôi, bên cạnh các thầy, giảng viên, còn có các đồng chí cố vấn Liên Xô theo dõi, giúp đỡ.

Những năm tháng miệt mài trên giảng đường, thao trường rồi cũng qua đi. Kỷ niệm đọng lại trong tôi là tình thầy trò, tình quân dân và hành trang tôi mang theo là những kiến thức, tư duy quân sự mới mẻ. Trong đó, ấn tượng sâu đậm nhất đối với tôi là hôm nhà trường tổ chức thi tốt nghiệp dã ngoại tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Hôm ấy, bàn thi của tôi có 4 đồng chí làm giám khảo là: cố vấn Liên Xô, đại biểu Quốc hội, cán bộ nhà trường và một giáo viên. Câu hỏi được các giám khảo đưa ra khá hóc búa, nhưng sát với điều kiện chiến tranh ở Việt Nam lúc bấy giờ. Nghe anh em trả bài xong ra kể lại, người làm tốt, có người lại lắc đầu khiến tôi cũng thấy lo lắng không biết mình có trả lời tốt không. Trong 3 năm học, tôi không thuộc diện học viên giỏi hay xuất sắc, nhưng chí ít tôi cũng được các thầy giáo quan tâm, tin tưởng. Tất nhiên đây là buổi thi đánh giá kết quả học tập toàn khóa, có đại biểu Quốc hội tham gia chấm điểm nên không phải mình tôi mà các anh em khác cũng hồi hộp không kém. Để lấy lại sự bình tĩnh, tôi đi lại xung quanh khu vực chuẩn bị và tranh thủ nhẩm lại những kiến thức cơ bản đã được học. Tôi chờ mãi cũng đến lúc được ban giám khảo gọi lên. Sau khi chào báo cáo theo đúng nghi thức, tôi bốc thăm được câu hỏi có nội dung sau: “Đứng trên cương vị tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bộ binh cơ giới đang nằm trong công sự ngụy trang trước tiền duyên, vũ khí A đã nổ, đồng chí hãy xử trí tình huống?”. Lúc đó, tôi hơi ngỡ ngàng vì tình huống này quả thực trong quá trình học các đồng chí giảng viên cũng nói sơ qua, vì thực tế cũng không có trong kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên, do đã qua chiến đấu trực tiếp nên tôi hiểu được phần nào sự khẩn trương, vai trò quyết đoán của người chỉ huy trong việc giành chiến thắng. Với suy nghĩ như vậy nên tôi trả lời ngắn gọn: “Lên xe nổ máy, tiến!”. Ba đồng chí giám thị Việt Nam nhìn tôi xúc động. Khi chưa kịp định thần xem câu trả lời của mình có đúng không thì đồng chí chuyên gia Liên Xô đã đứng dậy ôm chặt lấy tôi và luôn miệng nói câu gì đó bằng tiếng Nga làm tôi không hiểu. Các đồng chí giám khảo còn lại nhìn tôi cười mãn nguyện. Sau đó, thầy giáo của tôi dịch lại:

- Chuyên gia Liên Xô nói: “Khơ-ra-sô! Khơ-ra-sô!”, nghĩa là tốt, tốt. Đồng chí ấy khen đồng chí rất giỏi cho 5 điểm.

Không biết nói gì hơn, tôi chỉ lí nhí cảm ơn, vì điểm 5 là điểm cao nhất trong thang điểm của Liên Xô. Như vậy, sau gần 3 năm học tập, rèn luyện, đến cuối năm 1961, tôi chính thức trở thành sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10245


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:33:05 am »

Chương ba

TRỞ VỀ CHIẾN ĐẤU TRÊN QUÊ HƯƠNG


Tình hình cách mạng nước ta lúc bấy giờ gặp khá nhiều khó khăn, phức tạp. Ở miền Bắc, trong ba năm từ 1958 đến 1960, nhờ những cố gắng về mọi mặt trong thực hiện thắng lợi kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế văn hoá, nền sản xuất xã hội đã phát triển mạnh, đời sống của nhân dân được nâng cao. Tuy nhiên, việc Tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định Giơ-ne-vơ vẫn chưa được thực hiện. Vì vậy, nước nhà tạm thời còn bị chia làm hai miền. Quá trình đấu tranh cách mạng ở Việt Nam được chuyển sang một hình thế mới. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đã chấp hành nghiêm túc hiệp định đã được ký kết, ra sức củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh để hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Trên thực tế, cuộc sống của nhân dân ở miền Bắc đã có nhiều khởi sắc. Trong lúc đó, ở miền Nam, đế quốc Mỹ và bọn tay sai đàn áp dã man phong trào yêu nước của nhân dân ta. Chúng lê máy chém đi khắp miền Nam để tàn sát đồng bào ta, trả thù những người đi theo kháng chiến. Mặt khác, để thực hiện âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự chuẩn bị chiến tranh của đế quốc Mỹ, địch tăng cường bổ sung quân số, mở rộng các căn cứ quân sự. Bằng thủ đoạn “chiến tranh đơn phương”, địch công khai chống phá Hiệp định Giơ-ne-vơ, cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử, phá hoại nền hoà bình, phá hoại sự nghiệp thống nhất đất nước của nhân dân ta, đàn áp đẫm máu những người cộng sản, cán bộ kháng chiến và người dân yêu nước sử dụng đấu tranh chính trị, đòi dân sinh, dân chủ, hòa bình. Tuy nhiên, mặc dù bị kìm kẹp, dàn áp dã man nhưng đồng bào miền Nam vẫn luôn luôn anh dũng đấu tranh, không chịu khuất phục, quyết tâm cùng với nhân dân cả nước đoàn kết một lòng, giương cao ngọn cờ hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, kiên quyết tiến lên giành lấy thắng lợi cuối cùng. Thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước ở miền Nam cơ bản vẫn nghiêm túc chấp hành chủ trương đấu tranh và sự chỉ đạo của Đảng, không manh động. Tình hình này diễn ra trong một thời gian dài làm cho phong trào đấu tranh cách mạng bị tổn thất nặng nề.

Trước yêu cầu của cách mạng miền Nam, tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị mở rộng lần thứ 15, xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam, vạch rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng ở miền Nam; xác định mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở miền Nam và miền Bắc, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà. Nghị quyết 15 khẳng định: “Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam; nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ; phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; dự kiến xu hướng phát triển từ khởi nghĩa của nhân dân tiến lên cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ”. Nghị quyết 15 ra đời đã đáp ứng đúng đòi hỏi của tình hình và nguyện vọng của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển đi lên của cách mạng miền Nam là phải dùng bạo lực cách mạng, phải chuyển hướng sang đấu tranh vũ trang, để đưa phong trào vượt thoát khỏi tình thế hiểm nghèo, là ngọn đuốc soi sáng con đường phát triển của cách mạng Việt Nam ở miền Nam. Cụ thể, phong trào Đồng khởi nổ ra ở Bến Tre năm 1960 và nhanh chóng lan rộng ra toàn miền Nam đã giành thắng lợi to lớn, đẩy Mỹ và chính quyền, quân đội Sài Gòn vào thế bị động chống đỡ và thất bại, buộc đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược chiến tranh, chuyển sang tiến hành “chiến tranh đặc biệt” với sự dính líu và sa lầy ngày càng tăng ở Việt Nam.

Ở chiến trường Quảng Nam, sau thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ liền nhảy vào chiếm đóng và Quảng Nam là địa bàn chịu sự đàn áp vô cùng dã man của bọn tay sai, phản động, những vụ tàn sát tập thể người kháng chiến cũ và quần chúng nhân dân diễn ra ở Sơn - Cẩm - Hà, Cây Cốc, Chợ Được, Chiên Đàn, Vĩnh Trinh... Hàng vạn đảng viên, quần chúng cách mạng bị Mỹ - Diệm sát hại và tù đày. Trong kháng chiến chống Pháp năm 1950, Đảng bộ Quảng Nam có trên 53 nghìn đảng viên, nhưng đến năm 1960 chỉ còn lại trên 100 đồng chí bám trụ hoạt động trên địa bàn tỉnh, tình hình cách mạng vô cùng khó khăn. Lòng đất Quảng Nam trở thành nơi nuôi giấu cán bộ, đảng viên, rừng núi Quảng Nam trở thành căn cứ địa không chỉ cho lực lượng địa phương Quảng Nam mà còn là đại bản doanh của Liên khu 5 và Khu 5 sau này, nhất là sau khi có Nghị quyết 15 của Đảng soi sáng. Đảng bộ từng bước lãnh đạo nhân dân đấu tranh chính trị, kết hợp đấu tranh vũ trang đến cuộc đồng khởi; cuối năm 1964, đầu năm 1965 làm chủ đại bộ phận nông thôn đồng bằng của tỉnh. Tiêu biểu là phong trào đấu tranh nổi dậy của đồng bào dân tộc làng Ông Tía, xã Phước Nham, huyện Phước Sơn vào ngày 13 tháng 3 năm 1960 đã dùng giáo mác diệt gọn một tiểu đội địch, chiến công của 7 dũng sĩ Điện Ngọc huyện Điện Bàn diệt trên 100 tên giặc... cùng phong trào diệt ác phá kềm ở Tứ Mỹ, Xuân Bình, Phú Thọ huyện Tam Kỳ (hiện nay là huyện Núi Thành), Phương Đông, Dương Yên huyện Tiên Phước (hiện nay là huyện Bắc Trà My) và nhiều nơi trong tỉnh đã mở đầu phong trào đồng khởi những năm đầu thập niên 60 thế kỷ XX, tạo điều kiện giải phóng hầu hết nông thôn đồng bằng của tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10245


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:33:33 am »

Nếu như năm 1954, chúng tôi từ miền Nam theo tiếng gọi của Đảng, Bác Hồ ra miền Bắc tập kết để đợi ngày tổng tuyển cử thống nhất nước nhà thì hơn 3 năm sau, kể từ khi có Nghị quyết 15, đoàn quân ấy cùng với nhiều đồng chí con em miền Bắc lại theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc trở về miền Nam chiến đấu vì kẻ thù phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ. Mỗi bước quân đi rạo rực khí thế:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.


Trước tình hình cách mạng nước nhà, tôi cũng như nhiều anh em khác luôn mong ngóng được trở về chiến đấu, góp phần giành lại độc lập, tự do cho quê hương. Vì vậy, cuối năm 1961, tôi được nhận nhiệm vụ đi chiến trường B. Hồi ấy, đi B đồng nghĩa với gian khổ, ác liệt, hy sinh, v.v. nhưng không một đồng chí nào từ nan. Thực ra không phải đến khi tốt nghiệp mà ngay từ hồi còn học, được nghe thông tin về tình hình cách mạng miền Nam, tôi đã có nguyện vọng này. Hình ảnh quê hương Quảng Nam bị giặc giày xéo, biết bao người thân yêu bị kẻ thù tàn sát dã man luôn đi theo tôi trong từng giấc ngủ.

Chúng tôi được chuyển về thị trấn Xuân Mai, thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) để tổ chức huấn luyện đặc biệt trong thời gian gần một tháng. Nội dung huấn luyện chủ yếu là mang ba lô nặng, đi đêm, chân mang dép cao su. Hôm đầu, mỗi người chỉ mang ba lô khoảng 25 cân, sau tăng dần. Đường đi cũng tương tự. Đối với tôi, mấy đêm đầu cũng khá vất vả vì học tập ở trường còn có thời gian lên giảng đường, ra thao trường quan sát tập luyện, còn bây giờ hành quân thì phải bền bỉ, dẻo dai. Hai bàn chân đi dép cao su chịu sức nặng chưa quen cứ phồng rộp lên, đau nhức, nhất là sau hôm hành quân đầu tiên ở dưới lòng bàn chân tôi có những nốt phồng to bằng bốn ngón tay căng mọng nước, xung quanh chỗ lằn quai dép sưng tấy đỏ. Hôm sau, nghe anh em truyền kinh nghiệm để chân bớt phồng nên đem theo một ít muối; khi giải lao, hòa ít nước muối xoa lên bàn chân, tôi cũng làm theo và thấy hiệu quả ngay. Nhờ sáng kiến này, tôi đã nhanh chóng thích ứng với điều kiện hành quân gian khổ. Trong thời gian ở đây, chúng tôi được đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên thăm, động viên lần cuối trước khi lên đường vượt Trường Sơn trở về miền Nam chiến đấu.

Kết thúc đợt huấn luyện đặc biệt, cũng có thể gọi là huấn luyện bổ sung để nâng cao thể lực, số cán bộ, chiến sĩ nhận nhiệm vụ đi B chúng tôi nhận được lệnh của Bác Hồ gọi về Hà Nội. Anh em xúc động đón Bác đến thăm. Khác với lần gặp trước, bây giờ tóc Bác đã bạc hơn, da có nơi đã trổ đồi mồi. Bác thăm hỏi từng người, bắt tay vui vẻ từng đồng chí một. Người ân cần căn dặn chúng tôi như một người cha trước lúc tiễn các con đi xa phải giữ gìn sức khỏe để đi đường vào miền Nam công tác cho tốt. Bác hẹn ngày thống nhất gặp lại. Trước lúc ra về, Người còn động viên:

- Thời gian này còn đang bí mật và gian khổ, các cháu phải cố gắng, phải giữ gìn sức khỏe. Các cháu vào cùng với đồng bào miền Nam chiến đấu.

Nhìn bóng người Cha già của dân tộc khuất dần, lòng chúng tôi thương Bác khôn nguôi. Chỉ mới mấy năm, vì lo việc nước mà Bác già đi nhiều quá, sức khỏe của Người cũng có phần giảm sút. Cũng trong buổi chia tay hôm ấy, tôi cũng được gặp lại Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng chí cũng dặn dò chúng tôi tỉ mỉ về việc giữ gìn sức khỏe, đảm bảo bí mật trong hành quân cũng như trong chiến đấu, bắt tay thân mật từng cán bộ, chiến sĩ như người anh chia tay em trước khi đi xa. Tất cả chúng tôi đều hứa với Bác và Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ luôn làm đúng những lời căn dặn để xứng đáng với niềm tin của Đảng, Bác Hồ, quân đội và nhân dân.

Một ngày cuối năm 1961, chúng tôi được tập trung lên chiếc xe Gát 66 che kín bịt bùng để lên đường vào miền Nam chiến đấu. Thế là sau hơn 5 năm công tác trên miền Bắc thân yêu, chúng tôi lại về quê hương của mình để trực tiếp chiến đấu đánh đuổi quân thù. Dù không nói ra, nhưng trong trái tim mọi người đều chất chứa bao kỷ niệm. Đó là tình cảm quân dân, là tình cảm của nhân dân miền Bắc dành cho đồng bào miền Nam ruột thịt đang ngày đêm phải chống lại ách thống trị tàn bạo của kẻ thù. Rồi đây, trong số chúng tôi ai là người sẽ nằm lại mãi mãi trên chiến trường, ai là người có điều kiện ra thăm miền Bắc, v.v. Đường đi nhấp nhô, xe đung đưa như lắc võng. Nhiều câu hỏi dập dồn chứa đầy tình nghĩa của nhân dân miền Bắc lần lượt hiện về. Tình cảm của Bác Hồ, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thật thiết tha, ân tình. Chúng tôi mang theo hình ảnh người Cha già của dân tộc và người anh Cả của quân đội. Tôi suy nghĩ miên man trong tiếng ầm ì của động cơ. Ngoài kia, bóng đêm đang bao trùm lấy không gian. Không biết nơi quê nhà, mẹ tôi, các anh các chị có ai còn ai mất. Nay mai nước nhà thống nhất, tôi phải đưa mẹ ra thăm đất Tổ vua Hùng một chuyến. Nghĩ thì nghĩ vậy chứ tôi biết cuộc chiến tranh còn dài, đời binh nghiệp chưa biết đoán định như thế nào. Lúc ấy, tôi ra trường được phong quân hàm thiếu úy. Đi theo cuộc trường chinh của dân tộc, tôi chỉ mong sao đất nước sớm được thống nhất để trở về vui thú với điền viên, ngoài ra không mong gì hơn nữa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10245


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:34:12 am »

Nhịp xe lắc lư giúp tôi trở về với thực tế. Lúc đó, trên đường hành quân, chúng tôi không được mang theo bất cứ một thứ gì có dấu vết của miền Bắc. Các loại thuốc bổ đều được tán thành bột, dầu cù là phải tháo ra bỏ vào hộp khác, chanh được vắt nước phơi khô mang theo uống dọc đường, v.v. sở dĩ phải làm như vậy để tránh địch phát hiện có lực lượng từ miền Bắc tăng cường vào. Chúng tôi đến Quảng Bình, bí mật xuống xe và tiếp tục đi lên làng Ho, qua đèo 1001, hành quân dọc theo biên giới Việt - Lào. Cả đoàn quân đi lặng lẽ, thực hiện đúng khẩu hiệu “ba không” là: “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” để đảm bảo bí mật. Có những đoạn đường cây cối rậm rạp, chưa có bước chân người, chúng tôi phải ngụy trang không để lại dấu vết. Đặc biệt, khi đi qua đất Lào, đến đoạn sân bay Thà Khống, chúng tôi đụng phỉ Lào, phải chiến đấu để mở đường đi tiếp.

Đầu năm 1962, chúng tôi vào đến đất Quảng Nam. Thế là sau gần 8 năm rời xa quê mẹ, tôi lại được về với xứ Quảng yêu thương. Sự khác nhau là ngày trước chúng tôi lên tàu trong đoàn quân chiến thắng với lời hẹn ước hai năm sau quay về tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, còn bây giờ phải bí mật hành quân về tiếp tục chiến đấu để giải phóng quê hương vì kẻ thù bội ước. Nhưng dẫu trong hoàn cảnh nào đi nữa thì tình cảm của người con xa quê nhiều năm luôn chất đầy ăm ắp trong trái tim mỗi chúng tôi. Năm đó, tôi được đón Tết cổ truyền đầu tiên sau bao năm xa cách ở Dì Hai, tại Trao (Dì Hai là mật danh của cơ quan tỉnh Quảng Nam đóng tại Trao, thuộc huyện Hiên). Khi tôi về nhận nhiệm vụ mới ít lâu thì được Quân khu 5 tiếp tục điều động về Công trường 1, kiêm Tỉnh đội Quảng Nam nhận công tác. Lúc đó để ngụy trang che mắt địch nên ta gọi là công trường, tôi về Trường Huấn luyện cán bộ. Trường đóng tại xã Nú, Ấp Trắng thuộc vùng rừng núi huyện Trà My; do đồng chí Nguyễn Tiến, quê ở Thừa Thiên - Huế, phụ trách. Tôi được phân công làm giáo viên huấn luyện các lớp trung đội trưởng bộ binh. Cuộc sống của bộ đội giai đoạn này rất gian khổ. Thầy trò chúng tôi phải đi mua gạo của dân ở các xã Phương Đông và Dương Yên, nhưng không phải hôm nào cũng có. Vì vậy, bộ đội phải ăn sắn của đồng bào dân tộc là chủ yếu. Gạo thiếu đã đành, đến muối cũng không đủ ăn. Mỗi ngày, đồng chí quản lý đơn vị chia cho mỗi người một mắt cây nứa muối để chấm với sắn luộc. Anh nào ăn nhạt thì còn đủ, chứ đồng chí nào ăn mặn chấm quá tay thì chỉ có nửa củ sắn là hết muối chấm, đành phải ăn nhạt. Tuy cuộc sống gian khổ là vậy, nhưng chương trình huấn luyện của trường vẫn thường xuyên hoàn thành. Nhiều đồng chí đã chững chạc trong chỉ huy đơn vị xử trí tình huống do giáo viên đề ra. Về sau, khi ta tiến công giải phóng được các xã Phương Đông và Dương Yên thì đời sống của bộ đội có nhỉnh hơn chút ít.

Tôi tiếp tục công tác ở Công trường 1 đến đầu năm 1964, được cấp trên điều động về làm trợ lý tác chiến của Trung đoàn 1, trực tiếp tham gia các trận đánh trên chiến trường Quảng Nam; đồng thời, đi cùng với các tiểu đoàn phá ấp chiến lược, giành dân từ Phước Lâm, Tiên Phước đến Thăng Bình, Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ, Quế Sơn, v.v. Song những trận đánh trên đã cơ bản giải phóng các ấp chiến lược, nhưng chưa thực sự làm thay đổi cục diện chiến trường Quảng Nam. Chỉ đến cuối năm 1964, Tiểu đoàn 60 của Trung đoàn 1 mới tổ chức đánh trận tập trung đầu tiên tiêu diệt được đại đội cơ giới của địch ở Đèo Dài, còn gọi là đèo Tứ Yên, ở phía tây thị xã Tam Kỳ. Lúc bấy giờ, quân đội ta đã thực hiện chiến thuật “đánh điểm diệt viện”. Vì thế, sau trận thắng ở Đèo Dài, tôi tiếp tục đi cùng Trung đoàn 1 chuyển ra đánh điểm đồn Câu Lâu, nhằm mục đích câu viện binh của địch ở tây Thăng Bình ra ứng cứu để tiêu diệt gọn một tiểu đoàn lính cộng hòa, tại các xã Bình Lãnh và Bình Trị, huyện Thăng Bình.

Sau đó, Quân khu 5 điều động Trung đoàn 1 vào Quảng Ngãi. Sau một thời gian chuẩn bị chiến trường, trung đoàn chọn cứ điểm ở Chóp Nón tiêu diệt để chốt giữ câu viện. Đúng như nhận định của ta, sau khi cứ điểm Chóp Nón bị tiêu diệt thì liên đoàn quân ngụy đến giải tỏa, rơi vào thế trận mà Trung đoàn 1 đã bày sẵn. Không bỏ lỡ thời cơ diệt địch, ngay lập tức Trung đoàn 1 vận động bao vây tấn công tiêu diệt gọn liên đoàn quân ngụy, làm chủ chiến trường, bắt tù binh, thu vũ khí... Từ đây, Trung đoàn 1 mang tên Trung đoàn Ba Gia. Sau đó, Trung đoàn 1 về đứng ở thôn Vạn Tường, xã Bình Sơn, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 18 tháng 8 năm 1965, quân Mỹ đổ bộ hành quân đánh phá vào khu vực Vạn Tường, đúng vào thế trận bày sẵn của Trung đoàn 1, đơn vị chiến đấu quyết liệt suốt cả ngày, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, đánh tan cuộc hành quân của lính thủy đánh bộ Mỹ, là một, trong những trận đánh lớn diệt nhiều sinh lực Mỹ nhất của miền Nam lúc bấy giờ... Từ đây có phong trào “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh, tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10245


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:48:19 am »

Chương bốn

TIỂU ĐOÀN 70 VÀ NHỮNG ÂN TÌNH


Tiểu đoàn 70 hình thành từ Tiểu đoàn 79 Trung đoàn 96 Sư đoàn 305 từ miền Bắc về năm 1959 là con em của Quảng Nam - Đà Nẵng tập kết trở về chỉ có một khung của tiểu đoàn và Đại đội 2 (H30), đến Trao của huyện Hiên (Quảng Nam); đầu năm 1960, H30 diệt gọn một đại đội bảo an của cứ điểm Ga Lâu ở Trao, sau đó vũ trang xuống các huyện Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn diệt ác, phá kìm và lấy thanh niên nhập ngũ.

Ngày 3 tháng 2 năm 1962, chính thức thành lập Tiểu đoàn 70 tại thôn Tám xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước; sau thành lập tiểu đoàn vượt sông Tranh giải phóng hai xã Phước Lãnh, Phước Ngọc, từ đó làm bàn đạp vượt sông Tiên giải phóng ba xã Sơn - Cẩm - Hà huyện Tiên Phước rồi đánh bại cuộc hành quân phản kích của địch giữ vững vùng giải phóng. Từ bàn đạp Sơn - Cẩm - Hà Tiểu đoàn 70 cùng các lực lượng khác giải phóng hầu hết các xã tây quốc lộ 1 của các huyện Tam Kỳ, Tiên Phước, Thăng Bình, Quế Sơn...

Đầu năm 1964, Tiểu đoàn 70 dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Đỗ Sa và trực tiếp chỉ đạo của đồng chí Hoàng Minh Thắng - Chính trị viên tỉnh đội, thọc sâu xuống đông đường số 1 vượt Trường Giang giải phóng các xã vùng đông huyện Thăng Bình, đông Tam Kỳ, đông Quế Sơn.

Đầu năm 1964, Tiểu đoàn 70 phục kích vận động bao vây tiêu diệt gọn một tiểu đoàn cộng hòa tại Mộc Bài ở huyện Quế Sơn, làm chủ chiến trường thu hàng trăm vũ khí các loại.

Đầu năm 1965, chiến trường Quảng Nam cơ bản nông thôn được giải phóng, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy bị phá sản, Mỹ chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” đổ quân Mỹ vào Đà Nẵng, Chu Lai - Quảng Nam. Lịch sử lại giao cho quân và dân Quảng Nam trận đầu đánh Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Quảng Nam giao cho Tiểu đoàn 70 trận đầu đánh Mỹ và thắng Mỹ, Tiểu đoàn 70 lấy Đại đội 2 làm chủ công dưới sự chỉ huy của đồng chí Đại đội trưởng Vũ Thành Năm và đồng chí Tiểu đoàn trưởng Đỗ Sa, đêm 25 rạng ngày 26 tháng 5 năm 1965 đã tập kích diệt gọn một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ tại cao điểm 49-50 Núi Thành, diệt 139 tên, làm chủ chiến trường thu vũ khí. Với trận đầu diệt gọn đơn vị chiến đấu Mỹ, đã giải quyết tư tưởng: Dám đánh Mỹ và biết đánh Mỹ, từ đó mà có khẩu hiệu “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”...

Hơn một năm gắn bó với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1, tháng 9 năm 1965, tôi có quyết định của quân khu điều động về Tiểu đoàn 70 nhận nhiệm vụ làm Đại đội trưởng Đại đội 2, dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Đỗ Sa - Tiểu đoàn trưởng. Địa bàn hoạt động của tiểu đoàn được trải rộng trên khắp chiến trường Quảng Nam. Những ngày đầu trên cương vị công tác mới, hiệu quả công việc trực tiếp ảnh hưởng đến tính mạng của nhiều đồng chí, đồng đội, tôi không tránh khỏi băn khoăn, lo lắng về trách nhiệm của mình. Nhưng được các anh đi trước động viên cũng như sự ủng hộ, tin tưởng của anh em cấp dưới, tôi đã liên tục hoàn thành tốt nhiệm vụ của người chỉ huy đại đội. Cùng với đội hình của tiểu đoàn, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2 đã rong ruổi suốt vùng đất Quảng Nam và lập được nhiều chiến công vang dội. Nhiều trận đánh điển hình đã khắc sâu trong trái tim tôi như để tri ân đồng đội đã ngã xuống cũng là bài học trong chỉ huy chiến đấu của người cán bộ. Trong số đó, tôi có thể kể đến trận đánh ngày 8 tháng 11 năm 1965. Ở trận này, Tiểu đoàn 70 được phối thuộc trong đội hình của Trung đoàn 1, Sư đoàn 2, Quân khu 5 đã tiêu diệt chiến đoàn ngụy tại Đồng Dương, thuộc huyện Thăng Bình. Trong đó, riêng Tiểu đoàn 70 đã diệt gọn Tiểu đoàn biệt động 37 ngụy Sài Gòn. Sau khi làm chủ chiến trường, thu vũ khí, giải quyết thương binh, liệt sĩ, đơn vị chúng tôi tổ chức lui quân về xã Phước Sơn, nay là xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước, bất ngờ bị máy bay B-52 rải thảm từ Phước Sơn xuống Bình Lâm, Bình Lãnh, huyện Thăng Bình, khiến đồng chí Lê Công Minh, Đại đội trưởng Đại đội 2 hy sinh. Ngoài ra, tiểu đoàn còn phối hợp với lực lượng của Trung đoàn 1, Sư đoàn 2 tiến công một tiểu đoàn lính Mỹ ở Cẩm Khê, thuộc bắc Tam Kỳ, diệt trên 450 tên, bắn rơi 3 máy bay trực thăng, buộc địch phải dùng 85 lần chiếc máy bay trực thăng để chuyên chở số lính tử trận.

Bước sang năm 1966, mức độ ác liệt của chiến tranh được tăng lên theo tỷ lệ thuận với quân số lính Mỹ đổ xuống miền Nam. Chúng dùng chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” để tổ chức càn quét, tấn công lên căn cứ của ta. Theo đánh giá của một số chuyên gia quân sự, chiến trường Quảng Nam lúc bấy giờ là một trong những nơi ác liệt nhất. Cũng trong năm 1966, quân khu điều động Tiểu đoàn 70 của Tỉnh đội Quảng Nam về đứng trong đội hình của Sư đoàn bộ binh 2 của Quân khu 5. Lúc đó, sư đoàn đã hành quân vào tỉnh Quảng Ngãi theo quyết định của quân khu để chuẩn bị đánh cụm cứ điểm Hà Thành. Sau khi nhận nhiệm vụ. Tiểu đoàn 70 cơ động về trú quân ở suối Rin, thuộc địa phận Sơn Hà, Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi làm công tác chuẩn bị phối hợp với Sư đoàn 2 đánh cụm cứ điểm Hà Thành và quận lỵ Trà Bồng. Trong điều kiện địch tăng cường càn quét, địa bàn lạ nên việc đảm bảo lương thực, thuốc men cho đơn vị gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, anh em trong tiểu đoàn có nhiều người bị đói, sốt rét rừng hành hạ. Thậm chí, có đồng chí lên cơn sốt rét ác tính đã hy sinh khi chưa kịp chiến đấu. Bản thân tôi lúc ấy cũng bị bệnh thương hàn. Tình trạng ăn uống thiếu thốn, thuốc men không có đã khiến tôi không thể gượng dậy được. May mắn thay có người quen thông báo cho chị Ba tôi tới chăm sóc, lo lắng thuốc thang, nên tôi mới khỏi bệnh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10245


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:48:37 am »

Bây giờ nhớ lại những ngày ăn trong bom, ngủ trong đạn ấy, tôi vẫn không thể nào tả nổi sự ác liệt của chiến tranh. Suốt tuần lễ, đơn vị không có một hạt gạo nấu cháo. Chúng tôi phải mót sắn của đồng bào dân tộc để ăn qua ngày. Lúc đó, quân Mỹ lại dùng B-52 rải thảm, đánh bom tọa độ suốt ngày đêm. Máy bay Mỹ ầm ì, lượn như chuồn chuồn trên đầu chúng tôi liên tục. Không cứ lúc nào, hễ ở đâu chúng nghi có dấu hiệu đối phương ẩn náu thì chỉ vài phút sau đã có tiếng bom rơi, đạn nổ. Trên không đã vậy, còn dưới đất, lính Mỹ đi lùng soát khắp nơi, sục sạo mọi ngõ ngách. Tình hình chung, địa bàn Quảng Ngãi lúc bấy giờ cực kỳ căng thẳng.

Ngày 27 tháng 9 năm 1966, ta chính thức nổ súng đánh cụm cứ điểm Hà Thành. Trong lúc chỉ huy đơn vị xung phong tiêu diệt mục tiêu độc lập, tôi đã bị thương phải nằm bệnh viện dã chiến của sư đoàn để chữa trị. Thật chán nản biết bao khi mình nằm trong hầm trú ẩn an toàn, còn ngoài kia anh em đồng chí đang chiến đấu trên trận tuyến với quân thù. Mấy ngày nằm điều trị tại bệnh viện, tôi không có ý nghĩ nào khác là mong sớm được trở lại đơn vị. Không hiểu do vết thương nhẹ, hay vì ý nghĩ đó nên tôi rất chóng bình phục. Mới nằm bệnh viện khoảng nửa tháng, thấy vết thương có vẻ đã kéo da non, tôi nằng nặc đòi về đơn vị. Các bác sĩ chần chừ mài đến ngày 14 tháng 10 mới cho tôi ra viện. Lúc này, đơn vị đã chuyển về đứng chân ở Sơn Lộc, Sơn Nam, thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, để chờ nhận nhiệm vụ mới. Trong thời gian chúng tôi ở đây, có một trận đánh bất ngờ diễn ra. Hôm ấy là ngày 20 tháng 11 năm 1966, vào khoảng 4 giờ sáng, bất thần có 8 chiếc máy bay địch từ đâu bay tới trút bom đánh phá khu vực tiểu đoàn đóng quân. Tuy có sự chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, nhưng tình huống diễn ra quá bất ngờ và mau chóng nên tôi và một số đồng chí khác bị thương nhẹ. Đúng như dự đoán của chúng tôi, khi tiếng bom vừa dứt thì bộ binh và xe tăng địch ào ạt tấn công vào khu vực trú quân của tiểu đoàn nói chung và Đại đội 2 nói riêng. Nhờ đã được trui rèn dạn dày kinh nghiệm trong chiến đấu, chúng tôi bình tĩnh chờ địch vào thật gần mới đánh trả quyết liệt. Mấy tên đi đầu hung hăng tưởng quân ta đã bị bom dập, đạn vùi nên có phần xem thường đối phương. Sự chủ quan đó của chúng nhanh chóng phải trả giá. Những quả lựu đạn chày của ta đã xé nát đội hình địch. Một số tên sống sót chưa kịp la ó đã bị chúng tôi tiêu diệt bằng súng tiểu liên. Kết quả trận đánh hôm ấy, mặc dù chủ động tấn công trước nhưng sinh lực địch đã tổn thất lớn.

Sau đó, để đảm bảo bí mật địa bàn tác chiến cũng như để bảo toàn lực lượng, đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân vào huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 đã giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 70 phải tiêu diệt gọn cứ điểm Yên Sơn, để câu viện binh cho đơn vị diệt viện. Trong quá trình triển khai nhiệm vụ tác chiến, chỉ huy tiểu đoàn phân công Đại đội 2, do tôi làm Đại đội trưởng, làm lực lượng chủ công trong chiến đấu tiêu diệt cứ điểm Yên Sơn.

Cứ điểm này thuộc xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành, nằm trên một mỏm đồi thoai thoải. Nó khống chế con đường từ Quảng Ngãi đi Suối Bùn - Ba Tơ. Về địa hình, phía đông, phía bắc và phía tây của cứ điểm là ruộng lúa của dân, còn phía nam giáp tuyến đường Quảng Ngãi - Ba Tơ. Ở phía nam, có một số hộ dân sinh sống trong ấp chiến lược. Địch bố trí lực lượng chiếm giữ cứ điểm là một đại đội người dân tộc Nùng với quân số hơn 100 tên. Bọn này thường để tóc dài búi cao nên dân trong vùng còn gọi là “địch đầu tóc bối”. Hỏa lực của chúng gồm có 2 khẩu cối 81mm và 4 đại liên. Xung quanh cứ điểm, địch tổ chức sáu lớp rào. Ngoài cùng là ba lớp rào bằng cây tre dựng đứng, chôn sâu, buộc dây thép gai. Bên trong, chúng bố trí các hàng rào theo kiểu “hai sông, ba núi”, tức là hai hào sâu cắm chông và trên bờ là ba hàng rào bằng dây thép gai. Do đó, nhiều đơn vị bộ đội địa phương của tỉnh Quảng Ngãi đã đánh mà chưa được. Được thể, bọn ngụy ở Quảng Ngãi huênh hoang thách thức: “Nước sông Trà Khúc chảy ngược thì Việt cộng mới đánh được Yên Sơn”.

Nắm được tình hình như vậy đã giúp chúng tôi sớm phác thảo ra cách đánh phù hợp. Cũng như các trận đánh khác, tôi cùng với đồng chí Tiểu đoàn trưởng Đỗ Sa tổ chức lực lượng đi trinh sát, chuẩn bị chiến trường. Ban ngày, chúng tôi cải trang thành người nông dân làm ruộng, mon men đi gần sát bờ rào để quan sát cụ thể. Qua mấy lần quan sát, tôi hội ý với đồng chí Sa và thống nhất nhận định chỉ có thể đột nhập vào bên trong bằng phương pháp độn thổ. Từ đó, chúng tôi mới nghĩ ra cách ban đêm bí mật ngụy trang kín đáo, chỉ mặc độc chiếc xà lỏn, bôi nhọ lên cơ thể giống như màu đất rồi tiến sát vào bờ rào tre, tiến hành đào hang như hang dế để chui vào, thực hiện quan sát và lên phương án chiến đấu sơ bộ. Phương pháp là như vậy, nhưng khó nhất là giữ bí mật như thế nào. Việc đào hang bí mật qua ba lớp rào tre để đưa trinh sát vào bên trong trong điều kiện địch thường xuyên canh phòng cẩn mật không phải là chuyện dễ, thậm chí còn khó hơn việc nhân dân đào hầm bí mật trong thành phố. Chúng tôi chỉ để một sơ suất nhỏ, hoặc không may bị địch phát hiện thì sự hy sinh là không tránh khỏi và tổn thất không dừng lại ở đó mà ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ kế hoạch chiến đấu của sư đoàn. Do đó, đội trinh sát đã thảo luận thật kỹ về phương pháp đào hầm, cách giữ bí mật như thế nào. Chúng tôi quyết định đem bao để đựng đất khi đào và dụng cụ phải thật sắc, nhọn. Mỗi đêm khoét một ít, tuy khẩn trương nhưng không nôn nóng, tuyệt đối không để xảy ra một sơ suất nhỏ kể từ việc đánh rơi vụn đất đến ngụy trang lối vào, kiên trì trong suốt sáu đêm như vậy thì đội hình trinh sát đã chui qua khỏi được mấy lớp rào tre. Công việc chuẩn bị chiến trường đến đây cũng coi như hoàn tất. Chúng tôi về báo cáo tình hình, kết quá trinh sát với lãnh đạo chỉ huy sư đoàn lúc đó là đồng chí Thạch, Tư lệnh sư đoàn và đồng chí Đạo, Chính ủy sư đoàn. Sau khi nhận báo cáo, hai đồng chí đã cùng chúng tôi trực tiếp đi kiểm tra trong đêm. Khi trở về, lãnh đạo chỉ huy Sư đoàn 2 đã hạ quyết tâm cho đánh và tăng cường cho Tiểu đoàn 70 một đội đặc công của sư đoàn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10245


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:49:07 am »

Nhận nhiệm vụ lập kế hoạch chiến đấu cụ thể của đơn vị, tôi quyết định tổ chức lực lượng thành 3 mũi. Trong đó, 2 mũi có nhiệm vụ đột phá và mũi còn lại bao vây. Về phương pháp tiến công, dùng hình thức mật tập, khoét hầm chui qua ba lớp rào tre, đưa bộc phá liên kết từ ngoài vào trong, sử dụng loại bộc phá lớn; kết hợp với bộc phá thổi dùng máy phát điện cho nổ (loại máy phát điện cầm tay quay), sau đó sử dụng hỏa lực cối 81 mm đánh vào bên trong trận địa. Tôi báo cáo kế hoạch tác chiến cụ thể với lãnh đạo chỉ huy sư đoàn, đồng chí Thạch và đồng chí Đạo đã đồng ý hạ quyết tâm đánh.

Đêm mùng 4 rạng ngày 5 tháng 3 năm 1967, chúng tôi bí mật hành quân tiếp cận mục tiêu. Đến vị trí tạm dừng, tôi phổ biến nhiệm vụ lần cuối và thống nhất tín hiệu hiệp đồng chiến đấu. Sau đó, các hướng mũi chủ động hành quân chiếm lĩnh trận địa theo vị trí đã phân công. Đúng một giờ ngày mùng 5, sau khi kiểm tra một lượt công tác chuẩn bị của các bộ phận và động viên anh em, tôi phát lệnh điểm hỏa, thực hành nổ bộc phá tấn công. Trong phút chốc, hai đường nổ như hai con rồng lửa bừng sáng trong màn đêm, xé tan hàng rào tre của địch. Theo kế hoạch hiệp đồng, các chiến sĩ nhanh chóng vận động đặt mìn thổi tung ba lớp rào kẽm gai bên trong. Không để địch kịp phản ứng, ta lập tức sử dụng thang mê giá thiếc bắc qua hào bộ binh cho xung phong. Mọi hành động của anh em diễn ra mau lẹ như trong chớp mắt. Lính địch trong đồn sau phút hoàn hồn bắt đầu chống trả điên cuồng. Nhưng hàng rào của chúng đã bị quân ta chọc thủng, lực lượng hai bên đang nằm vào thế cài răng lược nên hỏa lực của chúng không phát huy được tác dụng. Chúng tôi triệt để lợi dụng địa hình, địa vật, thực hành tiến công tiêu diệt địch từng phần, đập tan các ổ đề kháng của chúng, Nhiều đồng chí đá áp sát tường nhà lính, dùng lựu đạn tung vào diệt luôn bọn cố thủ trong đỏ, Cứ như vậy, mũi này phối hợp chặt chẽ với mũi kia, lúc thì thu hút nghi binh, khi thì tiến công mãnh liệt không cho chúng kịp trở tay. Với cách đánh táo bạo, mưu trí dũng cảm như vậy nên chỉ sau hơn 40 phút chiến đấu, ta đã diệt gọn đại đội địch, diệt tại chỗ 85 tên, số thoát chạy ra phía ấp chiến lược cùng bị bộ phận đón lõng diệt gọn, thu 50 súng các loại, trong đó có hai khẩu cối 81 mm, 4 đại liên. Cứ điểm Yên Sơn bị xóa sổ bất ngờ khiến bọn lính ngụy run sợ không biết có phải Việt cộng từ trên trời rơi xuống hay độn thổ từ dưới đất chui lên, không còn dám huênh hoang khoác lác và lo sợ không biết đến lúc nào thì đến lượt chúng bị đánh. Chiến công trên đã ghi dấu ấn những người con Quảng Nam trên vùng quê “núi Ấn, sông Trà”. Tuy nhiên, sau trận đánh này, một số đồng chí thân yêu của tôi đã nằm lại vĩnh viễn trên đất Quảng Ngãi để chúng tôi bước tiếp trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong trái tim tôi lại khắc khoải nỗi nhớ về các anh Thám, Bình, Giang.

Đánh giá kết quả trận chiến đấu tiêu diệt cứ điểm Yên Sơn, đơn vị chúng tôi được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Hòa trong chiến công chung đó, tôi cũng được cấp trên khen tặng và bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó, trực tiếp sát cánh cùng đồng chí Đỗ Sa chỉ huy đơn vị chốt giữ cứ điểm Yên Sơn để diệt viện binh của địch. Sau khi đại đội lính Nùng thất thủ, ngày đầu tiên, địch điều một đại đội lính bảo an lên tấn công hòng chiếm lại cứ điểm. Chúng tôi đã nhận định trước tình hình nên bố trí lực lượng mai phục phía trước tiền duyên. Bên trong cứ điểm, ta vẫn giữ bí mật, im lặng, mặc kệ cho chúng đến thật gần. Khi đội hình địch lọt vào trận địa, ngay lập tức lựu đạn, thủ pháo, mìn các loại đã đồng loạt nổ tung. Cả đại đội lính bảo an với vũ khí trang bị đầy mình bỗng chốc không còn một tên sống sót. Biết chắc chắn địch còn tiếp tục tấn công, giải tỏa cứ điểm Yên Sơn để giành lấy vị trí khống chế con đường Quảng Ngãi đi Ba Tơ, nên cấp trên giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 70 tiếp tục chốt giữ Yên Sơn và sẵn sàng chiến đấu chống địch giải tỏa.

Ngày 18 tháng 3 năm 1967, địch tiếp tục điều Tiểu đoàn 39 biệt động Sài Gòn tấn công lên Yên Sơn. Đây là một đội quân thiện chiến của quân đội ngụy với trang bị vũ khí tối tân hiện đại, chuyên nghiệp. Vì vậy, nếu để chúng vào gần cứ điểm thì khả năng tổn thất của ta là không nhỏ. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 70 hội ý, quyết định bố trí trận địa mai phục kéo dài từ Kiêm Thành Hạ, xóm Rầy đến thôn Trúc Lâm và tổ chức đánh chặn đầu ở suối Bùn, buộc địch phải dàn mỏng lực lượng ra để đối phó. Quân ta sẽ thực hành vận động, bao vây, chia cắt và tấn công tiêu diệt dứt điểm từng bộ phận, không cho chúng kịp ứng cứu lẫn nhau. Đúng như kế hoạch dự kiến, sau khi cho hỏa lực bắn dọn đường, bọn lính biệt động vừa đì vừa quan sát. Phía ta cũng nhanh chóng vận động ra trận địa mai phục. Lúc bộ phận chặn đầu nổ súng, ngay lập tức các bộ phận khác cũng đồng loạt tiến công không cho địch co cụm, dựa vào hỏa lực mạnh để chống trả. Tuy nhiên, đây là bọn lính thiện chiến, tham gia đánh nhau đã nhiều trận nên khả năng lợi dụng địa hình, địa vật của chúng hơn hẳn bọn lính bảo an trước đó. Mặt khác, lực lượng địch tấn công lần này cũng đông hơn nên ta cũng gặp một số khó khăn trong quá trình chiến đấu. Mặc dù đã chủ động, lên phương án tác chiến cụ thể, dự kiến các tình huống và cách xử trí tỉ mỉ nhưng ta phải chiến đấu suốt sáu tiếng đồng hồ, từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều, mới xóa sổ được toàn bộ lực lượng địch. Nhưng chiến công cũng thật vang dội. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 240 tên, bắt sống 30 tên, thu 250 súng các loại, trong đó có 4 khẩu cối 81mm, 8 khẩu đại liên. Có thể nói, đây là một trận đánh quyết liệt, giòn giã, tiêu diệt nhiều địch, thu được một số lượng lớn vũ khí phục vụ cho công tác sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10245


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:49:38 am »

Sau trận đánh xóa sổ Tiểu đoàn 39 biệt động Sài Gòn một thời gian, đơn vị chúng tôi được rút về đứng trong đội hình của Sư đoàn 2, đang đóng quân ở huyện Sơn Tịnh, làm lực lượng dự bị cho Trung đoàn 1 tiến công Đồi Tranh - Quang Thạnh, đánh thiệt hại nặng lữ đoàn lính Đại Hàn từng được mệnh danh “Rồng xanh”, “Mãnh hổ”. Bọn lính này rất gian ác và cực kỳ man rợ. Hễ gặp người dân nào của ta là chúng giết ngay tức thì. Thậm chí, đối với trẻ em mới sinh, bọn chúng còn cầm hai chân xé làm đôi ném vào lửa. Tội ác của địch gây ra cho nhân dân ta chất cao như núi. Nhắc đến bọn lính Đại Hàn, ai cũng căm hờn muốn tiêu diệt hết bọn chúng.

Được sự ủng hộ, giúp đỡ tận tình của nhân dân cộng với tinh thần quyết đánh thắng bọn xâm lược và phải diệt bằng được quân Pắc Chung Hy tàn bạo, gian manh này, Trung đoàn 1 của Sư đoàn 2 đã cùng với Tiểu đoàn 70 làm lực lượng dự bị, chiến đấu quyết liệt suốt đêm, tiêu diệt gần hết Lữ đoàn “Rồng xanh”. Nhận được tin chiến thắng, nhân dân mừng vui khôn xiết.

Chúng tôi tham gia chiến đấu trên chiến trường Quảng Ngãi đến ngày 23 tháng 5 năm 1967 thì nhận được lệnh của quân khu chuyển Tiểu đoàn 70 về Quảng Nam. Lúc này, Ban chỉ huy tiểu đoàn cũng có sự thay đổi về nhân sự. Đồng chí Đỗ Sa được quân khu điều về công tác tại cơ quan quân khu, đồng chí Vũ Thành Năm thay đồng chí Sa làm Tiểu đoàn trưởng. Còn tôi quân khu quyết định từ Tiểu đoàn phó lên đảm nhiệm chức vụ Chính trị viên trưởng tiểu đoàn. Quân số, vũ khí của đơn vị cũng được bổ sung thêm. Cấp trên đã tăng cường cho chúng tôi 100 đồng chí từ miền Bắc vào cùng với các loại vũ khí đi kèm như B40, B41 và AK.

Đơn vị cơ động về trú quân tại thôn Ngũ Xã, thuộc xã Bình Phú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Dọc đường hành quân, chúng tôi phải đi vòng để tránh địch tuần tra, phục kích. Khoảng quá nửa đêm, tiểu đoàn đến vị trí tập kết, chúng tôi khẩn trương bố trí đội hình vừa đảm bảo bí mật, vừa sẵn sàng chiến đấu. Anh em nhanh chóng đào công sự trú ẩn. Khi trời mờ sáng, mọi công tác trú quân mới ổn định. Đó là ngày 25 tháng 6 năm 1967.

Tình hình địch ở Quảng Nam lúc bấy giờ cực kỳ căng thẳng. Chúng hành quân xuôi ngược khắp nơi; nay phục kích chỗ này, mai càn quét chỗ khác. Trên trời, nhất là khu vực các huyện Thăng Bình, Quế Sơn, Tam Kỳ... thường xuyên có vài ba chiếc máy bay trực thăng quần lượn trinh sát. Chỉ cần phát hiện dấu hiệu nghi ngờ có đối phương ẩn náu là chúng bắn rốc két hoặc xả súng trọng liên, súng phóng lựu xuống ngay; cũng có trường hợp bọn trên máy bay ném đạn khói xuống để báo hiệu cho đồng bọn đổ quân đánh chiếm hoặc gọi máy bay chiến đấu đến giội bom. Dưới mặt đất, Sư đoàn 3 ngụy đóng quân từ hướng Quế Sơn trở ra, Sư đoàn 2 ngụy đóng từ Tuần Dưỡng kéo vào. Lính Mỹ chốt giữ núi Quế - Cấm Dơi. Tuần Dưỡng. Ở phía nam, quân Mỹ đóng ở Chu Lai, Tam Kỳ. Bầu trời Quảng Nam lúc bấy giờ luôn mù mịt bởi khói xe tăng và pháo của địch. Dọc ven tuyến núi từ Răng Cưa qua Kỳ Trà, Kỳ Yên ra đến Đại Lộc, đoạn dốc Ông Thủ, máy bay B-52 rải thảm bom tọa độ suốt ngày đêm. Ngoài ra, địch còn giội bom hóa học suốt từ Phương Đông, Dương Yên xuống Kỳ Yên, Kỳ Trà, Kỳ Quế ra Sơn - Cẩm - Hà, Hiệp Đức, Đèo Le, v.v. Chúng không những gây tội ác với con người mà còn hủy hoại cả thiên nhiên nơi đây. Không biết bao nhiêu cánh rừng nguyên sinh bị chất độc của địch tàn phá, cây cối chết khô chìa cành trụi lá lên không trung như những cánh tay kêu cứu.

Xác định sớm muộn gì địch cũng sẽ tấn công vào nơi trú quân của đơn vị nên chúng tôi sớm xây dựng phương án chiến đấu sát với điều kiện địa hình, phân công lực lượng phục kích suốt ngày đêm, sẵn sàng tiêu diệt địch trước tiền duyên. Trên cương vị công tác mới, tôi chú trọng động viên anh em, nhất là số đồng chí mới được bổ sung từ miền Bắc vào. Mấy hôm đầu, nhiều anh em đã không nghe rõ tiếng Quảng Nam nên thỉnh thoảng lại có những câu chuyện vui được kể lại. Ví dụ ở quê tôi, cái muôi được gọi bằng cái vá. Khi đóng quân trong nhà dân, chủ nhà bảo lấy cái vá ra xới cơm, anh em mình cứ đi loanh quanh mà không tìm thấy cái vá ở đâu chỉ đến khi bà mẹ vào lấy mới giật mình: “Ờ nhỉ! Cái này ở ngoài quê con gọi là cái muôi”. Những câu chuyện như vậy nghe tưởng chừng đơn giản, nhưng nó mang theo suốt đời người lính đi ra khỏi cuộc chiến như một kỷ niệm đẹp.

Hôm đó là ngày 25 tháng 6 năm 1967, hai cánh quân lính thủy đánh bộ của Mỹ đã tổ chức lực lượng như gọng kìm đánh thẳng vào đội hình của Tiểu đoàn 70. Không biết nắm được nguồn tin từ đâu, quân số của ta bao nhiêu và trong suy nghĩ của chúng chắc có lẽ là mấy ông du kích địa phương với trang bị vũ khí thô sơ, cách đánh giản đơn nên chúng có phần chủ quan khinh địch. Vì thế, bọn lính Mỹ đi lại rất ngông nghênh. Chúng đi thành hàng bốn, hàng năm; thậm chí có tên còn phì phèo hút thuốc. Chúng tôi bình tĩnh quan sát và biết chắc bọn này sẽ phải trả giá cho sự coi thường đối phương, sớm phải đền tội bởi những tội ác do chúng gây ra đối với nhân dân Quảng Nam. Đội hình đi đầu của chúng đi thẳng vào trận địa phục kích của Đại đội 2. Anh em vẫn bình tĩnh quan sát, sẵn sàng chiến đấu. Khi những tên lính đi đầu cách vị trí phục kích của ta khoảng 10 mét, tôi ra lệnh nổ súng. Khẩu lệnh nhỏ, đanh gọn thể hiện sự quyết đoán của người chỉ huy vừa dứt thì ngay lập tức những tiếng súng AK điểm xạ chắc nịch đã quật ngã những tên vừa mới xì là, xì lồ ngay trước đội hình chiến đấu của tiểu đoàn. Bọn địch ở phía sau chạy tán loạn, mạnh đứa nào thì đứa ấy chạy, đội hình hàng bốn lúc đầu trở thành một mớ hỗn độn. Vô phúc cho chủng, chạy đến đâu cũng chạm phải các cánh quân khác của tiểu đoàn. Các loại hỏa lực của ta kết hợp với xung lực phát huy tốt hiệu quả đã tiêu diệt phần lớn lính Mỹ trước tiền duyên phòng ngự. Bị đánh bất ngờ không kịp chống đỡ, bọn lính thủy đánh bộ không còn khả năng chiến đấu, buộc địch phải đổ quân tăng cường ở phía trước, phía sau đội hình tiểu đoàn. Mặc dù trong điều kiện bốn phía xung quanh đều có địch, nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm bám trụ, chiến đấu quyết liệt với chúng. Do địa bàn chiến đấu hẹp, phân tuyến hai bên quá gần nên máy bay địch đến ném bom đã không đánh được vào mục tiêu. Dường như nhận biết được khi màn đêm buông xuống sẽ là điều bất lợi cho chúng, trong khi đó xác lính chết ngày càng nhiều. Vì thế, trời càng về chiều, chúng tăng quân số để giữ xác lính Mỹ chết và hòng đánh bại lòng quả cảm của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70, quyết tâm tiêu diệt và bắt sống đơn vị Việt cộng dám nằm sâu trong sào huyệt của chúng. Tiếc rằng, mọi mong muốn đó của địch đều trở thành ảo vọng, hay nói đúng hơn là ác mộng, Chúng đã gặp một bức tường thành kiên cố được xây dựng từ lòng yêu nước và sự đùm bọc của nhân dân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM