Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Sáu, 2020, 09:51:21 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh  (Đọc 809 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2020, 10:58:16 pm »

*
*   *

Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu vào lúc Quảng Châu là trung tâm phong trào cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc và là nơi hội tụ nhiều nhà cách mạng châu Á và nhiều nhà yêu nước Việt Nam.

Một số thanh niên Việt Nam đã vượt biên giới đến Quảng Châu thành lập Tâm tâm xã, chủ trương làm bất cứ việc gì kể cả trừng trị những tên thực dân đầu sỏ, để thức tỉnh và lôi cuốn đồng bào trong nước đứng dậy đánh đuổi thực dân Pháp.

Ngày 19 tháng 6 năm 1924, một chiến sĩ của Tâm tâm xã là Phạm Hồng Thái đã hy sinh anh dũng trong cuộc mưu sát viên toàn quyền Đông Dương Méc-lanh khi y vừa tới Sa Diện. Nguyễn Ái Quốc đánh giá cao gương hy sinh của Phạm Hồng Thái: “Việc đó tuy nhỏ, nhưng nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”(1).

Ngay khi tới Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã bắt liên lạc với Tâm tâm xã, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, giải thích về Cách mạng tháng Mười, về Quốc tế cộng sản, về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đầu năm 1925, từ những thanh niên yêu nước ấy, Nguyễn Ái Quốc lập ra nhóm hội viên bí mật gồm chín người, trong đó năm người được Nguyễn Ái Quốc kết nạp làm đảng viên dự bị của Đảng cộng sản. Một số người được phái về nước bắt liên lạc với các tổ chức cách mạng trong nước, đưa thanh niên yêu nước ra dự các lớp huấn luyện tại Quảng Châu, hoặc cử đi học tại trường Đại học phương Đông ở Mát-xcơ-va. Mầm mống đầu tiên của một tổ chức cách mạng đã hình thành. Những mối liên lạc để nắm tình hình và chỉ đạo phong trào trong nước được gây dựng.

Lúc này, Phan Bội Châu đang ở Quảng Châu. Cụ chủ trương tập hợp những người trung nghĩa để đánh giặc, phục thù mà thủ đoạn là bạo động vũ trang nhằm khôi phục nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập. Phan Bội Châu tổ chức Việt Nam quang phục hội và Việt Nam quang phục quân, thực hiện một số cuộc bạo động ở trong nước. “Tất cả những cuộc nổi dậy ấy đều đã đưa tới cái chết của mấy tên sĩ quan và binh lính Pháp, sự chiếm đoạt mấy khẩu súng và sự thất bại...”(6). Tháng 12 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến gặp Phan Bội Châu và phát biểu ý kiến về đường lối hoạt động của cụ. Phan Bội Châu đã giao cho Nguyễn Ái Quốc những đầu mối cơ sở của cụ.

Với số chiến sĩ trong nhóm Tâm tâm xã và số chiến sĩ trong tổ chức của Phan Bội Châu từ trong nước ra, tháng 6 năm 1925 Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, một đoàn thể cách mạng có xu hướng mác-xít - lê-nin-nít. Tiếp đó, cùng với một số nhà cách mạng Trung Quốc, Triều Tiên, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Miến Điện... Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông và cùng những người cộng sản Trung Quốc tổ chức Hội nghị đại biểu công nhân Trung Quốc và Hội nghị đại biểu nông dân tỉnh Quảng Đông.

Hoạt động quan trọng nhất của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội tại Quảng Châu là mở lớp huấn luyện chính trị, bồi dưỡng cán bộ nòng cốt của Hội về những kiến thức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và phương pháp tổ chức quần chúng. Nguyễn Ái Quốc là giảng viên chính và là người lãnh đạo các khóa huấn luyện. Một số cố vấn Xô - viết bên cạnh Chính phủ Quốc dân đảng Trung Hoa của bác sĩ Tôn Dật Tiên tại Quảng Châu đã được Nguyễn Ái Quốc mời đến giảng dạy tại nhiều khóa, trong đó có Ga-lin (sau này là Nguyên soái Liên Xô Bliu-khe). Từ 1925 đến 1927, Nguyễn Ái Quốc mở được 10 khóa huấn luyện, đào tạo hơn 200 cán bộ. Phần lớn những người được đào tạo đã trở về hoạt động trong công nhân, nông dân, trí thức, xây dựng cơ sở Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở trong nước. Hơn 40 người khác được Nguyễn Ái Quốc cử đi đào tạo tại trường Đại học phương Đông ở Mát-xcơ-va.

Ngay trong thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc đã chăm lo đào tạo cán bộ quân sự cho cách mạng Việt Nam. Người cử Lê Hồng Phong đi học tại Học viện Không quân Xô - viết, 17 hội viên Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội được cử đi học tại trường Đại học quân sự Hoàng Phố, trong đó có Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng... Sau khi mãn khóa, một số được cử vào hoạt động trong quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa, một số khác được cử tham gia quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc.


(1) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1975, tr. 64.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1. H. 1980, tr. 314.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 07:41:41 am »

*
*   *

Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông xuất bản tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc nhan đề “Đường cách mệnh”, gồm những bài giảng của Người ở các lớp huấn luyện chính trị của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội tại Quảng Châu.

Quán triệt luận điểm nổi tiếng của V.I. Lênin: “Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh vận động”, tác phẩm “Đường cách mệnh” tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới trong vòng 150 năm, giải đáp những vấn đề cơ bản đang đặt ra trước các lực lượng yêu nước và cách mạng Việt Nam: muốn giành thắng lợi cho sự nghiệp cứu nước và giải phóng dân tộc, nhân dân Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng nào và phải làm như thế nào?

Nguyễn Ái Quốc nhận định cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ là những cuộc “cách mệnh không đến nơi”, vì chưa giải phóng được cho công nông. Cách mạng Nga đã hoàn toàn giải phóng cho công nông thoát khỏi ách áp bức giai cấp, là cuộc cách mạng “thành công đến nơi”. “Đường cách mệnh” chỉ rõ cách mạng Việt Nam trước hết là cách mạng giải phóng dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập tự do. Cách mạng giải phóng dân tộc ấy không tách rời mà có quan hệ mật thiết với cách mạng giải phóng giai cấp đánh đuổi bọn tư bản, địa chủ, giải phỏng cho công nông. Nó phải là một cuộc “cách mệnh đến nơi”.

“Đường cách mệnh” làm sáng tỏ các vấn đề then chốt của chiến lược cách mạng Việt Nam. Đó là động lực của cách mạng: “... công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn cách mệnh của công nông”(1). Đó là tầm quan trọng của sự đoàn kết quốc tế trong đấu tranh chống kẻ thù chung. Đó là sự lãnh đạo của chính đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.

Về phương pháp cách mạng, “Đường cách mệnh” chỉ rõ: “phải biết cách làm thì làm mới chóng”(2), (cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”(3). “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”(4). “Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ năm, bảy người giết hai, ba anh vua; chín, mười anh quan mà được”(5) “Ám sát là làm liều và kết quả ít, vì giết thằng này còn thằng khác, giết sao cho hết?”(6).

“Đường cách mệnh” hướng dẫn giới thiệu kinh nghiệm đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị, từ bãi công và tổng bãi công chính trị tiến lên khởi nghĩa vũ trang trong cách mạng Nga. Tác phẩm nhấn mạnh nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang và nghệ thuật chọn thời cơ khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Mười.

“Đường cách mệnh” hướng dẫn cách tổ chức và hình thức hoạt động của các đoàn thể quần chúng: công hội, nông hội, thanh niên, phụ nữ, tổ chức cứu tế, hợp tác xã... nhằm tập hợp đông đảo quần chúng, giáo dục và huấn luyện quần chúng, đưa quần chúng ra tranh đấu từ thấp đến cao, đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị, giành quyền lợi thiết thực hàng ngày, chuẩn bị cho cao trào cách mạng.

Như vậy là, từ hai bài báo “Đông Dương” (1921) và tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) đến tác phẩm “Đường cách mệnh” (1927), tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng giải phóng dân tộc đã được khẳng định trên những vấn đề cơ bản:

1. Trong thời đại mới mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc cần đi theo con đường cách mạng vô sản. Giai cấp công nhân ở thuộc địa có sứ mạng lịch sử liên minh với giai cấp nông dân, tập họp các tầng lớp nhân dân yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.

2. Sự thống trị bằng bạo lực của chế độ thực dân tất yếu dẫn tới những cuộc bùng nổ cách mạng của các đàn tộc thuộc địa. Với sự ra đời của giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa, các cuộc đấu tranh cách mạng có nhiều hình thức mới: bãi công, đình công, biểu tình, tổng bãi công chính trị, bạo động vũ trang. Khởi nghĩa vũ trang là bước phát triển cao nhất của quá trình đấu tranh cách mạng ấy.

3. Để thực hiện cách mạng giải phóng ở thuộc địa, phải thành lập chính đảng của giai cấp công nhân, phải lấy “dân chúng (công nông) làm gốc”(7), tập hợp đông đảo quần chúng dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau, qua đó mà giáo dục, huấn luyện và đưa quần chúng ra đấu tranh từ thấp đến cao.

4. Các dân tộc thuộc địa chỉ có thể tự giải phóng bằng lực lượng của bản thân mình, đồng thời phải liên minh chặt chẽ và tranh thủ sự giúp đỡ của các lực lượng cách mạng trên thế giới.

Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trên các mặt tư tưởng, lý luận và tổ chức đã thúc đẩy việc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. “Bản án chế độ thực dân Pháp”“Đường cách mệnh” đã chuẩn bị những cơ sở tư tưởng và lý luận về đường lối và phương pháp cách mạng Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội chuẩn bị cơ sở về tổ chức. Cách mạng Việt Nam đến trước một bước ngoặt.


(1), (2), (3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.2, Nxb Sự thật. 11. 1981, tr. 187. 180, 181, 198, 200.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.2, Nxb Sự thật. 11. 1981, tr. 207.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 07:46:31 am »

*
*   *

Giữa năm 1927, tình hình Trung Quốc biến động lớn. Tập đoàn quân phiệt Tưởng Giới Thạch gây vụ phản biến Quảng Châu, đàn áp Đảng Cộng sản Trung Quốc, khủng bố các tổ chức cách mạng quốc tế tìm cách hãm hại Nguyễn Ái Quốc. Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội tại Quảng Châu phải rút vào bí mật.

Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Thượng Hải, Vla-đi-vô-xtốc, Mát-xcơ-va. Từ Mát-xcơ-va, Người sang Đức, bí mật đến Pháp, trở lại Đức qua Bỉ, Thụy Sĩ, đến I-ta-li-a, rồi từ I-ta-li-a đáp tàu biển của Nhật Bản đi tới Thái Lan vào năm 1928.

Trong thời gian ở Mát-xcơ-va, Nguyễn Ái Quốc đã viết tập sách: “Công tác quân sự của Đảng trong nông dân” cho trường quân sự của những người cộng sản Đức ở Mát-xcơ-va. Sau đó cuốn sách được xuất bản lần đầu ở Đức năm 1928. Trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra luận điểm quan trọng: “Cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở những nước nông nghiệp, nếu giai cấp vô sản không được quần chúng nông dân tích cực ủng hộ”. Từ luận điểm đó, Nguyễn đi đến kết luận là giai cấp vô sản cần phải có chính sách để đưa phong trào nông dân thoát khỏi tình trạng biệt lập, rời rạc, không có cương lĩnh chung. Sau khi trình bày những vấn đề có tính lý luận, tác phẩm bàn về công tác quân sự của Đảng trong nông dân. Theo Người, “Một phong trào cách mạng quan trọng trong nông dân nhất thiết phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang chống lại chính quyền của bọn thống trị”, “phải hình thành các đội du kích nông dân”(1).

Tại Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc ra sức củng cố và phát triển cơ sở cách mạng trong đông đảo quần chúng Việt kiều. Người mở lớp huấn luyện cho hội viên Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội tại Thái Lan. Người tổ chức Hội thân ái Việt Nam, ra báo Thân ái bằng tiếng Việt để tuyên truyền cách mạng cho Việt kiều và gửi về nước. Người tập hợp các nghĩa quân của Phan Đình Phùng và Hoàng Hoa Thám đang lẩn tránh tại Thái Lan, tổ chức để các chiến sĩ nghĩa quân cũ kể chuyện đánh Pháp. Người soạn “Bài ca Trần Hưng Đạo”, viết vở kịch “Đề Thám”, tổ chức diễn vở kịch ấy nhằm đề cao truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, khích lệ tinh thần yêu nước trong đông đảo Việt kiều.

Từ cơ sở gây dựng được tại Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc chắp nối liên lạc với Quốc tế cộng sản ở Mát-xcơ-va, với Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội tại Quảng Châu và với phong trào cách mạng trong nước.

Cuối những năm 20, ở Việt Nam phong trào yêu nước và dân chủ mang tính tự phát lên đến đỉnh cao với các làn sóng để tang Phan Châu Trinh, đòi trả tự do cho Phan Bội Châu. Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội đã gây dựng được cơ sở ở các tỉnh, số hội viên lên gần 3.000 người. Với cuộc vận động “vô sản hóa” đưa hội viên đi sâu vào quần chúng công nông tại các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội đã phát triển phong trào công nhân trong cả nước, làm cho phong trào ngày càng có tổ chức.

Cuối năm 1927, Việt Nam Quốc dân đảng thành lập. Những người lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng hết sức chú trọng tuyên truyền, tổ chức hạ sĩ quan và binh lính người Việt trong đội quân thuộc địa của thực dân Pháp, chuẩn bị bạo động. Từ Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc nhận xét Việt Nam Quốc dân đảng không có một cương lĩnh chính trị rõ rệt, không biết đến lực lượng của nhân dân lao động, công việc tuyên truyền và tổ chức chỉ hạn chế trong tầng lớp trung gian.

Đầu năm 1929, ngay giữa Hà Nội, một sinh viên Việt Nam bắn chết tên thực dân Pháp Ba-danh chuyên nghề mộ phu. Nguyễn Ái Quốc không tán thành khủng bố cá nhân. Người cho rằng: “Chính sách khủng bố là chính sách của những người thất vọng, của những người nản chí. Trái lại, trong khi làm việc để giải phóng Tổ quốc, để thay đổi một chế độ người ta phải có can đảm, luôn luôn có can đảm và hy vọng, luôn luôn hy vọng”(2). Người nhấn mạnh “chỉ có lực lượng của toàn dân mới có thể giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của bọn thống trị bạo ngược. Chứ cá nhân hành động thì dù cho những cá nhân ấy anh dũng thế nào cũng không đi đến kết quả”(3). Những nhận xét trên đây một lần nữa thể hiện quan điểm đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc về bạo lực cách mạng.

Cuối năm 1929, hai sự kiện quan trọng khiến Nguyễn Ái Quốc rời Thái Lan đến Hương Cảng, nơi cả mật thám Pháp, mật thám Anh và đặc vụ Tưởng Giới Thạch đều đang tìm bắt Người. Việc thứ nhất là Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội phân liệt thành hai nhóm, lập thành hai đảng cộng sản riêng biệt ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Trong khi đó tổ chức Tân Việt ở Trung Kỳ cũng tự lập thành một đảng cộng sản. Nhiệm vụ cấp bách trước mắt là thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất Quốc tế cộng sản trao cho Nguyễn Ái Quốc trách nhiệm thực hiện sự thống nhất ấy.

Việc thứ hai là Việt Nam Quốc dân đảng đang chuẩn bị gấp cho một cuộc bạo động. Nguyễn Ái Quốc nhận xét: “Cuộc bạo động ấy quá sớm và khó thành công”(4). “Kế hoạch rất chủ quan, người ta trông mong vào lực lượng vũ khí còn ở trong tay kẻ thù”(5). Người muốn “bàn lại kế hoạch với anh em Quốc dân đảng”(6).

Nguyễn Ái Quốc vừa tới Hương cảng thì ở trong nước cuộc bạo động của Việt Nam Quốc dân đảng đã nổ ra và lập tức bị thực dân Pháp đàn áp. Các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng chỉ huy cuộc bạo động đều bị bắt và đưa lên máy chém. Việt Nam Quốc dân đảng hoàn toàn tan rã. Vai trò của giai cấp tư sản trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam chấm dứt.

Nguyễn Ái Quốc đánh giá: “Việt Nam Quốc dân đảng thất bại nhưng anh dũng. Thực dân Pháp ăn mừng thắng lợi. Chúng tuyên bố: thế là cách mạng Việt Nam hết! Thực dân Pháp không còn lo sợ nữa. Nhưng người Việt Nam trả lời thầm: “Đợi đấy, chúng bay sẽ thấy”(7).


(1) Hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh tại Trường đại học DAXAO, Cộng hòa dân chủ Đức ăm 1990. Tư liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
(2), (3), (4), (5), (6) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1975, tr. 75, 76, 77-78.
(7) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1975, tr. 77-78.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 07:47:56 am »

*
*   *

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc triệu tập khai mạc tại bán đảo Cửu Long (Hương cảng). Đảng Cộng sản Việt Nam, bộ tham mưu cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam ra đời. Lịch sử Việt Nam bước vào thời đại cách mạng do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.

Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Chính cương vắn tắt nêu rõ mục tiêu chính trị của Đảng là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và giai cấp phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, lập ra chính phủ công nông binh, tổ chức ra quân đội công nông.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng báo cho toàn thể công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và đồng bào bị áp bức rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập. Đó là Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giải phóng đồng bào bị áp bức, bóc lột.

Phân tích âm mưu quân sự của chủ nghĩa đế quốc và chỉ rõ nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới, Nguyễn Ái Quốc viết: “Mâu thuẫn gay gắt về kinh tế giữa các nước đế quốc chủ nghĩa đã gây ra chiến tranh thế giới 1914 - 1918. Sau cuộc chém giết đẫm máu đó, thế giới chia ra làm hai mặt trận: mặt trận cách mạng gồm các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản bị bóc lột trên toàn thế giới mà đội tiên phong là nước Nga Xô - viết và mặt trận của chủ nghĩa đế quốc mà tổng hành dinh là Hội quốc liên... Cuộc chiến tranh đế quốc thứ hai đang được ráo riết chuẩn bị. Khi cuộc chiến tranh đó nổ ra thì nhất định đế quốc Pháp sẽ đẩy anh chị em chúng ta vào một cuộc chém giết đầy tội ác”(1).

Phân tích âm mưu của đế quốc Pháp ở Đông Dương, Người chỉ rõ: “Hiện nay, để tổ chức lại nền kinh tế ở Pháp, đế quốc Pháp ra sức khai thác tài nguyên “của chúng” ở Đông Dương... Càng ngày chúng càng tăng cường quân đội: một là để giết hại cách mạng Việt Nam; hai là để chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc nữa ở Thái Bình Dương nhằm chiếm thêm thuộc địa; ba là để phá cách mạng Trung Quốc; bốn là để chống lại nước Nga Xô - viết, vì nước này đang giúp đỡ các dân tộc bị áp bức và các giai cấp bị bóc lột trên thế giới đứng lên đánh đổ bọn thống trị... Sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào ta hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì chết”(2).


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.2, Nxb Sự thật, H. 1981, tr. 303 - 304.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 07:50:38 am »

*
*   *

Tháng 10 năm 1930, Hội nghị Trung ương Đảng họp ở Hương Cảng, thông qua Luận cương chính trị, ra nghị quyết về những nhiệm vụ cần kíp, bầu đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư của Đảng.

Luận cương chính trị cho rằng, cách mạng Đông Dương trong giai đoạn trước mắt là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do giai cấp vô sản lãnh đạo. Cuộc cách mạng ấy bao gồm cả cách mạng dân chủ và cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là cách mạng thổ địa đánh đổ phong kiến, làm cho người cày có ruộng và cách mạng phản đế, đánh đổ đế quốc Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Sau khi cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới thắng lợi, nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến đã hoàn thành, thì với sự giúp dỡ của giai cấp vô sản đã nắm chính quyền ở các nước tiên tiến, các nước Đông Dương sẽ tiến thắng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

Về phương pháp cách mạng, Luận cương vạch rõ Đảng phải thường xuyên đưa quần chúng ra tranh đấu giành quyền lợi thiết thực hàng ngày, qua đó mà giác ngộ cách mạng cho quần chúng. Khi có tình thế trực tiếp cách mạng thì Đảng phải ra những khẩu hiệu chuyển tiếp và nâng cao khẩu hiệu đấu tranh lên, như: lập Xô - viết, vũ trang cho công nông... Đồng thời, Đảng phải mở rộng tất cả các hình thức tranh đấu của quần chúng như: bãi công, biểu tình thị oai, tổng bãi công bạo động và Đảng phải lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa vũ trang đánh đổ chính quyền của địch, giành chính quyền về tay nhân dân.

Luận cương nhấn mạnh: “Võ trang bạo động không phải là một việc thường, chẳng những là theo tình thế trực tiếp cách mạng mà lại phải theo khuôn phép nhà binh... Trong khi không có tình thế trực tiếp cách mạng cũng cứ kịch liệt tranh đấu, nhưng kịch liệt tranh đấu ấy không phải để tổ chức những cuộc manh động hoặc là võ trang bạo động quá sớm, mà cốt để suy động(1) quảng đại quần chúng ra thị oai, biểu tình, bãi công, v.v... để dự bị họ về cuộc võ trang bạo động sau này”(2).

Luận cương xác định thái độ của Đảng và của nhân dân ta là phản đối chiến tranh đế quốc, chuẩn bị lực lượng để khi chiến tranh đế quốc nổ ra thì biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng, đánh đổ chủ nghĩa đế quốc. Đảng phải mở rộng công tác phản đối tăng cường quân bị, một mặt phát triển tổ chức cách mạng trong quân đội đế quốc, mặt khác thành lập các đội tự vệ công nông, làm cho khẩu hiệu chống chiến tranh đế quốc thành sâu rộng trong quần chúng.

Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930 cũng ra Nghị quyết về những nhiệm vụ cần kíp của Đảng, vạch rõ: “Mục đích của Đảng là lãnh đạo quần chúng võ trang bạo động”(3). Hội nghị đề ra một số nhiệm vụ trước mắt về xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng quân sự: “Điều cốt yếu trong công tác hàng ngày của Đảng là phải thâu phục được quảng đại quần chúng để làm cho cuộc bạo động tương lai được thắng lợi”(4). Phải ra sức vận động công nhân, nông dân, chỉnh đốn công hội, nông hội và “ngay từ bây giờ Đảng phải tổ chức Bộ quân sự của Đảng để: 1. Làm cho đảng viên được quân sự huấn luyện; 2. Giúp cho công nông hội tổ chức đội tự vệ; 3. Vận động trong quân đội của bọn địch nhân”(5).

Như vậy, những quan điểm tư tưởng về chính trị, quân sự của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hình thành từ những năm 20 đến lúc này đã phát triển thành những nội dung chủ yếu trong cương lĩnh chính trị của Đảng.


(1) Suy động: huy động (BT).
(2) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, trích Văn kiện Đảng, t.1, Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, H. 1979, tr. 47.
(3), (4), (5) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, trích Văn kiện Đảng, t.1, Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, H. 1979, tr. 64, 61.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 07:53:16 am »

*
*   *

Ngay khi mới thành lập, Đảng đã phát động cuộc đấu tranh cách mạng trong công nhân và nông dân, mà đỉnh cao là Xô - viết Nghệ - Tĩnh. Dưới sự lãnh đạo của đảng bộ địa phương, hàng chục vạn công nhân và nông dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh phối hợp nổi dậy với khí thế mãnh liệt chưa từng thấy. Các cuộc nổi dậy này vượt khỏi phạm vi đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị thông thường. Quần chúng biểu tình phá huyện đường, phá nhà giam, vây đồn lính, trừng trị địa chủ cường hào, làm tan rã bộ máy thống trị của thực dân phong kiến trên nhiều vùng nông thôn. Chính quyền Xô - viết, một hình thức chính quyền cách mạng của công nông, được thành lập ở nhiều thôn xã.

Trong cao trào cách mạng này, do yêu cầu bảo vệ quần chúng các đội tự vệ công nông đã ra đời. Riêng ở Nghệ An và Hà Tĩnh, đã có trên 3.000 người tham gia các đội tự vệ.

Đế quốc Pháp thi hành chính sách khủng bố trắng vô cùng tàn bạo. Do chưa có tình thế trực tiếp cách mạng, do so sánh lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, do sự đàn áp khủng bố của kẻ thù phong trào Xô - viết Nghệ. - Tĩnh đã lắng xuống và đến năm 1931 thì chấm dứt.

Trong báo cáo gửi Quốc tế cộng, sản cuối năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ca ngợi tinh thần đấu tranh của quần chúng, nhưng cũng nêu lên những sai lầm, khuyết điểm trong phong trào cách mạng của nông dân và chỉ rõ: “Đường lối chung của cách mạng nông dân hiện nay nhằm: tập hợp, tổ chức trung, bần nông và kích động họ đấu tranh giành lấy chủ quyền cho nhân dân; chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa địa phương (khởi nghĩa có nghĩa là nổi dậy giành chính quyền)”(1). Lúc này “đánh vào giai cấp thống trị đánh vào địa chủ và tư sản tức là chúng ta phải kích động nông dân đấu tranh phản đối thu thuế, phản đối chế độ phát canh, phản đối những quy tắc luật lệ của tư sản... và phải kết hợp đấu tranh kinh tế và chính trị, lợi dụng mọi cơ hội để phổ biến tư tưởng cách mạng ruộng đất và khuyến khích tổ chức một đội tự vệ của nông dân”(2). Nguyễn Ái Quốc vạch rõ: “Tổ chức tự vệ của nông dân rất quan trọng trong các cuộc đấu tranh ở thôn xã. Nông hội phải tuyên truyền giải thích trong quần chúng ý nghĩa việc thành lập một đội tự vệ để bảo vệ và kêu gọi quần chúng tham gia”(3). “Để chống lại đàn áp, cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân”(5). Người phê bình việc giải tán các đội tự vệ, coi đó là điều sai lầm. Muốn các đội tự vệ hoạt động đúng, một mặt phải chống những định kiến: “tay không làm sao mà đấu tranh được” hoặc “không nên gây ra một cuộc chiến tranh nhỏ”; mặt khác phải làm cho quần chúng hiểu “mỗi xu hướng khủng bố đều trái với cương lĩnh hành động của mình”(5).

Trên đây là những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về tổ chức và hoạt động của lực lượng tự vệ trong thời kỳ chưa có tình thế trực tiếp cách mạng.

Từ năm 1932, phong trào cách mạng Việt Nam lắng xuống. Hầu hết những cán bộ từng trải của Đảng đều đã hy sinh hoặc bị cầm tù. Tháng 6 năm 1931, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị đế quốc Anh bắt giam tại Hương Cảng và sau khi thoát khỏi nhà tù đế quốc. Người sang Liên Xô (1934). Theo dõi tình hình Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến việc giáo dục lý luận và chính trị cho các cán bộ, đảng viên trẻ tuổi đang hoạt động trong nước. Tháng 1 năm 1935, Người gửi thư cho Bộ phương Đông của Quốc tế cộng sản, đề xuất một yêu cầu “tuyệt đối cần thiết” là phải tạo điều kiện để các đồng chí trẻ ở Việt Nam và các nước thuộc địa châu Á tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất, kể cả về quân sự mà mỗi chiến sĩ cách mạng cần phải có. Người đề nghị Bộ phương Đông cho xuất bản những cuốn sách nhỏ viết về nhiều vấn đề trong đó có vấn đề khởi nghĩa vũ trang.

Năm 1936, cách mạng ở Việt Nam bắt đầu hồi phục và lớn mạnh. Phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dương dâng lên mạnh mẽ. Nếu như cao trào quần chúng và Xô viết Nghệ - Tĩnh những năm 1930 - 1931 là cuộc tổng diễn tập đầu tiên, thì cao trào Mặt trận dân chủ những năm 1936 - 1939 là cuộc tổng diễn tập thứ hai, chuẩn bị cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 sau này.


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 37-38.
(3), (4), (5) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 37-38.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 07:54:22 am »

*
*   *

Những thập kỷ đầu tiên trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đánh dấu bằng những mốc son lịch sử:

1911, ra đi tìm đường cứu nước.

1920, trở thành người cộng sản.

1930, sáng lập đội tiên phong cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam.

Thiết tha yêu nước, tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cống hiến quan trọng về tư tưởng và tổ chức, phát triển học thuyết Mác - Lênin về cách mạng thuộc địa, nêu cao tính chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đưa cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Người đã tổ chức ra liên minh các dân tộc bị áp bức và đấu tranh cho sự hình thành một mặt trận thống nhất giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản quốc tế cùng chống kẻ thù đế quốc.

Từ truyền thống quật cường của dân tộc, được tiếp thêm sức mạnh bởi lý luận về cách mạng thuộc địa trong thời đại mới, những quan điểm quân sự đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành.

Tin tưởng vững chắc ở sức mạnh của quần chúng, coi công nông là gốc cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định các dân tộc thuộc địa chỉ có thể thực hiện công cuộc giải phóng bằng nỗ lực của bản thân mình và trong sự nghiệp ấy các dân tộc thuộc địa phải liên kết chặt chẽ với giai cấp vô sản quốc tế.

Vận dụng kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga và nghiên cứu kinh nghiệm cách mạng các nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra phương pháp đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa là dùng bạo lực cách mạng của quần chúng chống lại bạo lực phản cách mạng, từ đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị tiến lên khởi nghĩa vũ trang khi có tình thế cách mạng trực tiếp, lập ra chính phủ công nông binh, xây dựng quân đội công nông.

Nắm vững bản chất xâm lược và hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc ngay từ những năm 20 của thế kỷ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy trước những hành động gây chiến tranh của các cường quốc đế quốc chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới và ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, gợi ra cho giai cấp vô sản Đông Dương và giai cấp vô sản quốc tế những nhiệm vụ chống chiến tranh đế quốc.

Những quan điểm quân sự trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cơ sở của đường lối quân sự của Đảng ta sau này.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 08:05:43 pm »

Chương II

XÂY DỰNG LÝ LUẬN KHỞI NGHĨA VŨ TRANG Ở VIỆT NAM
(1938 -1945)

Thời kỳ ổn định tương đối, cục bộ và tạm thời của chủ nghĩa tư bản sau chiến tranh thế giới thứ nhất chỉ kéo dài được có 5 năm (1924-1929).

Một cuộc khủng hoảng kinh tế dữ dội bùng ra ở các nước tư bản đế quốc châu Âu và châu Mỹ từ 1929 đến 1933 với sức tàn phá chưa từng có. Khủng hoảng kinh tế đã làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn của thế giới tư bản: mâu thuẫn giữa công nhân với tư bản, mâu thuẫn giữa nhân dân các nước thuộc địa với các nước đế quốc, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau.

Trong khi đó, Liên bang Xô - viết đã hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất công nghiệp hóa đất nước.

Giai cấp tư sản tìm đường thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế bằng cách thiết lập chế độ phát xít đàn áp nhân dân lao động, chuẩn bị gây chiến tranh thế giới mới.

Chỉ hơn mười năm sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, loài người lại đứng trước bờ vực của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Một thời kỳ chiến tranh và cách mạng mới đã đến.

Trước tình hình thế giới, trong nước diễn ra sôi động, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị trở về Tổ quốc cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân bước vào cuộc chiến đấu quyết định giành độc lập tự do.

Những quan điểm tư tưởng của Người về khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng và xây lực lượng vũ trang nhân dân hình thành trong thời kỳ này là cơ sở tư tưởng và lý luận của đường lối quân sự của cách mạng Việt Nam góp phần quyết định đưa Cách mạng tháng Tám đến thắng lợi.

I. GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC,
CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG

Ngay từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng chủ nghĩa tư bản quốc tế đang điên cuồng tích lũy; việc tranh giành thuộc địa ngày càng gay gắt, những cuộc xung đột chính trị ngày càng trở nên không thể tránh khỏi, cuộc chiến tranh thế giới thứ hai chắc chắn sẽ bùng nổ. Những dự đoán ấy đã trở thành sự thật.

Năm 1932 Nhật Bản bất ngờ đem quân chiếm đóng miền Đông Bắc Trung Quốc, một lò lửa chiến tranh xuất hiện ở châu Á và Thái Bình Dương. Năm 1933, Đảng Quốc xã lên cầm quyền ở Đức, một lò lửa chiến tranh cực kỳ nguy hiểm xuất hiện ở trung tâm châu Âu. Năm 1935, phát xít Ý đánh chiếm Ê-ti-ô-pi-a. Năm 1936, phát xít Đức - Ý cùng phát xít Tây Ban Nha đánh đổ Chính phủ Cộng hòa Tây Ban Nha. Lại thêm một lò lửa chiến tranh nữa xuất hiện ở Nam châu Âu. Năm 1937, Đức, Ý, Nhật ký hiệp ước liên minh quân sự. Phát xít Nhật, không tuyên chiến, đánh chiếm lục địa Trung Quốc. Năm 1938, phát xít Đức chiếm đóng Áo và Tiệp Khắc. Những lực lượng xâm lược chủ yếu ở châu Âu đã tập trung theo hướng tiến công vào Liên bang Xô - viết.

Loài người đến trước ngưỡng cửa của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.

Cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc đột ngột rời Liên Xô. Người tới Diên An, rồi đi cùng một đơn vị Hồng quân công nông vượt qua lục địa Trung Hoa xuống đến Hoa Nam. Trong thời gian ở đây, Nguyễn Ái Quốc lấy bí đanh là Hồ Quang, cùng với đồng chí Diệp Kiếm Anh tham gia huấn luyện “lớp đào tạo cán bộ du kích Nam Nhạc”(1) khóa II từ ngày 20 tháng 6 năm 1939 ngày 20 tháng 9 năm 1939. Vừa hoạt động trong Tập đoàn quân thứ 18 Bát Lộ quân Trung Quốc, Người vừa tìm cách bắt liên lạc với Trung ương Đảng ở trong nước.

Trong báo cáo gửi Quốc tế cộng sản tháng 7 năm 1939, Nguyễn Ái Quốc viết: “... tôi đã rơi vào một cơn lốc lớn đang làm biến đổi số mệnh của hàng trăm triệu con người”(2). Gửi thư về nước, Người viết: “Ở đây chúng tôi bận đến mức là chúng tôi muốn được như đức Phật nghìn tay - hay ít ra cũng phải như thế thì tôi mới có đủ tay để làm hết mọi việc cần làm”(3).

Trong nửa đầu năm 1939, với bút đanh P.C.Line, Người viết những bài gửi về nước đăng trên báo “Tiếng nói của chúng ta” (Notre voix), tờ báo công khai của Đảng viết bằng tiếng Pháp xuất bản tại Hà Nội. Một sổ bài mang nội dung quân sự như: “Người Nhật Bản muốn khai hóa Trung Quốc như thế nào”, “Chủ nghĩa anh hùng của công nhân Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật”, “Những khó khăn của quân đội Nhật”, “Tổng kết sau hai năm đấu tranh”... Từ thực tế kháng chiến của nhân dân Trung Quốc trong hai năm đầu chiến tranh. Nguyễn Ái Quốc khái quát một số vấn đề chiến lược và những nhân tố quyết định thắng lợi trong cuộc kháng chiến của nhân dân một nước thuộc địa và phụ thuộc chống lại cuộc xâm lược của một cường quốc tư bản đế quốc.

Về quyết tâm kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ cơ bản của cơ quan lãnh đạo kháng chiến, Nguyễn Áì Quốc vạch rõ: trước họa xâm lăng, nhiệm vụ chủ yếu của nhân dân là kiên quyết tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài, phát triển và củng cò mặt trận dân tộc chống xâm lược, khắc phục mọi khó khăn, tăng cường lực lượng kháng chiến. Sứ mạng lịch sử của cơ quan lãnh đạo kháng chiến là “đặt cơ sở vững chắc cho một nền dân chủ không thể thiếu được đối với việc động viên và tổ chức nhân dân”(4). Sự đoàn kết nhất trí giữa cơ quan lãnh đạo kháng chiến với nhân dân là điều cần thiết để thực hiện nhiệm vụ ấy. Muốn kháng chiến thắng lợi, nhân dân phải góp sức mạnh tinh thần và vật chất, tăng cường đoàn kết, tích cực đấu tranh và xây dựng đất nước. Phải đả phá chủ nghĩa thất bại và chủ nghĩa bi quan, triệt để chống lại mọi khuynh hướng thỏa hiệp, đầu hàng.

Về chiến lược kháng chiến, Nguyễn Ái Quốc viết: chiến lược “đánh mạnh thắng nhanh” cửa quân xâm lược đã bị thất bại trước chiến lược “kháng chiến lâu dài” của nhân dân. Còn chiến lược “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” thì “giống như cái tham vọng muốn khai hoang một núi lửa! Làm sao chúng có thể khai thác được một nước mà ở hậu phương đang mọc lên tua tủa những giáo mác và súng trường của du kích, còn ở tiền phương thì bị súng trường và súng liên thanh của bộ đội... chặn lại?”(5). Đến lượt nó, chiến lược này cũng bị đập tan bởi sức mạnh đoàn kết của Mặt trận dân tộc thống nhất.

Nguyễn Ái Quốc nêu bật địa vị chiến lược của chiến tranh du kích ở các vùng sau lưng địch. Người đánh giá việc quân Nhật kiểm soát một vùng rộng lớn là một tổn thất đối với nhân dân Trung Quốc, nhưng về phía phát xít Nhật thì đó cũng không phải là một thắng lợi. Người phân tích: trong số 1.038 huyện ở 12 tỉnh bị chiếm, chỉ có 65 huyện hoàn toàn bị đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội Nhật, trên 900 huyện đang là căn cứ của du kích và hoàn toàn do nhân dân Trung Quốc làm chủ, còn ở những huyện khác, quân Nhật chỉ kiểm soát từng phần hoặc chiếm đóng những tỉnh lỵ, huyện lỵ và các con đường lớn, không dám mạo hiểm đi vào các làng mạc. Nguyễn Ái Quốc khái quát du kích đánh giặc chủ yếu bằng mưu mẹo và sự bất ngờ, chưa chắc thắng thì chưa đánh. Du kích tiến công khi kẻ địch bất ngờ nhất, kẻ địch đi tìm thì chúng không thấy du kích ở đâu cả. Du kích tổ chức ở cả rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị. Du kích bao gồm cả công nhân, nông dân, đàn ông, đàn bà, thậm chí cả trẻ em. Du kích thu hút cả những người ngoại quốc có tinh thần chống phát xít.

Đánh giá những chỗ yếu của phát xít Nhật, Nguyễn Ái Quốc nhận xét: chiến tranh càng kéo dài, Nhật Bản càng gặp nhiều khó khăn. Trong nước tình hình càng tồi tệ: giá sinh hoạt và thuế má tăng nhanh, công nhân thất nghiệp, tiểu chủ phá sản, binh lính ra đi chỉ thấy chở về những bình nhỏ đựng đi hài hoặc những phiếu nhỏ ghi là “đã hy sinh ở chiến trường”. Thêm vào đó, nỗi đau khổ của cuộc trường chinh, cuộc tiến công dồn dập của du kích ảnh hưởng nặng nề khiến những kẻ tiêu cực thì mất tinh thần và những người giác ngộ thì nổi dậy. Lòng cuồng tín của quân xâm lược không còn nữa. Những vụ binh biến trong quân đội xâm lược bùng lên.

Về những nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “thiên thời, địa lợi và nhân hòa” là ba yếu tố cần thiết cho chiến thắng”(6). Người khẳng định rằng với toàn dân đánh giặc, ai có tiền góp tiền, ai có sức góp sức, mỗi người là một chiến sĩ anh dũng, với quyết tâm đánh đến cùng, cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Quốc chống quân xâm lược Nhật Bản nhất định thắng lợi.

Với những bài báo viết từ Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời tổng kết và phổ biến về nước những vấn đề chiến lược, chiến thuật quân sự rút ra từ cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Quốc chống phát xít Nhật. Những kinh nghiệm quân sự này làm giàu thêm vốn lý luận thực tiễn quân sự của Người.

Cùng với báo cáo gửi Quốc tế cộng sản, các bài báo viết từ Trung Quốc đánh dấu bước phát triển tư tưởng quân sự cửa Nguyễn Ái Quốc, khi ở Việt Nam chưa có tình thế cách mạng trực tiếp.


(1) Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb Quân giải phóng, Bắc Kinh, 1990, Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 117. 70,
(4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 73, 105.
(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 107.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 08:11:06 pm »

*
*   *

Ở trong nước, ngày 6 tháng 11 năm 1940, Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh) dưới sự chủ trì của Ban Thường vụ Trung ương Đảng gồm đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt.

Hội nghị nhận định: chính sách của đế quốc Pháp thỏa hiệp và mở đường cho phát xít Nhật vào Đông Dương đã gây cho nhân dân ta tai họa không kể xiết. Để chống lại, nhân dân ta đã dùng những hình thức cao của đấu tranh chính trị và bắt đầu đấu tranh vũ trang. Tuy những hình thức đấu tranh ấy chưa phổ biến và chưa quyết liệt, nhưng một cao trào cách mạng nhất định sẽ bùng lên. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo các dân tộc bị áp bức Đông Dương vũ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập.

Ngay trong tháng 11 năm 1940, Trung ương Đảng đã cử đồng chí Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng sang Trung Quốc xin chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tháng 12 năm 1940, tại huyện lỵ Tĩnh Tây, sau khi nghe đồng chí Hoàng Văn Thụ báo cáo tình hình trong nước, Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt Quốc tế cộng sản quyết định triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

Đầu tháng 2 năm 1941, sau 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt biên giới Việt - Trung trở về Tổ quốc.

Cùng về nước với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc có đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng, trưởng Ban cán sự của Đảng ở nước ngoài, người đã được Nguyễn Ái Quốc cử đi học tại trường Đại học quân sự Hoàng Phố và tiếp đó tại Học viện quân sự Hồng quân công nông Diên An.

Ngày 10 tháng 5 năm 1941, Hội nghị lần thứ 8 (mở rộng) của Trung ương Đảng khai mạc tại Khuổi Nậm (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng).

Tham dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, đại diện Xứ ủy Bắc Kỳ, đại diện Xứ ủy Trung Kỳ, đại diện Ban cán sự của Đảng ở nước ngoài.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo Hội nghị.

Hội nghị nhận định: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”(1). “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, của dân tộc... Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(2).

Hội nghị quyết định tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian phản động, chia lại ruộng công, rồi sau này sẽ tiến lên thực hiện đầy đủ chính sách người cày có ruộng. Hội nghị xác định cách mạng Đông Dương “kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”(3) và quyết định phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để thực hành khởi nghĩa khi thời cơ đến. Nhấn mạnh tinh thần không ỷ lại vào những điều kiện bên ngoài, dựa vào lực lượng bản thân là chính, Hội nghị chủ trương mở rộng và củng cố các tổ chức cứu quốc ở nông thôn và rừng núi, đồng thời chú trọng những đô thị, đồn điền, hầm mỏ, làm cho phong trào công nhân ngày càng mạnh và trở thành lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hội nghị ra nghị quyết thành lập những đội tự vệ cứu quốc và những tiểu tổ du kích cứu quốc làm lực lượng xung kích trong các cuộc khởi nghĩa ở địa phương và trong cuộc tổng khởi nghĩa, xây dựng vùng Bắc Sơn - Vũ Nhai và vùng Cao Bằng - Bắc Cạn thành những căn cứ trung tâm cho cuộc khởi nghĩa ở Việt Bắc.

Hội nghị tiếp nhận đề nghị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp - Nhật ở Việt Nam lây tên là Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), đồng thời phối hợp với nhân dân Lào, Campuchia thành lập Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh.

Hội nghị chỉ rõ: “... nay mai đây cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Hoa xoay ra hoàn toàn có lợi cho cuộc cách mạng Đông Dương, thì lúc đó với lực lượng sẵn có ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tống khởi nghĩa to lớn”(4). Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp - Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tổ chức quân đội cách mạng của nhân dân và vũ trang toàn dân.

Hội nghị bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư của Đảng.

Ngày 19 tháng 5 năm 1941, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng bế mạc. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ra lời kêu gọi: “Trong lúc quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng... Việc cứu quốc là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kể vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”(5).

Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong thời kỳ mới, xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, bổ sung và phát triển lý luận cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam. Hội nghị có ý nghĩa lịch sử, có tác dụng quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng đánh dấu hước phát triển mới trong tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi Người trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Những tư tưởng ấy đặt nền móng cho nền khoa học quân sự Việt Nam ở thời đại mới.


(1), (2), (3) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Trích văn kiện Đảng, t.1. Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, H. 1979, tr. 307, 321, 338.
(4) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Trích văn kiện Đảng, t.1. Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, H. 1979, tr. 340.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 148-149.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 08:12:54 pm »

II. XÂY DỰNG LÝ LUẬN VỀ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG

Để chuẩn bị khởi nghĩa Nguyễn Ái Quốc đã viết một số tài liệu về quân sự và sửa chữa, bổ sung hoàn chỉnh tác phẩm “Con đường giải phóng”(1).

“Con đường giải phóng” xác định cuộc khởi nghĩa vũ trang sắp diễn ra ở Việt Nam là một cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc do toàn dân tiến hành, lấy công nhân và nông dân làm lực lượng chủ yếu. Tác phẩm chỉ rõ: Để cho công cuộc giải phóng dân tộc giành thắng lợi, một mặt phải đánh đổ xu hướng sai lầm muốn lợi dụng Pháp đánh Nhật và xu hướng muốn lợi dụng Nhật đánh Pháp; mặt khác phải đánh đổ cả xu hướng muốn làm cách mạng ruộng đất ngay hoặc muốn làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, những xu hướng ấy lúc này chỉ làm cho lực lượng giải phóng dân tộc bị chia rẽ và suy yếu.

“Con đường giải phóng” đặt vấn đề tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp - Nhật trong phạm vi từng nước Việt Nam. Lào, Campuchia, nhằm phát huy cao độ tính tích cực chủ động, lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng của mỗi dân tộc, đồng thời gắn bó các dân tộc anh em trên bán đảo Đông Dương chống kẻ thù chung.

“Con đường giải phóng” đúc kết kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Việt Nam từ khi thực dân Pháp đến xâm lược, chỉ ra nguyên nhân chưa thành công của các cuộc khởi nghĩa trước đây. Những nguyên nhân ấy là: không có tính chất quần chúng rộng rãi, không có một chính đảng rắn rỏi lãnh đạo, khi thì không có binh lính tham gia, khi lại chỉ có binh lính nổi dậy, không lập được một quân đội cách mạng mạnh mẽ, không biết áp dụng chiến thuật du kích, giành được chính quyền địa phương không lập tức thi hành chính sách cách mạng thực tế mang lại hạnh phúc cho nhân dân. “Nói chung các cuộc khởi nghĩa ấy chưa đủ điều kiện khách quan và chủ quan, chiến lược, chiến thuật chưa đúng”. Tác phẩm chỉ rõ: Đại sự muốn thành công phải nhờ “vận nước”. “Vận nước” không phải là một điều huyền bí. “Vận nước” là lòng dân và tình thế trong nước, ngoài nước. Nay “vận nước” đang đến vì dân ta cực khổ dưới hai vòng xiềng xích ngày càng ngả về phe cách mạng, tình hình thế giới lại dần dần thuận lợi cho ta. Muốn chóng được độc lập, nhân dân phải mau mau đoàn kết làm cách mạng. Chưa thấy một dân tộc nào khoanh tay chờ chết mà hạnh phúc tự nhiên trên trời rơi xuống bao giờ.

“Con đường giải phóng” xác định: Khởi nghĩa vũ trang là nhân dân nổi dậy dùng vũ khí đánh đuổi quân cướp nước, đoạt lại chính quyền. Đó là cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự, là việc quan trọng, làm đúng thì thành công, làm sai thì thất bại. Vận dụng lý luận về khởi nghĩa vũ trang của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, tác phẩm nêu lên những điều kiện bảo đảm thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa giải, phóng dân tộc.

1. Lực lượng đế quốc thống trị lung lay bối rối không đủ sức giữ địa vị của chúng như trước nữa.

2. Có một cao trào cách mạng trong quảng đại quần chúng. Dân chúng đói khổ, căm tức tới cực điểm, quyết hy sinh nổi dậy tranh đấu với đế quốc đến cùng vì hiểu rằng ngồi yên cũng chết.

3. Có một chính đảng cách mạng lãnh đạo, chính đảng ấy lập được một đoàn thể cách mạng kiên quyết, có một chính sách đúng, có một lực lượng khá để lãnh đạo dân chúng khởi nghĩa và được dân chúng tin cậy.

Tác phẩm kết luận: Hiện giờ những điều kiện khởi nghĩa của ta chưa được đầy đủ. Nhưng Nhật ngày càng thua lớn ở khắp các mặt trận, ở Đông Dương chúng lại hầm hè với Pháp, cả hai sẽ bối rối hoang mang và khi Nhật sắp thua thì chúng sẽ hất cẳng nhau. Còn dân chúng ta thì ngày càng cảm thấy nỗi nhục nhằn dưới ách Nhật - Pháp và sẽ ngả hẳn về phe cách mạng. Chỉ cần nỗ lực tuyên truyền cho rộng chính sách cứu quốc của Mặt trận Việt Minh và ra sức tổ chức nhiều dân chúng là có ba điều kiện mau đầy đủ. Như vậy tức là gắng sức sửa soạn khởi nghĩa.

“Con đường giải phóng” chỉ rõ: Ở các nước Âu, Mỹ cuộc khởi nghĩa vũ trang hay bắt đầu từ những cuộc bãi công chính trị rồi mới tiếp đến các cuộc bạo động vũ trang. Nhưng ở Đông Dương khởi nghĩa có thể bùng ra ở một vài địa phương rồi lan dần ra khắp nước. Khởi nghĩa địa phương thường bùng ra ở những nơi nhiều rừng, nhiều núi tiện cho lối đánh du kích.

Tác phẩm đề ra những việc phải làm trước, trong và sau khởi nghĩa. Trước khi khởi nghĩa, phải thành lập những đội tuyên truyền tổ chức để kéo tất cả hội viên cách mạng và đông đảo dân chúng tham gia khởi nghĩa, phải lập những đội tự vệ làm “quân chủ lực” trong khởi nghĩa. Phải chuẩn bị một chính phủ cách mạng và những việc chính phủ ấy thực hiện ngay sau khi khởi nghĩa. Phải chia địa phương thành từng vùng để khi khởi nghĩa mọi người đều có việc của mình, phải có kế hoạch tiến công, định ra đội tiên phong, đội hậu bị, đội cứu thương. Phải điều tra những kho tàng và phương tiện giao thông liên lạc để chuẩn bị chiếm lấy hoặc phá hủy. Trong khi khởi nghĩa, “phải tiến công kiên quyết, do dự một chút là thất bại”. Muốn khởi nghĩa thắng lợi chỉ có một cách là tiến công, kiên quyết tiến công để tiêu diệt quân thù. Các hội viên cách mạng phải tuyệt đối theo mệnh lệnh, cơ quan chỉ huy phải hăng hái tranh đấu, cương quyết hy sinh đến cùng làm gương cho dân chúng. Phải hết sức đề phòng bọn trinh thám của đế quốc lẻn vào phá hoại vùng khởi nghĩa. Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, phải lập tức đem vũ khí chiếm được vũ trang cho quần chúng có tổ chức và phải cử người chắc chắn lãnh đạo họ. Đồng thời phải lập ngay chính phủ cách mạng của nhân dân. Chiếm được một vùng khá rộng thì lập chính phủ lâm thời của toàn quốc. Chính phủ lâm thời đó phải do đại biểu các đoàn thể yêu nước ở trong nước và ở nước ngoài họp lại bầu ra. Nhiệm vụ của chính phủ cách mạng là: thủ tiêu hẳn chính quyền cũ, diệt trừ các hạng phản động, ban bố quyền tự do dân chủ cho nhân dân, lập quân đội cách mạng để tiếp tục chiến đấu và giữ gìn trật tự cách mạng.


(1) Lưu trữ tại Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM