Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Mười, 2020, 09:01:29 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 30 năm phục vụ và xây dựng của ngành Quân y QĐND Việt Nam (1945-1975)  (Đọc 653 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #20 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2020, 10:07:16 am »

3. Hội nghị quân y lần thứ VI với khẩu hiệu “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Thành lập Phòng phòng bệnh. Hoạt động của các đội truyền bá vệ sinh, các tổ Vui sống. Lớp đào tạo cán bộ phòng bệnh. Hội nghị quân sự lần thứ V thông qua và cho áp dụng bản kỷ luật vệ sinh trong quân đội. Hội nghị lần thứ VIII nhấn mạnh vấn đề nuôi quân.

Qua mấy năm đầu kháng chiến, trong điều kiện gian khổ và thiếu thốn của chiến tranh, sức khỏe của quân đội đã có những biểu hiện giảm sút. Số quân ốm đặc biệt là số người mắc bệnh sốt rét và các bệnh tiêu hóa mỗi năm một tăng, làm thế nào để ngăn chặn bệnh tật, bảo đảm số quân khỏe cao, sẵn sàng bước vào thời kỳ đánh vận động với các chiến dịch liên tiếp. Đó là những nhu cầu cấp bách mà ngành quân y nhất thiết phải vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ.

Mấy năm qua, chúng ta hướng nhiều về con đường “Điều trị đơn thuần”, mặc dù đã đào tạo nhiều cán bộ, sử dụng nhiều thuốc nhưng vẫn không làm giảm được bệnh tật trong quân đội, sức khỏe của quân đội chưa được bảo đảm vững chắc.

Tình hình đó đòi hỏi ngành quân y phải có chủ trương, biện pháp tích cực chủ động hơn. Hội nghị quân y lần thứ VI đã đề ra khẩu hiệu: “Phòng bệnh hơn trị bệnh” mặc dù quan niệm về phòng bệnh của anh em quân y lúc này chưa thật chính xác, chưa thấy được ý nghĩa cách mạng của phương châm y học theo hướng dự phòng, mà mới chỉ xuất phát từ hoàn cảnh thiếu thuốc và sức khỏe của quân đội đang bị bệnh tật uy hiếp, nhưng việc đề ra khẩu hiệu trên đây đã đánh dấu một chuyển hướng mới, bước đầu tạo cho quân y một thế chủ động và tích cực hơn trong việc chiến đấu chống bệnh tật.

Để thực hiện phương châm trên đây, Hội nghị quân y lần thứ VII đã quyết định thành lập Ban truyền bá vệ sinh tại Cục quân y để phát triển và mở rộng việc truyền bá kiến thức vệ sinh trong quân đội. Trong năm 1948, báo Vui sống xuất bản đều với số lượng tăng hơn đủ phát tới các trung đội. Số sách truyền bá vệ sinh in ra cũng nhiều gấp bội. Trong năm, tổng số in và phát hành tới 8 vạn quyển, ngoài sách báo, ban truyền bá vệ sinh còn tổ chức một đội truyền bá V.S. lưu động đi đến các đơn vị diễn kịch tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, điều tra tình hình vệ sinh trong quân đội. Cũng trong năm 1948 đã đưa ra bản kỷ luật vệ sinh 1 gồm 12 điều và đã được Hội nghị quân sự lần thứ V thông qua, cho thi hành trong quân đội. Ngoài ra, ở một số khu, các ban truyền bá vệ sinh của các quân y vụ cũng được thành lập.

Sang năm 1949, trước yêu cầu phải đưa phong trào phòng bệnh từ tuyên truyền phổ cập sang tổ chức thực hiện, nên Hội nghị quân y lần thứ 8 quyết định tổ chức ra Phòng phòng bệnh 2.

Phòng này chia làm 4 ban :

- Ban truyền bá vệ sinh có nhiệu vụ tiếp tục xuất bản báo Vui sống và các sách tuyên truyền, phổ cập vệ sinh, thành lập các đội truyền bá V.S. lưu động.

- Ban nghiên cứu có nhiệm vụ nghiên cứu các chương trình phòng bệnh ở các lớp học quân y và quân sự, điều tra tình hình sức khỏe, nghiên cứu các vấn đề phòng bệnh trong quân đội, sức chịu đựng tối đa, khẩu phần tối thiểu...

- Ban thí nghiệm sản xuất có nhiệm vụ tổ chức việc thí nghiệm và sản xuất các huyết thanh, vắc-xin đậu, tả, thương hàn, uốn ván...

- Lớp cán bộ phòng bệnh để đào tạo cán bộ phòng bệnh cho các đại đoàn và trung đoàn.

Nhờ sự chuyển hướng về phương châm, tăng cường về tổ chức, sự tham gia của đông đảo quần chúng, nên phong trào vệ sinh phòng bệnh trong quân đội đã được phát triển rộng rãi. Bản Kỷ luật vệ sinh đưa ra được bộ đội hưởng ứng. Nhiều tập quán vệ sinh hợp khoa học đã được xây dựng dần dần trở thành nếp sống của nhiều đơn vị; ở một số trung đoàn, anh chị em quân y đã đề nghị với ban công tác chính trị thành lập các tổ Vui sống, nhằm đẩy mạnh phong trào phòng bệnh thông qua hình thức văn nghệ xây dựng nếp sống mới. Sách báo vệ sinh được cán bộ, chiến sĩ chú ý tìm đọc. Các cấp chỉ huy quân chính cũng ngày càng thấy rõ tác dụng tích cực của công tác vệ sinh phòng bệnh trong nhiệm vụ giữ vững số quân chiến đấu, nên đã tổ chức hoặc tạo điều kiện cho anh em quân y triển khai công tác. Ngoài nội dung phòng bệnh, Hội nghị quân y lần thứ VIII cũng nhấn mạnh phải chú ý đến vấn đề nuôi quân. Để hướng đẫn, Cục quân y đã xuất bản tài liệu “Vấn đề nuôi quân” đồng thời liên tục và kiên trì viết các bài có liên quan đến vấn đề này trên các báo “Quân chính tập san”, “Vệ quốc quân”, “Vui sống”. Ngoài ra còn mở các lớp huấn luyện cho anh em cấp dưỡng nhằm huấn luyện một số hiểu biết về vệ sinh và kiến thức khoa học về phép nấu ăn.

Từ Hội nghị quân y lần thứ VIII, nuôi quân và phòng bệnh đã trở thành một nội dung công tác ngày càng được coi trọng trong ngành quân y, tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn và trí thức khoa học phong phú.

Nhờ tinh thần phấn đấu không mệt mỏi của quân y, nhất là anh em y tá đại đội, nhờ sự phối hợp ngày càng chặt chẽ với ngành quân nhu, lại được sự quan tâm của cán bộ quân chính, nên công tác phòng bệnh đã thu được kết quả bước đầu mặc dù các năm 1949-1950 ta có gặp nhiều khó khăn về kinh tế và chiến sự lan rộng trên nhiều vùng nhưng số quân ốm tại nhiều đơn vị đã giảm đi rõ rệt (4-18%).
Những kết quả đó tuy mới chỉ ở một số ít đơn vị nhưng cũng đã gây được cho anh em quân y niềm tin tưởng ngày càng vững chắc vào triển vọng của công tác phòng bệnh.

Tuy nhiên, vấn đề vệ sinh trong quân đội vẫn còn nằm trong phạm vi kỷ luật, chưa thành một phong trào quần chúng tự nguyện chấp hành. Sư kết hợp giữa quân y và các ngành trong quân đội tùy từng nơi, từng lúc có chú ý nhưng nói chung chưa chặt chẽ. Chúng ta chưa có kế hoạch phối hợp với dân y, về nhận thức chưa thấy được phòng bệnh là nhiệm vụ chung của quân đội và nhân dân. Về mặt tổ chức chưa có một hệ thống chặt chẽ từ trên xuống dưới, chỉ chú trọng nhiều đến công tác tuyên truyền.




-----------------------------------------------------------------
1. 12 điều kỷ luật vệ sinh là :
I. Vệ sinh cá nhân :
1. Cắt ngắn móng tay.
2. Rửa tay trước khi ăn.
3. Đừng đề ruồi bâu vào thức ăn.
4. Không uống nước lã, uống nước chín.
5. Tắm giặt thay quần áo ít nhất mỗi tuần lễ một lần.
6. Tập thể dục mỗi buổi sáng 15 phút.
II. Vệ sinh chung:
7. Dùng hai đôi đũa hoặc đũa hai đầu đũa.
8. Không làm bẩn các nguồn nước ăn.
9. Lấp kín hố phân mỗi khi phóng uế.
10. Lấp các vũng nước tù, khai các rãnh nước quanh nhà.
11. Vẩy nước trước khi quét nhà, quét sân.
12. Những người mắc bệnh truyền nhiễm (đậu mùa, đau màng óc, thương hàn, thồ tả, lao, hoa liễu) phải được dưa đi bệnh viện hoặc nằm nhà riêng.

2. Bác sĩ Nguyễn Sĩ Quốc Hưởng làm trưởng phòng, bác sĩ Từ Giấy làm phó phòng.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #21 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2020, 10:13:43 am »

4. Ban quân y mặt trận phục vụ các chiến dịch : Hình thành bậc thang điều trị đầu tiên. Sơ bộ quy định nhiệm vụ các tuyến điều trị vận chuyển. Coi trọng giải quyết thương binh nhẹ từ chiến dịch Lê Lợi. Quân y viện và quân y giải phẫu viện : cách hoạt động của các bệnh viện, tổ chức học tập ngoại khoa dã chiến. Thành lập Phòng thú y quân đội. Chi bộ Đảng đầu tiên của Cục quân y, thành lập các ban công tác chính trị, các đoàn thể công đoàn và chi hội liên hiệp phụ nữ.

Trên chiến trường cả nước, bộ đội ta liên tiếp mở những đợt hoạt động quân sự quy mô sử dụng lực lượng từ 2-3 tiểu đoàn đến 2-3 trung đoàn. Mỗi đợt hoạt động như vậy thường có khoảng một vài trăm thương binh, bệnh binh. Tình hình đó đòi hỏi công tác điều trị phải có tổ chức hơn.

Đối với các trận đánh nhỏ công tác cứu chữa thương binh vẫn do các đơn vị tham gia chiến đấu tự bảo đảm như đã làm trước đây. Đối với các chiến dịch có sự phối hợp của nhiều đơn vị trong một khu, hoặc nhiều khu : chiến dịch đường số 4 (tháng ba năm 1949), chiến dịch Sông Thao, Lê Lợi (cuối năm 1949), chiến dịch Lê Hồng Phong (đầu năm 1950)... thì các quân y vụ trực tiếp tổ chức ra các ban quân y mặt trận để đảm bảo việc cứu chữa thương binh. Khi chiến dịch xảy ra ở khu nào thì quân y vụ khu đó phối hợp vớ tổ chức quân y đơn vị tham chiến ở nơi khác đến thành lập ban chỉ huy quân y mặt trận nằm trong tổ chức của ban tổ chức chỉ huy chiến dịch. Hình thức và nội dung tổ chức quân y mặt trận lúc này còn đơn giản, chưa thống nhất nhưng trên cơ sở các tuyến đã được hình thanh, đã tổ chức các trạm cấp cứu đại đội, tiểu đoàn (do y tá phụ trách) rồi đến trạm giải phẫu lưu động của trung đoàn, hoặc giải phẫu xá hay giải phẫu mặt trận (do bác sĩ hay sinh viên phụ trách).

Nếu hỏa tuyến xa hậu phương thì tổ chức thêm những trạm chuyển thương để đưa thương binh, bệnh binh về các trạm xá hoặc bệnh viện hậu phương.

Việc tải thương lúc này đã được chú ý hơn trước, việc khiêng cáng hỏa tuyến thường phải đi đêm, trèo đèo lội suối dài ngày rất vất vả và khó nhọc. Nhiều anh em quân y đã biết khéo tổ chức, động viên bộ đội và dân công, tự mình cùng tham gia khiêng cáng, tận tình cứu chữa đưa thương binh về đến bệnh viện hậu phương. Các trạm quân y lúc này còn xa tuyến, lưc lượng vận chuyển có hạn nên việc chuyển thương còn chậm và không gọn.

Việc quy định nhiệm vụ các tuyến và vấn đề bốn kỹ thuật lớn 1 đã đề ra xong chưa cụ thể và thống nhất, còn tùy tiện ở khả năng cán bộ và hoàn cảnh tác chiến nơi có địa hình kín đáo, đủ khả năng, phương tiện thì thực hiện được việc cắt lọc phẫu thuật, nếu không thì chỉ băng bó, cầm máu hoặc cố địch rồi chuyển về tuyến sau.

Từ chiến dịch Lê Lợi năm 1949, lần đầu tiên ngành quân y đã đặt vấn đề phải coi trọng việc giải quyết thương binh nhẹ, nhưng nội dung và phương pháp giải quyết còn thiếu toàn diện, phải từ sau chiến dịch Biên giới, công tác này mới được coi trọng đúng mức.

Tại những vùng mà chiến dịch ít xảy ra, các bệnh viện được dần dần xây dựng để thu dung tất cả thương binh, bệnh binh trước đây ở nhà dân hay ở đình chùa. Theo nghị quyết của Hội nghị quân y lần thứ VI, mỗi khu tổ chức ra hai loại bệnh viện quân y viện và quân y giải phẫu viện để tiện việc tập trung phương tiện và cán bộ và cũng là bước đầu chuyên khoa hóa về nội và ngoại khoa. Nhưng thực tế vì các bệnh viện bố trí phân tán từng khu vực cách xa nhau, liên lạc giao thông khó khăn và gián đoạn, nên thương binh, bệnh binh vẫn gần đâu thì về đó, các bệnh viện này đều phải giải quyết tất cả các yêu cầu về nội khoa và ngoại khoa, tình hình đó đã buộc các bệnh viện phải thu dung điều trị vượt khả năng thông thường của mình. Tuy triển khai tại các khu vực an toàn, các bệnh viện vẫn phải bố trí sẵn địa điểm dự bị để di chuyển mỗi khi có uy hiếp về mặt quân sự. Việc di chuyển trong điều kiện thiếu phương tiện vận chuyển, đường bị phá hoại, nặng nề về tổ chức, về trang bị là những thử thách rất gay go cho các cơ sở điều trị lúc này. Trong những năm 1949-1950, do chính sách phá hoại và bao vây kinh tế của địch, đời sống vật chất của nhân dân và quân đội lại thêm khó khăn, gian khổ. Nhiều nơi anh chị em quân y đã phải ăn độn, ăn bớt khẩu phần để giành gạo cho thương binh, bệnh binh, nhưng vẫn giữ vững tinh thần lạc quan cách mạng, luôn luôn gần gũi động viên khuyến khích thương binh, bệnh binh. Ngoài công tác cứu chữa, săn sóc hộ lý, anh chị em quân y đã có nhiều cố gắng tổ chức các buổi đọc sách báo cách mạng, ca kịch... gây một không khí vui tươi, tin tưởng trong các cơ sở điều trị. Nhiều bệnh viện đã biết tranh thủ giúp đỡ nhân dân, tích cực làm công tác dân vận nên đã tăng cường được tình đoàn kết quân dân. Các hội mẹ chiếu sĩ, các hội phụ lão, phụ nữ, thiếu nhi..., đã đóng góp phần công sức đáng kể trong việc động viên, úy lạo thương binh, bệnh binh.

Tại những khu có chiến sự xảy ra liên tiếp, địch thường xuyên bao vây, càn quét như ở Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ, Bình Trị Thiên và đồng bằng Bắc Bộ, tổ chức quân y thường phải hết sức nhẹ nhàng, đơn giản, Việc cứu chữa thường do quân y từng đơn vị tự giải quyết là chính, sau đó mới tìm cách dần dần chuyển đến các cơ sở điều trị tương đối xa, an toàn hơn. Cũng do hoàn cảnh đặc biệt, nên có nơi như ở Nam Bộ nhiều anh chị em quân y phải tự động làm những công việc nhiều khi vượt quá khả năng của mình như phẫu thuật cắt đoạn..., với trình độ và khả năng phương tiện lúc đó, thật khó tránh khỏi những kết quả đau sót. Tuy nhiên, với lòng thương yêu thương binh mặc dù gặp nhiều khó khăn, hạn chế anh chị em quân y đã vận dụng tất cả kinh nghiệm, kiến thức, sáng kiến của cá nhân và tập thể, hết lòng hết sức phục vụ thương binh nên đã cứu sống được nhiều thương binh nặng. Đặc biệt là anh chị em quân y hoạt động ở Nam Bộ và Bình Trị Thiên phải luôn luôn đương đầu với những cuộc vây quét tàn khốc và bất ngờ của địch, gian khổ và hy sinh không ít. Trước thử thách đó, có một số ít không vượt qua được đã rời bỏ hàng ngũ, nhưng tuyệt đại đa số vẫn một lòng tin tưởng vào kháng chiến, quyết tâm đi theo cách mạng phục vụ quân đội đến cùng. Những anh em đó đã biết dựa vào nhân dân, được nhân dân hết lòng giúp đỡ và che chở. Khi địch càn quét, nhân dân đã cất dấu thương binh, kho tàng cho bộ đội, nuôi nấng săn sóc thương binh chu đáo.

Công tác điều trị thương binh, bệnh binh trong thời kỳ này đã bước đầu đi vào nền nếp, tinh thần thái độ phục vụ có được nâng cao, kỹ thuật điều trị đã được chú ý cải tiến nhất là sau khi đã tổ chức học tập ngoại khoa dã chiến. Việc tổ chức học tập ngoại khoa dã chiến trong ngành cũng là một cố gắng nổi bật trong điều kiện lúc đó. Nhiều tài liệu viết bằng tiếng Việt ở trình độ sơ cấp và trung cấp đã được phổ biến rộng rãi đến các đại đội, tiểu đoàn, bệnh viện ; chỉ ở những nơi có điều kiện tập trung như ở bệnh viện mới tổ chức học tập ngắn ngày cho y tá và y sĩ.

Do yêu cầu phát triển của các đơn vị, ngành vận tải của quân đội đã ra đời. Để phục vụ cho sức kéo chủ yếu lúc này là lừa, ngựa, trâu, bò nên tháng tư năm 1949 đã thành lập Phòng thú y quân đội 2 có nhiệm vụ phòng và chữa bệnh cho loại gia súc này. Phòng thú y quân đội cũng đã mở trường thú y tá và có một cơ sở chế thuốc nhỏ. Cơ quan này hoạt động có kết quả cho đến tháng mười năm 1955 thì chuyển toàn bộ sang tổ chức chăn nuôi và kinh tế của Nhà nước.

Những cố gắng đó kết hợp với những tiến bộ bước đầu về các mặt tổ chức, đào tạo cán bộ, phát triển sản xuất, tăng cường phòng bệnh đã đánh dấu những trưởng thành đầu tiên trong công tác phục vụ và xây dựng của ngành quân y.

Cũng trong thời kỳ này các cơ sở Đảng được bắt đầu xây dựng và phát triển dần.

Tháng tư năm 1948, chi bộ Bông Lau, chi bộ đầu tiên của Cục quân y được thành lập, đến tháng bảy năm 1950 thì phát triển thành Liên chi bộ. Trong thời gian này, các cơ sở và đơn vị quân y từ Bắc đến Nam cũng dần dần xây dựng các tổ Đảng hoặc các chi bộ. Lúc nàv số lượng đảng viên còn ít, trình độ lý luận còn thấp, trình độ lãnh đạo còn yếu nhưng cũng đã biết căn cứ vào đường lối chính sách của Đảng mà hành động, xung phong gương mẫu mọi mặt, nên đã có tác dụng thúc đẩy quần chúng chấp hành tốt mọi nhiệm vụ công tác. Tuy nhiên, một phần do những nhược điểm kể trên, một phần do một số anh chị em chưa phải đảng viên chưa nhận thức được vai trò lãnh đạo của Đảng, thậm chí có người còn nghi ngờ thành kiến với đảng viên nên quan hệ giữa quần chúng và đảng viên có lúc còn va vấp, ảnh hưởng không tốt tới việc thực hành đoàn kết.

Song song với các tổ chức Đảng, Ban công tác chính trị Cục Quân y 3 và ban công tác chính trị các trường và bệnh viện cũng thành lập. Các tổ chức quần chúng như công đoàn, liên hiệp phụ nữ... cũng được xây dựng tại các cơ sở điều trị, cơ sở sản xuất thuốc. Các ban công tác chính trị, các công đoàn lúc này chưa có cán bộ chính trị hoặc cán bộ công đoàn chuyên trách mà thường do nhân viên chuyên môn đảm nhiệm. Ban công tác chính trị mới chỉ là cơ quan giúp việc thủ trưởng còn nặng về giải quyết sự vụ, các công đoàn mới chỉ lo giải quyết yêu cầu sinh hoạt của quần chúng, chưa đi vào chức năng chủ yếu là giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng của bộ đội. Tình hình này kéo dài đến đầu năm 1951 thì được giải quyết căn bản.




-----------------------------------------------------------------
(1). 1. Cầm máu, 2. Băng bó 3. Cố định, 4. Tải thương.
(2). Đồng chí Nguyễn Hữu Ninh, đại học thú y làm trưởng phòng thú y quân đội.
(3). Bác sĩ Nguyễn Sĩ Quốc được cử làm trưởng ban công tác chính trị Cục quân y.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #22 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2020, 10:18:19 am »

5. Thành lập Tổng cục Cung cấp. Quân y phục vụ chiến dịch Biên giới. Bài học lịch sử của công tác bảo đảm quân y trong chiến dịch Biên giới.

Từ giữa năm 1950, địch chiếm đóng lan rộng ra đồng bằng và trung du Bắc Bộ, lập hành lang “Đông Tây” củng cố khu tứ giác Lạng Sơn, Móng Cái, Hải Phòng, Hà Nội, cắt đứt đường giao thông giữa Việt Bắc với Liên khu 3-4. Chúng ra sức khóa chặt biên giới Việt Trung, nhằm phong tỏa cô lập căn cứ địa Việt Bắc, gây cho ta nhiều khó khăn về kinh tế, ảnh hưởng đến việc xây dựng lực lượng và tác chiến của ta.
Để tăng cường bộ máy quân sự chỉ đạo chiến tranh trong giai đoạn mới, Trung ương Đảng quyết định chấn chỉnh cơ quan Bộ Quốc phòng Tổng Tư lệnh, tổ chức lại thành ba bộ phận: Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Cung cấp. Tổng cục Cung cấp được thành lập ngày 10 tháng bảy 1950 do đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng làm chủ nhiệm.

Tháng sáu năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch đánh vào địch ở khu Biên giới nhằm mục đích: Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở đường giao thông quốc tế với phe dân chủ, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc.

Lực lượng ta sử dụng trong chiến dịch Biên giới có : 2 đại đoàn và 2 trung đoàn chủ lực, 4 tiểu đoàn và 2 đại đội bộ đội địa phương, 4 đại đội sơn pháo 73 ly, 5 đại đội công binh và một lưc lượng dân công khá lớn.

Những đặc điểm của chiến dịch có ảnh hưởng đến công tác quân y :

Là chiến dịch tấn công quy mô lớn nhất từ đầu kháng chiến đến 1950. Lần đầu ta tập trung nhiều đơn vị, nhiều binh chủng, quân số lên tới 3 vạn người. Thời gian tác chiến dài và liên tục, thương vong có thể cao, tiêu thụ vât chất sẽ lớn (kế hoạch dự kiến thu dung cứu chữa, 2.000 - 2.500 thương binh). Công tác bảo đảm quân y cho chiến dịch còn là một việc làm mới mẻ ít kinh nghiệm.

Chiến dịch diễn ra ở Cao Bằng, Lạng Sơn là hai tỉnh rừng núi, kinh tế nghèo, dân cư thưa, khả năng huy động nhân lực, vật lực có thể ít, nhưng lại là những căn cứ cũ của cách mạng nên nhân dân có trình độ giác ngộ chính trị cao.

Dưới sự lãnh đạo của Tồng cục Cung cấp, lần đầu tiên Cục quân y tham gia trưc tiếp các công tác tổ chức bảo đảm quân y chiến dịch. Trước đây, khi chiến dịch còn ở quy mô nhỏ, việc bảo đảm quân y đều do quân y vụ các khu phụ trách. Việc chuẩn bị chiến trường được bắt đầu từ tháng bảy năm 1950.

Đồng chí Cục trưởng Cục quân y cùng một số cán bộ chủ chốt tại cơ quan Cục quân y đã đi phục vụ chiến dịch. Tổ chức cơ quan quân y chiến dịch lúc này còn đơn giản, có đủ các bộ phận nghiệp vụ để chỉ đạo từng mặt công tác.

Lần đầu đã hình thành trong chiến dịch bộ phận công tác chính trị để chỉ đạo chấp hành các chính sách thương binh, bệnh binh, chính sách dân công.

Trước đây tổ chức và nhiệm vụ các tuyến đã được sơ bộ quy định, nhưng chưa cụ thể và thống nhất, còn tùy thuộc vào khả năng cán bộ và hoàn cảnh tác chiến.

Trong chiến dịch đã quy định kế hoạch vận chuyển thương binh qua từng tuyến : bộ đội đảm nhiệm từ hỏa tuyến về trạm sơ cứu đại đội và tiểu đoàn, dân công tải thương đảm nhiệm từ tuyến đại đội, tiểu đoàn về các trạm phẫu thuận hay bệnh viện mặt trận. Đồng thời đã củng cố các đội phẫu thuật trung đoàn. Để khắc phục việc vận chuyển xa, đã tổ chức thêm những trạm trung tuyến, các đội phẫu thuật tiếp sức cũng nhằm kịp thời chi viện cho các đội phẫu thuật trung đoàn khi cần đến.

Căn cứ vào phương án tác chiến tiến công Cao Bằng trước, ban quân y chiến dịch đã tổ chức một bệnh viện thu dung bệnh binh ở Mạn Đà, bố trí 4 bệnh viện mặt trận có khả năng thu dung được 1.000 thương binh ở cách thị xã Cao Bằng khoảng 20km: Quang Đẩu phía Đông bắc, Đại Lai phía Tây bắc, Kế Chỉ phía Tây, Phai Xiên ở phía Nam. Các đội phẫu thuật trung đoàn chuẩn bị để triển khai ở Nà Cốc, An Lai, Lam Sơn cách Cao Bằng khoảng 8km. Kho thuốc, cơ sở sản xuất bông băng, bột bó đặt tại Quảng Uyên. Để phục vụ cho trận đánh Lạng Sơn và Đông Khê đã bố trí 2 bệnh viện tại Pò Mã và Văn Mịch có khả năng thu dung 200 thương binh, bệnh binh cho mỗi bệnh viện.

Đề đảm bảo các tổ chức trên, Cục quân y đã huy động một số lớn lực lượng ở hậu phương ra phục vụ chiến dịch.

Ngày 21 tháng tám năm 1950, Đảng ủy chiến dịch thay đổi quyết tâm tác chiến, chủ trương “đánh điểm diệt viện”, đầu tiên tiêu diệt địch ở Đông Khê và chung quanh, sẵn sàng đánh quân tiếp viện trên đường Cao Bằng - Đông Khê.

Do thay đổi quyết tâm tác chiến nên kế hoạch bảo đảm hậu cần và quân y cũng thay đổi theo. Trước đây, tuyến vận chuyển chính là đường Pò Peo, Trùng Khánh, Quảng Uyên, nay phải chuyển sang đường Thủy Khẩu. Các cơ sở quân y cũng phải bố trí lại. Hai bệnh viện Đại Lai, Mạn Đà vẫn ở chỗ cũ để thu dung bệnh binh của các đơn vị trước khi bước vào chiến đấu, còn các bệnh viện mặt trận chuyển đến Tiên Giao và Thủy Khẩu. Thủy Khẩu là bệnh viện chính để tiếp nhận hầu hết thương binh, bệnh binh của chiến dịch. Các đội phẫu thuật trung đoàn bố trí cách Đông Khê 8 - 10km đường núi, một đơn vị ở Pắc Xiêng, ba đội ở Bó Bạch, một đội ở Khuổi Bốc. Phần lớn các đội phẫu thuật đều đưa vào các hang đá để đảm bảo an toàn. Nói chung, việc bố trí bệnh viện, kho dược là hợp lý nhưng còn xa hỏa tuyến.

Để chuyển thương binh về trạm phẫu thuật trung đoàn, mỗi tiểu đoàn được phân phối 40 dân công tải thương ngoài số dân công vận chuyển, nhưng trước khi chiến đấu chưa có thương binh, các đơn vị sử dụng dân công tải thương vào các việc khác, nên khi cần chuyển thương binh thì không có tải thương hoặc tải thương đã bị mệt. Dân công tải thương phục vụ rất dũng cảm và rất tận tụy, nhưng chưa được huấn luyện những điều thường thức về tải thương, đường vận chuyển lại xa và khó đi nên việc chuyển thương còn chậm... chỉ có 6,2% thương binh được chuyển về trước 6 giờ, còn tới 43% sau 12 giờ mới tới trạm trung đoàn.

Việc phẫu thuật vẫn lấy quân y trung đoàn làm cơ sở. Trong phục vụ cán bộ quân y mới chú ý nhiều đến phẫu thuật chưa chú trọng đúng mức các công tác hộ lý, tải thương. Việc chỉ đạo cứu hộ hỏa tuyến chưa được đề cập đầy đủ, chưa huấn luyện được tốt cho bộ đội về 4 kỹ thuật cấp cứu. Trong công tác phẫu thuật tuy đã có chú ý đến việc phẫu thuật bảo tồn cơ năng chi thể, nhưng chưa thật tích cực đặt vấn đề bảo tồn tổ chức.

Khi bộ đội đánh vận động phía tây đường số 4, tổ chức quân y cũng kịp thời chuyển từ đảm bảo cho đánh công kiên sang đánh vận động. Trung đoàn 174 chuyển xuống hoạt động Nam Thất Khê, trạm phẫu thuật trung đoàn đã chuyển xuống bố trí tại Nà Hưu và Cốc Phục. Trạm phẫu thuật trung đoàn 209 chuyển lên Pắc Nậm, trạm phẫu thuật trung đoàn 36 tăng cường thêm cán bộ chuyên môn cho quân y tiểu đoàn tổ chức một trạm nhỏ ở Là Tá phía tây đường số 4, còn các trạm phẫu thuật thuộc các trung đoàn khác đều bố trí tại chỗ cũ. Tuy có chuyển vị trí, nói chung các trạm phẫu thuật vẫn còn xa hỏa tuyến, việc chuyển thương binh về các trạm phẫu thuật vẫn không đạt yêu cầu về thời gian, do đó trong đánh vận động trên đường số 4 mới có 12,6% thương binh về trạm phẫu thuật 6 giờ và gần 70% sau hơn 12 giờ mới về tới trạm phẫu thuật.

Sau khi được cấp cứu ở các trạm phẫu thuật, các thương binh được chuyển về bệnh viện mặt trận, lúc đó chủ yếu là bệnh viện Thủy Khẩu, được điều trị cho đến khi khỏi hẳn.

Trong công tác thương binh, nói chung cán bộ quân y đã hết sức tận tụy phục vụ, dân công hộ lý cũng rất tận tình. Nhưng công tác phục vụ còn nhiều thiếu sót nguyên nhân chính là do quan điểm thương binh,bệnh binh còn kém. Cán bộ quân y còn nặng tư tưởng chuyên môn đơn thuần, nặng về kỹ thuật, nhẹ về tổ chức chỉ đạo công tác cứu hộ hỏa tuyến và tải thương (tỷ lệ tử vong hỏa tuyến lên tới 30%, ngày nằm trung bình của thương binh còn dài : 45 ngày); chưa quan tâm đầy đủ đến việc tổ chức ăn ở, săn sóc đời sống cho thương binh. Trong cán bộ quân chính cũng còn lo nhiều đến việc tác chiến, chưa quan tâm đúng mức đến việc chấp hành chính sách thương binh.

Công tác bảo vệ sức khỏe cho bộ đội có được đặt ra ngay từ đầu chiến dịch nhưng so với yêu cầu thì còn thấp, quân y mới làm được việc phổ biến cho bộ đội những thường thức về phòng bệnh và tổ chức cho bộ đội uống thuốc phòng sốt rét, việc chỉ đạo vận động bộ đội chấp hành kỷ luật vệ sinh làm còn yếu.

Trong số tù binh địch, có một số lớn là thương binh, bộ chỉ huy chiến dịch có chủ trương trao trả cho địch. Quân y đã cùng các ngành bảo đảm cứu chữa, săn sóc, tiến hành công tác chính trị cần thiết, nên khi trao trả tù binh đã gây được ảnh hưởng tốt về mặt chính trị.
Sau hơn một tháng chiến đấu, chiến dịch Biên giới đã kết thúc thắng lợi. Ta đã tiêu diệt được một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng được nhiều đất đai, mở rộng được giao thông liên lạc giữa Việt Bắc và Liên khu 3-4, củng cố được căn cứ địa Việt Bắc thành hậu phương vững chắc của kháng chiến nối liền với phe xã hội chủ nghĩa và thu được thắng lợi cả về quân sự, chính trị và kinh tế.

Qua chiến dịch Biên giới, quân đội ta đã trưởng thành một bước lớn, chiến dịch Biên giới cũng là một thử thách lớn đối với ngành quân y. Trong quá trình phục vụ đã bộc lộ đầy đủ ưu điểm, khuyết điểm về mọi mặt chính trị tư tưởng, tổ chức và kỹ thuật.

Tháng mười một năm 1950, theo chỉ thị của Tổng cục Cung cấp, Ban quân y chiến dịch đã mở Hội nghị tổng kết công tác bảo đảm quân y với một tinh thần phê bình và tự phê bình cao.

Trong thư gửi hội nghị tổng kết quân y, đồng chí Võ Nguyên Giáp viết: “Tôi khen ngợi toàn thể các chiến sĩ quân y đã tích cực hoạt động trong việc cấp cứu, điều trị các thương binh. Nhiều đội phẫu thuật đã làm những nhiệm vụ quá mức như các đội phẫu thuật ở Là Tá, các đội phẫu thuật đơn vị 73, Đ3 ở Bố Bạch”, đồng thời đồng chí cũng chỉ rõ: “... so với các chiến dịch trước có tiến bộ nhiều, nhưng cũng hãy còn nhiều khuyết điểm vê phương diện tổ chức, kỹ thuật và lãnh đạo. Tôi mong hội nghị sẽ cố gắng học tập và rút kinh nghiệm quý báu trong chiến dịch vừa qua để làm sao cho tổ chức quân y được thích hợp hơn với vận động chiến, cho kỹ thuật quân y bảo đảm hơn việc cứu thương trên trận địa cũng như việc điều trị trong các đội phẫu thuật và các bệnh viện. Về mặt tư tưởng cần thực hiện tinh thần lương y kiêm từ mẫu mà Hồ Chủ tịch đã đề ra cho ngành quân y”.

Trong thư gửi Hội nghị, đồng chí Trần Đăng Ninh sau khi biểu dương các cố gắng của chị em quân y, cũng đã nhấn mạnh đến các khuyết điểm, nhất là những khuyết điểm về tổ chức và tải thương.

Hội nghị tổng kết đã khẳng định những thành tích đã đạt được là do bản thân anh chị em quân y có cố gắng, được nhân dân và quân đội hết lòng ủng hộ và giúp đỡ, được sự giáo dục lãnh đạo chặt chẽ của các cấp ủy Đảng và đặc biệt là sự quan tâm săn sóc của Hồ Chủ tịch. Trong chiến dịch, Hồ Chủ tịch đã ra tận trận địa xem xét việc cứu chữa và chăm sóc thương binh, chỉ dẫn cụ thể các công việc phải làm để chấp hành tốt chính sách thương binh của Đảng.

Hội nghị đã nghe và thào luận các báo cáo : Công tác bảo đảm quân y của đại đội trong đánh vận động và đánh công kiên 1, công tác bảo đảm quân y của tiểu đoàn trong đánh vận động và đánh công kiên 2, báo cáo của đội phẫu thuật trung đoàn  3, báo cáo công tác phòng bệnh của trung đoàn, báo cáo công tác tải thương 4, nhận xét của một bệnh viện mặt trận đối với các cấp cứu, điều trị tại các tuyến trước 5. Đồng thời, Hội nghị đã thảo luận về các vấn đề quan trọng và tăng cường công tác tải thương mặt trận, nhiệm vụ các tuyến quân y khi tác chiến, vấn đề đào tạo và giáo dục cán bộ quân y, các vấn đề về chấn chỉnh lề lối làm việc.

Bài học quân y trong chiến dịch Biêu giới là một bài học toàn diện, nghiêm túc, có tinh thần tự phê bình, phê bình cao. Thu hoạch của quân y trong kết quả phục vụ chiến dịch Biên giới, thu hoạch của hội nghị tổng kết quân y là những thu hoạch có ý nghĩa tích cực, có tính chất lịch sử của ngành.

Qua chiến dịch Biên giới, cùng với quân đội, ngành quân y đã trưởng thành một bước quan trọng.




-------------------------------------------------------------------
1. Do y tá Tạ Văn Hậu báo cáo.
2. Do y tá Đinh Công Quyết báo cáo.
3. Do y sĩ Nguyễn Xuân Ty báo cáo
4. Do y sĩ Trần Lưu Khôi báo cáo.
5. Do y sĩ Trần Văn Bảo báo cáo.

Logged
Trang: « 1 2 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM