Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Tám, 2020, 05:59:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết định  (Đọc 1508 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4350



« Trả lời #110 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2020, 02:30:11 pm »

HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC CHI VIỆN SỨC NGƯỜI, SỨC CỦA CHO CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG
VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 - MỘT SỐ KINH NGHIỆM



Đại tá, TS. NGUYỄN VĂN QUANG
Nguyên Trưởng phòng Quản lý khoa học, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một quá trình nỗ lực cao độ, khắc phục nhiều khó khăn, gian khổ của các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược, của các cấp lãnh đạo, chỉ huy trên chiến trường, của quân và dân hai miền Nam - Bắc. Trong đó, sự chi viện sức người, sức của của hậu phương miền Bắc cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam có vai trò quan trọng to lớn, quyết định quy mô và mức độ thắng lợi của cuộc Tổng tiến công.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, kế hoạch tác chiến chiến lược năm 1968 được Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu nghiên cứu khởi thảo. Tiếp đó, căn cứ vào diễn biến mới của chiến trường miền Nam, hậu phương miền Bắc và tình hình thế giới, đầu tháng 1-1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 họp thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967. Theo đó, quyết tâm: "chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định". Để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, Bộ Chính trị chủ trương: "động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định".

Quán triệt sâu sắc chủ trương của Bộ Chính trị, nhằm đảm bảo cho cuộc Tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi to lớn nhất, cùng với công tác chuẩn bị kế hoạch và lực lượng ở chiến trường miền Nam, quân và dân ta cùng các bộ, ban, ngành, các cơ quan đoàn thể, các lực lượng ở miền Bắc... khẩn trương chuẩn bị kế hoạch, dồn mọi khả năng để chi viện sức người, sức của cho cuộc tổng công kích ở miền Nam.

Trên thực tế, công tác chuẩn bị chi viện nhân lực, vật lực của hậu phương miền Bắc cho cuộc tổng tiến công lớn ở miền Nam đã được chuẩn bị mọi mặt từ rất sớm và trở thành một chiến dịch trong những tháng cuối năm 1967, đầu năm 1968. Các hoạt động đó được tập trung vào các nội dung lớn sau:

Kiện toàn và tăng cường sức mạnh sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là công tác huấn luyện, tuyển quân, xây dựng các đơn vị dự bị cơ động chiến lược, đáp ứng yêu cầu bổ sung quân cho chiến trường miền Nam theo kế hoạch tác chiến.

Thực hiện nhiệm vụ này, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu đã có những chỉ đạo cụ thể và chặt chẽ nhằm đáp ứng yêu cầu tác chiến mới. Ngày 19-3-1967, Binh chủng Đặc công - một lực lượng tác chiến đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam - chính thức được thành lập. Ngay sau khi thành lập, Binh chủng Đặc công đã kịp thời huấn luyện được gần 4.000 chiến sĩ đặc công, đào tạo và bổ sung hơn 1.100 cán bộ trung đội, đại đội và tiểu đoàn, tăng cường cho miền Nam 2.500 cán bộ, chiến sĩ.
Cùng với việc thành lập Binh chủng Đặc công, Bộ Tổng Tham mưu còn chỉ đạo Quân chủng Hải quân thành lập thêm một số đoàn tàu vận tải "Không số", huấn luyện và tăng cường thêm những cán bộ, chiến sĩ gan dạ, kiên trung sẵn sàng nhận mệnh lệnh chở vũ khí, đạn dược, thuốc men theo đường biển vào chi viện cho các mặt trận ở Khu 5, Khu 9, miền Đông Nam Bộ... Quân chủng Phòng không - Không quân thành lập Tiểu đoàn máy bay vận tải IL14 (thuộc Trung đoàn Không quân vận tải 919), tổ chức huấn luyện và sẵn sàng chi viện cho Mặt trận Trị - Thiên - Huế.

Song song với các hoạt động trên, cuối tháng 7-1967, tại miền Bắc, Quân ủy Trung ương mở các lớp tập huấn quân chính toàn quân nhằm quán triệt về tình hình và nhiệm vụ cho hàng nghìn lượt cán bộ trung, cao cấp trong cả nước. Tiếp đó, tháng 8-1967, lực lượng vũ trang nhân dân mở cuộc vận động "Nâng cao chất lượng, phát huy sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Cuộc vận động này đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi trong các đơn vị, qua đó làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc hơn về tình hình nhiệm vụ, thi đua lập công trong xây dựng, huấn luyện và sẵn sàng lên đường chi viện cho miền Nam khi có lệnh. Các sư đoàn dự bị chiến lược 308, 304, 320, 312... được gấp rút kiện toàn về tổ chức, lực lượng biên chế, trang bị vũ khí, khẩn trương tổ chức huấn luyện chiến đấu, diễn tập hiệp đồng chiến đấu quân, binh chủng theo nhiều phương án tác chiến mới. Các lực lượng phòng không, phòng thủ bờ biển, lực lượng giao thông vận tải, công binh, thông tin liên lạc... được chấn chỉnh về tổ chức, tăng cường về số lượng, biên chế, trang bị các phương tiện đảm bảo kỹ thuật mới, hoàn chỉnh thế trận nhằm bảo vệ vững chắc miền Bắc, giữ vững mạch máu giao thông chi viện cho các chiến trường.

Các lực lượng phòng không nhân dân cũng được kiện toàn và tăng cường cả về quân số và trang bị. Đến cuối năm 1967, số trung đoàn, tiểu đoàn pháo cao xạ tăng từ 2,5 lần lên 4,7 lần; số trung đoàn tên lửa tăng 5 lần, các đơn vị ra đa cảnh giới tăng 2 lần, máy bay chiến đấu (Mig 17, Mig 21) tăng 2,2 lần. Các đơn vị phòng không của dân quân, tự vệ phát triển cả về số lượng và chất lượng, được trang bị thêm nhiều súng trường, súng phòng không 12,7 ly, pháo cao xạ 37 ly,... đồng thời thường xuyên được huấn luyện tổ chức diễn tập chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tham gia ứng cứu bảo đảm giao thông vận tải trên các trọng điểm huyết mạch.

Để tăng cường lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên các mặt trận, hướng tiến công và các tuyến trọng điểm trên chiến trường miền Nam và cả hậu phương miền Bắc, công tác tuyển quân, huấn luyện tân binh, động viên thanh niên, học sinh, sinh viên tham gia lực lượng vũ trang, đi thanh niên xung phong, dân quân hỏa tuyến... được tiến hành rầm rộ, trở thành một khí thế lớn trên toàn miền Bắc. Khắp các tỉnh, thành, các trường đại học, nhà máy xí nghiệp, công trường... đều dấy lên phong trào thi đua tình nguyện lên đường. Về công tác tuyển quân, huấn luyện tân binh, chỉ trong một thời gian ngắn từ tháng 3 đến tháng 9-1967, các địa phương trên toàn miền Bắc đều hoàn thành vượt chỉ tiêu, giao cho các đơn vị quân đội hàng nghìn tân binh. Số tân binh này được gấp rút tổ chức huấn luyện, biên chế thành các đơn vị mới và lần lượt đưa vào các chiến trường. Chỉ tính riêng năm 1967, toàn miền Bắc đã động viên được gần 10 vạn cán bộ, chiến sĩ, biên chế thành nhiều trung đoàn, sư đoàn bộ binh, binh chủng kỹ thuật bổ sung cho chiến trường Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên, miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Tiếp đó, trong quý 1 và quý 2 năm 1968, miền Bắc đưa thêm 5,5 vạn quân, bổ sung cho các đợt tiến công sau Tết Mậu Thân và củng cố lại vùng mới giải phóng. Được miền Bắc dồn sức chi viện, lực lượng cách mạng miền Nam có bước phát triển nhanh chóng. Đến cuối năm 1967, lực lượng Quân giải phóng lên tới 220.000 quân chủ lực và 57.000 quân địa phương, chưa kể dân quân, du kích, tự vệ, an ninh. Cùng với việc động viên, bổ sung quân cho các chiến trường, trong năm 1967 và đầu năm 1968 miền Bắc còn động viên được hàng chục nghìn nam, nữ thanh niên nông thôn miền Bắc, học sinh, sinh viên các trường đại học, trung học, công nhân tại các công trường, nhà máy tham gia lực lượng thanh niên xung phong, đi dân công hỏa tuyến, được biên chế thành các đội thanh niên xung phong, đội quân y cứu thương cứu hỏa, đội vận tải... đưa vào phục vụ chiến trường. Đây là một lực lượng hùng hậu đã góp phần cùng bộ đội và nhân dân chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 trên toàn miền Nam.

Huy động cao độ đóng góp của hậu phương miền Bắc về lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược, thuốc men, hàng hóa quân sự, phương tiện - kỹ thuật chiến tranh, tổ chức vận chuyển bảo đảm kịp thời cho các hướng chiến trường trong cuộc Tổng tiến công.

Mặc dù chiến tranh phá hoại của Mỹ ngày càng ác liệt nhưng nhân dân miền Bắc vẫn đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp, nhất là công nghiệp quốc phòng và các loại hình kinh tế khác. Trong quá trình chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, miền Bắc đã huy động được một khối lượng lớn vật chất - kỹ thuật, kịp thời chi viện cho các chiến trường. Trong vụ Hè - Thu năm 1967, nhân dân các tỉnh miền Bắc đã chi viện cho các mặt trận tại chỗ và miền Nam hơn 25 vạn tấn lương thực và hoa màu các loại, hơn 2,5 vạn tấn thực phẩm (trâu, bò, lợn, gà, cá, tôm, nước mắm), 5.600 tấn muối cùng nhiều hàng hóa dân sinh khác. Tiếp đó, trong vụ Đông - Xuân 1968, các địa phương đã đóng góp cho chiến trường hơn 30 vạn tấn lương thực, 3,2 vạn tấn thực phẩm. Ngành công nghiệp quốc phòng, mặc dù trong suốt hai năm 1966-1967, các công binh xưởng, xí nghiệp, nhà máy đều bị địch tập trung đánh phá dữ dội, phải sơ tán và sản xuất trong điều kiện rất khó khăn nhưng hầu hết đều hoàn thành chỉ tiêu sản xuất, kịp thời chế tạo, sản xuất hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men cùng nhiều hàng hóa quân sự khác, đảm bảo cung cấp đầy đủ theo yêu cầu tác chiến ngày càng lớn. Cùng với việc tự sản xuất các loại vũ khí, đạn dược thông thường, trong hai năm 1967, 1968, miền Bắc còn tổ chức tiếp nhận hàng triệu tấn vật chất, phương tiện kỹ thuật, hàng hóa quân sự đặc biệt do Liên Xô, Trung Quốc và một số nước xã hội chủ nghĩa viện trợ. Nhờ đó, việc chi viện vũ khí - kỹ thuật cho chiến trường miền Nam và các chiến trường phối hợp trong năm 1967 và đầu năm 1968 tăng 8,4 lần so với năm 1965.

Vào thời gian này, do liên tiếp bị thua đau trên các chiến trường, đế quốc Mỹ đã tăng cường đánh phá các trọng điểm giao thông ở miền Bắc, nhất là các trọng điểm ở Khu 4 và trên suốt tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn. Đế quốc Mỹ đã huy động hàng nghìn lượt máy bay hiện đại các loại, trong đó có cả máy bay ném bom chiến lược B.52 đánh phá suốt ngày đêm ở Nam Khu 4, đồng thời tăng cường đánh phá, kiểm soát gắt gao tuyến vận tải trên suốt vùng biển phía Nam.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Hội đồng Chính phủ quyết định giao nhiệm vụ bảo đảm giao thông vận tải, vận chuyển kịp thời một khối lượng lớn vật chất - kỹ thuật và binh lực cho các hướng tổng tiến công cho các bộ, ban, ngành Trung ương phối hợp với các lực lượng của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và Đoàn 559 là lực lượng nòng cốt. Ngày 26-8-1967, Liên bộ Quốc phòng - Giao thông vận tải họp với Bộ Tư lệnh Quân khu 4 quyết định mở các đợt vận tải lớn trong các tháng cuối năm 1967. Tiếp đó, ngày 31-8-1967, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị thay mặt Hội đồng Chính phủ giao nhiệm vụ và chỉ tiêu về bảo đảm giao thông vận tải cho chủ tịch ủy ban hành chính các tỉnh thuộc Quân khu 4 và coi đó là pháp lệnh thời chiến.

Triển khai Chỉ thị trên, Bộ Giao thông vận tải đã chuyển 12.600 công nhân của các công trường và đội công trình vào phối hợp với bộ đội công binh Quân khu 4 và các lực lượng thanh niên xung phong đóng trên địa bàn, tiến hành sửa chữa, nâng cấp các tuyến đường 7, 12, 21, 48 và mở mới các tuyến đường vòng tránh. Tất cả các đội bảo đảm giao thông ở các tỉnh, huyện trên địa bàn Quân khu 4 đều được tăng cường thêm lực lượng và phương tiện. Bộ đội địa phương các tỉnh được chuyển hẳn thành lực lượng giao thông - công binh, có các nhiệm vụ chính: bảo đảm đường, tổ chức đánh địch, tổ chức ứng cứu, rà phá bom mìn, bảo vệ chân hàng. Các tổng đội Thanh niên xung phong của Trung ương và các tỉnh vừa làm nhiệm vụ sửa đường, đánh dấu, rà phá bom từ trường nổ chậm, vừa tổ chức cảnh giới dẫn đường cho xe qua các trọng điểm, các tọa độ lửa. Trong các chiến dịch ra quân bảo đảm giao thông vận tải năm 1967-1968, nhân dân các tỉnh trên địa bàn đã đóng góp hàng triệu ngày công, chuyên chở hàng triệu tấn đất đá san lấp hố bom, sửa đường, tham gia vận chuyển hàng chục ngàn tấn hàng hóa vào tập kết ở chiến trường.

Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ làm nòng cốt bảo đảm giao thông vận tải phục vụ cuộc tổng tiến công, phối hợp chặt chẽ với các chiến trường miền Nam, với nước bạn Lào và hậu phương miền Bắc. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Đoàn 559 đã chủ động, sáng tạo sử dụng mọi phương tiện, biện pháp đẩy mạnh vận chuyển vật chất - kỹ thuật, binh lực chi viện kịp thời, đầy đủ cho các chiến trường. Trước khi bước vào các chiến dịch vận chuyển của Bộ chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công, lực lượng Đoàn 559 đã mở mới và củng cố tuyến vận tải cơ giới gần 1.000 km đường trục chính, 445 km đường trục phụ, 822 km đường trục ngang tỏa ra các chiến trường, 560 km đường vòng tránh, đường dự bị, 450 km đường vào các kho hàng, hình thành thế trận giao thông liên hoàn, vững chắc .

Với quyết tâm cao độ của cán bộ, chiến sĩ trong mùa khô 1967-1968, Đoàn 559 đã hoàn thành đúng thời hạn và vượt khối lượng vận chuyển được giao (65.000 tấn/ 61.000 tấn). Trong đó, giao cho các Mặt trận Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên và miền Đông Nam bộ 20.700 tấn, chiến trường Lào 6.500 tấn; bảo đảm cho bộ đội hành quân 5.800 tấn, cho nội bộ Đoàn là 29.000 tấn. Đến tháng 11-1967, tuyến hậu cần tiền phương phía Nam chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công đã có lượng hàng dự trữ ở các kho Đường 12 lên tới 10.500 tấn hàng hóa quân sự, 15.000 tấn vũ khí, đạn dược, phương tiện kỹ thuật, và Đường 20 là 4.000 tấn hàng hóa quân sự, 5.000 tấn vũ khí - kỹ thuật.

Như vậy, việc động viên sức mạnh của hậu phương miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam đã góp phần quyết định cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân cả nước; đồng thời tạo ra thế và lực mới để quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 giành thắng lợi vang dội, đưa cục diện cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sang một bước ngoặt mới có lợi cho ta. Đã tròn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng những bài học kinh nghiệm về huy động sức người, sức của của hậu phương miền Bắc chi viện cho các chiến trường miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vẫn còn nguyên giá trị. Qua thực tiễn hoạt động, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

Một là, nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của hậu phương chiến lược trong chiến tranh cách mạng, trên cơ sở đó đề ra được các chủ trương và giải pháp đúng đắn nhằm huy động cao nhất sức người, sức của chi viện cho chiến trường.

Trong lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng ta đã sớm xác định kẻ thù chủ yếu, trực tiếp của nhân dân ta, của cách mạng cả nước là đế quốc Mỹ và các thế lực tay sai, từ đó lường định con đường đấu tranh hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước sẽ diễn ra lâu dài, rất gian khổ và ác liệt. Trong cuộc đấu tranh đó, vai trò, vị trí của hậu phương miền Bắc được hoạch định rõ ngay từ đầu. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (khóa II) năm 1955 đã nhận định: Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình hình nào, miền Bắc cũng phải được củng cố về mọi mặt. Tiếp đó, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960), Đảng ta tiếp tục đề ra chủ trương phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, gắn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ sự nghiệp cách mạng cả nước; cách mạng miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Xác định như vậy, tức là Đảng khẳng định phải động viên sức mạnh của toàn dân tộc, của cả hai miền Nam - Bắc; đồng thời nhấn mạnh vai trò chi viện sức người, sức của của hậu phương miền Bắc là vô cùng to lớn, có tính quyết định thành bại tại chiến trường.

Như vậy, ngay từ đầu vai trò, vị trí của hậu phương miền Bắc đã được Đảng xác định rất rõ. Để làm tròn vai trò đó, miền Bắc phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng miền Bắc phát triển vững mạnh toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, khoa học - kỹ thuật. Chỉ có như thế, miền Bắc mới trở thành hậu phương - căn cứ địa cách mạng vững chắc của cả nước; mới đảm đương được vai trò "nền gốc" cho lực lượng đấu tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam.

Nhờ sớm xác định rõ vấn đề này, trong suốt 10 năm xây dựng hòa bình, cũng như trong suốt thời gian chống lại hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, hậu phương miền Bắc luôn đứng vững và vươn lên chi viện mạnh mẽ, liên tục, ngày càng cao về sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, nhất là trong cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân Mậu Thân 1968, cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 và trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Hai là, công tác chi viện, bảo đảm chuẩn bị mọi mặt về lực lượng, vật chất - kỹ thuật phải kịp thời, đầy đủ và đi trước một bước, bám sát yêu cầu tác chiến của chiến trường.

Song song với chuẩn bị kế hoạch tác chiến, công tác chi viện, bảo đảm chuẩn bị về binh lực, vật chất - kỹ thuật cho các chiến dịch, các cuộc tổng tiến công có vai trò rất to lớn, ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô và mức độ thắng lợi. Vì vậy, để bảo đảm giành thắng lợi cao nhất, giòn giã nhất, đạt được các mục tiêu chiến lược đề ra, công tác chi viện, chuẩn bị về binh lực, vật chất - kỹ thuật phải đi trước một bước, phải kịp thời, đầy đủ, liên tục và ngày càng cao, bám sát yêu cầu tác chiến của các chiến trường. Thực tế trong cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968, công tác chi viện, huy động sức người, sức của được xúc tiến mạnh mẽ ngay từ đầu năm 1967 và liên tục trong suốt quá trình chuẩn bị kế hoạch cũng như thực hành tiến công. Sự chi viện đó không những rất to lớn, đầy đủ mà còn rất kịp thời, bám sát yêu cầu tác chiến cụ thể của từng hướng tiến công, từng đợt tác chiến, góp phần to lớn vào thắng lợi chung.

Ba là, trong công tác chi viện sức người, sức của của hậu phương chiến lược phải được chỉ đạo chặt chẽ, tổ chức thực hiện kiên quyết, huy động được nhiều lực lượng và toàn dân tham gia, nhất là trong các giai đoạn phát triển cao điểm của chiến tranh.

Thực tế cho thấy, huy động sức người, sức của cho chiến trường là một nhiệm vụ to lớn, khó khăn và đầy cam go, thử thách. Bởi lẽ, kẻ thù luôn tìm mọi cách để phá hoại và ngăn chặn công cuộc chi viện của hậu phương chiến lược miền Bắc, chúng không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn và phương tiện ngăn chặn nào, với một mức độ và quy mô phá hoại rất thâm độc, ác liệt. Vì vậy, để công cuộc huy động sức người, sức của và chi viện thắng lợi, nhiệm vụ này phải được coi là mặt trận hàng đầu, được các cấp ủy và chính quyền chỉ đạo chặt chẽ, tổ chức thực hiện kiên quyết, với nhiều biện pháp sáng tạo; đồng thời phải được nhiều lực lượng các bộ, ban, ngành đoàn thể tham gia, được toàn dân nhiệt tình đóng góp và ủng hộ.

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, những bài học trên đây cần tiếp tục được nghiên cứu và vận dụng đầy đủ, phù hợp với điều kiện kinh tế đất nước và yêu cầu của chiến tranh hiện đại nếu xảy ra.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4350



« Trả lời #111 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2020, 02:39:53 pm »

ĐÁNH BẠI Ý CHÍ XÂM LƯỢC CỦA ĐỐI PHƯƠNG - KẾ TỤC TRUYỀN THỐNG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC,
TƯ TƯỞNG XUYÊN SUỐT 30 NĂM CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG



Đại tá, ThS. LÊ THANH BÀI
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Xuân Mậu Thân 1968, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã thực hiện đòn tiến công chiến lược, đồng loạt đánh vào cơ quan chỉ huy, căn cứ quân sự của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong các đô thị khắp miền Nam. Đòn tiến công táo bạo đã làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của Mỹ trên chiến trường miền Nam, đẩy chiến lược "chiến tranh cục bộ" mà Mỹ đã thực thi từ giữa năm 1965 đi đến chỗ phá sản. Nhưng hơn hết, đã làm cho ý chí xâm lược của Mỹ bị lung lay. Đây chính là sự kế tục truyền thống đánh giặc giữ nước, thể hiện tư tưởng chỉ đạo chiến tranh cách mạng của Đảng.

Trong suốt chiều dài lịch sử, nhân dân Việt Nam phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Đó là những lần tổ tiên ta phải đối đầu với thế lực ngoại xâm cường bạo, hơn hẳn về tiềm lực kinh tế - quốc phòng, dân số và quân số, vượt trội về sức mạnh quân sự. Do vậy, chưa khi nào ông cha ta đặt vấn đề thắng áp đảo quân thù bằng sức mạnh quân sự thuần túy, mà theo phương châm "đánh đuổi kẻ thù", giữ độc lập, tự do. Để đạt được mục đích đó, các vương triều đã phát huy vai trò của chiến tranh nhân dân, huy động sức mạnh toàn dân với tư tưởng tiến công, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch trên chiến trường tiến tới đánh bại ý chí xâm lược, buộc đối phương phải từ bỏ mưu đồ thôn tính nước ta.

 Cuối năm 1076, nhà Tống phát binh xâm lược Đại Việt. Dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt, quân dân ta đã lập phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu), chặn địch tiến quân vào Thăng Long. Bất lợi về tương quan lực lượng, Lý Thường Kiệt đã không chủ trương tiến công bao vây, tiêu diệt toàn bộ quân địch mà quyết định mở cuộc tập kích lớn vào đại bản doanh quân Tống "chỉ trong vòng một đêm, cả khu doanh trại tập trung đến ba, bốn vạn quân Tống... bị đánh tan,"; thắng lợi này đã đè bẹp ý chí xâm lược, buộc nhà Tống phải chấp nhận "giảng hòa" rút quân về nước.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ ba (1288), trên cơ sở đánh giá đúng âm mưu và sức mạnh của địch cũng như tinh thần và khả năng chiến đấu của quân, dân Đại Việt, Trần Quốc Tuấn đã chọn Bạch Đằng để tiến hành trận quyết chiến chiến lược. Chiến thắng Bạch Đằng ngày 9-4-1288 đã tiêu diệt một lực lượng lớn thủy binh gồm 500 - 600 chiến thuyền; "đánh thắng hoàn toàn ý chí xâm lược của quân Nguyên - Mông". Từ sau thất bại này, cộng với những khó khăn trong nước, nhà Nguyên phải bỏ hẳn ý định thôn tính nước ta.

Trong cuộc kháng chiến lâu dài chống quân Minh, sau khi giành được thắng lợi quan trọng ở Nghệ An, Thanh Hóa, tạo thế vững chắc cho phát triển lực lượng, Lê Lợi đã lập thế trận, giành thắng lợi quan trọng ở Chúc Động - Tốt Động (11-1426), đánh bại cuộc phản công của gồm 10 vạn quân do Vương Thông chỉ huy, đánh sập ý đồ xoay chuyển cục diện, giành lại thế chủ động chiến lược trên chiến trường của quân xâm lược. Tiếp theo chiến thắng Chúc Động - Tốt Động, thắng lợi Chi Lăng - Xương Giang cuối năm 1427 đã khiến cho ý chí xâm lược của nhà Minh bị lung lay, phải từ bỏ mưu đồ xâm lược nước ta.

Năm 1789, trên đường hành quân ra Bắc đánh đuổi quân Thanh xâm lược, vua Quang Trung kêu gọi quân sĩ "đánh một trận giành toàn thắng, làm cho bọn xâm lược từ nay về sau không còn nuôi ý chí điên cuồng muốn chiếm lấy đất nước ta". Thực hiện ý định, quân và dân ta đã làm nên thắng lợi trong trận quyết chiến chiến lược Ngọc Hồi - Đống Đa, quét sạch 29 vạn quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Mùa Thu 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam nhất tề đứng dậy, làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Nhưng với bản chất thực dân cố hữu, được sự trợ giúp của các thế lực đế quốc, thực dân Pháp đã trở lại xâm chiếm Đông Dương. Sự nghiệp cách mạng của Việt Nam đứng trước thử thách khắc nghiệt: hoặc đấu tranh giữ vững nền độc lập mới giành được, hoặc trở lại kiếp nô lệ. Trước tình hình đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn dân kháng chiến, với quyết tâm "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".

Kế tục truyền thống đấu tranh giữ nước của dân tộc, bước vào cuộc kháng Pháp xâm lược, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: "Kháng chiến của ta là chiến tranh tự vệ của một dân tộc sống về nông nghiệp, chống bọn đế quốc xâm lược có kỹ nghệ hiện đại", "Lực lượng ta và địch so le nhiều". Do vậy, Đảng đặt mục tiêu: "đè bẹp ý chí xâm lược của chúng, lấy lại toàn bộ đất nước" . Để hoàn thành nhiệm vụ kháng chiến, Đảng đã phát huy vai trò chiến tranh nhân dân, "Huy động toàn dân nổi dậy đánh du kích khắp nơi, làm cho lực lượng địch bị phân tán, mệt mỏi, khiến cho quân chủ lực ta bất thần đánh tiêu diệt địch từng bộ phận", tiến tới tiến hành "trận cuối cùng" gây "khủng khiếp cho giặc" để đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp.

Quán triệt tinh thần đó, quân và dân Việt Nam "vừa kháng chiến, vừa kiến quốc", vừa đánh vừa bồi bổ thực lực, thế và lực kháng chiến ngày càng được củng cố, thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển sâu rộng, tạo điều kiện căng kéo, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Đó cũng là quá trình phát huy tinh thần tích cực tiến công, từng bước tiến lên vận động chiến, giành thắng lợi trong từng chiến dịch, làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn chiến tranh của thực dân Pháp, tiến tới trận quyết chiến, chiến lược Điện Biên Phủ.

Việc Nava và Bộ Chỉ huy Pháp xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh, nhằm tiến hành trận quyết đấu để tiêu diệt bộ đội chủ lực ta đã lộ rõ ý đồ hòng kết thúc chiến tranh trong thế thắng. Mưu đồ của địch là thách thức lớn trên con đường đi đến thắng lợi của cuộc kháng chiến, buộc chúng ta phải "chiến đấu trên một địa hình thuận lợi cho sự phối hợp các loại vũ khí của đối phương", "hạn chế khả năng giành thắng lợi của bộ đội chủ lực", "và khai thác chỗ yếu của ta là không thể duy trì số đông bộ đội tại rừng núi dài ngày, vì thiếu lương thực và khả năng vận chuyển có hạn". Tuy vậy, trên cơ sở phân tích, đánh giá so sánh lực lượng, khả năng tác chiến của bộ đội, thế và lực của kháng chiến, ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, coi đây là trận quyết chiến chiến lược, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, làm thất bại hình thức phòng ngự cao nhất của chúng, đánh bại mưu đồ của Pháp được Mỹ tiếp sức. Vượt qua mọi khó khăn trở ngại, hạn chế về lực lượng, vũ khí trang bị, trình độ tác chiến đánh tập đoàn cứ điểm, về tiếp tế vận tải, hậu cần, về địa hình, thời tiết,... Sau 56 ngày đêm anh dũng chiến đấu, quân và dân Việt Nam đã giành được thắng lợi trong trận quyết chiến chiến lược này. Tuy số quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu ở Điện Biên Phủ chưa bằng 4% tổng binh lực trên toàn Đông Dương ở thời điểm đó 1, nhưng thất bại lại là cú sốc lớn, gây choáng váng cho chính giới Pháp, làm sụp đổ ý định giành thắng lợi quyết định của giới quân sự thực dân, buộc họ phải ngồi vào bàn đàm phán kết thúc chiến tranh với tư thế của kẻ bại trận. Thắng lợi này là sự kế thừa và phát triển truyền thống "đánh bại ý chí xâm lược của đối phương", là sự hiện thực đường lối kháng chiến của Đảng và đã mở đường cho dân tộc ta bước vào giai đoạn cách mạng mới: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam.

Lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong tương quan lực lượng hết sức chênh lệch, nghiêng hẳn về phía đối phương; Đảng đã không đặt vấn đề thắng Mỹ trên thế áp đảo bằng sức mạnh quân sự thuần túy, mà chủ trương tiến hành kháng chiến lâu dài, từng bước đánh tiêu hao, tiêu diệt quân địch, làm cho thế và lực của kháng chiến của ta ngày càng mạnh, lực lượng địch ngày một suy yếu, cũng như xác định mở mặt trận ngoại giao, tiến hành thương lượng đàm phán khi giành được thắng lợi quân sự quyết định trên chiến trường. Bởi vậy, trong suốt quá trình kháng chiến, Đảng luôn chú trọng đẩy mạnh tiến công quân sự, tiến tới đập tan ý chí xâm lược của địch, "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".

Trong năm đầu tiên trực tiếp đối đầu với quân Mỹ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ: "Nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh thì mới khoét sâu được nhược điểm về chính trị và quân sự của đế quốc Mỹ, tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực của quân đội Mỹ, tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, đè bẹp ý chí xâm lược của Mỹ và giành được thắng lợi cuối cùng". Thực hiện chủ trương của Đảng, sau hai năm chiến đấu với quân viễn chinh Mỹ và đồng minh, cùng lực lượng quân đội Sài Gòn ngày càng đông đảo, quân và dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn về mặt quân sự. Trên chiến trường miền Nam, ta đã đập tan hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965-1966 và 1966-1967); đánh bại một bước cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc. "Quân, dân ta đã đánh thắng địch từng bước và nắm quyền chủ động chiến lược. So sánh lực lượng trên chiến trường, ta mạnh lên và tạo được thế mới, lực mới; địch đang suy yếu, từ chiến lược phản công và tiến công giữa năm 1965, buộc phải lùi dần vào phòng ngự chiến lược bị động cuối năm 1967 trên toàn chiến trường", mở ra thời cơ thuận lợi lớn cho cách mạng miền Nam. Tuy vậy, tương quan lực lượng trên chiến trường vẫn nghiêng lệch về phía địch, ở miền Nam vẫn còn hiện diện gần 1,2 triệu quân chủ lực Mỹ, quân đồng minh của Mỹ và quân đội Sài Gòn với trang bị rất hiện đại. Trong khi đó, quân số của ta chỉ có 27 vạn bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương Quân giải phóng 2. Phân tích tình hình, Bộ Chính trị nhận định "Mỹ còn rất ngoan cố... đang cố gắng tăng cường lực lượng để giữ tình hình không xấu đi". Tình thế đó đòi hỏi cách mạng miền Nam phải tận dụng thời cơ, giáng một đòn quân sự thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, tạo ra một bước ngoặt căn bản để buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán. Trên cơ sở nắm chắc tình hình, so sánh tương quan lực lượng, tháng 10-1967, Bộ Chính trị đi đến quyết định: "Bất ngờ và đồng loạt đánh mạnh vào các đô thị trên toàn miền Nam". Đây là bước hiện thực hóa dự báo về bước phát triển cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của Tổng Bí thư Trường Chinh: "Quân ta tập trung mau lẹ, tích cực xung phong, tiến công chớp nhoáng và có kế hoạch vào những thành phố và cứ điểm của địch, bao vây, tiêu diệt chúng. Tóm lại, ta tung toàn bộ lực lượng toàn quốc, toàn dân đè bẹp quân địch"; tạo nên cách đánh mới nhằm "Làm thay đổi tình hình, thay đổi cục diện, chuyển biến chiến lược".

Tháng 1-1968, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III quyết định: "Tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định,.... đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc, ... tiến tới thống nhất nước nhà".

Đúng đêm giao thừa và đêm mùng 1 Tết Mậu Thân 1968 (ngày 30 và ngày 31-1-1968), trên toàn chiến trường miền Nam, quân và dân ta đã mở cuộc tiến công và nổi dậy, đánh vào 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn; đánh vào hầu hết các cơ quan đầu não trung ương, địa phương của cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn, bao gồm cả 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 bộ tư lệnh sư đoàn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến, 30 sân bay, nhiều tổng kho lớn. Trong đó có những trận gây chấn động lớn như đánh Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn và làm chủ thành phố Huế 25 ngày đêm. Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, quân và dân ta đã diệt và làm ta rã 15 vạn tên địch, có 4 vạn quân Mỹ, phá hủy khoảng 1/3 vật tư chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn, phá 600 ấp chiến lược, giải phóng thêm 100 xã với hơn 1 triệu dân. Thắng lợi oanh liệt của Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" - chiến lược chiến tranh quan trọng nhất, được Mỹ công phu chuẩn bị; buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh.

Từ chỗ mưu toan dùng sức mạnh quân sự để giải quyết chiến tranh, Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố: ngừng ném bom đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; chấp nhận đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Pari và không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ thứ hai. "Rõ ràng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 của ta đã làm cho ý chí xâm lược của bọn cầm quyền Mỹ lung lay một bước nghiêm trọng"5. Thắng lợi đó là kết quả của chủ trương cực kỳ táo bạo và sáng suốt của Đảng, quyết tâm cao độ của quân và dân ta, tạo nên bước ngoặt quan trọng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ba mươi năm tiến hành chiến tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Đảng đã nêu cao tinh thần tiến công cách mạng, lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Đó là quá trình vừa đánh vừa xây dựng thực lực, làm thay đổi tương quan lực lượng, từng bước đánh bại âm mưu, kế hoạch quân sự của quân xâm lược; giành thắng lợi từng bước, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ để thực hiện đòn đánh quyết định, đánh bại ý chí xâm lược của đối phương, tạo nên bước chuyển biến quan trọng để đi đến kết thúc kháng chiến thắng lợi. Đó là sự kế tục truyền thống đánh giặc giữ nước của tổ tiên đã được Đảng ta nâng tầm trong thời đại Hồ Chí Minh, được thể hiện rõ ở Chiến dịch Điện Biên Phủ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Đây cũng chính là thành công quan trọng trong điều hành chiến tranh của Đảng.




---------------------------------------------------------------
1. 16.200 binh lính Pháp bị bắt và tiêu diệt ở Điện Biên Phủ so với 445.000 quân số của Pháp và ngụy trên toàn Đông Dương.

2. Vào thời điểm cuối năm 1967, Mỹ tập trung ở chiến trường Việt Nam (cả trên bộ và trên biển, 40% sư đoàn chiến đấu lục quân, 50% sư đoàn lính thủy đánh bộ, 50% số máy bay chiến đấu, 30% tàu chiến.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4350



« Trả lời #112 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2020, 03:24:16 pm »

THẮNG LỢI CHIẾN LƯỢC CỦA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 -
MẠCH NGUỒN BỒI ĐẮP, GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC, TÌNH CẢM CÁCH MẠNG



THÂN THỊ THƯ
Ủy viên Ban Thường vụ,
Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh



Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam như dòng chảy cuồn cuộn của bao lớp sóng; sóng sau xô sóng trước, tạo nên sức mạnh phi thường, xua tan mọi trở ngại. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo là vô cùng vĩ đại, bằng cả một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ của đồng bào và chiến sĩ trên cả hai miền Nam - Bắc; là hiện thực sinh động của các cơn sóng cách mạng không bao giờ ngừng nghỉ cho khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Trong đó, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 đã góp phần to lớn, tạo nên thắng lợi toàn diện, thể hiện tinh thần cách mạng tiến công của quân dân ta, đánh dấu bước ngoặt quan trọng có ý nghĩa chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thực tiễn cách mạng đã chứng minh, nếu không có Mậu Thân 1968 - thì sẽ không có đàm phán đi đến ký Hiệp định Pari tháng 1-1973 và tiến tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tiếp tục là mạch nguồn bồi đắp, giáo dục truyền thống yêu nước, tình cảm cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

1. Mạch nguồn đó là giá trị lịch sử, là kết tinh của truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh dựng nước và giữ nước; là khát vọng hòa bình, độc lập, tự do và niềm tin son sắt vào thắng lợi cuối cùng.

Ở Việt Nam, điều đã trở thành bình thường nhưng là chân lý: khi có bất kỳ hành động xâm phạm đất nước, thì sẽ có phong trào cứu nước rộng khắp của mọi tầng lớp nhân dân, như lẽ tự nhiên "Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh!". Tiếp nối hành trình của dân tộc chiến đấu không mệt mỏi cho độc lập, tự do dưới ánh sáng thời đại của đường lối "độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội", được mở ra từ mùa Xuân năm 1930, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, qua bước ngoặt lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" tháng 5-1954, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tiếp tục trở thành một biểu tượng sáng ngời về ý chí và sức mạnh quật cường của quân và dân Việt Nam, là hành động cách mạng thực tiễn đáp lại Lời kêu gọi thiêng liêng "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh hun đúc và nâng cao thêm ý chí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta.

Ý chí, quyết tâm đó được Trung ương Đảng xác định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III: "Anh dũng tiến lên, thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước"; biến thành sức mạnh vĩ đại của lòng yêu nước, được tổ chức, tập hợp bằng phương pháp và động lực to lớn: "Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định".

Ý chí của Đảng, cũng là ý chí quyết tâm của toàn quân, toàn dân "giành thắng lợi quyết định" để không còn cảnh chia cắt hai miền Nam - Bắc, thống nhất nước nhà; để hiện thực hóa khát vọng hòa bình mà Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định "Nhân dân ta rất yêu chuộng hòa bình. Nhưng phải có độc lập, tự do thì mới có hòa bình thật sự. Đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, phải rút hết quân đội của chúng về nước, để nhân dân ta tự quyết định vận mệnh của mình thì sẽ có hòa bình lập tức"; cũng là hiện thực hóa niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng và mong muốn như trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 8-5-1968: "Hai miền Nam - Bắc đoàn kết một lòng, thi đua giết giặc, cứu nước, thì nhất định giặc Mỹ sẽ hoàn toàn thất bại. Đồng bào miền Nam nhất định sẽ được giải phóng. Tổ quốc Việt Nam nhất định sẽ hoàn toàn độc lập, tự do, nhất định sẽ hòa bình thống nhất! Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!".

Và thực tế, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã thực hiện được "bước phát triển" mang tầm chiến lược của cuộc kháng chiến. Trong một thời gian ngắn, chúng ta đã đưa cuộc chiến đấu quy mô lớn vào tận sào huyệt cuối cùng của địch, làm chuyển biến nhanh chóng và mạnh mẽ cục diện chiến tranh, nâng cao uy thế của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở trong và ngoài nước. Đặc biệt, cuộc Tổng tiến công này đã giáng một đòn quyết định làm phá sản cơ bản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, buộc chúng phải "phi Mỹ hóa" chiến tranh, ngừng chiến tranh phá hoại miền Bắc (từ vĩ tuyến 20 trở ra), chấp nhận đàm phán trực tiếp với ta tại Hội nghị Pari, tạo bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; từ đó, tiến tới ký kết Hiệp định Pari, tạo điều kiện hết sức thuận lợi để "đánh cho Mỹ cút", đưa cuộc kháng chiến chuyển sang mục tiêu "đánh cho ngụy nhào", giành thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân 1975 lịch sử.

Tại Sài Gòn - Gia Định, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 càng tô thắm truyền thống của Đảng bộ và nhân dân thành phố trung kiên, bất khuất, đoàn kết, sáng tạo, bản lĩnh vững vàng trước đầu sóng ngọn gió trong suốt hành trình cách mạng của đất nước và dân tộc.

Sài Gòn - Gia Ðịnh là trọng điểm lớn nhất và ác liệt nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vì nơi đây là trung tâm đầu não chỉ huy toàn bộ bộ máy chiến tranh, có hệ thống phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp vững chắc, tập trung lực lượng tinh nhuệ nhất của địch. Do đó, để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Trung ương Cục đã thành lập Khu trọng điểm bao gồm Khu Sài Gòn - Gia Định và một phần các tỉnh tiếp giáp với Sài Gòn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Khu trọng điểm, các lực lượng của Sài Gòn - Gia Định đã chấp hành và tổ chức triển khai các nhiệm vụ của Trung ương Cục giao cho với tinh thần quyết tâm cao nhất: đánh chiếm các mục tiêu đầu não của Mỹ - chính quyền Sài Gòn, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch; phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch; phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, giành quyền làm chủ ở các quận, huyện; tranh thủ mọi khả năng cùng với lực lượng toàn Miền tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân đội Sài Gòn, đánh đổ chính quyền Sài Gòn ở các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân; tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của quân Mỹ và chư hầu; buộc Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam; thành lập Mặt trận thứ hai 1 và tổ chức chính quyền cách mạng các cấp trong thành phố và khu trọng điểm.

Ðêm 30 rạng ngày 31-1-1968, cuộc tiến công táo bạo, bất ngờ với đòn giáng phủ đầu của lực lượng Biệt động thành vào những mục tiêu hiểm yếu, đầu não của bộ máy chiến tranh như Dinh Ðộc Lập, Tòa Ðại sứ Mỹ, Ðài Phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân... đã làm rúng động nước Mỹ, khiến nhân dân Mỹ bàng hoàng, khiến khuynh hướng muốn chấm dứt chiến tranh trở thành áp đảo. Cùng với đó, lực lượng vũ trang của các đoàn thể, các cơ sở cách mạng ở thành phố đã phối hợp với bộ đội chủ lực, với biệt động Thành tấn công địch bằng nhiều hình thức linh hoạt, đã tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực địch.

"Cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở Sài Gòn - Thủ đô đầu não của chế độ ngụy quyền, đã tạo nên sự phân hóa chia rẽ cao độ trong hàng ngũ kẻ thù; thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước và tinh thần cách mạng trong lòng nhân dân đô thị; đồng thời cũng thúc đẩy cao hơn phong trào phản chiến của lính Mỹ, phong trào của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới phản đối chiến tranh xâm lược" , góp phần vào thắng lợi chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.

2. Mạch nguồn đó là minh chứng của truyền thống đánh giặc bằng nghệ thuật, trí tuệ, mưu lược, sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta.

Thắng lợi chiến lược của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là kết quả sức mạnh tổng hợp của toàn quân, toàn dân, đồng thời cũng minh chứng cho tài thao lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xác định và kiên định đường lối cách mạng và lãnh đạo kháng chiến; nhận ra thời điểm quan trọng của cuộc chiến tranh, thấy được thời cơ quý báu để có chủ trương chiến lược kịp thời; là nghệ thuật biết giành thắng lợi từng bước, quan trọng nhất là đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Và thực tế cho thấy, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy với khởi nghĩa vũ trang theo quy luật của tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, bằng lực lượng tổng hợp quân sự, chính trị, binh vận, lực lượng vũ trang và lực lượng quần chúng cách mạng diễn ra vô cùng ác liệt cả ở thành thị và nông thôn vùng ven, bằng những cuộc tiến công và phản kích liên tiếp, kéo dài. Nhân dân Sài Gòn và các đô thị miền Nam được tận mắt chứng kiến hình ảnh anh Giải phóng quân với vành mũ tai bèo, chứng kiến "Quân giải phóng" chính quy đánh địch trên từng góc phố, trong tư thế hiên ngang và kỷ luật nghiêm minh. Cùng với các cuộc tiến công đồng loạt của lực lượng vũ trang, nhân dân nhiều vùng nông thôn và thành thị nổi dậy diệt ác, trừ gian giải tán dân vệ, phá vỡ hàng loạt "ấp chiến lược" giành quyền làm chủ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đánh giá: "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân đánh dấu một bước phát triển mới trong học thuyết và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Lần đầu tiên, ta đã tổ chức và phát động một cuộc tiến công đồng loạt trên khắp chiến trường rộng lớn vào các sào huyệt của địch mà vẫn giữ được bất ngờ đến giờ nổ súng", làm cho kẻ địch không thể phán đoán cách đánh cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Bất ngờ trong xác định chủ trương, chiến lược của Đảng đến tổ chức chỉ đạo, bố trí quy mô lực lượng, đến mục tiêu và thời điểm tiến công, để phát huy cao nhất một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của nghệ thuật quân sự.

Có thể nói, tất cả những sáng tạo trong chiến lược, chiến dịch và chiến thuật tổ chức cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là kết tinh từ nghệ thuật đánh giặc của ông cha qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tô thắm truyền thống và bài học "dựa vào dân" của dân tộc ta.

3. Mạch nguồn đó là một trong những biểu tượng của truyền thống anh hùng, tinh thần chiến đấu anh dũng, hy sinh quên mình của quân, dân ta vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc.

Thắng lợi nào, trong cuộc đấu tranh quyết liệt, tử sinh cũng phải trả giá bằng xương máu, bằng sự hy sinh. "Chiến thắng lớn từ hy sinh to lớn. Ai đếm khăn tang, ai đong máu chiến trường" 2. Thế hệ hôm nay mãi mãi biết ơn các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sĩ, đồng bào đã chiến đấu, anh dũng hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và trong toàn bộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, ghi lòng tạc dạ công lao của những người con ưu tú đã hiến dâng đời mình cho Tổ quốc, tham gia viết nên thiên anh hùng ca Xuân Mậu Thân 1968 bất diệt, khắc họa nên "dáng đứng Việt Nam" bất tử.

Đó là tinh thần dũng cảm vô song, mưu lược tài ba của các lực lượng vũ trang, đã mở đầu xuất sắc cuộc tổng tiến công ở Sài Gòn - Gia Ðịnh cùng với các chiến trường đô thị khắp miền Nam, dù chiến trường trọng điểm hay những địa bàn "chia lửa". Đặc biệt, chúng ta kính cẩn nghiêng mình trước chiến công oanh liệt và cả sự hy sinh, mất mát lớn lao của lực lượng biệt động Sài Gòn - Gia Ðịnh, với tinh thần quả cảm cao độ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, hầu hết cán bộ, chiến sĩ lực lượng biệt động đã anh dũng hy sinh hoặc rơi vào tay địch. Nhưng ý chí và xương máu của lực lượng biệt động đã dựng lên những tượng đài bất tử của Xuân Mậu Thân 1968.

Đó là lớp lớp thanh niên, sinh viên, học sinh đứng lên sát cánh chiến đấu cùng các chiến sĩ Quân giải phóng. Thế hệ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay mãi mãi tự hào về lực lượng Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định trong Mậu Thân 1968, tự hào về người Bí thư Thành đoàn Hồ Hảo Hớn quyết hy sinh để giữ bí mật về Nghị quyết Quang Trung - mật danh Nghị quyết của Trung ương Cục về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân khi đồng chí rơi vào tay giặc; tự hào về lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị Thành Đoàn trong Mậu Thân 1968, đã hoạt động mạnh mẽ ở khu xóm Bàn Cờ, Vườn Chuối, Nguyễn Thông, Lê Văn Duyệt, khu vực chùa Ấn Quang, Bảy Hiền... tham gia các mũi đột kích, diệt ác, rải truyền đơn, treo cờ Mặt trận. Nhiều chiến sĩ Thành đoàn đã anh dũng hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân giữa đường phố Sài Gòn và được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân như Lê Văn Nghề, Nguyễn Sơn Hà (Bảy Thép)...

Đó là lực lượng phụ nữ tham gia vào các đội biệt động, các thứ quân địa phương, giao liên, dân công và cứu thương. Ðặc biệt như phụ nữ Sài Gòn - Gia Ðịnh đóng vai trò quan trọng trong xây dựng cơ sở chính trị trong lòng thành phố, xây dựng các "lõm chính trị", "lõm" căn cứ "nhân tâm" vững chắc trong các chợ, trong khu dân cư lao động.

Đó là đội ngũ giáo chức, văn nghệ sĩ và nông dân ở vùng ven đã tham gia tích cực, vừa hỗ trợ cho lực lượng vũ trang, lực lượng đấu tranh chính trị của công nhân, thanh niên, sinh viên, học sinh vừa tổ chức những hoạt động phù hợp, phát loa, treo cờ, rải truyền đơn, kêu gọi binh lính Sài Gòn bỏ súng về với gia đình.

Đó là các gia đình cơ sở cách mạng đã chấp nhận hy sinh, mất mát, bất chấp nguy hiểm, vận chuyển, cất giấu vũ khí hàng tháng trời trước đó, nuôi giấu cán bộ chiến sĩ, cung cấp cho lực lượng biệt động chiến đấu làm nên những trận đánh vang dội tại Sài Gòn.
Chúng ta mãi mãi không thể nào quên bước chân và chiến công của đồng bào, đồng chí in dấu trên đường phố, từng khu dân cư lao động, từng ngõ hẻm Sài Gòn và các đô thị miền Nam năm ấy; không thể nào quên những hình ảnh của những người lính Cụ Hồ đã kề vai sát cánh của mỗi góc phố, tòa nhà, hiên ngang nhả đạn vào quân thù để chia lửa, che chắn cho nhau; những người mẹ, người chị, em nhỏ dù biết rằng sẽ bị tù đày, tra tấn dã man, hy sinh cả xương máu... nhưng đã dũng cảm băng qua lửa đạn, dẫn đường, mang cơm tiếp tế, cứu thương cho bộ đội nơi trận tuyến trong tầm đạn thù vô cùng khốc liệt... Đúng là "lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất ...".

Chúng ta cũng không thể quên nhiều đồng chí cán bộ, chiến sĩ sau Mậu Thân bị bắt vẫn trung kiên, chịu đựng tù đày tra tấn dã man, một lòng son sắt, sẵn sàng hy sinh để giữ gìn khí tiết của người cách mạng, của người cộng sản.

Hòa vào dòng thác cách mạng với khí thế hào hùng trong Xuân Mậu Thân 1968, cán bộ, chiến sĩ của ngành Tuyên huấn Trung ương Cục, Tuyên huấn Thành ủy, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định cũng đã "xông trận" bằng tinh thần và lực lượng cao nhất. Anh em cánh Tuyên huấn tỏa ra trên nhiều trọng điểm, áp sát địa bàn, đột nhập vào ấp chiến lược, thị trấn, thị tứ phổ biến thời cơ chiến lược, vận động nhân dân nổi dậy; rải truyền đơn, dán áp phích, vẽ bản đồ cung cấp cho bộ đội, thực hiện vũ trang tuyên truyền; tổ chức các đoàn văn công, đoàn văn nghệ sĩ Phật tử trong phái Ấn Quang, hội thảo "Văn nghệ sĩ trước hiện tình đất nước", ca ngợi cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc, có ảnh hưởng lớn trong nhân dân; in báo Cờ Giải phóng, đưa tin, hình ảnh chiến trường để cổ vũ, động viên đồng bào, chiến sĩ và tham gia chiến đấu ngay trong lòng đô thị Sài Gòn, tại vùng lõm Bảy Hiền, Gò Vấp, Hóc Môn... Nhiều chiến sĩ tuyên huấn Sài Gòn - Gia Định đã anh dũng ngã xuống trong khói lửa Mậu Thân 1968 ngay trên đường phố Sài Gòn như Nguyễn Kim Hon (Ba Thanh), Nguyễn Thị Thu, Lê Quang Bửu (Hai Thanh), Nguyễn Văn Đáng, Lê Văn Dựng, Phan Thế Trung...

Tất cả, một lần nữa tô thắm cho truyền thống anh hùng, tinh thần chiến đấu anh dũng, hy sinh quên mình của quân, dân ta trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước.

Năm mươi năm đã trôi qua, tiếp tục nhìn nhận một sự kiện lịch sử quan trọng bằng phương pháp khoa học, biện chứng để khẳng định giá trị, trân trọng quá khứ và chiêm nghiệm những bài học lịch sử từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng thời đấu tranh mạnh mẽ chống lại những quan điểm thiếu cơ sở khoa học nhằm làm giảm ý nghĩa to lớn của chiến thắng này là công việc hết sức cần thiết, có ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Để làm tốt nhiệm vụ chiến lược ấy, nhất thiết phải xây dựng tiềm lực quốc phòng - quân sự từ trong thời bình, như di huấn của cha ông, kết hợp kiến quốc với phòng thủ đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, quốc phú binh cường. Kết hợp hài hòa xây dựng tiềm lực quốc phòng - quân sự với xây dựng tiềm lực kinh tế - xã hội, tiềm lực chính trị - tinh thần, đặc biệt là thế trận lòng dân bằng sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của toàn dân.

Trong nhiệm vụ chung, ngành Tuyên giáo Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy trách nhiệm của mình trong việc góp sức làm cho mạch nguồn lòng yêu nước, tình cảm cách mạng không ngừng tuôn chảy, ngày càng phong phú. Không bao giờ ngưng nghỉ nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục lịch sử, truyền thống, đặc biệt cho thế hệ trẻ để lan tỏa, lan truyền, tiếp nối các giá trị tốt đẹp; bồi đắp để nâng cao hơn nữa giá trị lòng yêu nước, ý chí quyết tâm, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tự lực tự cường, vươn lên mạnh mẽ để thoát khỏi tình trạng có nguy cơ tụt hậu, xây dựng đất nước thật sự phồn vinh, bằng tinh thần, sức mạnh như chúng ta đã làm được trong cuộc đấu tranh giải phóng.



---------------------------------------------------------------
1. Mặt trận thứ hai có tên là Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam, gọi tắt là Mặt trận Liên minh, có cờ, có tuyên ngôn riêng. Trong đợt Tết Mậu Thân, Mặt trận Liên minh mới có Ban Vận động chứ chưa có Ủy ban Trung ương chính thức. Mặt trận Liên minh có trách nhiệm kêu gọi nhân dân thành phố nổi dậy.

2. Viễn Phương, trích Văn bia tại Đền thờ Liệt sĩ Bến Dược, Củ Chi.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM