Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Mười, 2020, 12:12:06 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tình báo trong chiến tranh Việt Nam  (Đọc 943 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25073


« Trả lời #10 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2020, 10:53:17 pm »

        
HỆ THỐNG TÌNH BÁO CỦA PHE CỘNG SẢN

        Trong thời gian chiến tranh Việt Nam, tại Bắc Việt, cơ quan tình báo chiến lược là Cục Tình Báo thuộc Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam. Cục Tình Báo, hay còn gọi là Cục 2, được thành lập ngày 10-6-1957 do việc hợp nhất 2 cơ quan là Nha Liên Lạc (thuộc Phủ Thủ Tướng, Giám Ðốc là ông Trần Hiệu) và Cục Quân Báo (Bộ Quốc Phòng), và vị Cục Trưởng đầu tiên cũng chính là ông Trần Hiệu (năm 1958, ông Trần Hiệu được phong quân hàm Ðại Tá) 1.41,42 Về phía dân sự, sau sự hợp nhất này, Bắc Việt không còn có một cơ quan trung ương về tình báo nữa. Công tác tình báo dân sự được giao cho Bộ Công An với mạng lưới nhân viên dày đặc từ trung ương xuống đến tận các đơn vị cấp nhỏ nhất tại địa phương như Phường, Khóm, Xã, Ấp. Chính nhờ mạng lưới này, Bắc Việt đã ngăn chận được sự xâm nhập của các toán điệp viên của VNCH được gửi ra từ Miền Nam.

        Cục 2 có đầy đủ các Phòng, Ban chuyên môn phụ trách tất cả các lãnh vực chuyên môn về tình báo như thu thập tin (bao gồm cà tình báo nhân sự –HUMINT—và tình báo tín hiệu –SIGINT–, phân tích và đánh giá tin, truyền và thông báo tin, và cả phản gián.

        Cụ thể, Cục 2 gồm có tất cả 6 Khối với trách nhiệm như sau2:  

        • Khối Hành Chánh: lo về nhân viên, lý lịch, thăng thưởng, kỷ luật, vv

        • Khối Kỹ Thuật: thu thập tất cả các loại tài liệu của VNCH như giấy căn cước, con dấu, chữ ký để làm căn cước giả, cũng như cung cấp mọi vật liệu và máy móc cần thiết cho các điệp viên xâm nhập vào Miền Nam

        • Khối Truyền Tin: điều hành các hệ thống truyền tin giữa Cục 2 với các đơn vị phụ thuộc, với các cơ quan tình báo chiến lược khác, và với các điệp viên do Cục 2 điều động ở Miền Nam

        • Khối Huấn Luyện: phụ trách huấn luyện nhân viên trong nước cũng như gửi đi học tại Liên Xô và Trung Quốc từ 6 tháng đến 2 năm

        • Khối Bảo Vệ: lo mảng công tác phản gián, theo dõi các đối tượng tình nghi phản động, và ngăn chận người của VNCH xâm nhập và phá hoại

        • Khối Thu Thập: được tổ chức thành nhiều Ban; mỗi Ban chịu trách nhiệm thu thập tin tại một quân khu ở Miền Bắc; đặc biệt 3 Ban quan trọng nhứt chịu trách nhiệm tại 3 vùng Chiến trường C (VNCH), B (Lào), và C (Kampuchia); có cả 1 Ban chịu trách nhiệm về Hoa Kỳ

        Tại Miền Nam, vì Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (hay Việt Cộng) chỉ là một công cụ của Bắc Việt, mọi việc quan trọng về chính trị và quân sự đều do Trung Ương Cục Miền Nam quyết định. Trung Ương Cục Miền Nam (sau đây sẽ viết tắt là TUC; tài liệu của Mỹ thường gọi là COSVN = Central Office for South Vietnam) là cơ quan do Ðảng Lao Ðộng Việt Nam (tức Ðảng Cộng sản Việt Nam tạm thời đổi tên vào năm 1951) thành lập năm 1961 để thay cho Xứ Ủy Nam Bộ, với nhiệm vụ tiến hành cuộc nổi dậy tại Miền Nam với các Bí Thư liên tiếp sau đây: Nguyễn Văn Linh (1961-1964), Nguyễn Chí Thanh (1964-1967), và Phạm Hùng (1967-1975), tất cả đều là Ủy Viên Bộ Chính Trị của Ðảng Lao Ðộng Việt Nam.

        Về mặt công tác tình báo, TUC, thật ra, chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi lãnh thổ của Vùng III và Vùng IV của VNCH mà thôi (tức là 3 Quân Khu 7, 8, và 9 của Việt Cộng). Công tác tình báo tại các phần lãnh thổ còn lại của VNCH (tức là Vùng I và Vùng II) vẫn thuộc sự điều khiển của Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam (xuyên qua Cục Tình Báo, tức là Cục 2). Do đó, hệ thống tổ chức tình báo của phe Cộng sản có sơ đồ tổ chức như sau3:

--------------------
        1. Tổng cục Tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.wikiwand.com/vi/T%E1%BB%95ng_c%E1%BB%A5c_T%C3%ACnh_b%C3%A1o_Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_Nam

        Chuyện về Tổng Cục 2 – Kỳ IV: Cục trưởng Cục Tình báo đầu tiên, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://soha.vn/quan-su/chuyen-ve-tong-cuc-2-ky-iv-cuc-truong-cuc-tinh-bao-dau-tien-20151020165047274.htm

        2. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 196-197.

        3. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 200. Sơ đồ tổ chức hệ thống tình báo cua phe Cộng sản ở tr. 200 được chuyển ngữ sang tiếng Việt.

hệ thống tổ chức tình báo của phe Cộng sản có sơ đồ tổ chức như sau
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Chín, 2020, 06:55:25 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25073


« Trả lời #11 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2020, 10:54:37 pm »


       
        Ghi chú:

        • Chiến trường B3 là mật ngữ của phe Cộng sản dùng để chỉ vùng Cao Nguyên Trung Phần của VNCH

        • Quân Khu T.Thiên-Huế: gồm các tỉnh Quảng Trị, ThừaThiên và Thành phố Huế

        • Quân Khu 5: gồm các tỉnh duyên hải Trung và Nam Trung Phần là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên và Khánh Hòa

        • Quân Khu 6: gồm các tỉnh duyên hải Nam Trung Phần là Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy và các tỉnh phía Nam Cao Nguyên Trung Phần là Darlac, Quảng Ðức, Tuyên Ðức và Lâm Ðồng

        • Quân Khu 7: gồm các tỉnh Miền Ðông Nam Bộ

        • Quân Khu 8: gồm các tỉnh Tiền Giang

        • Quân Khu 9: gồm các tỉnh Hậu Giang, Miền Tây Nam Bộ

        Với hệ thống tổ chức như trong sơ đồ bên trên, việc cung cấp tin tức tình báo cho các sư đoàn Bắc Việt đã xâm nhập vào Miền Nam và hoạt động trong Vùng I và Vùng II Chiến Thuật của VNCH hoàn toàn do Cục 2 đảm trách.

        Trong khu vực trách nhiệm của mình, tức là 2 Vùng III và Vùng IV của VNCH, TUC có một bộ phận chuyên lo công tác an ninh và tình báo gọi là Cục An Ninh gồm có 3 bộ phận với các nhiệm vụ chính như sau: 45

        • Ban Nội thám: với bí danh K-35, có nhiệm vụ duy trì và bảo vệ an ninh cho mật khu; có quyền theo dõi, bắt giam, hỏi cung, điều tra, giam giữ cán bộ chiến sĩ và thường dân; ngăn chận sự xâm nhập của các điệp viên của VNCH

        • Ban Ngoại thám: có nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo qua hệ thống điệp viên và nội tuyến; cung cấp tất cả những dụng cụ, vũ khí cần thiết cho các điệp viên và nội tuyến

        • Ban Bảo vệ: bảo vệ yếu nhân, lãnh tụ của TUC và Mặt Trận; đơn vị được chỉ định làm công tác này là Trung Đoàn Bảo Vệ 180 gồm 2 Tiểu Ðoàn D-1 và D-2; D-1 phụ trách bảo vệ lãnh tụ và cơ sở; D-2 phụ trách bảo vệ ngoại vi.

        Ngoài các tổ chức, cơ quan, đơn vị chính thức như vừa trình bày bên trên, phe Cộng sản còn có được tai mắt trong dân chúng qua cái gọi là “hệ thống tình báo nhân dân” ở khắp nơi trong lãnh thổ của VNCH, điều mà VNCH không làm được tại Miền Bắc.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25073


« Trả lời #12 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2020, 11:04:45 pm »

        
HOẠT ÐỘNG XÂM NHẬP CỦA HAI BÊN

        Ngoài các hoạt động công khai của các cơ quan tình báo vừa kể trên, cả VNCH và Bắc Việt đều có thực hiện một số điệp vụ bí mật qua các công tác gửi người, cài người, kể cả trường kỳ mai phục, vào lãnh thổ, cơ quan, tổ chức của cả hai bên.

        VNCH gửi biệt kích xâm nhập Bắc Việt

        Trong thời gian 300 ngày chuyển tiếp của việc thi hành Hiệp Ðịnh Genève 1954, một tổ CIA, dưới sự chỉ huy của Ðại Tá Edward Lansdale, đã tuyển mộ (từ các đảng viên của 2 chính đảng có chủ trương chống Cộng sản là Ðại Việt và Quốc Dân Ðảng), huấn luyện và gài đặt lại một số tổ tình báo ở Miền Bắc. Kế hoạch “trường kỳ mai phục” này của CIA tương đối thành công vì lúc đó Bắc Việt chưa kiện toàn bộ máy an ninh của họ. Các tổ tình báo này hoạt động được hơn một thập niên nhưng sau cùng cũng bị lộ, bị bắt giam, và đưa ra tòa xét xử. Vụ án xét xử 10 gián điệp (tất cả đều là đảng viên Quốc Dân Ðảng, với 2 bản án tử hình) tại tòa án Hải Phòng vào tháng 4-1965 đã làm chấn động Miền Bắc, như chúng ta thấy trong hình sau đây1 (xem hình phía dưới):

        Trong thập niên 1960, VNCH, với sự yểm trợ tích cực về tài chánh và kỹ thuật của CIA, đã gửi nhiều điệp viên và các toán biệt kích ra Miền Bắc với mục đích thực hiện một số công tác về thu thập tin tức, tuyển mộ điệp viên, và phá hoại. Cơ quan của VNCH hợp tác với CIA trong kế hoạch này là một đơn vị tình báo lúc đầu trực thuộc Phủ Tổng Thống dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Quang Tung (sau thăng lên cấp Ðại Tá, Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Ðặc Biệt), với tên gọi thay đổi nhiều lần: Phòng Liên Lạc Phủ Tổng Thống, Phòng 45, Sở Bắc, Sở Khai Thác Ðịa Hình. Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963, Sở Khai Thác Ðịa Hình bị giải tán, và ngày 12-2-1965, Nha Kỹ Thuật được thành lập để đảm nhận công tác tình báo này và được đặt trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.

        Lúc đầu, kế hoạch này chỉ gửi từng điệp viên đơn độc ra nằm vùng tại Miền Bắc (trong ngữ vựng của CIA gọi là các “singletons”). Ðiệp viên đầu tiên được gửi ra Miền Bắc trong kế hoạch này là Phạm Chuyên, một cựu đảng viên Cộng Sản của tỉnh bộ Quảng Ninh, đã từ bỏ đảng và di cư vào Nam. Chuyên được huấn luyện rất kỹ trong hơn 1 năm và sau đó được bí mật đưa ra ém ở Cẩm Phả, trong vùng Vịnh Hạ Long, vào tháng 4-1961, với bí danh là ARES. Nhưng chỉ được hơn 2 tháng thì ARES đã bị bắt. ARES đã hàng địch, trở thành công cụ của địch, và gửi nhiều điện văn về để lừa CIA. Lúc đó CIA vẫn chưa biết sự phản bội của ARES, vẫn tiếp tục chương trình ”singletons” này. Kết quả là, cũng giống như ARES, các “singletons” kế tiếp, với các bí danh HIRONDELLE, HERO, TRITON, ATHENA, đều “biến mất” hết một cách bí mật. Sang năm 1962, tuy vẫn chưa nghi ngờ ARES, CIA đã bắt đầu không còn tin tưởng vào hiệu quả của chương trình “singletons” nữa và bắt đầu chuyển sang chương trình cho các toán biệt kích, từ 3 đến 8 người, nhảy dù xuống Miền Bắc. Riêng về “singleton” ARES, thì từ 1966 CIA đã bắt đầu nghi ngờ và khi họ bố trí cho ARES “trở ra” (exfiltrate) thì ARES không làm theo chỉ thị; lúc đó CIA mới biết chắc ARES đã trở thành công cụ của tình báo BẮc Việt và chấm dứt liên hệ với ARES. Tuy nhiên tình báo Bắc Việt vẫn tiếp tục sử dụng ARES và ARES vẫn tiếp tục gừi điện về cho mãi đến tận năm 19682.

        Chương trình đưa biệt kích ra Miền Bắc chính thức bắt đầu bằng NSAM 28 (NSAM = National Security Action Memorandum No. 28, ngày 9-3-1961), theo đó Tổng Thống John F. Kennedy (1961-1963) ra chỉ thị cho CIA phát động chiến tranh du kích tại Miền Bắc. Trong tháng 4-1961 xảy ra vụ đổ bộ tại Vịnh Con Heo (Bay of Pigs) ở Cuba do CIA tổ chức bị thất bại nặng nề, Tổng Thống Kennedy mất tin tưởng vào khả năng tổ chức những công tác bán quân sự bí mật của CIA. Cuối tháng 6-1961, một loạt NSAM ra đời (NSAM 55, 56 và 57, cùng ngày 28-6-1961) nhằm chuyển giao loại công tác đó qua cho Bộ Quốc Phòng, với CIA trong vai trò yểm trợ mà thôi.

--------------------
       1. Conboy, Kenneth và Dale Andradé, Spies and commandos: how America lost the secret war in North Vietnam. Lawrence, Kansas: University Press of Kansas, 2000. Tr. 1-15.

        2. Schultz, Richard H., The secret war against Hanoi: the untold story of spies, saboteurs, and covert warriors in North Vietnam. New York : HarperCollins, 2000. Tr. 87.


 Tòa Án Hải Phòng Xét Xử Vụ Án Gián Ðiệp Tháng 4-1965 (Xuất xứ của ảnh: Lấy từ sách “Spies and Commandos,” tr. 13)
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Chín, 2020, 07:41:09 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25073


« Trả lời #13 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2020, 11:10:16 pm »


        Chương trình đưa biệt kích ra Miền Bắc chính thức bắt đầu bằng NSAM 28 (NSAM = National Security Action Memorandum No. 28, ngày 9-3-1961), theo đó Tổng Thống John F. Kennedy (1961-1963) ra chỉ thị cho CIA phát động chiến tranh du kích tại Miền Bắc. Trong tháng 4-1961 xảy ra vụ đổ bộ tại Vịnh Con Heo (Bay of Pigs) ở Cuba do CIA tổ chức bị thất bại nặng nề, Tổng Thống Kennedy mất tin tưởng vào khả năng tổ chức những công tác bán quân sự bí mật của CIA. Cuối tháng 6-1961, một loạt NSAM ra đời (NSAM 55, 56 và 57, cùng ngày 28-6-1961) nhằm chuyển giao loại công tác đó qua cho Bộ Quốc Phòng, với CIA trong vai trò yểm trợ mà thôi.

        CIA, thật ra, đã chuẩn bị từ trước. Họ đã tuyển người (tất cả đều là người gốc Miền Bắc), huấn luyện (tại căn cứ huấn luyện ở Long Thành, về sau trở thành Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng) và chuẩn bị cho chuyến xuất phát đầu tiên vào ngày 27-5-1961. Toán biệt kích gồm 4 người này được đặt bí danh là CASTOR, với người chỉ huy là Trung sĩ Hà Văn Chấp, cùng 3 toán viên là Ðinh Văn, Quách Thưởng và Phạm Công Thương1, được thả xuống vùng đồi 828, thuộc tỉnh Sơn La. Người phi công lái chiếc máy bay C-47 chở toán CASTOR đó chính là Tướng Nguyễn Cao Kỳ (lúc đó ông còn mang lon Thiếu Tá và là Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn Vận Tải của Không Quân VNCH). Toán CASTOR không tồn tại được lâu, họ bị Công An Vũ Trang của Bắc Việt phát hiện, bao vây và đã phải đầu hàng sau 3 ngày. Cũng như với vụ ARES, Bắc Việt cũng giữ kín vụ bắt được toán CASTOR. CIA hoàn toàn không nghi ngờ gì cả và tiếp tục gửi toán thứ nhì gồm 3 người với bí danh là ECHO vào ngày 2-6-1961. Còn tệ hơn toán CASTOR, cả toán ECHO 3 người này đều bị bắt vào ngay hôm sau. CIA không biết là toán ECHO đã bị địch bắt và 12 ngày sau lại gửi toán thứ ba, bí danh DIDO, gồm 4 người thuộc sắc dân thiểu số Thái Ðen, vào Lai Châu. Lần này, phi công của chiếc máy may C-47 vẫn là Thiếu Tá Nguyễn Cao Kỳ. Toán DIDO cũng không may mắn hơn toán ECHO. Họ bị bắt hết tại biên giới Việt-Lào vào khoảng 10 ngày sau. Khoảng hơn một tháng sau ngày toán CASTOR nhảy xuống Sơn La, ngày 29-6-1961, đài tiếp vận BUGS của CIA ở Phi Luật Tân nhận được điện của CASTOR. Không biết CASTOR đã bị bắt và hàng địch, CIA rất vui mừng và thông báo cho CASTOR biết 4 ngày sau sẽ gửi đồ tiếp tế cho CASTOR. Theo kế hoạch, chuyến bay này sẽ lại do Thiếu Tá Nguyễn Cao Kỳ điều khiển nhưng vào giờ chót đã có sự thay đổi và phi công là Trung Úy Phan Thanh Vân. Chiếc C-47 này đã bị đơn vị phòng không của Bắc Việt bắn hạ khi bay ngang không phận của Hòn Né, gần bờ biển của tỉnh Ninh Bình, và rớt trong một khu đồn điền cách bờ biển khoảng 20 km. Tất cả phi hành đoàn đều bị thương, sau đó có 4 người chết vì vết thương quá năng, 3 người còn sống bị đưa ra tòa xét xử vào tháng 11-1961. Ðể tiếp tục đánh lừa CIA và cơ quan tình báo của VNCH về CASTOR, Bắc Việt đã dàn cảnh cho 3 người này khai trước tòa là phi vụ của họ là để tiếp tế cho 1 toán biệt kích trong vùng tỉnh Hòa Bình (chớ không phải cho toán CASTOR ở Sơn La). Phòng 45 của Trung Tá Lê Quang Tung và CIA tin là toán CASTOR vẫn còn là phe ta, chương trình cài biệt kích này đã thành công nên lại tiếp tục gửi các toán biệt kích ra Bắc. Toán biệt kích kế tiếp mang bí danh là EUROPA và gồm 5 người gốc Mường. Lần này, phi cơ được sử dụng là loại C-54, phi công vẫn là ông Kỳ lúc này đã thăng lên cấp Trung Tá. Chiếc C-54 này bay thẳng từ Sài Gòn (không cần phải ghé để được tiếp nhiên liệu như chiếc C-47 của các lần trước) ra Bắc và thả toán EUROPA xuống vùng Hòa Bình. Ngày hôm sau cả toán EUROPA 5 người Mường này đều bị bắt. Lại dùng phương thức cũ, tình báo Bắc Việt lại để cho người của toán EUROPA gửi điện về. CIA và Phòng 45 lại tin là thêm một phi vụ thành công nữa1. Việc đưa biệt kích ra Bắc lại được CIA tiếp tục với các toán ATLAS (tháng 3-1962), REMUS (tháng 4-1962), TOURBILLON (tháng 5-1962), và EROS (tháng 6-1962), và, cũng như các toán trước, các toán này đều bị Công An Vũ Trang của Miền Bắc phát hiện, truy lùng và bắt giữ hết.

        Kể từ mùa Hè năm 1962, thực thi các NSAM 55, 56 và 57, Chính phủ Hoa Kỳ giao lại công tác này cho Bộ Quốc Phòng, và CIA chỉ còn giữ vai trò yểm trợ mà thôi. Phái bộ quân sự Mỹ tại VN, MACV (thành lập ngày 8-2-1962 thay thế cho MAAG = Military Assistance Advisory Group) cho thành lập đơn vị SOG (lúc đầu mang tên là Special Operations Group, sau đổi tên lại là Studies and Observations Group). Thành viên của SOG hoàn toàn là người tình nguyện, phần lớn thuộc Lực Lượng Ðặc Biệt của quân đội Mỹ. Trong thời gian 1962-1963, VNCH trải qua nhiều xáo trộn chính trị nghiêm trọng. Vì những xáo trộn chính trị này của VNCH, nên mãi đến tháng 4-1964, SOG mới triển khai hoạt động với các đơn vị của cơ quan tình báo mới của QLVNCH là Nha Kỹ Thuật thuộc Bộ Tổng Tham Mưu.

-------------------
        1. Tư liệu về hoạt động của các toán biệt kích quân đội Sài Gòn được đưa ra Miền Bắc, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://phamthang-hue.weebly.com/–2182012/t-liu-v-hot-ng-ca-cc-ton-bit-kch-qun-i-si-gn-c-a-ra-min-bc

        2. Conboy, Kenneth và Dale Andradé, sđd, tr. 36-45.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25073


« Trả lời #14 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2020, 07:04:52 am »

 
        Vào đầu năm 1963, Sở Khai Thác Ðịa Hình được cải danh thành Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt (LLÐB) và vẫn do Ðại Tá Lê Quang Tung chỉ huy. Sau cuộc đảo chánh 1-11-1963, Lực Lượng Ðặc Biệt không còn đảm nhận công tác tình báo nữa. Sở Bắc (Phòng 45 đổi tên) được tách ra khỏi LLÐB, và cải danh thành Sở Khai Thác và trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM). Sau đó Sở Khai Thác được đổi tên một lần nữa thành Sở Kỹ Thuật, và ngày 12-2-1965 được nâng cấp lên thành Nha Kỹ Thuật thuộc BTTM 1, với sơ đồ tổ chức như sau:

        (Sơ đồ tổ chức này được trình bày dựa trên thông tin lấy ra từ tài liệu trực tuyến Nha Kỹ Thuật, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại https://vi.wikipedia.org/wiki/Nha_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt,_Qu%C3%A2n_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a ) (xem ảnh phía dưới)

        Các công tác của Nha Kỹ Thuật được phân chia cho các cơn vị trực thuộc như sau:

        • Sở Công Tác: đóng tại Sơn Trà, Ðà Nẵng; nhiệm vụ của các Ðoàn thuộc Sở này là xâm nhập bằng đường hàng không hay đường bộ vào lòng địch tại Miền Bắc hay các vùng biên giới với Lào và Kampuchia.

        • Sở Liên Lạc: đóng tại Sài Gòn; nhiệm vụ của các Chiến Ðoàn (Biệt Kích Lôi Hổ) thuộc Sở này là xâm nhập vào hậu tuyến của địch trong lãnh thổ của VNCH từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam

        • Sở Phòng Vệ Duyên Hải: đóng tại Tiên Sa, Ðà Nẵng; Lực Lượng Hải Tuần có trách nhiệm tuần tra, bảo vệ bờ biển, chận bắt tàu bè của địch xâm nhập vùng biển của VNCH; Lực Lượng Biệt Hải có nhiệm vụ huấn luyện và đưa người nhái xâm nhập Miền Bắc với phương tiện của Hải Tuần

        • Sở Tâm Lý Chiến: đóng tại Sài Gòn; với nhiệm vụ tổ chức và điều hành hai đài phát thanh Tiếng Nói Tự Do và Gươm Thiêng Ái Quốc hướng về Miền Bắc.

        • Sở Không Yểm: đóng tại Sài Gòn; có nhiệm vụ phối hợp các phi đoàn của Không Quân VNCH trong việc thả, rút, liên lạc và hướng dẫn các toán kiệt kích xâm nhập Miền Bắc và hậu phương địch.

        • Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng: đóng tại Long Thành; có nhiệm vụ huấn luyện cho các toán biệt kích.

        Sự thành lập Nha Kỹ Thuật của BTTM với đầy đủ tất cả các đơn vị và phương tiện cần thiết cho việc xâm nhập Miền Bắc, với sự yểm trợ tích cực của SOG về phía Hoa Kỳ, thật ra không cải thiện được hiệu quả của công tác này.

        Ngay từ cuối năm 1963, vào ngày 20 tháng 11, một cuộc họp hết sức quan trọng đã diễn ra tại Honolulu, Hawaii, với các giới chức cao cấp nhứt của chính phủ Mỹ, gồm Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara, Bộ Trưởng Ngoại Giao Dean Rusk, Thứ Trưởng Ngoại Giao George Ball, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Kennedy McGeorge Bundy, Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (CINCPAC = Commander-In-Chief, Pacific) Ðô Ðốc Harry D. Felt, Giám Ðốc CIA John McCone, Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Henry Cabot Lodge và Tư Lệnh MACV Ðại Tướng Paul Harkins. Cuộc họp có mục đích thảo luận về việc chuyển giao công tác xâm nhập người của VNCH ra Miền Bắc từ CIA sang cho MACV-SOG. William Colby, cựu Trưởng Trạm CIA tại Sài Gòn, người từng chủ trương, cổ vũ, và đích thân thực hiện công tác này tại VNCH, lúc đó đã thăng cấp và đảm nhiệm chức vụ Trưởng Phân Bộ Viễn Ðông (Far Eastern Division Chief) của CIA, đã được Giám Ðốc CIA McCone chỉ định thuyết trình về công tác gửi người xâm nhập Miền Bắc. Ông đã tỏ ra rất bi quan khi ông cho biết phần lớn các toán biệt kích gửi ra Miền Bắc đều “đã bị bắt hay đã bị giết chết.” Trong phần kết luận, ông nói trắng ra như sau: “It isn’t working, and it won’t work any better with the military in charge.” (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Chuyện đó không làm được, và cũng sẽ không làm được gì khá hơn với quân đội lãnh trách nhiệm”) 2.

        Dĩ nhiên, lời cảnh báo này của Colby không được nghe theo và SOG cùng với các đơn vị của Nha Kỹ Thuật thuộc BTTM QLVNCH vẫn tiếp tục việc gửi các toán biệt kích xâm nhập ra Miền Bắc, với kết quả là “đem con bỏ chợ.” Tất cả biệt kích đều bị bắt, bị tra tấn tàn bạo, và bị giam cầm trong các trại lao cải ở Miền Bắc trong hàng chục năm trời. Gia đình của một số biệt kích quân được báo tin là họ đã tử trận, một số được lãnh tiền bồi thường tử tuất. CIA và quân đội Mỹ đã hoàn toàn bỏ rơi họ. Dân quân VNCH hoàn toàn không biết gì hết về số phận của những người lính biệt kích này. Mãi đến sau năm 1975, khi một số sĩ quan QLVNCH đi học tập cải tạo ở Miền Bắc được thả về, kể lại chuyện được gặp các biệt kích quân đó trong các trại cải tạo, dân chúng Miền Nam mới có những thông tin đầu tiên về số phận của các biệt kích quân này.

        Chương trình gửi người xâm nhập Miền Bắc để thực hiện các công tác tình báo của VNCH, trong một thời gian khá dài, với những chi phí rất tốn kém, đã thất bại hoàn toàn. Có 2 lý do chính cho sự thất bại này: 1) VNCH không có được một hạ tầng cơ sở tại Miền Bắc để hỗ trợ cho loại công tác này; và, 2) Hệ thống an ninh của Miền Bắc quá chặt chẽ khiến cho các biệt kích rất dễ bị phát hiện, truy lùng và bắt giữ.

-------------------
        1. Lữ Triệu Khanh, Lịch sử Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu, QLVNCH, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://lichsunhakythuat.blogspot.ca/

        2. Kenneth và Dale Andradé, sđd, tr. 83.


Sơ đồ tổ chức của Nha Kỹ Thuật thuộc BTTM
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25073


« Trả lời #15 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2020, 07:40:26 am »

     
        Miền Bắc Cài Người Hoạt Ðộng Tại Miền Nam

        So với VNCH, Miền Bắc có nhiều thuận lợi hơn trong việc cài người ở Miền Nam. Có 2 lý do chính cho việc này: 1) Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, 1945-1954, Việt Minh nắm trọn quyền điều khiển Kháng Chiến; đảng viên Cộng sản có mặt khắp nơi trong Miền Nam; khi Hiệp Ðịnh Genève được ký kết, trong việc tập kết quân đội tại Miền Nam để chuyển ra Bắc, một số khá lớn đảng viên Cộng sản đã nhận được lệnh ở lại Miền Nam; và 2) Phong trào di cư của người Bắc vào Nam trong thời gian 100 ngày sau khi Hiệp Ðịnh Genève được ký kết vào tháng 7-1954 tạo cơ hội quá tốt cho Hà Nội cài người. Ðó là nguồn nhân lực rất quan trọng cho Cộng sản sử dụng trong việc cài người trong dân chúng cũng như bộ máy chính quyền (cả chính trị và quân sự) của VNCH. Phần lớn những người này đã có mặt, sinh sống, và làm việc như mọi người dân khác của Miền Nam, ngay cả trước khi VNCH được thành lập, nên họ đều có một vỏ bọc rất tốt, giúp họ dễ dàng xâm nhập, len lỏi, và “chui sâu, trèo cao” trong guồng máy chánh trị và quân sự của VNCH. Sau đây là một vài nhận vật thật nổi tiếng trong số những người này.

        Trong số những người theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp nhưng đã không tập kết ra Bắc mà ở lại Miền Nam nổi tiếng nhất là Phạm Ngọc Thảo1. Trong thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, ông đã xâm nhập được vào quân đội Miền Nam, được chế độ Ngô Ðình Diệm tin dùng và bổ nhiệm vào chức vụ Tỉnh Trưởng tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) lúc ông đang mang cấp Trung Tá. Sau tháng 11-1963, ông thăng lên cấp Ðại Tá và đã tham gia vào cuộc đảo chánh ngày 19-2-1965 chống Tướng Nguyễn Khánh nhưng thất bại vì sự chống đối của các tướng trẻ. Sau vụ này ông bỏ trốn nhưng bị bắt và bị giết chết. Mãi đến năm 1987, phe Cộng Sản mới công khai xác nhận ông Thảo là người của họ, truy tặng ông cấp bậc Ðại Tá của Quân Ðội Nhân Dân và danh hiệu Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân.

        Trong số những người Cộng sản lợi dụng phong trào di cư năm 1954 để vào Nam hoạt động nổi tiếng nhất phải kể đến Vũ Ngọc Nhạ, đảng viên Cộng sản từ năm 1947. Tên thật là Vũ Xuân Nhã, sinh ngày 30-3-1928 tại Thái Bình, Bắc Việt, xuất thân từ một gia đình theo Công giáo, sinh sống trong vùng Phát Diệm nổi tiếng chống Cộng dưới sự lãnh đạo của Giám Mục Lê Hữu Từ, bản thân có theo học mấy năm ở một chủng viện, và đã theo làn sóng người Công giáo di cư vào Nam sau Hiệp Ðịnh Genève 1954, và sau đó lại được Linh Mục Hoàng Quỳnh đỡ đầu, Vũ Ngọc Nhạ đã thoát được không bị kết án sau khi bị Ðoàn Công Tác Ðặc Biệt Miền Trung của Ngô Ðình Cẩn phát hiện và bắt giam tại Huế vào tháng 12-1958. Một thời gian sau, cũng lại với cái vỏ bọc Công giáo đó, cùng với bài viết vào cuối năm 1959 “Bốn nguy cơ đe dọa chế độ” dự đoán sẽ có đảo chánh và sau đó có đảo chánh xảy ra thật sự vào ngày 11-11-1960, Nhạ đã được Ngô Ðình Cẩn tin dùng và sau đó giới thiệu cho hai người anh là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Nhạ được hai anh em họ Ngô giao cho nhiệm vụ liên lạc với khối Công giáo di cư nhưng chưa lập được thành tích gì thì chế độ nhà Ngô sụp đổ. Sau đảo chánh 1-11-1963, Nhạ tiếp tục làm việc với cha Hoàng Quỳnh, và sau đó được cha Hoàng Quỳnh giới thiệu với Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu. Nhạ lại được Tướng Thiệu sử dụng trong việc móc nối với khối Công giáo. Khi Tướng Thiệu trở thành Tổng Thống, Nhạ thường được Tổng Thống Thiệu tham khảo về một số vấn đề chính trị có liên quan đến khối Công giáo. Nhạ được lệnh của Hà Nội tổ chức 1 cụm tình báo chiến lược với bí danh A-22, trong đó có Huỳnh Văn Trọng, lúc đó chính thức là Cố Vấn của Tổng Thống Thiệu. Cụm A-22 gồm một số những người đã từng bị Ðoàn Công Tác Ðặc Biệt Miền Trung phát hiện và giam giữ tại Huế. Ðây là một sơ hở của Nhạ khiến cho CIA phát hiện được cụm A-22 và lập hồ sơ chuyển giao cho Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam. Giữa tháng 7-1969, tất cả 42 người hoạt động cho Cụm A-22 đều bị bắt và đưa ra toà xét xử vào tháng 11-1969. Ðây là một vụ án gián điệp rất nghiêm trọng gây chấn động trong chính trường của VNCH vì các bị cáo đều là người có chức vụ khá cao trong chính phủ như sau:

        • Vũ Ngọc Nhạ: “cố vấn” bán chính thức của Tổng Thống Thiệu

        • Huỳnh Văn Trọng: cố vấn về đối ngoại của Tổng Thống Thiệu

        • Vũ Hữu Ruật: Tổng Thư Ký của Ðảng Dân Chủ, Thành bộ Sài Gòn

        • Lê Hữu Thúy: Công Cán Ủy Viên Bộ Thông Tin – Chiêu Hồi

        • Nguyễn Xuân Hòe, Công Cán Ủy Viên Phủ Tổng Thống

        • Hoàng Hồ, Dân Biểu Quốc Hội (đã bỏ trốn; sau đó Quốc Hội đã bỏ phiếu truất quyền)

        Vũ Ngọc Nhạ bị kết án tù chung thân và đưa ra Côn Ðảo. Năm 1973, sau Hiệp Ðịnh Paris, Nhạ được trao trả cho Cộng sản. Sau năm 1975, Nhạ công tác tại Cục 2 (cơ quan phụ trách tình báo của Việt Nam) với cấp bậc Thượng Tá và sau đó thăng lên Ðại Tá. Năm 1988, Nhạ được thăng cấp Thiếu Tướng. Nhạ mất ngày 7-8-2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh2
.

----------------
       1. Lâm Vĩnh Thế, Tài liệu mật của C.I.A. về Ðại Tá Phạm Ngọc Thảo, trong Bạch hóa tài liệu mật của Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng Hòa (Hamilton, Ont.: Hoài Việt, 2008), tr. 12-26.

        2. Vũ Ngọc Nhạ, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Ng%E1%BB%8Dc_Nh%E1%BA%A1


Phạm Ngọc Thảo, Huỳnh Văn Trọng
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Chín, 2020, 07:50:34 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25073


« Trả lời #16 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2020, 08:23:57 am »


        Người điệp viên nổi tiếng nhất của Miền Bắc hoạt động tại Miền Nam là Phạm Xuân Ần. Khác với Phạm Ngọc Thảo và Vũ Ngọc Nhạ, Ần đã tạo được kỳ tích là hoạt động trong suốt mấy chục năm mà hoàn toàn không bị phát hiện hay tạo ra nghi ngờ gì cả trong giới tình báo Hoa Kỳ và VNCH. Ần sinh ngày 12-9-1927 tại Biên Hòa, học tiểu học tại Trường Tiểu học Marc Ferrando ở Sài Gòn, học trung học ở Cần Thơ. Năm 1954 ông bị động viên và làm việc cho quân đội Pháp một thời gian. Ông là điệp viên duy nhứt của Miền Bắc đã từng du học 2 năm (1957-1959) về ngành báo chí tại Ðại Học Cộng Ðồng Orange Coast College, thuộc thành phố Costa Mesa, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Nhờ vào đó, ông là một trong số rất ít người Việt Nam được nhận làm phóng viên cho các hãng truyền thông Anh Mỹ như Reuters, Time, Christian Science Monitor. Nhờ vỏ bọc này, Ần đã có giao thiệp rộng rãi với các nhà báo Mỹ, qua đó tạo được quan hệ rất tốt với nhiều giới chức Mỹ-Việt, và nhờ vậy đã cung cấp được cho Hà Nội nhiều tin tức tình báo chiến lược rất quan trọng. Sau năm 1975, ông được phong Thiếu Tướng, và được ban danh hiệu Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân. Ông mất ngày 20-9-2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh1. Cuộc đời ông đã được ghi lại trong một cuốn sách thuộc loại bán chạy nhất (Best-seller) tại Hoa Kỳ của tác giả Giáo sư Chính Trị Học Larry Berman thuộc Ðại Học California, Davis với nhan đề là: Perfect spy: the incredible double life of Pham Xuan An, Time Magazine reporter and Vietnamese Communist agent (New York: Smithsonian Books, 2007; 328 tr.).

        Một điều cũng đáng được lưu ý là cả 3 điệp viên nổi tiếng này của Miền Bắc, Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ần, sau khi qua đời, đã được an táng gần nhau trong cùng nghĩa trang Lạc Cảnh tại Thành phố Hồ Chí Minh.

        Ngoài 3 điệp viên nổi tiếng trên mà phần đông mọi người đều có nghe nói đến, cũng nên kể đến một điệp viên thứ tư, ít người biết, là điệp viên H3, là một hạ sĩ quan, tên Nguyễn Văn Minh (sinh năm 1933, tại Hưng Yên, vào Nam sinh sống từ lúc còn nhỏ), làm việc ngay trong văn phòng của Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH. Sau năm 1975, H3 được phong quân hàm Ðại Tá, và ban danh hiệu Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân. (Sẽ đề cập đến H3 trong phần bên dưới của bài viết).

        Nói chung, nhờ có được nhiều điều kiện thuận lợi hơn, Miền Bắc tương đối thành công hơn Miền Nam trong việc cài người xâm nhập vào hệ thống chính trị và quân sự của đối phương.

------------------- 
      1. Phạm Xuân Ần, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_Xu%C3%A2n_%E1%BA%A8n

Nhà báo Phạm Xuân Ẩn
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25073


« Trả lời #17 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2020, 08:30:24 am »

        
TÌNH BÁO TRONG MỘT SỐ TRẬN ÐÁNH QUAN TRỌNG


        Trong suốt thời gian khoảng trên dưới 20 năm chiến tranh đó, hệ thống tình báo của cả 2 phe đã hoạt động rất tích cực và đạt hiệu quả khá cao nhưng vẫn không tránh khỏi có những thất bại rất nghiêm trọng. Phần này của bài viết cố gắng tìm hiểu, phân tích và đánh giá các hoạt động tình báo của cả 2 phe trong 2 trận đánh quan trọng và tiêu biểu của 2 giai đoạn trong Chiến tranh Việt Nam: 1) Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân (tháng 2-1968) của giai đoạn có quân Mỹ tham chiến; và 2) Trận Ban Mê Thuột (tháng 3-1975) sau Hòa Ðàm Paris và quân Mỹ đã rút khỏi Miền Nam.

        Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân (Tháng 2-1968)

        Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân bắt đầu vào ngày 31-1-1968 (mùng 2 Tết Mậu Thân) trên khắp các thành phố của VNCH là một bất ngờ rất lớn trong cuộc chiến tranh vì cả 2 phe lâm chiến đều đã đồng ý hưu chiến 3 ngày trong thời gian Tết. Phần lớn quân nhân, công chức của VNCH đều được nghỉ phép để về quê ăn Tết với gia đình (kể cả Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng về ăn Tết ở quê vợ là Mỹ Tho). Việc không tiên đoán được cuộc tấn công với quy mô lớn như vậy của phe Cộng Sản là một thất bại rất lớn về tình báo của cả VNCH và Hoa Kỳ. Câu hỏi cần phải đặt ra là tại sao VNCH và Hoa Kỳ, với một hệ thống tình báo to lớn, đầy đủ và tinh vi như vậy mà không phát hiện được sự chuẩn bị của phe Cộng sản cho cuộc tổng tấn công này. Ðể có thể trả lời câu hỏi quan trọng này, chúng ta cần phải tìm hiểu những diễn biến trong cuộc chiến từ sau khi Hoa Kỳ đưa quân bộ chiến vào Miền Nam từ tháng 3-1965.

        Sau cuộc đổ bộ của 5.000 Thủy Quân Lục Chiến vào Ðà Nẵng ngày 8-3-1965, quân số Mỹ tại Miền Nam đã gia tăng một cách vô cùng nhanh chóng1:

        • Cuối năm 1965: tổng số quân Mỹ là184.300

        • Cuối năm 1966: tổng số quân Mỹ là 385.300

        • Cuối năm 1967: tổng số quân Mỹ là 485.600

        Trong mùa khô 1966-1967, trong chiến lược “lùng và diệt địch” (search and destroy) của Tướng Tư Lệnh MACV Westmoreland, quân đội Mỹ đã tổ chức ít nhứt là 5 cuộc hành quân lớn (cấp sư đoàn) tấn công vào các mật khu, căn cứ an toàn, và các trung tâm hậu cần của phe Cộng sản2:

        • Hành quân Attleboro: tại Dầu Tiếng (Tây Ninh), từ ngày 14-9 đến ngày 24-11-1966

        • Hành quân Paul Revere IV: tại Thung lũng Plei Trap (phía Tây Pleiku, gần khu vực ba biên giới), từ ngày 20-10 đến ngày 30-12-1966

        • Hành quân Thayer II: tại Bình Ðịnh, từ ngày 25-10-1966 đến ngày 12-2-1967

        • Hành quân Cedar Falls: trong khuTam Giác Sắt (Bến Cát, tỉnh Bình Dương ), từ ngày 8 đến 26-1-1967

        • Hành quân Junction City: trong Chiến Khu C (Tây Ninh, nơi đóng tổng hành dinh của TUC), từ ngày 22-2 đến ngày 14-5-1967 (đây là cuộc hành quân trực thăng vận Việt-Mỹ lớn nhứt trong Chiến tranh Việt Nam, với tổng số 25.000 quân tham chiến)

        Các cuộc hành quân này, cùng với rất nhiều những cuộc hành quân khác của QLVNCH và các quân đội đồng minh trong thời gian 1966-1967 đã gây thiệt hại rất nặng nề về quân số (cả Việt cộng và Bắc Việt), tổ chức (mật khu, khu an toàn), và hậu cần (lương thực, vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng) của phe Cộng sản. Tổng hành dinh của TUC (COSVN) trong Chiến Khu C phải dời sang lãnh thổ của Kampuchia. Tinh thần cán bộ, binh sĩ Cộng sản bị dao động, sa sút rất nghiêm trọng; điều này thể hiện rất rõ trong các quyển nhật ký của binh sĩ Bắc Việt tịch thu được trong các cuộc hành quân Việt-Mỹ. Số cán binh Cộng sản về hồi chánh cũng gia tăng lên rất nhiều.

        Về mặt an ninh lãnh thổ của VNCH, chương trình bình định (Pacification) trong các vùng nông thôn cũng đang tạo được nhiều thành quả đáng kể từ giữa năm 1967 với những số thống kê như sau:

        • 67% dân chúng sinh sống trong các vùng do chính phủ VNCH kiểm soát

        • 222 quận (trong tổng số 242) được xem là có an ninh

        • 8.650 ấp (trong tổng số 12.600) đã được bình định xong

        Robert W. Komer (1922-2000), đứng đầu Chương trình CORDS (Civil Operations and Revolutionary Development Support) của MACV phụ trách về bình định (gồm cả Chương trình Phượng Hoàng—Phoenix Program—với mục tiêu là tiêu diệt hạ tầng cơ sở của Mặt Trận Giải Phóng—VCI = Viet Cong Infrastructure), đã lạc quan báo cáo về tình hình Chiến tranh Việt Nam cho Tổng Thống Johnson vào ngày 28-2-1967 như sau: “…wastefully, expensively, but nonetheless indisputably, we are winning the war in the South.” 1  (xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “…phí phạm, tốn kém nhưng không thể chối cãi được, chúng ta đang thắng cuộc chiến tại Miền Nam”).

        Cũng trong thời gian này, về phương diện chính trị, VNCH đã vượt qua được thời kỳ hỗn loạn và đã thành công tạo được sự ổn định với Hiến Pháp 1967 đưa đến việc thành lập của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa vào cuối năm 19671.

-----------------
        1. Vietnam War: allied troop levels 1960-73, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.americanwarlibrary.com/vietnam/vwatl.htm

        2. Wirtz, James J., The Tet Offensive: intelligence failure in war. Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1991. (Cornell studies in security affairs). Tr. 42.

        3. Wirtz, James J., sđd, tr. 44.

        4. Lâm Vĩnh Thế, Việt Nam Cộng Hòa, 1963-1967: những năm xáo trộn. Hamilton, Ont.: Hoài Việt, 2010. Chương Mười: Tiến đến nền đệ nhị cộng hòa, tr. 167-205.

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25073


« Trả lời #18 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2020, 08:28:14 pm »


        Tất cả các điều này đã tạo ra cho các cấp lãnh đạo Việt-Mỹ (kể cả các cấp lãnh đạo về tình báo) một tinh thần lạc quan quá trớn đưa đến sai lầm trong nhận định và đánh giá về quyết tâm và khả năng của phe Cộng sản.

        Việc tiến hành cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân đã được lãnh đạo của Ðảng Lao Ðộng Việt Nam quyết định tại Hà Nội trong phiên họp của Bộ Chính Trị vào ngày 7-7-19671, và ngày khởi sự cuộc tấn công đã được định là ngày 29-1-1968, tức là ngày Mùng 1 Tết Mậu Thân, sau đó được dời lại một ngày, là ngày 30-1-1968, tức là Mùng 2 Tết Mậu Thân2. Như vậy, VNCH và Hoa Kỳ đã có một khoảng thời gian gần 7 tháng mà vẫn không tiên đoán được về cuộc tấn công và hoàn toàn bị bất ngờ. Có đúng thật là hệ thống tình báo của VNCH và Mỹ đã hoàn toàn bất lực? Sự thật không phải như vậy. Cả VNCH và Hoa Kỳ đều có nắm được một số tin tình báo về cuộc tấn công này.

        Về phía VNCH, Phòng 2 BTTM QLVNCH đã nhận được một số tin tức và tài liệu của phe Cộng sản như sau3

        • Tháng 3-1967: một tài liệu tịch thu được của Công Trường 5 (tức là Sư Ðoàn 5 của Việt Cộng) về một kế hoạch tấn công vào Sài Gòn.

        • Ðầu tháng 10-1967: tài liệu học tập về Nghị Quyết 13 của Trung Ương Ðảng Lao Ðộng Việt Nam, kêu gọi thực hiện một cuộc tổng tấn công để đạt chiến thắng nhanh chóng.

        • Cũng trong tháng 10-1967: một tài liệu của Chiến Trường B-3 (mật danh của phe Cộng sản để chỉ vùng Cao Nguyên Trung Phần của VNCH), tịch thu được tại Dakto, đề cập đến những chuẩn bị với quy mô lớn cho Chiến dịch Ðông-Xuân 1968.

        • Cuối tháng 11-1967: một tài liệu đề ngày 1-9-1967, với tựa đề “Sứ mạng mới, công tác mới,” đề cập đến một cuộc tấn công lớn cùng với một cuộc tổng nổi dậy của dân chúng với tên tắt là “TCK-TKN” (viết tắt cho cụm từ Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa).

        • Một số tài liệu lẻ tẻ đề cập đến cách tác chiến trong thành phố, một hình thức chiến thuật trước kia không bao giờ được đề cập đến trong các tài liệu tịch thu được.

        Như vậy, rõ ràng là tình báo VNCH có nắm được một số tin về ý đồ của phe Cộng sản cho một cuộc tấn công quy mô lớn vào các thành phố của VNCH. Vậy tại sao các cấp lãnh đạo của hệ thống tình báo VNCH đã không khuyến cáo chính phủ để chuẩn bị đối phó với cuộc tổng tấn công đó khiến cho VNCH hoàn toàn bị bất ngờ. Có hai lý do chính: 1) Cũng cùng tâm trạng lạc quan như các cấp lãnh đạo chính trị và quân sự, giới lãnh đạo tình báo VNCH không tin là phe Cộng sản, trong tình trạng sa sút tinh thần trầm trọng của cán binh và sự thiệt hại nặng nề về vật chất (quân số, tiếp liệu, v.v.) trong các năm 1966-1967, có thể thực hiện nổi một cuộc tổng tấn công như vậy; nhận định và đánh giá của giới tình báo VNCH là: “Địch có ý đồ nhưng không có khả năng.” Giới tình báo VNCH tin rằng ngay như nếu họ có báo động thì các cấp lãnh đạo quân sự cũng sẽ không tin4. 2) Nhận định và đánh giá vừa kể cũng dựa trên tin tưởng là địch vẫn còn trong Giai đoạn 1 của Chiến lược mà họ đã theo đuổi từ lâu. Chiến lược này đã từng được áp dụng rất thành công trong Kháng chiến chống Pháp (1946-1954), nên lại được áp dụng một lần nữa trong cuộc chiến tranh này và gồm 3 giai đoạn: 1) Giai đoạn 1: Phòng ngự, 2) Giai đoạn 2: Chuẩn bị tổng tấn công, và 3) Giai đoạn 3: Tổng tấn công. Giới tình báo VNCH không tin là phe Cộng sản có khả năng tiến thẳng từ giai đoạn 1 sang ngay Giai đoạn 3.

        Về phía Hoa Kỳ, cách nhận định và đánh giá tin của giới tình báo có phần hơi khác với phía VNCH. Thời gian 7 tháng (từ ngày 7-7-1967 cho đến 30-1-1968) có thể chia làm 2 giai đoạn:

        • Từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 11-1967: giới tình báo Hoa Kỳ, đồng quan điểm với giới tình báo VNCH, tin rằng phe Cộng sản vẫn còn trong Giai đoạn 1, nghĩa là không tin vào khả năng hiện thực của cuộc tổng tấn công

        • Từ đầu tháng 12-1967: giới tình báo Hoa Kỳ, dựa trên những tin tức mới, đã tin là kế hoạch tổng tấn công của phe Cộng sản là có thật và họ đã có tiến hành việc chuẩn bị đối phó với cuộc tổng tấn công này.

        Chúng ta cố gắng tìm hiểu xem mọi việc đã xảy ra như thế nào về phía Hoa Kỳ trong giai đoạn từ đầu tháng 12-1967 trở đi.

-----------------
        1. Wirtz, James J., sđd, tr. 140.

        2. Davidson, Phillip B., Vietnam at war: the history, 1946-1975. London, U.K.: Sidgwick & Jackson Limited Publishers, 1988. Tr. 474. Trung Tướng Phillip B. Davidson chính là người đứng đầu J2-MACV (lúc ông còn mang cấp bậc Thiếu Tướng) trong thời gian trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân.

        3. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 146-148.

        4. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 150. Nguyên văn Anh ngữ như sau: “However, our military leaders would not have believed such a probability if they had been warned.” Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Tuy nhiên, nếu chúng ta có báo động về khả năng đó, các lãnh tụ quân sự của chúng ta cũng sẽ không tin.”)
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25073


« Trả lời #19 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2020, 08:33:32 pm »


        Trước hết, trong tháng 12-1967, tình báo Hoa Kỳ đã ghi nhận một số lượng xe vận tải rất lớn di chuyển dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh: 6.313, so với 3.823 trong tháng 11-19671. Cũng trong tháng này, tình báo Hoa Kỳ, cả CIA lẫn J2-MACV, đều ghi nhận việc sử dụng nhiều loại vũ khí mới trong các đơn vị quân Cộng sản, như AK-47, RPG-7 (tức là súng phóng lựu chống xe tăng B-40), súng phóng hỏa. J2-MACV cũng phát hiện một số sư đoàn chủ lực của Bắc Việt, là các Sư Ðoàn 2, Sư Ðoàn 325, và Sư Ðoàn 304 (Sư Ðoàn 304 là sư đoàn đã từng tham gia trận Ðiện Biên Phủ vào năm 1954) tập trung lại chung quanh căn cứ Khe Sanh trong Vùng I. Tất cả những diễn tiến này khiến cho Tướng Westmoreland, Tư Lệnh MACV, tin rằng phe Cộng sản sẽ đánh lớn tại Vùng I và cuộc tấn công này sẽ xảy ra trong tháng 1-1968. Ông cũng nghĩ rằng phe Cộng sản cũng sẽ tấn công khắp lãnh thổ VNCH nhưng đó chỉ là nghi binh, để đánh lừa vì mục tiêu chính của cuộc tổng tấn công này sẽ là tại Vùng I, dọc theo Khu Phi Quân Sự, với trọng điểm là chung quang căn cứ Khe Sanh, và ông cũng không tin là phe Cộng sản sẽ tấn công vào Thủ đô Sài Gòn, và vì vậy ông đã đồng ý giao lại trách nhiệm bảo vệ Sài Gòn từ một đơn vị Hoa Kỳ cho Liên Ðoàn 5 Biệt Ðộng Quân của QLVNVCH tại một buổi lễ vào ngày 20-12-1967. Sau đó, ông đích thân bay ra Vùng I để thị sát và thảo luận với Thiếu Tướng Robert E. Cushman, Jr., Tư Lệnh Lưc Lượng Thủy Bộ số 3 của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (3rd Marine Amphibious Force, 3rd MAF), về việc phòng thủ dọc theo Khu Phi Quân Sự mà nếu cần, ông sẽ cho tăng cường thêm cả Sư Ðoàn 1 Kỵ Binh Không Vận (1st Cavalry Division, phe Cộng sản thường gọi là Sư Ðoàn 1 Anh Cả Ðỏ) 2. Sự tin tưởng về trọng điểm của cuộc tổng tấn công sắp đến của phe Cộng sản của Tướng Westmoreland xuất phát từ suy nghĩ của ông về Chiến tranh Việt Nam và dựa trên kết quả của các chiến lược mà ông đã áp dụng: “lùng và diệt địch” (search and destroy), và “hao mòn” (attrition) từ năm 1965. Ṓng tin rằng Bắc Việt quyết lòng đánh bại chiến lược tạo ra phòng tuyến bao che (shield strategy) mà ông đã xây dựng dọc theo biên giới của VNCH và đặc biệt là dọc theo phía Nam Khu Phi Quân Sự (vĩ tuyến 17) để ngăn chận sự xâm nhập của quân Bắc Việt vào Miền Nam. Căn cứ quan trọng của lực lượng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ tại thung lũng Khe Sanh đóng một vai trò khá giống căn cứ Ðiện Biên Phủ của Pháp vào năm 1954.

        Ngày 30-12-1967, Ngoại Trưởng Bắc Việt Nguyễn Duy Trinh tuyên bố tại một buổi tiếp tân của Bộ Ngoại Giao tại Hà Nội là việc ngưng oanh tạc Bắc Việt sẽ đưa đến thương thuyết giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt. Ðây là một thay đổi quan trọng trong lập trường của Bắc Việt về thương thuyết vì trước kia họ chỉ nói là việc Hoa Kỳ ngưng oanh tạc có thể đưa đến việc thương thuyết. Ðiều này càng củng cố thêm sự tin tưởng của Tướng Westmoreland là Bắc Việt (qua sắp xếp của Tướng Võ Nguyên Giáp) đang tìm cách chơi lại ván bài mà họ đã chơi và thắng trong Hội Nghị Genève năm 1954, với Khe Sanh sẽ đóng vai trò Ðiện Biên Phủ trong ván bài lần này. Hai hôm sau, ngày 1-1-1968, Ðài Phát Thanh Hà Nội lập lại lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Trinh, cho thấy đây quả thật đã trở thành lập trường chính thức của Bắc Việt.

        Qua tháng 1-1968, rõ ràng có những hoạt động của quân Bắc Việt nhắm vào Khe Sanh. Vào đêm 2-1-1968, TQLC Mỹ đi tuần tra đã bắn chết một số quân Bắc Việt (trong số này phát hiện có một sĩ quan Trung Ðoàn Trưởng) đang thám thính gần căn cứ hỏa lực tại Khe Sanh. Tướng Cushman tin rằng đó là bằng cớ chứng tỏ quân Bắc Việt sẽ tấn công Khe Sanh.

        Vì định kiến này, các cấp lãnh đạo tình báo và quân sự Hoa Kỳ đã coi nhẹ và bỏ qua rất nhiều tin tức liên quan đến các hoạt động quân sự của phe Cộng sản nhằm chuẩn bị cho cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân trong tháng 1-1968 như các vụ sau đây3:

        • Ngày 3-1-1968, J2-MACV đã có báo cáo về việc khám phá vụ chôn dấu vũ khí của Việt Cộng trong một nghĩa địa trong vùng ngoại ô Sài Gòn.

        • Ngày 4-1-1968, QLVNCH khám phá một hầm chôn dấu vũ khí quan trọng tại Ðịnh Tường (Vùng IV), trong số này có cả 55 quả đạn bích kích pháo 55mm là loại vũ khí chưa từng được VC sử dụng trong Vùng IV; sau đó một cán bộ VC chỉ huy một đại đội vận tải bị bắt đã khai báo và hướng dẫn QLVNCH tìm thêm được 41 địa điểm chôn dấu vũ khí nữa trong vùng.

        • Cũng trong ngày 4-1-1968, J2-MACV đã có báo cáo về việc một toán đặc công VC toan xâm nhập vào khu vực tổng hành dinh của MCV tại Tân Sơn Nhất bằng cách xin công việc làm tại sân bay.

        • Ngày 5-1-1968, J2-MACV cũng có báo cáo về một tài liệu tịch thu được tại Pleiku mang tựa đề “Lệnh Tác Chiến Khẩn Cấp Số 1”; ngoài kế hoạch tấn công Pleiku, tài liệu còn bao gồm cả chỉ thị cho cán bộ trong việc kêu gọi dân chúng nổi dậy.

        • Ngày 9-1-1968, tình báo Mỹ cũng tịch thu được một tài liệu trình bày việc tổ chức lại hệ thống chỉ huy của VC.

---------------------
        1. Wirtz, James J., sđd, tr. 181.

        2. Wirtz, James J., sđd, tr. 186.

        3. Wirtz, James J., sđd, tr. 191-193.

Logged

Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM