Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Bảy, 2020, 05:15:09 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ  (Đọc 172 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2020, 09:40:03 am »

Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ


Sưu tầm, tuyển chọn: SÔNG LAM - DŨNG QUYẾT
NXB Văn Học 2014

Nguồn: sưu tầm.






Lời giới thiệu


Nhiều học giả quân sự cho rằng, Điện Biên Phủ là một trong những trận đánh vĩ  đại nhất của thế kỷ 20. Và cho đến nay, sự kiện đó vẫn dược đề cập đến trong hầu hết các tài liệu lịch sử. Để làm nên một trận Điện Biên “chấn động địa cầu” là công sức của cả dân tộc, của toàn quân, toàn dân dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của Bác Hồ. Tuy nhiên, có thể nói rằng các tướng lĩnh Việt Nam mà đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận cũng như sĩ quan các cấp từ đại đoàn trở xuống đã trực tiếp đóng góp tài trí, công sức rất to lớn cho chiến thắng vang dội này...

Các tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ phần nhiều chưa kinh qua các trường đào tạo sĩ quan quân sự. Xuất phát điểm của họ là một thầy giáo dạy sử, một sinh viên trường luật hay chỉ là một người thanh niên nông thôn nhưng trên chiến trường đã thể hiện một tư duy chiến lược, chiến thuật tuyệt vời.

Ngoài các tướng lĩnh cao cấp thuộc Bộ chỉ huy Mặt trận Điện Biên Phủ do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ủy viên Bộ Chính trị trung ương Đảng trực tiếp làm bí thư đảng ủy và Chỉ huy trưởng mặt trận thì các tướng lĩnh, sĩ quan chỉ huy từ đại đoàn xuống tiểu đoàn đã thể hiện trí tuệ, bản lĩnh trong từng trận đánh. Họ là các tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy chiến đấu trên chiến trường như: Lê Trọng Tấn, Vương Thừa Vũ, Song Hào, Lê Quảng Ba, Chu Huy Mân, Vũ Lập, Phạm Ngọc Mậu... hay Phạm Hồng Sơn, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu An, Vũ Lăng...

Trong quá trình sưu tầm tư liệu để thực hiện cuốn sách “Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ “ này, mặc dù đã cố gắng hết sức tuy nhiên có những vị chúng tôi không thể tìm được thông tin, tư liệu, bởi vậy rất mong bạn đọc lượng thứ và chỉ dẫn hướng khắc phục thiếu sót này để trong lần tái bản sau cuốn sách sẽ hoàn thiện hơn!

Trân trọng cảm ơn và giới thiệu!

NHÓM BIÊN SOẠN
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #1 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2020, 09:47:56 am »

VÕ NGUYÊN GIÁP
TƯ LỆNH KIÊM BÍ THƯ ĐẢNG ỦY MẶT TRẬN


Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911, là đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông được nhiều người xem như một huyền thoại quân sự thế giới khi chỉ huy một đội quân non trẻ đánh bại một cường quốc quân sự thế giới.

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Sao vàng.
- Hai Huân chương Hồ chí Minh.
- Hai Huân chương Quân công hạng Nhất.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
- Huân chương Chiến công hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
- Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Nhà nước Lào tặng Huân chương Vàng quốc gia Lào, Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Ăng Co. Đồng chí được Đảng, Chính phủ các nước tặng nhiều Huân chương cao quý.

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL: Phong đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho nghèo, con của ông Võ Quang Nghiêm (Võ Nguyên Thân). Ông thân sinh Võ Quang Nghiêm là một nho sinh lận đận đường khoa cử, đi thi mãi không đậu, về làm hương sư và thầy thuốc Đông y, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, bị Pháp bắt, đưa về giam ở Huế và mất trong tù.
Năm 1925, Võ Nguyên Giáp rời trường Tiểu học Đồng Hới ở quê nhà Quảng Bình để vào Huế ôn thi vào trường Quốc học Huế và đỗ thứ hai sau Nguyễn Thúc Hào. Hai năm sau, ông bị đuổi học cùng với Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Phan Bôi sau khi tổ chức một cuộc bãi khóa. Ông bèn về quê và được Nguyễn Chí Diểu giới thiệu tham gia Tân Việt Cách mạng đảng, một đảng theo chủ nghĩa dân tộc nhưng có màu sắc cộng sản thành lập năm 1924 ở miền Trung. Nguyễn Chí Diểu đã giới thiệu Võ Nguyên Giáp vào làm việc ở Huế, tại Nhà xuất bản Quan hải tùng thư do Đào Duy Anh sáng lập và ở báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng. Tại đây, Võ Nguyên Giáp bắt đầu học nghề làm báo, chuẩn bị cho giai đoạn hoạt động báo chí sôi nổi trong thời Mặt trận Bình dân Pháp.

Khoảng đầu tháng 10 năm 1930, trong sự kiện Xô Viết - Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và bị giam ở Nhà lao Thừa Phủ (Huế), cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ Thuần Nho và các thầy giáo Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng... Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế tiếp tục làm báo Tiếng dân.

Sau đó ông ra Hà Nội, học trường Albert Sarraut và đỗ tú tài. Ông tốt nghiệp đại học ngành Luật và Kinh tế chính trị năm 1937.

Năm 1934, ông lấy bà Nguyễn Thị Quang Thái (1915-1943), bạn học tại Quốc học Huế và là một đồng chí của ông (bà cũng là em ruột của nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai). Năm 1943, bà Thái mất trong nhà giam Hỏa Lò, Hà Nội.

Tháng 5/1939, ông nhận dạy môn sử ở trường tư thục Thăng Long, Hà Nội do Hoàng Minh Giám làm Giám đốc nhà trường (tức Hiệu trưởng).

Từ 1936 đến 1939, ông tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Uỷ ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội. Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo Tin tức, Dân chúng. Ngày 3/5/1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh. Ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm này và bắt đầu các hoạt động của mình dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh trong một tổ chức chống phát-xít và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam có tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội gọi tắt là Việt Minh. Ông tham gia gây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng.

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ông thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy. Ngày 25/12/1944, đội quân này đã tiến công thắng lợi hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần. Ngày 14/8/1945, ông được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là ủy viên Thường vụ Trung ương, tham gia ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc.

Sau Cách mạng tháng Tám, Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời (từ ngày 28/8 đến hết năm 1945) và là Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ. Trong Chính phủ Liên hiệp thành lập ngày 3/11/1946, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cho đến tháng 7/1947 và từ tháng 7/1948 trở đi). Cũng trong năm 1946, ông lập gia đình với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng Thai Mai).

Ngày 19/12/1946, chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, ông bắt đầu lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài 9 năm chống lại sự trở lại của thực dân Pháp (1945-1954) với cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (gọi tắt là Quân ủy Trung ương), ông được phong Đại tướng ngày 25/1/1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20/1/1948, cùng đợt có Nguyễn Bình được phong Trung tướng; Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Tháng 8 năm 1948, ông là ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập.

Ông là một nhà quân sự đã vận dụng tài giỏi chiến thuật chiến tranh du kích. Ông cũng là người lập kế hoạch và trực tiếp chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Chiến dịch đó đã giành thắng lợi vang dội, “chấn động địa cầu”.

Các chiến dịch ông đã tham gia với tư cách là Tư lệnh chiến dịch - Bí thư Đảng ủy trong kháng chiến chống Pháp:

Chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947)
Chiến dịch Đông Bắc (1948 - 1949)
Chiến dịch Biên Giới (tháng 6/1950)
Chiến dịch Trung Du (tháng 12/1950) Chiến dịch Đồng Bằng (tháng 5/1951) Chiến dịch Hòa Bình (tháng 12/1951) Chiến dịch Tây Bắc (tháng 9/1952)
Chiến dịch Thượng Lào (tháng 4/1953) Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 1/1954)

Cuối năm 1953, đầu năm 1954, kế hoạch đánh tập đoàn cứ điểm lịch sử Điện Biên Phủ được ta ráo riết chuẩn bị theo phương thức “đánh nhanh thắng nhanh”. Đây là trận đánh đầu tiên Quân đội ta sử dụng đại bác 105 li và pháo cao xạ, nên tinh thần bộ đội rất phấn chấn. Hầu hết các đồng chí trong Đảng ủy mặt trận, Bộ Chỉ huy chiến dịch và các chuyên gia nước ngoài đều có chung ý kiến: Cần đánh ngay trong lúc địch chưa tăng cường thêm quân và củng cố công sự. Nếu không đánh sớm, địch tăng cường lực lượng, tập đoàn cứ điểm sẽ trở nên quá mạnh và nếu không đánh nhanh sẽ khó giải quyết vấn đề tiếp tế, vì tuyến đường từ hậu phương ra tiền tuyến quá xa. Tuy nhiên, với con mắt của một thiên tài quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận ra những khó khăn, sự mạo hiểm của phương thức đánh này: “Nhiều người cho rằng sự xuất hiện lần đầu của lựu pháo và cao xạ sẽ làm quân địch choáng váng, Nhưng chúng ta chỉ có vài ngàn viên đạn. Đặc biệt mọi người đều tin vào khí thế của bộ đội khi xuất quân, tin vào sức mạnh tinh thần. Nhưng sức mạnh tinh thần cũng có những giới hạn. Không phải chỉ với sức mạnh tinh thần cao mà lúc nào cũng chiến thắng quân địch! Chúng ta cũng không thể giành chiến thắng với bất kể giá nào, vì phải giữ gìn vốn liếng cho cuộc chiến đấu lâu dài”. Bám sát trận địa và theo dõi sát sao mọi diễn biến của chiến trường, Đại tướng đã nhận ra ba khó khăn lớn mà chúng ta đang phải đối mặt:

“Thứ nhất, bộ đội chủ lực ta đến nay chỉ tiêu diệt cao nhất là tiểu đoàn địch tăng cường, có công sự vững chắc ở Nghĩa Lộ. Ở Nà Sản, chúng ta mới đánh vào vị trí tiểu đoàn, dưới tiểu đoàn, công sự dã chiến nằm trong tập đoàn cứ điểm, vẫn có những trận không thành công, bộ đội thương vong nhiều.

Thứ hai, trận này, tuy ta không có máy bay, xe tăng, nhưng đánh hiệp đồng binh chủng bộ binh, pháo binh với quy mô lớn lần đầu, mà lại chưa qua diễn tập. Vừa qua có trung đoàn xin trả lại pháo vì không biết phối hợp thế nào.

Thứ ba, bộ đội ta từ trước tới nay chỉ quen tác chiến ban đêm, ở những địa hình dễ ẩn náu. Chủ lực ta chưa có kinh nghiệm công kiên ban ngày trên trận địa bằng phẳng, với một kẻ địch có ưu thế về máy bay, pháo binh và xe tăng. Trận đánh sẽ diễn ra trên một cánh đồng dài 15 km và rộng 6-7 km...

Tất cả mọi khó khăn đó đều chưa được bàn bạc kỹ và tìm cách khắc phục.

Nhưng giải quyết ra sao? Pháo binh đã vào vị trí, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến xuất phát xung phong. Quyết định hoãn trận đánh một lần nữa sẽ tác động tới tinh thần bộ đội như thế nào...?

Tôi nhận thấy phải cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách đánh khác, dù bộ đội có thắc mắc. Phải chuyển từ phương án “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc.” (trích “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử”).

Thông thường trước mỗi trận đánh, Đại tướng thường khuyến khích cán bộ nói hết những khó khăn để cùng bàn cách khắc phục, nhưng lần này bộ đội ta đang hừng hực khí thế, các đơn vị đều hăng hái nhận nhiệm vụ, không một ai thắc mắc gì.

Trước đó, khi quân ta đang chuẩn bị kéo pháo vào trận địa, Đại tướng đã hết sức băn khoăn trước phương án “đánh nhanh thắng nhanh”, nhưng chưa có đủ cơ sở thực tế để bác bỏ phương án này. Ông cũng đã tranh thủ ý kiến của các đồng chí trong Bộ chỉ huy chiến dịch và chuyên gia quân sự nước bạn, nhưng không nhận được sự đồng thuận. Lần này, khi đã có những luận cứ thực tế, Đại tướng đã quyết định tổ chức cuộc họp Đảng ủy mặt trận để trưng cầu ý kiến và quyết định phương thức đánh. Trong cuộc họp này, sau khi ghi nhận tất cả các ý kiến, Đại tướng đã nêu ra tất cả những khó khăn và nhắc lại lời căn dặn của Bác trước khi lên đường đi chiến dịch: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh. Vì nếu thua thì hết vốn”. Với sự phân tích thấu đáo của Đại tướng, Đảng ủy đã đi tới nhất trí, nếu thực hiện phương thức “đánh nhanh thắng nhanh” trận đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà ta chưa có biện pháp cụ thể để khắc phục và Đại tướng đi đến kết luận: “Để đảm bảo nguyên tắc cao nhất là “đánh chắc thắng” cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết và kéo pháo ra”.

Quyết định này thực sự là một đòn cân não đối với Đại tướng. Bao nhiêu mồ hôi xương máu của bộ đội, bao nhiêu tiền của của nhân dân đã đổ ra để mở 82 km đường và kéo pháo vào trận địa, nay lại nhận được lệnh kéo pháo ra, làm sao không tác động mạnh tới tinh thần anh em binh sĩ? Trước đó, trận đánh đã phải lui lại 5 ngày (từ ngày 20 lùi lại ngày 25/1/1954) do việc kéo pháo vào trận địa gặp khó khăn, nay lại tiếp tục hoãn mà chưa ấn định được thời gian mở màn chiến dịch, tư tưởng bộ đội sẽ ra sao? Việc thay đổi cách đánh có thể ảnh hưởng đến sinh mệnh chính trị của người cầm quân, nhưng vì mục tiêu cuối cùng là chắc thắng, vì nếu mạo hiểm có thể “nướng” hàng ngàn binh sĩ trên chảo lửa chiến trường một cách vô ích, nên Đại tướng đã đi đến quyết định cuối cùng kéo pháo ra trận địa sau 11 ngày đêm trăn trở suy nghĩ.

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ mang đậm dấu ấn của ông trong việc tạo thế, tổ chức hậu cần, thay đổi chiến thuật. Sau chiến dịch này, Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam sau hơn 80 năm.

Từ tháng 8/1945, ông là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành ủy viên Bộ Chính trị (thay thế Ban Thường vụ Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951.

Từ năm 1954 đến năm 1976, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ cương vị Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh quân đội, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông còn là Phó Thủ tướng Chính phủ, sau là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (từ năm 1955 đến năm 1991). Trong 21 năm (1954-1975) của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông thực hiện nhiệm vụ xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tham gia xây dựng chiến lược chiến tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Trong một thời gian ngắn từ tháng 7/1960 đến tháng 1/1963, ông kiêm thêm chức vụ chủ nhiệm ủy ban Khoa học Nhà nước.

Năm 1980, ông thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng vẫn tiếp tục là Ủy viên Bộ Chính trị (đến năm 1982) và phó Thủ tướng phụ trách Khoa học - Kỹ thuật. Người thay thế ông ở Bộ Quốc phòng là Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội, một trong những cộng sự lâu năm nhất của ông. Năm 1983, ông được Hội đồng Bộ trưởng phân công kiêm nhiệm vai trò Chủ tịch Ủy ban Quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch.

Năm 1991, ông nghỉ hưu ở tuổi 80.

Là một người có tài tổ chức và kiên nhẫn, Võ Nguyên Giáp đã từng bước xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam từ 34 người vào tháng 12/1944 thành một đội quân với hơn một triệu người năm 1975. Là một nhà chiến lược - chiến thuật bậc thầy, ông đã lãnh đạo quân đội giành thắng lợi trong cả hai cuộc chiến tranh. Tên tuổi của Võ Nguyên Giáp gắn liền với một chiến thắng có ý nghĩa quốc tế của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong trận Điện Biên Phủ - lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa châu Á đánh bại trên chiến trường quân đội của một cường quốc châu Âu. Với hơn 50 năm tham gia hoạt động chính trị ở cấp cao nhất, trong đó có 30 năm là Tổng tư lệnh quân đội, ông có uy tín lớn trong Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quân đội và trong nhân dân, được coi là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là Người anh cả của Quân đội Nhân dân.

Ông được cả thế giới biết đến như một trong những danh tướng của thế kỷ 20 - người đã đánh bại nhiều viên tướng quân đội Pháp trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và lần lượt đọ sức với 7 danh tướng của quân đội Hoa Kỳ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Kỷ niệm 60 năm ngày phát hành số đầu tiên. Thời báo châu Á (Times Asia) đã ra số đặc biệt giới thiệu các “Anh hùng châu Á”, tôn vinh các nhân vật nổi tiếng làm thay đổi cục diện châu lục trong những thập kỷ gần đây. Những nhân vật được giới thiệu gồm Mahatma Gandhi, Jawaharlal Nehru, Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Việt Nam )...

Không chỉ là một vị Đại tướng trong quân đội, ông còn là tác giả của nhiều tác phẩm có giá trị:

Vấn đề dân cày (đồng tác giả với Trường Chinh), 1938
Đội quân giải phóng, 1947
Từ nhân dân mà ra, 1964
Điện Biên Phủ, 1964
Mấy vấn đề đường lối quân sự của Đảng, 1970
Những năm tháng không thể nào quên, 1972
Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân, 1972
Những chặng đường lịch sử (gồm 2 tác phẩm đã in trước đó là Từ nhân dân mà raNhững năm tháng không thể nào quên), 1977
Chiến đấu trong vòng vây, 1995
Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, 1979
Đường tới Điện Biên Phủ
Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử
Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng
, 2000.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #2 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2020, 09:55:07 am »

HOÀNG VĂN THÁI
THAM MƯU TRƯỞNG



Hoàng Văn Thái sinh năm 1915, mất ngày 2/7/1986, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam (nay là Quân đội Nhân dân Việt Nam) (1945-1953), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn (1958-1965), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5 (1966-1967), nguyên Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (1967-1973), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (1974-1986), Nguyên ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương. Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ khác như: Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục Thể thao Nhà nước (1960-1965), ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa III đến khóa V, Đại biểu Quốc hội khóa VII.

Hoàng Văn Thái được phong quân hàm Thiếu tướng ngay trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1/1948), Trung tướng ngày 31/8/1959; Thượng tướng tháng 4/1974; Đại tướng tháng 1/1980.

Ông từng tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch, là Đảng ủy viên Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23/3 -7/4/1951); Đảng ủy viên Chiến dịch Hà Nam Ninh (28/5 - 20/6/1951); Tham mưu trưởng Chiến dịch Hòa Bình (10/12/1951 - 25/2/1952); Tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Bắc (14/10 - 10/12/1952); Tham mưu trưởng Chiến dịch Thượng Lào (13/4 -14/5/1953); Tham mưu trưởng Chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3 - 7/5/1954); Tư lệnh Chiến dịch Lộc Ninh (27/10 - 10/12/1967); Tư lệnh chiến dịch Tây Ninh (17/8 - 28/9/1968).

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Sao vàng (truy tặng)
- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Nhì.
- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
- Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất.
- Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Đại tướng Hoàng Văn Thái (tên thật là Hoàng Văn Xiêm) quê tại xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình trong một gia đình nông dân nghèo. Quê ông vốn là một vùng quê giàu truyền thống yêu nước. Thân phụ ông là cụ Hoàng Thiện Thuật, dạy chữ Nho đến cấp hàng tổng, từng tham gia Hội văn thân yêu nước ở địa phương những năm đầu thập kỷ 30, thế kỷ trước.

Trong từng giai đoạn lịch sử, huyện Tiền Hải luôn luôn xuất hiện những nhân vật nổi tiếng đã đi vào lịch sử dân tộc. Đó là tướng Vũ Đức Cát, triều đại Tây Sơn, sau là một trong những tướng giỏi của cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành. Đó là nhà cải cách Bùi Viện, đề xướng duy tân đất nước dưới triều Nguyễn. Trong phong trào cần vương cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Quang Bích nổi lên là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước căm thù giặc. Đặc biệt là cuộc biểu tình của những người nông dân Tiền Hải ngày 14/10/1930 đã ghi đậm dấu son trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc. Tiếp đó là các ông: Vũ Trọng, Vũ Nhu, Ngô Duy Phớn... những người truyền bá Chủ nghĩa Mác -Lênin và thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở địa phương.

Tất cả những tấm gương và các hoạt động ấy đã có tác động rất lớn đến tư tưởng và lòng yêu nước của ông. Hơn nữa, Hoàng Văn Xiêm là một học sinh chăm học, ham hiểu biết, nhanh nhẹn giàu nghị lực nên được thầy giáo và các bạn quý mến kết quả là ông đỗ bằng tiểu học Pháp - Việt loại ưu.

Năm 13 tuổi, ông đã phải bỏ học đi làm thuê rồi đi cắt tóc. Năm 18 tuổi, ông là thợ mỏ Hòn Gai (Quảng Ninh) rồi sau đó lên làm thợ tại mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) và giác ngộ cách mạng. Trở về làng, ông cùng với số đông anh em khác tích cực tham gia tổ chức các hội ở địa phương như: Hội hiếu, hội tương tế, hội đá bóng, hội âm nhạc, hội đọc báo...  Ông Nguyễn Trung Khuyến, cán bộ lãnh đạo do huyện cử xuống trực tiếp chỉ dẫn hoạt động. Chỉ sau vài tháng, số học viên trong làng phát triển nhanh. Hội tương tế lên tới 170 hội viên do ông Lương Thúy làm hội trưởng, Hoàng Văn Xiêm làm thư ký.

Ngoài việc tham gia hoạt động, ông còn cùng với thanh niên trong làng thành lập Đoàn Thanh niên Dân chủ, tổ chức ra các hội đá bóng, hội nhạc âm. Khắp các địa phương trong tỉnh, trong huyện, phát triển đội nhạc âm, thu hút thanh niên, học sinh tham gia. Ông thổi kèn rất giỏi, tranh thủ các tối hòa nhạc chuẩn bị cho những buổi tế lễ, ông cùng các anh em địa phương bí mật rải truyền đơn, vận động nhân dân đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ, hát đồng ca bài hát cách mạng.

Do hăng say, nhiệt tình, sáng tạo và dũng cảm hoạt động ở địa phương nên năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng, trở thành đảng viên trung kiên của chi bộ An Khang.

Cuối năm 1939, địch liên tiếp mở các đợt khủng bố rất dã man, nhiều đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt. Các tổ chức Đảng chuyển vào hoạt động bí mật. Ông gây dựng lại phong trào đấu tranh của quần chúng An Khang, giác ngộ và đưa vào tổ chức nhiều thanh niên yêu nước như: Nguyễn Hữu Tước, Nguyễn Thế Long, Tô Đình Khảm, Nguyễn Đình Khiêm, Tô Chinh... Sau này đều trở thành cán bộ trung cao cấp của Nhà nước và Quân đội.

Giữa năm 1940, sau nhiều năm săn lùng, mật thám Pháp và tay sai bắt được ông Ngô Duy Phớn một trong những người lãnh đạo chủ chốt của phong trào cách mạng ở Tiền Hải và tuyên bố nếu ai khai báo chỗ ở của đảng viên cộng sản sẽ được thưởng thóc và huân chương của chính phủ Pháp. Do chỉ điểm, ông bị bắt giải về phủ Kiến Xương giam giữ. Một lính lệ quen biết bảo lãnh cho ông tại ngoại, chờ ngày xét xử. Chớp thời cơ, tổ chức bí mật đưa ông thoát li khỏi địa phương, tiếp tục hoạt động ở nơi khác.

Sau đó, ông lên nhận nhiệm vụ mới ở Hiệp Hòa, Bắc Giang và dự lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày. Ở lớp đó ông được nghe các ông Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh giảng về chính trị. Tháng 4/1941, ông có mặt ở Bắc Sơn. Cuộc khởi nghĩa vừa nổ ra tại đây và đồng bào các dân tộc đang trải qua cuộc đấu tranh quyết liệt, chống khủng bố của địch.

Mùa thu 1941, ông được cử đi học trường Quân sự Liễu Châu, Trung Quốc.

Trong thời gian học ở đây, ông làm trưởng đoàn Việt Nam và luôn có nhận thức, lý luận cách mạng vững mạnh, phẩm chất đạo đức tốt, đoàn kết được mọi người giữ vững quan điểm của mặt trận Việt Minh đồng thời kiên quyết dấu tranh với những quan điểm sai trái của hai nhóm Việt Quốc và Việt Cách.

Cuối năm 1943, khi lãnh tụ Hồ Chí Minh thoát khỏi nhà tù Tưởng Giới Thạch, ông đã trực tiếp được gặp lãnh tụ.

Cuối năm 1944, ông được tuyển chọn vào hàng ngũ 34 đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ông được cử phụ trách tuyên truyền và binh vận.

Sau chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, đội phát triển thành đại đội, ông được giao công tác trinh sát và lập kế hoạch tác chiến khi đơn vị chuẩn bị đánh đồn Đồng Mu. Khi đó, theo lời gợi ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông đã thức trắng đêm sáng tác bài “Phất cờ Nam tiến” - đây là bài hành khúc đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 3/1945, ông chỉ huy cánh quân giành chính quyền ở Chợ Đồn. Trong khi đang tổ chức huấn luyện quân sự ở đây, ông nhận được lệnh của ông Võ Nguyên Giáp bàn giao mọi việc cho những người lãnh đạo địa phương và chuyển quân xuống Chợ Chu (Định Hóa, Thái Nguyên) tổ chức chính quyền xã, huyện của vùng giải phóng đồng thời huấn luyện quân sự cho lực lượng tự vệ chiến đấu và các cán bộ đoàn thể. Tháng 4/1945, hội nghị Quân sự Bắc Kỳ quyết định sáp nhập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân và các lực lượng vũ trang khác thành Việt Nam giải phóng quân (15/5/1945) và quyết định thành lập Trường Quân chính kháng Nhật tại Tân Trào do ông phụ trách.

Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở Lục An Châu rồi sau đó đưa quân về phối hợp với quần chúng và lực lượng vũ trang địa phương giành chính quyền ở Tuyên Quang.

Cách mạng tháng Tám thành công, tháng 9 năm 1945, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiệm vụ thành lập Bộ Tổng tham mưu của Quân đội Quốc gia (sau là Quân đội Nhân dân Việt Nam) còn non trẻ và giữ chức Tổng tham mưu trưởng đầu tiên.

Từ 20 đến 27/11/1946, ông trực tiếp chỉ đạo mặt trận Hải Phòng. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ tại Hà Nội, ông cùng với ông Võ Nguyên Giáp là những người phê duyệt kế hoạch tác chiến của ông Vương Thừa Vũ (sau này là Trung tướng - Phó Tổng tham mưu trưởng), chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội. Trên cơ sở những kinh nghiệm ở Hải Phòng, ông đã xây dựng thế trận liên hoàn và khu vực tác chiến nhằm kìm giữ, tiêu hao quân Pháp trong lòng thành phố Hà Nội.

Ngày 26/8/1947, chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký quyết định bổ nhiệm Hoàng Văn Thái là Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam kiêm chức Đại đoàn trưởng Đại đoàn Độc Lập. Tháng 1/1948, trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân dội, ông được phong Thiếu tướng.

Chiến dịch Biên Giới (16/9-14/10/1950), ông là Tổng tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch. Trong chiến dịch này, đích thân ông chỉ huy trận đánh then chốt Đông Khê. Trong trận đánh Đông Khê, lúc đầu diễn ra không thuận lợi, ông đã ra tận chiến hào chỉ đạo, động viên bộ đội giữ chốt. Khi quân Pháp đánh chốt, ông ở lại giữ chốt cùng bộ đội.

Sau đó, ông tiếp tục làm Tham mưu trưởng các chiến dịch quan trọng khác như Trung Du, Hoàng Hoa Thám (1951).

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ông là Tham mưu trưởng chiến dịch.

Ngày 26/11/1953, ông dẫn đầu đoàn cán bộ của Bộ Tư lệnh tiền phương đường đi Tây Bắc nghiên cứu thực địa.

Ngày 30/11, đoàn đến Nà Sản, ông chủ trương cho đoàn dừng lại một ngày để nghiên cứu tập đoàn cứ điểm mà người Pháp vừa rút bỏ vào tháng 8 dù trận công kích của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã không đạt mục đích. Chính những nghiên cứu thực địa ban đầu này đã giúp chuẩn bị kinh nghiệm rất nhiều cho trận đánh sau này. Ngày 6/12, đoàn đến Chỉ huy sở đầu tiên tại hang Thẩm Púa và bắt tay vào việc nghiên cứu đề ra cách đánh. Sáng ngày 12/1, đoàn Bộ Tư lệnh chiến dịch của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đến nơi.

Như hầu hết các chỉ huy Việt Nam và cố vấn Trung Quốc khi đó, Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái cũng ủng hộ phương châm “đánh nhanh thắng nhanh”, dù ông đã băn khoăn: “Làm thế nào để đưa pháo vào trận địa khi ta chủ trương đánh sớm, đánh nhanh mà chưa kịp làm đường cho xe kéo pháo? Làm thế nào để hạn chế tác dụng của máy bay, pháo binh, giảm bớt thương vong khi ta đánh liên tục cả ban ngày?”. Tuy nhiên, là một người lính, ông đã ra lệnh cho các đơn vị rút về vị trí tập kết theo đúng chỉ thị của Tổng tư lệnh, một quyết định mà lịch sử chứng minh sự đúng đắn của nó khi tạo nên một chiến thắng chấn động thế giới.

Sau này, ông đã viết về thời khắc lịch sử này: “Nắm vững chức năng, nhiệm vụ, kiên quyết phát huy tinh thần cách mạng tiến công trong những điều kiện khó khăn, phức tạp và khẩn trương nhất, luôn luôn vì thắng lợi của toàn quân mà ra sức vươn lên trong thực tế chiến đấu và xây dựng, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo chỉ huy của trên... đó là những yếu tố chủ quan quyết định thành công của Bộ Tổng tham mưu trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và nói riêng trong chiến dịch lịch sử Điên Biên Phủ”...

Ngày 10/4/1958, ông là Tổng tham mưu phó Quân đội Nhân dân Việt Nam kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn theo sắc lệnh 61/SL ngày 10/4 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1960, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục thể thao Nhà nước. Từ năm 1961 đến năm 1963, ông đi học ở Học viện quân sự cấp cao Bắc Kinh, Trung Quốc.

Trong kháng chiến chống Mỹ, ông Nam tiến ngay những ngày đầu tiên quân Mỹ thực hiện Chiến tranh cục bộ. Năm 1966, ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu 5. Từ năm 1967 đến năm 1973, ông là Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó Bí thư Trung ương cục và Phó Bí thư Quân ủy Quân Giải phóng miền Nam. Đây là thời kì cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt nhất, ông đã chỉ đạo chỉ huy nhiều chiến dịch lớn ở chiến trường miền Nam.

Cuối tháng 1/1974, ông ra Bắc nhận chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất, trực tiếp chỉ đạo công tác chi viện chiến trường và chỉ đạo tác chiến.

Qua tám năm làm Tư lệnh 2 chiến trường lớn đánh Mỹ ở miền Nam, B2 và khu V, ông có nhiều kinh nghiệm chỉ đạo tác chiến. Ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao làm kế hoạch chiến lược 2 năm 1975-1976.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giữ trách nhiệm Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng chi viện, Hoàng Văn Thái đã tập trung chỉ đạo chi viện kịp thời cho các chiến trường, góp phần quan trọng đưa cuộc tiến công và nổi dậy đến toàn thắng.

Từ năm 1974 đến năm 1986, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Từ năm 1974 đến năm 1981, ông là Uỷ viên thường vụ Quân uỷ Trung ương, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá III đến khoá V, đại biểu Quốc hội khoá VII.

Đại tướng Hoàng Văn Thái là một vị tướng hiền hậu, giản dị và hết mực khiêm tốn, được cán bộ và chiến sĩ ta rất yêu quý. Đặc biệt, cán bộ và chiến sĩ Quân khu V thường gọi ông trìu mến bằng ông cụ...

Cũng chính Hoàng Văn Thái là người nghĩ ra cách kí hiệu các cấp của các đơn vị Quân đội bằng các chữ cái (ví dụ: A-Tiểu đội, B-Trung đội, C-Đại đội, D-Tiểu đoàn, E-Trung đoàn, F-Sư đoàn) để cho dễ gọi hơn, Việt hơn và đặc biệt thể hiện sự độc lập đối với những quy định do người Pháp để lại.

Đại tướng Hoàng Văn Thái không chỉ đơn thuần làm công tác chỉ huy và tham mưu, ông còn tham gia viết và biên tập nhiều tác phẩm, tài liệu tổng kết, nghiên cứu về lịch sử và học thuyết quân sự Việt Nam như:

Đội tuyên truyền Việt Nam giải phóng quân, Cục Chính trị phát hành, 1948.
Chiến tranh cách mạng Việt Nam, Nhà xuất bản Quân chính, 1949.
Đẩy mạnh vận động tiến tới, Nhà xuất bản Quân chính, 1950.
Báo cáo và kết luận tổng kết huấn luyện, Tổng cục quân huấn xuất bản, 1958.
Nhớ lại ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Hồi ký - in chung trong tập sách: “Anh bộ đội”, Nhà xuất bản quân đội nhân dân, Hà Nội - 1959.
Quan điểm thể dục thể thao của chúng ta, Nhà xuất bản quân đội nhân dân, Hà Nội - 1959.
Xây dựng Quân dội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội - 1961.
Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội - 1983.
Mấy vấn đề về chỉ huy và tham mưu, Nhà xuất bản quân đội nhân dân, 1983.
Cuộc tấn công chiến lược Đông Xuân 1953 -1954, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội - 1984.
Những năm tháng quyết định, Nhà xuất bản quân đội nhân dân, Hà Nội - 1985
Mấy vấn đề về tổng kết chiến tranh và viết lịch sử quân sự, Viện lịch sử quân sự Việt Nam, 1987.
Điện Biên Phủ - Chiến dịch lịch sử (viết năm 1984), Nhà xuất bản quân đội nhân dân, Hà Nội -1990
How South Vietnam was liberated Gen. Hoang Van Thai, The Gioi Publishers 1992 (dịch: Miền Nam Việt Nam được giải phóng như thế nào, chuyển thể từ: Những năm tháng quyết định - 1985).
Tổng tập Đại tướng Hoàng Văn Thái (tổng hợp các bài viết của Đại tướng Hoàng Văn Thái), Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 2007...

Đại tướng Hoàng Văn Thái qua đời ngày 2/7/1986 tại Bệnh viện Quân y 108, thọ 71 tuổi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #3 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2020, 09:57:58 am »

NGUYỄN BẰNG GIANG
CHỦ NHIỆM CUNG CẤP



Nguyễn Bằng Giang tên thật Nguyễn Văn Cơ, sinh năm 1915. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng như: Phó Tổng Thanh tra Quân đội (1976 -1978); Đại biểu Quốc hội khoá III, IV, V, VI...

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Quân công hạng Nhất, Nhì, Ba.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng Nhất...

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Thiếu tướng năm 1959; Trung tướng 1974.

Trung tướng Nguyễn Bằng Giang là người dân tộc Tày, quê tỉnh Cao Bằng. Tham gia cách mạng từ 1932, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1935), nhiều lần bị Pháp bắt giam. Tỉnh uỷ viên Cao Bằng, tổ chức đội trừ gian, phụ trách binh vận, ủy viên thường vụ Liên Tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng (1941 -1943), tỉnh uỷ viên Cao Bằng phụ trách quân sự, chỉ huy diệt phỉ và tước khí giới tàn quân Pháp (1944 - 45).
Khu phó, khu trưởng Khu I, Khu X (1946 - 1947), tư lệnh Liên khu X, Khu Tây Bắc (1948 - 1954), tham gia các Chiến dịch Biên giới, Tây Bắc, Điện Biên Phủ... (1950 - 1954).   

Tư lệnh Quân khu Tây Bắc (1958 - 1964), hiệu hưởng Trường Sĩ quan Lục quân (1965 - 1966), tư lệnh Quân khu Việt Bắc, kiêm chủ tịch Uỷ ban Hành chính Khu Tự trị Việt Bắc (1967 - 1975). Đại biểu Quốc hội khoá III, IV, V, VI.

Ông mất năm 1990.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #4 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2020, 09:59:47 am »

LÊ LIÊM
CHỦ NHIỆM CHÍNH TRỊ



Lê Liêm sinh năm 1922, tên thật là Trịnh Đình Huấn, người huyện Thường Tín, Hà Đông (nay là Hà Nội). Trước năm 1945, ông hoạt động ở tỉnh Phúc Yên, từng bị tù ở Sơn La, được cử làm ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ. Năm 1945, cùng với các đồng chí Nguyễn Văn Kha, Nguyễn Đức Quỳ, ông tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Hải Dương.

Ông từng đảm nhận các trọng trách: ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đã giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam thời kỳ mới thành lập, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Chủ nhiệm Văn phòng Văn giáo Phủ Thủ tướng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, ông chủ yếu hoạt động công tác chính trị trong quân đội. Ông làm Chính trị uỷ viên trong uỷ ban Kháng chiến chiến Khu 1.

Năm 1947, ông làm Phó phòng dân quân (sau là Cục phó Cục Dân quân) Bộ tổng chỉ huy. Năm 1948, ông được bổ nhiệm Cục trưởng Cục Dân quân thay ông Khuất Duy Tiến. Ngày 18/10/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 116, cử ông Lê Liêm, Cục trưởng Cục Dân quân kiêm chức Cục trưởng Cục Chính trị thay Thiếu tướng Văn Tiến Dũng cũ giữ chức vụ khác.

Ông cũng là Chủ nhiệm đầu tiên của Báo Quân đội Nhân dân. ủy viên Bộ chỉ huy chiến dịch Biên giới năm 1950.

Năm 1950, khi Cục Chính trị được nâng lên thành Tổng cục Chính trị trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam, ông được cử làm Cục trưởng Cục Tuyên huấn, sau đó là Phó Chủ nhiệm Tổng cục. Chủ nhiệm là ông Nguyễn Chí Thanh.

Năm 1954, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận Điện Biên Phủ. Tại Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ ở Mường Phăng, lán - hầm của đồng chí Lê Liêm nằm ngay sau lán - hầm của Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc. Ngày nay, căn lán đơn sơ giữa những thân cây cao lớn, tỏa bóng mát đã được phục dựng gần như nguyên trạng. Chiếc giường đơn, bàn làm việc bằng tre như vẫn ẩn hiện bóng dáng đồng chí trong những ngày tháng ác liệt nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngay bên cạnh lán là hầm tránh trú bom đạn, sâu hơn 10m, cuối hầm đặt một chiếc bàn nhỏ.

Trước khi đến Mường Phăng, sở chỉ huy chiến dịch đã đặt ở nhiều điểm, trong đó có hang Huổi He, nơi do chính ông đề nghị và được lựa chọn. Hang Huổi He theo tiếng địa phương là Huổi Hẹ, nghĩa là dòng suối hai bên có nhiều tre, nứa.

Sau năm 1954, ông chuyển sang lĩnh vực dân sự trước khi có đợt phong quân hàm năm 1958. Ông được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Văn hóa phụ trách điện ảnh, Bí thư Đảng đoàn Bộ dưới thời Bộ trưởng Hoàng Minh Giám. Ông kiêm chức Hiệu trưởng Trường Lý luận nghiệp vụ (thuộc Bộ Văn hóa, nay là Trường Đại học Văn hóa) trong thời gian 1959 -1960.

Năm 1960, tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam III, ông được bầu làm ủy viên Dự khuyết Ban chấp hành Trung ương.

Tháng 1/1963 ông giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Văn giáo Phủ Thủ tướng thay ông Tố Hữu, đến tháng 10/1965 thì ông Trần Quang Huy kế nhiệm.

Năm 1965, ông làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, Bí thư đảng đoàn Bộ, Chánh Thư ký Công đoàn Giáo dục Việt Nam kiêm Hiệu trưởng Trường Chính trị Bộ Giáo dục.

Năm 1964 khi đồng chí Nguyễn Vãn Trỗi hy sinh, ông làm bài ca Nguyễn Văn Trỗi:

Bài ca anh Nguyễn Văn Trỗi

Anh Nguyễn Văn Trỗi anh hùng chiến đấu miền Nam.
Sớm nay anh nằm dưới nệm cỏ dáng yên lành.
Hoa lá bay trên trời cao lộng gió.
Anh nghỉ ở nơi dây hương phấn bay quyện với mây trời.
Sáng soi đời sau.
Với đất nước, dân thương yêu, sống muôn đời trong hoa tươi thắm.
Với đất nước, dân thương yêu, hiến thân mình cho dân cho nước.
Sống mãi mãi, trong muôn dân, sống trong muôn lòng, thắm tình, toàn dân thương nhớ: anh Nguyễn Vãn Trỗi.
Gió vẫn rít, mưa tuôn rơi.
Với dân mình tham gia chiến đấu, súng nắm chắc, vai chen vai, thấm tươi anh em tương thân tương ái, chống đế quốc bên dân ta, có bao nhiêu người dốc lòng:
Vê-nê-duy-ê-la, đang dấu tranh bên nhau.
Anh Nguyễn Văn Trỗi hoa hồng tươi thắm Việt Nam.
Tiếc thay không ngờ anh chịu phải lưới quân thù.
Anh hiến dâng thân mình cho Tổ quốc.
Gắng chịu dựng gian lao nêu tấm gương bừng sáng trong đấu tranh cho dân mình.
Ánh dương bừng lên!
Với tiếng thét, anh hiên ngang, khiến quân thù hoang mang đau đớn.
Với tiếng thét, anh hô vang: “Nhớ đây Việt nam ta đang chiến thắng.”
Tiến với trước, chân kiêu hãnh, mắt anh căm thù, oán hờn, đời anh thêm tươi sáng, trong đấu tranh gian lao.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #5 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2020, 10:03:34 am »

HOÀNG MINH THẢO
TƯ LỆNH ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 304



Hoàng Minh Thảo (sinh năm 1921) là một nhà lý luận quân sự xuất sắc của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tuy có nhiều năm trực tiếp chỉ huy quân đội, nhưng người ta thường biết đến ông như một nhà nghiên cứu khoa học quân sự.

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Độc lập hạng Nhất.
- Huân chương Quân công hạng Nhất.
- Huân chương Chiến công hạng Nhất.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
- Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
- Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba.
- Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.
- Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Thiếu tướng năm 1959; Trung tướng năm 1974; Thượng tướng năm 1984.

Ông tên thật là Tạ Thái An, sinh ngày 25/10/1921 tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

Năm 1937, ông tham gia hoạt động cách mạng ở Lạng Sơn. Từ năm 1941, ông tham gia Việt Minh và được cử đi học Trường Quân sự ở Liễu Châu (Trung Quốc) đến năm 1944. Sau khi về nước, ngày 7/1/1945, tham gia Ban phụ trách công tác biên giới của Tổng bộ Việt Minh, ủy viên dự khuyết Tỉnh ủy lâm thời Lạng Sơn. Ngày 3/3/1945, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và tham gia giành chính quyền ở Lạng Sơn.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, từ tháng 8/1945 đến năm 1949, ông là phái viên của Bộ Quốc phòng ở các tỉnh duyên hải tả ngạn sông Hồng, Khu trưởng Chiến khu III, Phó tư lệnh Liên khu III. Năm 1948, ông được phong quân hàm Đại tá Quân đội Quốc gia Việt Nam trong đợt phong hàm đầu tiên.

Từ 1949-1950, ông làm Tư lệnh Liên khu 4.

Sau Chiến dịch Biên giới 1950, các đại đoàn quân chính quy được thành lập. Ông được bổ nhiệm làm Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 304 (1950-1954).

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 304 do ông chỉ huy là một trong năm Đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch lịch sử này.
Lúc này kế hoạch tác chiến của ta là bao vây Hồng Cúm, tiêu diệt Mường Thanh. Trung đoàn 57 thuộc Đại đoàn 304 của Tư lệnh Hoàng Minh Thảo được tăng cường một tiểu đoàn của Đại đoàn 316, có nhiệm vụ xây dựng một trận địa hình cánh cung, chạy từ đông sang tây, cắt rời phân khu Hồng Cúm khỏi khu trung tâm Mường Thanh...

Sau năm 1954, ông được phân công công tác đào tạo cán bộ quân sự, xây dựng Học viện Quân sự. Ông giữ chức vụ Hiệu hưởng Học viện Quân sự liên tục từ 1954 đến 1966 (nay là Học viện Lục quân Đà Lạt).

Từ tháng 11/1966, ông được điều vào Nam giữ chức Phó tư lệnh Mặt hận Tây Nguyên. Chính qua trận đụng độ giữa Quân giải phóng Miền Nam và quân Mỹ tại Iađrăng mà ông đã ghi nhận lại được những nguyên tắc quan trọng giúp Quân giải phóng Miền Nam giành được một số lợi thế khi giao chiến với một đối phương có ưu thế tuyệt đối về hỏa lực và cơ động.

Năm 1968, ông là Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Tháng 8/1974, ông giữ chức Phó tư lệnh Quân khu V; tháng 3/1975, là Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên.

Sau 1975, từ tháng 5/1976 đến 1989, ông trở lại giữ chức Viện trưởng Học viện Lục quân Đà Lạt (1976-1977), Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (1977-1989, nay là Học viện Quốc phòng Việt Nam), năm 1987, kiêm Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ quốc phòng.
Từ năm 1990, ông là Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự, Bộ Quốc phòng Việt Nam và giữ chức vụ này cho đến khi nghỉ hưu (1995).

Ông được phong Giáo sư ngành Khoa học quân sự năm 1986, Nhà giáo Nhân dân năm 1988.

Nếu Hoàng Minh Thảo được đánh giá cao trong tư cách một chỉ huy quân sự tài năng thì ông cũng hoàn toàn xứng đáng được đánh giá như vậy trong tư cách một nhà sư phạm quân sự, một nhà nghiên cứu khoa học và nghệ thuật quân sự khi trong hơn ba mươi năm được chỉ định đứng đầu những cơ sở đào tạo cao nhất của quân đội ta: Trường trung, cao quân sự, Học viện Quân sự, Học viện Quốc phòng, ngay từ những năm tháng đầu tiên các cơ sở này được thành lập.

Hàng vạn cán bộ trung, cao cấp quân đội - nhiều người trong đó giữ các cương vị lãnh đạo quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, đi qua môi trường này vẫn ghi nhớ cách làm việc khoa học cũng như các bài giảng trực tiếp sinh động, có sức thuyết phục cao của ông. Đặc trưng công tác đào tạo và nghiên cứu của ông là gắn chặt với thực tiễn. Lĩnh vực mà ông hứng thú và dồn nhiều tâm huyết nhất là nghệ thuật quân sự - công nghệ tiến hành chiến tranh.

Hoàng Minh Thảo đã viết hơn 10 tác phẩm, đặc biệt trong đó những tác phẩm như Tổ tiên ta đánh giặc, Sự thất bại của một cuộc chiến tranh phi nghĩa, Về cách dùng binh, Những vấn đề về nghệ thuật quân sự... Các tác phẩm của ông là những kinh nghiệm được ông rút ra sau mỗi trận đánh. Đây là những tác phẩm làm cơ sở để cho đến bây giờ, ông là nhà lý luận quân sự duy nhất đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh. Và có lẽ ít ai biết rằng hai tác phẩm Tổ tiên ta đánh giặc (1971) và Sự thất bại của một cuộc chiến tranh phi nghĩa (1972 - 1974) đều được ông viết ở chiến trường Tây Nguyên, ngay dưới mưa bom bão đạn và khoảng cách giữa hai chiến dịch.

Ông còn là ủy viên Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam.

Ông nghỉ hưu vào năm 1995, nhưng vẫn tham gia công tác nghiên cứu về khoa học quân sự.

Do công lao của ông, Nhà nước đã tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, huân chương Quân công hạng Nhất, huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều huân chương cao quý khác.

Năm 2005, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Cụm công trình về nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Vị tướng tài năng, đức độ và liêm khiết, giáo sư, nhà giáo nhân dân Hoàng Minh Thảo đã qua đời tại Bệnh viện Quân y 108 (Hà Nội) vào ngày 8/9/2008.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #6 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2020, 10:05:42 am »

LÊ CHƯỞNG
CHÍNH ỦY ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 304



Thiếu tướng Lê Chưởng (1914-1973), nguyên Chính ủy Quân khu Trị Thiên, Chính ủy Học viên Quân chính, Cục trưởng Cục tuyên huấn, Chính ủy Liên khu 4.

Ngoài ra ông là Đại biểu Quốc hội khóa III, Thứ trưởng Bộ Giáo dục.

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Chiến công hạng Nhất.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất...

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Thiếu tướng năm 1959.

Thiếu tướng Lê Chưởng quê xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm, năm 1931 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương nay là Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1940 đến 1945, ông bị thực dân Pháp bắt giam 5 lần, có lần bị kết án 20 năm tù và đày đi Buôn Mê Thuật. Tháng 5/1945, ông được trả tự do, về xây dựng cơ sở cách mạng và lãnh đạo giành chính quyền ở tỉnh Bình Thuận, chủ bút báo Quyết thắng của Việt Minh Trung bộ.

Tháng 3/1946, ông làm Chủ nhiệm Việt Minh Thuận Hóa, Bí thư Thị ủy. Từ năm 1947 đến 1948, ông nhập ngũ, làm Chính ủy: Mặt trận Đường 9, Trung đoàn 95; tham gia Khu ủy Khu 4, trực tiếp làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị. Năm 1949, ông làm Chính ủy, Thường vụ Liên khu ủy Liên khu 4. Năm 1951, ông làm Chính ủy Đại đoàn 304.

Trong hồi ký “Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã nhiều lần nhắc đến Chính ủy Lê Chưởng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, trong đó có đoạn: “24g (ngày 7-5-1954), anh Lê Chưởng (Chính ủy Đại đoàn 304) gọi điện thoại báo cáo đã bắt được toàn bộ quân địch ở Hồng Cúm, trong đó có cả Lalăng, chỉ huy phó của tập đoàn cứ điểm, đặc trách phân khu Hồng Cúm...”.

Năm 1955, ông làm Cục trưởng Cục Tuyên huấn trực thuộc Tổng cục Chính trị. Từ năm 1959 đến 1961, ông làm Chính ủy: Đoàn 959, Học viện Quân chính. Từ năm 1966 đến 1971, ông làm Chính ủy, Phó Bí thư Quân khu ủy Quân khu Trị - Thiên. Năm 1971, ông chuyển ngành làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục.

Có một điều rất đặc biệt và tự hào là vợ chồng Thiếu tướng Lê Chưởng đều là Bí thư tỉnh ủy, đều là Thứ trưởng (Bà Lê Diệu Muội, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội thương) và cùng được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Hai con trai của ông bà là Lê Chí Hương, Lê Chí Hòa đều là Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam. Còn người con trai nữa, Lê Tường Long cũng là nhà báo Quân đội Nhân dân Việt Nam với quân hàm Đại úy.

Thiếu tướng Lê Chưởng qua đời vào năm 1973.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #7 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2020, 10:07:24 am »

NAM LONG
THAM MƯU TRƯỞNG ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 304



Tham mưu trưởng Nam Long tên thật Đoàn Văn Ưu, dân tộc Tày, sinh ngày 8/10/1921, tại xã Đề Thám, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Ông là một trong số các thanh niên yêu nước được chọn đi học tại Trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) năm 1941. Trong bức ảnh kỷ niệm ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân ông là người đứng bên phải người cầm cờ, người đeo ruột tượng đựng gạo chính là chàng thanh niên 23 tuổi Đoàn Văn Ưu (Nam Long), người cầm cờ là Hoàng Văn Thái sau này là Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 1/1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 8/1945, ông là Đại đội trưởng đơn vị bảo vệ Bác Hồ. Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông đề nghị với Đại tướng Võ Nguyên Giáp xung phong Nam tiến chiến đấu ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ với chức vụ là Chi đội trưởng. Chi đội 3 Nam tiến của ông đã lập được nhiều chiến công, đi vào lịch sử, là đội Nam Tiến đầu tiên được nhân dân Nam Bộ yêu mến đặt tên là “Chi đội Nam Long” và cái tên tướng Nam Long cũng bắt đầu từ đó.

Tháng 4/1946, ông đảm nhiệm các chức vụ: Trung đoàn trưởng Trung đoàn Hải Dương, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 59, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36, ủy viên Khu 12; Trung đoàn trưởng Trung đoàn 141 - Sư đoàn 312. Dưới sự chỉ huy của ông, Trung đoàn đã tiến đánh thắng lợi một số trận nổi tiếng như Ba Huyên (chiến dịch Trung du), Ba Vì (chiến dịch Hoà Bình), Ba Lay (chiến dịch Tây Bắc). Trải qua rèn luyện, Trung đoàn 141 trở thành một trong những Trung đoàn giỏi đánh công sự vững chắc và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chủ công trong trận đánh Him Lam lịch sử. Ông là Chỉ huy phó Mặt trận Lạng Sơn, Đảng ủy viên Mặt trận.

Năm 1953-1955, ông được bổ nhiệm các chức vụ: Tham mưu trưởng Sư đoàn 304, Đảng ủy viên Sư đoàn; Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trên cương vị Tham mưu trưởng, ông đã cùng Ban Chỉ huy Đại đoàn 304 chỉ huy bộ đội bao vây kiềm chế và tiêu hao quân Pháp ở Phân khu Hồng Cúm, không cho quân Pháp chi viện cho khu Mường Thanh, chặn đường tiếp tế và không cho quân Pháp trốn sang Lào. Đồng thời tiêu diệt và bắt sống toàn bộ 2.000 quân Pháp ở Hồng Cúm định tháo chạy về Thượng Lào. Chiến công đó đã góp phần vào sự toàn thắng của trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ - một trong những trận tiêu diệt lớn và gọn nhất trong lịch sử chiến đấu của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Năm 1956, ông được cử đi học tại Học viện Bộ Tổng tham mưu quân đội Xô Viết.

Năm 1958, ông về nước, được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh. Sau đó là Tư lệnh pháo binh.

Năm 1961-1973, ông được bổ nhiệm các chức vụ: Phó tư lệnh Quân khu Tả Ngạn; Phó tư lệnh, sau đó làm Tư lệnh Quân khu 4; Phó tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ông chỉ huy cánh quân đánh vào thành phố Huế.

Năm 1974, được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Học viện quân sự (nay là Học viện lục quân).

Tháng 4/1975, ông là đặc phái viên của Bộ Quốc phòng, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông cùng các Quân đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và có mặt ở Dinh Độc Lập vào những giờ phút đầu tiên tiếp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh.

Năm 1977, ông được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Học viện quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).

Ông nghỉ hưu năm 1988. Tham gia Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ nhất năm 1990, ông là một thành viên tích cực, góp phần vào thành công của Đại hội. Từ năm 1994, ông là Trưởng Ban liên lạc truyền thống Cựu chiến binh Sư đoàn 304 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông được phong quân hàm Đại tá năm 1958, Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1981.

Ông được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều Huân chương cao quý khác. Ông mất ngày 01/7/1999 an táng tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 17/5/2007, tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đã diễn ra Lễ trao tặng tượng đồng cố Trung tướng Nam Long của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Đây là bức tượng thứ 9, Hội Khoa học Lịch sử trao cho Bảo tàng.

Lần trao tặng này, Bảo tàng nhận 3 bức tượng, trong đó một bức sẽ được trưng bày tại bảo tàng, một bức được gửi tặng thân nhân gia đình cố trung tướng Nam Long và một bức gửi tặng bảo tàng tỉnh Cao Bằng. Các bức tượng này được tạc bán thân, hoàn toàn bằng đồng. Đây là kết quả của cuộc vận động “Mỗi người một giọt đồng đúc tượng danh nhân”.

Cũng trong lễ trao giải, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đã tiếp nhận nhiều kỷ vật của đồng chí Nam Long do thân nhân gia đình đồng chí trao tặng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #8 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2020, 10:10:08 am »

VƯƠNG THỪA VŨ
TƯ LỆNH ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 308



Vương Thừa Vũ (24/12/1910-1980), Nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Giám đốc Học viện Quân chính. Ông là Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội mùa Đông 1946 và cũng là Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam - Đại đoàn Quân tiên phong (F308). Tên ông được đặt tên cho một đường phố tại Hà Nội - phố Vương Thừa Vũ.

Phần thưởng được Đảng Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Ba.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
- Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
-  Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Thiếu tướng năm 1954; Trung tướng năm 1974.

Vương Thừa Vũ (tên thật là Nguyễn Văn Đồi), sinh năm 1910 trong một gia đình nghèo tại làng Vĩnh Quỳnh (nay là xã Đại Hưng), huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Năm 1937, ông học ở Trường Quân sự Hoàng Phố, Trung Quốc. Cuối năm 1941, ông về nước và bị thực dân Pháp bắt giam tại Bá Vân, Thái Nguyên.

Trong thời gian bị tù đầy, ông giác ngộ và bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Ông tham gia công tác binh vận và huấn luyện quân sự trong nhà tù thực dân.

Năm 1943, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 3/1945, ông tham gia bạo động giành chính quyền tại Nghĩa Lộ nhưng không thành. Ông trốn thoát khỏi nhà tù Nghĩa Lộ và lạc vào một bản người dân tộc. Tưởng ông là người làm việc cho Pháp, họ định đem xử bắn ông. Nhưng nhờ ông biết tiếng dân tộc giải thích cho họ hiểu. Khi họ hỏi mang họ gì ông khai là họ Vương, từ đó ông lấy tên là Vương Thừa Vũ và cái tên này gắn liền với ông suốt cuộc đời. Sau đó, ông về Bắc Ninh gây dựng cơ sở cách mạng và tham gia huấn luyện quân sự ở chiến khu 2.

Cách mạng tháng Tám thành công, ông được giao nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy Bảo an binh Hà Nội rồi khu trưởng khu XI Hà Nội.

Năm 1946, Trường võ bị Trần Quốc Tuấn mở khóa 1, ông là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn học viên tham gia giảng dạy.

Toàn quốc kháng chiến tháng 12/1946, ông được giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội nhằm kìm chân quân Pháp tạo điều kiện cho Trung ương rút lui về an toàn khu và đồng bào đi tản cư an toàn. Chính ông là người đề xuất việc chia khu vực tác chiến đồng thời căn cứ vào địa hình, đặc điểm đường phố của Hà Nội, ông đề xuất chiến thuật “độc trùng chiến” hay “thuật cang chiến”. Do vậy, quân và dân Hà Nội thay vì giữ được thành phố 1 tháng đã giữ được 2 tháng làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của quân Pháp.

Trong thời gian từ năm 1947 đến năm 1948, ông giữ chức vụ Khu phó Khu 4 rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình Trị Thiên.

Ngày 28/8/1949, Đại đoàn Quân tiên phong - Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập tại Phố Đu, Thái Nguyên. Ông được giao nhiệm vụ tổ chức đồng thời là Đại đoàn trưởng đầu tiên rồi trong thời gian đầu tiên thành lập từ năm 1949 đến năm 1951, ông kiêm luôn vai trò Chính ủy Đại đoàn.

Ông là chỉ huy các chiến dịch: Sông Lô (5/1949), Đường số 4 (10/1949). Đồng thời trên cương vị Đại đoàn trưởng Đại đoàn Quân tiên phong, ông chỉ huy Đại đoàn tham gia các chiến dịch: Biên giới (10/1950), Trung du (12/1950), Đông Bắc (2/1951), Hà Nam Ninh (5/1951), Hoà Bình (10/1951), Tây Bắc (10/1952). Chỉ huy tiến công Bắc Giang, Phả Lại (7/1954).

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ở trận đánh cứ điểm Độc Lập, Bộ chỉ huy chiến dịch phân công cho Đại đoàn trưởng 308 Vương Thừa Vũ. Trung đoàn 88 mới từ Lào về, chỉ có 3 ngày vừa trinh sát, vừa tổ chức chiến đấu, vừa đào hào giao thông. Kế đó, ta bức hàng Bản Kéo. Sau Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, quân Pháp mất một phần năm lực lượng.

Tiếp đó đại đoàn, trong giai đoạn 2, để đánh chắc, tiến chắc, thực hiện yêu cầu tiếp cận và tiến công liên tục cả ngày lẫn đêm, đã xây dựng hào giao thông từ năm vị trí Độc Lập đến sông Nậm Rốm ở hướng Tây Mường Thanh, chuẩn bị công kích vị trí 106.

Đợt 2 chiến dịch bắt đầu ngày 30/3/1954, phần Đại đoàn 308 có nhiệm vụ tiêu diệt khu vực trung tâm của địch gồm: một tiểu đoàn số 2 và vị trí pháo binh địch ở đó, phối hợp đơn vị bạn tiêu diệt tiểu đoàn dù thuộc địa số 6, kiềm chế pháo binh địch ở Tây Mường Thanh...

Trận đồi A1 diễn ra gay go, quyết liệt, lực lượng ta gồm Trung đoàn 174, Đại đoàn 316 và Trung đoàn 102, Đại đoàn 308.

Tiếp theo, các đại đoàn tiến hành xây dựng trận địa bao vây, nhằm thắt chặt vòng vây hơn, đánh chiếm sân bay. Bộ chỉ huy Mặt trận giao cho đồng chí Vương Thừa Vũ nhiệm vụ chỉ huy chung hỏa lực và đánh phản kích, lực lượng gồm 5 đại đội lựu pháo, tất cả hỏa lực cối của hai Đại đoàn 308, 312 và hai trung đoàn bộ binh. Những đòn tiến công của quân ta đã dồn quân Pháp vào thế đường cùng...

Các Trung đoàn 36, 88, 102 của Đại đoàn, khi độc lập tác chiến hay phối hợp cùng đơn vị bộ binh, pháo binh bạn, đã trưởng thành vượt bậc. Người chỉ huy Đại đoàn Vương Thừa Vũ, cùng Chính ủy Song Hào đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình.

Sau 9 năm kháng chiến trường kì gian khổ, Đại đoàn của ông được Trung ương và Quân ủy giao cho nhiệm vụ trở về tiếp quản Thủ đô. Chính ông, ở cầu Long Biên, thay mặt Quân đội Việt Nam nhận sự bàn giao Hà Nội của quân đội Pháp.

Ngày 10/10/1954, ông, trên cương vị Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội chỉ huy bộ đội Việt Nam tiến vào tiếp quản Thủ đô và lễ chào cờ tại Sân vận động Cột Cờ Hà Nội cùng bác sĩ Trần Duy Hưng.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy chiến đấu và huấn luyện chiến đấu.

Từ năm 1955 đến năm 1963, ông là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn.

Từ năm 1964 đến năm 1980, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm Giám đốc Học viện Quân chính phụ trách huấn luyện bộ đội.

Từ năm 1964 đến năm 1971, đây là thơi kì ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông được cử vào kiêm chức Tư lệnh Quân khu 4.
Đây cũng là thời kì địa bàn Quân khu 4 bị bắn phá ác liệt nhất bằng đường không và đường biển nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam. Ông được quân và dân khu 4 hết sức yêu quý và gọi trìu mến là “ông Cụ”.

Vương Thừa Vũ là một vị tướng võ theo đúng nghĩa của nó. Ông rất giỏi võ và đặc biệt là võ Tàu. Trong lễ thành lập Đại đoàn Quân tiên phong, ông đã làm bất ngờ những người có mặt bằng một động tác chào kiếm tuyệt vời.

Tướng Vương Thừa Vũ là một nhà chiến thuật và tổng kết chiến thuật xuất sắc. Chính ông là người đã sáng tạo ra cách đánh hợp lí trong mùa Đông năm 46 tại Hà Nội đồng thời cũng là người đã tổng kết nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Điện Biên Phủ bằng câu “Vây, Lấn, Tấn, Phá, Triệt, Diệt”. Ông còn là một người hết sức hâm mộ bóng đá. Trong thời gian ông giữ chức vụ Phó tổng tham mưu trưởng phụ trách huấn luyện, ông thường xuyên xem đội Thể Công đá và chỉ đạo đội. Ông có một số tổng kết chiến thuật bóng đá rất thú vị thể hiện dưới hình thức thơ và vè.

Trung tướng Vương Thừa Vũ có 2 người con trai là sĩ quan Quân đội đã hy sinh: Vương Thiết Căng là sĩ quan pháo binh hy sinh năm 1972 tại Quảng Trị và Vương Thiết Bình là sĩ quan không quân hy sinh năm 1992 khi đang làm công tác huấn luyện. Vợ của ông, bà Lê Thị Hợp, đã được Chủ tịch nước kí quyết định phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và được chính quyền Hà Nội xây tặng một căn nhà tình nghĩa.

Trung tướng Vương Thừa Vũ mất ngày 23/04/1980, hưởng thọ 70 tuổi, an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, thành phố Hà Nội.

Trong lễ tưởng niệm 18 năm ngày Trung tướng Vương Thừa Vũ qua đời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dành cho ông những lời trang trọng nhất: “Vương Thừa Vũ, một người con của Hà Nội xứng đáng với quê hương anh hùng, xứng đáng là một người con ưu tú của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội... Bao trùm lên trên hết, Vương Thừa Vũ là một người cộng sản có đạo đức cách mạng, một vị tướng trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #9 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2020, 10:12:06 am »

SONG HÀO
CHÍNH ỦY ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 308



Song Hào (1917-2004) là một Thượng tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chủ tịch lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Quân công hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
- Huân chương Chiến công hạng Nhất.
- Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
- Huân chương Sao vàng.
- Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.
- Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Trung tướng năm 1959; Thượng tướng năm 1974.

Thượng tướng Song Hào tên thật là Nguyễn Văn Khương, sinh ngày 20/8/1917 tại xã Hào Kiệt (nay là xã Liên Minh), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936 trong Phong trào Mặt trận bình dân. Năm 1937, ông phụ trách tổ chức Ái hữu thợ thêu, Thanh niên dân chủ (sau này là Mặt trận phản đế) tại quê hương.

Tháng 4/1939, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Thư ký Ban Thường trực Liên đoàn Lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội.

Đầu năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam và kết án 7 năm tù, lưu đày qua các nhà tù Nam Định, Hà Nội, Sơn La, Hòa Bình, Chợ Chu. Năm 1943, ông được chỉ định làm Bí thư chi bộ tại nhà tù Chợ Chu. Tháng 8/1944, ông vượt ngục khỏi nhà tù Chợ Chu về vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên hoạt động, được chỉ định làm Chính trị viên Đội tuyên truyền Cứu quốc quân hoạt động ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên.

Tháng 12/1944, ông được chỉ định làm Bí thư Khu căn cứ Nguyễn Huệ. Tháng 8/1945, ông được cử làm đại biểu đi dự Đại hội quốc dân tại Tân Trào. Sau đó ông phụ trách Cứu quốc quân cướp chính quyền tại hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Xứ ủy viên Bắc Kỳ của Kỳ bộ Việt Minh, phụ trách liên tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên... Tháng 12/1947, ông là Chính ủy Liên khu 10, Khu ủy viên, Bí thư Quân khu ủy. Đến năm 1950, ông là Chính ủy khu Tây Bắc, Bí thư Ban cán sự bộ đội tình nguyện vùng Thượng Lào. Năm 1951, ông là Chính ủy Đại đoàn 308, Bí thư Đại đoàn ủy.

Tháng 5/1955, ông được giao công tác xây dựng quân đội chính quy và được cử làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng Quân ủy viên. Năm 1959, ông được phong quân hàm Trung tướng.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần III (năm 1960), lần IV (năm 1976) và lần V (tháng 3/1982) của Đảng, ông được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng. Ông được cử giữ chức Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, trưởng Ban kiểm tra Quân ủy Trung ương (khóa III). Được Ban chấp hành Trung ương cử vào Ban Bí thư (khóa IV), phân công làm Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra trung ương.

Tháng 3/1961, ông được cử giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (thay cho tướng Nguyễn Chí Thanh vào miền Nam), kiêm thứ trưởng Bộ Quốc phòng, phó bí thư Quân ủy Trung ương.

Sau 1975, ông vẫn tiếp tục công tác trong quân đội cho đến tháng 4/1982, ông được phân công giữ chức Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội đến tháng 2/1987.

Từ tháng 2/1990 đến tháng 12/1992, ông được chỉ định làm Chủ tịch lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Ông đã được bầu làm đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa IV và khóa VI.

Ông qua đời lúc 1 giờ 22 phút ngày 9/1/2004 tại Bệnh viên Trung ương quân đội 108, Hà Nội, hưởng thọ 87 tuổi.
Logged
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM