Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Bảy, 2020, 06:05:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 305 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2020, 02:46:51 pm »

II - VƯỢT QUA THỬ THÁCH BAN ĐẦU

Ngày 23 tháng 9 năm 1945 được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng trở lại xâm lược Nam bộ. Nhân dân Nam bộ một lần nữa đứng lên cầm súng chiến đấu. Trước tình hình đó, Chính phủ ta đã ra lời kêu gọi nhân dân cả nước ủng hộ đồng bào Nam bộ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, nhân dân Quảng Trị rầm rộ xuống đường mít tinh, biểu tình phản đối hành động xâm lược của thực dân Pháp. Cao hơn nữa hàng ngàn nam nữ thanh niên Quảng Trị tình nguyện xung phong, sát cánh cùng, nhân dân Nam bộ kháng chiến.

Ngày 26 tháng 9 năm 1945, nhân dân Quảng Trị lưu luyến đưa tiễn 115 người con yêu quý của mình bổ sung vào đoàn quân “Nam tiến”. Đội quân tình nguyên của tỉnh nhà được vinh dự vào chiến đấu ở chiến trường cực nam Trung bộ, góp phần chia lửa cùng đồng bào và chiến sĩ Nam bộ ruột thịt.

Trên địa bàn tỉnh nhà, sau khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), một số tàn binh Pháp chạy khỏi tỉnh lỵ và các đồn binh lên ẩn náu ở vùng rừng núi biên giới Việt-Lào, bám các trục đường giao thông quan trọng. Đặc hiệt, ở đường số 9 có khoảng một tiểu đoàn bộ binh cơ giới thuộc lữ đoàn bộ binh thuộc địa trung Đông Dương do tên đại tá Tuốc Canh (Tourquin) chỉ huy, chiếm đóng vùng ngoại vi Sêpôn, Mường Phìn, Phà Lan và kéo dài tới Căm Cớt, Lạc Xao. Với ý đồ trở lại xâm lược nước ta, cuối tháng 10 năm 1945, bọn tàn binh này được sự chi viện của quân dù đã đánh vào miền tây Quảng Trị theo trục đường số 9 chiếm Lao Bảo, Khe Sanh, nhằm hiến nơi đây làm bàn đạp để tấn công đánh chiếm miền xuôi.

Để kịp thời ngăn chặn từ xa âm mưu của địch, Bộ chỉ huy chiến khu 4 và Tỉnh ủy Quảng Trị đã gấp rút tổ chức một lực lượng của Chi đội Thiện Thuật (cùng với một bộ phận của chi đội Lê Trực (Quảng Bình) lên phía tây đường 9 chiến đấu. Cùng sát cánh chiến đấu với quân ta còn có lực lượng yêu nước Lào tỉnh Savằnnakhệt do các đồng chí Thao Ô, Nu Hắc chỉ huy, hợp thành liên quân Việt-Lào. Kể từ đây nền móng tình đoàn kết chiến đấu, hữu nghị đặc biệt của lực lượng vũ trang và nhân dân hai tỉnh Quảng Trị - Savằnnakhệt đã được xác lập.

Trong những ngày tham gia chiến đấu ở mặt trận phía tây đường 9, bộ đội ta luôn luôn được các đoàn đại biểu thay mặt chính quyền, đoàn thể từ hậu phương lên thăm hỏi, động viên cán bộ chiến sĩ. Đoàn đại biểu Phụ nữ Trung bộ do bà Lê Thị Quế làm trưởng đoàn, đoàn đại biểu phụ nữ tỉnh Quảng Trị do bà Lê Thị Diệu Muội làm trưởng đoàn mang nhiều quà bánh của nhân dân Trị-Thiên-Huế ra tận chiến hào trao tận tay chiến sĩ.

Đầu tháng 12 năm 1945, quân và dân ta đã anh dũng đánh bật địch ra khỏi Khe Sanh, Lao Bảo. Tiếp đó, bộ đội ta phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước của tỉnh Savằnnakhệt tập kích thị trấn Sê Pôn, diệt và bắt 53 tên Pháp, thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng. Trên đà chiến thắng, lực lượng liên quân Việt-Lào liên tiếp tiến công địch ở Mường Phin, Huội Cay, Thà Khống (trên trục đường 9) gây cho địch nhiều thiệt hại.

Chiến thắng Sê Pôn và một số vị trí ở phía tây đường 9 là chiến công đầu xuất sắc của các lực lượng vũ trang Quảng Trị phối hợp chiến đấu với lực lượng yêu nước Lào, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, đánh bại một bước âm mưu của thực dân Pháp chiếm đóng miền tây đường 9 làm bàn đạp tiến công đánh chiếm Đông Hà, Quảng Trị, hòng chia cắt đất nước ta.

Cùng với những hoạt động quân sự, bộ đội ta đã phối hợp chặt chẽ với các bạn Lào đẩy mạnh công tác vũ trang tuyên truyền xây dựng lực lượng, xây dựng cơ sở và chính quyền cách mạng ở một số nơi trong tỉnh Savằnakhệt thành những căn cứ kháng chiến tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển thuận lợi.

Bên cạnh những nhiệm vụ nặng nề và cấp bách như xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, liên minh chiến đấu với quân và dân Trung Lào chống Pháp ở miền tây, quân và dân Quảng Trị còn phải lo đối phó với một bộ phận quân Tưởng vào giải giáp quân Nhật đóng ở Đông Hà và thị xã Quảng Trị. Đội quân ô hợp và đói rách này rất ngang ngược đã gây ra biết bao tội ác đối với đồng bào ta. Chúng đòi những yêu sách phi lý, ức hiếp nhân dân cướp giật, phá phách, vơ vét bất kể thứ gì. Bọn tay sai “Việt Quốc”, “Việt Cách” núp dưới bóng quân Tưởng ráo riết, hoạt động nhằm lật, đổ chính quyền cách mạng. Lợi dụng cơ hội này bọn tay sai quân Tưởng đã tổ chức được một số “chi bộ” ở huyện và tỉnh nhưng không dám hoạt động công khai và chưa có ảnh hưởng gì trong nhân dân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2020, 02:48:37 pm »

Để đối phó với âm mưu và hành động của quân Tưởng và bè lũ tay sai của chúng, ta tổ chức thành lập “Ban Hoa-Việt thân thiện”, giúp đỡ chúng về lương thực, thực phẩm, đồng thời tổ chức những cuộc mít tinh, biểu tình, biểu dương sức mạnh của quần chúng, gây thanh thế chính trị ở những nơi có quân Tưởng đóng, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do chúng gây ra.

Do tình hình Trung Quốc gặp nhiều khó khăn, nội bộ mâu thuẫn sâu sắc, nội chiến lan rộng, mặt khác sau hơn 6 tháng, quân Tưởng sang Việt Nam kéo theo cả bọn tay sai “Việt Quốc”, “Việt Cách” nhưng không làm được trò trống gì, ngày 28-2-1946 Tưởng Giới Thạch buộc phải ký với Chính phủ Pháp hiệp ước Trùng Khánh, bàn giao miền Bắc Việt Nam cho Pháp.

Cuối tháng 4 năm 1946, toàn bộ quân Tưởng đã rút hết khỏi các địa phương khu 4. Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, cùng với quân và dân khu 4, quân và dân Quảng Trị đã bình tĩnh, kiên quyết, khôn khéo đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao loại trừ được kẻ thù rất nguy hiểm là quân Tưởng và bọn tay sai phản động, bảo vệ được chính quyền cách mạng non trẻ.

Ở miền Nam được Mỹ bật đèn xanh, tháng 1 năm 1946, Chính phủ Anh bàn giao miền Nam Đông Dương cho Pháp. Trong tình hình đất nước một lúc có nhiều kẻ thù xâm lược, để có thêm thì giờ chuẩn bị lực lượng đối phó với thực dân Pháp và loại bớt những kẻ thù nguy hiểm khác, ngày 6-3-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ta đã ký với Xanh-tơ-ni, đại diện Chính phủ Pháp bản hiệp định sơ bộ. Với hiệp định này, Chính phủ Pháp phải công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do nằm trong khối liên hiệp Pháp, có chính phủ, quân đội và tài chính riêng.

Ngày 9-3-1946, Ban Thường vụ Trung ương ra chỉ thị lịch sử: “Hòa để tiến”. Bản chỉ thị vạch rõ hòa với Pháp là nhằm “Bảo toàn thực lực giành lấy giây phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào... chuẩn bị đầy đủ nhằm cơ hội tốt tiến lên giai đoạn cách mạng mới(1).

Tháng 6-1946, Đại hội đại biểu tỉnh Quảng Trị họp, tập trung thảo luận chỉ thị “Hòa để tiến” của Ban thường vụ Trung ương Đảng, quán triệt 4 nhiệm vụ của bản chỉ thị và đi sâu bàn biện pháp duy trì và phát triển lực lượng quân sự. Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành đảng bộ tỉnh gồm có 11 Ủy viên chính thức. Đồng chí Đặng Thí được cử Bí thư Tỉnh ủy.

Thực hiện nghị quyết của đại hội, Ủy ban phòng thủ các cấp được thành lập chuyên lo việc tổ chức dân quân tự vệ chiến đấu và bố phòng kháng chiến. Chi đội Thiện Thuật được xây dựng tương đối hoàn chỉnh và đổi tên thành Trung đoàn Thiện Thuật. Ở mỗi huyện cũng xây dựng được từ một đại đội đến một tiểu đoàn lực lượng vũ trang, ở các xã đều có một đại đội hoặc trung đội dân quân tự vệ trực chiến.

Thi hành hiệp định sơ bộ, ở Quảng Trị thành lập Ban liên kiểm Việt-Pháp và tổ chức lực lượng tiếp phòng lấy quân của tiểu đoàn 15 gồm những chiến sĩ đã được lựa chọn kỹ, có sức khỏe tốt và trình độ khá do đồng chí Đoàn La chỉ huy, đóng ở Đông Hà và thị xã Quảng Trị. Nhiệm vụ của Ban liên kiểm Việt-Pháp Quảng Trị và đơn vị quân tiếp phòng là bảo vệ trật tự trị an, bảo vệ đường sắt và cung cấp lương thực, thực phẩm cho quân Tưởng đồng thời giám sát chúng. Thực hiện nhiệm vụ đó ta bố trí một đại đội đóng ở chợ Đông Hà, một đại đội ở nhà ga, một đại đội ở thị xã Quảng Trị và một đại đội cơ động trên tuyến đường sắt. Quân số các đại đội đông nhưng vũ khí rất ít, một đại đội chỉ có vài khẩu súng. Quân ta phải lập mẹo đẽo súng gỗ sơn đen y như thật trang bị cho chiến sĩ, thường chờ đến chập tối mới hành quân làm nhiệm vụ.

Ta nghiêm chỉnh thi hành hiệp định sơ bộ đồng thời cũng tranh thủ thời gian hòa hoãn để củng cố, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Trái lại thực dân Pháp với bản chất hiếu chiến và xâm lược, ngày càng vi phạm trắng trợn việc thi hành Hiệp định trên phạm vi cả nước. Ở miền Nam chúng vẫn tiếp tục các cuộc hành quân lấn chiếm, ở miền Bắc chúng liên tục hoạt động khiêu khích, lấn ra nhiều vùng không thuộc phạm vi qui định.

Ở phía Tây Quảng Trị, thực dân Pháp đã đem quân áp sát biên giới và tăng cường lực lượng chốt giữ những vị trí quan trọng hai bên trục đường 9. Ở phía đông chúng cho tàu thủy, ca nô xâm nhập một số cửa sông để thăm dò và quấy rối khiêu khích. Trong nội bộ bọn gián điệp tay sai Pháp tăng cường hoạt động trên nhiều lĩnh vực, với những hình thức rất thâm độc và xảo quyệt. Chúng tuyên truyền xuyên tạc nội dung bản Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 để chia rẽ giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân. Chúng phá hoại về kinh tế, tài chính, làm cho tình hình trật tự trị an mất ổn định...


(1) Văn kiện quân sự Đảng - nhà xuất bản quân đội nhân dân H.1976. Trang 39
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2020, 02:49:20 pm »

Trên mặt trận ngoại giao thực dân Pháp cố tình phá hoại hội nghị Phông-ten-nơ-bờ-lô (Fontaineblcau) (6-7-1946) làm cho hội nghị đi đến bế tắc.

Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp bản “Tạm ước 14 tháng 9 năm 1946” nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn để có thêm điều kiện xây dựng lực lượng, chủ động chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

Những hành động khiêu khích, lấn chiếm của bọn thực dân Pháp làm cho tình hình cả nước cũng như Quảng Trị hết sức căng thẳng. Nhân dân khắp nơi sôi sục căm thù, tổ chức biểu tình phản đối thực dân Pháp phá hoại Hiệp định sơ bộ và Tạm ước Việt-Pháp; yêu cầu chúng phải chấp hành nghiêm chỉnh những điều khoản đã được ký kết.

Để chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài, các địa phương trong tỉnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, khai hoang phục hóa mở rộng diện tích canh tác, phát triển các ngành nghề, quyết tâm diệt giặc đói và giặc dốt. Phong trào xóa nạn mù chữ tiếp tục được phát triển rộng rãi, thu hút nhiều đối tượng nhân dân tham gia tích cực. Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi có tác dụng động viên cổ vũ kịp thời khí thế cách mạng quần chúng.

Chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố, khối đoàn kết toàn dân được mở rộng. Các đoàn thể quần chúng hoạt động mạnh mẽ và có hiệu quả trên tất cả các mặt công tác.

Theo sáng kiến của bà Lê Thị Quế, Ủy viên Ban chấp hành hội phụ nữ cứu quốc Trung bộ, tháng 6 năm 1946 “Hội mẹ chiến sĩ” (gồm những phụ nữ từ 40 tuổi trở lên) được thành lập. Đây là tổ chức của những người mẹ, người chị có tấm lòng cưu mang, giúp đỡ bộ đội trong mọi hoàn cảnh. Tỉnh Quảng Trị là nơi tổ chức ra Chi hội đầu tiên của cả nước.

Cùng với các mặt công tác khác, công tác an ninh bảo vệ, chống địch nội địa, làm trong sạch địa bàn, trong sạch tổ chức cũng được cấp ủy và chính quyền các cấp đặc biệt chú trọng. Lực lượng công an của tỉnh được tăng cường và mở rộng phạm vi hoạt động về tận các cơ sở, kịp thời ngăn chặn các hành động chống phá cách mạng của bọn phản động tay sai thực dân Pháp.

Thi hành sắc lệnh số 71 ngày 22 tháng 5 năm 1946 của Chính phủ về ấn định quy tắc Quân đội quốc gia Việt Nam, lực lượng vũ trang của tỉnh được kiện toàn về tổ chức.

Trung đoàn Thiện Thuật theo tổ chức mới biên chế thành 3 tiểu đoàn: 13, 14, 15 và có các đại đội hoặc trung đội trực thuộc như công binh, thông tin, trinh sát... do đồng chí Tùng Lâm (Nguyễn Đăng Trình) làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Trần Sâm làm chính trị ủy viên.

Lực lượng dân quân tự vệ và du kích do tỉnh đội, huyện đội xã đội tổ chức và chỉ huy.

Trước yêu cầu nhiệm vụ quân sự, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, ngày 1 tháng 5 năm 1946, đại đội Lê Hồng Phong - Đơn vị dân quân tự vệ tập trung của tỉnh được thành lập tại làng Tân Phổ, xã Phong An, huyện Triệu Phong do đồng chí Phạm Thiệu làm Đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Vức làm Chính trị ủy viên.

Đại đội Lê Hồng Phong là tiền thân của bộ đội địa phương Quảng Trị. Lực lượng ban đầu có 80 đội viên được lựa chọn từ các đội du kích tập trung của hai huyện Hải Lăng và Triệu Phong gồm những người có sức khỏe tốt, có tinh thần yêu nước, chiến đấu dũng cảm.

Lúc này cuộc chiến đấu giữa ta và địch ở biên giới Việt-Lào tạm ngừng. Theo Hiệp định sơ bộ ta cho phép một tiểu đoàn quân Pháp từ biên giới Việt-Lào qua Đông Hà vào Huế. Do đó nhiệm vụ chính của Đại đội Lê Hồng Phong là vừa xây dựng lực lượng, vừa hướng dẫn dìu dắt dân quân tự vệ các huyện và xã vừa sản xuất tự túc, đồng thời luôn luôn sẵn sàng chiến đấu khi quân Pháp phản bội Hiệp định, gây chiến tranh.

Để tăng cường trang bị vũ khí cho bộ đội và dân quân tự vệ, xưởng quân giới “Đội Quyên” của tỉnh được củng cố và xây dựng lớn hơn. Lúc đầu xưởng luôn chuyên lo rèn giáo, mác, mã tấu... chế tạo được lựu đạn, mìn đơn giản (mảnh chai, kim khí trộn với thuốc nổ lèn chặt trong loong sữa bò, gắn kíp) dùng để diệt bộ binh địch. Về sau làm được lựu đạn thổ, mìn muỗi, sửa chữa được các loại súng thông thường, mìn dứa (hình quả dứa) bom ba càng... Các hoạt động tích cực và khẩn trương của xưởng quân giới đáp ứng một phần yêu cầu cho chiến đấu của các lực lượng vũ trang tỉnh. Đến cuối tháng 9 năm 1946, mỗi tháng xưởng quân giới đã sản xuất được hàng trăm quả lựu đạn, giáo mác, dao găm, kiếm, sửa chữa hàng trăm vũ khí thông thường. Nhiều công nhân làm việc tận tụy thầm lặng, dũng cảm quên mình vì nhiệm vụ, tiêu biểu là đồng chí Trần Hòa bị thương cụt tay trong khi thử lựu đạn, sau khi điều trị lành vẫn không rời vị trí công tác.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2020, 02:51:23 pm »

Mặc dù điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng đảng bộ các cấp và nhân dân trong tỉnh vẫn giành cho lực lượng vũ trang sự quan tâm đặc biệt cả vật chất lẫn tinh thần. Hưởng ứng phong trào “Mùa đông binh sĩ” nhân dân các địa phương trong tỉnh, đặc biệt là “hội mẹ chiến sĩ” đã hăng hái nhiệt tình đóng góp tiền bạc, cải cải giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ và gia đình quân nhân neo đơn túng thiếu, trước hết là những chiến sĩ ở tiền tuyến, biên giới miên tây. Nhiều “Quán quân nhân” được tổ chức để giúp đỡ bộ đội ăn nghỉ trên đường đi công tác...

Những hành động thiết thực đó là nguồn động viên, cổ vũ lớn lao đối với lực lượng vũ trang trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề của những ngày đầu kháng chiến.

Càng vào những tháng cuối năm 1946, tình hình trong nước càng hết sức căng thẳng. Thực dân Pháp ngày càng lộ rõ bản chất xâm lược, trắng trợn vi phạm các điều khoản đã được ký kết, tiếp tục mở rộng chiến tranh ở Việt Nam. Quân đội Pháp lấn chiếm nhiều nơi ở miền Bắc, tăng cường khiêu khích ở Hà Nội, đổ quân trái phép lên Đà Nẵng, điều quân từ Lào tăng cường các vị trí của chúng ở miền tây khu 4, nhất là ở vùng đường 9, đưa thêm quân từ Pháp qua Đông Dương.

Ngày 19 tháng 10 năm 1946, hội nghị quân sự toàn quốc dưới sự chủ tọa của đồng chí Trường Chinh đã nhận định: “Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình, và mình nhất định cũng phải đánh Pháp” đồng thời hội nghị cũng quyết định những biện pháp khẩn cấp chuẩn bị kháng chiến.

Hội nghị đã quyết định giải thể Ủy ban phòng thủ các cấp và lập Ủy ban kháng chiến từ xã đến tỉnh; gấp rút xây dựng chiến khu, củng cố lực lượng vũ trang, rèn đúc và sửa chữa các loại vũ khí thông thường trang bị cho dân quân tự vệ, thực hiện chủ trương quân sự hóa toàn dân, tăng cường phòng thủ ở vùng biên giới và bờ biển, nghiêm trị bọn phản động tay sai giặc Pháp.

Sau những hành động lấn chiếm ở Hải Phòng và Lạng Sơn liên tiếp trong các ngày từ 15 đến 19 tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp liên tục nổ súng, ném lựu đạn tàn sát đồng bào ta ở Thủ đô. Đặc biệt nghiêm trọng là chúng cho quân đánh chiếm Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính, gây ra vụ thảm sát ở Hàng Bún... Láo xược hơn nữa chúng còn gửi “tối hậu thư” đòi tước khí giới của bộ đội, dân quân tự vệ và công an, đồng thời đe dọa: “Đến sáng 20 tháng 12 năm 1946, những điều đó không được chấp nhận thì quân Pháp sẽ chuyển sang hành động"(3).

Trước tình hình nghiêm trọng đó, hai ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ tọa của Hồ Chủ tịch. Sau khi đánh giá tình hình mọi mặt, Thường vụ Trung ương Đảng nhận định: Âm mưu của Pháp mở rộng chiến tranh nay đã chuyển sang một bước mới, thời kỳ hòa hoãn đã qua, khả năng hòa bình không còn nữa. Hội nghị quyết định phát động nhân dân cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Trưa 19 tháng 12 năm 1946, Thường vụ Trung ương Đảng điện cho các chiến khu và Tỉnh ủy: “Giặc Pháp đã hạ “tối hậu thư” đòi tước khí giới của quân đội, tự vệ, công an ta. Chính phủ đã bác bỏ “tối hậu thư” ấy. Như vậy chỉ trong vòng 24 giờ là cùng chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng”(2).

Trung ương chỉ thị “Tất cả hãy sẵn sàng!”. Đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, Đài tiếng nói Việt Nam phát tín hiệu tiến công. Tiếp đó Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng chỉ huy ra mệnh lệnh chiến đấu:

“Tổ quốc lâm nguy!
Giờ chiến đấu đã đến!...
Hy sinh chiến đấu đến giọt máu cuối cùng!
Tiêu diệt bọn thực dân Pháp!
Quyết chiến!”
(3)

Tại Quảng Trị, chiều ngày 19 tháng 12 năm 1946, Ủy ban kháng chiến triệu tập đại biểu các huyện và đơn vị họp bàn về quân sự. Đang họp đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Bí thư xứ ủy Trung kỳ đến thông báo tình hình khẩn cấp, phổ biến nhiệm vụ. Nghe xong cuộc họp giải tán ngay, các đại biểu vội vả tỏa về các địa phương triển khai chiến đấu.


(1) Lịch sử QĐNDVN - NXB QĐND tr72 Hà Nội 1984
(2), (3) Tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng quân ủy - Bộ Tổng tham mưu XB 1963; tr.121. 123
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Sáu, 2020, 02:59:38 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2020, 02:53:43 pm »

Đến 19 giờ cùng ngày Quảng Trị đã nhân được mệnh lệnh chiến đấu của Bộ chỉ huy chiến khu 4 và đến 22 giờ tất cả các đơn vị đã ở vị trí chiến đấu.

Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Hồ Chủ tịch phát lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến “... Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa, Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!

Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!...”


Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch và chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của tổng chỉ huy, cùng với cả nước, quân và dân Quảng Trị nhất tề đứng dậy, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Các chiến sĩ bộ đội cùng anh em tự vệ và các tầng lớp nhân dân khẩn trương đào công sự, làm chiến lũy, dựng vật chướng ngại, đánh sập cầu cống... trên các tuyến đường giao thông quan trọng để ngăn chặn bước tiến của quân thù. Hàng ngàn hàng vạn thanh niên nam nữ xung phong tòng quân ra mặt trận. Hàng trăm anh chị em công nhân lao động ở thị xã Quảng Trị, Đông Hà tháo dỡ máy móc sơ tán lên vùng rừng núi Ba Lòng cất dấu, nhân dân đóng góp hàng vạn ngày công đào hầm hố, làm vật cản, phá hoại đường giao thông... sẵn sàng đón đánh địch.

Tiểu đoàn 13 thuộc Trung đoàn Thiện Thuật dưới sự chỉ huy của đồng chí Hùng Việt cùng đại đội Lê Hồng Phong phối hợp với dân quân tự vệ các địa phương tổ chức, bố phòng ở phía tây đường 9 đón đánh khoảng 1000 quân Pháp có máy bay, thiết giáp yểm hộ đang từ Lào rục rịch kéo sang(1). Tất cả đã sẵn sàng.

Ngày 10 tháng 1 năm 1947, hơn 500 tên Pháp định vượt sông Xê-băng-phai đánh vào làng Tổng Thuật. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, một trung đội bộ đội ta chặn đánh địch suốt ngày làm cho chúng không thực hiện được kế hoạch vượt sông.

Ngày 11 tháng 1 địch dùng trọng pháo, máy bay bắn phá dữ dội rồi lại thúc quân tràn qua sông. Trận chiến đấu không cân sức diễn ra vô cùng ác liệt. Bộ đội ta tuy lực lượng ít, vũ khí thô sơ nhưng vẫn ngoan cường bám trụ từng ụ đá, bờ cây đánh địch gây cho chúng nhiều thiệt hại, diệt 30 tên và bắn bị thương nhiều tên khác. Song do tương quan lực lượng khá chênh lệch, quân ta phải rút lui để bảo toàn lực lượng. Địch tràn được qua sông.

Sau khi vượt sông, bọn địch vòng ra phía sau, bất ngờ đánh chiếm Khe Sanh. Trung đội tự vệ Hướng Hóa cùng với Trạm điều dưỡng tại bệnh xá đã anh dũng chặn đánh địch để đồng bào có đủ thời gian sơ tán và thực hiện “vườn không nhà trống”. Do thế địch đang mạnh nên ta phải vừa chặn đánh vừa rút lui về Rào Quán để bảo toàn lực lượng. Các đơn vị kéo nhau về bám trụ ở đây tạo thành một phòng tuyến vững chắc. Trung đoàn trưởng Hùng Việt tổ chức hệ thống vật cản dày đặc chắn ngang đường tiến quân của Pháp làm cho cuộc hành quân của chúng bị chặn lại nhiều ngày.

Ngày 12 tháng 1, một cánh quân khác của địch từ Lào vượt qua biên giới, đánh chiếm Lao Bảo. Các chiến sĩ tiểu đoàn 13 và dân quân tự vệ đã anh dũng xông lên, với súng, mìn, lựu đạn, bom ba càng, giáo mác, dao găm... tiêu diệt 60 tên địch, làm chậm bước tiến của chúng.

Đồng thời với hai cánh quân đánh vào Khe Sanh, Lao Bảo, một canh quân khác của địch khoảng 200 tên, vượt qua biên giới Việt-Lào theo đường Tà Rụt tiến đánh vùng Ba Lòng.

Ngày 15 tháng 1, hai cánh quân của địch ở Khe Sanh, Lao Bảo nhập làm một cùng với cánh quân hướng Ba Lòng hình thành thế gọng kìm tiến đánh Rào Quán.

Lực lượng ta ở đây gồm có Tiểu đoàn 14 thuộc Trung đoàn Thiện Thuật, Đại đội Lê Hồng Phong và các lực lượng dân quân tự vệ địa phương do đồng chí Hùng Việt trực tiếp chỉ huy chung.

Đồng chí Trần Hữu Dực, Chủ tịch Ủy ban hành chính Trung bộ lên kiểm tra, trực tiếp góp ý và động viên cán bộ chiến sĩ phát huy truyền thống quyết chiến quyết thắng, tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân, bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Nhân dân các dân tộc huyện Hướng Hóa vừa thực hiện phá hoại tản cư, vừa giúp đỡ tiếp tế cho bộ đội và các lực lượng bám trụ chiến đấu.


(1) Sau khi mặt trận tây Nguyên vỡ, TW điều đồng chí Hùng Việt nguyên chỉ huy trưởng Mặt trận Tây Nguyên ra thay đồng chí Tùng Lâm làm trung đoàn trưởng Trung đoàn Thiện Thuật, Đồng chí Hùng Việt kiêm luôn chỉ huy trưởng Mặt trận đường 9 (Ban chỉ huy có 9 đồng chí) kháng chiến toàn Quốc bùng nổ Ban chỉ huy Mặt trận đường 9 giải thể. Trung đoàn Thiện Thuật đảm nhận luôn việc chỉ huy Mặt trận này
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2020, 02:54:38 pm »

Lợi dụng địa hình rừng núi hiểm trở, quân ta bí mật phục kích hai bên đường. Khi quân Pháp đã lọt vào trận địa mai phục, các loại súng của ta thi nhau nhả đạn. Bị phục kích bất ngờ, giặc pháp rối loạn đội hình. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Nhiều chiến sĩ xông lên đánh giáp lá cà với địch. Có chiến sĩ luồn lách trong rừng từ chỗ này sang chỗ khác sử dụng bẫy đá làm cho bọn địch kinh hoàng tháo chạy không kịp. Bằng các loại vũ khí thô sơ như bom, mìn tự tạo, cạm bẫy... và tinh thần chiến đấu dũng cảm, quân và dân ta đã tiêu diệt trên 100 tên địch, làm bị thương nhiều tên khác, đồng thời phá hủy một số phương tiện chiến tranh của chúng. Nhưng quan trọng hơn là đã kìm chân và làm chậm bước tiến của quân Pháp phá vỡ một bước âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của chúng. Sau thất bại này thực dân Pháp đã dừng lại 5 ngày để củng cố và tổ chức lại lực lượng. Đề phòng địch bỏ đường 9, tiến quân bằng đường tắt, xuôi theo tả ngạn sông Thạch Hãn về chiếm thị xã Quảng Trị, ta đã điều một đại đội của Tiểu đoàn 14 lên Trừ tiếp viện cho cánh quân của ta ở Ba Lòng. Tình hình mặt trận biến chuyển từng giờ từng phút. Ngày 20-1-1947 giặc Pháp tập trung lực lượng đánh chiếm vùng Cùa. Ta buộc phải điều 2 đại đội của Tiểu đoàn 14 đang làm nhiệm vụ ở thị xã Quảng Trị lên bố trí trận địa, đánh địch ở Cùa. Tiểu đoàn 15 đứng chân ở Đông Hà, phụ trách Cửa Tùng, bắc Quảng Trị, được lệnh điều ra vùng Gio Linh phụ trách mặt trận Bắc đường 9.

Sau khi đã lấy lại được tinh thần, quân Pháp tiến ra Cùa theo dốc làng Hạ-Xoa. Đại Hội Lê Hồng Phong phối hợp với một trung đội bộ đội chủ lực của Tiểu đoàn 14 cùng dân quân du kích địa phương tổ chức lực lượng chiến đấu.

Lợi dụng rừng núi và khe suối, lực lượng ta đánh địch bằng chiến thuật du kích vận động chiến kết hợp phục kích tiêu diệt hàng chục tên địch. Tiêu biểu là trận Dốc Đỏ ngày 21 tháng 1 năm 1947, ta đào hầm cá nhân (có nắp che), hai bên vệ đường rải lá, cỏ ngụy trang trên nắp rồi xuống hầm ngồi chờ địch. Hơn một đại đội lính Pháp lọt vào trận địa. Quân ta đồng loạt đội nắp hầm xông lên dùng mã tấu, kiếm (có một ít súng trường) đánh giáp lá cà với địch. Đại đội trưởng Hòe nêu gương chiến đấu dũng cảm, vừa chém, vừa bắn và có lúc vật nhau với địch, đồng chí đã anh dũng hy sinh trong trận này. Mặc dầu quân ta chiến đấu rất dũng cảm nhưng lực lượng quá ít, vũ khí thô sơ trong khi địch đông gấp nhiều lần lại được trang bị vũ khí và phương tiện hiện đại nên quân ta vừa phải chặn đánh tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch vừa rút lui để bảo toàn lực lượng.

Ngày 23 tháng 1 năm 1947, quân Pháp chiếm được Cùa, chúng để lại một trung đội chốt giữ, số còn lại vòng lên Mai Lĩnh tiến đánh Đầu Mầu.

Ngày 27 tháng 1 ta nổ súng đánh địch ở Đầu Mầu diệt 30 tên. Tiếp đến ngày 3 tháng 2 quân ta vận động tắt đường rừng tập kích vị trí Mai Lĩnh diệt thêm hàng chục tên khác. Sau hai trận đòn phủ đầu trên, địch buộc phải dừng lại ở vị trí Đầu Mầu củng cố binh lực, mãi đến 16 tháng 2 mới đánh Cam Lộ rồi ngày hôm sau (17 tháng 2) mới chiếm được Đông Hà.

Trong thời gian quân giặc tiến đánh Cam Lộ, Đông Hà, bộ đội ta thực hiện chiến thuật du kích chiến, vận động chiến, phân tán đơn vị về từng khu vực cùng dân quân tự vệ tập kích chiến đấu đánh địch khắp nơi từ Lao Bảo, Khe Sanh đến Đầu mầu, Cam Lộ. Đi đến đâu giặc Pháp cũng gặp phải sức chặn đánh quyết liệt của quân và dân ta nên chúng tiến rất chậm. Đại đội 12 thuộc Tiểu đoàn 13 đã giật bom diệt gọn 2 trung đội địch tại cầu Rào Quán (Hướng Hóa). Đây là một trận đánh phục kích đạt hiệu suất cao trong những ngày đầu chiến tranh.

Tuy không giữ được trận địa, nhưng quân và dân ta ở mặt trận đường số 9 đã nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, chiến đấu anh dũng, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, làm cho chúng phải để lại 300 xác chết và mất. 40 ngày đêm mới tiến được một đoạn đường 84km.

Rõ ràng là trong cuộc chiến tranh này khí thế địch mạnh, lực lượng ta còn yếu; để thắng chúng chiến thuật của ta phải là du kích vận động chiến. Bộ đội phải biết vận động nhanh chóng mới có thể áp dụng được triệt để chiến thuật du kích.

Cùng với việc chỉ đạo đánh địch trên đường số 9, Tỉnh ủy Quảng Trị chủ trương đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền vận động nhân dân về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện. Hưởng ứng lời kêu gọi “tiêu thổ” để kháng chiến của Hồ Chủ tịch, cán bộ, đảng viên thường xuyên bám sát cơ sở, hướng dẫn nhân dân thực hiện “vườn không nhà trống” cất dấu của cải, tích cực tham gia chống địch càn quét. Để chặn bước tiến của quân thù, hàng chục cầu cống trên các đường giao thông quan trọng bị phá hủy. Hàng trăm vật chướng ngại được dựng lên. Dân quân tự vệ hăng hái rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật đánh du kích, phối hợp với bộ đội ứng chiến cầm cự với địch, tiêu diệt, tiêu hao, quấy rối làm chậm bước tiến của chúng, tạo điều kiện cho nhân dân có đủ thời gian phá hoại, thiêu hủy nhà cửa của mình, di chuyển lương thực và của cải sơ tán đi nơi khác để tiếp tục tham gia kháng chiến và phục vụ kháng chiến lâu dài.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2020, 02:55:47 pm »

*
*   *

Ở hướng nam Quảng Trị. Sau khi chiếm được Thừa Thiên, ngày 12 tháng 2 năm 1947 một cánh quân Pháp trên 1.500 tên có máy bay và đại bác yểm trợ tiến công đánh chiếm Mỹ Chánh.

Để bảo toàn lực lượng quân và dân ta vừa chặn đánh, vừa phá hoại, sơ tán rút lui. Quân ta đã đánh sập cầu Mỹ Chánh làm cho tốc độ hành quân của chúng phải chậm lại mất một ngày không qua sông được. Ngày 13 tháng 2 sau khi bắc lại cầu Mỹ Chánh, địch tiếp tục hành quân đánh chiếm Diên Sanh (phủ lỵ Hải Lăng).

Trong khi lực lượng địch còn mạnh hơn ta gấp nhiều lần cả về quân số lẫn trang bị vũ khí, quân ta buộc phải lui về phòng thủ thị xã Quảng Trị.

Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch “Tiêu thổ để kháng chiến”, với tinh thần “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, nhân dân trong nội thị cũng như ngoại ô và các thị trấn, dọc hai bên đường quốc lộ đã tự tay phá đi tất cả những gì mà kẻ thù có thể sử dụng rồi tiếp tục lên đường kháng chiến.

Đi đôi với công tác phá hoại, thực hiện “vườn không nhà trống” là nhiệm vụ di chuyển sơ tán toàn bộ máy móc, vật tư thiết bị phụ tùng của các nhà máy, xí nghiệp, công sở lên vùng căn cứ phía Tây của tỉnh để tiếp tục sản xuất phục vụ kháng chiến.

Ngày 15 tháng 2 năm 1947, địch tiến đến cầu Nhùng, cách tỉnh lỵ Quảng Trị 5 km về phía nam. Một đại đội của Tiểu đoàn 14 phối hợp với lực lượng dân quân tự vệ xã Hải Long chặn đánh quyết liệt làm cho tốc độ tiến quân của địch ra thị xã bị chậm lại, tạo điều kiện cho Ủy ban kháng chiến các cấp từ tỉnh đến cơ sở cùng 5-6 vạn dân kịp sơ tán hết lên vùng giáp ranh và rác khu căn cứ Phong An, Hải Đạo...

Thị xã Quảng Trị bị uy hiếp nghiêm trọng. Để bảo vệ thị xã bằng lực lượng hiện có gồm Tiểu đoàn 14, đại đội vệ binh của Bộ Chỉ huy khu 4 tăng cường và tự vệ thị xã, ta bố trí như sau: Tiểu đoàn 14 gồm 3 đại đội, một đại đội bố trí gần nhà ga chặn đánh địch từ cầu Thạch Hãn về phía vườn hoa. Một đại đội bố trí ở làng Tri Bưu chặn đánh địch từ hướng đông nam tới. Một đại đội bố trí trên mặt thành nhìn ra sân vận động và đường số 1. Đại đội vệ binh của Bộ Chỉ huy khu 4 tăng cường bố trí ở làng Thạch Hãn. Tự vệ thị xã phối hợp với các cánh quân của bộ đội cùng chiến đấu. Đồng chí Hùng Việt Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thiện thuật chỉ huy toàn bộ trận chiến đấu này.

Các loại vũ khí tự tạo như bom giật, bom treo, mìn, địa lôi, hầm chông, cạm bẫy... đã được bố trí ở những nơi dự kiến quân địch sẽ đến.

Đúng 3 giờ. 30 ngày 16-2, quân Pháp được pháo binh và cơ giới yểm hộ, bắt đầu tiến công thị xã Quảng Trị. Mở đầu bằng các loạt đạn pháo bắn dồn dập vào thành Quảng Trị. Cả thị xã chìm ngập trong lửa khói chiến tranh. Pháo địch vừa dứt, lập tức các đơn vị bộ binh được xe cơ giới yểm hộ ào ạt xông lên, nhưng chúng đã vấp phải bức tường lửa của lực lượng ta. Từ các vị trí phòng thủ, các chiến sĩ và dân quân tự vệ thị xã “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã bình tĩnh chặn đánh địch. Hàng chục tên giặc bị chết hoặc bị thương ngay từ loạt đạn đầu. Bọn địch cậy thế quân đông, tướng mạnh, vũ khí đạn dược dồi dào, hung hãn, liều lĩnh định chiếm một xóm nhỏ trước làng Thạch Hãn để làm bàn đạp tấn công vào nội thị. Nhưng từ các giao thông hào, ụ chiến đấu cá nhân, các chiến sĩ vệ binh, kiên cường dũng cảm bám trụ chiến đấu gây cho địch nhiều thiệt hại. Địch bị động lúng túng giạt sang bên kia đường, vòng qua sân vận động để chiếm những lùm cây và mô đất ở nghĩa địa. Một trung đội của ta bố trí sẵn ở đây lập tức nổ súng. Bị đánh bất ngờ và thiệt hại nặng, bọn giặc phải lùi lại chạy tạt về phía Tri Bưu, lập tức súng liên thanh của bộ đội ta bố trí trên mặt thành và ngã tư Xuân Tịnh đồng loạt bắn tới, cùng lúc đạn súng cối từ trong thành “rót” trúng giữa đội hình địch làm cho chúng bị tổn thất đáng kể. Ở trường Quảng Đức, ngã tư Xuân Tịnh và quanh khu Tòa Xứ, giữa lửa khói mù mịt, bộ đội và tự vệ ta bám sát địch đánh quần lộn với chúng. Xác giặc bị diệt nằm ngổn ngang, những tên bị thương kêu la thảm thiết.

Sau khi dùng bộ binh tiến công bị quân ta chặn đứng, giặc Pháp liền cho xe cơ giới tiến lên bắn mãnh liệt vào đội hình quân ta gây thế áp đảo, yểm hộ cho bộ binh công kênh nhau vượt tường nhảy vào nội thành. Ngay lập tức quân địch phải khựng lại dưới lưới lửa dày đặc của ta. Các loại súng thi nhau nhả đạn. Mìn, địa lôi chớp sáng đất đá và thịt xương xác giặc bay rào rào mù mịt. Nhiều loại bom mìn từ trên cây chụp xuống, từ dưới đất tung lên dồn bọn địch vào chân tường thành, gần 100 tên bị diệt hàng chục tên khác bị thương. Cuộc chiến đấu càng về sau càng gay go quyết liệt. Cuối cùng do tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía địch cả quân số và phương tiên cũng như trang bị vũ khí nên các chiến sĩ ta phải vừa chiến đấu, vừa rút lui để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu tiếp theo. Dưới sự yểm hộ của 2 khẩu đại liên đặt ở chùa Phật học, bộ đội ta vừa đánh địch vừa rút ra khỏi thị xã. Đại đội ở Tri Bưu chống cự với địch suốt cả ngày, mãi đến 16 giờ mới rút về An Tiêm. Với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” 20 chiến sĩ của Tiểu đoàn 14 thuộc Trung đoàn Thiện Thuật cùng tự vệ thị xã xung phong ở lại yểm trợ cho đại quân rút lui đã chiến đấu anh dũng diệt thêm nhiều giặc, bẻ gãy nhiều đợt xung phong của chúng. Cuối cùng cả 20 đồng chí đều hy sinh oanh liệt.

Tinh thần chiến đấu và gương hy sinh anh dũng của các chiến sĩ cảm tử Tiểu đoàn 14 mãi mãi là tấm gương sáng ngời và là niềm tự hào của lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị.

Ngoài đội cảm tử Tiểu đoàn 14, các đội cảm tử khác và tự vệ thị xã vẫn tiếp tục cố thủ; bám trụ trong các hầm bí mật chiến đấu với địch nhiều ngày gây cho địch nhiều thiệt hại.

Trong trận chiến đấu này, Tiểu đoàn 14 của tỉnh và tự vệ thị xã đã được tôi luyện và trưởng thành cả về trình độ tổ chức chỉ huy và kỹ, chiến thuật đánh địch. Nó thể hiện tinh thần quyết đánh và biết đánh, quyết thắng và biết thắng. Nó cũng thể hiện ý chí chiến đấu dũng cảm, ngoan cường với cách đánh sáng tạo, sử dụng các loại vũ khí thô sơ rất linh hoạt của bộ đội và dân quân tự vệ. Trận đánh địch tiến công thị xã Quảng Trị là trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao. Với lực lượng một tiểu đoàn tăng cường và trang bị vũ khí thô sơ, ta đã chặn đứng nhiều đợt tiến công của trên 1.500 tên địch được trang bị vũ khí hiện đại có pháo binh, cơ giới yểm trợ. Sau một ngày chiến đấu ác liệt ta đã tiêu diệt, hơn 200 tên địch và làm bị thương hàng trăm tên khác. Địch phải huy động 15 xe ô tô chở xác chết và lính bị thương đưa về Huế.

Những thắng lợi bước đầu khi giặc Pháp trở lại đánh chiếm Quảng Trị ở mặt trận đường 9 và thị xã đã góp phần động viên, khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta, đồng thời củng cố lòng tin của nhân dân các dân tộc trong tỉnh đối với bộ đội và lực lượng vũ trang dân quân tự vệ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2020, 02:57:10 pm »

*
*   *

Để kịp thời chỉ đạo cuộc chiến đấu, sau chiến công xuất sắc của lực lượng vũ trang Quảng Trị ở đường số 9 và thị xã, Thường vụ Tỉnh ủy họp mở rộng ở Lại An, thống nhất nhận định: Sau những trận thất bại vừa qua, quân Pháp còn phải dừng lại một thời gian để củng cố lực lượng và vùng mới chiếm đóng, rồi mới tiến hành đánh chiếm Gio Linh, Vĩnh Linh. Từ nhận định đó Tỉnh ủy chủ trương: Để lại một bộ phận bộ đội bám trụ địa bàn đồng bằng chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt địch hỗ trợ cho nhân dân trở lại sản xuất, thu hoạch mùa màng. Còn các đơn vị khác được bố trí phân tán trên địa bàn toàn tỉnh để phối hợp cùng dân quân tự vệ tiến hành chiến tranh du kích. Tiểu đoàn 13 hoạt động ở vùng Gio Linh, Vĩnh Linh. Tiểu đoàn 14, sau khi rút khỏi thị xã, theo đường Sãi - Cửa Việt về Vệ Nghĩa và được lệnh đi vòng trở lại hoạt động ở vùng đồng bằng Hải Lăng, Triệu Phong, lập căn cứ kháng chiến ở Chợ Cạn. Tiểu đoàn 15 phòng giữ tuyến Hà Trung, Hà Thanh (Gio Linh) có nhiệm vụ phối hợp với một đại đội dân quân du kích chặn đánh địch trên đường số 1. Đại đội biệt động của Trung đoàn Thiện Thuật chuyển lên hoạt động ở đường số 9 huyện Hướng Hóa. Đại đội Lê Hồng Phong xây dựng cơ sở ở Ba Lòng.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, trong những vùng bị địch tạm chiếm, bộ đội và dân quân tự vệ vẫn tiến hành các hoạt động nhỏ lẻ, tiêu hao, quấy rối gây cho địch lúng túng nơm nớp lo sợ. Đêm 20 tháng 2 năm 1947 bộ đội địa phương phối hợp với lực lượng dân quân du kích đột nhập phủ Triệu Phong ném lựu đạn diệt 5 tên địch. Cũng ngay đêm đó ta tấn công Nha Thương Chính, chợ Sãi lam cho địch mất ăn mất ngủ. Ngày 21 tháng 2 một tổ dân quân xã Hải Long đã bí mật phục kích diệt 3 tên địch ở La Vang (Hải Lăng). Ngày 2 tháng 3, đội biệt động đường 9 giật mìn phá hủy một xe vận tải, diệt 3 tên Pháp...

Trong thời gian này một việc rủi ro đáng tiếc xảy ra. Đồng chí Hùng Việt, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thiện Thuật người chỉ huy dũng cảm và mưu trí, người cán bộ được bộ đội và nhân dân tin tưởng, yêu mến và là nỗi khiếp sợ của kẻ thù đã anh dũng hy sinh trong khi đang trực tiếp hướng dẫn 3 chiến sĩ tiểu đoàn 14 làm mìn tự tạo diệt địch, Để kịp thời ổn định tổ chức, Khu ủy đã chỉ định đồng chí Trần Sâm làm trung đoàn trưởng (thay đồng chí Hùng Việt) và đồng chí Lê Chưởng làm Chính ủy Trung đoàn.

Như vậy đến ngày 17 tháng 2 năm 1947, về cơ bản giặc Pháp đã đánh chiếm được các vị trí xung yếu ở 4 huyện trong tỉnh gồm Hướng Hóa, Cam Lộ, Hải Lăng, Triệu Phong và thị xã Quảng Trị. Chỉ còn lại Vĩnh Linh, Gio Linh và một phần phía Bắc Cam Lộ là vùng tự do của ta.

Đúng như nhận định của Thường vụ Tỉnh ủy ở hội nghị Lại An sau khi chiếm được các vị trí quan trọng ở các huyện phía nam Quảng Trị, giặc Pháp một mặt lo củng cố vị trí vừa chiếm được mặt khác tăng cường càn quét khủng bố nhân dân, đàn áp phong trào kháng chiến, đồng thời cho quân lấn chiếm ra phía Bắc tả ngạn sông Cam Lộ từ Tân Định, Cam Vũ đến Cam Lộ Hạ, chiếm đường tỉnh lộ 71 để bảo vệ cho binh lính chúng trên đường số 9 và làm bàn đạp tấn công ra Gio Linh, Vĩnh Linh. Kiên quyết không cho địch thực hiện âm mưu của chúng, bộ đội địa phương và dân quân du kích phối hợp chiến đấu cầm cự với địch rất oanh liệt gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Ngày 12 tháng 3 năm 1947, dân quân du kích xã Hải Long phối hợp với 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương huyện, tổ chức mai phục đánh địch trên đường quốc lộ 1 ở thôn An Thái. Trận đánh diễn ra tại quán Quýt. Lực lượng ta bí mật đào hầm cách đường 10 mét mai phục rồi dùng 2 chiếc vò bằng sành giả làm mìn. Một xe địch đi tới, du kích giật giây cho vò lăn ra đường. Bọn Pháp ngồi trên xe tưởng là mìn thật hoảng hốt nhảy xuống tìm nơi ẩn nấp, Chỉ chờ có thế, lực lượng ta liền xông ra dùng giáo mác đâm chém diệt gọn 6 tên địch, đốt cháy xe, thu một súng tiểu liên, 5 súng trường và một số đồ dùng quân sự...

Trong những ngày cuối tháng 3. năm 1947, bộ đội địa phương và dân quân du kích các xã phối hợp tổ chức các trận địa lôi chiến rộng lớn, chôn bom rải rác khắp các ngã đường thôn xóm Bích La, Thượng Trạch, Long Quang, Bồ Bản... và chặn đánh khắp nơi khi quân địch kéo về càn quét Triệu phong, tiêu diệt 80 tên, làm bị thương 20 tên khác cả Pháp và tay sai.

Ngày 28 tháng 3, các chiến sĩ “Biệt động đội” ở Khe Sanh phục kích bằng mìn phá một xe vận tải diệt 3 tên Pháp. Đặc biệt trận đánh tập kích của lực lượng dân quân du kích diệt gọn một trung đội địch tại nhà Cửu Câu (Cam Lộ) khi chúng tập trung chuẩn bị đi càn quét, đã gây một tiếng vang trong tỉnh.

Những hoạt động liên tục của lực lượng vũ trang và dân quân du kích các địa phương đã tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, làm cho chúng không thể rảnh tay thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2020, 02:58:11 pm »

Sau hơn một tháng củng cố lại lực lượng, ngày 27 tháng 3 năm 1947, quân Pháp tiếp tục mở cuộc tiến công đánh chiếm các huyện phía Bắc Quảng Trị. Cùng với việc cho quân đổ bộ lên Đồng Hới (Quảng Bình), bộ binh Pháp tiến công đánh chiếm hai huyện Gio Linh, Vĩnh Linh.

Theo kế hoạch các lực lượng bộ đội của tiểu đoàn 13, 15 và dân quân tự vệ địa phương phối hợp triển khai chiến đấu. Tiểu đoàn 13 do tiểu đoàn trưởng Lê Bá Vận và Chính trị viên Vũ Hồng Thanh chỉ huy chặn đánh địch quyết liệt trên đường 76, giật mìn phá tan một xe tăng địch ở An Nha, diệt 20 tên. Đêm 28 tháng 3 lợi dụng lúc địch tiến ra phía Bắc, đằng sau sơ hở, tiểu đoàn 13 mưu trí tập kích vào chợ Phiên (Cam Lộ) diệt và làm bị thương một số tên địch, trong đó có tên quan tư Pháp bị thương nặng chở về đến Đông Hà thì chết.

Ngày 30 tháng 3, được sự yểm trợ của 4 chiếc máy bay và hàng chục xc thiết giáp dội bom và bắn phá dọn đường, địch chia làm hai cánh quân tiến ra Vĩnh Linh.

Một cánh quân tiến theo đường sắt vượt cầu Tiên An, tràn qua sông Hiền Lương sang Thủy Ba, Phúc Lâm. Một cánh quân khác ở phía bờ biển vòng xuống Võ Xá, Hải Chữ ra Thủy Khê, Cường Gián tràn qua Tân Trại chiếm Cửa Tùng rồi đánh lên phủ lỵ Vĩnh Linh.

Ngày 31 tháng 3, địch đánh chiếm Hồ Xá (phủ Vĩnh Linh). Trên đường tiến quân của chúng, ở đâu cũng vấp phải sự kháng cự quyết liệt của lực lượng bộ đội tiểu đoàn 15 và dân quân du kích, gây cho chúng một số thiệt hại và làm chậm bước tiến của chúng. Cánh quân địch ở phía Tây bị tiểu đoàn 15 chặn đánh ở cầu Tiên An và bến đò Hiền Lương. Ta diệt 30 tên địch và làm bị thương một số tên khác. Cánh quân địch ở hướng đông, bị dân quân du kích chặn đánh ở Cường Gián, Tân Trại và một số nơi khác. Nhưng do tương quan lực lượng quá chênh lệch, ta chưa đủ sức ngăn địch.

Như vậy là kê từ khi thực dân Pháp nổ súng tiến công đánh chiếm ở Phía Tây đường 9 (10 tháng 1) đến ngày 31 tháng 3 năm 1947, sau gần 3 tháng, về cơ bản giặc Pháp đã chiếm xong Quảng Trị.

*
*   *

Cuối tháng 2 năm 1947, trước tình hình cuộc kháng chiến đang ngày càng gay go quyết liệt, Thường vụ Tỉnh ủy họp mở rộng dưới sự chủ trì của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, hội nghị chủ trương: Quyết không để mất dân; địch có thể chiếm đất; chiếm được đồng bằng nhưng ta phải giữ vững vùng rừng núi mà giành giật vùng đồng bằng đông dân với địch. Địch sẽ ra sức tiêu diệt cơ sở kháng chiến, đánh bật bộ đội, cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang ta quyết không rời quần chúng, giữ vững các vùng căn cứ đồng bằng, nhất định sẽ bảo toàn lực lượng. Đảng ủy các cấp một mặt phải nhanh chóng chuyển sang chỉ đạo đấu tranh võ trang, bám đất, bám dân, giữ vững cơ sở, khôi phục lực lượng kháng chiến, lãnh đạo chiến tranh du kích ở địa phương, mặt khác phải kiên quyết đập tan kế hoạch lập ngụy quyền của địch.

Nhờ những chủ trương đúng đắn, kịp thời đó mà khi mặt trận Huế vỡ, tuy quân Pháp về cơ bản đã chiếm được Quảng Trị nhưng phong trào kháng chiến ở Quảng Trị không vỡ mà vẫn được duy trì và phát triển; cơ sở quần chúng cơ bản vẫn được giữ vững, lực lượng vũ trang hoạt động phân tán trong dân, bám trụ trong dân tiếp tục xây dựng và củng cố làm tròn vai trò nòng cốt phong trào toàn dân kháng chiến.

*
*   *

Với một đội quân hùng mạnh, thiện chiến lại có đầy đủ máy bay, thiết giáp, xe tăng và pháo binh yểm trợ, thực dân Pháp hy vọng rằng sẽ “nuốt gọn” Quảng Trị trong một thời gian ngắn, nhưng đó là ý muốn chủ quan của kẻ xâm lược, còn thực tế khách quan lại hoàn toàn khác.

Quân và dân Quảng Trị vốn mang trong mình truyền thống kiên cường và bất khuất, ý chí quyết chiến quyết thắng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và đứng đắn của Tỉnh ủy đã từ trong khói lửa vùng lên với mọi loại vũ khí thô sơ và lòng căm thù giặc cao độ, ngoan cường chiến đấu, anh dũng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, ngăn chặn bước tiến của quân thù và gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Đặc biệt Trung đoàn Thiện Thuật, các đại đội du kích tập trung và lực lượng dân quân tự vệ toàn tỉnh đã hiệp đồng chiến đẩu chặt chẽ, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, tích cực tiêu hao, tiêu diệt địch, đã dự kiến đúng các tình huống và có biện pháp đối phó kịp thời, xây dựng củng cố và phát triển cơ sở, phát động chiến tranh du kích mọi lúc mọi nơi nên đã ngăn chặn có hiệu quả và làm chậm bước tiến của giặc Pháp, bảo toàn được lực lượng của ta để tiếp tục kháng chiến lâu dài, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng từng bước tiến lên giành những thắng lợi mới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2020, 08:42:45 am »

*
*   *
Sau khi thực dân Pháp chiếm được Quảng Trị, đêm 31 tháng 3 năm 1947, Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh chuyển lên miền Tây Vĩnh Linh rồi xuyên rừng bí mật luồn qua vùng địch trở lại vùng núi Cam Lộ - Hải Lăng, lấy vùng Ba Lòng làm căn cứ kháng chiến của tỉnh, Ba Lòng là một thung lũng dài và khá rộng nằm về phía tây gần nguồn sông Thạch Hãn, ruộng đất tương đối phì nhiêu, dân cư thưa thớt. Hai bên sông là núi rừng bát ngát. Xuôi theo dòng sông về đến Trấm, xóm làng có phần đông hơn. Từ Trấm có thể theo các ngã đường đi về đồng bằng, ra Đông Hà hoặc vào Quảng Trị. Ngược dòng sông sẽ đến các nương đồi của bà con dân tộc Pa Kô. Qua Ba Lòng vượt dốc làng Hạ sẽ gặp Cùa, đến đường 9 thẳng hướng tây sang tới Trung Lào. Đường vào Ba Lòng rất gian nan vất vả. Đi theo dòng sông lắm thác ghềnh bằng những con thuyền độc mộc thì tương đối dễ. Còn những con đường xuyên theo rừng núi lắm dốc, nhiều đèo rất hiểm trở khó đi. Chiến khu Ba Lòng là một địa thế rất lợi hại. Vì nơi đây quân và dân ta tiến có thể đánh lui có thể giữ. Ba Lòng kể từ đây đã trở thành căn cứ địa cách mạng của tỉnh nhà. Hàng ngày hàng giờ tấm lòng người dân kháng chiến luôn hướng về chiến khu, nơi trung tâm lãnh đạo kháng chiến.

Thời gian này, Trung đoàn bộ Trung đoàn Thiện Thuật và Tiểu đoàn 15 rút lên Khe Bò, rồi chuyển vào Khe Tăm theo đường rừng cũng trở lại Ba Lòng. Các Tiểu đoàn 13 và 14 được lệnh tiếp tục bám trụ, sát cánh với lực lượng địa phương và nhân dân chiến đấu với địch ở vùng đồng bằng Gio linh, Triệu Hải.

Thực hiện chủ trương của Hội nghị Thường vụ Tỉnh ủy cuối tháng 2 năm 1947, lực lượng dân quân tự vệ ngày càng được củng cố và phát triển. Cuối tháng 4 năm 1947, sau hội nghị Trung ương họp ở Việt Bắc, Bộ chỉ huy khu 4 tổ chức hội nghị quân sự kiểm điểm tình hình sau 4 tháng kể từ ngày kháng chiến toàn quốc đồng thời rút kinh nghiệm việc chỉ đạo tác chiến trên địa bàn khu và các tỉnh.

Tháng 5 năm 1947, hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ nhất họp nhằm thống nhất việc tổ chức dân quân tự vệ trên cả nước. Hồ Chủ tịch đã gửi thư cho nam nữ dân quân tự vệ và du kích. Người khẳng định:

“... Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó thì địch nào cũng phải tan rã”(1).

Nhận thức đúng tầm quan trọng của lực lượng dân quân tự vệ và du kích, thực hiện nghị quyết đại biểu đảng bộ tỉnh tháng 11 năm 1947, cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp từ tỉnh đến xã đều chăm lo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ thực sự làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc. Giờ đây dân quân tự vệ không những được xây dựng ở vùng tự do, vùng du kích mà ngay cả những vùng địch kềm kẹp gắt gao những tổ du kích bí mật vẫn được thành lập và tích cực hoạt động. Lúc này các ban tự vệ tỉnh, huyện đổi tên thành Ban chỉ huy tỉnh đội và Ban chỉ huy huyện đội. Đồng chí Nguyễn Văn Long được bổ nhiệm chức Tỉnh đội trưởng Quảng Trị. Ở các huyện chức danh Trưởng ban tự vệ thành Huyện đội trưởng.

Đến tháng 10 năm 1947, lực lượng vũ trang của tỉnh cả chủ lực và địa phương đã phát triển lên 1.800 chiến sĩ, được trang bị 544 súng trường và 31 tiểu liên. Đầu năm 1948, lực lượng dân quân thường trực có 572 người và 2.500 dân quân hoạt động tại chỗ. Bộ đội, cán bộ, dân quân tự vệ phối hợp với các lực lượng cách mạng ở cơ sở, đẩy mạnh mọi hoạt động đánh địch, chống càn, củng cố chính quyền, bảo vệ thôn xã, hỗ trợ cho nhân dân bám trụ sản xuất, thu hoạch mùa màng, vận chuyển cất dấu lượng thực, thực phẩm quyết không để rơi vào tay giặc. Những tội ác đốt nhà, cướp của, bắn giết nhân dân, hãm hiếp phụ nữ, bắt lính... của quân giặc đều bị trừng trị đích đáng.

Phong trào “cướp súng giặc giết giặc” được phát động rầm rộ và rộng rãi. Nhiều cách đánh mưu trí, sáng tạo trong dân quân du kích được áp dụng điển hình là một tổ dân quân đường 9 dùng vỏ chai giả làm mìn chôn giữa đường rồi bí mật mai phục. Một chiếc xe Zeép chở 3 tên Pháp đi qua thấy hiện tượng khả nghi liền dừng lại. Tên sỹ quan và lính xuống kiểm tra. Lập tức cả tổ dân quân xông ra dùng giáo mác diệt gọn, đốt xe, thu một súng ngắn, 2 súng trường. Các tổ “Biệt động đội” và dân quân du kích ngày đêm bám trụ địa bàn, vừa phối hợp chiến đấu nhỏ lẻ quấy rối bọn địch, vừa tuyên truyền vận động, hướng dẫn giúp đỡ nhân dân phòng tránh bom đạn, tăng gia sản xuất, cất dấu của cải và tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội. Với tình nghĩa anh em ruột thịt, lúc này nhân dân Thanh-Nghệ-Tĩnh đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt để cung cấp nhân lực, vật lực cho kháng chiến. Khi việc tiếp tế tuyến đường bộ gặp nhiều khó khăn thì Khu ủy và Bộ chỉ huy khu 4 tổ chức vận chuyển bằng đường biển. Mặc dù bị phong tỏa gắt gao, các đội vận tải thuyền buồm của Thanh-Nghệ-Tĩnh vẫn cập bến Cường Gián, Thái Lai, Mạch Nước (Vĩnh Linh) và Gia Đẳng (Triệu Phong), chỉ trong 3 tháng cuối năm 1947 đã chuyển vào chiến trường Bình-Trị-Thiên trên 100 tấn gạo, 21.000 mét vải, 10.000 viên thuốc kinin, 300 súng trường, 35.000 quả lựu đạn, 200 đạn bazôka. Đồng thời ba tỉnh còn ủng hộ Bình- Trị-Thiên 3,2 triệu đồng (tiền tài chính Việt Nam). Đây là nguồn động viên cổ vũ nhiệt tình đối với nhân dân Quảng Trị nói chung và lực lượng vũ trang tỉnh nói riêng.

Các chiến sĩ của Trung đoàn Thiện Thuật bám trụ ở đồng bằng xứng đáng là vai trò nòng cốt trong việc xây dựng cơ sở xây dựng đội quân “chân đất áo nâu”. Những đội tự vệ chiến đấu trải qua thử thách bước đầu dần dần đã rút ra được những kinh nghiệm trong phòng tránh và đánh địch. Phong trào cướp súng giặc đánh giặc, bước đầu đạt kết quả tốt. Lực lượng dân quân tự vệ trong tỉnh ở hầu hết khắp các xã qua phong trào này trình độ tác chiến được nâng lên, nhất là khả năng độc lập tác chiến bảo vệ làng. Đồng thời trang bị cũng được bổ sung thêm kể cả súng trường, lựu đạn và tiểu liên.

Chấp hành quyết định của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 28 tháng 7 năm 1947, Ủy ban hành chính cấp khu, tỉnh, huyện, xã được đổi thành Ủy ban kháng chiến hành chính. Đồng chí Nguyễn Xuân Luyện được Trung ương chỉ định làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Trị, đồng chí Trần Sâm làm ủy viên quân sự. Ít lâu sau vào tháng 8 năm 1947, tỉnh thành lập Ban chỉ huy tác chiến chung do đồng chí Trần Sâm làm chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Xuân Luyện làm chính trị viền đồng chí Nguyễn Văn Long làm phó chỉ huy(2).

Sự thống nhất Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp và sự chỉ huy thống nhất của Ban tác chiến chung đã tăng cường hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy, tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến của nhân dân Quảng Trị có bước phát triển mới, ngày càng giành nhiều thắng lợi.

Để phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới, cuối năm 1947, Trung đoàn Thiện Thuật được đổi tên thành Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 13 thành Tiểu đoàn 301, Tiểu đoàn 14 thành tiểu đoàn 302 và Tiểu đoàn 15 thành tiểu đoàn 310.

Đầu năm 1948, Trung ương Đảng ra chỉ thị thành lập phân khu Bình Trị Thiên trực thuộc Khu 4. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh Ủy viên Trung ương Đảng được cử làm Bí thư Phân khu ủy. Trong hoàn cảnh kháng chiến vô cùng gay go, gian khổ, Bình-Trị-Thiên là một chiến trường xa Trung ương và Bộ chỉ huy Liên khu 4(3) nên việc thành lập Phân khu là một chủ trương đúng đắn, kịp thời và sáng suốt.

Sau khi thành lập Phân khu Bình Trị Thiên, Bộ chỉ huy Phân khu cũng được thành lập. Kể từ đây Trung đoàn 95 và các lực lượng vũ trang Quảng Trị, đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ chỉ huy Phân khu Bình Trị Thiên.


(1) Hồ Chí Minh - về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân. NXB QĐND - 1970. Tr. 174
(2) Đồng chí Trần Sâm là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thiện Thuật. Đồng chí Nguyễn Văn Long là Tỉnh đội trưởng
(3) Sắc lệnh 120/SL. ngày 25/1/1948, đổi tên Khu 4 thành Liên khu 4
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM