Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 01 Tháng Mười, 2020, 07:19:24 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tiểu đoàn bốn người  (Đọc 863 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2020, 08:05:33 am »

Ephim Đưrsơ, anh chàng khổng lồ, là pháo thủ từ chiến hạm «Công xã Pari» cũng sa vào cái tình trạng khó sử như vậy. Đôi giầy cỡ bốn mươi tám của anh đã rách toác và anh đành dấu bàn chân kếch sù của mình vào đôi giầy bọc buộc khéo éo vào bắp chân bằng đôi sà cạp bộ đội. Trước hôm tôi đến đây, đồng chí bí thư khu ủy biết tin về tai họa này nên đã gửi tôi một đôi ủng cỡ to đặc biệt và trong đôi ủng đó, cứ như trong hộp đựng, có một đôi ủng khác nhỏ xíu, và luôn cả hai bộ quân phục theo đúng cỡ người. Ephim và «Tatian» bây giờ trở nên giống nhau như chiếc chiến hạm thật và mô hình của nó, chỉ có cái là rất muốn sao cũng làm nhỏ đi những quả lựu đạn, những khẩu súng lục nặng chĩu trên cái thân hình nhỏ bé của cô gái.

Đó không phải là những thứ trang sức. Đã nhiều lần Tatiana kiễng chân lên ném lựu đạn vào bọn phát xít bắn súng máy và những viên đạn khẩu súng lục parabellum (chiến lợi phẩm của cô) cũng đã quật ngã nhiều tên địch. Với giọng nói trong trẻo của người miền Nam, cô đã kể cho tôi nghe những điều cô thấy ở làng Beliaepca trước lúc cô ra đi, khi ấy đôi mắt trong sáng của cô thẫm lại, giọng nói trở nên đứt quãng, và lòng căm thù giặc sôi lên trong cô buộc tôi phải quên bẵng đi rằng đây chỉ là một cô gái, hầu như còn là một em bé.

Cô không thích nói đến chuyện này. Thường thường cô thích trèo lên ổ rơm ngồi cùng cái nhóm lính thủy sôi nổi này để pha trò, hát những bài hát vui nhộn hay những câu vè. Trong những tuần lễ đầu, tính hoạt bát của cô đã làm vài chàng trinh sát tưởng bở. Tấn công trước tiên là anh chàng tín hiệu viên trên tàu «Nhanh trí» — cựu công nhân cơ khí điện ảnh, một chàng trai si tình của huyện lỵ. Nhưng ngay chiều hôm ấy anh ta đã được Ephim Đưrsơ gọi ra và giơ cho xem quả đấm khổng lồ.

— Mày làm cái thớ gì thế? — Ephim hỏi nhỏ. — Mày cho cô ta là người thế nào — là cái bật lửa hay là người lính? Mày định làm xấu mặt ai? Làm xấu mặt toàn tiểu đội à... Bận sau phải cho tử tế với cô ấy. Rõ chứ? Nhắc lại đi!

Nhưng đối với những người khác thì không cần dùng đến biện pháp này. Cái tiểu đội lính thủy tinh nghịch và yêu đời, đêm nào cũng đùa với cái chết ấy đã nâng niu cô gái trong những bàn tay khỏe mạnh và hơi thô kệch của mình một cách nhẹ nhàng, âu yếm như một bông hoa, bảo vệ cô khỏi những viên đạn của quân thù và che chở cô khỏi những lời nói đùa sỗ sàng thô lỗ, khỏi những điều xúc phạm và sự quấy rầy.

Trong đó, tất nhiên, có yếu tố của lòng quí mến chung đối với cô, nếu như không nói thẳng là của tình yêu. Khi bóng ma chết chóc có thể bất kỳ lúc nào ập đến thì con người ta thường tìm kiếm sự ấm áp của trái tim người khác. Tâm hồn cũng trở nên lạnh lùng khi thường xuyên giáp mặt với cái chết và nó thèm khát đòi hỏi tình bạn, tình yêu. Tôi đã nhìn thấy không biết bao nhiêu cái hôn rất chặt của những người đàn ông vào những phút trang nghiêm và xúc động của buổi chia tay trước chuyến bay chiến đấu, lúc ra biển hay đi trinh sát. Tôi cũng đã nhìn thấy những giọt lệ trong khóe mắt của những người lính dũng cảm, những giọt nước mắt chia ly — sự yếu đuối kiêu hãnh của tâm hồn quân nhân cao thượng. Long lanh trên hàng mi, những giọt nước mắt ấy không rơi xuống boong tầu, không giỏ lên mặt cỏ phi trường hay sàn cát của chiến hào, mà những giọt nước mắt bị ý chí kìm lại ấy lắng sâu vào lòng mắt thành những giọt nóng bỏng, nặng nề rơi vào trong tâm hồn người lính, làm nó khô đi và trở nên tàn nhẫn trong trận chiến đấu quyết tử với kẻ thù. Tình yêu biến thành lòng căm thù giặc, tình bạn thành cơn thịnh nộ, sự dịu dàng thành sức mạnh. Nước mắt người lính thật đáng sợ và kẻ nào gợi lên những giòng nước mắt ấy kẻ đó hãy đừng đợi sự sót thương!

Sau câu chuyện, ngay đêm ấy, những người trinh sát ra đi làm nhiệm vụ và buổi sáng hôm sau tôi đã thấy những giọt nước mắt như vậy: cô Tatiana không quay trở lại.

Ngay hỏa tuyến anh em trinh sát đã gặp phải một ổ liên thanh bố trí trên đỉnh một ngọn núi dốc. Khẩu liên thanh này không hiểu ở đâu từ phía trên cứ bắn vào trong đêm và không có cách nào từ phía bên mò tới chỗ nó được. Những người lính thủy đành trèo lên núi, ra lệnh cho cô phải đợi họ ở dưới.

Có lẽ tên bắn súng máy phát hiện ra những người trinh sát đang bò lên núi trong đêm tối: đạn dội đến như mưa vào sườn núi. Anh em lính thủy nép mình xuống mặt đất, nhưng đường đạn ngày càng đến gần họ. Tên phát xít dùng liên thanh quét dọc sườn núi. Bỗng nhiên một tia lửa chớp lên sáng lóe ở bên phía dưới chân núi. Chiếc pháo sáng xé màn đêm phóng thẳng về phía đỉnh núi, rồi phát thứ hai, phát thứ ba. Anh em lính thủy sửng sốt: Tatiana giữ khẩu súng bắn pháo hiệu. Có lẽ cô gái định dùng cái phương pháp đã được kiểm nghiệm để giúp các bạn: bắn pháo sáng liên tục vào đối phương làm cho nó chói mắt. Nhưng phương pháp này chỉ hiệu quả khỉ hỏa điểm địch ở gần và khi những người đồng đội có thể nhanh chóng nhảy đến dùng lựu đạn tiêu diệt nó. Bây giờ thì Tatiana đã bị lộ.

Giống như cơn bão, nhóm thủy quân đứng phắt dậy, chạy thẳng lên đỉnh núi để diệt tên phát xít trước lúc hắn tìm ra Tatiana theo những phát pháo sáng của cô. Bây giờ luồng đạn bay cả về phía cô tìm tới cái người đã để lộ mình trong màn đêm dày đặc. Cơn thịnh nộ làm tăng thêm sức mạnh cho những người lính thủy và chỉ một phút sau tên phát xít đã rống lên vì bị lưỡi lê cắm phập vào lưng. Mọi người vừa bò xuống vừa ngạc nhiên là họ đã leo được lên đến đây. Họ đi tìm kiếm khắp sườn núi mà chẳng thấy Tatiana đâu cả.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2020, 08:06:29 am »

Những tràng đạn cuồng loạn của khẩu liên thanh ban nãy đã đánh thức cả hỏa tuyến. Súng nổ tứ tung, rồi có cả tiếng đại bác. Ban ngày ở chỗ này không có nơi nào ẩn náu được cả vì toàn bộ sườn núi rõ như lòng bàn tay. Ở đâu dưới những phiến đá có một hang ngầm mà chỉ có Tatiana là biết lối cửa vào. Trời bắt đầu sáng, cần phải rút đi.

Ngày hôm ấy trôi qua một cách nặng nề. Ephim Đưrsơ đêm trước lại đi làm một nhiệm vụ khác. Bây giờ anh ngồi im lặng mắt đăm chiêu nhìn vào một điểm. Bàn tay to lớn của anh nắm chặt lại và anh nhìn mọi người nói với một giọng khàn khàn:

— Cô gái như thế mà để thiệt mạng... Cũng là lính thủy!..

Rồi anh đứng dậy đi gặp đại úy báo cáo ý kiến về cuộc đột kích cần tiến hành đêm nay và ở đấy anh gặp những người cùng đến với mục đích như vậy. Mặt trời đã ngả về chiều, tôi bước ra khỏi căn nhà và thấy Ephim ngồi một mình trong vườn.

Anh ngồi gục đầu vào đầu gối và cái thân hình to lớn của anh rung lên thầm lặng. Có lẽ nên để anh ngồi yên: đôi lúc người ta cảm thấy dễ chịu hơn khi ngồi một mình. Nhưng nỗi đau thương của anh thật đáng sợ và tôi ngồi xuống cạnh bên anh.

Anh ngẩng mặt lên. Anh khóc thật xấu xí, giống như đứa trẻ, lấy bàn tay chùi nước mắt và lau nước mũi. Thấy tôi đến, anh mừng vì có người để thổ lộ tâm tình. Pha lẫn tiếng Ucren và tiếng Nga, anh kể cho tôi nghe về cô Tatiana, và tìm những chữ dịu dàng, kỳ diệu để tỏ tình yêu của mình đối với cô — một mối tình trong sạch, giản dị và kiên nhẫn. Anh nhớ lại những câu đùa, cái nhìn nhanh nhẹn và giọng nói của cô. Dần dần trước mắt tôi, như một bông hoa đang nở, xuất hiện một cô gái dịu hiền, đồn hậu, nhậy cảm và dễ thẹn, chẳng giống với cô gái «Tatian — trinh sát viên» một tí nào. Và thật khó hiểu làm thế nào mà chính cô gái đó đêm qua đã nhận lấy ngọn lửa liên thanh về phía mình để giúp đồng đội tiến lên đỉnh núi.

Anh muốn biết rằng cô gái còn sống và sẽ sống. Tất cả những gì anh đã giữ kín trong mình để khỏi làm tổn thương đến tình bạn chiến đấu, bây giờ trào cả ra trong lời thú nhận thiết tha. Anh chưa bao giờ nói một điều gì với Tatiana «để khỏi làm khuấy động tâm hồn cô trong lúc cô đang chiến đấu», anh đã mang mối tình của mình cho đến ngày chiến thắng, cho tới lúc «Tatian» lại trở thành cô Tatiana. Nhưng niềm mơ ước cứ sôi sục trong lòng anh và anh tưởng tượng thấy căn nhà tranh vùng bờ sông Đơnhep, anh thấy Tatiana trong căn nhà ấy, và hạnh phúc, và những đêm trăng trong vườn và cuộc nhảy múa vui vẻ trong ngày cưới...

Đồng chí đại úy gọi anh. Ephim đứng dậy bước đi những bước rắn chắc vào nhà.

Chiều tối anh cùng năm người trinh sát viên đi về phía núi. Chúng tôi không ngủ chờ đợi anh.

Đến sáng những người trinh sát đem theo Tatiana trở về. Cô bị thương vào ngực và bị ngất đi vào lúc bò vào hầm đá. Cô nằm ở đây mất cả ngày. Gần chiều cô mới tỉnh dậy. Trong cái bóng tối trước cửa hầm thấy thấp thoáng bóng người và giọng nói lạ. Cô nổ súng. Bây giờ cô không nhớ là cô đã cầm cự ở chiếc cửa vào hầm đá đó bao nhiêu lâu. Cô nã súng vào từng chiếc bóng xuất hiện ở cửa hầm. Hết đạn. Cô để lại một viên cho mình. Sau đó cô nghe thấy một tiếng nổ lớn ở cửa hầm và lại ngất đi.

Đấy là tiếng lựu đạn của Ephim Đưrsơ nổ. Khi đến gần núi, bỗng nghe thấy tiếng súng nổ, anh vượt lên trước đồng đội và như một con gấu hung dữ, bất chấp mọi chướng ngại vật, anh xông thẳng tới nơi có tiếng súng. Từ phía trên một tên phát xít cầm tiểu liên bắn xuống chặn đường anh. Ephim đứng thẳng dậy để nhìn xem có chuyện gì đang xảy ra ở dưới vách đá: anh thấy một lối vào hầm đá tối mù và cạnh đấy có ba, bốn xác chết cùng hàng chục tên phát xít đang bắn vào cửa hầm. Anh ném luôn lựu đạn đến, quả thứ hai, quả thứ ba rồi muốn ném luôn quả thứ tứ nữa, nhưng lúc ấy đạn của tên địch xuyên vào đùi trái, sườn và cánh tay anh. Ephim ngã xuống, anh bám vào cỏ chậm chạp trượt xuống rìa vực.

Bây giờ, khi anh em đồng đội khiêng anh trên cáng thì giữa những ngón tay to lớn của anh còn có một bông hoa trắng mà anh đã bám lấy để khỏi tụt xuống sườn núi dốc.

Anh ngẩng nhìn tôi khẩn khoản:

— Nèu tôi chết thì anh đừng nói chuyện gì cho cô ấy biết nhé... Còn nếu tôi sống, tôi sẽ tự nói.

Anh nhắm mắt lại, và những người trinh sát nâng chiếc cáng với cái thân hình nặng nề của người pháo thủ từ chiến hạm «Công xã Pari» lên một cách vất vả.

1942
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2020, 08:08:44 am »

NÚT THẮT TÔPÔ

I

Tàu «Cường tráng» làm một công việc tầm thường hàng ngày: luôn luôn chất đầy lên tận ống khói nào thùng, nào sọt, nào hòm gỗ, nó chở tới Lêningrat, tới các đồn lính, tới Oranienbaum những thứ khác nhau. Những ngày cuối thu, chiếc mũi nhọn hoắt và cao lênh khênh của nó cứ chồm lên những tảng băng, tiến một cách hăng hái và kéo sau những sà lan và bè. Cũng có lúc nó ì ạch ở vũng tàu để xoay vần cái thân hình khổng lồ của chiếc thiết giáp hạm, nhưng trong công việc này thì nó cần sự giúp sức của cả tàu «Hùng cường» lẫn tàu «Hùng dũng», vì sức mạnh của «Cường tráng» chung quy chỉ là ở cái tên gọi thôi: thực ra, nó là một chiếc tàu kéo ở cảng loại bán phá băng, nó là một anh thợ khéo tay lầm lì và cẩn cù lao động.

Thế mà Grigôri Prôkhôrưch, người thuyền trưởng kỳ cựu của «Cường tráng» cũng rất bực mình khi vào đúng dịp đầu mùa công việc, cánh thợ sơn của cảng lại đi sơn mất cái tên gọi kiêu hãnh «Cường tráng» mà viết lên thân tàu những ký hiệu chẳng có nghĩa lý gì cả «CC-16», muốn để người ta hiểu là «tàu kéo số 16 cảng Crônstat». Grigôri Prôkhôrưch phản đối bằng cách xin anh em thợ sơn ít sơn cùng mầu, tự tay viết lại tên gọi «Cường tráng» lên cả bốn chiếc phao bảo hiểm và những thùng cứu hỏa.

— Sêsê, sêsê!.. Sêsê là cái nghĩa gì, lại còn thứ mười sáu nữa chứ? Đã là tàu biển thì phải có danh hiệu chứ không phải có số thứ tự, — trong bữa uống chè vào buổi tối ông than vãn với người bạn của mình là bác thợ máy Đrôdơđôp mà ông vẫn thường trang trọng gọi là «thợ máy cả». Cả hai đều là những người cựu thủy thủ Bantich, đều tự nguyện phục vụ trên tàu «Cường trảng», phục vụ vẹn toàn và kiên trì đúng chục năm, cả hai đều đẫy người, nghiêm tính và vào giờ rỗi thường hay uống chè với một lượng mà không ai có thể sánh kịp.

— Cái thứ ấy mà cũng lả tàu biển à?—ông bạn vừa trả lời vừa cắn miếng đường dòn tan. — Bác Grigôri Prôkhôrưch ơi, tôi với bác hết thời đi tàu biển rồi... Thứ này là đàn banđura(1), chứ tàu biển gì...

Thế là cuộc tranh luận đã có một lịch sử lâu đời, lại bắt đầu. Đrôdơđôp là người thẳng tính và hay nói đùa, thích trêu ông thuyền trưởng, con người ưa gọi chiếc tàu kéo của mình là tàu biển, ưa đề ra kỷ luật quân sự trên tàu và giáo dục đám thanh niên, nhất là Vaxia Jỉlin, chàng thanh niên hay trêu chọc người phố Crônstat, phải biết quý cái boong tàu sạch sẽ; còn đối với «người thợ máy cả» của minh thì ông dứt khoát yêu cầu phải làm sao cho «Cường tráng» không được phì khói như tàu hỏa trong lúc chạy mà phải không có khói theo đúng như quy định cho tàu biển quân sự vậy.

Việc đổi tên tàu làm cho Grigôri Prôkhôrưch đau khổ hơn là Đrôdơđôp có thể tưởng tượng. Nếu đối với các thuyền trưởng khác, tàu «Hùng cường», tàu «Hùng dũng» và những loại tàu kéo tương tự mà do ý muốn của cảng đã biến thành những «cc» có số, chẳng qua chỉ là một nơi công tác không lấy gì làm yên tĩnh lắm, thì tàu «Cường tráng» đối với ông Grigôri Prôkhôrưch là tàu biển. Mà khái niệm «tàu biển» ấy, suốt hơn ba chục năm trời phục vụ trong hải quân, Grigôri Prôkhôrưch đã quen hiểu theo một nghĩa rất lớn.

Nhưng cố mà hỏi cho rõ tàu biển đối với ông có nghĩa lý gì thì thật cũng vô ích và tàn nhẫn như đòi hỏi ở người mẹ sự giải thích rằng đứa con đối với bà là cái gì và vì lý do nào mà bà ta hết lòng tin con bà là đứa tốt nhất, đẹp nhất, danh giá nhất và thông minh nhất, hơn cả những đứa trẻ khác.

Đối với ông thì tàu biển chính là ý nghĩa và nội dung cuộc sống. Có lẽ cái câu chung chung ấy truyền đạt được đúng hơn cả những gì đã buộc ông nhiều lúc phải hy sinh cả sức khỏe, hiến dâng tất cả sức lực và tình cảm cho con tàu, truyền đạt được điều gì đã buộc ông suốt hai chục năm liền, sáng nào cũng dậy sớm hơn giờ báo thức xem xét boong tàu, xuồng và lớp sơn để dự kiến phải làm việc gì trước trong ngày sao cho tàu luôn lộng lẫy, chỉnh tề, sạch sẽ và huy hoàng, vì suốt hai chục năm trời Grigôri Prôkhôrưch đã là đội trưởng đội thủy thủ: mới đầu ở trên tuần dương hạm sau đó trên tàu biển tập và cuối cùng tại thiết giáp hạm.

Cứ mỗi lần chuyển từ tàu này sang tàu khác, mỗi lần tình cảm của ông lại phải thay đổi như nhau.


(1) Một loại đàn dân tộc Ucren. ND.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2020, 08:09:40 am »

Ban đầu là nỗi cay đắng sót sa do sự chia tay với đội thủy thủ mà ông đã từng chung sống, do ông mất đi những người bạn, những người học trò, mà ông để lại trong họ một phần bản thân mình, do vĩnh biệt với boong tàu nơi mà mỗi góc đối với ông là một lịch sử, với những chiếc xuồng mà ông đã bỏ nhiều công sức của người đội trưởng để làm nó bơi được nhanh và có một màu trắng huy hoàng. Nỗi cay đắng chia tay ấy được thay thế bằng sự thiếu tin tưởng và không bằng lòng với chiếc tàu biển mới và đội thủy thủ của nó, vì cái gì cũng lạ, cái gì trông cũng khác, mọi người đều không quen, không biết dựa vào ai, và khắp nơi đều đòi hỏi phải để mắt tới: cái phanh dây neo lại ngoạm lệch những mắt xích, guồng quay thì rít sịt, còn những chiếc xuồng thì thô kệch như những chiếc thuyền đánh cá.

Nhưng sức mạnh của cái khái niệm «tàu biển của mình» khiến cho tất cả mọi thứ đều mau chóng biến đổi một cách diệu kỳ: phanh dây neo trở nên chắc chắn nhất, những chiếc xuồng trở nên xinh xắn nhất và chạy nhanh nhất trong toàn hạm đội, và trong đội thủy thủ hóa ra là có những người thợ mộc hay những anh thợ sơn khéo tay, mà không loại tàu biển nào có được. Và mỗi khi đứng trên bến hoặc từ ca-nô nhìn lên chiếc tàu biển mới cách đây không lâu còn là xa lạ kia thì một niềm tự hào quen thuộc lại tràn ngập trái tim ông. Còn chiếc tàu cũ, biến thành một hình ảnh xa mờ và thân yêu, nó lắng xuồng chiếu sâu của tâm hồn và trí nhớ như một tỷ dụ vô song của cái gì tốt đẹp nhất, nhanh nhẹn nhất và thông minh nhất: «Trên tàu «Dũng sĩ» của chúng tôi hạ xà ngang(1) chỉ mất có nửa phút, mà những thanh xà ngang ấy mới tuyệt làm sao chứ!» Và tiếng còi của đội trưởng làm cho sức kéo của những cần cẩu và những dây kéo cột buồm có một nhịp điệu mạnh phi thường, và những thân gỗ to lớn cùng dựng lên một lúc như những chiếc cánh dài, chỉ sau nửa phút là đã áp chặt vào thành cao của tàu «Hải dương» cũng giống hệt như ở tàu «Dũng sĩ». Duy chỉ mỗi khi gặp lại tàu cũ ở ngoài khơi hay đứng cạnh nhau trên bến thì Grigôri Prôkhôrưch nhìn nó một cách ghen tuông, ông cố tìm những đường nét quen thuộc thân yêu và, theo thói quen, ông nhìn kiểm tra xem xuồng của nó đã được buộc chặt chưa và những đầu dây có thò ra dưới tấm vải bọc không.

Có lẽ để giải thích sự gắn bó của Grigôri Prôkhôrưch với tàu chiến, với cái ngăn nắp, trật tự, với sức mạnh và sự sạch sẽ của nó thì dễ hơn cả là bằng tình yêu riêng của ông với con tàu. Nhưng điều kỳ lạ là tất cả những chiếc tàu mà đã được ông hiến dâng cho một phần trái tim mình trong những năm phục vụ kia, lại hòa hợp nhuần nhuyễn với nhau thành một khái niệm chung là tàu biển.

Chính khái niệm đó đã buộc ông cùng sáu người thủy thủ Bantich, cũng già như ông, bỏ chiếc tuần dương hạm tin cậy và thân yêu lại Genxinphooc để xách một chiếc va-li nhỏ có bánh mì, ít đồ hộp cùng vài thứ dụng cụ gì đó, sang ngư lôi hạm «Xung phong». Ngư lôi hạm này hầu như không còn thủy thủ mà bọn phát xít thì đã tiến đến gần thành phố và toàn hạm đội phải cấp tốc rút qua lớp băng dầy đặc về Crônstat chứ không thể hy vọng vào sự bảo đảm hão huyển của những điểm ký kết trên tờ giấy của bản hòa ước được, Tàu «Xung phong» đỗ ở bến phía Nam nằm ngay trong thành phố. Nó nép sát vào thành bến và cả bốn khẩu súng trên mình nó đều dựng ngược lên giống như đám lông trên lưng mệt con chó con dũng cảm sẵn sàng xông vào trận đấu, mặc dầu trận đấu ấy không hứa hẹn với nó một điều gì tốt đẹp, — những người thủy thủ đầy nhiệt huyết còn lại trên ngư lôi hạm sẵn sàng nhả đạn ngay vào bọn phát xít mà không cần suy nghĩ gì, nếu như chúng dám đụng đến lá cờ đỏ đang phấp phới trên cột cờ cắm ở đầu lái chiến hạm bất lực này.

Những người hải quân từ tuần dương hạm đến, trong đó có một người của ban chỉ huy toàn Bantích, đã giải thích cho anh em thủy thủ tàu «Xung phong» rằng không được nổ súng vì dù sao đi nữa vẫn là hòa bình. Nhưng dù thế nào thì cũng phải rút lui. Vấn đề này sinh ra biết bao nhiêu là việc: số người trên ngư lôi hạm có thể đếm trên đầu ngón tay được, máy móc đều mệt mỏi sau ba năm tuần tiễu và những trận phong ba, trong số thủy thủ cũ chỉ có một sĩ quan phá mìn ở lại tàu. Thế mà «Xung phong» chỉ trong một đêm đã nhận đù than, chữa chạy xong máy và nồi hơi và ngay ngày hôm sau, khi tiếng súng của bọn Đức đì đẹt nổ ở Explanađa sát bên bến tàu đậu thì nó đã nhổ neo tiến vào bãi băng.

Suốt mười bốn ngày đêm liền, nó lặn lội trong bể băng tuyết, nó len lỏi những đường nứt ngoằn ngoèo trên mặt băng do tàu đi qua để lại. Nhờ gặp chiếc tàu tải kéo, nên nó được nghỉ ngơi hai ngày. Đến ngày thứ ba thì chúng đuổi kịp tàu «Cảnh giác» đang bị mắc trong băng, phần mũi phá băng dài của nó bị bẻ chẹo hẳn sang một bên và cả hai chân vịt đều bị gẫy. «Xung phong» đành nhường tàu kéo cho nó và lại lặn lội một mình. Đôi lúc những tảng băng ép lại làm những thành yếu ớt của ngư lôi hạm bị kẹp giữa bãi băng mênh mông kêu răng rắc. Đối với bãi băng ấy thì việc bóp bẹp tàu khác nào như việc dùng cánh cửa để làm dập khúc xương gà non. Prôkhôrưch chạy xuống hầm tàu, ông đặt tay vào miếng thép chỗ nối đang rung lên và qua đấy ông cảm thấy sức ép nặng nề của băng. Đành phá hết xuồng lấy gỗ để củng cố sườn tàu và thất vọng rút ra khỏi rãnh băng lạnh buốt và phản bội cứ cố bóp bẹp tàu lại này. Có lần, cũng vì thế mà tàu bị gẫy mất chân vịt bên phải. Tàu vẫn tập tễnh chạy bằng một chân nó vẫn cứ đi, đi mãi về phía trước, về Crônstat thân yêu. Thế mà khi đã về gần đến Gogơlanđơ thân tàu vẫn bị một tảng băng nhọn đâm thủng vào buồng máy bên phải và bốn ngày đêm liền Prôkhôrưch đã đứng trong nước lạnh cóng ngập đến đầu gối để cùng những người khác thay phiên nhau bơm nước tràn qua những khe thủng của miếng vá do họ vừa vội vã làm xong ra khỏi tàu. Từ đấy bệnh thấp khớp thấm vào ông và cứ mỗi lần giở trời lại làm ông đau phát khóc, nó không để ông đi lại nhanh nhẹn như hồi ông còn trên boong tàu kia nữa, khi còn là đội trưởng đội thủy thủ.


(1) Xà ngang — một thân gỗ đặt ngang thường được thả xuống thành tàu để buộc xuồng. BT.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2020, 08:10:49 am »

Ban đầu là nỗi cay đắng sót sa do sự chia tay với đội thủy thủ mà ông đã từng chung sống, do ông mất đi những người bạn, những người học trò, mà ông để lại trong họ một phần bản thân mình, do vĩnh biệt với boong tàu nơi mà mỗi góc đối với ông là một lịch sử, với những chiếc xuồng mà ông đã bỏ nhiều công sức của người đội trưởng để làm nó bơi được nhanh và có một màu trắng huy hoàng. Nỗi cay đắng chia tay ấy được thay thế bằng sự thiếu tin tưởng và không bằng lòng với chiếc tàu biển mới và đội thủy thủ của nó, vì cái gì cũng lạ, cái gì trông cũng khác, mọi người đều không quen, không biết dựa vào ai, và khắp nơi đều đòi hỏi phải để mắt tới: cái phanh dây neo lại ngoạm lệch những mắt xích, guồng quay thì rít sịt, còn những chiếc xuồng thì thô kệch như những chiếc thuyền đánh cá.

Nhưng sức mạnh của cái khái niệm «tàu biển của mình» khiến cho tất cả mọi thứ đều mau chóng biến đổi một cách diệu kỳ: phanh dây neo trở nên chắc chắn nhất, những chiếc xuồng trở nên xinh xắn nhất và chạy nhanh nhất trong toàn hạm đội, và trong đội thủy thủ hóa ra là có những người thợ mộc hay những anh thợ sơn khéo tay, mà không loại tàu biển nào có được. Và mỗi khi đứng trên bến hoặc từ ca-nô nhìn lên chiếc tàu biển mới cách đây không lâu còn là xa lạ kia thì một niềm tự hào quen thuộc lại tràn ngập trái tim ông. Còn chiếc tàu cũ, biến thành một hình ảnh xa mờ và thân yêu, nó lắng xuồng chiếu sâu của tâm hồn và trí nhớ như một tỷ dụ vô song của cái gì tốt đẹp nhất, nhanh nhẹn nhất và thông minh nhất: «Trên tàu «Dũng sĩ» của chúng tôi hạ xà ngang  chỉ mất có nửa phút, mà những thanh xà ngang ấy mới tuyệt làm sao chứ!» Và tiếng còi của đội trưởng làm cho sức kéo của những cần cẩu và những dây kéo cột buồm có một nhịp điệu mạnh phi thường, và những thân gỗ to lớn cùng dựng lên một lúc như những chiếc cánh dài, chỉ sau nửa phút là đã áp chặt vào thành cao của tàu «Hải dương» cũng giống hệt như ở tàu «Dũng sĩ». Duy chỉ mỗi khi gặp lại tàu cũ ở ngoài khơi hay đứng cạnh nhau trên bến thì Grigôri Prôkhôrưch nhìn nó một cách ghen tuông, ông cố tìm những đường nét quen thuộc thân yêu và, theo thói quen, ông nhìn kiểm tra xem xuồng của nó đã được buộc chặt chưa và những đầu dây có thò ra dưới tấm vải bọc không.

Có lẽ để giải thích sự gắn bó của Grigôri Prôkhôrưch với tàu chiến, với cái ngăn nắp, trật tự, với sức mạnh và sự sạch sẽ của nó thì dễ hơn cả là bằng tình yêu riêng của ông với con tàu. Nhưng điều kỳ lạ là tất cả những chiếc tàu mà đã được ông hiến dâng cho một phần trái tim mình trong những năm phục vụ kia, lại hòa hợp nhuần nhuyễn với nhau thành một khái niệm chung là tàu biển.

Chính khái niệm đó đã buộc ông cùng sáu người thủy thủ Bantich, cũng già như ông, bỏ chiếc tuần dương hạm tin cậy và thân yêu lại Genxinphooc để xách một chiếc va-li nhỏ có bánh mì, ít đồ hộp cùng vài thứ dụng cụ gì đó, sang ngư lôi hạm «Xung phong». Ngư lôi hạm này hầu như không còn thủy thủ mà bọn phát xít thì đã tiến đến gần thành phố và toàn hạm đội phải cấp tốc rút qua lớp băng dầy đặc về Crônstat chứ không thể hy vọng vào sự bảo đảm hão huyển của những điểm ký kết trên tờ giấy của bản hòa ước được, Tàu «Xung phong» đỗ ở bến phía Nam nằm ngay trong thành phố. Nó nép sát vào thành bến và cả bốn khẩu súng trên mình nó đều dựng ngược lên giống như đám lông trên lưng mệt con chó con dũng cảm sẵn sàng xông vào trận đấu, mặc dầu trận đấu ấy không hứa hẹn với nó một điều gì tốt đẹp, — những người thủy thủ đầy nhiệt huyết còn lại trên ngư lôi hạm sẵn sàng nhả đạn ngay vào bọn phát xít mà không cần suy nghĩ gì, nếu như chúng dám đụng đến lá cờ đỏ đang phấp phới trên cột cờ cắm ở đầu lái chiến hạm bất lực này.

Những người hải quân từ tuần dương hạm đến, trong đó có một người của ban chỉ huy toàn Bantích, đã giải thích cho anh em thủy thủ tàu «Xung phong» rằng không được nổ súng vì dù sao đi nữa vẫn là hòa bình. Nhưng dù thế nào thì cũng phải rút lui. Vấn đề này sinh ra biết bao nhiêu là việc: số người trên ngư lôi hạm có thể đếm trên đầu ngón tay được, máy móc đều mệt mỏi sau ba năm tuần tiễu và những trận phong ba, trong số thủy thủ cũ chỉ có một sĩ quan phá mìn ở lại tàu. Thế mà «Xung phong» chỉ trong một đêm đã nhận đù than, chữa chạy xong máy và nồi hơi và ngay ngày hôm sau, khi tiếng súng của bọn Đức đì đẹt nổ ở Explanađa sát bên bến tàu đậu thì nó đã nhổ neo tiến vào bãi băng.

Suốt mười bốn ngày đêm liền, nó lặn lội trong bể băng tuyết, nó len lỏi những đường nứt ngoằn ngoèo trên mặt băng do tàu đi qua để lại. Nhờ gặp chiếc tàu tải kéo, nên nó được nghỉ ngơi hai ngày. Đến ngày thứ ba thì chúng đuổi kịp tàu «Cảnh giác» đang bị mắc trong băng, phần mũi phá băng dài của nó bị bẻ chẹo hẳn sang một bên và cả hai chân vịt đều bị gẫy. «Xung phong» đành nhường tàu kéo cho nó và lại lặn lội một mình. Đôi lúc những tảng băng ép lại làm những thành yếu ớt của ngư lôi hạm bị kẹp giữa bãi băng mênh mông kêu răng rắc. Đối với bãi băng ấy thì việc bóp bẹp tàu khác nào như việc dùng cánh cửa để làm dập khúc xương gà non. Prôkhôrưch chạy xuống hầm tàu, ông đặt tay vào miếng thép chỗ nối đang rung lên và qua đấy ông cảm thấy sức ép nặng nề của băng. Đành phá hết xuồng lấy gỗ để củng cố sườn tàu và thất vọng rút ra khỏi rãnh băng lạnh buốt và phản bội cứ cố bóp bẹp tàu lại này. Có lần, cũng vì thế mà tàu bị gẫy mất chân vịt bên phải. Tàu vẫn tập tễnh chạy bằng một chân nó vẫn cứ đi, đi mãi về phía trước, về Crônstat thân yêu. Thế mà khi đã về gần đến Gogơlanđơ thân tàu vẫn bị một tảng băng nhọn đâm thủng vào buồng máy bên phải và bốn ngày đêm liền Prôkhôrưch đã đứng trong nước lạnh cóng ngập đến đầu gối để cùng những người khác thay phiên nhau bơm nước tràn qua những khe thủng của miếng vá do họ vừa vội vã làm xong ra khỏi tàu. Từ đấy bệnh thấp khớp thấm vào ông và cứ mỗi lần giở trời lại làm ông đau phát khóc, nó không để ông đi lại nhanh nhẹn như hồi ông còn trên boong tàu kia nữa, khi còn là đội trưởng đội thủy thủ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2020, 08:14:22 am »

Ông đã làm tất cả việc đó vì một chiếc tàu nhỏ bé và xa lạ đối với ông, thậm chí ông chưa phục vụ trên đó bao giờ. Cho nên đúng hơn thì không phải là nói về tình yêu của ông đối với tàu biển mà là tình yêu đối với toàn hạm đội. Nhưng Grigôri Prôkhôrưch chẳng có thì giờ mà ngồi phân tích sâu sắc tình cảm của mình và ông đã phục vụ hạm đội một cách giản đơn hết khả năng theo cách hiểu biết của mình.

Bệnh thấp khớp đã đưa ông đến tàu «Cường tráng». Mười năm về trước, sau buổi lễ kéo cờ trang nghiêm vào ngày Cách mạng tháng Mười, đồng chí chỉ huy và chính ủy thiết giáp hạm đã chúc mừng ông trước hàng thủy thủ nhân dịp hai mươi nhăm năm ông phục vụ trong hạm đội Bantich và trao tặng ông chiếc đồng hồ vàng có khắc chữ lưu niệm. Sau đó ngồi trong xoang tàu đồng chí chính ủy có nói rằng nếu ông chịu khó một tí để thi mấy môn thì người ta sẽ đưa ông lên hàng ngũ sĩ quan trung cấp và sẽ cử ông làm người phụ tá thứ hai của chỉ huy thiết giáp hạm. Triển vọng này đã làm ông lo ngại vì thực ra tuổi già cùng bệnh thấp khớp đã có ảnh hưởng. Ông thú thực với chính ủy rằng thời gian gần đây ông quả không nghĩ đến việc cất nhắc mà muốn được về nghỉ ngơi (vì bây giờ đối với ông phục vụ một cách thực sự thì hơi khó), nhưng nhiều đêm ông cứ trở mình hoài không ngủ được trước cái hình ảnh đáng sợ của sự vô công rồi nghề ở trên bờ. Cuối cùng ông đánh bạo đề nghị cho ông một nơi yên tĩnh trên một chiếc tàu biển nhỏ, nơi công việc nhẹ nhàng hơn chứ đừng bắt ông phải lên bờ, ở đấy lo vì không quen mà ông sẽ chẳng chịu được lâu.

Thế là ông trở thành thuyền trưởng của «Cường tráng» và ngay từ ngày đó ông đã đề ra những kỷ luật hải quân thực sự trên tàu: hàng ngày phải lau sạch boong tàu và cọ bóng những tay sắt, tay đồng, ông đòi hỏi trang phục, kỷ luật quân sự mà cái đơn vị làm theo hợp đồng trên tàu này không lấy gì ưa lắm, ông còn cố bắt bằng được cứ mỗi sáng khi chào cờ thì toàn bộ «ban chỉ huy» — nghĩa là «thợ máy cả» và đội trưởng thủy thủ mà ông phong hàm là «trợ tá trưởng», — phải báo cáo với ông rằng trên tàu kéo trợ lực «Cường tráng» không có hiện tượng gì đặc biệt xẩy ra.

Trên cảng người ta chỉ biết cười những cái lầm cẩm của ông già mà không biết tìm hiểu sâu xa bản chất cao cả chân chính của chúng. Nhưng bao lâu sau, ai nấy đều ngạc nhiên nhận thấy rằng trên tàu «Cường tráng» bây giờ máy móc tuy đã cũ nhưng ít hư hỏng hơn, bước chân lên boong tàu cảm thấy dễ chịu hơn, tất cả mọi nhiệm vụ đều được thực hiện một cách nghiêm túc và nhanh chóng và bất kỳ lúc nào cũng có thể phái «Cường tráng» đi bất cứ đâu vì thuyền trưởng luôn có mặt trên tàu và số thủy thủ lên bờ đã được tính toán sao cho những người còn lại có thể nhanh chóng cho phát hơi và rời khỏi cảng. Thực ra, thành phần thủy thủ lấy từ số anh em tự do của Crônstat đã thay đổi nhiều lần cho đến lúc chọn toàn những người có cùng quan điểm với Grigôri Prôkhôrưch về việc phục vụ trong hải quân dù là dưới loại cờ nào — cờ xanh của cảng hay cờ quân đội.

Ông Prôkhôrưch đã giải thích cho Đrôdơdôp rằng thậm chí tàu ngầm người ta cũng gọi bằng số thứ tự như S-1, Ch-315, cho nên ký hiệu CC-16 chẳng có gì là đáng buồn giận cả, nhưng ông vẫn chỉ dùng ký hiệu ấy trong khi viết hồ sơ thôi, còn lúc trên boong tàu và ở cảng thì ông cứ gọi tàu mình là «Cường tráng».

Một tháng rưỡi sau sự kiện đổi tên, sau khi giao cho một đơn vị ở xa báo chí, đạn dược, một chiếc máy hát mới và nhận về những thùng đựng rỗng không, «Cường tráng» trở lại Crônstat. Hôm ấy là một ngày mùa thu êm ả và nắng ráo, và Prôkhôrưch cho phép mình xuống buồng — tu nước chè. Nhưng mới uống đến chén thứ sáu thì Đrôdơđôp từ tầng trên chạy xuống thò đầu vào cánh cửa sáng sủa gọi:

— Đồng chí thuyền trường ơi, ba chân bốn cẳng chạy ngay lên trên này! Hãy ngắm xem!

Trong giọng nói của Đrôdơđôp có một cái gì độc ý làm Prôkhôrưch hồi hộp chạy ngay lên boong tàu — và ông đã hết sức sửng sốt.

Có một chiếc tàu chiến, tuyệt đẹp mà chưa ai từng thấy đang đi ngược chiều với «Cường tráng». Mang trên mình những nòng súng dài, những máy phóng ngư lôi cổ rộng, những máy nhìn tầm xa chính xác, những máy điện tử phức tạp, chiếc tàu cân đối này đang vun vút đẫm mình trong nước, lướt trên mặt biển và để lại tiếng âm vang của những quạt gió mạnh. Tất cả cái sức mạnh chiến đấu của tàu được xắp xếp gọn gàng và thông minh trên những buồng máy và buồng hơi. Hình dáng thoi nhọn tuyệt đẹp của thân tàu xẻ mặt nước lóng lánh mà đi, còn phía sau nó là một làn sóng bọt ngầu bám chặt vào đuôi tàu chứng tỏ cái tốc độ rất lớn của con tàu đang bay trên mặt nước.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2020, 08:16:14 am »

Có một chiếc tàu chiến, tuyệt đẹp mà chưa ai từng thấy đang đi ngược chiều với «Cường tráng». Mang trên mình những nòng súng dài, những máy phóng ngư lôi cổ rộng, những máy nhìn tầm xa chính xác, những máy điện tử phức tạp, chiếc tàu cân đối này đang vun vút đẫm mình trong nước, lướt trên mặt biển và để lại tiếng âm vang của những quạt gió mạnh. Tất cả cái sức mạnh chiến đấu của tàu được xắp xếp gọn gàng và thông minh trên những buồng máy và buồng hơi. Hình dáng thoi nhọn tuyệt đẹp của thân tàu xẻ mặt nước lóng lánh mà đi, còn phía sau nó là một làn sóng bọt ngầu bám chặt vào đuôi tàu chứng tỏ cái tốc độ rất lớn của con tàu đang bay trên mặt nước.

Grigôri Prôkhôrưch vừa ngắm chiếc chiến hạm mới được bổ sung, vừa nháy mắt nói với Đrôdơđôp:

— Đồng chí thợ máy cố mà học đấy nhé: phóng nhanh như ngư lôi vậy mà nào có thấy khói đâu?

Quả thế, trên những ống khói thấp chỉ thấy lớp không khí nóng trong suốt hơi rung động: toàn hộ chất cháy của dầu hỏa bị những bình hơi hút hết. Nhưng Đrôdơđôp gật đầu ra hiệu cho ông một cách châm   chọc:

— Sao ông lại nhìn ống khói... có biết chữ không đấy?

Grigôri Prôkhôrưch thoáng nhìn và hết đỗi bàng hoàng: con mắt sắc sảo của người thủy thủ giúp ông nhận ra ngay dòng chữ «Cường tráng» trên phía sau tàu. Vaxia Jilin chỉ đợi có lúc ấy để cười vang thoải mái, nhưng anh mất hứng vội im ngay vì Grigôri Prôkhôrưch quay nhìn anh ta mặt ông tối tăm như giông tố:

— Đồng chí thường trực! Tại sao anh không chào? Không thuộc điều lệ à?..

Vaxia bèn nhảy đến cột buồm và vội vã tháo cờ ra, còn ông Prôkhôrưch người thủy thủ Bantich không cao lớn, chắc người, tóc đã bạc và có bộ mặt sạm đi vì nắng gió, hô vang: «Đứng nghiêm!» và giơ nắm tay lên ngang chiếc mũ lính thủy đã cũ của mình đứng bất động như một pho tượng đá.

Trong cái bất động đó của ông có một cái gì trang trọng làm cho Vaxia, một người vui vẻ, hay cười, cũng phải im bặt. Đrôdơdôp cũng không mỉm cười nữa, và những người khác «làm theo hợp đồng», vừa chạy lên boong tàu để nhìn qua đống thùng, đống hộp cái hình ảnh lực lượng trẻ tuyệt vời, đầy sức sống của hạm đội Bantich, cũng phải đứng nghiêm. Trong sự tĩnh mịch ấy chỉ còn nghe thấy tiếng sình sịch vội vàng và cần cù của những chiếc pít-tông của chiếc «Cường tráng» nhỏ bé này và tiếng âm vang trầm tĩnh của những tuốc bin và quạt gió của chiếc kia. Một lá cờ mới màu trắng dọc xanh có sao đỏ và quốc huy Liên-xô, tung ra theo chiều gió trên đỉnh cột cờ ngư lôi hạm. Nó được thả xuống để trả lời sự chào mừng của chiếc cờ cảng màu xanh đã cũ, rồi lại lên cao và tung bay phấp phới.

Ngư lôi hạm lướt qua, chân vịt của nó quay mạnh đã sinh ra một đợt sóng ngầm thoai thoải xô tới chiếc tàu kéo và rất dễ dàng, không cần một sự cố gắng nào cả, nó đã làm cho tàu kéo nghiêng đi. Trên boong tàu hòm gỗ đổ liểng xiểng, Vaxia chạy đuổi theo một chiếc thùng đang lăn đến lan can, một chiếc thùng cứu hỏa bị hòm gỗ đập vào vừa kêu long cong vừa lăn đến chân Grigôri Prôkhôrưch.

Sự kiện bất ngờ ấy làm mất hết cả không khí trang nghiêm và Grigôri Prôkhôrưch, sau khi tóm được chiếc thùng cứu hỏa, đã văng ra những câu thoải mái mà chẳng kể gì đến yêu cầu phải tuân thủ điều lệ hải quân cả. Mãi cho đến lúc thùng, hòm đã lại được buộc chặt gọn ghẽ vào boong tàu thì ông mới để ý thấy chiếc thùng mà ông đang vung vẩy trong tay. Ông treo thùng lên chỗ cũ, ngắm nhìn hàng chữ viết trên nó rồi bỏ đi xuồng lòng tàu, ngắn gọn ra lệnh cho Vaxia:

— Sơn kín đi!

Thế là tàu «Cường tráng» xưa kia đã dứt khoát trở thành tàu «CC-16» khiêm tốn. Nhưng bây giờ nếu ai trở về tàu không đúng giờ hay để xẩy ra sự gì hư hỏng trên tàu thì bao giờ Grigôri Prôkhôrưch cũng kết thúc lời phê bình sấm sét của mình bằng câu:

— Anh không có một tí tự hào thực sự nào về chiến hạm cả... Làm như thế thì anh không bao giờ trở thành thủy thủ Bantich dược! Cái đồ lạc hậu à, anh phải nhớ rằng mình đã nhường tên lại cho tàu nào chứ?..

Và những tay vịn bằng đồng trên tàu «CC-16» lại bóng nhoáng không kém gì chính trên tàu «Cường tráng», trên boong và trong buồng máy lúc nào cũng sạch sẽ như trên tàu quân sự, cả đến Đrôdơđôp cũng tìm ra cách biến đụn khói dầy đặc thường sặc sụa trên ống khói thành một giải khói nhỏ mầu xám.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2020, 08:18:10 am »

II

Vào một buổi tối lạnh của tháng mười một, tàu «CC-16» trở về cảng Crônstat. Cũng như cả thành phố, cảng Crônstat đang chìm trong bóng đêm, và hình dáng những chiếc tàu biển đỗ ở bến hiện lên mờ ảo. Cơn gió bão rít mạnh trên ngọn những cây cổ thụ của công viên Pêtrôpxki và đôi lúc đám cành trơ trụi lại in hình lên nền trời xanh nhạt: đó là lúc chiếc đèn pha từ một đồn gác ở xa kiểm tra bầu trời và mặt biển. Suốt những ngày này, tàu làm việc chẳng kể ngày đêm vì đó là thời gian rất căng thẳng. Thậm chí Grigôri Prôkhôrưch cũng không còn đòi hỏi đến sự sạch sẽ nữa, — đội thủy thủ không được ngủ đẫy giấc và quên cả bến bờ vì công việc dồn dập.

Tàu vừa ghé sát bến thì từ trong bóng tối đã vang lên giọng nói của đồng chí đặc phái viên:

— Grigôri Prôkhôrưch, đồng chí phụ trách cảng cấp tốc mời bác đến ngay!

Và Prôkhôrưch, không kịp thay bộ quần áo làm việc, vội nhảy lên bờ. Sau hai tiếng, ông trở về nom trịnh trọng và nghiêm chỉnh. Ông tập họp toàn đơn vị lại gian phòng công cộng và tuyên bố rằng «CC-16» vừa được nhận nhiệm vụ chiến đấu, cho nên chỉ ông và đồng chí «thợ máy cả» là những người sĩ quan dự bị ở lại tàu thôi, còn toàn đội «làm theo hợp đồng» thì sáng phải đi lĩnh thanh toán ở ban quản trị cảng vì sẽ có thủy quân hồng quân đến thay.

Vaxia Jilin hồi hộp đứng dậy tuyên bổ rằng dù người ta có dùng đến vũ lực đi nữa thì anh cũng không bỏ tàu, anh còn nói rằng chắc trong thời gian qua, ông Grigôri Prôkhôrưch đã quá mệt nên không còn biết giải thích với đồng chí phụ trách hộ là họ không phải là cái thứ «hợp đồng» nào cả, mà là những người xô-viết và những người thủy thủ Bantich, và thật xấu hổ nếu như ngay ngày đầu chiến tranh mà đã bỏ chiến hạm cho những kẻ khác, còn bản thân thì cứ ở Crônstat luôn chở rau cải. Sau anh, những người khác đều đứng lên có ý kiến. Cả đến bác thợ đốt lò Macxutôp mà trước đây thường giơ cái bệnh sốt rét kinh niên ra để tránh mọi việc, cũng phát biểu. Grigôri Prôkhôrưch lập tức đi gặp đồng chí phụ trách cảng. Trên đường đi ông rẽ qua nhà ở khoác chiếc áo cổ cứng có ba vạch kim tuyền trên ống tay mà đã mười năm nay ông không dùng.

Công tác chiến đấu của tàu «CC-16» đã bắt đầu như vậy. Dù sao đi nữa, đồng chí phụ trách cảng cũng gạt đi ba người, trong đó có Macxutôp, và cử những người khác, lính thủy dự bị, đến thay. Súng liên thanh đặt ngay trên đầu tàu, trong chòi canh là đài vô tuyến xinh gọn, và chiều hôm sau thì «CC-16» đã đậu ở một bến xa, nơi tập trung các chiến hạm của đơn vị đổ bộ, ban đêm nó làm nhiệm vụ bảo vệ, và Vaxia Jilin là người đầu tiên thường trực súng máy và pháo tín hiệu.

Suốt hai ngày liền, «CC-16» bận việc tíu tít, nó chở người, vũ khí, lương thực, nước uống, đạn dược đến chiến hạm, chạy đi chạy lại thi hành mệnh lệnh của đồng chí chỉ huy đơn vị giữ cờ trên ngư hạm «Cường tráng».

Đến ngày thứ ba thì chân Grigôri Prôkhôrưch đau nhức nhối và đến trưa đúng là đổi trời, tuyết rơi rất dầy. Từng chùm tuyết lớn ướt át rơi xuống chiến hạm, xuống mặt nước đen thâm làm không còn nhìn thấy gì nữa. «CC-16» bị nghẽn cạnh sườn tàu «Cường tráng».

Grigôri Prôkhôrưch đứng trên cầu ngắm nhìn chiến hạm. Những bông tuyết rơi phải ống khói nóng lập tức biến thành nước từ từ chảy thành giòng trên mầu son xanh xám hoàn mỹ của tàu. Ngay khi ấy từ phía boong tàu, đồng chí trung tá thuyền trưởng chiến hạm cất tiếng gọi ông. Đấy là đồng chí chỉ huy toàn đơn vị, nhưng Grigôri Prôkhôrưch nhận ngay ra anh học viên vui tính Côlia Cuôccôpxki mà mười hai năm về trước ông đã giảng cho biết những bí quyết của nghề hàng hải. Không hiểu tại sao anh ta không thể nào buộc chặt được nút thắt tôpô, đến nỗi Grigôri Prôkhôrưch phát bực mình bắt anh ta phải ngồi buộc nút ấy bốn chục lần liền, cho đến lúc những ngón tay Cuôccôpxki còn chưa tự động đan chéo được cái nút thắt này, mà theo con mắt của người đội trưởng là đơn giản. Cuôccôpxki mời Grigôri Prôkhôrưch sang uống nước chè. Ông già cố tỏ ra ta vẫn khỏe mạnh như xưa, cố nhấc đôi chân đau qua lan can bước sang tàu kia, và ở đây thông qua đôi chân ấy ông liền cảm thấy một nhịp rung ngầm liên tục của toàn bộ thân tàu «Cường tráng» vẫn ở tư thế sẵn sàng xuất phát và chiến đấu: hàng trăm máy móc đốt nóng đang rung lên như một con chó săn khỏe mạnh và nhanh nhẹn đánh hơi thấy mồi.

Một không khí ấm cúng tràn ngập trong hành lang của chiếc chiến hạm sạch sẽ này. Có mùi hơi nước, mùi sơn, mùi thơm của chiếc thảm mới trải ngay ở lối xuống hầm tàu và mùi cay cay chiến đấu của dầu súng máy mà người ta đã dùng để đánh bóng máy nâng đạn. Trong gian công cộng ánh đèn sáng sủa, thật ấm cúng và yên bình, tiếng đài mở không to lắm và có cảm giác như không phải trong đêm nay đơn vị sẽ đi làm nhiệm vụ. Chỉ có tấm bản đồ trải trên bàn bên ở gần đi văng là nhắc tới điều đó. Mãi đến chén chè thứ tư Cuôccôpxki mới thôi nhắc lại thời còn là học viên, về thiết giáp hạm và nút thắt tôpô mà anh vẫn nhớ mãi, rồi như vô tình, anh hỏi về đội thủy thủ của Grigôri Prôkhôrưch: nếu như có chuyện gì xẩy ra, nó vẫn không sợ chứ? ông già trả lời rằng tuy đội thủy thủ của ông gồm những người làm theo hợp đồng nhưng rất tốt và đáng tin cậy. Cuôccôpxki dẫn ông đến gần bản đồ rồi chỉ vào một lối đi hẹp tục gọi là «họng chó», nơi đơn vị cần phải đi qua (vì lối thứ hai để đi đến vị trí đổ bộ lại nằm giữa những hòn đảo có địch đóng), và nói rẳng do thời tiết xấu này nên «CC-16» phải đảm nhiệm một nhiệm vụ chiến đấu. Trước khi trời tối, nó phải đến chiếc đèn phao ở gần «họng chó» đã bị tắt vì chiến tranh, rồi thả neo cạnh bờ đá và sẽ theo lệnh điều khiển bằng vô tuyến từ «Cường tráng», bật đèn trên mũi tàu chỉ đường cho đơn vị tiến đến. Tất cả chiến hạm và tàu tải chở lính sẽ theo ngọn đèn đó vượt qua «họng chó», sau đó «CC-16», trước ba giờ sáng, phải đuổi theo đơn vị ngay để vận chuyển bộ đội đổ bộ lên bờ vào đứng mười giờ sáng.

Đồng thời Cuôccôpxki hạ lệnh cho một trung úy cầm bản đồ và bản mật mã vô tuyến sang tàu «CC-16» để giúp thuyền trưởng tàu này (anh nói là «để giúp», làm Grigôri Prôkhôrưch rất vừa lòng). Cuôccôpxki một lần nữa nhắc lại rằng đài vô tuyến chỉ có thể sử dụng để nhận tín hiệu thôi và «CC-16» phải đuổi theo tàu vận tải không được chậm trễ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2020, 08:20:13 am »

Grigôri Prôkhôrưch vội vã ra về để phân công công việc. Vào lúc trời gần tối, chiếc tàu kéo «CC-16» một thân một mình tiến về phía «họng chó» và thả neo đỗ lại cạnh đèn phao. Càng về tối tuyết rơi càng nhiều thành một màu trắng phủ kín cả chung quanh. Grigôri Prôkhôrưch rất lo lắng vì các chiến hạm có thể sẽ không nhìn thấy ngọn đèn hiệu, nhưng chẳng có cách nào giải quyết. Mọi người đợi chờ tín hiệu bằng vô tuyến. Chẳng mấy chốc từ chòi đài vô tuyến người ta đem lại một mảnh giấy, đồng chí trung úy vừa tra mật mã vừa lầm bầm đọc: «Apêtia... Vanhia... Lesa... », rồi tuyên bố rằng đơn vị đã nhổ neo.

Mọi người sốt ruột chờ đợi tín hiệu thứ hai cho phép bật đèn.

Tuyết rơi càng dầy hơn, đã hai lần phải xúc tuyết trên cầu đi vì nước đọng lại quá nhiều. Đến nửa đêm thì Grigôri Prôkhôrưch cho rằng kế hoạch đã bị hoãn vì lý do không vượt qua được tuyết dày và đơn vị đã quay trở lại. Đồng chí trung úy ngạc nhiên quay đầu lại phía ông, vừa gạt những bông tuyết ướt cứ cố tình nhét đầy vào cổ áo, anh vừa nói chẳng nhẽ ông lại nghĩ thật rằng có thể không thi hành mệnh lệnh? Đồng chí đã hỏi với một giọng làm cho Prôkhôrưch cảm thấy kính trọng chàng thanh niên này hơn và lập tức ông đi kiểm tra xem bật đèn có trục trặc gì không.

Nhưng tín hiệu vẫn chẳng thấy đâu và trung úy bắt đầu bực mình. Đồng chí cho rằng anh điện báo viên của chiếc tàu kéo bé nhỏ này đã bỏ lỡ mất tín hiệu và đáng nhẽ phải lấy một người thủy quân vì chắc đơn vị đang đi qua ngay gần đâu đây trong cái cơn bão tuyết mịt mù này vì đơn vị phải vượt qua «họng chó» trước hai giờ sáng. Chiến dịch không thể bị trung tá Cuôccôpxki hoãn lại vì đặc tính của đồng chí trung tá không phải như thế, và đồng chí không hề huấn luyện cho sĩ quan của mình điều đó; chỉ còn có thể nghĩ rằng người ta đã bỏ lỡ mất tín hiệu. Anh cúi xuống cầu và gọi Grigôri Prôkhôrưch yêu cầu cứ cho bật đèn lên. Ánh sáng chói lọi dập vào bóng tối và chiếu sáng những bông tuyết đang chậm chạp quay cuồng rơi xuống không ngừng. Có lẽ cách xa năm mươi mét thì chỉ có thể đoán được tia sáng này bằng cái ánh hào quang yếu ớt của tuyết trắng; như thế có nghĩa là đơn vị đang mò trong tuyết đi cạnh những mỏm đá mà không có sự giúp đỡ của đèn báo hướng.

Tất cả những lo lắng và ngờ vực ấy trung úy giữ lại trong lòng, còn Grigôri Prôkhôrưch thì yên tâm chờ đợi. Thật ra, cái giọng nói mà trung úy đã trình bầy với ông ý kiến của mình về mệnh lệnh đã làm ông hoàn toàn tin rằng kế hoạch vẫn được tiến hành và đơn vị đã tìm ra một cách nào đó để vượt qua «họng chó» mà không cần đến ngọn lửa làm hiệu. Bởi vậy, sau khi đã đợi đến ba giờ sáng, thời gian mà theo đúng lệnh là lúc «CC-16» phải nhổ neo để đi tới vị trí đổ bộ, Grigôri Prôkhôrưch ra lệnh: «Nhổ neo!», và tiếng xích nặng nề vang lên như một bài ca hành khúc.

Trung úy nói có lẽ nên đợi cho đến lúc có lệnh mới, nhưng Grigôri Prôkhôrưch mềm mỏng, song kiên quyết nhắc rằng người ta cử đồng chí sang tàu là «để giúp» thôi cho nên mọi việc là do ông, người thuyền trưởng của tàu, tự quyết định lấy: chưa có lệnh hủy lệnh cũ, sự phân công mới cũng chưa có mà thời gian quy định đã qua, do đó cần hành động theo kế hoạch chứ không phải chờ đợi gì cả vì đồng chí chỉ huy đơn vị sẽ chẳng làm loạn không gian thêm để khẳng định lệnh cũ một lần nữa làm gì khi bản thân đã cấm không cho dùng điện đài. Tất nhiên, các chiến hạm bằng một cách kỳ diệu nào đó đã vượt qua «họng chó» và đến vị trí đổ bộ chậm trễ là chuyện không thể có được. Còn nếu như quả vì thời tiết mà phải hoãn kế hoạch (điều mà ông không thể nào tin được), và nếu không thấy các chiến hạm trên vùng biển thì ông sẽ cho tàu quay lại bến.

Sự việc đã cho thấy niềm tin rằng mặc dầu thời tiết rất xấu, đơn vị vẫn thực hiện mệnh lệnh, — niềm tin mà chính trung úy đã đem tới cho Grigòri Prôkhôrưch tuy sau này bản thân mình, dưới ảnh hưởng của hoàn cảnh đã giao động, — tỏ ra là đúng. Khi ở phía trước mặt, dưới đám mây thấp bọng tuyết, những mỏm gồ khổng lồ của đảo hiện lên trên làn nước xám thì Grigôri Prôkhôrưch nhìn thấy những chiến hạm và tàu vận tải ở phía bên phải, trong đám mây mờ của buổi sáng tháng chạp. Chúng vượt qua ngạch nước nằm giữa các đảo bị địch chiếm: có lẽ Cuôccôpxki đã lợi dụng chiếc màn tuyết dày và dẫn toàn đơn vị qua đấy để tránh đi qua con đường hẹp và nguy hiểm cạnh «họng chó». Toàn đơn vị đã tới địa điểm đúng giờ quy định.

— Xem đấy mà học, đồng chí hoa tiêu ạ! — Grigôri Prôkhôrưch nói với Jilin đã làm nghề hoa tiêu một năm nay. — Hãy học xem các chiến hạm quân sự đi như thế nào!.. Lấy hướng theo đơn vị!

Những chiếc ngư lôi hạm lao thẳng về phía trước. Tàu vận tải dừng cả lại. Cả một đàn những ca nô nhỏ, những tàu kéo bao quanh lấy thành tàu cao ngất của chúng, còn những chiếc thuyền cảnh giới chạy quanh chúng để kiểm soát xem có tàu ngầm địch xuất hiện không. «CC-16» mở hết tốc lực chạy đến chiếc tàu vận tải được phân công, và lập tức những người thủy quân mang súng trường, lựu đạn và súng máy từ đó như đỗ vãi nhảy xuống boong tàu kéo. Trung úy tàu «Cường tráng» nhảy lên tàu vận tải tìm đoàn lính đổ bộ của mình, còn một trung úy khác trẻ hơn bước lên tàu «CC-16» và vừa sóc lại lựu đạn vừa nói bằng một giọng phấn khởi.

— Đi thôi, đồng chí chỉ huy phân đội, theo hướng về phía bến!

Grigôri Prôkhôrưch sửng sốt nhìn xung quanh tìm kiếm người mà đồng chí trung úy nói, nhưng khi sực nhớ tới phù hiệu của mình bèn mỉm cười:

— Rõ!
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2020, 08:21:07 am »

«CC-16» mở hết tốc độ chạy vào phía bờ. Tàu «Cường tráng» vừa vòng qua nó thì một tiếng nổ làm tung lên ngay sau đuôi nó một cột nước khổng lồ đen ngòm, rối cột thứ hai, cột thứ ba. Chắc người ta phát hiện ra tàu ngầm. Tiếng nổ của những trái bom ngầm làm động nước đến nỗi toàn bộ tàu «CC-16» nhảy lên, những mũi nhọn hoắt của các ngư lôi hạm và thuyền cảnh giới bơi quanh tàu vận tải là là quét trên mặt nước thành những vòng rộng, cả một đoàn ca nô chở bộ binh đổ bộ đi vào phía bờ và hàng trăm con mắt đều quan sát xem có thấy ống nhòm của tàu ngầm địch thò lên khỏi mặt nước một lần nữa không. Nhưng họ không thấy gì cả.

Bờ đã gần. «CC-16» đã đuổi kịp ca nô, xuồng, và các tàu kéo khác chở đầy lính đồ bộ. Trung úy dùng ống nhòm quan sát bờ và khi bỏ ống nhòm nhìn những chiếc thuyền đang đuổi theo nó thì một sự sốt ruột lộ ra trong khóe mắt anh làm Grigôri Prôkhôrưch phải cúi xuống ống nói quát to vào buồng máy:

— Đrôdơđôp, mở hết tốc lực ra! Có phải anh chở bắp cải đâu!

«CC-16» tăng thêm tốc độ và dễ dàng đuổi sát tới «CC-12» và «CC-14» đang đi trước họ, dễ dàng đến nỗi Grigôri Prôkhôrưch phải ngạc nhiên vì thực ra cả hai tàu này đều không phải loại chạy tồi, nhất là tàu «thứ mười hai», cựu «Hùng dũng». Nhưng sau khi đã kịp nó, ông mới nhận thấy rằng nó chạy với tốc độ thấp. Đồng chí thuyền trưởng tàu này đứng trên nhịp cầu vung mũ vẫy gọi và muốn nói gì đó với ông. Phải giảm bớt tốc độ và chú ý nghe, Grigôri Prôkhôrưch mới hiểu rằng bến bị giải mìn và đi vào đấy rất nguy hiểm.

— Đã có ai bị nổ rồi hay sao? Đẳng trước chưa có ai mà!.. — Grigôri Prôkhôrưch trả lời.

— Grigôri Prôkhôrưch ạ, hãy để các ca nô đi trước, chúng mình hãy đợi ở đây, vào nguy hiểm đấy!..

Lại thêm một chiếc nữa đuổi kịp những tàu kéo này và cũng giảm bớt tốc độ. Grigôri Prôkhôrưch không lấy gì làm hài lòng liếc nhìn nó rồi quay về phía trung úy:

— Thế nào đồng chí trung úy, chúng ta sẽ ngủ lại đây hay là cứ liều?

Trong giọng nói của ông rõ ràng có ý nhạo báng, nhưng trung úy buồn rầu khẳng định rằng trong lệnh cũng có nhắc là có thể bến bị gài mìn, và do đó đợt đổ bộ đầu tiên giành cho những ca nô nhẹ, còn tàu kéo phải đợi đợt sau. Nhưng sự giải thích này không sao ăn khớp với cái nhìn sốt ruột mà anh đang hướng vào bến xa, và Grigôri Prôkhôrưch rất thông cảm tâm trạng của anh.

Ông chú ý lắng nghe trung úy, lịch sự gật đầu đồng thời chăm chú nhìn vào bến, sau đó cúi xuống ống nói, ông ra lệnh:

— Mở hết tốc độ về phía trước!

Trung úy ngạc nhiên nhìn ông, nhưng Grigôri Prôkhôrưch láu lỉnh nháy mắt chỉ về phía bên phải bến. Ở đấy, trong lòng sâu của vịnh có một bãi cát và rằng bọn địch trên đảo chẳng lấy đâu ra mìn mà gíải khắp bãi vịnh được.

— Thế nào đồng chí trung úy, — Grigôri Prôkhôrưch vẫn láu lỉnh hỏi, — chỗ ấy được chứ? Trong lệnh chẳng nhắc gì đến nó cả, còn bến thì chúng ta không vào làm gì... Chỉ có cái là anh em bộ đội sẽ hơi bị ướt tí thôi.

Trung úy đồng ý gật đầu và cúi mình qua lan can hạ lệnh:

— Chuẩn bị nhảy xuống nước! Giữ khô súng vả lựu đạn!

Sau khi vòng một vòng ngoặt và nhả vài tràng liên thanh lên bờ, «CC-16» lao thẳng vào vịnh về phía bãi cát. Mặt nước phẳng lặng, khó mà đoán nổi có gì ẩn náu dưới bề mặt bạc đùng đục của nó. Trung úy định dồn hết người về đằng đuôi vì nếu tàu kéo có chạm phải mìn thì tất nhiên sẽ chạm đằng mũi trước, nhưng rồi hiểu rằng ở cuối tàu cũng chẳng hơn gì, và đồng chí chuẩn bị nhảy, giơ cả lựu đạn và súng lục lên. Grigôri Prôkhôrưch thay thế cho thợ lái để tự điều khiển tàu, ông chăm chú và bình tĩnh quan sát vịnh nước nhỏ như khi đưa tàu vào bến góc của Cảng giữa. Chỉ những thớ thịt căng thẳng cùng đôi mắt thận trọng của ông là để lộ tính bất thường của cuộc đổ bộ lên bờ này mà thôi.

Một tiếng chạm nhẹ làm mọi người trên boong tàu đổ xiêu. Tiếng cát lạo xạo dưới mũi tàu và chân vịt quẩy đục ngầu cả nước để lùi ra — nước bắn tung tóe lên boong tàu: anh em bộ đội theo sau trung úy nhảy ùa xuống nước lạnh, lội ngập đến ngực tiến vào bờ.

Grigôri Prôkhôrưch đưa chiếc tàu kéo đã nhẹ hết người ra khỏi bãi cạn một cách dễ dàng rồi quay đi chở đơn vị mới. Chiếc tàu «Hùng dũng» bây giờ cũng mạnh dạn đi vào bãi cát và gặp tàu «CC-16» trên đường ra. Tiếp theo là hai chiếc tàu kéo khác. Anh em thủy quân đã giơ súng lên khỏi đầu chuẩn bị làm theo gương đợt đổ bộ thứ nhất.

— Thế mà vẫn gọi là lính Bantich! — Grigôri Prôkhôrưch châm biếm gọi đồng chí thuyền trưởng tàu «Hùng dũng». Vaxia Jilin ngồi bên bàn hoa tiêu, lập tức chêm thêm vài câu tai quái. Prôkhôrưch không hài lòng quay lại phía anh:

— Đồng chí Jilin, trong lúc chiến đấu anh phải giữ cho điềm đạm! — ông nói, và lần đầu tiên gọi Jilin bằng «anh».
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM