Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 11 Tháng Tám, 2020, 01:50:29 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 30 năm phục vụ và xây dựng của ngành Quân y QĐND Việt Nam (1945-1975)  (Đọc 156 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4362



« Trả lời #10 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2020, 02:15:39 pm »

3. Thành lập Quân y cục trong Bộ Quốc phòng. Hội nghị quân y lần thứ nhất về vấn đề tổ chúc. Thành lập quân y vụ các chiến khu. Thành lập Viện bào chế tiếp tế Trung ương. Thành lập Ty bào chế tiếp tế Quân y phân cục Trung Bộ. Lớp dược tá đầu tiên của quân đội. Quyết nghị án của Hội nghị quân sự Đảng toàn quốc ngày 19 tháng mười năm 1946 về quân y. Lệnh trưng tập lần hai. Mở Trường quân y đại học. Xuất bản báo Vui Sống.

Sau khi thành lập Chính phủ liên hiệp, Bộ Quốc phòng được chính thức thành lập. Ngày 16 tháng tư năm 1946, Bộ quốc phòng ra quyết định số 12/NĐ thành lập Quân y cục do bác sĩ Vũ Văn Cẩn làm Cục trưởng.

Ngày 16 tháng tư năm 1946 được coi là ngày chính thức thành lập ngành quân y và là ngày truyền thống của ngành quân y.

Để thích hợp với tổ chức quân đội, Hội nghị cán bộ quân y lần thứ nhất họp tại Hà Nội vào tháng sáu năm 1946, có đại diện của Bộ Tổng tham mưu dự đã thảo luận và thông qua về hệ thống tổ chức quân y.

Ở Bắc Bộ : các Quân y vụ khu 1, 2, 3 rồi 10, 11, được lần lượt thành lập.

Ở Trung Bộ : thành lập Quân y phân cục.

Ở Nam Bộ: tới cuối tháng chín 1946 mới chia thành 3 khu : 7, 8 và 9, mỗi khu tổ chức một phòng quân y, tính chất công tác của phòng quân y tương tự như quân y vụ.

Dưới sự chỉ đạo của quân y vụ, có tổ chức các ban quân y trung đoàn, ban quân y tiểu đoàn và ban quân y đại đội. Ở Nam Bộ lúc này chưa có ban quân y tiểu đoàn mà tổ chức ban quân y chi đội rồi đến ban quân y đại đội.

Các quân y vụ và các phòng quân y đều do một bác sĩ phụ trách, các ban quân y trung đoàn do bác sĩ hoặc y sĩ hoặc sinh viên y khoa phụ trách, các ban quân y tiểu đoàn, ban quân y đại đội do y tá hoặc cứu thương phụ trách.

Về tổ chức dược, ngoài Phòng bào chế tiếp tế ở Ba Thá, Cục quân y còn tổ chức thêm Viện bào chế tiếp tế Trung ương 1 để tiếp tế thuốc cho các bệnh viện và các quân y vụ. Thuốc và dụng cụ y tế lúc này đều do Bộ y tế cung cấp và tranh thủ thu thập ở một số nhà thương cũ của Pháp. Ngoài ra, ở Trung Bộ, tháng sáu năm 1946 cũng thành lập Ty bào chế tiếp tế của Quân y phân cục Trung Bộ  2. Ở Nam Bộ, do phải kháng chiến sớm nên công tác tiếp tế thuốc cũng vẫn dựa vào dân y. Lẻ tẻ một vài khu cũng có tổ chức phòng bào chế tiếp tế, phạm vi phuc vụ còn hạn chế.

Các cơ sở bào chế tiếp tế đầu tiên này bắt đầu hoạt động, vừa bào chế một số thuốc tiêm, bột, nước bằng những nguyên liệu có sẵn, vừa dự trữ, bảo quản, cấp phát thuốc cho một số bệnh viện và đơn vị bộ đội quanh vùng.

Đội ngũ cán bộ dược ban đầu còn rất ít, ngoài một số anh em dược sĩ, sinh viên dược khoa  3, dược tá cũ, số còn lại phần lớn là học sinh, nhân viên hồng thập tự vừa làm vừa học, mỗi phòng bào chế có khoảng trên dưới 10 người.

Tại Trung Bộ, tháng mười năm 1946 đã gấp rút đào tạo 12 dược tá cử đi phục vụ các đơn vị, đây cũng là lớp dược tá đầu tiên của quân đội.
Tại các trung đoàn, trừ một số đơn vị có cán bộ tòng quân, còn hầu hết đều chưa có dược tá, anh em y tá, cứu thương các đơn vị đều tự động kiêm nhiệm, lo liệu lấy thuốc và dụng cụ. Khả năng tiếp tế thuốc của Cục quân y còn hạn chế, nên nội dung công tác chuyên môn còn rất đơn giản.

Tháng sáu năm 1946, Quân y cục thành lập Quân y viện trung ương ở Hà Nội 4 để thu dung thương binh bệnh binh khu vực Hà Nội và để tiếp nhận thương binh, bệnh binh của các chiến khu gửi về, khả năng giải quyết kỹ thuật tuy có cao hơn cơ sở điều trị khác nhưng còn có hạn 5.

Quân y viện trung ương Hà Nội tổ chức một phòng bào chế, lúc đầu do một sinh viên dược khoa đảm nhiệm, sau được tăng cường một dược sĩ  6.

Để tăng cường chỉ đạo các tổ chức quân y, Quân y cục đã được củng cố một bước. Ngoài văn phòng đã thành lập Ban thanh tra  7, Ban nghiên cứu kế hoạch, và tổ chức thêm Phòng tuyển binh loại ngũ 8 .

Trong thời kỳ hình thành ngành quân y, do điều kiện thực tiễn của cách mạng lúc đó, đội ngũ cán bộ quân y ban đầu từ nhiều thành phần xã hội đã được thu hút đi theo cách mạng. Cạnh đội ngũ cán bộ trẻ, hăng hái nhiệt tình cách mạng, xuất thân từ các thành phần yêu nước, chúng ta cũng đã thu nhận và trọng dụng những trí thức cũ. Việc tổ chức ngành quân y thành một hệ thống dọc trong quân đội là cần thiết, nhằm tạo điều kiện cho anh em trí thức cũ có thể đi theo quân đội được. Tuy nhiên, hệ thống tổ chức dọc đó cũng là một điều kiện thuận lợi cho những quan niệm và tư tưởng chuyên môn đơn thuần, chuyên môn tách rời với chính trị phát triển; việc lựa chọn, đào tạo cán bộ lúc này chưa chú trọng đến cán bộ xuất thân công nông, còn thiên về văn hóa, kỹ thuật, thiếu chặt chẽ về chính trị và tổ chức, nên đã đưa vào hàng ngũ cán bộ một số người không đủ tiêu chuẩn chính trị. Tình hình đó đã có những tác động xấu nhất định trong quá trình phát triển sau này của ngành.

Trong điều kiện mới xây dựng ngành, do trình độ giác ngộ chính trị còn non nớt và hạn chế nên trong công tác phục vụ, đã xuất hiện ở một số cán bộ tư tưởng chuyên môn đơn thuần, quan điểm phục vụ bộ đội, phục vụ thương binh, bệnh binh còn thiếu sót. Quyết nghị án của Hội nghị quân sự Đảng toàn quốc ngày 19 tháng mười năm 1946 phần nói về công tác “Vấn đề quân nhu, vũ khí, quân y” đã nói rõ:

- Định rõ sự quan hệ giữa bộ đội và ngành quân y,

- Phải đi tới sự đào tạo các bác sĩ chuyên môn trong bộ đội.

- Phải kiểm tra thuốc men do quân y phát cho bộ đội.

- Quy định thuốc quinin cho bộ đội ở những nơi nước độc.

- Can thiệp với các bác sĩ phụ trách không được cho binh sĩ giải ngũ.

Việc tổ chức ở cơ quan Quân y cục các ban thanh tra, ban nghiên cứu kế hoạch và phòng tuyển binh loại ngũ cũng nhằm một bước chấn chỉnh những thiếu sót và khắc phục những hạn chế của tình hình phục vụ lúc bấy giờ.

Trước sự phát triển của quân đội và yêu cầu xây dựng ngành trong thời kỳ hình thành, số cán bộ quân y tình nguyện và trưng tập lần thứ nhất không thể thỏa mãn được nhu cầu, Chính phủ đã ra lệnh trưng tập lần thứ hai vào tháng sáu năm 1946.

Bên cạnh việc trưng tập, Quân y cục gấp rút đào tạo cán bộ sơ cấp và tổ chức việc đào tạo cán bộ có trình độ đại học bằng việc mở Hệ quân y đại học, trong Trường đại học y dược khoa Hà Nội.

Trường quân y đại học được khai mạc ngày 21 tháng mười một năm 1946 tại Hà Nội. Hồ Chủ tịch và đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tới dự lễ khai mạc.

Lúc này do thực dân Pháp gây hấn ở Hải Phòng và Lạng Sơn, tình hình rất khẩn trương, nên ngay sau khi khai mạc, hệ huấn luyện này phải chuẩn bị để phân tán.

Sau này cuộc chống Pháp, do điều kiện cụ thể, ta chỉ có thể tổ chức được Hệ sinh viên y dược khoa quân y trong Trường đại hoc y dược khoa tại Việt Bắc. 

Việc thành lập Trường quân y đại học lúc đó nói lên sự quan tâm của Hồ Chủ tịch và Chính phủ đối với việc đào tạo bác sĩ quân y cho bộ đội, nói lên tinh thần mạnh dạn khắc phục khó khăn và tinh thần tự lực của ngành.

Trong lời huấn thị tại lễ khai giảng Trường đại học quân y, Hồ Chủ tịch đã khuyên nhủ anh em sinh viên phải: “Hăng hái, hy sinh, bái ái, đoàn kết và kỷ luật”. Đó cũng là dạy ân tình của lãnh tụ đối với toàn ngành. Đồng chí Võ Nguyên Giáp cũng kêu gọi “Phải chữa bệnh bằng thuốc nam, bằng thân ái, hy sinh, dũng cảm, kết hợp chuyên môn với giác ngộ, người thầy thuốc quân y sẽ là những chính trị viên đắc lực trong việc nâng đỡ bộ đội”.

Phát biểu trong lễ khai mạc, đồng chí Quân y Cục trưởng đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải coi trọng học tập quân sự trong nội dung huấn luyện của nhà trường.

Với cán bộ được tăng cường thêm trong thời kỳ này, Cục quân y đã có điều kiện phát triển tổ chức và chi viện cho các chiến trường, đặc biệt là cho miền Nam Trung Bộ.

Cho tới cuối năm 1946, tổng số nhân viên quân y từ Nam Trung Bộ tới Bắc Bộ đã có 1.700 cứu thương, 800 y tá và dược tá, 63 bác sĩ, dược sĩ và y sĩ. Nhưng so với yêu cầu mới chỉ đạt 1/10 (theo báo cáo khai mạc Trường Quân y đại học tháng mười một năm 1946 của đồng chí Cục trưởng Cục quân y).

Vì thuốc và dụng cụ y dược trong thời kỳ này, ta hoàn toàn chưa sản xuất được. Nguồn thuốc của ta chủ yếu là do y tế nhân dân cung cấp, hoặc thu từ các bệnh viện cũ của Pháp (Nam Định thu được hàng 100 cuộn bông băng, Hội An thu được 200 tấn thuốc, lẻ tẻ các địa phương khác thu được một số thuốc chiến thương và thuốc chữa sốt rét...). Ngoài ra ta còn mua của các hàng thuốc tư nhân, cử cán bộ ra nước ngoài mua... Nhờ vậy, tình hình thuốc cung cấp cho bộ đội không đến nỗi quá căng thẳng. Tuy nhiên, do ý thức tiết kiệm còn kém, sử dụng lãng phí, giữ gìn không tốt nên đã xảy ra mất mát, hỏng vỡ nhiều. Đáng chú ý là ta chưa tạo được dự trữ cần thiết, nên khi bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc, chúng ta đã gặp không ít khó khăn.

Song song với việc chấn chỉnh tổ chức, tăng cường đội ngũ cán bộ quân y ban đầu, chuẩn bị thuốc tại các khu, các trung đoàn đã tích cực xây dựng các cơ sở điều trị. Theo quy định, những cơ sở điều trị có 50 giường trở lên gọi là quân y viện, dưới 50 giường gọi là quân y xá, nhưng thực tế cũng chưa thực thống nhất ở mọi địa phương nhất là từ Nam Trung Bộ trở vào. Nội dung công tác cứu chữa cũng thay đổi tùy theo từng khu vực.

Ở các địa phương mà chiến sự chưa lan tới thì đối tượng chính là bệnh binh. Các quân y xá hoặc quân y viện thường bố trí ở các thị trấn, tiện đường giao thông vận chuyển. Cơ sở điều trị thường là các cơ sở cũ của Pháp, phương tiện và thuốc tương đối đủ, lại có sự giúp đỡ của nhân dân và ngành y tế nhân dân, do đó việc phục vụ thương binh, bệnh binh gặp nhiều thuận lợi.

Ở địa phương có chiến sự như ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và một số nơi ở Bắc Bộ như Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai (trấn áp bọn phản cách mạng), Hải Ninh (tiễu trừ thổ phỉ), Lai Châu, (đánh Pháp)..., thì ngoài bệnh binh, các cơ sở điều trị đều phải tập trung lực lượng phục vụ thương binh. Đây là một công việc hết sức mới mẻ và rất khó khăn đối với cán bộ quân y lúc này. Trong chế độ cũ anh em chưa có kinh nghiệm cứu chữa vết thương chiến tranh, lại quen làm việc trong điều kiện có tiện nghi kỹ thuật, nay hoàn cảnh đã thay đổi hoàn toàn nên lúc đầu rất bỡ ngỡ và lúng túng. Nhưng với khí thế chiến thắng của cách mạng tháng Tám, với tinh thần phấn phởi tự hào của người trí thức vừa thoát khỏi cuộc đời nô lệ, nay được đứng lên làm chủ vận mệnh của mình, mọi người như thấy được tăng thêm nghị lực và sức sáng tạo, sẵn sàng vượt mọi khó khăn, hoàn thành mọi nhiệm vụ. Nhiều bác sĩ, dược sĩ, y sĩ đã đưa hết khả năng, trí tuệ của mình phấn đấu không mệt mỏi, ngày đêm phục vụ tận tụy thương binh, bệnh binh. Nhiều anh chị em y tá cứu thương hồng thập tư, dược tá đã anh dũng đi theo phục vụ bộ đội chiến đấu, chiến đấu dùng cảm, hy sinh thân mình cứu chữa thương binh, tận tụy làm tất cả các công tác điều trị, hộ lý, nấu ăn, cáng thương. Những hình ảnh chiến đấu anh dũng của bộ đội, những hy sinh to lớn của nhân dân đã là những nguồn động viên mạnh mẽ đối với nhân viên quân y, tạo ra một không khí làm việc say sưa, quên mình đầy hứng thú. “Đồng chí”, “Chiến khu”, “Bác Hồ” là những tiếng gọi thiêng liêng, cao cả, đầy sức thuyết phục.

Đi đôi với công tác điều trị, Cục quân y cũng bắt đầu chú ý đến vấn đề truyền bá vệ sinh. Tháng sáu năm 1946, Cục quân y xuất bản số báo “Vui sống” đầu tiên tại Hà Nội.

Báo Vui sống được xuất bản và phát hành trong quân đội từ năm 1946 đến năm 1952, ra được 85 số. Lúc đầu, báo Vui sống là cơ quan truyền bá vệ sinh và y học của Quân y cục, đến số 78 thì trở thành cơ quan tuyên truyền và giáo dục chung của hai Cục quân y và Cục quân nhu.

Báo Vui sống phổ cập được một số vấn đề vệ sinh và y học thường thức, những năm đầu chưa có một đường hướng rõ ràng, chính xác nên nội dung còn tản mạn, chưa nhằm đúng đối tượng phục vụ là quân đội.




----------------------------------------------------------------
1. Do dược sĩ Hoàng Xuân Hà và dược sĩ Nguyễn Trọng Bính phụ trách.
2. Do dược sĩ Nguyễn Sĩ Dư phụ trách.
3. Số sinh viên dược khoa tòng quân đầu tiên có các đồng chí Hoàng Như Tố, Đặng Hanh Khôi, Phan Hữu Bào, Hoàng Bá Long, Đinh Ngọc Lâm...
4. Do bác sĩ Lê Văn Phụng phụ trách.
5. Tháng tư năm 1946, Quân y phân cục ở Huế mở rộng bệnh viện Mang Cá, có khả năng thu nhận gần 1000 thương binh, bệnh binh nhằm phục vụ cho yêu cầu của các mặt trận từ Nam Trung Bộ chuyển ra. Quân y viện Mang Cá sau khi cứu chữa, nếu cần thiết thì chuyển về Quân y viện Trung ương.
6. Do dược sĩ Huỳnh Quang Đại phụ trách.
7. Do bác sĩ Trần Hữu Nghiệp phụ trách.
8. Do bác sĩ Lê Văn Chánh phụ trách.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4362



« Trả lời #11 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2020, 02:16:47 pm »

TÓM TẮT


Đặc điểm lớn nhất trong thời kỳ hình thành ngành quân y là: Cách mạng mới thành công, đoàn quân giải phóng được đổi thành các đơn vị Vệ quốc đoàn, đội quân thường trực của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, phải nhanh chóng có ngay một tổ chức y tế bảo đảm cho đội quân thường trực đó. Sau nhiều năm nô lệ, lần đầu tiên giành được chính quyền, việc xây dựng ngành quân y là một việc hoàn toàn mới mẻ không có kinh nghiệm và không có cơ sở sẵn có.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng quân đội nói chung, chúng ta đã tuân theo đường lối xây dựng quân đội của Đảng mà từng bước xây dựng ngành quân y. Hai vấn đề lớn được đặt ra cho ngành quân y lúc này là : Nhanh chóng tạo ra một đội ngũ cán bộ quân y ban đầu và có ngay các tổ chức chữa bệnh cần thiết để cứu chữa thương binh, bệnh binh.

Thực hiện nguyên tắc xây dựng lưc lượng vũ trang trên cơ sở xây dựng lực lượng chính trị, chúng ta đã xây dựng đội ngũ cán bộ quân y ban đầu bằng cách thu hút những người có tinh thần giác ngộ cách mạng, tình nguyện tham gia quân đội, kêu gọi y sĩ, bác sĩ, sinh viên y khoa, dược khoa, dược tá, y tá... tòng quân huấn luyện một số thanh niên hăng hái vào học cứu thương, y tá..., làm nòng cốt cho việc phát triển tổ chức.

Chúng ta đã dựa vào sức dân, dựa vào sự đóng góp của nhân dân mà xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đầu tiên phục vụ cho việc cứu chữa lúc đó.

Tổ chức quân y đã được xây dựng trong những đơn vị quân đội, bộ đội phát triển đến đâu thì tổ chức quân y đến đó.

Ban y tế Vệ quốc đoàn Hà Nội, các ban y tế các chiến khu và các chi đội được thành lập là những tổ chức đầu tiên của ngành quân y. Tháng tư 1946, Quân y cục được thành lập, từ đó bắt đầu có một tổ chức thống nhất từ trên xuống dưới, tuy còn đơn giản.

Các cơ sở đầu tiên cũng được xây dựng, tại các chiến khu đều thành lập các quân y viện, nhiều quân y viện lúc đầu là từ các bệnh viện của ngành y tế nhân dân tách ra, hoặc là kết hợp cả hai nhiệm vụ do quân y phụ trách. Các cơ sở chế thuốc và tiếp tế thuốc đầu tiên cũng được xây dựng. Chúng ta đã bắt đầu chú ý đến việc truyền bá vệ sinh.

Do đặc điểm của tình hình lúc này, ngành quân y được tổ chức thành một ngành dọc trong quân đội. Tổ chức này hoàn toàn dựa vào các lực lượng y tế cũ, tuy là phục vụ cho quân đội nhưng về tổ chức cũng như lề lối làm việc vẫn theo kiểu của ngành y tế cũ, thiếu tính chất cách mạng và tính chất quân sự.

Ngay những ngày đầu cách mạng, chúng ta đã được ngành y tế nhân dân kết hợp trên nhiều mặt: Tiếp tế thuốc, giúp đỡ phương tiện, cơ sở điều trị, cung cấp và đào tạo cán bộ, nhất là tại các vùng có chiến sự, các cơ sở và các cơ quan y tế đều tham gia phục vụ bộ đội tác chiến. Ngược lại, quân y cũng sẵn sàng điều trị nhân dân tùy theo khả năng của mình. Sự giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần đồng chí ngày càng phát triển, xây dựng nên truyền thống tốt đẹp, truyền thống “Kết hợp quân dân y”.

Tóm lại, sau hơn một năm xây dựng trong điều kiện vừa mới có chủ quyền, chúng ta đã hình thành được một hệ thống chưa toàn diện từ Bắc Bộ vào đến Nam Trung Bộ, đã tranh thủ sử dụng cán bộ cũ và đào tạo cán bộ mới, góp phần cùng ngành y tế nhân dân trong việc bảo đảm cứu chữa thương binh, bệnh binh ; về tổ chức chủ yếu là xây dựng các tổ chức điều trị, về đào tạo chủ yếu là đào tạo cán bộ sơ cấp. Chúng ta mới chú trọng đến công tác điều trị theo quan niệm cũ, chưa có nhận thức đúng về vai trò quần chúng trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe quân đội, chưa quan niệm được vị trí của công tác phòng bệnh.

Do những điều kiện lịch sử nhất định hạn chế, việc xây dựng đội ngũ cán bộ quân y ban đầu còn thiếu phương hướng xây dựng, nhất là không thực hiện được việc lựa chọn cốt cán cho ngành. Tổ chức ngành dọc mang tính chất y tế nhiều hơn tính chất quân đội, tuy trước mắt có phát huy tác dụng tập hợp được một số cán bộ y tế cũ phục vụ cho quân đội, nhưng cũng đã để lại một số kết quả không tốt cho những giai đoạn phát triển sau này.
Logged
Trang: « 1 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM