Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Tám, 2020, 02:20:41 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết định  (Đọc 1804 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4370



« Trả lời #90 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2020, 10:49:10 am »

TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG PHÚ YÊN



Đại tá PHAN ANH KHOA
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Yên


Là một tỉnh thuộc địa bàn Quân khu 5 và Tây Nguyên do Trung ương trực tiếp chỉ đạo, Phú Yên cùng với Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum đã tích cực chuẩn bị tham gia Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở tất các thành phố, thị xã, tỉnh lỵ, quận lỵ, thị trấn, các cơ quan đầu não, các trung tâm kinh tế, chính trị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

 Theo kế hoạch tổng công kích của Quân khu: "Ở Phú Yên, Trung đoàn 10 đánh cắt Đường số 1 ở khu vực đèo Cù Mông tạo thế chia cắt giữa Bình Định và Phú Yên, ngăn không cho quân địch từ Phú Yên theo Đường số 1 ra phản kích vào lực lượng khởi nghĩa tại Quy Nhơn. Nhiệm vụ giải phóng thị xã Tuy Hòa do lực lượng địa phương và nhân dân kết hợp công kích và khởi nghĩa để giải quyết". Quân khu xác định nhiệm vụ của chiến trường Phú Yên là: làm tan rã quân đội Sài Gòn tại chỗ, diệt một bộ phận quân Nam Triều Tiên, thu hút và kiềm chế một phần quân Mỹ, đánh phá, cắt giao thông Bắc Nam và lên Tây Nguyên, không cho địch tiếp ứng ra Quy Nhơn. Tại trọng điểm thị xã Tuy Hòa, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng tại chỗ và từ nông thôn vào để tiêu diệt địch, giành chính quyền về tay nhân dân.

Trên chiến trường Phú Yên, tính đến tháng 1-1968, binh lực của Mỹ và quân đội Sài Gòn có Lữ đoàn dù 173 gồm 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh. Căn cứ Lữ đoàn dù Mỹ ở Hòa Hiệp, Tuy Hòa 1. Ngày 18-1-1968, Lữ đoàn dù chấm dứt càn ở Sơn Hòa rút xuống chốt dọc khu vực Gò Sân, Giếng Ga, Gò Choẹ, Bằng Gia Lạnh. Lính Nam Triều Tiên có Trung đoàn 28 thuộc Sư đoàn "Bạch Mã", hậu cứ ở Tân Hải, đóng quân từ Núi Hùng vào Tuy Hòa 1. Trung đoàn 26 thuộc Sư đoàn "Mãnh Hổ", hậu cứ ở Đồng Đò, đóng quân từ Hòa Đa, Đồng Xuân, Sông Cầu. Có 1 tiểu đoàn pháo binh của Mỹ, 2 tiểu đoàn pháo binh của Nam Triều Tiên. Quân đội Sài Gòn có Trung đoàn 47 (gồm 4 tiểu đoàn), 25 đại đội bảo an, 8 đại đội biệt kích, 24 trung đội biệt kích, 54 tổng đoàn dân vệ; ngoài ra còn có 2 đại đội cảnh sát, 2 đại đội cảnh sát dã chiến, 10 khẩu pháo 105 ly của các quận và 4 khẩu pháo 175 ly đặt ở Xuân Phước - Đồng Xuân và Củng Sơn - Sơn Hòa.

Lực lượng vũ trang ta ở chiến trường Phú Yên đến tháng 1-1968 có Trung đoàn 10 (Ngô Quyền), Tiểu đoàn 14 đặc công, hai đơn vị này thuộc Phân khu Nam. Lực lượng vũ trang tỉnh có Tiểu đoàn bộ binh 85; 2 đại đội đặc công (201 và 202), Đại đội trợ chiến 167, Đại đội Công binh 50, 1 đại đội trinh sát, Đại đội Thông tin 18, Đại đội Vận tải 23. Các huyện Tuy Hòa 1, Tuy Hòa 2, Tuy An, Sông Cầu, mỗi huyện có 1 đại đội bộ binh, 1 trung đội đặc công, 1 tiểu đội thông tin, 1 tiểu đội công binh, 1 tiểu đội cối 60 ly. Riêng các huyện Sơn Hòa, Đồng Xuân có trung đội bộ binh và các tiểu đội chuyên môn.

Như vậy, về bộ binh, địch đông hơn ta gấp nhiều lần. Chúng còn có ưu thế tuyệt đối về phi pháo và xe tăng, thiết giáp, lại phòng thủ trong các công sự kiên cố ở các đô thị và căn cứ ở đồng bằng ven biển. Đó là những khó khăn lớn cho ta trong tổng tiến công và nổi dậy.

Ngày 20-1-1968, Đảng ủy A9 1 và Tỉnh ủy Phú Yên họp kiểm tra công tác chuẩn bị và bàn kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, vạch ra phương hướng: Tập trung lực lượng vào hướng trọng điểm thị xã Tuy Hòa, tiêu diệt bằng được một số mục tiêu quan trọng, kết hợp nổi dậy của quần chúng trong và ngoài thị xã, thực hiện công kích, khởi nghĩa giải phóng thị xã. Sau khi có chủ trương của Tỉnh ủy, các đơn vị, địa phương tích cực chuẩn bị bổ sung quân số, đạn dược, lương thực, thực phẩm. Các cơ sở ven thị xã và trong nội thị được củng cố và phát triển, may cờ Tổ quốc, cờ Giải phóng chờ ngày "cách mạng" về phát cho quần chúng treo, mang theo xuống đường biểu dương lực lượng. Những ngày giáp Tết Mậu Thân, các đơn vị tổ chức cho bộ đội ăn Tết trước. Sáng ngày 28-1, các đơn vị làm công tác tổ chức và hành quân tiếp cận thị xã. Đêm ngày 29-1, các đơn vị, cơ quan chỉ huy phía trước bí mật hành quân đến vị trí tập kết cuối cùng ở sườn núi phía tây xã Hòa Quang, sẵn sàng đợi lệnh xuất quân. Cán bộ Dân, Chính, Đảng nắm các lực lượng quần chúng ở vùng ven sẵn sàng tiến vào thị xã.

1. Tổng tiến công và nổi dậy đợt 1 (tháng 1, 2-1968)

Tiến công và nổi dậy lần 1 (30-1-1968)

Vào lúc 0 giờ ngày 30-1-1968, quân địch ở thị xã Tuy Hòa, các căn cứ vùng ven và các huyện bắn súng và đốt pháo đón giao thừa. Lợi dụng pháo sáng địch, quân ta nhanh chóng áp sát mục tiêu. Đúng 0 giờ 30 phút ngày 30-1-1968, lực lượng vũ trang của ta nổ súng tiến công vào nhiều vị trí, cơ quan đầu não của địch trong thị xã Tuy Hòa và hàng chục chi khu, đồn, bốt của địch trên tất cả các huyện lỵ trong tỉnh. Đại đội Đặc công 202 dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Lê Trung Kiên tập kích Trung đoàn 47 quân đội Sài Gòn và khu cố vấn Mỹ, tiêu diệt 78 tên, làm chủ trận địa. Trung đội Quyết Thắng của thị xã Tuy Hòa tập kích Ty Cảnh sát Sài Gòn, diệt gần hết bọn địch, số ít địch sống sót bỏ chạy tán loạn, ta làm chủ trận địa.

3 giờ 30 phút ngày 30-1, Tiểu đoàn 12 dùng súng cối bắn dồn dập vào sân bay Khu Chiến, phá hủy một số máy bay và các phương tiện chiến tranh khác. Sau khi bị đánh phủ đầu, địch điều động một số xe M113 dồn về góc đông sân bay tổ chức phản kích. Lúc này trời đã sáng, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn quyết định đưa đơn vị về đứng chân ở xóm Đạo, Khu nhà 18 gian, trụ lại đánh địch ban ngày. Cùng lúc, Tiểu đoàn nhận được thông báo của Mặt trận A9 cho biết: Tiểu đoàn 85 bị quân Mỹ chặn, không tiến công được vào thị xã theo phương án hợp đồng. Tiểu đoàn 14 sau khi tập kích Phú Lâm cũng đã lui quân. Ban Chỉ huy và cán bộ Tiểu đoàn 12 nhận định tình hình sẽ rất khó khăn do các đơn vị bạn không phối hợp tác chiến được, nên địch sẽ tập trung lực lượng để phản kích vào khu vực chiếm lĩnh của tiểu đoàn.

Trưa ngày 30-1, Mỹ dùng máy bay trực thăng đưa 1 tiểu đoàn của Lữ đoàn 173 Mỹ về tăng cường cho quân ngụy tiến công vào xóm Đạo. Các đợt tiến công này của địch đều bị Tiểu đoàn 12 bẻ gãy, tiêu diệt nhiều tên địch. Đến 13 giờ 30 phút ngày 30-1, địch lại dùng máy bay thả bom napan trúng Sở chỉ huy, đồng chí Hùng - Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Bán - Chính trị viên Tiểu đoàn - đều hy sinh; đồng chí Xuy - Phó Chính ủy Trung đoàn 10 - đi chỉ huy trực tiếp bị thương nặng. Với quyết tâm cao và lòng căm thù giặc sâu sắc, thề "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn 12 kiên quyết đánh địch, giữ vững trận địa. Đến 15 giờ ngày 30-1, địch dùng bom, pháo hủy diệt trận địa ta. Do địa hình khu vực trận địa chủ yếu là cát nên rất khó đào công sự, trong khi mật độ bom pháo của địch quá dày nên ta bị thương vong nặng. Chỉ huy Tiểu đoàn 12 động viên cán bộ, chiến sĩ quyết tâm giữ vững trận địa, chiến đấu tới người cuối cùng. 18 giờ cùng ngày, Tiểu đoàn tổ chức rút lui.

Qua một ngày chiến đấu, Tiểu đoàn 12 đã lập chiến công xuất sắc, tiêu diệt 290 tên địch, thu 4 trung liên, phá hủy 4 pháo 105 ly, 4 xe M113, 3 máy bay trinh sát L19, 3 lô cốt và 1 kho đạn.

 Cùng ngày, đồng loạt tất cả các quận lỵ tỉnh Phú Yên, quân địch đã bị các lực lượng vũ trang của ta tiến công tiêu diệt. Tại huyện Tuy An: Trung đội vũ trang huyện, du kích và đội công tác phối hợp đánh tan 1 trung đội bình định nông thôn ở sân xe quận Phú Tân; bao vây, bắn tỉa vào quận lỵ và đột nhập đánh địch ở các ấp Định Trung, Phong Hậu, Ngân Sơn, loại khỏi vòng chiến đấu 98 tên địch, phá hủy 3 xe quân sự. Lực lượng vũ trang và du kích huyện Sơn Hòa tiến công địch ở lô cốt sân bay, lô cốt Cây Đa, đánh địch ở ấp Bắc và xóm mới, diệt 30 tên địch. Trung đội vũ trang và du kích huyện Đồng Xuân đánh địch trong ấp Long Thăng, ấp Phước Lộc, khu dồn nam La Hai, phá 1 xe M113 trên đèo Đá Ong, loại khỏi vòng chiến đấu 116 tên địch. Lực lượng vũ trang huyện Sông Cầu tập kích tiêu diệt gọn 1 trung đội dân vệ ở Xuân Cảnh, giết và bắt 25 tên, thu 23 súng các loại. Huyện Tuy Hòa 1, từ đêm 30 rạng sáng ngày 31-1, Đội 7 Tiểu đoàn 430 cùng Đại đội đặc công 201, Đại đội 377 của huyện đội tập kích sân bay Đông Tác, sân bay trực thăng Thọ Lâm, Trung đoàn 28 "Bạch Mã" Nam Triều Tiên, quận lỵ Phú Lâm, trận địa pháo Nam Triều Tiên ở Hảo Sơn. Đội công binh liên tục chặn đánh các đoàn xe vận tải của địch trên đường bắc Đèo Cả. Các lực lượng vũ trang huyện Tuy Hòa 1 đã loại khỏi vòng chiến đấu 481 tên địch, phá hủy 18 xe GMC, 8 khẩu pháo 105 ly và 155 ly, 30 máy bay các loại, đánh sập hàng chục lô cốt, phá hủy nhiều phương tiện thông tin của địch.

Tiến công và nổi dậy lần 2 (5-2-1968)

Chiều 31-1, tại Sở chỉ huy tiền phương (gộp Mòng Mòng, xã Hòa Quang), Thường vụ Phân khu ủy và Đảng ủy A9 họp đánh giá tình hình và quyết định tập trung lực lượng tiến công địch trong thị xã Tuy Hòa lần thứ hai theo lệnh động viên của Bộ Tư lệnh Quân khu. Thường vụ Tỉnh ủy phân công đồng chí Lương Công Huề - Bí thư Đảng ủy A9, cùng đồng chí Cao Long, Phó Tư lệnh Phân khu Nam trực tiếp chỉ đạo thực hiện phương án tác chiến.

Đại đội 202 đặc công và Trung đội Quyết Thắng thị xã Tuy Hòa tiến công Ty Cảnh sát lần thứ hai. Tiểu đoàn bộ binh 85 được tăng cường 1 trung đội của Tiểu đoàn 12 làm dự bị đột phá phía bắc xóm Chùa, sau đó phát triển đánh chiếm thị xã. Đêm mồng 4 rạng ngày 5-2, cuộc tiến công vào thị xã Tuy Hòa lần thứ hai bắt đầu. Đại đội 3 Tiểu đoàn 85 tiến vào đến Khu Hỏa xa thì gặp địch. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt, kéo dài gần 1 giờ đồng hồ, đại đội bảo an của địch bị đánh thiệt hại nặng nề, buộc phải rút lui. Đại đội 3 làm chủ khu vực nhà ga và tiến vào thị xã theo trục đường Nguyễn Huệ. Đại đội 2 trên đường phát triển vào thị xã diệt 1 trung đội địch, bảo vệ nhà máy điện và 1 tiểu đội bảo vệ trụ sở Đô Thành.

Trước lúc trời sáng, Tiểu đoàn 85 phát triển làm chủ khu phố Trần Hưng Đạo. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn quyết định tổ chức phòng ngự ở đây, được nhân dân che chắn, bao bọc giúp đỡ, cho ăn uống và cung cấp thông tin về địch để đơn vị tiếp tục chiến đấu. 7 giờ sáng ngày 5-2, địch dùng máy bay bắn rốc két vào đội hình phòng ngự của ta, tối 5-2, Tiểu đoàn rút khỏi thị xã. Kết quả, Tiểu đoàn 85 đã loại khỏi vòng chiến đấu 164 tên địch, tiêu diệt 3 lô cốt di động. Đây là lần đầu tiên, lực lượng vũ trang Phú Yên tiến công vào thị xã với quy mô tiểu đoàn; làm chủ một khu phố cả ngày, đánh bại các đợt phản kích của địch ngay tại sào huyệt của chúng.

2. Tổng tiến công và nổi dậy đợt 2 (26-3-1968)

Theo Chỉ thị của Khu ủy, ngày 12-2-1968, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức hội nghị tại thôn Phong Cao (Sơn Hoà), nhằm sơ bộ đánh giá rút kinh nghiệm hai đợt tiến công đồng thời bàn chủ trương mở đợt tiến công thứ ba.

 Thường vụ Tỉnh ủy và đại diện Phân khu Nam đã đánh giá sâu sắc, phân tích cụ thể thế địch, thế ta và thắng lợi to lớn trên chiến trường. Tính chung trong đợt tổng tiến công và nổi dậy đầu tiên (từ 30-1 đến 5-2), các lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.114 quân địch, phá hủy 47 máy bay các loại, 26 xe quân sự, 5 xe M113 và M118, 10 khẩu pháo từ 105mm đến 155mm, thu gần 50 máy thông tin các loại.  

Thực hiện quyết tâm và phương án của Thường vụ Tỉnh ủy và Đảng ủy A9, đêm mồng 3 rạng ngày 4-3-1968, quân, dân toàn tỉnh tổ chức tiến công đợt 2 (T26) đánh vào thị xã Tuy Hòa và các quận lỵ, chi khu. Mục tiêu tiến công và nổi dậy là tập trung lực lượng, phương tiện với nỗ lực cao nhất để đánh chiếm thị xã Tuy Hòa, các quận lỵ, chi khu, diệt sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh, làm cho địch đã hoang mang, dao động lại càng hoang mang dao động hơn; hỗ trợ quần chúng đứng lên phá ấp, trở về làng cũ.

Cũng vào thời điểm này, Tiểu đoàn 85 cùng Đại đội đặc công 202 trên đường tiến hành tiếp cận Trung đoàn 47 và Khu cố vấn Mỹ thì bị địch phát hiện nổ súng trước. Mặc dù trận chiến đấu gặp khó khăn từ phút đầu nhưng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 85 và Đại đội 202 vẫn kiên quyết tiến công.

Tiểu đoàn 12, Trung đoàn 10 phối hợp với Đại đội Quyết Thắng đánh vào Ty Cảnh sát, nhưng đến xóm Chùa (Ninh Tịnh) gặp địch, phải dừng lại triển khai đánh địch nên không vào được Ty Cảnh sát. Trận đánh tại xóm Chùa diễn ra rất ác liệt và kéo dài từ giữa đêm đến gần sáng. Trước tình hình Tiểu đoàn 85 và Tiểu đoàn 12 không tiêu diệt được các mục tiêu được giao và trận đánh đã kéo dài đến gần sáng, đồng chí Nguyễn Tất Liêu - Tỉnh đội trưởng, và đồng chí Đỗ Khánh Đáp - Chính trị viên phó Tỉnh đội, trực tiếp chỉ huy cánh quân quyết định: Trụ lại xóm Chùa (Ninh Tịnh) đánh địch phản kích ban ngày.

Từ 5 giờ sáng, bộ binh địch bắt đầu mở nhiều đợt tiến công vào xóm Chùa. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 85 và Tiểu đoàn 12 chiến đấu vô cùng dũng cảm. Có trung đội bị bom địch, thương vong chỉ còn một người vẫn tiếp tục chiến đấu, kiên quyết giữ vững trận địa.

Qua một ngày trụ đánh địch vô cùng ác liệt tại Ninh Tịnh, lực lượng ta bị tổn thất lớn. Các đồng chí chỉ huy Tỉnh đội (Tỉnh đội trưởng và Chính trị viên phó Tỉnh đội), chỉ huy An ninh tỉnh (Phó ban An ninh tỉnh và Trưởng ban Điệp báo và An ninh đô thị) đều hy sinh; lực lượng vệ binh, trinh sát và Đại đội bộ binh của Tiểu đoàn 12 bảo vệ Sở chỉ huy cũng bị thiệt hại nặng.  

Ngày 5-3, Tiểu đoàn 13, Trung đoàn 10 phục kích ở xóm Lẫm, xóm Bầu, xóm Ao, Long Tường, Phụng Tường (xã Hòa Trị) diệt gần 1 đại đội quân đội Sài Gòn, giết 50 tên, thu hàng chục súng các loại. Đêm 5-3, Tiểu đoàn 11 Trung đoàn 10 tập kích tiêu diệt Đại đội 3, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 47 quân đội Sài Gòn tại Phước Bình, giết 40 tên, bắt sống 1 tên địch, thu hàng chục súng, có 1 súng M79.

Phối hợp với hướng trọng điểm, từ đêm 3-3, Tiểu đoàn 14 cùng các lực lượng vũ trang Tuy Hòa 1 đồng loạt tiến công địch ở Phú Lâm, Phú Lương, Phú Hiệp; pháo kích vào sân bay Thọ Lâm, trận địa pháo cầu Cháy, trận địa pháo Trung đoàn 28 (Sư đoàn "Bạch Mã" Nam Triều Tiên).

Trong đêm mồng 4 sáng 5-3, các huyện Tuy Hòa 1, Tuy An, Sông Cầu, Đồng Xuân, Sơn Hòa cũng đồng loạt nổ súng tiến công đánh vào các quận lỵ, chi khu, diệt nhiều địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, đưa dân trở về làng cũ. Nhiều nơi, chính quyền Sài Gòn cấp xã bỏ trốn, nhiều trung đội dân vệ tan rã.

Ở Tuy Hòa 2, du kích và đội công tác đột nhập đánh địch ở Hòa Kiến, Hòa Thắng. Du kích mật dùng lựu đạn, mìn hẹn giờ diệt 8 tên lính Nam Triều Tiên, 10 tên lính Sài Gòn, 4 tên ác ôn, thu 1 súng M79.

Phối hợp với phong trào đấu tranh vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị, binh địch vận cũng được đẩy mạnh. Trong đợt tiến công vào thị xã lần thứ ba (4-3-1968), phụ nữ các thôn dọc hành lang tiến quân ở các ấp Thanh, Minh Đức, Ngọc Phong, Phước Hậu, Liên Trì, Ninh Tịnh đã bảo đảm hàng ngàn vắt cơm, lương khô, nước uống tiếp tế cho bộ đội ta. Quần chúng nhân dân các thôn Liên Trì, Ninh Tịnh, Long Thủy, Xuân Dục tìm mọi cách che giấu, bảo vệ, nuôi dưỡng hàng trăm cán bộ, chiến sĩ bị thương, bị lạc đường, chăm sóc chu đáo, lần lượt dẫn đường đưa anh em về căn cứ an toàn.

Kiểm điểm chiến dịch T25, Hội nghị Đảng ủy A9 và Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên (16-3-1968) đã nghiêm túc rút ra những ưu, khuyết điểm trong chỉ đạo, chỉ huy, nêu lên những nguyên nhân đưa đến những khuyết điểm: "Về tổ chức thực hiện, chỉ đạo, chỉ huy còn phạm nhiều khuyết nhược điểm. Nhận thức về tổng công kích, tổng khởi nghĩa còn lệch lạc, chỉ dốc sức đánh vài ba ngày là xong, thiếu chuẩn bị mọi mặt và kiểm tra chu đáo, nắm và vận dụng các mối quan hệ chưa tốt, công tác chuẩn bị không bảo đảm để thực hiện quyết tâm...".

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, từ ngày 30-1 đến ngày 4-3-1968, quân và dân Phú Yên đánh 119 trận vào thị xã và hầu hết thị trấn, quận lỵ, chi khu, vào các tuyến phòng thủ, sân bay, kho tàng của Mỹ và quân đội Sài Gòn, tiêu diệt 1.952 tên địch, phá hủy và phá hỏng 11 khẩu pháo từ 105 - 155 ly, phá hủy 29 xe quân sự, 30 máy bay các loại, 4 kho nhiên liệu, 2 lần đánh hỏng đường ống dẫn dầu Vũng Rô - Đông Tác, làm cháy 5 triệu lít xăng, phá sập 29 lô cốt, tháp canh và nhiều đoạn đường giao thông quan trọng. Ta đã giác ngộ trên 500 thanh niên đưa ra vùng giải phóng tham gia lực lượng vũ trang. Bộ máy chính quyền Sài Gòn tan rã từng bộ phận. Thắng lợi Tết Mậu Thân trên chiến trường Phú Yên góp phần cùng toàn Miền tạo nên thế chiến lược mới; làm lung lay ý chí xâm lược của quân Mỹ.

Dù chưa đạt được tất cả những mục tiêu chiến lược đã đề ra, nhưng thắng lợi của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 là rất to lớn; Phú Yên đã phát huy được sức mạnh tổng hợp to lớn của quân và dân trong tỉnh, đã góp phần cùng quân và dân cả nước đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ ở miền Nam, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pari.
 




---------------------------------------------------------------
1. Do Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Phân khu Nam thành lập tháng 9-1967 để chỉ đạo chung lực lượng vũ trang Phú Yên cùng 2 tiểu đoàn 12, 13 của Trung đoàn 10.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4370



« Trả lời #91 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2020, 10:58:21 am »

PHẦN THỨ BA
GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ HIỆN THỰC



XÂY DỰNG Ý CHÍ QUYẾT CHIẾN, QUYẾT THẮNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI
THEO TINH THẦN TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Thiếu tướng HỒ BÁ VINH
Phụ trách Cục trưởng Cục Tuyên huấn,
Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một sự kiện lớn, có ý nghĩa chiến lược, giáng đòn quyết định làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tạo bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đi tới thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là minh chứng hùng hồn cho bản lĩnh, trí tuệ, khí phách của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; là nghệ thuật tổ chức, bố trí và sử dụng lực lượng "lấy nhỏ đánh lớn", "lấy ít địch nhiều". Đó là biểu tượng sáng ngời về tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, tài mưu lược trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng và về ý chí quyết chiến, quyết thắng, sức mạnh quật cường của quân và dân Việt Nam.

Lịch sử chiến tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam đã cho thấy, chúng ta thường có hạn chế trong tương quan so sánh lực lượng, nhất là vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, nhưng nhờ ý chí quyết chiến, quyết thắng mà chúng ta giành thắng lợi trước mọi kẻ thù xâm lược. Ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta được thể hiện ở tinh thần không sợ, không chịu khuất phục trước kẻ thù xâm lược; quyết đánh, biết đánh, biết thắng và quyết thắng kẻ thù; quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền dân tộc.

Ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 bắt nguồn từ lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; từ khát vọng độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc của toàn dân tộc; được hun đúc trong mấy chục năm dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng; ở việc quán triệt sâu sắc chủ trương tổng công kích và tổng khởi nghĩa mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14, khóa III (1-1968) đã đề ra: "Tập trung lực lượng quân sự và lực lượng chính trị đến mức cao nhất, một cách hợp lý nhất, tiến công mãnh liệt vào những hướng chiến lược chính; kiên quyết tiến công, liên tục tiến công nhằm vào những nơi xung yếu của địch mà đánh những đòn quyết định; giành cho kỳ được thắng lợi ở những nơi quyết định, phải tuyệt đối giữ cho được nhân tố bất ngờ; phải biết giành thắng lợi từng giờ từng phút và không ngừng mở rộng thắng lợi; kiên quyết chống trả và bẻ gãy các cuộc phản kích của địch và truy kích địch đến cùng để giành thắng lợi cao nhất".

Đối với lực lượng vũ trang nhân dân, ý chí quyết chiến, quyết thắng là kết quả của cả một quá trình liên tục tiến hành công tác tư tưởng và công tác tổ chức của Đảng trong các lực lượng vũ trang nhân dân. Nó được thể hiện ở trong những đoàn quân trùng trùng điệp điệp lên đường ra trận, đều mang trong mình tình yêu quê hương, đất nước, niềm tin và ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc, với tinh thần "đạp lên đầu thù" mà xốc tới, khó khăn mấy cũng vượt qua, địch ngoan cố mấy cũng tiêu diệt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ để đất nước hoàn toàn giải phóng, giang sơn gấm vóc thu về một mối, đồng bào Nam - Bắc sum họp một nhà. Luôn luôn sớm nhận thức và dự kiến đúng tình hình, nắm vững ý đồ chiến lược, quán triệt sâu sắc và vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương châm, phương thức, tư tưởng chỉ đạo tác chiến và cách đánh; chủ động, phát huy dân chủ quân sự và đi sâu giải quyết những nảy sinh, vướng mắc cụ thể để xây dựng lòng tin chiến thắng. Biết tận dụng thế chiến lược, nắm chắc thời cơ và có phương pháp tiến hành công tác tư tưởng sinh động, đúng lúc, kịp thời, ngắn gọn, hiệu quả. Kết hợp chặt chẽ giữa động viên và hướng dẫn hành động cụ thể, giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức, nắm đúng và tập trung chủ yếu vào cấp ủy, cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì. Coi trọng giáo dục phát huy truyền thống, đẩy mạnh hoạt động thi đua, tập trung giải quyết thắng lợi trận then chốt, tạo đà cho sự phát triển tư tưởng tích cực tiến công, phát huy tác dụng của các lực lượng tiên tiến... Nhờ vậy, chúng ta đã xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, sự chỉ huy linh hoạt sáng tạo, có năng lực hành động giỏi, thần tốc, táo bạo, bất ngờ, có cách đánh đột kích mạnh, tiến công nhanh, giành thế áp đảo, tạo nên một sức mạnh phi thường nhanh chóng đè bẹp sự kháng cự của địch, lập nên chiến công kỳ diệu, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, đáp ứng yêu cầu chỉ thị của Thường vụ Trung ương Cục: "... tinh thần phấn đấu cách mạng phi thường ngoài sức ước lượng của con người bình thường"  và tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 của Trung ương Đảng "Anh dũng tiến lên, thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước" . Nhờ đó, quân và dân ta trên toàn miền Nam đã tổng tiến công vào 4 trong 6 thành phố lớn, 37 trong số 44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 trong 11 bộ tư lệnh sư đoàn quân đội Sài Gòn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ cùng nhiều bộ tư lệnh lữ đoàn, trung đoàn, chi khu và hàng trăm căn cứ quân sự của địch, tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn quân địch, trong đó có 4 vạn quân Mỹ, 600 ấp chiến lược, giải phóng thêm 100 xã với hơn 1,4 triệu dân.

Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa bên cạnh những thuận lợi, còn không ít những khó khăn, phức tạp. Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường... vừa tạo ra cơ hội vừa tạo ra thách thức mới. Trong nước, các thế lực thù địch tập trung chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội ta bằng chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và "phi chính trị hóa" quân đội. Sự chống phá đó diễn ra trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, quốc phòng, an ninh,... hòng làm suy yếu và tiến tới lật đổ chế độ ta. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục phát huy ý chí quyết chiến, quyết thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là việc làm cần thiết, là trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ quân đội, đặc biệt là của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì; đòi hỏi tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, kiên định mục tiêu, lý tưởng, con đường Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, thực hiện thắng lợi mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", chú trọng xây dựng tiềm lực kinh tế - quốc phòng vững mạnh.

Thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn ngay từ khi Đảng ra đời. Sự lựa chọn đó đã hội tụ đầy đủ các nhân tố khách quan, chủ quan, hoàn cảnh lịch sử của dân tộc và thời đại. Xuyên suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu đó luôn được Đảng ta kiên định, thống nhất không chỉ trong nội dung của cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng để bảo đảm định hướng chính trị cho sự phát triển đất nước, tạo cơ sở cho tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội hướng tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" mà cả trong thực tiễn cách mạng.

Thực tế cho thấy, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Độc lập thực sự đòi hỏi xóa bỏ áp bức, nô dịch và gắn liền độc lập dân tộc với tự do, bình đẳng, hạnh phúc của nhân dân. Chính nhờ sự kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng đã lãnh đạo dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tạo nên ý chí quyết chiến, quyết thắng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trở thành động lực trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, hơn bao giờ hết, chúng ta phải nắm chắc quy luật và truyền thống "dựng nước đi đôi với giữ nước" của dân tộc, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, hết sức sáng tạo trong chỉ đạo thực tiễn cách mạng, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn" . Từ đó, cùng với sự lãnh đạo tài tình của Đảng và niềm tin, sức mạnh của nhân dân vào chủ nghĩa xã hội ngày càng được củng cố, tăng cường, sẽ tạo đà cho sự phát triển mạnh hơn, cao hơn, triệt để hơn trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đảng ta luôn xác định, xây dựng tiềm lực kinh tế, quốc phòng đất nước vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, là tiền đề vững chắc cho sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa: "Kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất" ; "Xây dựng là gốc của bảo vệ và bảo vệ là một bộ phận hợp thành của xây dựng; xây dựng phải gắn với bảo vệ, bảo vệ phải nhằm mục đích xây dựng và phát triển tốt hơn; bảo vệ không chỉ là phòng ngừa mà trước hết phải chăm lo xây dựng, làm cho mình mạnh lên" . Vị thế và uy tín của dân tộc Việt Nam đã được tạo dựng bằng ý chí quyết chiến, quyết thắng, khí phách kiên cường, bất khuất và bản lĩnh văn hóa của dân tộc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và bằng chính những thành tựu to lớn của công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng tạo nên sức mạnh vô địch trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, xây dựng, phát triển đất nước. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã khẳng định sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc, của nhân dân ở các địa phương: nhân dân đã che chở cho hàng chục sư đoàn từ rừng sâu xuống đồng bằng, vào thành phố; tham gia vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm vào nội đô, cất giấu và cứu thương, tải thương khi chiến sự xảy ra, xây dựng phong trào "hũ gạo nuôi quân"; các huyện đều lập thành đội cung cấp để huy động lương thực, thực phẩm trong nhân dân phục vụ cuộc kháng chiến. Mỗi xã có ban quân lương, đội cứu thương, tải thương; các gia đình đều đào sẵn hầm để nuôi giấu thương binh hoặc chôn giấu vũ khí... Xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc và sự giúp đỡ tận tình, có hiệu quả của nhân dân chính là yếu tố phát huy cao độ ý chí quyết chiến, quyết thắng, tạo nên thắng lợi to lớn, có ý nghĩa chiến lược của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, làm cho kẻ thù kinh hoàng, khiếp sợ.

Để phát huy ý chí quyết chiến, quyết thắng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, phải chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước gắn với yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống đánh giặc ngoại xâm, ý thức tự lực, tự cường; chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, phong cách; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và với chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng cường mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.

Cùng với đó, cần tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Xây dựng, củng cố đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động làm ly tán lòng dân, phá hoại thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững chắc.

Tiếp tục chăm lo hơn nữa việc xây dựng sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Nâng cao nhận thức trong Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân đối với quốc phòng, phát triển chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc lên tầm cao mới cả về quy mô, tính chất. Các cấp, các ngành phải nhạy bén, sáng tạo, thường xuyên nắm chắc tình hình, xử lý tốt những tình huống phức tạp xảy ra, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, tạo môi trường hòa bình, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

Thứ ba, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng toàn diện và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Phát huy ý chí quyết chiến, quyết thắng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là cơ sở quan trọng để phát huy nhân tố chính trị, tinh thần, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong điều kiện mới. Đây là vấn đề được đặt lên hàng đầu, bảo đảm cho quân đội trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân, lực lượng nòng cốt để bảo vệ Tổ quốc. Muốn vậy, phải làm cho sức mạnh chính trị, tinh thần của quân đội trở thành sức mạnh chủ yếu, trực tiếp; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam theo hướng "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó Hải quân, Phòng không - Không quân, Thông tin liên lạc, Tác chiến điện tử, Trinh sát kỹ thuật và Cảnh sát biển tiến thẳng lên hiện đại" .

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam theo các nội dung, biểu hiện của ý chí quyết chiến, quyết thắng là luôn tăng cường và phát triển hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của quân đội; xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân với tinh thần dám đánh và biết đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội trên cơ sở xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng trung thành, bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Phát huy dân chủ, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân.

Đặc biệt, tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội và các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), nhằm đảm bảo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Tiếp tục triển khai có hiệu quả Đề án "Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong tình hình mới", gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, và thực hiện tốt phong trào Thi đua Quyết thắng cùng các cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ". Thông qua các hoạt động thực tiễn để củng cố, rèn luyện ý chí quyết chiến, quyết thắng. Đó là kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với rèn luyện kỷ luật, xây dựng nếp sống chính quy; làm tốt công tác vận động quần chúng, chủ động, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; tích cực tham gia lao động sản xuất, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cuộc sống khu dân cư trên địa bàn đóng quân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Thứ tư, tích cực nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật vào xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng vững mạnh.

Một trong những thành tố để tạo nên ý chí quyết chiến, quyết thắng là xây dựng, huấn luyện và chuẩn bị kỹ cho con người về kỹ thuật, chiến thuật, trang bị vật chất để bảo đảm cho thắng lợi.

Hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra mạnh mẽ, có ảnh hưởng trực tiếp đến quốc phòng, an ninh cả về vũ khí trang bị kỹ thuật; phương thức chỉ huy, điều hành tác chiến và tác chiến trực tiếp trên chiến trường; công tác huấn luyện, đào tạo cho đến việc thay đổi tổ chức, biên chế của quân đội cho phù hợp với hệ thống vũ khí khí tài và nghệ thuật tác chiến. Quán triệt quan điểm, tư tưởng quân sự của Đảng và bám sát những phát triển mới trong lĩnh vực khoa học quân sự, kỹ thuật quân sự trên thế giới để giải quyết đúng đắn, sáng tạo các vấn đề khoa học nghệ thuật quân sự, kỹ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân là đòi hỏi và cũng là công việc mà quân đội ta đã, đang và sẽ tiếp tục giải quyết. Trong tình hình hiện nay, cần nghiên cứu và hiểu rõ đặc điểm của chiến tranh vũ khí công nghệ cao, nhất là phải nghiên cứu kỹ về phương thức, thủ đoạn tác chiến, vũ khí trang bị mà đối tượng tác chiến sẽ sử dụng trong chiến tranh xâm lược. Tích cực đổi mới công tác nghiên cứu khoa học quân sự, công nghệ quân sự theo hướng thiết thực, phục vụ trực tiếp cho công tác chỉ đạo, tổ chức, xây dựng, huấn luyện, nền nếp chính quy. Xây dựng nền quốc phòng từng bước phù hợp với nền công nghiệp của đất nước trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để giải quyết một phần nhu cầu về quốc phòng và kinh tế thời bình, sẵn sàng chuyển sang thời chiến...

Kỷ niệm 50 năm Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống, nhận thức sâu sắc hơn về giá trị lịch sử và hiện thực của sự kiện lớn này trong bối cảnh mới của cách mạng. Trên cơ sở đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tiếp tục phát huy tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng cùng những bài học kinh nghiệm từ chiến thắng lịch sử đó, quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ X trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
 
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4370



« Trả lời #92 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2020, 11:15:34 am »

CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY
XUÂN MẬU THÂN 1968 - TỪ CÁCH NHÌN ĐA CHIỀU



Thiếu tướng, PGS.TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG
Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Nghiên cứu các công trình, bài viết, bài nói của các bậc tiền bối lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, có thể thấy một mẫu số chung là, tất cả đều khẳng định đây là "thắng lợi rất to lớn", đã tạo nên "bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ"; mặt khác cũng thể hiện sự trăn trở với nhiều câu hỏi chưa có lời giải hoặc chưa được giải trình một cách thấu đáo.

Đọc mảng sách nước ngoài, cũng thấy rõ nhiều vấn đề còn nhận thức khác nhau giữa các tác giả; trong đó, bên cạnh những cách nhìn khách quan về cuộc chiến ở Việt Nam vẫn còn có những quan điểm khác biệt lớn. Với nguồn thông tin, tư liệu khác nhau, phương pháp tiếp cận, thậm chí động cơ nghiên cứu khác nhau, thì kết quả nghiên cứu khác nhau là điều bình thường. Chúng tôi xin góp bàn thêm đôi chỗ về những dị biệt trên.

Về bối cảnh trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp (1946), thông qua việc giới thiệu binh thư cổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền thụ tri thức và kinh nghiệm quân sự cho quân và dân ta. Người viết, muốn thắng đối phương, "... phải biết mình, biết người".

Vậy, trước và trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tình hình được đánh giá như thế nào?

Năm 1965, khi quân Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam, Quân giải phóng đã chủ động đánh một số trận thăm dò khả năng thực tế của quân Mỹ nhằm tìm ra cách đánh phù hợp. Những trận Núi Thành (5-1965), Vạn Tường (8-1965), Pleime (11-1965) đã bước đầu ló dạng cách đánh hiệu quả của ta. Từ thực tiễn kháng chiến ở hai miền Nam - Bắc, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12, khóa III (12-1965), trên cơ sở quán triệt phương châm đánh lâu dài và căn cứ tình hình cụ thể, đã định hướng "phải cố gắng đến cao độ, tập trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam", trên cơ sở đó, đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Mùa khô 1965-1966, đối phương mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, nhằm "tìm diệt" chủ lực Quân giải phóng, giành lại quyền chủ động chiến trường. Tuy nhiên, cả gọng kìm "tìm diệt" và gọng kìm "bình định" những vùng nông thôn trọng điểm đều thất bại, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ buộc phải kết thúc sớm cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất.

Mùa khô 1966-1967, Mỹ huy động lực lượng vượt trội hơn nhiều so với hai năm trước, mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai. Cùng với mục tiêu "tìm diệt", chương trình bình định được Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ đặt kỳ vọng hơn so với đợt trước. Giới cầm quyền Mỹ hy vọng, nỗ lực quân sự lớn, kết hợp với các thủ đoạn chính trị, ngoại giao, họ sẽ giành thắng lợi, làm chuyển biến cục diện chiến trường vào nửa cuối năm 1967, giành lợi thế trong năm bầu cử Tổng thống Mỹ 1968. Trước tình hình trên, Bộ Chỉ huy Miền đã tổ chức lực lượng cán bộ, nhân viên cơ quan dân, chính, đảng nắm chắc địa hình, bố trí ở những yếu địa bám đánh địch tại chỗ; quân chủ lực tập trung đánh những trận tiêu diệt quân Mỹ. Cùng lúc, tại các địa bàn chiến lược khác như đồng bằng sông Cửu Long, Khu 5, Tây Nguyên và Trị - Thiên, các cố gắng trong cuộc phản công của quân Mỹ đều thất bại, tướng Oétmolen buộc phải tuyên bố chấm dứt cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, mùa khô 1966-1967, mục tiêu đề ra không đạt được.

Tuy nhiên, tài liệu của Mỹ viết: "Cuối năm 1967, quân đội Mỹ đã cảm thấy chiến thắng trong tầm tay, các báo cáo gửi về Washington mô tả chi tiết những thất bại hằng ngày của cộng sản... các chiến dịch tìm và diệt cho mùa khô đã đẩy lùi các chiến binh vào sâu trong rừng và kẹt ở đó". Ở góc độ khác, cuộc phản công mùa khô lần thứ hai thất bại, Mc Naughton, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, trong Bị vong lục gửi Mắc Namara, viết: xuất hiện "tình trạng phân cực ngày một tăng đang xảy ra trên nước Mỹ với những mầm mống của sự chia rẽ tệ hại nhất trong nhân dân Mỹ kể từ hơn một thế kỷ nay" . Nghiêm trọng hơn, sự phân hóa diễn ra ngay trong giới chóp bu điều hành chiến tranh xâm lược. Ngày 19-5-1967, trong Bị vong lục gửi Tổng thống Mỹ Giônxơn, Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Namara trình bày lập luận chống chiến lược mở rộng chiến tranh, cho rằng nước Mỹ đã đi vào con đường bế tắc. Bởi, dù mở rộng chiến tranh hay theo một chính sách ôn hòa hiện thời cũng không thay đổi được tinh thần quyết chiến đấu của Hà Nội đến thắng lợi; nếu tăng quân và tăng cường đánh phá miền Bắc, sẽ mở ra khả năng Mỹ dấn sâu vào và sa lầy hơn ở Đông Nam Á, thậm chí lao vào một cuộc chiến tranh với Trung Quốc và Liên Xô.

Xác định cách đánh chiến lược mới, "sáng kiến lịch sử" .

Phát huy thắng lợi của cuộc kháng chiến ở cả hai miền Nam - Bắc, từ cuối năm 1966, đầu năm 1967, "từ tình thế mới có lợi cho ta, bất lợi cho địch", Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chủ trương tìm một cách đánh chiến lược mới, tiến tới xác lập cục diện "vừa đánh vừa đàm", "vừa đàm vừa đánh". Vận dụng sách lược mềm dẻo, thông qua tuyên bố của Bộ Ngoại giao, khả năng phía Việt Nam sẽ thực hiện đàm phán nếu Mỹ chấm dứt ném bom không điều kiện miền Bắc, chứ không gắn với việc đòi Mỹ rút khỏi miền Nam, một chủ trương mới được hé mở. Kế hoạch chiến lược Đông - Xuân 1967-1968 được tổ chức nghiên cứu, khởi thảo. Đây là cả quá trình bàn bạc, thảo luận, cân nhắc... giữa Tổng hành dinh với lãnh đạo, chỉ huy chiến trường, với các ngành, các cấp hữu quan. Bộ thống soái tối cao nhận thấy, nếu cứ tiếp tục mở các hoạt động quân sự như trước, đánh theo cách đánh cũ thì khó tận dụng được thời cơ có lợi để tạo nên chuyển biến chiến lược trên chiến trường, chiến tranh sẽ vẫn diễn ra trong thế nhùng nhằng, giằng co. Trong khi Tổ kế hoạch Cục Tác chiến còn đang trong quá trình tìm tòi cách đánh nhưng vẫn chưa nghĩ ra, thì "chính số đồng chí lãnh đạo chủ chốt Bộ Chính trị (đồng chí Lê Duẩn...) và Quân ủy Trung ương đã trao đổi, đề xuất giải pháp mới. Hai tư duy chỉ đạo vừa sáng tạo, vừa táo bạo đã kết thành ý định quyết tâm chiến lược là đột ngột chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta từ rừng núi, nông thôn đánh thẳng vào sào huyệt, đầu não hiểm yếu nhất của địch là các thành phố, căn cứ trung tâm... Đánh vào đó, ta sẽ tạo được bất ngờ lớn về chiến lược, giành thắng lợi lớn". Tác giả Lê Minh cho biết, trong một lần đồng chí Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra Hà Nội họp Bộ Chính trị, chuyện trò với chúng tôi tại nhà riêng, về cách đánh, anh nói đại ý "đánh vào đầu não, tim, dạ dày của nó thì chân tay nó rã rời... chặt vào chân nó thì thấy chảy máu me nhưng không can chi cả... Nhưng chỉ dùng một cái kim châm một cái vô tim thì nó chết. Tức là phải đánh vào chỗ hiểm, chỗ hiểm của địch là ở đâu? Là thành phố, thị trấn, căn cứ đầu não, kho tàng, sào huyệt của chúng".

Truyền thông nước ngoài và một số nhân vật trong cuộc có nhiều nhận xét xác đáng. Daniel Ellsberg viết: "Quy mô và sự phối hợp của cuộc Tổng tiến công vào dịp Tết gần như là tổng hợp các cuộc tiến công xảy ra đồng thời tại hầu hết các tỉnh ở miền Nam Việt Nam... sẽ mãi mãi khiến người ta phải kinh ngạc" . Oétmolen thừa nhận, "có 36 thành phố, thị xã của 44 tỉnh lỵ; 5 trong 6 thành phố tự trị; 64/242 quận lỵ và 50 ấp bị tiến công trong dịp Tết Mậu Thân 1968".

Bất ngờ vì đối phương chọn chiến trường hoàn toàn khác trước, mà còn vào thời điểm không ngờ nhất, nguyên Tùy viên kinh tế Đại sứ quán Mỹ kể lại: "... Ở Sài Gòn cuộc sống vẫn êm ả, người ta không có gì để phải lo lắng vì cộng sản chưa bao giờ dám tấn công vào một thành phố thủ đô và vừa tuyên bố 48 giờ ngừng bắn. 1/3 quân Việt Nam Cộng hòa đang nghỉ phép, Chính phủ cũng đang nghỉ. Trong không khí chào mừng năm mới, các quán bar phục vụ lính Mỹ hết công suất... Chính quyền Sài Gòn tổ chức một buổi tiệc tại nhà khách, đích thân Thủ tướng Nam Việt khai mạc" . Chính việc đưa chiến tranh vào thành thị của ta đã làm thế chiến lược của Mỹ bị đảo lộn, làm rung chuyển nước Mỹ, dân chúng Mỹ phải sửng sốt, bàng hoàng.

Nghi binh chiến lược.

Bộ Tổng Tư lệnh còn chỉ đạo việc nghi binh nhằm đánh lạc hướng Bộ Chỉ huy đối phương. Tháng 9-1967, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho đăng báo bài "Thắng lợi lớn, nhiệm vụ lớn", tiếp tục khẳng định phương châm đánh lâu dài, bảo tồn lực lượng. Lập tức Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA cho dịch và phân phát tới các chi nhánh truyền thông công khai ở nước ngoài. Tháng 11-1967, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam phổ biến trực tiếp cho các tư lệnh chiến trường miền Nam kế hoạch nghi binh chiến lược, một bản kế hoạch tác chiến giả... Các thông tin giả kể trên càng củng cố nhận định của Oétmolen rằng Việt Nam thất bại lớn, mà trận Đắk Tô là bước mở đầu, còn Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn nhận định, năm 1968 trọng tâm kế hoạch của Việt cộng là chống phá bình định .

Nhằm dụ đối phương lún sâu thêm vào những phán đoán sai lầm, tháng 1-1968, quân ta phối hợp với nước bạn Lào mở chiến dịch Nậm Bạc; nhiều đơn vị chủ lực Quân giải phóng rời căn cứ hướng về các đô thị, trong đó có Sài Gòn - Gia Định; một số sư đoàn chủ lực miền Bắc tập kết quanh vùng rừng núi Khe Sanh. Trước động thái đó, Oétmolen hủy bỏ dự án mở cuộc phản công chiến lược lần thứ ba, đưa quân về giữ Sài Gòn; dừng các cuộc hành quân ở phía Bắc, tăng lực lượng cho hướng Trị - Thiên. Vậy là, từ thế chủ động "phản công", "tìm diệt", lực lượng quân sự Mỹ buộc phải chuyển sang phòng ngự bị động mà hai hướng chính là quanh Sài Gòn và Trị - Thiên. Trong khi đối phương còn đang lúng túng tìm cách đối phó, thì đêm 20-1-1968, quân ta bất ngờ nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm Khe Sanh. Đạn pháo của quân ta dội xuống Khe Sanh đã xua tan đám mây mù mà chính quyền Mỹ cố tạo ra lừa mị công chúng Hoa Kỳ rằng họ đang thắng và đã thấy "ánh sáng cuối đường hầm" (!). Quá sốc, giới chức Hoa Kỳ cũng tính toán như ở Điện Biên Phủ 14 năm trước, rằng có nên dùng vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Khe Sanh? . Nhiều tác giả Việt Nam và Mỹ nhận định rằng, cả Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và Sài Gòn đều nghĩ đến khả năng Việt cộng tập trung lực lượng để tiến hành một trận "Điện Biên Phủ" ở Khe Sanh. Bằng cách đánh vây lấn với những trận địa chiến hào của ta, họ cho rằng ta sẽ dứt điểm Khe Sanh như Điện Biên Phủ . Tác giả Michael Maclear bình luận: "Các trận đánh trong Tết Mậu Thân làm cho người ta có cảm tưởng rằng Khe Sanh có vẻ như là cuộc bao vây để đấy. Nếu vậy thì Bắc Việt Nam là bậc thầy trong việc nghi binh" .

Về phương thức và phương pháp tiến công.

Làm cho đối phương sai lầm trong phán đoán về hướng - địa bàn tiến công, Bộ Tổng Tư lệnh của ta còn khiến quân địch hoàn toàn bất ngờ về phương thức, phương pháp tiến công. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 1-1968, chỉ rõ "dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định" ... Nghị quyết cũng xác định những phương châm và nguyên tắc cho quá trình tổng công kích và tổng khởi nghĩa. Ví như "kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngụy vận, địch vận... Kết hợp chặt chẽ tiến công quân sự, tiến công chính trị trong nước với tiến công ngoại giao" .

Ngày 2-8-1968, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp nhận định kết quả Tết Mậu Thân, nêu rõ: đợt Tết là bước ngoặt lớn... Ta đã rất táo bạo, đã dám làm "sáng kiến lịch sử"... về hình thức Mỹ đã phải xuống thang (thực chất là điều chỉnh kế hoạch ném bom). Dẫn tới hình thái "vừa đánh vừa đàm" buộc địch phải ngồi vào bàn hội nghị .

Về khuyết, nhược điểm, Hội nghị đánh giá: "công kích về quân sự chưa đủ làm đòn bẩy để thúc đẩy phong trào chính trị, chính trị chưa lên cao để hỗ trợ cho quân sự cùng giành thắng lợi... Ở nông thôn chưa làm được đồng khởi... Binh vận quá yếu... làm vào thời gian Tết là rất đúng, song cũng chính vì thế mà việc chuẩn bị cập rập vội vàng"...

Trên cơ sở nhận định của Bộ Chính trị, một số công trình tổng kết chiến tranh và nghiên cứu của các vị lãnh đạo, tướng lĩnh đã cụ thể hóa và làm sâu sắc thêm đánh giá của Bộ Chính trị.

Đồng chí Lê Đức Thọ, trong một lần giải đáp một số vấn đề đặt ra trong tổng kết chiến tranh và nghiên cứu lịch sử quân sự, đã nói: "Phải chăng chúng ta đã rập khuôn một cách máy móc theo như những kinh nghiệm cũ về khởi nghĩa ở đô thị trong Cách mạng Tháng Tám và Cách mạng Tháng Mười mà không hiểu được rằng điều kiện và hoàn cảnh khởi nghĩa của hai cuộc cách mạng ấy là khác hẳn với thực tế của chúng ta lúc bấy giờ ở chiến trường miền Nam... Trong Mậu Thân, tương quan lực lượng như lúc đó mà ta toàn làm một cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành chính quyền ở đô thị - nhất là Sài Gòn - thì làm làm sao được" .

Cách phân tích của Thượng tướng Trần Văn Trà như một cách bổ sung cho đánh giá nói trên. Thượng tướng viết: "Chủ trương và cố thực hiện của ta là tổng công kích - tổng khởi nghĩa, khi nổ ra thì tổng công kích thực hiện được nhưng chưa đủ liều lượng để phát động tổng khởi nghĩa - đây là điều kiện thiết yếu trong hoàn cảnh có chiến tranh ác liệt - nên không xảy ra tổng khởi nghĩa. Không xảy ra tổng khởi nghĩa không có nghĩa là không có nổi dậy từng nơi từng lúc... Cách đánh của Mậu Thân quả thật là độc nhất vô nhị" .

Cách luận giải trên, theo chúng tôi, đã làm sáng tỏ thêm vấn đề đặt ra. Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) diễn ra trong tình thế quân đội Nga hoàng đã thất bại ngoài mặt trận, chính phủ tư sản không điều khiển được quân đội nữa. Một bộ phận quan trọng binh sĩ ngả theo cách mạng, cùng với công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ở Việt Nam, hàng triệu người dân Việt Nam yêu nước, công nhân, nông dân, trí thức, tiểu tư sản... được tổ chức chặt chẽ trong Mặt trận Việt Minh - tổ chức tiêu biểu cho sức mạnh của sự đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, chớp đúng thời cơ phát xít Nhật đầu hàng, quân Đồng minh chưa kịp vào giải giáp, công cụ bạo lực của thế lực thống trị cũ rệu rã,... đã làm cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi giành chính quyền về tay nhân dân. Trong khi đó, mặc dù quân và dân ta vừa giành thắng lợi qua hai mùa khô, thế kháng chiến trên cả hai miền đang phát triển vững chắc, nhưng đối sánh nhiều mặt, ta còn nhiều nhược điểm, hạn chế. Theo số liệu công bố của chính đối phương và nhiều tác giả, học giả sử dụng, thì "Bộ Chỉ huy cộng sản" đã đưa vào cuộc chiến khoảng 67.000 quân trong tổng số 240.000 quân ở miền Nam Việt Nam... Dàn ra để chống lại họ là 1.100.000 tay súng, gồm 492.000 quân chiến đấu Mỹ, 61.000 quân đồng minh Mỹ; 342.000 quân thường trực của Việt Nam Cộng hòa và 284.000 quân địa phương và lực lượng phòng vệ dân sự. Mỹ còn huy động nhiều nghìn máy bay, nhiều nghìn tăng thiết giáp các loại1. Mỹ còn sẵn sàng huy động được người và vũ khí từ các chiến hạm và căn cứ quân sự từ các quốc gia đồng minh Mỹ quanh Việt Nam. Như thế, điều khác biệt về thế và lực nói chung, về so sánh lực lượng nói riêng trong sự kiện Tết Mậu Thân với các cuộc cách mạng đã nêu trên là rất rõ ràng. Và thắng lợi của quân và dân ta phản ánh khá đúng thế và lực của ta, mà lịch sử không thể dùng chữ "nếu". Có thể vì vậy, trong bài giải đáp một số vấn đề lịch sử được đề cập ở trên, đồng chí Lê Đức Thọ nói: "Sau Tết Mậu Thân, tôi thấy các anh không dùng cụm từ "tổng công kích, tổng khởi nghĩa" trong tài liệu và báo chí nữa mà chỉ nói là Tổng tiến công và nổi dậy. Như vậy là đúng".

*
*        *

Lần giở từng trang viết của các bậc tiền bối về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tất cả đều đánh giá cao thắng lợi Mậu Thân, như đánh giá tổng quan và xác đáng của Nghị quyết Trung ương lần thứ 21 (6-1973), và như ý kiến của nhiều vị lãnh đạo, chỉ huy cấp cao trong Xuân Mậu Thân 1968. Đây là "bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ", hoặc "là cái chìa khóa của toàn thắng trong chiến tranh".

Cùng với đó, từ Nghị quyết 21 đến nhiều công trình nghiên cứu đều nêu lên những khuyết điểm, thiếu sót của ta. Ví như, "chủ quan trong việc đánh giá tình hình, cho nên đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó...". Về hạn chế của ta, tác giả Trần Bạch Đằng viết: "Sứ mệnh của Mậu Thân căn bản hoàn thành với đợt 1. Ở đây, bệnh cay cú dẫn chúng ta đi xa".

Qua các dẫn dụ trên, chúng tôi muốn nêu kiến nghị (về phương pháp nghiên cứu) rằng, khi đánh giá về thắng lợi, cần có cái nhìn tổng quan, toàn diện và cần căn cứ vào thực tiễn cũng như hiệu quả của cuộc chiến, như ý kiến của Thượng tướng Trần Văn Trà là "phải căn cứ đúng vào hiệu quả cụ thể" của nó, hoặc ý kiến của học giả Trần Bạch Đằng, cần đặt cuộc chiến trong cái nhìn tổng quan, trong diễn trình của toàn bộ cuộc kháng chiến cứu nước. Tác giả viết: "Không có đồng khởi 1960 sẽ không có Mậu Thân 1968 và không có nó thì không thể có Đại thắng mùa Xuân 1975".

Nhiều đánh giá của tác giả nước ngoài thể hiện sự thống nhất về cơ bản với đánh giá của các tác giả Việt Nam. Chúng tôi kiến nghị cần mở rộng và đi sâu hơn trong sưu tầm và nghiên cứu mảng tài liệu này. J.R.Arnold cho rằng: "Cuộc Tổng tiến công Tết 1968 đã không đánh bại được quân chiến đấu Mỹ trên chiến trường nhưng đã đánh bại chiến lược tổng thể của Mỹ, đánh bại giới chính trị Mỹ và làm đảo ngược sự ủng hộ của những người trở về từ chiến trường". Nhà báo Don Oberdofer viết: "Đây là một sự kiện có tính chất bước ngoặt, một trong những bước ngoặt lớn trong thời đại của chúng ta".

Điểm lại khối tài liệu về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của các nhà lãnh đạo, các vị tướng lĩnh hoặc nhà khoa học, dẫu còn nhiều khía cạnh khác nhau, vẫn có thể khẳng định cuộc chiến Mậu Thân đã hoàn thành đúng mục tiêu cho cuộc tiến công được đặt ra từ các hội nghị của Đảng từ cuối năm 1967 và đầu năm 1968. Đó là "tạo một chuyển biến lớn", "chuyển cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới"5.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4370



« Trả lời #93 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2020, 03:41:27 pm »

CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG
CỦA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP
XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG THỜI KỲ MỚI



Thượng tướng NGUYỄN VĂN ĐƯỢC
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một trong những sự kiện lịch sử có tầm vóc lớn lao, đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Nhớ lại, cách đây 45 năm (1972-2017), nếu như Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" là chiến thắng góp phần buộc đế quốc Mỹ đặt bút ký Hiệp định Pari ngày 27-1-1973 kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam thì tinh thần chiến thắng của Chiến dịch Mậu Thân 1968 đã buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn chấp nhận thương lượng với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), buộc họ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán Hội nghị Pari ngày 13-5-1968. Ý nghĩa còn vang mãi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 còn thể hiện ở tầm vóc to lớn về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật của quân và dân ta, tài tiên đoán, dự báo về chiến lược của Bộ Chính trị, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở ra cho chúng ta những trận đánh vang dội sau đó, phá vỡ nhiều chiến lược quân sự của kẻ thù xâm lược, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.

Đồng hành cùng dân tộc trên con đường trường chinh đấu tranh cách mạng giành giữ nền độc lập và bảo vệ Tổ quốc; trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, các thế hệ cựu chiến binh Việt Nam nối tiếp nhau "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", đã có những năm tháng lẫy lừng, ngang dọc trên các chiến trường, mưu trí, dũng cảm, táo bạo, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, cùng với quân và dân cả nước lập nên những chiến công oanh liệt, chiến thắng vẻ vang trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàng triệu cán bộ, chiến sĩ đã ra quân, trở về với quê hương và gia đình hoặc chuyển ngành sang công tác ở các cơ quan, các lĩnh vực khác của xã hội. Trong số họ, nhiều người mang trong mình thương tích của chiến tranh và không ít người đã để lại một phần thân thể nơi chiến trường, trở thành những thương binh, bệnh binh... Song, với bản lĩnh, khí phách của "Bộ đội Cụ Hồ", là lực lượng tuyệt đối trung thành với Đảng, với Nhà nước và nhân dân; có kinh nghiệm trong đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước, phần lớn còn sức lao động, khi trở về cuộc sống đời thường, trên trận tuyến mới, Cựu chiến binh Việt Nam mong muốn tiếp tục được cống hiến sức lực, trí tuệ của mình, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thể theo nguyện vọng tha thiết, chính đáng của đông đảo những người lính đã xả thân chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, ngày 6-12-1989, Bộ Chính trị quyết định thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam, một tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho ý chí và quyền lợi của cựu chiến binh, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Đảng lãnh đạo, nhằm phát huy bản chất truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" trong điều kiện mới.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, trực tiếp là Ban Bí thư và các cấp ủy đảng; sự quản lý, phối hợp, giúp đỡ có hiệu quả của Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp, các ban, bộ, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương; sự chỉ đạo đúng đắn của Ban Chấp hành Trung ương Hội và các cấp Hội, cùng với sự nỗ lực, chủ động, sáng tạo, đoàn kết, trách nhiệm của toàn thể cán bộ, hội viên cả nước, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã có bước phát triển vững chắc; tổ chức hội được củng cố, phát triển cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay, Hội Cựu chiến binh Việt Nam có gần 3 triệu hội viên, sinh hoạt trong hơn 161 vạn tổ chức cơ sở hội, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, hiệu quả, tuyệt đại cựu chiến binh giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ"; tiếp tục khẳng định là một tổ chức chính trị - xã hội uy tín, là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Những năm gần đây, quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22-9-2008 của Bộ Chính trị (khóa X) "Về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới", Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới"... các cấp Hội đã thường xuyên chăm lo giáo dục, bồi dưỡng cho cán bộ, hội viên kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, vào những thời điểm có tính chất bước ngoặt, hoặc trước những biến động và khủng hoảng về chính trị ở một số nước Bắc Phi - Trung Đông, tình hình phức tạp ở Đông Bắc Á, tình hình Biển Đông và sự chuyển hướng chiến lược của một số nước lớn sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương... cựu chiến binh Việt Nam luôn giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", tích cực đấu tranh chống chiến lược "Diễn biến hòa bình" và các âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch cùng các quan điểm sai trái, phản động; tham gia có hiệu quả vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền, mặt trận và đoàn thể, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tích cực tham gia giám sát, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí và các tệ nạn xã hội, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tích cực tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, đã có hàng nghìn ý kiến tâm huyết đóng góp tham gia vào dự thảo các văn kiện của đại hội Đảng các cấp, qua các kỳ đại hội và dự thảo Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Tích cực tham gia giám sát, phản biện xã hội và phổ biến, giáo dục pháp luật... Có những đóng góp tích cực vào việc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương nắm bắt và đề xuất các biện pháp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh... Đồng thời, cử cán bộ, hội viên tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc, phức tạp nảy sinh từ cơ sở; tuyên truyền vận động nhân dân vạch trần âm mưu, thủ đoạn của những kẻ cầm đầu, xúi giục, kích động, lôi kéo người dân lợi dụng "sự cố môi trường biển", lợi dụng tình hình Biển Đông và các vấn đề dân tộc, tôn giáo để tạo "điểm nóng" về an ninh chính trị, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Ý thức rõ việc tăng cường củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị ở cơ sở là khâu quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã ký kết liên tịch với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an nhằm phối hợp hoạt động, tăng cường giáo dục quốc phòng trong nhân dân, tổ chức xây dựng lực lượng dự bị động viên; vận động nhân dân tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc... Hàng chục vạn hội viên Hội Cựu chiến binh đã được Đảng và nhân dân tín nhiệm bầu vào cấp ủy, hội đồng nhân dân các cấp, công tác trong hệ thống chính trị và đã phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Trên mặt trận kinh tế, xóa đói giảm nghèo, Hội đã tổ chức, vận động cựu chiến binh phát huy tinh thần tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, huy động mọi nguồn lực và sự giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương; tranh thủ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với cựu chiến binh để đẩy mạnh việc giúp nhau làm kinh tế, nâng cao đời sống, giảm nghèo nhanh và bền vững, vươn lên làm giàu hợp pháp. Phong trào "cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi" phát triển cả về số lượng, quy mô và hiệu quả. Đến nay, cựu chiến binh đã có: 7.268 doanh nghiệp, 1.507 hợp tác xã, 2.218 tổ hợp tác và 79.881 trang trại, gia trại; thu hút được 510.142 lao động; nhiều tỉnh đã thành lập Hội hoặc Câu lạc bộ Doanh nhân cựu chiến binh. Hiện nay, cựu chiến binh Việt Nam cơ bản không còn hộ đói, số hộ nghèo toàn Hội giảm nhanh; hàng triệu gia đình hội viên có mức sống khá, trong 5 năm (2012-2017) toàn Hội đã giảm được 18.100 hộ nghèo, tỷ lệ hộ cựu chiến binh nghèo giảm từ 6,06% xuống còn 4,21% (theo tiêu chí nghèo đa cấp), góp phần tích cực vào thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội và công tác xóa đói, giảm nghèo trong cả nước. Nhiều cựu chiến binh Việt Nam đã trở thành những nhà quản lý kinh tế giỏi và những doanh nhân thành đạt.

Hoạt động tình nghĩa trong các cấp Hội được đẩy mạnh bằng các hình thức, như: "Kho thóc cựu chiến binh", "Trái dừa đồng đội", "Quỹ 27-7", "Quỹ tấm lòng vàng", "Quỹ chất độc da cam - điôxin" "Quỹ khuyến học, khuyến tài", "Quỹ giảm nghèo", "Quỹ thiên tai bão lụt"... thu hút đông đảo cựu chiến binh và các cơ quan Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang ủng hộ, tham gia. Chỉ tính trong 5 năm (2012-2017), các cấp Hội và cựu chiến binh trên toàn quốc đã vận động, quyên góp, ủng hộ 462,57 đồng cho các loại quỹ; phối hợp với Hiệp hội Doanh nhân cựu chiến binh Việt Nam tuyên truyền, vận động, sử dụng các quỹ từ thiện xã hội có hiệu quả.

Thực hiện Quy chế phối hợp công tác giữa Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam với Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các cơ quan Trung ương và địa phương, những năm qua, Hội đã hướng dẫn, vận động hội viên, tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào của Trung ương và địa phương phát động, gắn với phong trào "cựu chiến binh gương mẫu". Tham gia các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh như: "Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh"; "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"; "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; các phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc"; "Cựu chiến binh Việt Nam tham gia giữ gìn trật tự, an toàn giao thông"; "phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, phòng chống ma túy, mãi dâm"; "chương trình xóa đói, giảm nghèo, xóa nhà tạm, nhà dột nát" với phương châm "cựu chiến binh nêu gương sáng, hiến kế, hiến công vì quê hương đất nước". Nhiều cựu chiến binh hiến đất làm đường, trường học, nhà văn hóa; nhiều công trình mang tên cựu chiến binh. Từ năm 2012-2017, cựu chiến binh cả nước đã hiến 13,6 triệu m2 đất, đóng góp 912 tỷ đồng và hơn 4,6 triệu ngày công tham gia làm mới, tu sửa, nâng cấp được hàng nghìn kilômét đường giao thông nông thôn và hàng nghìn kilômét kênh mương nội đồng, cầu bê tông, cầu gỗ các loại, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn mới.

Với trách nhiệm và tình cảm của thế hệ đi trước, Hội đã tích cực, chủ động cùng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm tốt việc giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng, xây dựng lý tưởng, hoài bão và lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ, đồng thời luôn thể hiện vai trò gương mẫu của cựu chiến binh đối với tuổi trẻ. Hoạt động đối ngoại nhân dân của Hội được tăng cường, quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa cựu chiến binh Việt Nam với cựu chiến binh các nước ngày càng được mở rộng.

Công tác xây dựng Hội đạt kết quả tốt. Tổ chức hội ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, tổ chức cơ sở hội và hội viên tăng nhanh. Nội dung, phương thức hoạt động của các cấp Hội có nhiều đổi mới, ngày càng hiệu quả và thiết thực hơn. Công tác vận động, tập hợp cựu quân nhân cũng có nhiều tiến bộ.

Phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam và thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trong một chặng đường gần 30 năm xây dựng và phát triển, "Cựu chiến binh Việt Nam mỗi người một hoàn cảnh, một lối sống, một phong cách khác nhau... song tất cả đã tạo nên một diện mạo, một vẻ đẹp chung của "Bộ đội Cụ Hồ" khi trở về với đời thường". Các hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam - những người đã chiến đấu quên mình để góp phần làm nên những chiến công oanh liệt Tết Mậu Thân 1968, cuộc Tiến công chiến lược 1972 và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975... trong thời kỳ mới, trước yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để phát huy bản chất truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ"; "trung thành - đoàn kết - gương mẫu - đổi mới" xây dựng tổ chức hội trong sạch, vững mạnh; hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Hội Cựu chiến binh Việt Nam tiếp tục tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyên truyền truyền thống cách mạng; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống; tích cực tham gia giáo dục tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm và các tệ nạn xã hội; góp phần xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Duy trì và tăng cường mở rộng hoạt động đối ngoại; xây dựng Hội phát triển trưởng thành lên một bước; đổi mới, nâng cao hơn nữa nội dung, phương thức và hiệu quả hoạt động, lấy chất lượng, hiệu quả làm mục tiêu; chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cựu chiến binh, góp phần xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4370



« Trả lời #94 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2020, 03:47:17 pm »

TỪ BÀI HỌC VỀ CHÍNH TRỊ - TINH THẦN TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968,
SUY NGHĨ VỀ CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG HIỆN NAY



Thiếu tướng, PGS.TS. VŨ QUANG ĐẠO
Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Sau thất bại của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ triển khai chiến lược "chiến tranh cục bộ", ồ ạt đổ quân chiến đấu Mỹ và đồng minh vào miền Nam, tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc hòng cắt đứt sự chi viện của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Với lực lượng quân sự hùng hậu, Mỹ muốn nhanh chóng đánh bại chủ lực cách mạng, giành lại thế chủ động trên chiến trường, bình định toàn miền Nam, kết thúc chiến tranh Việt Nam trên thế kẻ chiến thắng. Nhưng "chiến tranh cục bộ" cũng sa lầy, và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 của quân và dân ta như một dấu chấm hết cho ý đồ đó của Mỹ. Dù cho sau này Mỹ tiếp tục đưa ra những thủ đoạn và hành động chiến tranh mới, nhưng đó chỉ là tìm kiếm danh dự cho nước Mỹ khi buộc phải rút khỏi cuộc chiến ở Việt Nam. Sự kiện Mậu Thân 1968 đã được nghiên cứu, phân tích dưới nhiều góc độ và vẫn đang tiếp tục thu hút sự quan tâm bởi ý nghĩa lịch sử và những bài học rút ra từ đó. Nếu xét dưới góc độ chính trị - tinh thần, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 là một thắng lợi to lớn của chúng ta và là thất bại cay đắng, không thể gượng nổi của thế lực hiếu chiến Mỹ.

Ngay từ khi Mỹ đổ quân vào miền Nam và đánh phá miền Bắc, Đảng ta đã nhận định: Mỹ đưa quân vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam thể hiện sự mâu thuẫn gay gắt trong ý đồ chiến lược chính trị là thay chủ nghĩa thực dân cũ đã lỗi thời, đã bị Việt Nam đánh bại sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, bằng chủ nghĩa thực dân mới - xâm lược và cai trị thuộc địa thông qua chính quyền và quân đội tay sai. Mỹ đưa quân vào Việt Nam, khi mà "chiến tranh đặc biệt" dựa chủ yếu vào quân đội Sài Gòn, có sự chỉ huy của cố vấn Mỹ, với vũ khí, trang bị của Mỹ đã thất bại, dẫn đến nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn. Mặc dù Mỹ đã cố gắng duy trì chế độ tay sai của mình bằng việc không những "bật đèn xanh" mà còn trực tiếp chỉ đạo hàng loạt vụ đảo chính, mở đầu là lật đổ và giết chết anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu (2-11-1963) và gần chục cuộc đảo chính tiếp theo trong năm 1964, nhằm "thay ngựa giữa dòng", nhưng những cuộc đảo chính ấy chỉ có thể thay thế chính quyền tay sai này bằng chính quyền tay sai khác, chứ không thể thay đổi được bản chất chế độ tay sai đó, càng không thể thực hiện được ảo tưởng của Mỹ là tạo nên một chính phủ "được lòng dân ở miền Nam!". Người Mỹ thừa hiểu rằng, chính quyền và quân đội Sài Gòn là do họ dựng lên và chỉ có thể tồn tại được với sự hậu thuẫn toàn diện của Mỹ. Nhưng chính sự kỳ vọng ấy, càng làm cho Mỹ sa lầy trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Khi chế độ đó đứng bên bờ vực của sự phá sản, để cứu nguy cho nó - mà thực chất là cứu nguy cho chủ nghĩa thực dân mới, Mỹ buộc phải đổ quân viễn chinh vào trực tiếp tham chiến. Hành động đó vừa mâu thuẫn giữa ý đồ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới với hành động quân sự, vừa làm bộc lộ rõ mâu thuẫn giữa Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Nó còn làm bộc lộ bản chất của một cuộc chiến tranh phi nghĩa, làm cho nhân dân Việt Nam và thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ nhận rõ hơn dã tâm xâm lược của những kẻ hiếu chiến Mỹ. Đó là sự khởi đầu cho thất bại về chính trị không thể cứu vãn nổi của Mỹ.

Mặc dù vậy, đế quốc Mỹ vẫn ảo tưởng về sức mạnh của mình 1. Họ cho rằng với những hậu quả tàn khốc của bom đạn Mỹ, với những hành động tàn sát dã man mà lính Mỹ và tay sai đã gây ra, nhân dân Việt Nam phải khuất phục. Nhưng Mỹ đã lầm. Họ đã lừa dối nhân dân Mỹ và thế giới về một cuộc chiến mà ở đó "không sản sinh cho nước Mỹ bất cứ một anh hùng nào", mà chỉ vung phí tiền thuế của người dân Mỹ, vung phí xương máu của con em họ một cách vô nghĩa và đem về sự chống đối của loài người tiến bộ và chính những người Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam. Họ càng chưa hiểu hết về dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam, một dân tộc với những con người nhân hậu, cần cù, giản dị nhưng cũng thấm đẫm tinh thần kiên trung bất khuất, đức hy sinh, sẵn sàng chiến đấu đến cùng với tinh thần "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi".

Mỹ đưa quân vào Việt Nam trong thế thua, thế bị động về chiến lược. Ở miền Nam, quân và dân ta đã làm chủ những địa bàn trọng yếu, lực lượng vũ trang ngày càng lớn mạnh bao gồm cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích. Hậu phương miền Bắc đã giành được những thắng lợi to lớn sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội với thành tựu "Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới"2, không những đủ sức đương đầu và chiến thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, mà còn đủ sức làm tròn trọng trách là hậu phương lớn cho cách mạng cả nước. Quân và dân ta ở miền Nam đã hiên ngang trên tuyến đầu chống Mỹ, cứu nước, chủ động về chiến lược, trực tiếp đương đầu với quân viễn chinh Mỹ, làm nên những chiến thắng vang dội như Núi Thành, Vạn Tường, Plâyme... và nhất là đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965-1966), (1966-1967) của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Những chiến công đó đã làm cho quân Mỹ và tay sai thiệt hại rất lớn, buộc phải lùi vào thế phòng ngự, nhưng chúng vẫn chủ quan, ngạo mạn, và cho rằng, người Mỹ chưa dùng hết sức, hết khả năng. Cả bộ máy chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam cùng bộ máy tuyên truyền của Mỹ vẫn tiếp tục lừa bịp nhân dân thế giới và chính người dân Mỹ rằng "đã thấy ánh sáng cuối đường hầm", Mỹ đang giành thắng lợi và sẽ sớm kết thúc chiến tranh với "danh dự" của nước Mỹ! Họ còn chuẩn bị cho một cuộc phản công lần thứ ba nhằm tạo nên chiến thắng quân sự buộc Việt Nam phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán theo ý đồ của Mỹ, tạo lợi thế cho cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ sắp diễn ra vào cuối 1968.

Trên cơ sở phân tích thế và lực của ta ở cả hai miền Nam - Bắc, nhằm đánh sập ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, chủ động chuẩn bị cho mặt trận ngoại giao, Trung ương Đảng đã quyết định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, trọng tâm là Sài Gòn và Huế, Đà Nẵng. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 là một bất ngờ lớn đối với đế quốc Mỹ cả về thời gian, quy mô, phương thức và mức độ quyết liệt. Cùng với hoạt động quân sự quy mô lớn ở các địa bàn chiến lược, nhất là Mặt trận Khe Sanh - Đường 9, quân và dân ta trên toàn miền Nam đã đồng loạt tiến công địch, đánh thẳng vào các thành phố, thị xã, các căn cứ quân sự trọng yếu của địch trên toàn miền.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 và nhất là đòn đánh hiểm vào Sài Gòn và Huế, Đà Nẵng... đã giáng một đòn quyết định làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, những kẻ cầm đầu hiếu chiến Mỹ. Sau thất bại Mậu Thân 1968, Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán, để rồi 4 năm sau đó phải ký kết Hiệp định Pari (27-1-1973) rút quân Mỹ về nước.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã giành được "những thắng lợi to lớn", có ý nghĩa chiến lược cả về chính trị, quân sự và ngoại giao. Đó là thắng lợi của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới; là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng, của ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và quyết tâm chống Mỹ, cứu nước với tinh thần dũng cảm vô song của đồng bào và chiến sĩ cả nước.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 là sự hội tụ của nhiều nhân tố, nó cũng đã chứng minh được sức mạnh của yếu tố chính trị - tinh thần. Mậu Thân 1968 cho thấy, để động viên được tinh thần chiến đấu của người lính trên chiến trường không thể không giải quyết đúng đắn yếu tố chính trị của cuộc chiến tranh; nội dung và phương thức giáo dục cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang; sự thống nhất cao độ giữa tinh thần chiến đấu của lực lượng vũ trang với sự đồng lòng, ủng hộ, đóng góp sức người, sức của, sẵn sàng hy sinh của nhân dân cả nước; mối quan hệ giữa nghệ thuật quân sự, sức mạnh tác chiến và tinh thần người lính; tinh thần chiến đấu của quân và dân ta trên chiến trường cả nước gắn bó và kết hợp chặt chẽ với xu hướng hòa bình, sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.

Cũng vì thế, bài học lớn nhất của Mậu Thân 1968 là bài học về yếu tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh. Nếu Mậu Thân là thất bại thảm hại của Mỹ về chính trị, cả ở trong nước và quốc tế, thì đối với Việt Nam, đó là một thắng lợi có ý nghĩa quyết định về chính trị, quân sự và dẫn đến những thắng lợi về ngoại giao. Thắng lợi Mậu Thân 1968 chẳng những cổ vũ tinh thần chiến đấu của người Việt Nam trên chiến trường mà còn là yếu tố tạo nên vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngay trên bàn đàm phán ở Pari.

Sau thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quân và dân ta đã vượt qua những hy sinh, tổn thất to lớn, xây dựng và phát triển lực lượng, tạo thế mới và lực mới trên chiến trường miền Nam, đánh thắng nỗ lực cuối cùng của Mỹ trên bầu trời Hà Nội, làm nên một "Điện Biên Phủ trên không", buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari, rút quân Mỹ về nước, giành thắng lợi quyết định, tiến lên giành toàn thắng Mùa Xuân 1975.

Bài học về chính trị - tinh thần của trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Suy ngẫm và vận dụng bài học lịch sử từ Mậu Thân 1968, dưới góc độ chính trị - tinh thần, thiết nghĩ còn rất nhiều việc cần làm:

Trước hết, khi nhận thức rõ cơ hội và thuận lợi, cần thẳng thắn chỉ ra thách thức và nhất là những mặt còn yếu kém của chúng ta. Một đảng cách mạng là một đảng không che giấu khuyết điểm, yếu kém. Ngay trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù khẳng định thắng lợi to lớn của Mậu Thân 1968, nhưng Trung ương Đảng vẫn thẳng thắn chỉ ra những sai lầm, hạn chế của ta, đó là đề ra mục tiêu vượt quá khả năng thực tế; không kịp thời đánh giá đúng tương quan so sánh lực lượng sau đợt 1; chưa kịp thời lui về củng cố, mở rộng lực lượng ở các địa bàn trọng yếu, nhất là vùng nông thôn... Ngày nay, Đảng ta đã chỉ rõ những nguy cơ tiềm ẩn, khó lường và cả những khó khăn hiện hữu. Vấn đề là cần tiếp tục nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn, cụ thể hơn để chủ động giải quyết, khắc phục khó khăn. Trong các nguy cơ ấy, cần đặc biệt lưu ý những nguy cơ nội sinh từ trong Đảng, trong bộ máy chính quyền các cấp. Chúng ta nói sức mạnh của Đảng, của Nhà nước, của quân đội là ở nơi dân. Nhân dân tin vào Đảng, Nhà nước, tin vào lực lượng vũ trang của mình không chỉ bằng chủ trương, chính sách mà còn bằng chính hành động gương mẫu, thật sự vì dân với tinh thần "dĩ công vi thượng" của cán bộ, đảng viên, của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Cũng vì vậy mà cuộc đấu tranh chống tham nhũng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" mà Đảng ta đang kiên quyết tiến hành được sự quan tâm, ủng hộ và kỳ vọng của nhân dân. Kết quả của cuộc đấu tranh ấy đã và đang phát huy vai trò to lớn trong giáo dục, động viên chính trị - tinh thần của nhân dân hiện nay.

Chính trị của Đảng ta thể hiện trong đường lối, chủ trương, chính sách, nó còn luôn được thể hiện trong hoạt động thực tiễn lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước. Vì vậy, khi đã xác định mục tiêu chính trị đúng đắn, đương nhiên phải có chủ trương, chính sách, kế hoạch và biện pháp cụ thể để thực hiện phù hợp với thực tế, biến mục tiêu đó thành hiện thực. Trong Mậu Thân 1968, Đảng ta đã xác định đúng ý đồ chiến lược, từ đó đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tiến hành chiến tranh nhằm tạo ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thực tiễn Mậu Thân 1968 chứng minh, về cơ bản, chúng ta đã đạt được mục tiêu bằng hoạt động quân sự, chính trị trên toàn miền Nam. Những thành công và cả chưa thành công của chúng ta sau Mậu Thân 1968 khẳng định, phải luôn bám sát và đánh giá đúng tình hình thực tiễn, kịp thời điều chỉnh nội dung và phương thức hoạt động thì mục tiêu chính trị sẽ đạt được hiệu quả cao hơn.

Trong chiến tranh giải phóng, chính trị thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực quân sự, mỗi thắng lợi về quân sự đều có vai trò to lớn của nhân tố chính trị, tinh thần của nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Trong điều kiện hòa bình và xây dựng đất nước, chính trị thể hiện trước hết trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội. Đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, bộ máy và con người - đặc biệt là yếu tố con người luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhân dân ta hiện nay. Giành được những thành tựu kinh tế - xã hội, sử dụng đúng đắn và hiệu quả sức lao động và sản phẩm làm ra sẽ trực tiếp tác động tới nhiệt tình và trách nhiệm chính trị của mỗi người dân. Bằng hoạt động kinh tế - xã hội, với những thành tựu đã đạt được, với những điều kiện của trong nước và quốc tế hiện nay, chúng ta đứng trước thời cơ lịch sử để thực hiện kỳ vọng của Bác Hồ:

"Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!"
.

Nói đến công tác chính trị, tư tưởng trước hết là nói đến nội dung chính trị, nhưng không thể không nói đến phương thức tiến hành công tác đó. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, trong Mậu Thân 1968 nói riêng, tất cả các cơ quan tuyên huấn, cơ quan chính trị các cấp của Đảng và quân đội đã hoạt động rất hiệu quả. Đường lối, quan điểm của Đảng, quyết tâm của Trung ương, của lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã đến từng người dân, từng người chiến sĩ, trở thành ý chí, quyết tâm chiến đấu của nhân dân và lực lượng vũ trang. Công tác chính trị đã góp phần quan trọng tạo nên khối đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo nên ưu thế tuyệt đối về chính trị - tinh thần của dân tộc Việt Nam trước kẻ thù xâm lược. Công tác chính trị, tư tưởng còn được tất cả các ngành thông tin truyền thông, văn hóa, văn nghệ, báo chí... chuyển tải bằng những phương thức, phương tiện hết sức hiệu quả. Cho đến hôm nay, chúng ta vẫn cảm nhận rõ hơi thở hào hùng của dân tộc một thời đánh Mỹ qua những tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, những vần thơ, những giai điệu đi cùng năm tháng, còn mãi với thời gian.





---------------------------------------------------------------
1. Mỹ đã huy động vào chiến trường Việt Nam tới 9 sư đoàn và 5 lữ đoàn, cùng nhiều vũ khí trang bị tối tân nhất. Nếu tính cả 20 vạn quân Mỹ đóng tại Thái Lan, Philíppin, Nhật Bản và ở Hạm đội 7, một bộ phận Hạm đội 6 thì Mỹ đã huy động tới 80 vạn quân vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Bên cạnh quân Mỹ, còn có 68.800 quân Nam Triều Tiên, Ôxtrâylia, Thái Lan, Philíppin, Niu Dilân. Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, t.V, tr.345.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4370



« Trả lời #95 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2020, 03:51:35 pm »

Ý NGHĨA CỦA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968
ĐỐI VỚI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG HIỆN NAY



Trung tướng NGUYỄN SONG PHI
Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam


Sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã diễn ra cách đây 50 năm (1968-2018). Một chiến công mang tầm chiến lược đã khắc ghi sâu đậm đi vào tâm khảm của mỗi người lính từng trực tiếp chiến đấu trên các chiến trường ở thời điểm lịch sử quyết định đó nói riêng, với toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung, đồng thời thức tỉnh lương tri nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", lớp lớp thanh niên yêu nước với khí thế "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" đã tự nguyện nối tiếp nhau gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam, chiến đấu lập nên những chiến công hiển hách, "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", mà trong đó cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã ghi một dấu ấn sâu đậm. Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Mậu Thân 1968, cũng là dịp để những cán bộ, chiến sĩ đã từng tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ôn lại những kỷ niệm về những ngày hào hùng đó. Năm mươi năm về trước, họ cũng là những người đã từng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và góp phần làm nên sự kiện trọng đại đó. Sau khi kết thúc chiến tranh, một số cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong quân ngũ lần lượt xuất ngũ, phục viên chuyển ngành, nghỉ hưu về với quê hương và gia đình. Song, với bản lĩnh và khí phách của "Bộ đội Cụ Hồ", họ đã đem hết tâm sức và nhiệt huyết của mình để góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thể theo nguyện vọng tha thiết, chính đáng của đông đảo những người lính đã xả thân chiến đấu vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, ngày 6-12-1989, Bộ Chính trị quyết định thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Từ đó, Hội Cựu chiến binh Việt Nam trở thành một tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Hội đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cựu chiến binh cả nước, là cơ sở chính trị của Đảng và chính quyền, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hội luôn luôn vận động cựu chiến binh phát huy bản chất truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân và khối đại đoàn kết dân tộc. Tham gia thực hiện tốt các chế độ chính sách, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên cựu chiến binh. Hội còn động viên cựu chiến binh nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống. Phấn đấu giảm nghèo, làm giàu hợp pháp, tham gia tích cực và có hiệu quả các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước. Vì vậy, từ khi thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm phối hợp giúp đỡ của các cơ quan bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương, Hội Cựu chiến binh Việt Nam tiếp tục khẳng định được vai trò, vị trí, nhiệm vụ của mình, bằng nhiều hoạt động tích cực, thiết thực và hiệu quả được Đảng, Nhà nước đánh giá cao. Vì vậy, sau khi rời quân ngũ về với quê hương, gia đình các thế hệ cựu chiến binh Việt Nam luôn luôn giữ gìn phát huy phẩm chất cao quý "Bộ đội Cụ Hồ", tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Luôn có lập trường quan điểm vững vàng, có lý tưởng chiến đấu cao đẹp, có tinh thần quyết chiến, quyết thắng, có tình đồng chí, đồng đội, gắn bó keo sơn, có tinh thần quốc tế cao cả, tình đoàn kết quân dân, có kỷ cương, kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh.

Phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, quyết chiến, quyết thắng của cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, trong suốt 28 năm qua, Hội Cựu chiến binh Việt Nam luôn không ngừng phấn đấu, trưởng thành về mọi mặt, có nhiều đóng góp to lớn cho đời sống chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước; xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của cấp ủy đảng, chính quyền, là lực lượng tham gia bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hội Cựu chiến binh luôn luôn lấy nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là vận động hội viên giữ vững bản lĩnh chính trị; phát huy truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" để thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, phải làm cho cựu chiến binh cả nước luôn quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII và Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cán bộ, hội viên cựu chiến binh tích cực tham gia giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; tích cực tham gia đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm và các tệ nạn xã hội; góp phần xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, trong dịp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, các cấp Hội đã thể hiện trách nhiệm chính trị cao, đóng góp hàng vạn ý kiến tâm huyết để xây dựng văn kiện, nghị quyết, góp phần vào thành công của đại hội Đảng các cấp. "Toàn Hội có 153.891 đảng viên được bầu vào cấp ủy các cấp (trong đó có 83.061 đồng chí được bầu làm bí thư, phó bí thư chi bộ; 11.119 đồng chí được bầu làm bí thư, phó bí thư đảng bộ cơ sở) và gần 10 vạn hội viên được bầu tham gia công tác chính quyền. Nhiều đồng chí trúng cử là đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ (2016-2021), trong đó có 34 đồng chí lãnh đạo cấp Hội được bầu vào hội đồng nhân dân cấp tỉnh (thành phố), gần 10 nghìn cựu chiến binh giữ chức trưởng (phó) cơ quan quân sự xã, phường; gần 20 vạn cựu chiến binh là tổ trưởng dân phòng, tổ an ninh nhân dân".

Luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự cường giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống... Tham gia tích cực, có hiệu quả vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước. Vì vậy, Hội đã khuyến khích hội viên xây dựng các trang trại, thành lập các hợp tác xã, tổ hợp tác; thành lập các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đa ngành nghề. Đến năm 2016, đã có 7.720 doanh nghiệp vừa và nhỏ, 1.392 hợp tác xã, 2.653 tổ hợp tác, 74.795 trang trại, gia trại do cựu chiến binh làm chủ. Nhiều doanh nghiệp có mức doanh thu hằng năm từ hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng; có doanh nghiệp đạt hàng nghìn tỷ đồng/năm. Nhiều sản phẩm của các doanh nghiệp cựu chiến binh có chất lượng cao, được người tiêu dùng tin tưởng; một số sản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, xây dựng được thương hiệu ở trong nước và thị trường quốc tế. Thông qua đó, tạo việc làm cho 5.254.540 lao động là cựu chiến binh, cựu quân nhân, gia đình chính sách và con em họ; giúp gia đình hội viên tăng thu nhập, nâng cao đời sống. Sau nhiều năm phấn đấu, đến năm 2016, về cơ bản hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam không còn hộ đói, hộ nghèo giảm còn 3,98%.

Đồng thời, các cấp Hội và hội viên cựu chiến binh Việt Nam còn tích cực tham gia vào các cuộc vận động, chương trình mục tiêu quốc gia, các phong trào như: phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; phong trào vì an ninh Tổ quốc; phòng, chống tội phạm, ma túy, mại dâm; phong trào cựu chiến binh tham gia giữ gìn trật tự, an toàn giao thông... Đặc biệt, thực hiện cuộc vận động "cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" với nhiều hội viên cựu chiến binh tự nguyện hiến hàng ngàn m2 đất làm các công trình dân sinh, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn...

Hội Cựu chiến binh Việt Nam còn tham gia vào các hoạt động ủng hộ "Quỹ vì người nghèo", "Quỹ xóa nhà dột nát", "Quỹ Khuyến học khuyến tài", "Quỹ nghĩa tình đồng đội"; làm nhà tình nghĩa, ủng hộ nạn nhân chất độc da cam/dioxin, giúp nhân dân và cựu chiến binh bị bão lũ, thiên tai, v.v.. Trong dịp kỷ niệm 70 năm Ngày thương binh - liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2017), với truyền thống, đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc, nhằm tri ân sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ, thương bệnh binh đối với Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh trong cả nước phối hợp cùng các đoàn thể tổ chức thăm, tặng quà những gia đình có công với cách mạng. Đồng thời, Hội Cựu chiến binh còn huy động mọi nguồn lực trong xã hội tham gia tôn tạo, nâng cấp nhiều nghĩa trang liệt sĩ trên cả nước. Việc làm đầy ý nghĩa và nhân văn đó được đông đảo các tầng lớp nhân dân trong cả nước hưởng ứng và tham gia tích cực. Đây là việc làm thiết thực, góp phần vào sự thành công của Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thương binh - liệt sĩ.

 Thấm nhuần Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết", những người thanh niên ưu tú của thời chống Mỹ nói chung, trong những ngày tháng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nói riêng đã luôn phối hợp chặt chẽ với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tích cực tham gia vào việc giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ, nhiều hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam là những nhân chứng lịch sử đã tham gia viết nhiều sách, báo, tài liệu, phim ảnh... về những chiến công hào hùng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhiều hội viên còn là những tuyên truyền viên xuất sắc, tổ chức nói chuyện chuyên đề, nói chuyện lịch sử chiến tranh... trong đó có sự kiện Xuân Mậu Thân 1968 cho nhiều cơ quan đơn vị nhân ngày kỷ niệm chiến thắng hằng năm. Với những hoạt động này, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc giáo dục ý chí, bản lĩnh cho thế hệ trẻ hôm nay. Từ đây, nhiều hoạt động có ý nghĩa và hiệu quả được tổ chức, Trung ương Hội Cựu chiến binh và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã ký kết và tổ chức thực hiện những chương trình phối hợp như: "Tăng cường bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp, xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" giai đoạn (2012 - 2017).

Cùng với đó, công tác bồi dưỡng, giáo dục thanh niên ngày càng được đổi mới về nội dung, hình thức và phương pháp, vừa phù hợp với tâm lý, sở thích của thế hệ trẻ, vừa gắn với các phong trào, chương trình của Đoàn, như "Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội bảo vệ Tổ quốc", "Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp", "Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Việt Nam"... các cấp Hội trực tiếp tham mưu cho cấp ủy trong việc phối hợp xây dựng tổ chức đoàn cơ sở theo phương châm "Ở đâu có tổ chức Hội Cựu chiến binh vững mạnh, ở đó có tổ chức đoàn, phong trào thanh, thiếu nhi tốt". Thông qua hoạt động thực tiễn hàng vạn đoàn viên ưu tú đã được bồi dưỡng và giới thiệu kết nạp Đảng; cán bộ Hội tích cực động viên thanh niên lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự; tham gia quản lý, giáo dục thanh - thiếu niên hư tại địa phương... góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Hội đối với đoàn viên thanh niên.

Phát huy tinh thần và truyền thống của những người lính năm xưa đã tham gia chiến đấu trong chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc nói chung, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nói riêng, trong chặng đường 28 năm qua (1989-2017), hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam mỗi người một hoàn cảnh, một lối sống, một phong cách nhưng tất cả tạo nên một diện mạo chung, một vẻ đẹp chung của "Bộ đội Cụ Hồ" khi trở về với đời thường. Các hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam - những người đã chiến đấu quên mình để làm nên những chiến công oanh liệt Xuân Mậu Thân 1968, tiến công chiến lược 1972 và Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975... vẫn phát huy bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp của người lính năm xưa, nỗ lực phấn đấu, đẩy mạnh phong trào thi đua "Cựu chiến binh gương mẫu", phát huy truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" "Trung thành - Đoàn kết - Gương mẫu - Đổi mới" cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ VI của Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4370



« Trả lời #96 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2020, 04:02:19 pm »

MỐI QUAN HỆ GIỮA MỤC TIÊU - QUYẾT TÂM - THỰC LỰC
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968



Trung tướng, PGS.TS. TRẦN VIỆT KHOA
Giám đốc Học viện Quốc phòng


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta phải đương đầu với một đối thủ có tiềm lực kinh tế, quân sự và khoa học kỹ thuật mạnh hơn. Để đánh thắng một kẻ thù như vậy, Đảng ta nhận thấy rằng ta không chỉ thắng địch bằng ý chí và tinh thần yêu nước, mà còn phải thắng chúng bằng trí thông minh, sáng tạo, bằng sức mạnh tổng hợp của cả nước kết hợp với sức mạnh của thời đại, giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của ta (khi đó được đề ra là cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa) được diễn ra trong bối cảnh Mỹ đã "leo" đến những "nấc thang cao nhất" trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Trên 50 vạn quân Mỹ và quân chư hầu đã được huy động đến chiến trường miền Nam, cỗ máy chiến tranh của nước Mỹ đã được huy động đến mức tối đa. Trước đó, trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, Mỹ đã tiến hành hai cuộc phản công chiến lược nhưng kết quả thu được lại rất tồi tệ, quân viễn chinh Mỹ ngày càng bị sa lầy và chịu nhiều tổn thất cả về sinh lực và các phương tiện chiến tranh. Thông tin về cuộc chiến ở Việt Nam đã trở thành những tin nóng hổi và nhạy cảm trên các phương tiện truyền thông của nước Mỹ và các nước khác trên thế giới. Nền kinh tế Mỹ bước vào suy thoái, nước Mỹ bị chia rẽ nghiêm trọng. Nội bộ trong giới cầm quyền Mỹ trở nên lục đục, uy tín của nước Mỹ trên thế giới bị giảm sút nghiêm trọng. Đó là tình hình của phía Mỹ trước khi ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968.

Về phía ta, từ khi trực tiếp đương đầu với quân đội viễn chinh Mỹ, nhất là những cuộc đọ sức trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 đã khẳng định: chúng ta hoàn toàn có thể đánh thắng quân đội viễn chinh Mỹ và quân đội đồng minh. Thực tiễn chiến trường cho thấy, quân và dân ta càng đánh càng mạnh, càng thắng và nắm quyền chủ động, đẩy địch lún sâu vào thế bị động phòng ngự trên khắp các chiến trường. Cuộc kháng chiến chính nghĩa của ta được các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới đồng tình, ủng hộ. Tuy vậy, ta cũng nhận thấy rằng với cách đánh tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch ở quy mô nhỏ, cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc sẽ phải diễn ra lâu dài và gian khổ. Mỹ lại đang có nguy cơ bị thất bại trong chiến lược "chiến tranh cục bộ", đang bị động, lúng túng về chiến lược, chiến thuật. Một thất bại về quân sự đối với Mỹ lúc này sẽ có tác động mạnh đến tình hình chính trị của nước Mỹ vì đây là năm bầu cử tổng thống Mỹ (11-1968). Trong chương trình tranh cử, các ứng cử viên tổng thống của nước Mỹ đều lấy việc "chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam" làm một trong những chủ đề chính để vận động tranh cử. Vì vậy, thực tiễn đặt ra đối với Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta là phải tìm ra cách đánh khác sáng tạo, táo bạo hơn nữa nhằm tạo ra cú sốc lớn đối với Mỹ, thông qua đó đập tan ý chí xâm lược của tên đế quốc đầu sỏ. Ý đồ chiến lược đó dần được hình thành và trở thành quyết sách của Đảng ta. Bộ Chính trị đã họp (tháng 10 và 12-1967) và sau đó Ban Chấp trung ương Đảng (khóa III) đã họp Hội nghị lần thứ 14 (1-1968), ra nghị quyết lịch sử, quyết định: thực hiện cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa để chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định.

Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, quân và dân miền Nam bất ngờ, đồng loạt tiến công kết hợp với nổi dậy ở 4 thành phố (trọng tâm là Sài Gòn - Gia Định và Huế), 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn, trong đó các cơ quan đầu não (Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Hải quân, Tổng nha Cảnh sát, Đài Phát thanh Sài Gòn), các mục tiêu quan trọng như: căn cứ hậu cần, sân bay, bến cảng, nhiều Sở chỉ huy cấp quân khu, quân đoàn, sư đoàn đều bị ta tiến công. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy kéo dài tới tận cuối tháng 9-1968 mới kết thúc. Ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm chủ nhiều nơi với thời gian dài ngắn khác nhau. Quân và dân ta "đã loại khỏi vòng chiến đấu 630.000 tên địch, tiêu diệt và đánh thiệt hại 1 lữ đoàn, 7 trung đoàn, chiến đoàn, tiểu đoàn bộ binh, 18 chi đoàn thiết giáp, 13.000 xe quân sự, 1.000 tàu xuồng chiến đấu, 700 kho đạn, diệt, bức hàng, bức rút 15.000 đồn bốt, chi khu" . Giờ đây, sau 50 năm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, chúng ta có thể thấy rõ hơn nhiều vấn đề:

Một là, cần khẳng định thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 là vô cùng to lớn, đạt được mục tiêu đã đề ra.

Để khẳng định điều này, chúng ta cần phân tích sự tác động của sự kiện năm 1968 trên chiến trường miền Nam đến các phía: phía ta, phía kẻ thù.

Về phía ta, sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ta đã cơ bản đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của kẻ thù (trước đó ta đã đánh bại chiến lược "chiến tranh một phía" và chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ); đã mở ra khả năng "đánh cho Mỹ cút" để tiến tới "đánh cho ngụy nhào"; Mỹ chấp nhận ngồi vào cùng ta đàm phán cũng có nghĩa là cuộc kháng chiến của dân tộc ta được chuyển sang giai đoạn mới: giai đoạn "đánh và đàm"; Việt Nam trở thành niềm tin của các dân tộc bị áp bức và trở thành lương tri của thời đại bởi đã dám đánh và đang thắng một kẻ thù mạnh nhất phe đế quốc - một tên "bạo chúa" của thời đại. Về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, Bộ Chính trị đã kết luận: "Tết Mậu Thân thắng rất lớn, mà nhất là đánh bại được ý chí xâm lược của Mỹ, tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh".

Về phía kẻ thù, ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ đã bị lay chuyển mạnh mẽ, nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc. Các đảng phái và nhân dân tiến bộ Mỹ ngày càng nhận rõ thực chất cuộc chiến tranh ở Việt Nam, họ cảm thấy bị chính quyền Giônxơn lừa dối, phong trào phản đối chiến tranh tại Mỹ lan rộng. Tin tức về cuộc chiến ở Việt Nam trở thành những thông tin nóng hổi và cực kỳ nhạy cảm đối với dư luận Mỹ. Vì vậy, có thể nói, cuộc chiến tranh giữa Mỹ và ta đã được chuyển thành cuộc "chiến tranh trong nội bộ nước Mỹ", đặc biệt là ngay những kẻ hiếu chiến nhất trong giới cầm quyền Mỹ cũng đã phải thừa nhận là khó có thể giành thắng lợi bằng quân sự ở miền Nam Việt Nam, trong khi đó, về cơ bản là Mỹ đã tiến hành tới những nỗ lực lớn nhất về mặt quân sự. Tổng thống Giônxơn cùng ê kíp lãnh đạo của nước Mỹ bị một cú sốc buộc phải xuống thang, chấp nhận đàm phán với ta. Nếu như trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, việc đàm phán với ta bị những kẻ cầm đầu bộ máy chiến tranh của nước Mỹ ngạo mạn cho rằng "là điều sỉ nhục đối với Mỹ", thì nay chúng đã phải chịu chấp nhận điều đó. Bộ máy chiến tranh của nước Mỹ bị rơi vào khủng hoảng (Giônxơn phải thay thế Bộ trưởng Bộ Quốc phòng MắcNamara bằng một nhân vật mới là Clípphớt và cách chức Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam là Oétmolen, đưa Abram lên thay); Giônxơn tuyên bố không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ thứ hai. Chiến lược "chiến tranh cục bộ" đứng trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn; sức mạnh và uy tín của Mỹ trước thế giới bị thử thách nghiêm trọng... Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã đặt Tổng thống Giônxơn trước triển vọng nếu muốn tiếp tục chiến tranh phải tiến hành động viên quân ở quy mô lớn và đặt nước Mỹ về mặt kinh tế vào tình thế nửa chiến tranh, điều mà trong những năm gần đó (trước sự kiện 1968) Giônxơn hết sức tránh. Nhà sử học Mỹ Gabrien Côncô đã viết: "Tết trở thành điểm ngoặt trong tính toán của chính quyền Mỹ... Tết cho thấy rằng đã đến lúc phải tập trung vào những hạn chế của chế độ. Nếu theo đuổi một quy mô leo thang với mức cao hơn nữa thì sẽ gây thiệt hại không kể xiết cho vị trí kinh tế của Mỹ ở trong nước cũng như ở nước ngoài, cho sức mạnh quân sự của Mỹ ở những nơi khác và cho cả đời sống chính trị của Mỹ nữa. Đó là một cái giá mà ít ai nghiêm chỉnh muốn trả".

Hai là, cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa đạt được mục tiêu đã đề ra bằng quyết tâm cao và sự nỗ lực lớn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Để kết thúc chiến tranh, giành thắng lợi cuối cùng, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định: ngoài việc liên tục tiến công đẩy đối phương vào thế thua, thế bị động, trong điều hành và chỉ đạo chiến tranh, Bộ Chỉ huy tối cao cần phải có quyết tâm cao, động viên nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thực hiện những "đòn đánh đủ lực" nhằm tạo ra sự thay đổi lớn trong so sánh cục diện của chiến trường hoặc của cả cuộc chiến tranh, để cách mạng tiếp tục tiến lên hoặc kết thúc chiến tranh giành thắng lợi hoàn toàn.

Những đòn đánh có thể là những cuộc tập kích chiến lược, hay những cuộc tiến công (phản công) chiến lược. Những đòn đánh được tiến hành gối đầu hoặc đồng thời trên một hoặc một số hướng hoặc trên tất cả các hướng chiến lược. Đánh vào mục tiêu càng hiểm và có kết quả, càng tạo nên bất ngờ và tác động càng lớn. Các đòn đánh quân sự cần được phối hợp nhịp nhàng với các đòn đánh trên các lĩnh vực khác, nhất là tổ chức quần chúng nổi dậy và trên lĩnh vực đấu tranh ngoại giao.

Quyết tâm cao thể hiện ở chỗ, trong điều kiện cụ thể của tình hình thế giới, khu vực và đặc biệt là so sánh lực lượng giữa hai bên tham chiến trên chiến trường lúc bấy giờ, tuy thực lực của ta còn có hạn (chưa vượt trội so với kẻ thù), nhưng với quyết tâm cao - ý chí sắt đá, với chiến lược tiến công và sự thông minh, sáng tạo, Đảng ta đã động viên được sự nỗ lực cao của cả nước, chuẩn bị kỹ lưỡng, bí mật, tạo và nắm thời cơ... giành lấy thắng lợi quan trọng tạo ra bước ngoặt để chuyển giai đoạn của cuộc chiến. Đó là bản lĩnh, lòng dũng cảm, sự nhạy bén, trách nhiệm chính trị cao, thể hiện rất rõ ý chí cách mạng tiến công của Đảng ta. Đảng ta đã không "tự giới hạn tư duy" của mình trong "khuôn khổ" của những cuộc chiến tranh truyền thống, mà đã có tư duy một cách táo bạo, trên cơ sở có sự tính toán khách quan, tỉnh táo và khoa học.

Quyết tâm cao đặc biệt được thể hiện ở việc ta lựa chọn hướng, mục tiêu chủ yếu và xác định cách đánh của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Hướng chủ yếu được ta lựa chọn là các đô thị, mà Sài Gòn - Gia Định, Huế và Đà Nẵng là ba trọng điểm. Đây là nơi địch tuy còn mạnh, nhưng lại có nhiều sơ hở, cũng là nơi đặc biệt nhạy cảm. Đánh vào đây mà có kết quả sẽ tạo ra sự tác động lớn cục diện chiến trường. Nếu như trước đây ta thường chọn rừng núi làm hướng chủ yếu cho các hoạt động quân sự có quy mô lớn vì điều đó vừa phù hợp với khả năng, cách đánh và vũ khí, trang bị của ta, vừa hạn chế những mặt mạnh cơ bản của địch là khả năng cơ động, vũ khí, trang bị hiện đại hơn và khả năng bảo đảm tốt của chúng thì có thể nói việc chọn hướng chủ yếu là các đô thị lớn là sự lựa chọn đúng đắn và táo bạo, đánh vào nơi hiểm và sơ hở, nhạy cảm cao của đối phương. Mục tiêu chủ yếu không phải là các tập đoàn quân chủ lực của địch, mà là các cơ quan đầu não chiến tranh của Mỹ, ngụy, vừa diệt sinh lực vừa phá hủy phương tiện chiến tranh. Đây là chỗ hiểm yếu nhất, dễ chấn động nhất. Đó là sự lựa chọn hết sức sáng tạo có một không hai trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta và ở trên thế giới.

Có một số ý kiến cho rằng: khi đó, ta chọn hướng và mục tiêu chủ yếu như vậy là có sự phiêu lưu. Đây chỉ là ý kiến số ít và chúng ta cũng cần học cách tôn trọng để rồi xem xét các ý kiến có tính phản biện đó. Nhưng, kết quả và ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã khẳng định đó là quyết định sáng suốt, táo bạo, sáng tạo, nhưng có cơ sở vững chắc của Đảng ta. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và các cơ quan chiến lược có liên quan đã đánh giá đúng tình hình và tìm ra cách đánh mới. Qua nhiều hội nghị với một thời gian khá dài (hàng năm trời) để hình thành ý tưởng, sau đó được thống nhất và biến thành chủ trương (Nghị quyết lần thứ 14 của Ban Chấp hành Trung ương khóa III), Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương còn tranh thủ ý kiến của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, cán bộ chủ trì các chiến trường và mặt trận khác trên toàn miền Nam. Như vậy, đó là một chủ trương thống nhất được bàn bạc, trao đổi cặn kẽ, tỉ mỉ, có tính toán, cân nhắc, nên không thể nói đó là sự phiêu lưu được. Trong cuốn sách Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học đã đề cập: "Ta (chỉ Bộ Chính trị) cũng dự kiến ba khả năng: 1) Ta thắng lớn, buộc Mỹ phải chịu thua và nhận thương lượng với ta để kết thúc chiến tranh; 2) Ta giành được thắng lợi ở nhiều nơi nhưng địch vẫn giữ được nhiều vị trí quan trọng để tiếp tục chiến tranh; 3) Mỹ tăng thêm quân và dùng lục quân đánh ra miền Bắc... mở rộng chiến tranh ra cả Đông Dương". Như vậy, ta đã lường trước tình hình có thể diễn ra ở nhiều khả năng.

Về cách đánh, dựa trên phương châm tiến công quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng, nhưng ta chủ trương tiến hành trên một diện rộng ở cả ba vùng chiến lược, trên toàn chiến trường miền Nam, đó cũng là điểm khác so với các hoạt động quân sự trước đó. Lực lượng sử dụng đánh vào các mục tiêu chủ yếu trong nội đô cũng có sự khác biệt, là các đơn vị biệt động, đặc công và các tiểu đoàn mũi nhọn. Trước đó ta thống nhất với nước bạn Lào mở chiến dịch Nậm Bạc trên đất Lào và chủ động mở chiến dịch tiến công quy mô lớn ở mặt trận Đường 9 - Khe Sanh cùng với các hoạt động quân sự khác, rộng khắp, nhằm thu hút, giam chân quân cơ động Mỹ, ngụy ở vòng ngoài, tạo điều kiện cho hướng chủ yếu giành thắng lợi. Đây là cách đánh, quy mô lực lượng được sử dụng và cách tổ chức lực lượng chưa có tiền lệ trong các cuộc chiến tranh của dân tộc ta.

Ba là, đánh giá đúng tình hình luôn là một trong những vấn đề rất khó, nhưng cực kỳ quan trọng để chỉ đạo, điều hành chiến tranh, về cơ bản ta đã có sự đánh giá đúng.

Đánh giá đúng tình hình (trong đó có đánh giá về kẻ thù) luôn là vấn đề cực kỳ quan trọng và cực khó. Cực kỳ quan trọng bởi đó là cơ sở để đưa ra các chủ trương, đường lối, quyết sách, hạ quyết tâm và tiến hành các biện pháp chiến lược trong quá trình điều hành, chỉ đạo chiến tranh. Đánh giá đúng tình hình còn là cơ sở để xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng, lòng yêu nước, ý chí căm thù giặc, tinh thần vượt mọi khó khăn, gian khổ cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, cũng như làm công tác chuẩn bị về mọi mặt cho các hoạt động chiến tranh. Cực khó bởi kẻ thù luôn tìm cách che giấu ý đồ, tiến hành các hoạt động một cách bí mật, đồng thời lại tiến hành nhiều hoạt động nghi binh đánh lừa ta.

Về nội dung, Đảng ta đã đánh giá toàn diện trên tất cả mọi lĩnh vực và khía cạnh (quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ; thực tế trên chiến trường, gắn với tình hình của nước Mỹ khi đó và đặt trong tình hình, xu hướng vận động, phát triển ở khu vực và trên thế giới), trong đó lấy so sánh thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường làm nội dung chính để làm căn cứ.

Về phương pháp, ta đã thực hiện một cách khách quan, toàn diện, khoa học, cách mạng, tỉ mỉ và biện chứng. Đánh giá về đối phương trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, về cơ bản ta đã đánh giá đúng. Nhờ vậy mà ta đã giành được những thắng lợi hết sức to lớn. Tuy nhiên, ở một số thời điểm cụ thể ta còn có sai sót về vấn đề này, nhất là sau đợt 1 (tiến công trong dịp Tết Mậu Thân). Trong cuốn sách Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học có ghi: "Ta cũng mắc một số khuyết điểm lớn trong việc đánh giá tình hình, đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó; nhất là sau đợt tiến công Tết Mậu Thân, ta không kịp thời kiểm điểm rút kinh nghiệm ngay để chuyển hướng kịp thời; ta chậm thấy những cố gắng mới của địch và những khó khăn lúc đó của ta..." . Trong cuốn sách Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), khi đề cập đến vấn đề này cũng ghi: "Nhưng sau đó địch chuyển sang thực hiện biện pháp "quét và giữ". Ta đánh giá chưa đúng âm mưu và tính chất thâm độc của địch, chuyển hướng chiến lược chậm nên bị tổn thất lớn, thế trận chiến lược bị thụt lùi một cách rất nghiêm trọng. Đây chính là thời kỳ khó khăn, ác liệt và tổn thất nặng nề cho cách mạng miền Nam".

Tuy nhiên, ở góc độ nghiên cứu, tổng kết nghệ thuật quân sự, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề sau về những hạn chế của ta.

Thứ nhất, bàn về mối quan hệ giữa thực lực và yêu cầu đặt ra. Thực lực của cách mạng Việt Nam khi đó còn có hạn, nhưng Đảng ta đã động viên được nỗ lực rất cao của cả nước để hy vọng giành được thắng lợi quyết định, song thực tế chưa đạt được như mong muốn. Điều đó cũng có nghĩa là ta đặt ra yêu cầu cao hơn thực lực của ta. Thực lực của ta chưa cho phép giành thắng lợi quyết định mà còn cần phải trải qua những nỗ lực tiếp theo và có thời gian để tiếp tục chuyển hóa thế trận cũng như lực lượng, tạo thời cơ mới có lợi hơn... Điều này được thực tiễn của cách mạng nước ta chứng minh (ta còn cần tới thời gian là 7 năm nữa, với những nỗ lực cũng rất cao, đặc biệt còn phải tiến hành tới hai "keo" là hai cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và 1975, ta mới "đánh cho Mỹ cút" và "đánh cho ngụy nhào"). Việc chưa nên đặt vấn đề giành thắng lợi hoàn toàn có một số lý do sau:

Một là, lực lượng quân sự của Mỹ, chư hầu và ngụy quân trên chiến trường miền Nam còn trên 1 triệu tên với đầy đủ vũ khí, trang bị hiện đại, được tổ chức chặt chẽ, tuy chúng có bị động về chiến lược và tinh thần có hoang mang, xuống thấp, nhưng chưa phải đã bị tê liệt. Chúng vẫn chiếm giữ nhiều địa bàn quan trọng. Trong lịch sử chiến tranh trên thế giới, từ xưa đến nay, cũng chưa có tiền lệ nào xảy ra khi lực lượng quân sự trên chiến trường chưa bị đánh bại mà đối phương có thể giành được thắng lợi tương tự như điều kiện thực tiễn trên chiến trường miền Nam của ta trong năm 1968.

Hai là, bộ máy kìm kẹp của chúng (ngụy quyền) là cả một hệ thống được thiết lập từ trung ương đến cơ sở chưa thể sụp đổ ngay, bởi chúng còn được sự hỗ trợ trực tiếp từ lực lượng quân sự của Mỹ, quân chư hầu và ngụy quân. Bộ máy này cũng có kinh nghiệm trong đối phó với các hoạt động của ta và cơ bản vẫn giữ được hiệu lực trong quản lý các vùng chúng chiếm giữ. Trong bộ máy đó, có quá nhiều những tên tay sai cực kỳ phản động, có nhiều nợ máu đối với cách mạng, vì vậy chúng sẽ điên cuồng chống phá cho đến cùng. Về vấn đề này, sau khi tổng kết ta đã nhận định: "Ta mong muốn cùng một quá trình, bằng nhiều đợt tiến công và nổi dậy liên tục, giành toàn thắng, đánh bại cùng một lúc cả hai đối tượng (Mỹ và ngụy) là không thể làm được".

Thứ hai, bàn về sự cần thiết chuyển hướng khi thời cơ thuận lợi đã qua. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 được diễn ra qua 3 đợt: đợt 1 từ 30-1 đến 25-2; đợt 2 từ 5-5 đến 25-6 và đợt 3 từ 17-8 đến 30-9-1968". Có thể nói, hết đợt 1, thời cơ để ta đánh vào các đô thị đã trôi qua, tính bất ngờ không còn nữa. Địch tiến hành nhiều biện pháp và thủ đoạn mới, củng cố và tổ chức lại lực lượng, thực hành phản công ta ở cả thành thị và nông thôn; lực lượng ta có tổn thất, sự bổ sung là không đáng kể, nhiều cơ sở của ta đã bị lộ, một số cán bộ bị địch bắt, không chịu được những đòn tra tấn dã man của kẻ thù đã khai báo những thông tin họ nắm được... Nhưng, ta đánh giá tình hình chưa đầy đủ, chưa khách quan và có sự nóng vội muốn giành thắng lợi lớn (quyết định), nên vẫn đưa ra chủ trương trong đợt 2 tiếp tục đánh vào các đô thị là không hợp lý. Lúc này, ta cần phải chuyển hướng, giữ vững các vùng nông thôn. Trong cuốn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, tập V có ghi: "sau đợt 1, thời cơ đã mất, ta vẫn chủ trương tiếp tục tổng tiến công vào thành phố, thị xã, để hở mặt trận nông thôn. Đáng lẽ sau đợt Tết Mậu Thân, ta kịp thời chuyển hướng về mặt trận nông thôn... thì thắng lợi của ta sẽ lớn hơn và hạn chế được tổn thất" . Trong sách Đại cương Lịch sử Việt Nam cũng đưa ra nhận định: không điều chỉnh kế hoạch rút khỏi thành phố sau đợt 1 về giữ vùng nông thôn của ta để bảo toàn và củng cố lực lượng ta.

Thứ ba, bàn về phương thức tiến hành. Ta đề ra là tổng công kích và tổng khởi nghĩa, nhưng kết quả thực tiễn trên chiến trường đòi hỏi ta phải xem xét lại phương thức đề ra như vậy có phù hợp không? Thực tế chỉ mới có vế thứ nhất (các đòn đánh quân sự - tổng công kích) đã diễn ra. Còn các hoạt động nổi dậy (tổng khởi nghĩa) có diễn ra, nhưng đạt đến quy mô và ý nghĩa của tổng khởi nghĩa là chưa, nhất là ở các thành phố lớn. Có một quy luật mang tính phổ biến là: khi chiến tranh đi đến giai đoạn cuối, thì các đòn đánh quân sự sẽ thường mang ý nghĩa quyết định. Với chúng ta, các hoạt động nổi dậy của quần chúng, chúng ta không bao giờ coi thường, nhưng nổi dậy của quần chúng phải có những điều kiện khách quan, chủ quan. Các đòn đánh quân sự cần đi trước một bước để tạo điều kiện, thời cơ trực tiếp cho sự nổi dậy (tổng khởi nghĩa) của quần chúng. Nhưng khi đó ở miền Nam, lực lượng quân sự và hệ thống chính quyền Sài Gòn (đã được trình bày ở trên) còn khá mạnh. Các điều kiện về thời cơ cho tổng khởi nghĩa chưa được hội tụ (chuẩn bị) đầy đủ, do đó việc đề ra tổng khởi nghĩa là chưa phù hợp. Về điều này, trong cuốn sách Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) đã chỉ rõ: "Mục tiêu khởi nghĩa ở địa phương không đạt. Trên thực tế không có khởi nghĩa".

Tuy vậy, với quyết tâm cao, nỗ lực lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã đạt mục tiêu đề ra, tạo bước ngoặt quan trọng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4370



« Trả lời #97 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2020, 04:55:04 pm »

TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968
VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG "THẾ TRẬN LÒNG DÂN" TRONG KHU VỰC PHÒNG THỦ
TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 7



Trung tướng, ThS. PHẠM VĂN DỸ
Chính ủy Quân khu 7


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm chấn động Lầu Năm Góc, rung chuyển cả nước Mỹ, khởi đầu một quá trình đi xuống về chiến lược trong chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, tạo ra bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này, quân và dân ta ở miền Nam đã đánh bại về cơ bản chiến lược "chiến tranh cục bộ" và ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Thắng lợi to lớn của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã cho thấy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Đó là sức mạnh của toàn dân đánh giặc, là sức mạnh chính trị - tinh thần góp phần cùng sức mạnh quân sự; là sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân trên nền tảng sức mạnh của "thế trận lòng dân".

Ngay những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là sau phong trào Đồng khởi năm 1960, vai trò của lực lượng nổi dậy được Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy Miền rất chú trọng. Tháng 10-1967, Trung ương Cục ra Nghị quyết về tổng công kích, tổng khởi nghĩa trên toàn chiến trường B2. Tháng 1-1968, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 của Trung ương Đảng xác định: "Cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang trên các chiến trường chính và sự nổi dậy của nhân dân ở các thành thị lớn là hai mũi tiến công chính kết hợp chặt chẽ với nhau, trợ lực lẫn nhau và thúc đẩy toàn bộ cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa khắp cả ba vùng thành thị, nông thôn đồng bằng và rừng núi. Đặc biệt, cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân ở các thành thị lớn là mũi nhọn thọc vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng quyết định đối với toàn bộ chiến trường và toàn cuộc chiến tranh". Tại khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định, ta đã chỉ đạo xây dựng được nhiều lõm căn cứ ở vùng ven và trong nội đô Sài Gòn. Tuy nhiên, trong một thời gian ngắn, để xây dựng lực lượng chính trị tại chỗ đủ khả năng nổi dậy kết hợp với lực lượng vũ trang tiến công địch giành chính quyền là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Nhằm khắc phục khó khăn này, Trung ương Cục, Quân ủy Miền đã thành lập chỉ huy lực lượng nổi dậy bên cạnh chỉ huy tiến công quân sự. Về phương thức xây dựng lực lượng chính trị, cơ sở cách mạng trong vùng địch kiểm soát, Quân ủy Miền chỉ đạo: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động xây dựng các cơ sở cách mạng, hình thành bàn đạp trong thành phố, ở những nơi hiểm yếu, đô thị, tiếp giáp các mục tiêu chiến lược của địch, làm nơi trinh sát nắm địch, nơi cất giấu vũ khí trang bị, điểm trú ém quân, điểm xuất phát của các đơn vị vũ trang tiến công địch; phát triển lực lượng trong các tổ chức quần chúng cách mạng, tuyên truyền giáo dục, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu và niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, động viên tinh thần sẵn sàng "xuống đường" nổi dậy kết hợp với lực lượng vũ trang tiến công địch giành chính quyền về tay nhân dân; chuẩn bị lực lượng, vật chất sẵn sàng phục vụ chiến đấu và tham gia chiến đấu khi có yêu cầu.

Do có sự chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất, kế thừa những thành công của "vành đai diệt Mỹ" và kinh nghiệm trong phong trào Đồng khởi 1960, chỉ sau một thời gian ngắn, trên toàn chiến trường Đông Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, một đội quân chính trị hùng hậu đã sẵn sàng tham gia cuộc nổi dậy giành chính quyền ở khắp các vùng từ nông thôn đến thành thị. Khí thế nổi dậy ở chiến trường trọng điểm Đông Nam Bộ, đặc biệt là tại Sài Gòn - Gia Định, công tác xây dựng lực lượng chính trị, tuyên truyền vận động quần chúng ủng hộ cách mạng, tham gia nổi dậy phá ách kìm kẹp được các cấp ủy đảng, chỉ huy các phân khu quan tâm ngang với công tác chuẩn bị lực lượng quân sự. Đến trước khi phát lệnh tổng tiến công và nổi dậy, tại chiến trường Đông Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, ta đã xây dựng được nhiều lõm căn cứ vùng ven. Điển hình là: Hưng Long (Cần Giuộc), Long Cang, Long Định (Cần Đước), Vườn Thơm - Bà Vụ, Vĩnh Lộc, Tân Nhựt (Bình Chánh), Thạnh Lộc, An Phú Đông (Hóc Môn), vùng Bưng 6 xã (Thủ Đức), Phú Xuân (Nhà Bè), Hóc Bà Thức (Biên Hòa), Lê Hồng Phong (Bình Thuận)... Các lõm này vừa là địa điểm tập kết lực lượng, vũ khí, lương thực, vật chất phục vụ cho các trận đánh; đồng thời cũng là địa điểm tập trung các tổ chức quần chúng cách mạng ở vùng ven, sẵn sàng phối hợp với lực lượng vũ trang tiến công vào nội đô. Bằng nhiều ngả đường, với nhiều cách ngụy trang độc đáo, bằng đủ các loại phương tiện và hình thức vận chuyển, quần chúng cách mạng của các tỉnh Long An, Hậu Nghĩa, Kiến Tường, Biên Hòa tổ chức đưa hàng trăm tấn vũ khí, lương thực, vật chất đến các lõm căn cứ chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn - Gia Định.

Cùng thời điểm cuối năm 1967, trong nội đô Sài Gòn, các đơn vị bảo đảm đã xây dựng được 19 lõm chính trị bao gồm 325 gia đình, có 11 cơ sở ém vũ khí và phương tiện di chuyển, 13 cơ sở khác có hầm chứa vũ khí. Tiêu biểu là các lõm ở các ấp Bác Ái, cầu Bông (Gia Định), khu lao động Bàn Cờ (Quận 3), khu Xóm Chùa, Tân Định (Quận 1)... Một số cơ sở có hầm chứa vũ khí phục vụ các trận đánh quan trọng như: hầm 287/70 Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3) do Trần Văn Lai (Mai Hồng Quế) xây dựng; hầm 438/58 đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách mạng Tháng Tám) do vợ chồng Lê Tấn Quốc (Bảy rau muống) xây dựng; hầm 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm (Quận 1) cách Đài Phát thanh Sài Gòn không đầy 100 mét, do Trần Phú Cương (Năm Mộc) xây dựng... Ngoài ra, còn có rất nhiều cơ sở cách mạng sau khi được tuyên truyền vận động đã tình nguyện đào hầm bí mật cất giấu vũ khí, làm nơi trú ém quân ngay trong gia đình mình, trước sự lục soát, giám sát, kìm kẹp rất gắt gao của kẻ thù. Nhờ sự đùm bọc, cưu mang của các cơ sở trong nội đô, 11 đội biệt động thành và 50 đội biệt động cấp quận vừa thành lập có những địa điểm trú ém quân, cất giấu vũ khí an toàn ngay sát căn cứ địch.

Cùng với nhiệm vụ xây dựng lõm căn cứ, tạo bàn đạp tiến công, công tác xây dựng lực lượng quần chúng cách mạng phối hợp cùng lực lượng vũ trang phá ách kìm kẹp, giành chính quyền tại miền Đông Nam Bộ đã được Trung ương Cục, Quân ủy Miền rất quan tâm. Để chỉ đạo kịp thời việc phát triển lực lượng và tổ chức hoạt động của lực lượng quần chúng cách mạng, Quân ủy Miền đã phân công cán bộ phụ trách khối khởi nghĩa và nổi dậy từ cấp Miền xuống đến cấp tỉnh. Lực lượng nổi dậy hướng Sài Gòn - Gia Định do đồng chí Võ Văn Kiệt phụ trách chung. Trách nhiệm chỉ đạo các khối thuộc về các quận ủy, huyện ủy, Ban Công vận. Thành Đoàn có nhiệm vụ tập hợp thanh niên nội đô, gồm 3 bộ phận: lực lượng vũ trang Thành Đoàn (đội biệt động) đánh các mục tiêu quan trọng; lực lượng chính trị vũ trang có nhiệm vụ tuyên truyền vũ trang phát động quần chúng nổi dậy; lực lượng chính trị công khai giương cao ngọn cờ hòa bình, trung lập để tập hợp tầng lớp trí thức, nhân sĩ, chức sắc tôn giáo. Ban Phụ vận Thành ủy đã bố trí những cán bộ có kinh nghiệm gây dựng cơ sở nòng cốt, chuẩn bị địa điểm trú ém quân tại chỗ và bảo đảm hành lang cho các đơn vị bộ đội tiến vào nội đô; chuẩn bị cờ, khẩu hiệu, biểu ngữ, truyền đơn cho cuộc nổi dậy. Những lõm chính trị phát triển nhanh trong nhiều khu lao động: Chợ Thiếc, Bàn Cờ, Vườn Chuối, Hòa Hưng, Vườn Lài, Ngã Bảy...

Tại Sài Gòn, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Phụ vận, Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng, những đội quân tóc dài từ làng xóm ven đô đã kéo vào thành phố, thị xã, quận lỵ. Sáng 29 Tết âm lịch, nhiều nữ chiến sĩ trong lực lượng đấu tranh chính trị đóng giả là người đi chợ Tết để vào nội thành rồi ở lại. Lực lượng quần chúng ở các vùng nông thôn đã sẵn sàng. Cùng với phong trào phụ nữ, phong trào của trí thức, học sinh, sinh viên diễn ra rầm rộ. Ngày 22-1-1968, tại Trường tiểu học Hùng Vương, Liên hiệp giáo chức và phụ huynh học sinh Sài Gòn tổ chức buổi lễ "Cây mùa Xuân Mậu Thân", tập hợp hơn 7.000 người tham gia. Tại buổi lễ, học sinh treo bản đồ nước Việt Nam thống nhất, bất chấp quy định của chính quyền Sài Gòn. Ngày 26-1, tại Trường Quốc gia hành chính, Hội đồng đại diện sinh viên phối hợp với Tổng hội sinh viên tổ chức đêm văn nghệ "Mừng Tết Quang Trung", thu hút 12.000 sinh viên tham gia. Hàng vạn người vượt qua sự phong tỏa của cảnh sát, chính quyền, kéo về biểu dương lực lượng trong đêm hội. Xung quanh một sân khấu lớn với ý tưởng thiết kế cuộc hành quân thần tốc của vua Quang Trung, sinh viên hát vang các bài hát truyền thống cách mạng như "Lên đàng", "Thăng Long hành khúc", "Hội nghị Diên Hồng", "Hát cho dân tôi nghe"... Trong buổi lễ, sinh viên biểu thị tinh thần yêu nước và khí thế sôi sục trước ngày tổng tiến công, tạo động lực cho cuộc xuống đường của mọi tầng lớp quần chúng nhân dân toàn thành phố.

Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã nổ ra đồng loạt ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, nhưng quyết liệt nhất là ở Sài Gòn - Gia Định và Biên Hòa. Tại Sài Gòn - Gia Định, rạng sáng ngày 31-1 các mục tiêu chiến lược đầu não của địch gồm sân bay Tân Sơn Nhất, Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Đài Phát thanh Sài Gòn, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn... bị các đội biệt động và các đơn vị mũi nhọn của ta tiến công, đánh chiếm. Tại Biên Hòa, lực lượng Sư đoàn 5 và các đơn vị vũ trang tỉnh Biên Hòa đã tiến công vào sân bay Biên Hòa và nhiều mục tiêu quan trọng trong thành phố.

Cuộc tiến công bất ngờ, đồng loạt, dồn dập của ta trên 5 hướng vào Sài Gòn đã làm cho địch bị choáng váng. Tuy nhiên, do lực lượng quá chênh lệch và bị địch phản kích quyết liệt, nên chỉ sau vài giờ làm chủ, lực lượng biệt động của ta không còn giữ được mục tiêu. Các đơn vị tiến công vào sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hòa và các mục tiêu trong Sài Gòn đều phải trụ lại đánh địch phản kích. Sau thắng lợi ban đầu, các mũi tiến công quân sự bị tổn thất lớn. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho mũi tiến công chính trị (lực lượng nổi dậy) không bùng nổ. Tuy không có những cuộc nổi dậy xuống đường rầm rộ, nhưng trên tất cả các địa điểm xảy ra chiến sự, Quân giải phóng đều nhận được sự giúp đỡ của nhân dân. Ngay từ sáng 31-1-1968, mặc dù địch phản kích dữ dội nhưng hàng trăm đồng bào trong nội đô Sài Gòn vẫn tìm mọi cách tiếp tế, cứu chữa thương binh và chỉ đường cho các đơn vị thọc sâu của ta tiến công. Vùng ven đô, du kích Củ Chi, Hóc Môn đã tổ chức vũ trang tuyên truyền phá hàng loạt đồn bốt của địch dọc theo các tỉnh lộ 15, 8. Tại Biên Hòa, lực lượng tự vệ vũ trang phối hợp với đặc công của Sư đoàn 5 đánh vào Ty Cảnh sát và một số đồn bốt gây cho địch nhiều thiệt hại. Tại Phan Thiết, Đội biệt động 480 của thị xã tiến công vào khu Camp Esepic, Ty Cảnh sát; các tổ tuyên truyền phát loa kêu gọi nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ địa bàn.

Sau một ngày tiến công kết hợp trụ bám các mục tiêu đánh địch phản kích, đến chiều ngày 31-1-1968, hầu hết các đơn vị mũi nhọn của ta ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ phải rút ra khỏi các thành phố, thị xã. Trong thời điểm vô cùng gay go, ác liệt này, chính nhờ có sự giúp đỡ, cưu mang hết sức, hết lòng của quần chúng nhân dân, nên phần nào làm giảm đi những hy sinh, tổn thất cho các đơn vị. Mặc dù trong quá trình chiến đấu, phục vụ chiến đấu và tuyên truyền vận động cách mạng, nhiều gia đình cơ sở và quần chúng cách mạng đã chịu nhiều tổn thất (nhất là trong đợt 2, đợt 3), nhưng đóng góp của quần chúng nhân dân là rất to lớn, gây tiếng vang về chính trị ở trong nước và quốc tế. Chính hãng tin Pháp AFP, ngày 3-2-1968 đã phải thú nhận: "Sai lầm nghiêm trọng nhất của Cục Tình báo Mỹ chắc chắn ở chỗ không tin rằng Việt cộng có thể động viên nhiều người như thế và mở ra những cuộc tiến công phối hợp mạnh mẽ đến mức đó. Từ hai năm nay ở Mỹ người ta luôn khẳng định tinh thần Việt cộng đã lung lay lắm rồi!".

Trong cuộc Tổng tiến tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, "thế trận lòng dân" đã được tổ chức rộng khắp, có hiệu quả. Mặc dù thời điểm đó ở Sài Gòn, do nhiều nguyên nhân mà "chúng ta sử dụng chủ lực chỉ có một phần, còn phần lớn là đặc công và biệt động, không có nổi dậy khởi nghĩa của quần chúng". Nhưng sự tham gia giúp đỡ đông đảo, hăng hái của nhân dân đối với lực lượng biệt động, bộ đội trước, trong và sau chiến đấu... tự nó đã phản ánh sâu sắc sự chính nghĩa của cuộc kháng chiến và khát vọng về độc lập, tự do, thống nhất đất nước của quần chúng nhân dân. Ở đây, "thế trận lòng dân" không chỉ là chỗ dựa cho các đơn vị vũ trang của ta tiến công địch, mà còn trực tiếp gây cho đối phương những khó khăn to lớn ngay tại trung tâm đầu não của chúng, làm cho địch hoang mang, dao động, lúng túng...

Hiện tại và tương lai, để đối phó thắng lợi với chiến tranh xâm lược kiểu mới (nếu xảy ra), giải pháp cơ bản của chúng ta vẫn là "Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc" . Trong đó, việc chăm lo, củng cố "thế trận lòng dân" làm nền tảng để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc là yêu cầu cấp thiết và là nội dung cốt lõi.

Quá trình hội nhập đang mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng chứa đựng những thách thức khó lường. Tất cả đang đặt ra những yêu cầu mới, cả về nhận thức và hành động, trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Địa bàn Quân khu 7, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những mục tiêu trọng điểm của âm mưu "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, nơi đang tiềm ẩn không ít những nhân tố mất ổn định cả bên trong và bên ngoài. Đây là địa bàn đặc biệt nhạy cảm về chính trị. Mọi diễn biến xảy ra dù lớn hay nhỏ đều có tác động nhanh chóng ra phạm vi cả nước và trên thế giới.

Nhận thức rất rõ vấn đề đó, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu phối hợp với cấp ủy, chính quyền các cấp tăng cường xây dựng "thế trận lòng dân" - một trong những nhân tố quan trọng của thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng khối đoàn kết thống nhất, củng cố và giữ vững niềm tin, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đập tan mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. "Thế trận lòng dân" là sự phản ánh kết quả xây dựng cơ sở chính trị - xã hội của cả hệ thống chính trị trong việc chăm lo công tác quốc phòng - quân sự địa phương, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững mạnh trên địa bàn, gắn xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần với các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương. Trên cơ sở đó, thực hiện tốt công tác chính sách xã hội, chính sách hậu phương quân đội và công tác dân vận trong lực lượng vũ trang các cấp.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ "dân vận khéo thì việc gì cũng thành công", các đơn vị trong Quân khu đã đẩy mạnh phong trào thi đua giúp dân; hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ về các xã vùng sâu, vùng xa, các xã còn gặp nhiều khó khăn để giúp địa phương xây dựng các công trình giao thông nông thôn, sửa chữa trường học, bệnh xá, nạo vét kênh mương, giúp đỡ các gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia xóa đói, giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai. Phong trào đền ơn đáp nghĩa, vì người nghèo, quyên góp ủng hộ đồng bào vùng bị thiên tai, lũ lụt, xây nhà tình thương đã phát triển sâu rộng.

Trong khó khăn, phức tạp, lực lượng vũ trang Quân khu luôn là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của cấp ủy, chính quyền và nhân dân trên địa bàn; mỗi việc làm của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu trong công tác vận động quần chúng không chỉ thể hiện những giá trị cao đẹp về tinh thần tương thân, tương ái mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, xây dựng tình quân dân "cá nước", làm sáng thêm hình ảnh "Bộ đội cụ Hồ" trong lòng nhân dân.

Từ thực tiễn hoạt động của lực lượng vũ trang Quân khu, để xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc trong thời gian tới, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề trọng yếu sau:

Thứ nhất, nhận thức đúng vị trí, vai trò của "thế trận lòng dân"; đồng thời, có các chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân, chăm lo nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân.

Trong 30 năm kháng chiến (1945-1975), kế thừa và phát triển tinh hoa truyền thống dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo phát huy cao độ sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, của cả dân tộc, làm nên thắng lợi vĩ đại, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Lúc đó, từ Trung ương đến cơ sở, từ lãnh tụ đến nhân dân, từ cán bộ, đảng viên đến quần chúng, từ quân đến dân... hầu như không ai gợn chút quyền lợi riêng tư; mỗi lời nói, mỗi hành động của các thành viên trong hệ thống chính trị, trong Đảng, của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang là lời hiệu triệu, là niềm tin tuyệt đối đối với nhân dân. Một sức mạnh to lớn được hình thành, người dân sẵn sàng hy sinh tài sản, quyền lợi, người thân và kể cả quyền thiêng liêng nhất của con người là sự sống... để cùng nhau đạt được mục tiêu là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trong hòa bình, Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Việc chuyển từ chiến tranh sang hòa bình đã làm bùng nổ các nhu cầu về đời sống, từ đó làm nảy sinh và đặt ra các yêu cầu mới về quản lý kinh tế - xã hội. Do vậy, việc huy động sức dân trong giai đoạn hiện nay phải bằng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước, mà chủ trương, chính sách, đường lối đó phải tác động có lợi, phải "hợp lòng dân". Chính việc đem lại những quyền lợi, "hợp lòng dân" sẽ là cơ sở cho niềm tin vào Đảng. Muốn làm được điều đó phải bắt đầu xây dựng cơ sở ngay trong thời bình, bằng chính hiệu quả kinh tế, lợi ích xã hội của công cuộc đổi mới. Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân. Hay nói cách khác, niềm tin của nhân dân ta đối với Đảng, chính quyền hiện nay chính là kết quả - hiệu quả của công cuộc đổi mới. Kết quả - hiệu quả của các chủ trương kinh tế - xã hội ở mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi địa phương sẽ tác động đến tất cả các tầng lớp nhân dân.

Thứ hai, nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp.

Trong quá trình đổi mới, tất yếu xuất hiện "sự ngổn ngang, phức tạp", đòi hỏi sự chỉ đạo quyết liệt, thấu đáo của Đảng và Nhà nước. Việc xây dựng "Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân" được Đảng, Nhà nước đang quyết tâm thực hiện nhằm tập trung vào việc tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đó. Phải xác lập các cơ chế cho từng lĩnh vực, từng ngành, từng khu vực kinh tế... và làm sao cho mỗi bước tiến về kinh tế là mỗi bước phát triển về xã hội. Phải kiến tạo nền kinh tế nhân văn, mà ở đó không người dân nào bị bỏ lại phía sau. Đây là quá trình cọ xát rất lớn giữa các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước nói chung, với các thành phần kinh tế, các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau nói riêng, thậm chí trong đó có cả những nhóm lợi ích tiêu cực. Sự cọ xát đó sẽ tạo ra sự phản ứng lại của nhân dân, mà sự phản ứng lại đó là tín hiệu, là yêu cầu để Nhà nước, để hệ thống chính trị của mình phải liên tục đổi mới, cải cách cho phù hợp với lòng dân, phù hợp với nhu cầu của nhân dân. Đảng, chính quyền phải tiếp thu ý kiến của nhân dân, dân nói đúng phải nghe, chỗ nào chưa phù hợp phải chỉ cho dân thấy, có như vậy mới tạo được sự đồng thuận trong nhân dân... Hiện nay, chúng ta đang thực hiện tương đối hiệu quả vấn đề này, hệ thống chính trị tiếp dân, Quốc hội lắng nghe nhân dân, quân đội làm tốt công tác dân vận.

Để thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương phải có chủ trương và tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tổ chức, đoàn thể trong sạch vững mạnh; nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tệ quan liêu, nhũng nhiễu nhân dân. Muốn vậy, phải phát huy tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở trong mọi hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, công khai, minh bạch các quy hoạch, các định mức giá, các thủ tục, thời hạn giải quyết, thi hành các quyết định quy hoạch đô thị, khu - cụm công nghiệp, giải tỏa - đền bù đất đai, các dự án phát triển nông thôn...; bởi đây đang là những vấn đề "nóng" gây bức xúc trong các tầng lớp nhân dân.

Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác giáo dục quốc phòng - an ninh, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân.

Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải tiến hành tốt công tác giáo dục quốc phòng cho nhân dân. Giáo dục quốc phòng không chỉ là nâng cao ý thức quốc phòng, kiến thức quân sự đơn thuần mà còn là giáo dục để nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao lòng yêu nước, yêu chế độ, kiên trì mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Làm tốt công tác giáo dục quốc phòng không những bảo đảm chất lượng nhiệm vụ củng cố quốc phòng - an ninh mà còn tác động tích cực đến nhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị, tạo động lực thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn phát triển mạnh mẽ và bền vững; khơi dậy trong mỗi người dân Việt Nam lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm, niềm tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, làm cho nhân dân sẵn sàng đóng góp công sức, nhân lực, vật lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ tư, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; chăm lo quyền làm chủ của nhân dân, tạo mọi điều kiện để "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

 Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực cho công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Các cấp ủy đảng, chính quyền phải thường xuyên duy trì thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở một cách toàn diện trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh...; công khai các hoạt động của cơ quan, tổ chức, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương, để dân được bàn bạc, phản biện, giám sát, kiểm tra, tạo ra bầu không khí thực sự dân chủ, phấn khởi, tích cực của quần chúng nhân dân, tạo niềm tin vững chắc trong nhân dân đối với các chủ trương của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương.

Quân khu 7 là một trong những địa bàn trọng điểm - nơi mà các thế lực thù địch tập trung, thực hiện ráo riết và tinh vi những thủ đoạn "đánh vào lòng người", nhằm hủy hoại cơ sở chính trị - xã hội, gây mất ổn định, làm cho dân "xa" Đảng. Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong xây dựng khu vực phòng thủ, bằng những hoạt động thiết thực, lực lượng vũ trang Quân khu luôn tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị, tăng cường thế trận lòng dân; chủ động giúp nhân dân phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện gắn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh cũng chính là yếu tố quan trọng để lực lượng vũ trang làm tốt công tác dân vận, tạo dựng lòng tin và sự yêu mến của nhân dân; thực hiện quân với dân một ý chí. Xây dựng hạt nhân trong "thế trận lòng dân", mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên trong lực lượng vũ trang Quân khu phải được giáo dục tốt, rèn luyện tốt, phải là một chiến sĩ dân vận, kể cả khi tại ngũ và khi trở về hòa nhập với các tầng lớp nhân dân địa phương, hòa nhập vào guồng máy lao động, hòa nhập vào hệ thống chính trị. Trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, người lính miền Đông Nam Bộ cũng luôn sẵn sàng hy sinh xương máu của mình vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, vì Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4370



« Trả lời #98 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2020, 04:59:46 pm »

BÀI HỌC VỀ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM KỸ THUẬT
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Trung tướng LÊ QUÝ ĐẠM
Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Để có thắng lợi đó, ngành kỹ thuật quân sự tổ chức bảo đảm kịp thời, hiệu quả vũ khí và trang bị quân sự cho các lực lượng tác chiến trong nội thành, các đơn vị chủ lực gồm nhiều binh chủng nổ súng đúng thời gian quy định, liên tục tiến công địch. Thành công trong bảo đảm kỹ thuật cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã để lại những kinh nghiệm quý giá trực tiếp chuẩn bị cho những năm tiếp sau của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Một là, chuẩn bị đầy đủ các chủng loại vũ khí, trang bị kỹ thuật bảo đảm cho bộ đội tác chiến, nhất là các đơn vị chủ lực, đặc công biệt động đánh thọc sâu ở ven đô và nội đô.

Trong kế hoạch tác chiến chiến lược Đông - Xuân 1968, cùng với việc chỉ đạo nâng cao khả năng tác chiến tiêu diệt lớn quân địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đặc biệt nhấn mạnh công tác chuẩn bị kỹ thuật cho cuộc quyết chiến chiến lược này. Tháng 10-1967, các chuyên ngành kỹ thuật (thuộc Tổng cục Hậu cần) xác định nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu là phải bảo đảm đầy đủ vũ khí, trang bị cho bộ đội, đặc biệt là bảo đảm cho các đơn vị đánh thọc sâu ở ven đô và nội đô. Công tác bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật chi viện với mức cao nhất cho chiến trường miền Nam được ngành kỹ thuật Tổng cục Hậu cần cùng lực lượng kỹ thuật các quân khu, binh chủng, quân chủng trên miền Bắc đồng loạt tiến hành. Các kho kỹ thuật, các ga tàu, bến cảng, binh trạm, các điểm tập kết vũ khí... đều tổ chức những dây chuyền bao gói vũ khí, trang bị và bàn giao cho lực lượng vận tải. Quân khu 4, quân khu Hữu Ngạn và Tả Ngạn; Quân chủng Hải quân; các binh chủng Đặc công, Pháo binh, Công binh; các nhà máy được Cục Quân khí hướng dẫn kỹ thuật, bảo đảm vật tư, kinh phí, tiến hành vận chuyển vũ khí, đạn dược chi viện chiến trường.

Khối lượng vũ khí, trang bị bảo đảm cho Tổng tiến công được tổ chức vận tải vào chiến trường tăng từ 2 đến 2,5 lần. Do lượng hàng đưa vào tiền tuyến quá lớn, trong hoàn cảnh địch tăng cường đánh phá ác liệt, ngăn chặn trên toàn tuyến, cộng với thời tiết mưa lụt bất thường (do Mỹ gây mưa nhân tạo và thả chất phụ gia làm đường trơn lầy kéo dài) nên hàng chậm luân chuyển trên tuyến, bị tồn đọng ở các kho, binh trạm, dẫn đến lượng hàng bị thất lạc, tổn thất. Tuy nhiên, do cố gắng của tuyến vận tải từ hậu phương miền Bắc vào các hướng chiến trường nên khối lượng vũ khí, trang bị phục vụ cho Tổng tiến công đã được ngành Kỹ thuật hậu phương chuẩn bị chu đáo, chuyển tới chiến trường kịp thời, theo đúng kế hoạch trang bị của Bộ. Bằng phương tiện chủ yếu là cơ giới, Đoàn 559 đã tổ chức vận chuyển thẳng tới chiến trường Khu 5, Tây Nguyên và Nam Bộ đạt 80% kế hoạch.

Tại miền Nam, phục vụ cho Tổng tiến công, Trung ương Cục đề ra yêu cầu cấp bách trong ba tháng phải tổ chức và sắp xếp lại lực lượng bảo đảm kỹ thuật chiến trường. Ngành Kỹ thuật thực hiện các giải pháp bảo đảm đầy đủ vũ khí, trang bị cho các lực lượng vũ trang, đặc biệt là bảo đảm cho các đơn vị thọc sâu, tác chiến ở ven đô và nội đô, thành phố, thị xã; tổ chức tiếp nhận, dự trữ ở hệ thống kho các cấp, các vùng; củng cố và phát triển hệ thống kho ở tuyến trước, ở trên các tuyến vận tải, ở tuyến hậu phương; phát triển mạng lưới kho cất giữ trong nhân dân vùng ven, nội đô, các phân khu hậu cần; đồng thời chỉ đạo ngành kỹ thuật các cấp tuyên truyền, vận động việc bảo quản, giữ gìn và sử dụng tiết kiệm, hợp lý vũ khí, trang bị trong chiến đấu.

Để làm tốt công tác chuẩn bị vũ khí, trang bị cho cuộc Tổng tiến công, lực lượng kỹ thuật toàn chiến trường được tăng cường kết hợp với lực lượng tại chỗ bảo đảm cho cả tuyến trước và tuyến sau. Khu vực trọng điểm Sài Gòn - Gia Định bố trí 6 đoàn hậu cần - kỹ thuật khu vực, phân khu. Các phân khu có nhiệm vụ tiếp nhận, cất giữ vũ khí cho các đơn vị chiến đấu trên địa bàn. Các quận, huyện trong mỗi phân khu có nhiệm vụ tiếp nhận vũ khí, trang bị của phân khu và của huyện mình, chủ yếu là phân tán gửi trong nhà dân. Tại Phân khu 6 đã xây dựng được nhiều hầm bí mật chứa vũ khí, đạn dược. Ở khu vực nội đô Sài Gòn bố trí 15 điểm cất trữ ("lót ổ"), trong đó có 13 hầm chứa vũ khí. Những cơ sở "lót ổ" này chủ yếu phục vụ tác chiến nội đô, được xây dựng đơn tuyến, nhiều tuyến nhưng độc lập với nhau. Hệ thống vũ khí "lót ổ" đã thực sự tạo thế bất ngờ cho địch, tạo thuận lợi cho các lực lượng biệt động tiến công vào các mục tiêu đầu não của địch ở nội đô.

Trước ngày nổ súng Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, các đơn vị đã được tăng cường trang bị các loại vũ khí mới, hiện đại như súng chống tăng B40 và B41, cối 120mm, hỏa tiễn ĐKB và H12... Các sư đoàn được tăng cường một tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, các trung đoàn trang bị 18 khẩu B41, các đại đội được trang bị 9 khẩu B40 (gấp ba lần trước đây); các đơn vị tham gia Tổng tiến công đều được trang bị súng cối 82mm và súng 12,7mm của Liên Xô; mỗi tỉnh đội được trang bị 70 khẩu B40, cấp tiểu đoàn thuộc tỉnh đội được trang bị súng AK. Tính chung cả chiến trường miền Nam trong năm 1967 ta bảo đảm được 127.130 khẩu súng các loại , trong đó hầu hết là súng mới. Đây là cố gắng lớn của ngành Kỹ thuật từ hậu phương tới chiến trường góp phần làm nên thắng lợi cho Tổng tiến công.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng trong quá trình chuẩn bị chiến đấu, công tác bảo đảm kỹ thuật vẫn còn một số hạn chế như cán bộ quân khí thiếu kiểm tra, không quản lý chắc chắn tình hình số lượng, chất lượng, đồng bộ vũ khí đạn; đôi khi chưa quan tâm đến tình hình chất lượng, đồng bộ nên đã ảnh hưởng đến thời cơ và sức chiến đấu của bộ đội.

Hai là, dựa vào nhân dân xây dựng hệ thống kho, hầm bí mật cất chứa vũ khí, trang bị kỹ thuật trong nội thành bảo đảm cho các lực lượng tham gia chiến đấu.

Trước khi ta tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trên chiến trường miền Nam, nhân dân ở các căn cứ, vùng giải phóng, ở vùng giáp ranh, tranh chấp hay ở sâu trong vùng địch kiểm soát, dưới sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương, mọi tầng lớp nhân dân đều nhiệt tình tham gia công tác kỹ thuật quân sự phục vụ chiến đấu. Đây thực sự là một nguồn sức mạnh lớn của lực lượng vũ trang nhân dân và của công tác bảo đảm kỹ thuật. Do vậy, để tổ chức được những trận đánh vang dội, đánh trúng vào cơ quan đầu não của Mỹ - chính quyền Sài Gòn trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, ta phải dựa vào nhân dân xây dựng được các kho, hầm bí mật cất chứa vũ khí để bảo đảm cho những trận đánh trong nội đô.

Dựa vào công nhân và nhân dân lao động, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định khẩn trương xây dựng lực lượng, tạo chỗ đứng chân, tạo nguồn cung cấp phục vụ tác chiến. Sau Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương (1954) một số cán bộ có kinh nghiệm hoạt động hợp pháp được phân công ở lại làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở. Các cơ sở đều có hoạt động hợp pháp, được phân chia theo yêu cầu trước mắt hoặc lâu dài. Có cơ sở vừa là nơi cất giấu vũ khí, vừa là nơi bảo đảm trang bị kỹ thuật (đồng hồ, xe đạp, xe gắn máy, ô tô...) phục vụ trực tiếp cho chiến đấu. Đặc biệt, hầu hết các sở cao su ven Sài Gòn từ chủ sở, lái xe, thợ cạo mủ, thợ cán mủ,... đều là cơ sở cách mạng trung kiên. Cho đến trước ngày diễn ra cuộc Tổng tiến công, riêng Ban bảo đảm thuộc Biệt động Thành đã trực tiếp xây dựng được 19 lõm chính trị với 325 gia đình cơ sở an toàn. Đó là chưa kể đến hàng ngàn cơ sở mà các đội biệt động cấp thành, cấp quận và của các đoàn thể trực tiếp xây dựng nên.

Ngay từ những năm 1964-1965, trên cơ sở dự kiến phương án đón thời cơ chiến lược, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định thành lập Ban bảo đảm gồm hai đội A20 và A30 chuyên làm nhiệm vụ xây hầm và tổ chức vận chuyển cất giấu vũ khí. Đến cuối năm 1965, dựa vào nhân dân cả hai đội A20 và A30 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xây dựng được một hệ thống kho hầm bí mật chứa vũ khí sát các vị trí chiến lược của địch. Mỗi mục tiêu đều được chuẩn bị từ 1 đến 3 căn hầm vũ khí. Khối lượng vũ khí mỗi hầm xấp xỉ 1 tấn. Việc xây dựng các kho (hầm) cùng với quá trình tiếp nhận, cất giấu, bảo vệ và bảo quản khối lượng vũ khí đó ngay trước mắt địch là một chuỗi công việc cực kỳ khó khăn và nguy hiểm. Đồng chí Đỗ Văn Căn đã phải cùng vợ bán nhà ở Tân Định đến mua căn nhà ngay sát Biệt khu Thủ đô quân đội Sài Gòn, trước cửa cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ và đồng minh (ICCS) để vận chuyển hơn 1 tấn vũ khí về cất giữ ở căn hầm xây dựng ngay cửa ra vào của gia đình mình; chị Nguyễn Thị Cúc - vợ của đồng chí Đỗ Văn Căn - cũng xây một căn hầm chứa vũ khí dưới đáy của bể cá cảnh ở căn nhà thứ hai; vợ chồng anh Trần Phú Cương (Năm Mộc) xây dựng hầm vũ khí trong nhà dùng để đánh Đài Phát thanh... Sau khi hoàn thành việc ngụy trang, nghi trang, đội A20 tổ chức vận chuyển vũ khí vào thành phố theo lộ trình: từ căn cứ giải phóng đến căn cứ bàn đạp (vùng giáp ranh) lên trục lộ giao thông (do địch kiểm soát), rồi di chuyển trên đường giao thông vào nội thành. Để bảo đảm vận chuyển đến đích và an toàn đòi hỏi phải có sự hiệp đồng chặt chẽ, chính xác hoàn toàn giữa các tuyến, giữa người vận chuyển và người nhận cùng việc bảo vệ, giữ bí mật của nhân dân trên các tuyến vận chuyển.

Dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, với cách tổ chức trên, hàng trăm tấn vũ khí trong đó có cả súng và đạn ĐKZ, cối, B40, B41... được bí mật vận chuyển an toàn vào các kho vũ khí trong thành phố, ém sẵn cạnh các mục tiêu quan trọng. Với phương thức "lót ổ", ta đã bảo đảm cho lực lượng biệt động và các đơn vị chiến đấu trong nội đô không thiếu đạn, tạo thế bất ngờ khi tiến công vào các vị trí đầu não của địch.

Ba là, bảo đảm kịp thời vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các đơn vị trong quá trình thực hành tác chiến.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân dân ta nổ ra mạnh mẽ ở Sài Gòn, Huế và nhiều thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ trên toàn miền Nam. Lực lượng kỹ thuật đã kịp thời bảo đảm kịp thời vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các lực lượng tham gia tác chiến.

Tại mặt trận Huế, khó khăn nhất là trong công tác bảo đảm vũ khí. Ta không tổ chức được hệ thống cơ sở kỹ thuật "lót ổ", ém sẵn vũ khí nên tất cả đều phải gùi thồ qua nhiều cung, trạm, từ hậu phương tuyến sau tới. Mặt khác, cuộc chiến đấu trong kinh thành Huế diễn ra dài ngày nên vũ khí đạn tiêu thụ lớn, mỗi khẩu súng trường chỉ còn 12 đến 15 viên, súng máy còn trên 100 viên. Bộ Tổng Tham mưu đã khẩn trương lệnh cho Đoàn 559 tiếp tế các loại đạn dược, khí tài cho mặt trận Huế; đồng thời điều Tiểu đoàn máy bay IL14 thuộc Trung đoàn Không quân vận tải 919 thực hiện các chuyến bay chi viện vũ khí cho chiến đấu.

Lực lượng kỹ thuật mặt trận Tây Nguyên dựa vào các binh trạm đã triển khai trên các hướng, tổ chức bảo đảm vũ khí, đạn dược cho các đơn vị đặc công cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến công vào ba thị xã lớn: Kon Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuột; đồng thời bảo đảm cho lực lượng cơ động của Sư đoàn 1 tác chiến trên hướng Đường số 18, Plei Kần, đánh quân Mỹ ra chi viện. Mặt trận hiệp đồng với các tỉnh và trung đoàn khu vực huy động được số dân công và sử dụng lực lượng bộ đội vận chuyển vũ khí từ kho Mặt trận đưa vào bố trí gần khu vực chiến đấu để bảo đảm trong suốt quá trình tác chiến.

Tại Sài Gòn - Gia Định, các lực lượng đồng loạt tiến công Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Hải quân, Đài Phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất... Dựa theo tổ chức bảo đảm chỉ huy trên các hướng tiến công vào thành phố, lực lượng kỹ thuật Phân khu 6 kết hợp giữa các cơ sở, lực lượng bảo đảm của đoàn hậu cần khu vực, phân khu và các đơn vị để hình thành hệ thống bảo đảm vũ khí, trang bị liên hoàn từ phía sau đến từng khu vực tác chiến. Để lực lượng biệt động của Đoàn F.100 (được chia thành các đội) và biệt động các hướng thực hiện các trận đánh vào mục tiêu chủ yếu của địch, lực lượng bảo đảm kỹ thuật đã cung cấp hàng chục tấn thuốc nổ, súng đạn từ khắp các kho của 13 cơ sở trong nội thành cho các trận đánh vào các mục tiêu đầu não của địch.

Ở đồng bằng Nam Bộ, tại thành phố Cần Thơ và một số thị xã khác, trong quá trình tiến công vào các đô thị, các địa phương huy động lực lượng lớn dân công, phương tiện phục vụ vận chuyển vũ khí. Đoàn 86 tổ chức vận chuyển hàng trăm tấn vũ khí, khí tài cho các đơn vị. Tiểu đoàn ô tô H1 hoạt động liên tục. Do bị phi pháo địch bắn phá ác liệt nên số xe hỏng nhiều, các trạm sửa chữa làm việc suốt ngày đêm, kịp thời sửa chữa giải phóng xe nhanh cho các đơn vị tham gia chiến đấu. Xưởng sửa chữa Z58 tổ chức lực lượng sửa chữa cơ động gồm 11 người chốt ở ngầm Đạt Uýt để sửa chữa nhanh xe cho các đơn vị. Bộ phận ở phía sau của Xưởng Z58 được tăng cường thêm 60 thợ sửa chữa các loại làm nhiệm vụ sửa chữa xe hỏng của Đoàn 86 phục vụ Tổng tiến công.

Hậu cần - kỹ thuật Miền đã tập trung mọi khả năng bảo đảm cho các đơn vị thực hành tác chiến trong Tổng tiến công được 5.893 tấn vũ khí đạn; riêng trong đợt 1 tiến công vào mục tiêu Sài Gòn đã cấp phát bảo đảm cho tác chiến là 132 tấn đạn . Ngành Kỹ thuật các cấp thể hiện được khả năng bảo đảm trong thực hành tác chiến, vừa có lượng dự trữ cần thiết, vừa tổ chức tạo nguồn, bảo đảm kỹ thuật đồng bộ, chỉ huy hợp đồng chặt chẽ, xử lý tình huống linh hoạt, khẩn trương, góp phần vào thắng lợi to lớn trong Tổng tiến công.

Bốn là, tích cực nghiên cứu chế tạo, cải tiến các loại vũ khí, trang bị đặc chủng có sức công phá cao, phù hợp với cách đánh của các lực lượng vũ trang.

Nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự có vị trí đặc biệt đối với vũ khí đặc chủng. Ngành kỹ thuật đã tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, cải tiến, khai thác sử dụng để phát huy hết tính năng kỹ chiến thuật của vũ khí đặc chủng hiện có trên các chiến trường phục vụ yêu cầu chiến đấu của các lực lượng trong Tổng tiến công.

Để tăng cường vũ khí, trang bị, đặc biệt là hỏa lực đánh tàu trên sông, biển, ngay từ giữa năm 1966, được sự giúp đỡ của các cơ quan nghiên cứu kỹ thuật Bộ Quốc phòng, bộ phận kỹ thuật Quân chủng Hải quân và Đoàn 126 tiến hành cải tiến mìn âm thanh từ tính ĐMC1, ĐMC2 thành thủy lôi HATl, HAT2. Do trọng lượng của ĐMC1 nặng tới 1.200kg, của ĐMC2 tới 2.400kg, để trang bị cho đặc công nước sử dụng đánh tàu địch trên sông biển, cán bộ nghiên cứu đã cải tiến còn khối lượng 700 kg và 800kg, tháo rời từng bộ phận đầu và thuốc nổ . Vì thế rất thuận lợi cho bộ đội mang vác, vận chuyển hành quân vào vùng địch và trong mỗi trận chiến đấu. Mìn M2C1 là loại mìn rùa nặng 6,8kg gồm nhiều thỏi nam châm hút bám sắt. Thuốc nổ trong mìn là 3,8kg, gắn ngòi nổ chậm bằng chốt chì. Loại này gọn, nhẹ, nhưng sức công phá hạn chế. Năm 1966, trong một số trận đánh ta đưa mìn áp vào mạn tàu, mìn nổ nhưng tàu không chìm. Mìn vành khăn có trọng lượng lớn hơn mìn rùa, thuốc nổ cũng nhiều hơn khoảng 4kg. Cả hai loại mìn rùa và vành khăn, đặc công nước sử dụng đánh tàu có thuận lợi, nhưng uy lực không đủ sức đánh chìm tàu. Theo yêu cầu chiến trường, bộ phận kỹ thuật nghiên cứu cải tiến mìn rùa, mìn vành khăn phù hợp, thuận tiện cho bộ đội mang vác, bơi lội, vận chuyển trong chiến đấu. Các loại thủy lôi HAT1, HAT2, mìn rùa, mìn vành khăn được cải tiến thành công, thử nghiệm đánh tàu địch ở Cửa Việt, Đông Hà từ cuối năm 1966 và đến cuối năm 1967 được đưa hàng loạt vào miền Nam phục vụ Tổng tiến công.

Để tăng thêm sức công phá cho pháo hỏa tiễn ĐKB cho Tổng tiến công, nhóm kỹ sư quân giới Miền đã nghiên cứu tăng thêm lượng thuốc nổ C4 vào đầu đạn. Đoàn pháo binh Rừng Sác dùng hai quả đạn cải tiến loại chứa 60kg hợp chất C4 lắp ngòi đạn cối 82mm và đạn chống tăng B40 bắn chìm tàu 1.000 tấn và dùng đạn cải tiến loại nhồi 74kg thuốc TNT bắn cháy một tàu chở dầu trên sông Lòng Tàu. Từ sự kiện trên, Bộ Chỉ huy Miền chỉ thị cho Phòng Quân giới nghiên cứu cải tiến đạn ĐKB, H12 mang đầu đạn lớn. Thực hiện chỉ thị, lần thiết kế đầu tiên, đạn H12 cải tiến có cỡ đạn 206mm, nặng 38kg, được đặt tên là ĐB12; đạn ĐKB cải tiến có cỡ đạn 312mm, nặng 133kg đặt tên là ĐB2. Sau đó, đạn ĐB12, ĐB2 được thiết kế lại có khối lượng nhỏ hơn, trọng lượng toàn bộ đạn ĐB2 còn 100kg, đặt tên là ĐB1 và tiếp tục được nghiên cứu giảm tiếp còn nặng 50kg, lấy tên là ĐB1A; cải tiến đến khi đạn ĐB12 còn 30kg, lấy tên là ĐB12A. Khi ta quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Đợt 3, trong trận đánh Thiện Ngôn, đạn ĐB12A cải tiến đã phá đổ tường thành cao 1,5m, mặt trên 2m, chân thành 5m, tạo cửa mở cho xung kích tiêu diệt cứ điểm.

Việc nghiên cứu cải tiến thành công một số loại vũ khí đặc chủng là những đóng góp tích cực về trí tuệ, sức lực, xương máu của các kỹ sư, cán bộ, chiến sĩ làm công tác nghiên cứu bảo đảm kỹ thuật. Kết quả đó đã tạo nên hiệu quả chiến đấu cao góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật tác chiến trong Tổng tiến công.

Năm là, ưu tiên bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho tác chiến hiệp đồng binh chủng.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và nhất là chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh là các hoạt động tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn sử dụng nhiều binh khí kỹ thuật, thời gian chiến dịch dài nên lượng tiêu hao, tổn thất vũ khí đạn lớn. Vì vậy, cơ quan kỹ thuật chiến dịch đã huy động lực lượng của toàn ngành, được sự giúp đỡ chi viện của các ngành từ Trung ương tới địa phương nên đã hoàn thành được nhiệm vụ bảo đảm đạn cho chiến dịch. Kết quả, hậu cần - kỹ thuật chiến dịch đã cung cấp cho bộ đội 3.360 tấn đạn dược. Chỉ tính riêng đạn đã bảo đảm cho hướng tây trong chiến dịch là 1.271 tấn. Sau khi chiến dịch kết thúc, lượng đạn còn lại là 2.429 tấn (riêng hướng tây là 483 tấn).

Trong quá trình chiến dịch, tuy khối lượng bảo đảm kỹ thuật rất lớn, cán bộ nhân viên chuyên môn có hạn (chỉ có hai trạm sửa chữa với trên 70 người). Vì vậy, ngành kỹ thuật chiến dịch thường xuyên phái các tổ, đội sửa chữa xe, pháo đến giải quyết tại chỗ nên hệ số kỹ thuật bảo đảm bình quân tương đối cao. Ở mặt trận hướng đông, pháo mặt đất đạt 87%, pháo phòng không đạt 90%, xe - máy các loại đạt 90-92%; ở mặt trận hướng tây, pháo mặt đất đạt 91,6%, pháo phòng không đạt 77,8%, xe xích đạt 92%; xe ô tô tác chiến 85%, xe ô tô vận tải 68%.

Lực lượng kỹ thuật còn tích cực tổ chức việc cấp cứu xe, pháo hỏng ra khỏi nơi địch đánh phá đưa về sau sửa chữa. Trung đoàn 675 có ba xe xích bị đổ và hỏng ở trận địa, nơi bị địch đánh phá liên tục trong 6 ngày đêm nhưng lái xe và thợ đã tích cực bám xe, ngụy trang, kích kéo, qua 8 đêm đưa được cả ba xe về phía sau sửa chữa, hoặc tháo gỡ những bộ phận còn tốt. Đồng thời tổ chức việc tìm kiếm xe, pháo hỏng đưa về phía sau sửa chữa khôi phục lại. Mặt trận hướng đông thu thập được 19 tấn phụ tùng, mặt trận hướng tây cũng thu được 15 tấn tháo từ những xe hỏng để lâu ở chiến trường.

Tuy nhiên trong chiến dịch, mặc dù ngành kỹ thuật cũng đã triển khai một số biện pháp về quản lý cấp phát, về tổ chức thu hồi... nhưng tình trạng quản lý lỏng lẻo, sử dụng lãng phí để hư hỏng mất mát vẫn nghiêm trọng. Tính bình quân trong 6 tháng tiến hành chiến dịch, số vũ khí mất mát, thất lạc và bị địch đánh hỏng chiếm tỷ lệ 29% so với toàn bộ trang bị. Số đạn dược bị tổn thất, mất mát của các đơn vị ở hướng đông bình quân bằng 30% số tiêu thụ (có loại bị tổn thất, mất mát nhiều như các loại đạn K56, K53, ĐKZ82, 12,7mm, 14,5mm, 57mm và mìn). Nhiều cán bộ, chiến sĩ nhận thức về công tác quản lý vật chất trang bị còn giản đơn, không thấy hết khó khăn gây thêm căng thẳng cho khâu cung cấp, phần nào ảnh hưởng đến quyết tâm chiến đấu . Đây cũng là một kinh nghiệm cần lưu ý trong công tác quản lý vũ khí trang bị ở chiến dịch.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức lực lượng, về phương thức bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngành kỹ thuật từ hậu phương tới chiến trường đã huy động một lực lượng đông đảo nhất cán bộ, nhân viên cùng một hệ thống cơ sở kỹ thuật rộng lớn, hoàn chỉnh; một khối lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật lớn chưa từng có phục vụ Tổng tiến công trên toàn chiến trường. Toàn ngành kỹ thuật đã tạo được thế trận bảo đảm bí mật, bất ngờ, phù hợp với phương châm tác chiến; đã sáng tạo ra phương thức bảo đảm mới, tạo thuận lợi cho các đơn vị, nhất là lực lượng đặc công biệt động tác chiến nội đô. Những bài học kinh nghiệm quý báu về công tác bảo đảm kỹ thuật trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã kịp thời phục vụ cho những năm tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4370



« Trả lời #99 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2020, 05:05:28 pm »

PHÁT HUY BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968
TRONG XÂY DỰNG KHU VỰC PHÒNG THỦ HIỆN NAY



Thiếu tướng NGÔ TUẤN NGHĨA
Chính ủy Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh


Lịch sử đã chứng minh, thắng lợi của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ; làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", khiến Mỹ phải ngồi vào đàm phán với ta tại Pari, đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, tiến tới chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Thắng lợi đó trực tiếp thúc đẩy công cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc sang giai đoạn mới - giai đoạn giành thắng lợi quyết định. Thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 góp phần phát triển nền nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng Lao động Việt Nam.

Kỷ niệm 50 năm sự kiện lịch sử Tết Mậu Thân 1968, thêm một lần nữa, mọi người Việt Nam hôm nay nghiêng mình tưởng nhớ công lao của các anh hùng, liệt sĩ; của đồng bào, chiến sĩ cả nước đã làm nên chiến công lịch sử trọng đại này. Nhớ về Mậu Thân 1968, chúng ta suy nghĩ sâu sắc về những nhân tố làm nên chiến thắng. Đó là khát vọng cháy bỏng của người dân yêu nước Việt Nam vì một nền độc lập, tự do; vì một nền thái bình muôn thuở cho đất nước hôm nay và mai sau. Đó còn là niềm tin vững chắc của quân và dân ta vào sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; là sự độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối và chỉ đạo chiến lược; là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm tạo nên sức mạnh to lớn. Những nhân tố đó đã và đang tiếp tục phát huy tác dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã trở thành một tượng đài bất tử khắc sâu vào trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam và để lại nhiều bài học quý giá, làm cơ sở để chúng ta nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đó là bài học về xây dựng niềm tin vững chắc vào nhân dân, dựa vào nhân dân, biết khơi dậy, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết, khả năng sáng tạo của nhân dân, phát huy truyền thống tự lực, tự cường của dân tộc, phát động cao trào cách mạng trong toàn dân, kết hợp chặt chẽ sức mạnh của lực lượng vũ trang ba thứ quân trong hoạt động quân sự với sức mạnh của lực lượng quần chúng trong đấu tranh chính trị.

Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được tiến hành trong bối cảnh tình hình chính trị thế giới có những thay đổi nhanh chóng, phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường, tạo ra cả thời cơ và thách thức đan xen, còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo diễn biến phức tạp. Đối với nước ta, sau hơn 30 năm đổi mới, đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thế và lực của đất nước ngày càng được tăng cường, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" thúc đẩy "tự diễn biến" "tự chuyển hóa" gây mất ổn định chính trị nhằm làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Trước tình hình đó, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Quân đội và nhân dân ta nói chung, lực lượng vũ trang Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng có sự phát triển mới, đặt ra những yêu cầu ngày càng cao, mà cốt lõi là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị để phát triển toàn diện đất nước, là nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Để hoàn thành trọng trách được giao, lực lượng vũ trang Thành phố Hồ Chí Minh phải nỗ lực hơn nữa, trước hết phải tiếp tục quán triệt, nắm vững mục tiêu, quan điểm, tư tưởng, phương châm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ Tổ quốc được thể hiện trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; các nghị quyết của Đảng ủy Quân khu, Thành ủy về xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; đồng thời, phải tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng, an ninh khu vực phòng thủ là nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên nền tảng phát huy bài học lịch sử của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trước hết tập trung các nội dung sau:

Một là, xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần vững mạnh, trước hết cần tập trung xây dựng và phát huy tinh thần yêu nước, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và đối với chế độ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; nâng cao cảnh giác cách mạng; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Để xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần ngày càng vững chắc, phải thường xuyên quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc đường lối, quan điểm, tư duy mới của Đảng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28/NQ-TW, ngày 22-9-2008, của Bộ Chính trị Về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, Nghị định số 152/2007/NĐ-CP của Chính phủ Về khu vực phòng thủ, tạo sự chuyển biến quan trọng về nhận thức và hành động trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn.

Hai là, thường xuyên quan tâm chăm lo, xây dựng tiềm lực kinh tế - văn hóa - xã hội. Quán triệt quan điểm của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương đều gắn với bố trí thế trận quốc phòng, an ninh, theo tư tưởng chỉ đạo "mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh". Trên cơ sở kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội hằng năm, tập trung phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để phát triển kinh tế một cách toàn diện và bền vững.

Tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là khả năng về kinh tế của đất nước có thể huy động để phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng hoặc tiến hành chiến tranh. Tiềm lực đó được biểu hiện ở nhân lực, vật lực, tài lực của quốc gia có thể huy động cho quốc phòng, an ninh và tính cơ động của nền kinh tế đất nước trong mọi điều kiện hoàn cảnh. Do vậy, muốn có tiềm lực quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mạnh trong giai đoạn cách mạng hiện nay, chúng ta cần tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển công nghiệp quốc phòng, trang bị kỹ thuật hiện đại cho quân đội và công an. Kết hợp xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế với kết cấu hạ tầng quốc phòng; không ngừng cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho các lực lượng vũ trang. Có kế hoạch chuyển sản xuất từ thời bình sang thời chiến và duy trì sự phát triển của nền kinh tế.

Ba là, tăng cường xây dựng tiềm lực quân sự, an ninh khu vực phòng thủ để có đủ khả năng về vật chất và tinh thần có thể đáp ứng cho nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Điều đó được biểu hiện trước hết ở khả năng duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển năng lực chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang (cả về nhân lực, vũ khí trang bị, cơ sở vật chất bảo đảm, khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự...); nguồn dự trữ sức người, sức của phục vụ nhiệm vụ quân sự và tiến hành chiến tranh. Tiềm lực quân sự, an ninh là nhân tố cơ bản, giữ vai trò nòng cốt để bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Gắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với quá trình tăng cường vũ khí trang bị cho các lực lượng vũ trang nhân dân. Trong đó, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trong lực lượng vũ trang nhân dân có năng lực, trình độ chính trị, quân sự toàn diện; có năng lực tư duy nhanh nhạy, được rèn luyện qua hoạt động thực tiễn... đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; thường xuyên xây dựng tiềm lực khoa học, công nghệ của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, nhằm tạo cơ sở vật chất trang bị kỹ thuật hiện đại cho quân đội, công an.

Tăng cường xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; quan tâm bố trí cơ cấu đầu tư phát triển kinh tế, kỹ thuật theo hướng "đan xen lợi ích" trên các địa bàn. Đặc biệt là kết hợp quy hoạch và bố trí các vùng dân cư, làm cơ sở để xây dựng căn cứ hậu phương chiến lược, căn cứ hậu cần - kỹ thuật trên địa bàn thành phố, gắn với việc đầu tư xây dựng các công trình phòng thủ quốc gia, phòng thủ dân sự. Bổ sung điều chỉnh thế bố trí các lực lượng tác chiến theo hướng kết hợp giữa bộ đội chủ lực với địa phương.

Trước sự phát triển của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, sự kết hợp giữa quốc phòng và an ninh là sự gắn kết giữa hai lĩnh vực cơ bản trong thực hiện cùng một mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do vậy, khi xây dựng thế trận phải bảo đảm sự thống nhất và kết hợp hài hòa, chặt chẽ giữa thế trận quốc phòng toàn dân, với thế trận an ninh nhân dân. Sự kết hợp đó phải bảo đảm sử dụng có hiệu quả mọi lực lượng vật chất và tinh thần, cả con người và trang bị, phù hợp tính chất đặc thù của từng lĩnh vực hoạt động; phải phát huy tốt vai trò nòng cốt của quân sự và công an trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, tăng cường xây dựng khu vực phòng thủ Thành phố vững chắc - nền tảng của thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Khu vực phòng thủ Thành phố là một tổ chức quốc phòng, an ninh ở địa phương; là một bộ phận hợp thành nền tảng của thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân của phía Nam và cả nước, phải được xây dựng vững mạnh về mọi mặt theo kế hoạch chung, thống nhất, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp tại chỗ, độc lập, tự lực tự chủ ngăn chặn và đối phó hiệu quả mọi tình huống. Xây dựng khu vực phòng thủ Thành phố vững mạnh cả về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh; bảo đảm yêu cầu bảo vệ và tác chiến trong thế trận liên hoàn phòng thủ quốc gia, góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân của đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Hiện nay, cần tập trung xây dựng hệ thống chính trị là nội dung cốt lõi của việc xây dựng khu vực phòng thủ Thành phố. Sự vững chắc của khu vực phòng thủ được quyết định bởi sự vững mạnh của hệ thống chính trị, đặc biệt đối với các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương. Do đó, trong xây dựng hệ thống chính trị, cần đặc biệt chăm lo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng hệ thống chính quyền các cấp vững mạnh toàn diện. Đây là nội dung cơ bản bảo đảm hệ thống chính trị đủ sức thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, tổ chức xây dựng Thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc.

Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh là nội dung đặc biệt quan trọng trong xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh của khu vực phòng thủ, là quá trình đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng; trong phát triển kinh tế phải tính đến nhu cầu quốc phòng, an ninh và phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; việc bố trí, quy hoạch phát triển kinh tế phải trên cơ sở xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc trên địa bàn.

Năm là, chủ động xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc là nền tảng cốt lõi của nền quốc phòng toàn dân trên từng địa bàn, khu vực, tỉnh thành.

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh rằng sức mạnh của quần chúng nhân dân là vô địch.

Dân tộc ta có truyền thống "cử quốc nghênh địch", chủ động, tự giác đánh giặc bằng các lực lượng, đánh ở mọi nơi, đánh bằng mọi thứ vũ khí và bằng mọi cách đánh khác nhau. Đây chính là lòng yêu nước, yêu độc lập tự do, không chịu khuất phục, không chịu làm nô lệ trước sức mạnh của kẻ thù. Tinh thần chủ động tích cực này đã phản ánh "thế trận lòng dân" thường trực trong tư duy của mỗi người Việt Nam. "Thế trận lòng dân" trong tổng thể nền quốc phòng toàn dân càng phải được các cấp bộ đảng, chính quyền quan tâm xây dựng toàn diện hơn, có chiều sâu hơn.

Xây dựng "thế trận lòng dân" thực chất là khơi dậy, quy tụ và phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ trong thế trận quốc phòng, an ninh chung. Đây là nét đặc sắc trong nghệ thuật giữ nước, chống ngoại xâm của dân tộc, phản ánh sâu sắc bản chất và sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân nước ta trong thời kỳ mới. Xây dựng "thế trận lòng dân" cần tập trung vào các nội dung: tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ là một yêu cầu, biện pháp quan trọng của chiến lược xây dựng quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Hiện nay, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... đang tác động sâu sắc đến "thế trận lòng dân". Do đó, vấn đề chống quan liêu, tham nhũng, khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên cần được xem xét như là một yêu cầu, giải pháp đặc biệt quan trọng của việc xây dựng "thế trận lòng dân". Theo đó, trong những năm tới, cần "Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng". Đó là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Trong tình hình hiện nay, các yếu tố hợp tác, đấu tranh luôn đan xen; nhân tố gây mất ổn định chưa bị loại bỏ hoàn toàn..., đòi hỏi "tính linh hoạt" của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân phải rất cao mới kịp thời xử trí các tình huống cả trong thời bình và thời chiến. Do vậy, xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc phải đạt yêu cầu: thời bình thúc đẩy kinh tế phát triển tạo tiềm lực mọi mặt ngày càng vững mạnh; nâng cao trách nhiệm của mọi công dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; khi chiến tranh xảy ra nhanh chóng chuyển hóa thành thế trận "toàn dân đánh giặc", bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM