Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Bảy, 2020, 04:15:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết định  (Đọc 1042 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #20 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 07:06:28 am »

CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968  -
SỰ THỐNG NHẤT GIỮA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN



Thượng tướng NGUYỄN TRỌNG NGHĨA
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương,
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam


Từ giữa năm 1965, sau khi chiến lược "chiến tranh đặc biệt" thất bại, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", ồ ạt đổ quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam. Thực hiện chiến lược này, Mỹ sử dụng hai gọng kìm "tìm - diệt" và "bình định nông thôn". Theo đó, chúng tiến hành hàng ngàn cuộc hành quân với quy mô lớn nhỏ khác nhau trên khắp chiến trường miền Nam, hòng tiêu diệt cơ quan đầu não, đơn vị chủ lực Quân giải phóng và cơ sở cách mạng của ta, gây nên biết bao hy sinh, mất mát, đau thương cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam.

Trước tình hình trên, Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh thống nhất nhận định: Để đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" không thể dùng cách đánh thông thường, mà phải tìm cách đánh khác để đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, làm cho chúng hiểu rằng không thể thắng dân tộc Việt Nam bằng sức mạnh quân sự; đồng thời, chỉ đạo các cấp ủy miền Nam, các bộ tư lệnh chiến trường rà soát tình hình, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của ta và địch; nắm ý đồ của Mỹ trong mùa khô 1967-1968, tạo thế chủ động trên chiến trường, tiến tới giành thắng lợi to lớn hơn.

Tại Hội nghị Trung ương 14 khóa III (1-1968), Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh: Để chuyển cách mạng và chiến tranh cách mạng sang thời kỳ mới, giành thắng lợi quyết định, phải tạo được bước ngoặt lớn của cuộc chiến tranh. Muốn vậy, không thể tiến từng bước, tuần tự... mà phải tạo bước nhảy vọt bằng chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên chiến trường miền Nam, giáng đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ,... Hội nghị chỉ rõ hướng tiến công lần này là các thành phố, thị xã, thị trấn và cơ quan đầu não chiến tranh, trung tâm chỉ huy, hậu cứ của địch, lấy ba thành phố lớn là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng làm trọng điểm; kết hợp tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng trên cả ba vùng chiến lược, nhằm giáng đòn thật mạnh, bất ngờ, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, tạo sự thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta,...

Để xây dựng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, các cấp ủy đảng trong và ngoài quân đội, cơ quan chính trị các cấp đã chủ động làm tốt công tác tư tưởng ngay từ khi Mỹ đổ quân vào miền Nam, nhất là từ cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất. Công tác giáo dục đã tập trung khơi dậy lòng căm thù giặc, vạch trần tội ác của Mỹ và chính quyền Sài Gòn gây ra cho đồng bào miền Nam và bản chất hiếu chiến, xâm lược của chúng; khẳng định sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa, tất thắng của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh này. Đồng thời cổ vũ truyền thống yêu nước, tinh thần quật khởi, ý chí quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược; làm cho quân và dân ta thấm sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"; "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi" .

Trong quá trình diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, công tác tư tưởng còn chú trọng xây dựng quyết tâm chiến đấu và phục vụ chiến đấu cho từng lực lượng, từng hướng chiến trường; làm rõ thắng lợi, sự phát triển của ta và sự thất bại của địch trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966, 1966-1967. Nhờ đó, tinh thần "Cả nước ra trận", "Tất cả xuống đường", "Tất cả để chiến thắng",... đã trở thành khẩu hiệu hành động, tiếng gọi thiêng liêng thôi thúc mọi người hành động. Với ý chí quyết tâm ấy, nhiều phong trào thi đua giành danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ" đã nhanh chóng lan tỏa khắp chiến trường.

Phát huy thế trận chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân giải phóng đã huy động được lực lượng lớn đồng bào các tỉnh miền Đông Nam Bộ tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Nhiệm vụ của lực lượng này là vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm vào nội đô; cứu thương, tải thương khi chiến sự nổ ra. Thực hiện phong trào xây dựng "hũ gạo nuôi quân", trước Tết Mậu Thân 1968, mỗi gia đình để sẵn năm lon gạo đón chủ lực và mỗi tuần quyên góp một lần do Hội Phụ nữ phát động. Các huyện đều thành lập đội cung cấp, huy động lương thực, thực phẩm phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy. Mỗi xã có ban quân lương, đội cứu thương, tải thương. Nhiều hộ gia đình đào hầm nuôi giấu thương binh, cất giấu vũ khí. Điển hình như gia đình bà Nguyên (Má Bảy) ở Trảng Bàng, đào hầm giấu 45 tấn vũ khí tại vị trí cách đồn Mỹ chỉ 1 km. Đến đầu năm 1968, Quân giải phóng đã xây dựng được 19 lõm chính trị với 325 gia đình, 12 kho vũ khí, 400 điểm ém quân, phần lớn ở gần các mục tiêu dự kiến sẽ đánh chiếm. Tinh thần đó của đồng bào miền Nam đã được nhà sử học Nguyễn Hiến Lê viết trong hồi ký: "Khắp thế giới ngạc nhiên và phục "Việt cộng" tổ chức cách nào mà Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không hay biết gì cả. Họ đã lén chở khí giới, đưa cán bộ vào Sài Gòn, Huế... từ hồi nào, chôn giấu, ẩn núp ở đâu? Chắc chắn dân chúng đã che chở họ, tiếp tay với họ, không ai tố cáo cho nhà cầm quyền biết. Trái lại mỗi cuộc hành quân lớn nhỏ nào của Việt Nam Cộng hòa họ đều biết trước ngày và giờ để kịp thời đối phó. Nội điểm đó thôi cũng đủ cho thế giới biết họ được lòng dân miền Nam ra sao và tại sao Mỹ thất bại hoài" .

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo và quyết tâm chiến lược của Đảng cùng phong trào nổi dậy rộng khắp của quần chúng, đêm 30, rạng ngày 31-1-1968 (đêm giao thừa), quân và dân miền Nam, từ Trị - Thiên đến Khu 5 và Nam Bộ đã đồng loạt tiến công và nổi dậy, hướng trọng điểm nhằm vào các thành phố, thị xã, nhất là ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, các căn cứ quân sự, sân bay, bến cảng, kho tàng, gây cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn những tổn thất lớn về nhân lực, vật lực, choáng váng về tinh thần và bị động, lúng túng trên tất cả các vùng chiến lược trong nhiều ngày. Ở Huế, ta đã làm chủ hoàn toàn thành phố, tổ chức chính quyền cách mạng, chiếm giữ 25 ngày, đánh lui hàng trăm đợt phản kích của địch. Tại Sài Gòn - Gia Định, quân và dân ta đã đánh trúng nhiều mục tiêu đầu não, như: Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Gia Long, Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn,... đồng thời, làm tê liệt, ngưng trệ hệ thống giao thông, thông tin liên lạc của địch trong nhiều ngày, nhiều giờ. Phối hợp với các mũi tiến công quân sự, lực lượng chính trị của quần chúng ở nông thôn và thành thị đồng loạt nổi dậy, phá tan "ấp chiến lược", giành quyền làm chủ ở nhiều nơi, tạo điều kiện mở rộng vùng giải phóng, v.v..

Có thể nói, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là đòn đánh chí tử đối với quân xâm lược Mỹ, làm choáng váng nước Mỹ, làm cho chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ ở miền Nam Việt Nam bị phá sản hoàn toàn. Tuy chưa mang lại thắng lợi trọn vẹn, thậm chí sau đó ta còn gặp những khó khăn, tổn thất nhất định khi địch tổ chức lực lượng phản kích, nhưng đây là một thắng lợi mang tầm vóc lịch sử; bước phát triển tất yếu trong chiến lược tiến công của cách mạng miền Nam. Thắng lợi này đã thể hiện ý chí quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ, khát vọng độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tạo bước ngoặt đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn, đồng thời khẳng định sức mạnh của sự thống nhất giữa "ý Đảng" và "lòng dân". Càng trong lúc gian khổ, ác liệt, hy sinh, mối quan hệ này càng thể hiện rõ nét, trở thành bài học vô giá không chỉ trong giai đoạn lịch sử lúc đó, mà còn có giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường. Đối với nước ta, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, song còn nhiều khó khăn, thách thức; các thế lực thù địch tập trung chống phá quyết liệt, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, "phi chính trị hóa", "dân sự hóa" quân đội. Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng đã làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. Điều đó đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Hơn bao giờ hết, chúng ta phải tiếp tục phát huy bài học về sự thống nhất giữa "ý Đảng, lòng dân" của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; trong đó, tập trung thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Thực tiễn của cách mạng Việt Nam và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 chỉ ra rằng, "ý Đảng, lòng dân" luôn hòa quyện, thống nhất, gắn chặt với nhau, tạo nên sức mạnh vô địch của chủ nghĩa anh hùng cách mạng để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Càng những lúc khó khăn, phức tạp thì "ý Đảng, lòng dân" càng được tăng cường và thống nhất với nhau. "Ý Đảng" được biểu hiện tập trung ở đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng phải đúng đắn, xuất phát từ tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. "Lòng dân" được thể hiện ở niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và việc chấp hành đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng do Đảng lãnh đạo; mục tiêu, lợi ích cao nhất của Đảng là phục vụ nhân dân, vì mục tiêu, lợi ích của quần chúng nhân dân.

Để thực hiện điều đó, Đảng ta luôn tự đổi mới, chỉnh đốn, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Trên cơ sở nắm vững quy luật khách quan, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát thực tiễn và nguyện vọng chính đáng của nhân dân để đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế. Đảng tập trung lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường quốc phòng - an ninh; nâng cao đời sống nhân dân, hướng tới mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Đồng thời, làm tốt công tác xây dựng Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự là "công bộc" của dân, "dĩ công vi thượng", gắn bó mật thiết với nhân dân; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và phong cách làm việc theo kiểu "quan cách mạng", xa dân, không bám nắm cơ sở, không hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân. Đảng đã và đang tạo mọi điều kiện thuận lợi, như: Thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, mở rộng dân chủ ở cơ sở,... để nhân dân tham gia (trực tiếp hay gián tiếp) vào hoạch định đường lối và xây dựng Đảng, góp phần để công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiếp tục được đẩy mạnh, đạt được những thành tích quan trọng trong tình hình mới.

Hai là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, thực sự là của dân, do dân, vì dân. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định rõ: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Do đó, sự thống nhất giữa "ý Đảng, lòng dân" còn được thể hiện thông qua hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Vì thế, cần tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự trong sạch, vững mạnh, của dân, do dân, vì dân, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Theo đó, cần phải coi trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế kiểm tra, giám sát các hoạt động và quyết định của cơ quan công quyền theo hướng phục vụ tốt nhất cho người dân. Đặc biệt, cần coi trọng phát huy vai trò của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nhằm thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng, quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước, giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội, như: Xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền và tầng lớp dân cư; tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện an sinh xã hội,... tạo sự đồng thuận và niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó cũng là biểu hiện sinh động về sự thống nhất biện chứng "ý Đảng, lòng dân" trong thời kỳ đất nước hội nhập, phát triển. Đồng thời, giữ vững kỷ cương phép nước, nâng cao hiệu quả thực thi thượng tôn của pháp luật; quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân đi đôi với kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện lợi dụng quyền dân chủ, vi phạm pháp luật, có những hành vi chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, xâm phạm quyền công dân, gây tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc. Tăng cường đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, nâng cao ý thức phục vụ, đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, tình trạng sách nhiễu, quan liêu, tham nhũng,... trong các cơ quan công quyền.

Ba là, đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong vận động, tập hợp nhân dân. Là thành viên trong hệ thống chính trị và là cơ sở chính trị của hệ thống chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò quan trọng tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, vận động, giáo dục và thu hút các lực lượng xã hội vào thực hiện phong trào hành động cách mạng của Đảng, xây dựng "ý Đảng, lòng dân". Vì vậy, Mặt trận Tổ quốc cần phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Tổ chức tốt phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, trọng tâm là các cuộc vận động: "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", "Ngày vì người nghèo" và "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam",... tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tình hình hiện nay, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp cần chú trọng kiện toàn tổ chức, tích cực đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động theo phương châm "Hướng về cơ sở, bám cơ sở"; thường xuyên phối hợp, gặp gỡ, trao đổi, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân, kịp thời tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở. Đồng thời, nâng cao chất lượng phản biện, giám sát xã hội, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân; động viên toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, xóa đói, giảm nghèo và các hủ tục lạc hậu, v.v..

Bốn là, phát huy vai trò của quân đội trong tiến hành công tác dân vận, góp phần xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách mạng, có mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Trong tình hình mới, quân đội cần phát huy vai trò "đội quân công tác", tích cực tiến hành công tác dân vận, góp phần quan trọng vào việc tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, thống nhất giữa "ý Đảng, lòng dân". Trên cơ sở chương trình, nội dung hoạt động đã xác định, công tác dân vận trong quân đội cần đặt trọng tâm vào tham gia xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở; giúp dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo và các chính sách xã hội. Đồng thời, tuyên truyền, vận động nhân dân đấu tranh chống "diễn biến hòa bình", không bị lôi kéo vào những luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ Đảng, Nhà nước, quân đội với nhân dân; nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng, tích cực tham gia xây dựng "thế trận quốc phòng toàn dân", "thế trận an ninh nhân dân", thực hiện các phong trào, các cuộc vận động do Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội biên phòng, đơn vị kinh tế - quốc phòng hoạt động trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo cần đẩy mạnh công tác dân vận, tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân vào cuộc đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, bài trừ hủ tục, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, v.v..

Kế thừa và phát huy bài học kinh nghiệm về sự thống nhất giữa "ý Đảng, lòng dân" trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vào thực tiễn hiện nay là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết. Thực hiện tốt điều đó, sẽ góp phần quan trọng tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân, làm cho Đảng hiểu dân, dân tin Đảng, tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #21 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 07:11:40 am »

ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN SÀI GÒN - GIA ĐỊNH ĐẨY MẠNH PHONG TRÀO TIẾN CÔNG VŨ TRANG,
ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, NỖ LỰC XÂY DỰNG THỰC LỰC CÁCH MẠNG,
SẴN SÀNG CHUẨN BỊ CHO THỜI CƠ MỚI (1965-1967)



TẤT THÀNH CANG
Ủy viên Trung ương Đảng,
Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trong Xuân Mậu Thân 1968 là một mốc son chói lọi, đánh dấu bước ngoặt quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự kiện ấy làm chấn động từ Lầu Năm Góc đến tòa Nhà Trắng, tạo ra làn sóng phản chiến trong từng gia đình người Mỹ và lan rộng khắp thế giới; làm thất bại chiến lược "chiến tranh cục bộ", làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Pari, đồng thời mở ra khả năng cho ta thực hiện mục tiêu khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để góp phần quan trọng làm nên những chiến công trên chiến trường trọng điểm, Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn - Gia Định dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục và Trung ương Đảng đã nỗ lực vượt lên chính mình vừa đấu tranh chính trị, vừa đấu tranh vũ trang, vừa xây dựng lực lượng chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt cho thời cơ chiến lược.

Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn - Gia Định đẩy mạnh phong trào tiến công vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị

Tháng 3-1964, chuẩn bị cho "Kế hoạch X", Khu Sài Gòn - Gia Định gấp rút xây dựng và phát triển lực lượng chính trị, quân sự, trong đó tập trung xây dựng các đội biệt động mạnh đủ sức đánh chiếm các mục tiêu chiến lược; và 5 tiểu đoàn mũi nhọn. Đầu tháng 1-1965, Khu Sài Gòn - Gia Định tổ chức một trung tâm huấn luyện bí mật ở Lò Gò, Tân Biên (Tây Ninh) với bí danh là Đoàn 165A. Đoàn Biệt động với mật danh F100 cũng được thành lập. Chỉ trong một thời gian ngắn, Đoàn F100 đã phát triển được 9 đội biệt động nội đô (từ số 3 đến số 11), mỗi đội có từ 15 đến 20 người; 3 đội đặc công biệt động ven đô và 3 đội đặc công nước. Các cơ sở, các lõm chính trị cùng nhiều hầm chứa vũ khí được bí mật triển khai như hầm ở số nhà 65 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, số 189/A đường Trần Quốc Toản... Nhiều lõm du kích ven đô được mở rộng ở Phước Đước (Nhà Bè); An Nhơn, An Phú Đông (Gò Môn); Tam Bình, Tam Hiệp (Dĩ An); Tăng Nhơn Phú (Thủ Đức); Vĩnh Lộc (Bình Chánh)... để tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang áp sát nội thành.

Ban Cán sự Đảng và các đảng bộ cơ sở trọng yếu được củng cố tổ chức và tăng cường cán bộ. Tính đến tháng 6-1965, nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn có 647 đảng viên, trong đó có 311 đảng viên hoạt động ở cơ sở. Các chi bộ và đảng viên đều được học tập về đường lối, chủ trương của Đảng; về 5 bước công tác cách mạng; về kinh nghiệm giữ bí mật; về tu dưỡng đạo đức, khí tiết của người chiến sĩ cách mạng và được phân công nắm quần chúng qua hội viên các đoàn thể và quần chúng nòng cốt.

Trước nguy cơ thất bại của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", tháng 3-1965, chính quyền Mỹ đưa quân trực tiếp vào tham chiến tại miền Nam Việt Nam. Trước hành động leo thang chiến tranh, phong trào toàn dân chống Mỹ diễn ra ngày càng quyết liệt. Mục tiêu chống Mỹ, lật đổ chính quyền Thiệu - Kỳ là nội dung chủ yếu của cao trào đấu tranh chính trị ở đô thị vào cuối mùa khô 1965-1966. Ba tháng đầu năm 1966 đã nổ ra 125 cuộc đấu tranh của công nhân lao động. Tháng 4-1966, "Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc" được thành lập, bao gồm nhiều giới đồng bào, trong đó có 70 giáo sư, nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng. Phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc chống những nọc độc của văn hóa Mỹ kết hợp với đấu tranh công khai trên mặt trận báo chí diễn ra sôi nổi, phong phú. Công nhân các ngành vận tải, giày Bata, dầu Esso, dệt Đông Á, điện, nước, xích lô, thuốc lá MIC, rượu Bình Tây liên tiếp đình công, bãi công đòi tăng lương, đòi tự do nghiệp đoàn, đòi giải quyết tình trạng vật giá leo thang. Ngày 26-12-1966, hơn 5.000 công nhân cảng Sài Gòn đình công phản đối việc sa thải công nhân vô cớ. Cuộc đình công kéo dài, địch phải đưa 4 tiểu đoàn lính Mỹ vào thay thế việc bốc dỡ hàng. Anh em công nhân đã chống trả quyết liệt không chịu rời cảng, không để cho lính Mỹ vào bốc dỡ thay. Cảng Sài Gòn bị tê liệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch quân sự của địch. Ngày 30-12-1966, để hỗ trợ cuộc đấu tranh của công nhân cảng, Liên hiệp Nghiệp đoàn Đô thành kêu gọi tất cả công nhân lao động toàn thành phố tổng đình công. Hàng loạt nhà máy, công xưởng hưởng ứng đình công 12 tiếng đồng hồ trong ngày.

Khí thế đấu tranh thắng lợi ở ngoại thành và trên toàn chiến trường miền Nam đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị và vũ trang nội thành ngày càng phát triển. Các đội biệt động thuộc Ban Hoa vận, các đội an ninh nội thành diệt nhiều tên mật vụ nợ máu, nhiều tên đầu sỏ trong chính quyền Sài Gòn; tình báo viên, cảnh sát ác ôn và lực lượng chiêu hồi chỉ điểm 1.

Phối hợp với các hoạt động, đêm 12-6-1966, Tiểu đoàn 8 của Quân khu cùng với Biệt động F100 và Tiểu đoàn 6 Tân Bình bắn 400 quả đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 67 máy bay các loại, 13 xe quân sự và nhiều phương tiện chiến tranh. Đêm 17-8-1966, hưởng ứng lời kêu gọi ngày 20-7-1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, pháo binh Sài Gòn - Gia Định bắn vào căn cứ hậu cần của Mỹ ở Ngã tư Bảy Hiền, phá hủy và phá hỏng gần 100 xe quân sự, tiêu diệt và làm bị thương 167 nhân viên kỹ thuật Mỹ và Niu Dilân. Ngày 1-11-1965, bộ đội Rừng Sác nã đạn pháo vào khu vực kỳ đài trong lễ "Quốc khánh" Đệ nhị Cộng hòa.

Đêm 3-2-1966, các mũi đặc công thuộc Đội 2 biệt động của Quân khu do đồng chí Nguyễn Văn Kịp (Đồng Đen) chỉ huy bí mật lọt vào sân bay Tân Sơn Nhất, một mũi của ta bị địch phát hiện tại đường băng số 2 buộc phải nổ súng trước giờ hẹn. Cuộc chiến đấu giáp lá cà diễn ra quyết liệt, sau 5 tiếng đồng hồ "đại náo" sân bay, đến hừng sáng, với sự giúp đỡ của đồng bào và binh sĩ yêu nước, các chiến sĩ đặc công rút về căn cứ an toàn. Phối hợp với trận đánh sân bay, Đội biệt động 68 tập kích cư xá của bọn cố vấn chiến tranh tâm lý ở đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách mạng Tháng Tám), diệt 30 tên Mỹ.

Bước sang năm 1967, nội dung, hình thức phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng ở nội thành càng phát triển đa dạng và phong phú. Cùng với những cuộc đấu tranh thường xuyên cho yêu cầu dân sinh, dân chủ, phong trào đấu tranh đòi hòa bình, dân chủ, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi Nội các của Thiệu - Kỳ phải từ chức diễn ra càng sôi nổi. Phong trào học sinh, sinh viên ngày càng phát huy mạnh mẽ, phong phú, đa dạng hòa nhịp với cao trào đấu tranh không ngừng của các tầng lớp nhân dân. Tổ chức "Lực lượng quốc gia tiến bộ" được thành lập, tập hợp đông đảo các tầng lớp trí thức, nhân sĩ, tín đồ các tôn giáo, trong đó có nhiều viên chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn, cùng đấu tranh cho yêu cầu hòa bình, dân chủ và quyền tự quyết của dân tộc, chĩa mũi nhọn vào bọn xâm lược Mỹ và Nội các của Thiệu - Kỳ.

Từ ngày 9 đến ngày 21-9-1967, hàng ngàn sinh viên các trường đại học bỏ thi, xuống đường biểu tình, tổ chức mít tinh tố cáo bầu cử gian lận của Thiệu - Kỳ trong cuộc bầu cử tổng thống nhiệm kỳ II. Ngày 28-9-1967, hơn 300 nhà sư từ chùa Ấn Quang kéo đến Dinh Tổng thống đòi Nguyễn Văn Thiệu phải hủy bỏ "Hiến chương Phật giáo". Trước khí thế đấu tranh quyết liệt của học sinh, sinh viên và quần chúng lao động, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh giới nghiêm trong toàn thành phố. Tháng 11-1967, học sinh, sinh viên các trường trung học và đại học Sài Gòn - Gia Định liên tiếp mở chiến dịch đấu tranh, kêu gọi đồng bào xuống đường đòi lật đổ Thiệu - Kỳ, đòi quân Mỹ xâm lược rút về nước. Các chiến sĩ biệt động nội thành tập trung đánh vào quân Mỹ và bọn tay sai ác ôn như đánh vào cư xá sĩ quan Mỹ ở đường Gia Phú, Đồng Khánh, Võ Di Nguy, Trương Minh Giảng, Nguyễn Văn Thoại, Sư Vạn Hạnh, Yên Đổ, Lam Sơn... và các đồn bốt cảnh sát ác ôn ở Ngô Quyền, Tôn Thất Thuyết, Quận 3, Thị Nghè.

Trên vùng ven, các đơn vị vũ trang nhân dân giữ vững thế chủ động tiến công. Trong ba tháng 7, 8 và 9-1967, Tiểu đoàn Quyết Thắng đã phối hợp với bộ đội địa phương và du kích Củ Chi đánh nhiều trận, đặc biệt là tập trung đánh những đoàn xe cơ giới của địch đi ủi phá xóm làng, phá hủy hàng trăm xe địch. Các tiểu đoàn địa phương của Gò Vấp, Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè, Rừng Sác, Bình Chánh... đều lập nhiều chiến công. Bộ đội Rừng Sác cũng liên tiếp lập nhiều chiến công làm kinh hồn, bạt vía kẻ thù.

Đến cuối năm 1967, các vùng ven Sài Gòn đã được mở rộng thành thế liên hoàn giữa các vùng du kích và lõm căn cứ, tạo điều kiện thuận lợi đưa lực lượng của ta áp sát đô thị. Ta đã làm chủ về đêm nhiều vùng ở Bình Chánh, Tân Bình, Nhà Bè, phía tây nam cũng như phía đông bắc Thủ Đức. Địch co lại cố thủ trong các đồn bốt. Nhiều nơi cán bộ ta có thể ra vào, đi lại giữa ban ngày. Đơn vị vũ trang của các Quận 7, 8 đánh trả nhiều trận càn, vây ráp của địch ở các vùng ven Hố Bần, Phong Đức, Rạch Bà Tàng, Khu Cầu Sập, Rạch Lồng Đèn... Nhiều cuộc tuyên truyền vũ trang đã diễn ra sôi nổi ở các quận ven đô. Hành lang từ xa lộ Sài Gòn - Biên Hoà qua vùng Bưng Sáu Xã, thông sang Long Phước Thôn, đã bảo đảm đường dây của Khu từ Vàm Nước ra Đông Môn - Long Thành được thông suốt. Đêm 20-10-1967, biệt động của ta bắn cối 60 ly vào Dinh Độc Lập giữa lúc đang diễn ra lễ đăng quang Tổng thống của Nguyễn Văn Thiệu, trong lễ đó có mặt của Phó Tổng thống Mỹ Hămphơrây.

Những trận đánh Mỹ và phong trào đấu tranh liên tục diễn ra ngay tại nội thành cho thấy thế trận chiến tranh nhân dân đang phát triển ở ngay trung tâm sào huyệt của địch, khiến cho Sài Gòn không còn là hậu phương an toàn của chúng.



---------------------------------------------------------------
1. Trận diệt tên Trần Văn Văn - Chủ tịch Quốc hội Sài Gòn (tên này định ra tranh cử Tổng thống với Nguyễn Văn Thiệu) tại góc đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) - Phan Kế Bính vào sáng ngày 14-4-1966 khiến cho các phe nhóm đối lập với Nguyễn Văn Thiệu nghi Thiệu dùng tay chân thanh toán tên này. Cũng hôm đó, một quả mìn hẹn giờ của ta cài trên xe cảnh sát chạy vào Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia đã phát nổ, làm chết và bị thương 17 tên địch. Các đội biệt động cũng đã tiến hành nhiều trận đánh vào quân Mỹ tại Sài Gòn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #22 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 07:18:04 am »

Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định nỗ lực phát triển lực lượng cách mạng, ráo riết chuẩn bị mọi mặt, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ cho thời cơ mới

Tháng 3-1966, Hội nghị cán bộ nội thành lần thứ 1 nhận định là ta đang chuyển sang bước ngoặt mới mà nội dung chủ yếu là Đảng ta đã thiết lập được quyền lãnh đạo phong trào, đánh bại ảnh hưởng của các xu thế phản động và thoả hiệp. Tháng 4-1966, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định họp để đánh giá toàn diện tình hình nông thôn, đô thị trong năm 1965 và đề ra Nghị quyết công tác cho Đảng bộ Khu Sài Gòn - Gia Định trong hai năm 1966-1967, với quyết tâm đưa lên cao trào toàn dân chống đế quốc Mỹ, góp phần đánh bại "chiến tranh cục bộ" của chúng . Nghị quyết của Khu ủy đã vạch ra mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Mỹ, mâu thuẫn giữa nguyện vọng hòa bình của nhân dân với chính sách mở rộng chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ và mâu thuẫn giữa quyền lợi thiết thân của quần chúng với chính sách vơ vét bóc lột tận cùng của địch để tiếp tục cuộc chiến tranh ngày càng phát triển gay gắt. Về phong trào cách mạng, Nghị quyết Hội nghị Khu ủy nhận định: "... Một bước ngoặt quan trọng trong đời sống chính trị ở đô thị... đồng thời cũng đánh dấu bước trưởng thành mới của lực lượng quần chúng". Nghị quyết còn nêu ra nhiều mặt công tác cụ thể cho từng vùng đô thị và nông thôn.

Thực lực cách mạng của Đảng bộ Khu Sài Gòn - Gia Định từ tháng 4-1965 đến tháng 4-1966 được phát triển khá nhanh. Đảng viên toàn khu vực tăng gần 100%; đoàn viên tăng 100%; hội viên đoàn thể tăng 300%; quần chúng cảm tình tích cực tăng trên 300%. Lực lượng vũ trang ba thứ quân đều phát triển nhanh. Ngoài Tiểu đoàn Quyết Thắng là đơn vị chủ lực của Khu, các cánh đều có tiểu đoàn bộ đội địa phương và các xã đều có các đơn vị du kích tập trung từ tiểu đội đến trung đội. Ở các xã, ấp còn bị địch kìm kẹp, có du kích mật và tự vệ mật. Tại nội thành, ngoài lực lượng biệt động của Khu, mỗi ngành, đoàn thể đều lập những tổ, đội biệt động hoặc trinh sát vũ trang và tự vệ mật. Chất lượng của các lực lượng vũ trang ngày càng được nâng cao 1.

Sau Nghị quyết 8 của Khu ủy (4-1966), do yêu cầu phát triển nhanh thực lực và sự trưởng thành của cơ sở đảng, nhiều chi bộ ở các địa bàn phường, khu vực hay chợ, trường học... được thành lập. Tháng 3-1966, Ban Cán sự Đảng ở nội thành Sài Gòn đã họp và đánh giá đúng mức về bước sự phát triển vượt bậc của phong trào chính trị, vũ trang ở đô thị, đồng thời phân tích những khó khăn và thiếu sót quan trọng của các cơ sở đảng, đặc biệt là vấn đề xây dựng và phát triển thực lực cách mạng chưa đáp ứng kịp thời với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ.

Trong các mặt công tác, Khu ủy đặc biệt chú trọng chỉ đạo việc củng cố các cơ sở Đảng, phát triển Đảng trong công nhân lao động, học sinh, sinh viên ưu tú; điều phối số cán bộ lãnh đạo từ ngoài vào để tăng cường công tác lãnh đạo các vùng ven và nội đô; quan tâm đến việc tăng cường nòng cốt nắm lấy các tổ chức công khai, hợp pháp, nửa công khai. Đảng bộ quyết tâm sử dụng các hình thức công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp để đưa phong trào đi lên, đồng thời che giấu và bảo tồn các cơ sở bí mật. Trong những tháng cuối năm 1967, trọng tâm công tác của các cơ sở nội thành là tổ chức hệ thống nòng cốt trong các tổ chức công khai, nửa công khai. Nhờ đó, ta có một số lượng nòng cốt quần chúng đáng kể trong các tổ chức Tổng Liên đoàn Lao động, Liên hiệp các nghiệp đoàn tự do, Tổng hội Sinh viên, Tổng hội Học sinh, Phong trào Dân tộc tự quyết, Nghiệp đoàn Ký giả, Lực lượng Quốc gia tiến bộ, Lực lượng bảo vệ Văn hóa dân tộc, Hội bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm phụ nữ, Hội Ái hữu nghệ sĩ, Nghiệp đoàn Giáo chức.

Trên mặt trận thông tin báo chí, ngoài việc đưa người vào hướng dẫn các báo công khai, Khu ủy chủ trương mở rộng diện báo chí nửa công khai của các giới; hướng dẫn nhiều nghiệp đoàn ra nội san 2. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí đã góp phần rất quan trọng trong công tác giáo dục tư tưởng, phổ biến thông tin, hướng dẫn dư luận đông đảo quần chúng Sài Gòn - Gia Định và các đô thị miền Nam.

Về xây dựng cơ sở, ta đã chuẩn bị các kho bí mật để cất giấu vũ khí, những chỗ ém quân và tổ chức việc vận chuyển vũ khí từ ngoài vào nội thành. Tháng 7-1965, đồng chí Đỗ Văn Căn xây dựng kho bí mật đầu tiên, chứa được vũ khí tại số nhà 183/4 Trần Quốc Toản (nay là Đường 3/2) đối diện với Cơ quan viện trợ Mỹ, ngay cạnh Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô.

Từ năm 1966 đến năm 1967, các đơn vị như A20, A30 được giao đặc trách việc xây hầm và vận chuyển vũ khí. Thực hiện nghiêm ngặt phương châm "bốn hóa", đến cuối năm 1967, ta đã xây dựng được 13 hầm vũ khí phục vụ cho các mục tiêu chiến lược 3. Nhiều cơ sở để đặt Sở chỉ huy (như nhà số 7 Yên Đổ - tiệm phở Bình) và nhiều hầm bí mật làm nơi trú ẩn cho cán bộ và chiến sĩ từ ngoài vào cũng được khẩn trương xây dựng.

Tháng 5-1967, Hội nghị lần thứ năm của Trung ương Cục miền Nam đề ra nhiệm vụ cho toàn Miền: "Phải đẩy mạnh chủ động tấn công và phản công liên tục; tiếp tục đánh bại hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định"; tiếp tục đẩy địch vào thế bị động phòng ngự; xây dựng 3 thứ quân của ta vững mạnh, tạo điều kiện giành thắng lợi ngày càng lớn; tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa". Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định xác định nhiệm vụ trước mắt của Đảng bộ và quân dân toàn Khu là: "Đẩy mạnh hơn nữa phong trào tiến công vũ trang và đấu tranh chính trị trong nội thành nhằm làm cho Mỹ - Thiệu ngày càng bị động đối phó với ta ngay tại sào huyệt của chúng, gắn liền với đẩy mạnh phong trào chống phá bình định, phá thế kìm kẹp của địch ở các vùng nông thôn ven đô. Nỗ lực xây dựng thực lực cách mạng, đặc biệt là xây dựng cơ sở nòng cốt trong các tổ chức công khai cũng như phát triển lực lượng vũ trang, tự vệ mật, tạo thêm nhiều căn cứ, nhiều cơ sở vật chất hậu cần tại chỗ, sẵn sàng phục vụ cho thời cơ mới"3. Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo các phong trào theo tinh thần và nội dung của Nghị quyết 8 được đề ra từ tháng 4-1966, trong đó có những yêu cầu quan trọng về phần đô thị như sau: "Ra sức hình thành và phát triển cao trào chính trị của quần chúng dưới các khẩu hiệu chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, chĩa mũi nhọn tấn công vào Mỹ và tay sai..."; "... Có nhiều phong trào đấu tranh từ nhiều phía khác nhau, có thấp, có cao, có nhỏ, có lớn, có bí mật, có công khai tấn công địch, có phong trào kinh tế, có phong trào chính trị, có phong trào quần chúng cơ bản và quần chúng tiểu tư sản, quần chúng bên trên... Cần chú ý nhiều hơn nữa phong trào văn hóa, chống các ảnh hưởng văn hóa đồi trụy và chống các loại triết học phản động của các phe phái, tạo nhiều khả năng tập hợp thật nhiều giới đồng bào tham gia thành một mặt trận đấu tranh văn hóa; từ đó mà chuyển dần từng bước thành những phong trào chính trị chống Mỹ rộng lớn..." .

Quán triệt chỉ đạo của Bộ Chính trị, ngay từ tháng 10-1967, Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Miền đã chỉ đạo quân và dân trên các chiến trường ra sức chuẩn bị mọi mặt cho "Tết Mậu Thân" 1968. Trên cơ sở đó, tháng 10-1967, Khu ủy Sài Gòn - Gia Ðịnh tổ chức hội nghị mở rộng để tiếp thu Nghị quyết của Bộ Chính trị và Trung ương Cục, đề ra kế hoạch, mục tiêu Tổng tiến công và nổi dậy, nhằm thực hiện hai nhiệm vụ lớn: Ðánh chiếm các căn cứ đầu não của địch tại Sài Gòn và phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền.

Về quân sự được tổ chức thành ba khối: Khối biệt động, Khối các phân khu, Khối chủ lực Miền. Trong đó, Khối biệt động gồm cụm 3-4-5, cụm 6-7-9, cụm 1-2-8 với hơn 100 chiến đấu viên có nhiệm vụ tiến công vào các mục tiêu đầu não của địch như: Dinh Ðộc Lập, Ðại sứ quán Mỹ, Ðài Phát thanh, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh hải quân...; Khối phân khu gồm các lực lượng vũ trang Phân khu và được tăng cường thêm 15 tiểu đoàn chủ lực khác trong đó có Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng, Tiểu đoàn 3 Gò Vấp - Hóc Môn, Tiểu đoàn 3 Dĩ An, Tiểu đoàn 4 Đặc công Gia Ðịnh... có nhiệm vụ tiếp ứng cho các đơn vị biệt động chiếm lĩnh mục tiêu trong nội đô; khối chủ lực Miền có ba sư đoàn bộ binh 5, 7, 9 và một sư đoàn pháo binh, Trung đoàn bộ binh 88 và một số lực lượng thuộc các binh chủng khác có nhiệm vụ tiến công các căn cứ của địch, ngăn chặn không cho chúng về ứng cứu Sài Gòn.

Ðể thực hiện nhiệm vụ nổi dậy, tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền, ngay từ đầu năm 1967, nhiều cán bộ đảng được bí mật tăng cường vào đô thị Sài Gòn - Chợ Lớn nhằm điều nghiên mục tiêu, gây dựng cơ sở, cất giấu vũ khí, in truyền đơn, viết khẩu hiệu... chuẩn bị cho những mục tiêu lớn. Trên cơ sở đó, gần 400 cơ sở cách mạng, "lõm" chính trị, kho vũ khí bí mật được hình thành ngay trong lòng Sài Gòn, điển hình như ở Nhi Tỳ Quảng Ðông, đường Trần Quốc Thảo (Quận 3), Cao Ðạt (Quận 5), Minh Phụng, Cây Gõ (Quận 6), Trường đua Phú Thọ (Quận 11). Bên cạnh đó, lực lượng quần chúng yêu nước nhất là nhân sĩ, trí thức được các tổ chức của Đảng như Trí vận, Hoa vận, Công vận, Phụ vận,... bí mật vận động, tập hợp trong các tổ chức công khai, bán công khai như Tổng hội Sinh viên, Tổng đoàn Học sinh, Phong trào Dân tộc tự quyết, Nghiệp đoàn ký giả, Lực lượng Quốc gia tiến bộ, Lực lượng Bảo vệ văn hóa dân tộc, Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ, Hội Ái hữu nghệ sĩ, Nghiệp đoàn giáo học tư thục Việt Nam, Nghiệp đoàn giáo chức cách mạng, Hội Ái hữu giáo chức công lập bậc tiểu học, Nghiệp đoàn giáo dục tư thục người Việt gốc Hoa, Hội Kỹ sư và kỹ thuật gia Việt Nam... Ðây chính là đội quân chính trị hùng hậu để tham gia khởi nghĩa khi Tổng tiến công về quân sự.

Tính đến cuối tháng 12-1967, mọi công tác chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy cơ bản đã hoàn tất. Tài lực, vật lực và lực lượng ba thứ quân của thành phố cùng với lực lượng nổi dậy đều ở tư thế sẵn sàng nhập cuộc.

Có thể nói, trong hai mặt tổng công kích và tổng khởi nghĩa, nếu như sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng vũ trang Miền nhằm đảm bảo mục tiêu tổng công kích thì công tác đô thị được đặt ở vị trí hàng đầu trong chỉ đạo của Trung ương Đảng cũng như Trung ương Cục nhằm bảo đảm mục tiêu tổng khởi nghĩa, trong đó, trọng tâm là Khu Sài Gòn - Gia Định. Có thể khẳng định, nếu không có nhân dân và lực lượng chính trị tại chỗ thì sẽ không thể tổ chức được biệt động ém sẵn trong nội thành, không có nhân dân và lực lượng chính trị tại chỗ thì sẽ không đưa được vũ khí vào nội thành; không có nhân dân và lực lượng chính trị tại chỗ thì không thể đưa được các tiểu đoàn mũi nhọn vào đánh trong nội đô; không có nhân dân và lực lượng chính trị tại chỗ thì sẽ không thể giải quyết được công tác thương binh, công tác tiếp tế là những mặt công tác mà không có tổ chức hậu cần nào của quân đội khi đó có thể giải quyết được. Từ đó, có thể thấy rõ, dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của Trung ương Đảng và Trung ương Cục, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã thực hiện tốt công tác chuẩn bị mọi mặt cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trong đó nổi bật nhất chính là việc xây dựng các lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang tại chỗ. Chính sự chuẩn bị đó đã góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Đồng thời, đó cũng chính là bài học kinh nghiệm sâu sắc về chiến tranh nhân dân, sức mạnh lòng dân của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ thành phố, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay chúng ta cần phải tiếp tục phát huy.





---------------------------------------------------------------
1. Đầu năm 1967, số đảng viên trong lực lượng vũ trang thuộc các huyện ngoại thành là: Dĩ An có 14 đảng viên trong số 86 tay súng; Bình Tân có 43 đảng viên trong số 451 tay súng; Thủ Đức có 17 đảng viên trong số 217 tay súng; Nhà Bè có 40 đảng viên trong số 281 tay súng; Gò Môn có 40 đảng viên trong số 561 tay súng; Củ Chi có 82 đảng viên trong số 1.652 tay súng.

2. Nghiệp đoàn xe lam, Nghiệp đoàn hỏa xa, Nghiệp đoàn thuốc lá Bastos. Ngoài tờ Sinh viên và Học sinh, còn có tờ Tin tưởng của Đại học Vạn Hạnh; Hướng mới của Đại học Y khoa; Khoa học của Đại học Khoa học; Nhân bản của Đại học Sư phạm; Hướng đi của Đại học Văn khoa; Bông súng của Đại học Dược khoa; Đất nước của Trường Luật; Tiếng nói của Trường Trung học Cao Thắng; Áo tím của Trường Gia Long; Tuổi trẻ và ngòi bút của Trường Pétrus Ký... Trong giáo chức cũng có tờ Tự quyết.

3.Trong đó hầm tại nhà 287/70 đường Trần Quý Cáp chứa được 350 kg thuốc nổ, 10 tiểu liên AK, 3.000 viên đạn, 50 lựu đạn và cả súng B40... Riêng các đơn vị lo về quân nhu, cũng đã xây dựng được 19 "lõm" chính trị gồm 325 gia đình tích cực cách mạng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #23 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 07:23:25 am »

NÉT ĐẶC SẮC CỦA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY
XUÂN MẬU THÂN 1968 TẠI SÀI GÒN - GIA ĐỊNH



Trung tướng VÕ MINH LƯƠNG
Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7


Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 đã đánh dấu một bước phát triển mới trong học thuyết quân sự Việt Nam. Lần đầu tiên, ta tổ chức và phát động một cuộc tiến công đồng loạt trên chiến trường rộng lớn, tập trung vào các đô thị, trọng tâm là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế mà vẫn giữ được yếu tố bất ngờ tới giờ nổ súng, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của địch trên toàn miền Nam. Nét đặc sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn - Gia Định biểu hiện ở sự độc lập, sáng tạo, tài mưu lược của Đảng ta trong nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc; đồng thời là biểu tượng sáng ngời về ý chí và sức mạnh quật cường của quân và dân ta. Thắng lợi này đã để lại những bài học vô giá, in đậm trong lịch sử như những dấu son chói lọi về một thời kỳ oanh liệt của Đảng trong nghệ thuật chỉ đạo; của dân tộc, quân đội và nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và thống nhất đất nước.

Thứ nhất, Đảng ta đã nhạy bén nắm bắt thời cơ, kịp thời đề ra chủ trương chiến lược đúng đắn, sáng tạo.

Ở miền Nam, hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của Mỹ - chính quyền Sài Gòn không những không đạt được kết quả gì đáng kể, trái lại còn bị thiệt hại nặng nề. Ở miền Bắc, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam và uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta cũng bị trừng trị đích đáng. Nội bộ chính quyền Mỹ bị chia rẽ sâu sắc. Phong trào phản đối chiến tranh dâng cao khắp nước Mỹ... Hơn nữa, năm 1968 lại là năm bầu cử Tổng thống Mỹ - thời điểm rất nhạy cảm về chính trị. Điều này buộc Tổng thống đương nhiệm Giônxơn phải tính toán, thận trọng để đưa ra các quyết sách, nhất là đường lối chiến tranh Việt Nam nhằm tạo sự ủng hộ của cử tri trong cuộc chạy đua vận động tranh cử. Tình hình trên cho thấy, mặc dù lực lượng quân sự Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn rất đông, tiềm lực chiến tranh còn mạnh, nhưng thực tế chiến trường đã đẩy đế quốc Mỹ vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Trong khi đó, mặc dù còn một số hạn chế, song ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi. Lực lượng quân sự và chính trị của ta ở miền Nam đã lớn mạnh, các lực lượng vũ trang đã có những bước tiến vượt bậc, vận dụng những phương thức tác chiến chiến lược độc đáo, linh hoạt, diệt được nhiều sinh lực địch. Ta giữ vững và mở rộng quyền làm chủ, hình thành thế bao vây xung quanh các căn cứ, thị xã, đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở các đô thị.

Trên cơ sở đánh giá cụ thể so sánh tương quan lực lượng địch - ta, Hội nghị Bộ Chính trị (12-1967) nhận định: "Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Tình hình đó cho phép chúng ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới - thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định" .

Chủ trương của Bộ Chính trị được cụ thể hóa trong Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (1-1968) với việc xác định mục tiêu chiến lược của tổng công kích, tổng khởi nghĩa là:

"a) Tiêu diệt và làm tan rã tuyệt đại bộ phận quân nguỵ, đánh đổ nguỵ quyền các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân.

b) Tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được các nhiệm vụ chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam.

c) Trên cơ sở đó, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc" .

Đây là một chủ trương táo bạo, đúng đắn và kịp thời của Đảng, thể hiện sự nhạy bén nắm bắt thời cơ chiến lược trong chỉ đạo chiến tranh, bởi năm 1968 đã hội tụ đủ các điều kiện về chính trị, quân sự, ngoại giao để ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi lớn. Nếu quá sớm, ta chưa đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược của địch vào năm 1965-1966 và 1966-1967 thì đế quốc Mỹ không chịu thua vì còn quỹ thời gian để triển khai đầy đủ chiến lược "chiến tranh cục bộ". Nếu để muộn cuộc tiến công sau năm bầu cử tổng thống Mỹ thì áp lực quân sự khó làm rung chuyển nước Mỹ, buộc Giônxơn phải thay đổi chính sách về Việt Nam.

Đặc sắc hơn, Đảng ta chọn thời điểm mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Nguyên đán - đúng vào đêm giao thừa, là lúc địch dễ sơ hở, chủ quan. Thực tế cho thấy, vào những ngày này, lực lượng quân đội Sài Gòn chỉ còn khoảng 50% quân số có mặt tại đơn vị. Điều đó rất thuận lợi cho ta đánh chiếm các mục tiêu.

Thứ hai, chọn hướng, mục tiêu táo bạo, bất ngờ và hình thức, phương pháp tiến công phù hợp, hiệu quả.

Khác với các hoạt động tác chiến trước đó, khi ta thường nhằm vào các vùng nông thôn, đồng bằng và rừng núi (nơi địch tương đối yếu), trong đợt tổng tiến công này, ta chọn hướng công kích chủ yếu là các thành thị, nhất là các thành phố lớn (trọng tâm là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế) - nơi tập trung bộ máy quân sự và hành chính của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Ta đã thực hiện một đòn đánh hiểm, đánh đau, đánh vào yết hầu, vào "trung ương thần kinh địch". Bằng đòn đánh này, ta đã phơi bày đầy đủ sự thất bại về quân sự và sự yếu kém trong tiến hành chiến tranh của địch. Chính Oétmolen, Tổng Chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam lúc đó đã thừa nhận: "Việt cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại... các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa. Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta phải công nhận đối phương đã giáng cho chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề" . Ở Sài Gòn - Gia Định, các mục tiêu trọng yếu được xác định là Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tư lệnh Hải quân, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát... Đó là những nơi tập trung sinh lực mạnh và khá nhạy cảm trong bộ máy chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam. Đánh được các mục tiêu này chắc chắn sẽ gây tiếng vang, tạo ảnh hưởng lớn đến cục diện chiến tranh. Vì thế, đây là một quyết định táo bạo của ta và chưa từng được thực hiện kể từ khi Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam. Chỉ tính riêng việc ta đánh và chiếm giữ Tòa Đại sứ Mỹ trong nhiều giờ đã tạo hiệu ứng lớn. Đôn Obơcđoiphơ đã nhận xét trong tác phẩm Tết: "Xem ra toàn thế giới đang hướng về sứ quán và phán xét hành động này như thể toàn bộ cuộc chiến tranh sẽ được quyết định" .

Cùng với việc chọn mục tiêu bất ngờ, Đảng ta còn chọn hình thức và phương pháp tiến công độc đáo, đặc sắc. Lúc đầu Bộ Tổng Tham mưu đề xuất phương án tác chiến trong Đông - Xuân 1967-1968, sử dụng lực lượng quân sự là chính, đánh những trận tiêu diệt lớn, với chỉ tiêu, định mức tiêu diệt địch quy mô cao. Cách đánh này khó có thể tạo được chuyển biến trong chiến lược, trong khi tình hình lúc đó có thể cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định. Nhưng chuyển như thế nào?

Sau khi cân nhắc, tính toán kỹ các khả năng, Bộ Chính trị quyết định chọn phương thức tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt dưới nhiều hình thức, bằng nhiều lực lượng, trên khắp các địa bàn chiến lược, buộc địch phải căng kéo lực lượng đối phó ở khắp nơi. Tại Sài Gòn - Gia Định, chia thành 6 phân khu, bố trí lực lượng thành 5 mũi tiến công vào nội đô Sài Gòn. Đặc biệt, phân khu 6 (các quận nội thành) có 11 đội đặc công, biệt động, tổ chức thành 3 cụm (Đông, Nam, Bắc). Các phân khu khác có từ 4 đến 6 tiểu đoàn bộ binh, tổ chức thành những tiểu đoàn mũi nhọn hướng vào nội đô để phối hợp và tiếp ứng cho các đội đặc công, biệt động. Nhiều cán bộ, đảng viên được bí mật tăng cường vào Sài Gòn nhằm điều nghiên mục tiêu, gây dựng cơ sở, cất giấu vũ khí... gần 400 cơ sở cách mạng, "lõm chính trị", kho vũ khí bí mật được hình thành ngay trong lòng nội đô Sài Gòn.

Sự kiện Xuân Mậu Thân 1968 thực sự đã sáng tạo ra một hình thức tiến công chiến lược mới, đồng loạt, với một lực lượng không nhiều, bằng sự phối hợp giữa các chiến trường trên quy mô toàn miền, ta đã tạo hiệu ứng mang tính chiến lược, làm thay đổi hoàn toàn cục diện cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ - một đế quốc "siêu cường". Mắcxoen Taylo, cựu đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đã từng viết trong hồi ký của mình: "Những điều bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho tôi không phải là việc đối phương đã mở được một cuộc tiến công lớn mà chính là việc họ đã mở cùng một lúc nhiều trận tiến công mãnh liệt đến như thế" .

Từ phân tích trên, chúng ta thấy rằng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Đảng ta đã phát hiện thời cơ, hạ quyết tâm chính xác, kịp thời, xác định mục tiêu tiến công chủ yếu một cách táo bạo và tìm ra phương thức tiến công mới. Đây thực sự là một sáng tạo độc đáo trong tư duy chiến lược của Đảng, một điển hình về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, ta dùng lực lượng tinh nhuệ thực hiện đòn đánh bất ngờ vào các cơ quan đầu não của bộ máy chiến tranh Mỹ, chính quyền Sài Gòn.

Sự kiện Mậu Thân được tiến hành trong điều kiện lực lượng quân sự địch vẫn còn hơn một triệu tên, bộ máy chiến tranh của địch vẫn còn hiệu lực và tiềm lực chiến tranh của chúng còn mạnh. Để đạt được mục tiêu chiến lược đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, Đảng ta chủ trương sử dụng một cách tốt nhất lực lượng tinh nhuệ của ta, dùng binh lực và hỏa lực mạnh đánh vào các binh đoàn chủ lực địch, đánh mạnh vào thành phố, tạo điều kiện cho hàng triệu quần chúng ở thành thị và các vùng ven bị tạm chiếm nổi dậy khởi nghĩa; phối hợp với lực lượng quân sự của ta tiêu diệt, đánh sập bộ máy đầu não của chính quyền Sài Gòn, làm tê liệt tận gốc bộ máy chiến tranh Mỹ, chính quyền Sài Gòn, biến hậu phương và nơi dự trữ chiến tranh của địch thành hậu phương và nơi dự trữ chiến tranh của ta, làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng có lợi cho ta.

Để đáp ứng nhiệm vụ đó, Quân khu Sài Gòn - Gia Định được giao nhiệm vụ xây dựng một lực lượng đặc công, biệt động mạnh, có tổ chức thống nhất, chuẩn bị các điều kiện bảo đảm, có thể cùng một lúc bất ngờ tiến công chiếm lĩnh các cơ quan đầu não của địch khi có thời cơ chiến lược.

Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, quân dân miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 4 thành phố lớn, trọng tâm là Sài Gòn - Gia Định. Ta sử dụng một số đơn vị bộ đội chủ lực đánh chiếm các mục tiêu, kìm chân các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn chủ lực địch, tạo điều kiện cho lực lượng đặc biệt tinh nhuệ là các đội đặc công, biệt động, bất ngờ đánh chiếm một số cơ quan đầu não trung ương của địch.

Phối hợp với lực lượng đặc công, biệt động, các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu vượt qua hệ thống đồn bốt dày đặc của địch vào thành phố tiến công địch. Điển hình như: Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn (Tiểu đoàn 2 Gò Môn); căn cứ Cổ Loa, Phù Đổng (Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng); doanh trại của địch ở Quận 5, Quận 10, Quận 11, Sư Vạn Hạnh, Vườn Lài, cư xá Hỏa Xa (Tiểu đoàn 6 Bình Tân).... Cùng với các mũi tiến công của các đơn vị chủ lực, dân quân du kích địa phương quy mô cấp tiểu đội, trung đội, đại đội đã kết hợp với bộ đội các phân khu tiến công vào hệ thống đồn bốt của địch. Các sư đoàn, trung đoàn chủ lực của ta ở vòng ngoài đón đánh không cho các đơn vị chủ lực địch tăng viện vào vùng ven và nội thành, giữ phía sau cho các tiểu đoàn mũi nhọn.

Trước đòn tiến công mạnh mẽ, bất ngờ và rộng khắp của ta, địch buộc phải rút lực lượng ở các nơi về cứu nguy cho đô thị, bỏ hở vùng nông thôn rộng lớn. Nắm vững thời cơ, lực lượng vũ trang giải phóng đã hỗ trợ cho nhân dân các địa phương đồng loạt nổi dậy đánh vào bộ máy kìm kẹp của địch ở khắp các vùng nông thôn, đồng bằng, miền núi; tiêu diệt và phá hủy một bộ phận lớn sinh lực, phương tiện chiến tranh, làm đảo lộn chiến lược quân sự của Mỹ, chính quyền Sài Gòn.

Thứ tư, phát huy "thế trận lòng dân", tổ chức phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tạo nguồn sức mạnh trên quy mô rộng lớn.

Tại Sài Gòn - Gia Định, "thế trận lòng dân" đã được triển khai rộng khắp, vừa có diện rộng vừa có chiều sâu. Quần chúng đã tham gia tích cực vào sự chuẩn bị cho chiến dịch. Sự tham gia đông đảo và hăng hái của mọi tầng lớp nhân dân, già, trẻ, thanh niên, phụ nữ, các tôn giáo... phản ánh sâu sắc "thế trận lòng dân". Ý chí quyết tâm cao, lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc, cùng với khát vọng độc lập, tự do và thống nhất đất nước của quần chúng nhân dân là nguồn sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Trước đó, thành phố đã xây dựng được 19 "lõm chính trị", "lõm" căn cứ gồm 325 gia đình công nhân và lao động. Lực lượng phụ nữ Sài Gòn - Gia Định tham gia nhiều trong các đội biệt động, lực lượng vũ trang địa phương, giao liên, dân công và cứu thương; đóng vai trò quan trọng trong xây dựng cơ sở chính trị trong lòng thành phố, xây dựng thế căn cứ "nhân tâm" vững chắc trong các khu dân cư, các chợ... Đồng thời, nhiều thanh niên, sinh viên, học sinh đã cầm vũ khí sát cánh chiến đấu cùng các chiến sĩ Quân giải phóng. Lực lượng Thành đoàn hoạt động mạnh ở khu xóm Bàn Cờ, Vườn Chuối, Nguyễn Thông, Lê Văn Duyệt, khu vực chùa Ấn Quang... Sau những tuần đầu của Tết Mậu Thân, Tổng hội Sinh viên được thành lập, tập hợp hơn 500 người cứu trợ đồng bào bị nạn. Các tầng lớp khác như: giáo chức, văn nghệ sĩ và nông dân ở các vùng ven đã tham gia tích cực hỗ trợ cho lực lượng vũ trang, lực lượng đấu tranh chính trị của công nhân, thanh niên, sinh viên, học sinh. Đồng bào các giới đã cùng lực lượng vũ trang đánh chiếm Tòa hành chính ở Quận 5, Quận 4, thị trấn Hóc Môn...

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy cho thấy vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong việc phối hợp với các lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch, giành quyền làm chủ. Nhân dân Sài Gòn - Gia Định đã tạo ra một thế trận tiến công thường xuyên và hiểm hóc trên cả chính diện và sau lưng địch, thực hiện bám trụ tại chỗ, "một tấc không đi, một ly không rời", đánh địch khắp nơi, vây hãm chúng vào thế bị động, lúng túng, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tiến công địch. Sự nổi dậy, chiến đấu rộng khắp của nhân dân thực sự là chỗ dựa vững chắc để các đơn vị chủ lực của ta đánh những đòn quyết định. Nhiều đơn vị chủ lực bí mật đứng vững được ngay tại cửa ngõ Sài Gòn là bởi ta có chỗ dựa chắc vào dân, vào các tổ chức đảng và cơ sở cách mạng ở địa phương. Đây là nhân tố đặc biệt quan trọng bảo đảm cho các đơn vị chủ lực hoàn thành nhiệm vụ tiến công địch. Không có nhân dân thì ta không thể nắm tình hình, bộ đội khó có thể vượt qua các tuyến ngăn chặn dày đặc của địch để vào, ém quân bí mật trong lòng thành phố - nơi gần sát các cơ quan đầu não của địch, cũng không thể có khối lượng lớn vũ khí để chiến đấu. Nhân dân còn trực tiếp tham gia chiến đấu, tiếp tế lương thực, che chở và nuôi dưỡng bộ đội.

Đây thực sự là một cuộc phát động cách mạng trong quần chúng với quy mô khá lớn ngay ở sào huyệt quan trọng nhất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn; là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài có sự tham gia của đông đảo quần chúng, xây dựng lực lượng cơ sở chính trị song song với lực lượng vũ trang theo phương châm đánh địch trên cả ba vùng chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Nửa thế kỷ đã qua đi, nhưng độ lùi thời gian ấy càng làm cho chúng ta nhìn nhận, đánh giá khách quan, sâu sắc và toàn diện hơn vị thế của chiến thắng Mậu Thân 1968 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Chiến thắng Mậu Thân 1968 là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử như một mắt xích quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, buộc đế quốc Mỹ phải thừa nhận đã thất bại trong chiến lược "chiến tranh cục bộ" và đưa quân Mỹ về nước.

Sự kiện Mậu Thân mãi mãi là trang sử oanh liệt của quân và dân ta, ghi dấu ấn trong lịch sử dân tộc bằng chiến thắng vẻ vang với vai trò lãnh đạo của Đảng, nổi bật nhất là năng lực vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chọn thời cơ, trong đề ra chủ trương chiến lược đúng đắn, sáng tạo; chiến thắng Mậu Thân 1968 còn là sự sáng suốt trong lựa chọn mục tiêu, phương pháp tiến công phù hợp, hiệu quả; là tinh thần dũng cảm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang cùng toàn dân để làm nên chiến thắng với khát vọng hòa bình và ý chí thống nhất đất nước.

Ngày nay, những nét đặc sắc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vẫn còn nguyên giá trị. Những kinh nghiệm ấy rất cần được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #24 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 08:14:26 am »

TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968
CUỘC TỔNG DIỄN TẬP CHO ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975



Thiếu tướng, TS. NGUYỄN HOÀNG NHIÊN
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Đòn tiến công này đã gây cho giới cầm quyền Nhà Trắng một cú "choáng đột ngột", làm đảo lộn thế bố trí chiến lược, phá vỡ kế hoạch tác chiến của quân Mỹ, làm rung chuyển nước Mỹ; buộc Tổng thống Mỹ L.B Giônxơn phải tuyên bố xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán với ta ở Pari và không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ hai. Đồng thời, đã đánh bại về cơ bản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, mở ra khả năng cho ta hiện thực hóa tư tưởng "đánh cho Mỹ cút", để tiến tới "đánh cho ngụy nhào" của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là rất to lớn, nhưng cũng bộc lộ một số khuyết điểm đã được chỉ ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21, khóa III (6-1973) và ý kiến của các đồng chí lãnh đạo, các tướng lĩnh và các nhà khoa học nêu ra tại những cuộc Hội thảo khoa học trước đây. Nhưng hơn hết, sự kiện này đã để lại nhiều bài học quý giá, đánh dấu một bước phát triển cao về nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đó thực sự là cuộc tổng diễn tập cho Đại thắng mùa Xuân 1975, được biểu hiện trên những vấn đề sau:

1. Nghiên cứu, đánh giá đúng về địch, có chủ trương chiến lược phù hợp, xây dựng quyết tâm chính xác

Nghiên cứu, đánh giá đúng đối phương là cơ sở rất quan trọng giữ vị trí tiền đề cho việc hoạch định chủ trương và quyết tâm chiến lược kịp thời, chính xác - một trong những yếu tố cốt lõi để giành thắng lợi chiến tranh. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ta xác định chủ trương và thực hiện quyết tâm là tổng công kích - tổng khởi nghĩa; với mục tiêu được lựa chọn là đồng loạt đánh vào hầu hết các thành phố, đặc biệt là Sài Gòn, Đà Nẵng và Huế, các thị xã, thị trấn, chi khu quân sự, quận lỵ, các sân bay và căn cứ hậu cần của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên toàn miền Nam. Trước đối tượng quân Mỹ, được đưa vào chiến trường miền Nam với vai trò là lực lượng tác chiến chủ yếu và quân đồng minh của Mỹ cùng với quân đội Sài Gòn đã được hiện đại hóa, nâng tổng quân địch lên tới 1,2 triệu, chủ lực của ta ở miền Nam ít hơn rất nhiều lần cả về quân số và vũ khí, trang bị 1. Đặc biệt, lực lượng nòng cốt để thực hiện cuộc Tổng tiến công chủ yếu vào các mục tiêu trọng yếu trong nội đô là lực lượng đặc công, biệt động. Tuy nhiên, trên thực tế, sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng đặc công, biệt động với các đơn vị chủ lực không kịp thời; sự nổi dậy của quần chúng để giành quyền làm chủ (tổng khởi nghĩa) đã không diễn ra... Do vậy, tuy giành được thắng lợi lớn nhưng ta cũng mắc phải nhiều khuyết điểm dẫn đến tổn thất nặng nề về lực lượng và địa bàn đứng chân. Hệ quả đó đã được Đảng ta chỉ rõ tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 khóa III, đó là: Do nhận thức chưa thật sát đúng tình hình, nên lúc đầu ta đã đề ra chủ trương tổng khởi nghĩa ngay trong lúc chiến tranh đang diễn ra quyết liệt, địch còn khá mạnh, là không thực tế. Cuộc tiến công kéo dài, yếu tố bí mật không còn, không thay đổi hướng tiến công về vùng nông thôn, mà vẫn tập trung vào vùng đô thị, trong khi quân địch đã củng cố được lực lượng, gây cho ta nhiều tổn thất và khó khăn về sau...

Từ kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá đúng, sát tình hình địch, Trung ương Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề ra chủ trương chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm (1975-1976)... Cùng với đó, từ cuối năm 1974, ta tổ chức những hoạt động tác chiến trên các chiến trường khác nhau, nhằm đánh giá sát đúng sức mạnh của quân đội Sài Gòn và khả năng can thiệp trở lại của Mỹ.

Nghiên cứu kỹ tình hình địch, đánh giá đúng khả năng của ta nhất là từ thực tiễn chiến trường, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng vào cuối năm 1974, đầu năm 1975 2, đã thông qua: Kế hoạch chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976.

Sau thời gian tiến hành các công tác chuẩn bị, ngày 9-1-1975, Thường trực Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch tiến công vào nam Tây Nguyên, mục tiêu chủ yếu là Buôn Ma Thuột. Trong quá trình chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch, do luôn theo dõi sát diễn biến tình hình, lực lượng và thế trận của địch, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã kịp thời điều chỉnh quyết tâm, chuyển sang tổng tiến công chiến lược, tạo và thúc đẩy thời cơ giành thắng lợi, nhanh chóng và liên tiếp mở các chiến dịch tiếp theo. Cùng với sự phát triển của các chiến dịch, Bộ Chính trị, Thường trực Quân ủy Trung ương đã kịp thời chỉ đạo các địa phương phối hợp với các binh đoàn chủ lực nhanh chóng nổi dậy giành quyền làm chủ... Do đó, chỉ sau hơn 50 ngày đêm chiến đấu, bằng các đòn tiến công của các binh đoàn chủ lực phối hợp tác chiến với các lực lượng vũ trang địa phương và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân, ta đã làm nên thắng lợi vĩ đại mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

2. Chủ động tạo thế và lực, có cách đánh sáng tạo là yếu tố quan trọng để giành thắng lợi

Trong bước chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, khi đánh giá về thế của địch, ta cho rằng: đến mùa Thu 1967, sau hai cuộc phản công chiến lược 1965-1966 và 1966-1967 ở miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ở miền Bắc không đạt được mục tiêu đặt ra, Mỹ càng bị sa lầy trong cuộc chiến tranh Việt Nam và đang ở tình thế "tiến thoái lưỡng nan", bị động về chiến lược. Trong lúc đó, ta đang ở thế thắng, thế chủ động, địch đang ở thế thua, thế bị động, lực lượng quân sự của địch còn rất đông, tiềm lực chiến tranh của chúng còn lớn, nhưng trước những thất bại liên tiếp ở cả hai miền Nam - Bắc, giới cầm quyền nước Mỹ đã bị phân hóa thành nhiều phe phái đối lập giữa hòa và chiến... Tình hình trên đòi hỏi ta phải có một tư duy chiến lược mới, sáng tạo để tìm ra cách đánh thích hợp nhất bao gồm cả mục tiêu, hướng tiến công, phương thức và thời điểm tiến công.

Cùng với thế trận ta đã tạo lập được sau những năm đầu chống chiến lược "chiến tranh cục bộ", bộ đội chủ lực ta đã không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Trong năm 1967, các chiến dịch diễn ra không dừng lại ở cấp sư đoàn mà đã phát triển tới cấp liên sư đoàn (Chiến dịch Lộc Ninh từ ngày 27-10 đến ngày 10-12-1967 có sự tham gia của 3 sư đoàn: 5, 7, 9)..., các đơn vị biệt động, đặc công phát triển rất mạnh, đặc biệt là ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế...; phong trào du kích chiến tranh phát triển rộng khắp không chỉ ở vùng nông thôn mà ở cả các đô thị.

Như vậy, tình hình thực tế trên chiến trường lúc này đã cho phép ta có thể tiến hành một cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, giáng cho quân địch những đòn sấm sét, làm thay đổi cục diện chiến tranh.

Việc mở cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa để làm chuyển hóa căn bản cuộc chiến tranh, vấn đề quan trọng là chọn hướng tiến công cho đúng, có cách đánh hay cả về quân sự và chính trị, cả tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, cả chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực và chiến tranh nhân dân địa phương, phải chọn đúng thời cơ để tạo được bất ngờ lớn nhất. Tuy nhiên, thực tiễn ở miền Nam lúc bấy giờ, mặc dù ta đã xây dựng được một số đơn vị chủ lực, đã tiến hành chiến tranh nhân dân, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch ở cả ba vùng chiến lược...; nhưng cũng chưa thể xem là lực lượng quân sự của ta lúc bấy giờ đủ mạnh để mở cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở các đô thị với mục đích đề ra như trên. Còn về chính trị, trong phong trào quần chúng tuy đã có những cuộc mít tinh, biểu tình của học sinh, sinh viên ở Sài Gòn và các thành phố, thị xã khác; nội bộ chính quyền địch cũng có những bất đồng, nhưng đây chưa phải là tiền đề của phong trào cách mạng của quần chúng sẵn sàng nổi dậy khởi nghĩa. Lực lượng đánh vào các đô thị phần lớn là đặc công, biệt động, chưa có các binh đoàn chủ lực phối hợp nên kết quả đạt được là rất hạn chế.

Những nhận định và đánh giá của ta lúc bấy giờ còn mang nặng tính chủ quan, chưa đầy đủ về sức mạnh của quân địch mà cũng chưa đánh giá đúng về khả năng của ta, nhất là khả năng tổng khởi nghĩa giành chính quyền của quần chúng. Do vậy, khi cuộc tổng tiến công diễn ra, về chủ lực ta không đủ sức chiếm và giữ các mục tiêu cần đánh chiếm, sự nổi dậy của quần chúng tuy có diễn ra ở một số nơi nhưng chưa thể tạo nên khởi nghĩa để chiếm chính quyền của địch. Sự phối hợp giữa các lực lượng chưa kịp thời, dẫn tới cuộc tổng tiến công không đạt được nhiều kết quả như mong muốn. Đánh giá về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, đồng chí Lê Đức Thọ sau này có nhận định: ... Cuộc Tổng tiến công ấy đã mắc sai lầm là chủ quan, đánh giá không đúng tương quan lực lượng giữa ta và địch, đánh giá cao về phong trào quần chúng nổi dậy và khởi nghĩa ở đô thị. Năm 1973, Hội nghị Trung ương lần thứ 21 có nêu: Chủ quan trong việc đánh giá tình hình, nên đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với thực tế lúc đó, chưa thấy những cố gắng mới lúc đó của địch, những khó khăn của ta, cho nên ta gặp khó khăn trong một thời gian.

Rút kinh nghiệm từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, để chuẩn bị cho kế hoạch tiến công chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, ta đã tiến hành công tác chuẩn bị rất chu đáo cả về thế và lực. Riêng về lực lượng ta đã liên tiếp thành lập 4 quân đoàn chủ lực và tiếp đó là Đoàn 232 3, về cơ sở, vật chất, ta tiếp tục mở rộng và phát triển tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, tăng cường vận chuyển vũ khí và trang thiết bị phục vụ chiến tranh vào tới tận Bù Gia Mập (miền Đông Nam Bộ) 4. Đặc biệt, ta đã tạo được thế và lực để đủ sức đánh dứt điểm Buôn Ma Thuột, trận mở đầu chiến dịch Tây Nguyên, đồng thời cũng là trận mở đầu cuộc tiến công chiến lược, rồi trở thành cuộc tổng tiến công chiến lược. Ta có đủ sức mạnh để tiến hành ba chiến dịch tiếp theo là Nam Ngãi, Huế, Đà Nẵng, tiếp đó tổ chức cánh quân Duyên Hải, quét sạch quân địch ở đồng bằng miền Trung, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng 2 quân khu địch với khoảng 35% tổng số lực lượng quân đội của chúng, giải phóng một vùng rộng lớn, gồm 16 tỉnh, 6 thành phố, với 8 triệu dân, tạo ra thế mới, lực mới đủ khả năng nhanh chóng tiến công giải phóng Sài Gòn - Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long.

Đến chiến dịch Hồ Chí Minh ta đã tập trung lực lượng chủ lực xung quanh Sài Gòn tương đương với 5 quân đoàn cùng với số quân địa phương của miền Đông Nam Bộ lên tới gần 50 vạn người. Riêng chủ lực có 15 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn đặc công, hơn 50 tiểu đoàn pháo binh với gần 800 khẩu pháo lớn, hơn 80 tiểu đoàn pháo phòng không với hơn 1.000 khẩu pháo, 15 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp với gần 500 chiếc, hơn 20 tiểu đoàn công binh, hơn 20 tiểu đoàn thông tin liên lạc...

Về cách đánh của ta vừa luồn sâu, ém sẵn trong nội thành và vùng ven đồng bằng nhiều đơn vị tinh nhuệ, chia cắt địch, vừa thực hành tiêu diệt từng sư đoàn địch, từng cụm phòng thủ của chúng ở vòng ngoài, rồi dùng những binh đoàn cơ giới thọc sâu rất nhanh vào nội thành, kết hợp với lực lượng tinh nhuệ - biệt động, đặc công - đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu một cách thuận lợi, ít tổn thất. Trong khi đó quần chúng ở cơ sở một số nơi vùng ven đô và cả nội đô cùng lực lượng vũ trang địa phương nổi dậy, giành quyền làm chủ. Và khi chính quyền trung ương ở Sài Gòn đầu hàng, thì toàn bộ địch còn lại ở đồng bằng sông Cửu Long cũng bị lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, binh vận cùng nhân dân phối hợp tiến công nhanh chóng giải phóng địa bàn, đi đến kết thúc toàn bộ cuộc chiến tranh.






---------------------------------------------------------------
1. Đến cuối năm 1967, trên chiến trường miền Nam, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương là 277.000 người.

2. Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng diễn ra từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8-1-1975, ngoài các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, có các đồng chí trong Quân ủy Trung ương, các đồng chí Tổng Tham mưu phó phụ trách tác chiến, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường. Bộ Chính trị thông qua Kế hoạch chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.6.

3. Quân đoàn 1 thành lập ngày 24-10-1973; Quân đoàn 2 thành lập ngày 17-5-1974; Quân đoàn 4 có quyết định thành lập từ ngày 20-7-1974, nhưng mãi tới đầu năm 1975, mới hình thành, gồm 3 sư đoàn (9, 7, 34a), cùng các lữ đoàn, trung đoàn binh chủng kỹ thuật, các đơn vị bảo đảm; Quân đoàn 3 thành lập ngày 27-3-1975, khi chiến dịch Tây Nguyên gần kết thúc, gồm 3 sư đoàn bộ binh (320, 10, 316) và các đơn vị binh chủng của mặt trận Tây Nguyên. Ngoài 4 quân đoàn còn có Binh đoàn 232 tương đương cấp quân đoàn, được thành lập gấp theo ý định giải phóng Sài Gòn. Đoàn 232 được thành lập trên cơ sở các lực lượng của Bộ Tư lệnh Miền (B2), Quân khu 8, Quân khu 9 và của Bộ tăng cường vào, gồm các Sư đoàn 9 (Quân đoàn 4) Sư đoàn 3, 5 (Bộ Tư lệnh Miền) và Sư đoàn 8 (Quân khu 8 ).

4. Theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, t.VIII, tr.230: Đến đầu năm 1975, khối lượng hàng hóa, vũ khí, đạn dược, lượng thực, thực phẩm và xăng dầu đã vận chuyển và dự trữ trên từng hướng chiến trường, cụ thể: Trị - Thiên dự trữ 29.000 tấn vật chất, trong đó có 2.000 tấn vũ khí, đạn dược và hàng chục ngàn mét khối xăng dầu; Khu 5 dự trữ hơn 77.000 tấn, trong đó có hơn 10.500 tấn vũ khí, đạn dược, 5.200 tấn xăng dầu, 36.300 tấn lương thực; Tây Nguyên dự trữ hơn 53.000 tấn, trong đó có gần 800 tấn đạn và 28.600 tấn lương thực, thực phẩm; Đông Nam Bộ, hậu cần Miền dự trữ được hơn 102.000 tấn và tổ chức khai thác tại chỗ hơn 900 tấn. Ta đã xây dựng được hệ thống đường vận tải và hành quân trên dãy Trường Sơn có tổng chiều dài: 16.790 km, gồm có 6.810 km đường trục dọc, 4.980 km đường trục ngang và 5.000 km đường vòng tránh. Hệ thống đường chiến dịch do các chiến trường mở lên đến 6.000km. Hệ thống đường ống dẫn xăng dầu dài 1.712 km vào đến Bù Gia Mập (miền Đông Nam Bộ)...

« Sửa lần cuối: 17 Tháng Năm, 2020, 10:57:00 am gửi bởi hoi_ls » Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #25 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 11:00:46 am »

3. Khéo nghi binh, lừa địch, tạo bí mật, bất ngờ; chọn chiến trường mở đầu phù hợp

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một thành công của nghệ thuật nghi binh lừa địch, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ. Do đó, trong đợt 1, ta đã giành được nhiều thắng lợi, đánh chiếm được một số mục tiêu quan trọng; địch bị động, bất ngờ trong đối phó. Thực hiện kế hoạch nghi binh thu hút quân Mỹ và quân Sài Gòn cũng là hướng tiến công phối hợp với hướng tiến công chính vào các đô thị. Ngày 20-1, ta mở chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh Xuân - Hè 1968; ngày 27-1-1968, Liên quân Lào - Việt mở Chiến dịch Nậm Bạc. Mặt trận Khe Sanh đã thu hút và giam chân 17/33 sư đoàn quân địch, làm cho địch tin rằng trong năm 1968, quân và dân miền Nam chỉ đủ khả năng tiến công ở Mặt trận Khe Sanh mà không đủ lực tiến công vào các khu vực khác, nên chúng đã tập trung lực lượng để đối phó trên hướng này là chủ yếu. Khi đánh giá về các sự kiện trên, H. Kítxinhgiơ trong cuốn sách Thương lượng về Việt Nam có viết: Trong Xuân Mậu Thân, Oétmolen đã điều 94% lực lượng tinh nhuệ nhất của Mỹ lên những nơi chỉ chiếm 4% dân số Việt Nam ở vùng rừng núi, trong đó có chiến trường Đường 9 - Khe Sanh. Và thú nhận: Hà Nội đã chơi trò "người đấu bò" lừa được con bò tót Mỹ ra vòng ngoài rồi dùng lực lượng quân sự, chính trị của họ bất thần đánh ập vào các đô thị phía trong nơi mà Mỹ sơ hở làm cho bộ chỉ huy Mỹ không kịp trở tay.

Như vậy, chủ trương của ta là căng địch trên khắp các chiến trường, kéo quân chủ lực, nhất là quân Mỹ ra các khu vực lựa chọn (rừng núi, giáp ranh) tiêu diệt bộ phận và giam chân các binh đoàn quân Mỹ. Đó là một đòn đánh chính, một hướng tiến công của bộ đội chủ lực. Không phải là đơn thuần nghi binh mà là một hướng phối hợp quan trọng. Một đòn chính nữa là đưa chiến tranh vào thành thị. Đây là hướng rất hiểm, đồng thời là hướng chủ yếu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy nhằm đánh ập vào các thành thị, hệ thống trung tâm đầu não chỉ huy, các kho tàng, các sân bay, bằng lực lượng quân sự tinh nhuệ là chính cùng với lực lượng chính trị của quần chúng cách mạng, kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh địch vận.

Cùng với đòn tiến công ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, đúng vào đêm giao thừa Tết Mậu Thân, ở miền Nam quân và dân ta thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đánh vào 4 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, hầu hết các bộ tư lệnh sư đoàn, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần... Nhân dân nông thôn Nam Bộ và miền Trung Trung Bộ tiến công và nổi dậy dồn dập phá rã hàng mảng lớn bộ máy kìm kẹp, bức hàng, bức rút hàng trăm đồn, bốt. Quân đội Sài Gòn tan rã từng mảng lớn... Đây thực sự là một đòn tiến công bất ngờ đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Như trong cuốn sách Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Maicơn Máclia viết: Chiến tranh Việt Nam có quá nhiều bất ngờ, nhưng không có bất ngờ nào làm người ta phải sửng sốt hơn trận tiến công Tết. Đặc biệt nó diễn ra ngay trong Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Còn tờ Thời báo của Mỹ số ra ngày 9-2-1968 bình luận: ...chắc chắn là một hành động bất ngờ thần thánh. Giới quân sự Mỹ cho rằng vũ khí mạnh nhất của cuộc tiến công Tết là sự bất ngờ. Báo chí phương Tây hồi đó mô tả cuộc tiến công Tết là một tiếng sét nện đúng đỉnh Nhà Trắng. Với ta cho đến thời điểm này, đây là cuộc động binh lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc.

Như vậy, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã để lại bài học về nghệ thuật nghi binh, lừa địch, giữ bí mật, bất ngờ và lựa chọn mục tiêu mở đầu cuộc tiến công chiến lược. Do tổ chức tốt việc nghi binh, lừa địch, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ và lựa chọn mục tiêu tiến công là các trung tâm đầu não của quân địch ở các đô thị, ta đã giành được nhiều thắng lợi to lớn, gây cho quân Mỹ, quân Sài Gòn nhiều thiệt hại và liên tục bị động đối phó.

Từ kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, về chiến lược giải phóng miền Nam, ban đầu ta lựa chọn nam Tây Nguyên là hướng chiến lược chủ yếu với mục tiêu chủ yếu là Buôn Ma Thuột. Khác với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ta không chọn mục tiêu mở đầu vào khu vực thành phố, đô thị ở đồng bằng, mà chọn mục tiêu mở đầu ở địa bàn rừng núi, nơi mà quân địch không mạnh, khó cơ động ứng cứu, chi viện; đồng thời là nơi ta có thể che giấu và tập trung lực lượng; nơi có điều kiện bí mật cơ động áp sát, bất ngờ tiến công tiêu diệt các mục tiêu cần đánh chiếm và thuận lợi cho việc tổ chức ngăn chặn, chia cắt quân địch ứng cứu, tăng viện...

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đề ra, ta đã tiến hành nghi binh, lừa địch rất tốt, thu hút và giam chân phần lớn quân địch ở Bắc Tây Nguyên. Khi các sư đoàn chủ lực của ta bí mật, bất ngờ tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột, quân địch hoàn toàn bất ngờ, liên tục bị động, lúng túng trong đối phó và cuối cùng phải tháo chạy khỏi Tây Nguyên, tạo ra thế trận và thời cơ mới để ta tiến hành các chiến dịch tiếp theo giải phóng vùng đồng bằng ven biển miền Trung, tiến về Sài Gòn - Gia Định, đánh trận quyết chiến chiến lược giành toàn thắng.

4. Chớp thời cơ, nhanh chóng điều chỉnh quyết tâm chiến lược tiến tới Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đợt 1 ta đã giành thắng lợi vang dội, gây cho quân Mỹ và quân đội Sài Gòn nhiều tổn thất và lúng túng, bị động trong đối phó. Tuy nhiên, sau Tết quân địch đã chuyển chiến lược, ra sức thực hiện biện pháp "quét và giữ". Chúng đã kéo quân về phòng thủ dày đặc tuyến thành thị, yếu tố bất ngờ không còn nữa. Sức của ta đã sút giảm nhiều, cơ sở chính trị đã bộc lộ và tan rã, căn cứ đứng chân ở các vùng nông thôn bị bỏ lỏng. Trong khi đó quân địch lại tăng cường các cuộc phản kích, nhất là bằng các chương trình "bình định" kế tiếp nhau. Chỗ đứng chân của ta bị thu hẹp và đẩy lùi ở nhiều vùng rộng lớn. Nhưng ta vẫn tiếp tục mở các đợt tiến công tiếp theo và vẫn giữ mục tiêu là các đô thị, nên đã chịu nhiều tổn thất. Đó là những khuyết điểm, sai lầm đúng như Kết luận của Bộ Chính trị đã xác định: Đây không chỉ là mức khuyết điểm mà là một sai lầm về chỉ đạo chiến lược; rằng sau thắng lợi Tết ta chuyển chậm, chủ trương tiếp tục các đợt tiến công vào đô thị khi không còn điều kiện là sai lầm về chỉ đạo chiến lược, để địch gây ra cho ta nhiều khó khăn, tổn thất.

Từ bài học của Xuân Mậu Thân, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ban đầu ta xây dựng quyết tâm chiến lược là tiến hành cuộc tiến công chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976. Nhưng sau chiến thắng Tây Nguyên có ý nghĩa chiến lược, ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm chuyển Kế hoạch cuộc tiến công chiến lược 1975 thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường, giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975.

Nắm chắc thời cơ và chớp thời cơ là nét nghệ thuật đặc sắc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Thực tế cho thấy ngay trong khi chiến dịch Tây Nguyên đang diễn ra, Trung ương Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã luôn bám sát mọi động thái của địch và hoạt động tác chiến trên chiến trường, kịp thời chỉ đạo các địa phương ở Trị - Thiên và Quân khu 5 thực hiện những chiến dịch địa phương và các đợt hoạt động mạnh, coi đây là hướng phối hợp chiến lược quan trọng. Phát huy thắng lợi trên chiến trường Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhanh chóng hạ quyết tâm mở các chiến dịch Nam Ngãi, Huế, Đà Nẵng, tổ chức cánh quân Duyên Hải, tăng cường lực lượng, tổ chức tiến công với tinh thần "thần tốc, táo bạo, bất ngờ", nhanh chóng tiến về hội quân để giải phóng Sài Gòn - Gia Định và giải phóng hoàn toàn miền Nam trong thời gian ngắn nhất.

Tóm lại, những kinh nghiệm từ Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã thực sự là bài học sâu sắc, ý nghĩa như một cuộc tổng diễn tập để 7 năm sau đó, khi thời cơ đã chín muồi, quân và dân ta tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trong mùa Xuân Ất Mão 1975. Như vậy, Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là sự kiểm chứng cho những vấn đề đã được đặt ra từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Trong đó, nổi bật lên những vấn đề về chỉ đạo và điều hành chiến tranh là phải đánh giá đúng về địch, về ta; có chủ trương, quyết tâm chiến lược chính xác; phối hợp chặt chẽ khả năng chiến đấu của ba thứ quân; phát huy được sức mạnh của mọi lực lượng và của toàn dân tham gia đánh giặc; tiến hành công tác chuẩn bị chu đáo, tạo thế, tạo lực hơn hẳn đối phương; lựa chọn chiến trường mở đầu đúng, phù hợp với khả năng của ta; nắm chắc thời cơ, nhanh chóng chớp thời cơ, kịp thời điều chỉnh quyết tâm (cả ở chiến thuật, chiến dịch và chiến lược); có cách đánh sáng tạo; chỉ huy, điều hành tác chiến kiên quyết, linh hoạt, táo bạo, bí mật, bất ngờ với tinh thần quyết chiến, quyết thắng thì nhất định sẽ giành thắng lợi.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #26 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 11:06:37 am »

SỰ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY
XUÂN MẬU THÂN 1968



Thiếu tướng, PGS.TS. NGUYỄN VĂN BẠO
Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng


Cách đây 50 năm, từ đêm 30-1 đến ngày 25-2-1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân của quân và dân miền Nam đã diễn ra vô cùng mãnh liệt, đồng loạt đánh vào 4 trong 6 thành phố, 37 trong 44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ trên khắp miền Nam. Quân giải phóng đã đánh trúng hầu hết các cơ quan đầu não từ Trung ương đến địa phương của địch; tiến công 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 bộ tư lệnh sư đoàn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần... Trong đó có những trận gây chấn động lớn trong giới cầm quyền Mỹ và có tiếng vang mạnh mẽ trên thế giới như trận đánh vào Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh của chính quyền Sài Gòn và đặc biệt đã làm chủ thành phố Huế trong 25 ngày đêm... Chính những đòn tiến công với quy mô rộng lớn, mãnh liệt đó đã làm tổn hại nặng nề sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn với sự thương vong của 101.000 quân Mỹ và quân đội Sài Gòn , cùng 1.368.000 tấn vật tư chiến tranh, chiếm 34% dự trữ chiến tranh của địch; gần 20 vạn binh lính Sài Gòn hoang mang đào, rã ngũ. Hệ thống chính quyền cùng bộ máy kìm kẹp của chúng ở nhiều vùng nông thôn đồng bằng, rừng núi đã bị phá vỡ, chương trình "bình định" bị thiệt hại nặng ở nhiều nơi.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một chiến công rất oanh liệt và có vị trí to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là thắng lợi đã tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải bước đầu xuống thang chiến tranh, tạo điều kiện thuận lợi để quân và dân Việt Nam thực hiện mục tiêu chiến lược "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đánh dấu thành công nổi bật về chỉ đạo chiến lược, thể hiện sự sáng tạo của Đảng Lao động Việt Nam và đây là bước phát triển mới trong học thuyết và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

1. Điểm nổi bật trong chỉ đạo chiến lược của Đảng là xác định phương pháp tiến công táo bạo với cách đánh hoàn toàn mới

Tháng 1 - 1968, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 14. Sau khi phân tích, đánh giá âm mưu cơ bản và thất bại của địch trong thời gian qua, khả năng của chúng sắp tới; đánh giá những mặt mạnh và những mặt yếu của ta, Trung ương kết luận: "Những điểm cơ bản của tình hình vẫn là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn. Tình hình ấy cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định" .

Từ kết luận trên, Trung ương Đảng xác định: "Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định".

Từ phương hướng, nhiệm vụ đó, Đảng đã lựa chọn và quyết định thực hiện phương pháp tiến công đồng loạt dưới nhiều hình thức (quân sự, chính trị, binh vận) bằng nhiều lực lượng (chủ lực, đặc công, biệt động, lực lượng tại chỗ...) tiến công vào hầu khắp các đô thị, cơ quan đầu não, nơi chính quyền địch mạnh. Cuộc tiến công mãnh liệt vào các mục tiêu xung yếu ở Sài Gòn, Gia Định - nơi tập trung cơ quan đầu não cao nhất của địch đã có ảnh hưởng rất rộng lớn, sâu sắc. Với quy mô to lớn và tính chất đồng loạt, Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là hình thức tiến công chiến lược táo bạo và hoàn toàn mới với hiệu lực chiến đấu "cộng hưởng" lớn chưa từng có, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Chính cuộc tiến công táo bạo với cách đánh hoàn toàn mới này đã làm cho những người điều hành chiến tranh Hoa Kỳ sững sờ, choáng váng. Chỉ trong 24 tiếng đồng hồ đầu tiên trong đợt tiến công, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của địch, tất cả các thành phố, tỉnh lỵ trước đó hầu như "đứng ngoài cuộc chiến tranh" đều bị tiến công đồng loạt. Chính tướng Oétmolen, Tổng chỉ huy quân đội Mỹ lúc đó ở miền Nam Việt Nam, đã phải thừa nhận: "Việt cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại... các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa. Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta phải công nhận đối phương đã giáng cho chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề". Đối với nước Mỹ thì Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã tạo ra "Một cảm giác thất vọng, u sầu bao chùm chính giới Oasinhtơn. Chính phủ bị xúc động" .

2. Lựa chọn thời cơ đúng để đạt hiệu quả cao, tạo ra bước ngoặt quyết định của chiến tranh

Chọn thời cơ là một vấn đề có tầm đặc biệt quan trọng để tiến hành chiến tranh thắng lợi. Muốn có thời cơ, phải biết dự kiến và biết tạo thời cơ; khi thời cơ xuất hiện phải nắm vững và phải chớp lấy thời cơ không được bỏ lỡ. Nguyễn Trãi - nhà chính trị, ngoại giao kinh bang tế thế, nhà chiến lược lớn của dân tộc, đã chỉ rõ: Người giỏi dùng binh là ở chỗ biết rõ thời thế. Được thời, có thế, thì mất biến thành còn, nhỏ hoá ra lớn; mất thời, không thế, thì mạnh hóa ra yếu, yên hóa ra nguy; sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay.

Nhận thức đúng vấn đề này, Đảng ta đã chọn thời cơ vào năm 1968 là năm bầu cử Tổng thống Mỹ, năm mà tình hình nước Mỹ rất nhạy cảm về chính trị. Vào thời điểm này, Mỹ đã trải qua ba năm đưa quân viễn chinh trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Chúng đã từng mở hai cuộc phản công chiến lược vào mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 nhưng không đạt được kết quả gì đáng kể, trái lại chúng còn bị quân, dân miền Nam đánh cho thiệt hại nặng nề và thất bại hoàn toàn trong mục tiêu chiến lược "bẻ gãy xương sống Việt cộng". Đồng thời, những bước leo thang đánh phá miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam và uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta cũng không xoay chuyển được tình thế. Những cố gắng của Mỹ vào thời điểm này đã gần đến đỉnh cao. Tính đến tháng 12 - 1967, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam nửa triệu quân với 40% số sư đoàn bộ binh sẵn sàng chiến đấu của nước Mỹ, 30% lực lượng không quân chiến thuật, hơn 30% lực lượng hải quân. Lực lượng dự trữ dành cho một cuộc "chiến tranh cục bộ", Mỹ đã dùng hết, thậm chí còn sử dụng cả một phần lực lượng dự trữ dành cho chiến lược toàn cầu, chi phí cho chiến tranh Việt Nam đến năm 1968 lên tới gần 70 tỉ đô la (gấp 3 lần chiến tranh Triều Tiên). Gánh nặng chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế và xã hội nước Mỹ, đến chiến lược toàn cầu và xây dựng quốc phòng của Mỹ. Đế quốc Mỹ đang trong tình thế "tiến thoái lưỡng nan". Về phía ta, đây là lúc lực lượng quân sự, chính trị ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đó và đang nắm quyền chủ động trên chiến trường.

Từ những phân tích đánh giá trên, Đảng ta khẳng định: "Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn", tình hình đó cho phép chúng ta "có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định".
Thời điểm năm 1968 hội tụ các điều kiện thuận lợi cả về quân sự và chính trị cho giành thắng lợi lớn theo ý định của ta. Thời cơ này được ta tạo ra và nắm bắt đúng lúc, không sớm và cũng không muộn. Nếu đánh sớm, ta chưa làm thất bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966, 1966-1967 thì Mỹ sẽ chưa chịu thua vì còn cả quỹ thời gian và lực lượng để triển khai đầy đủ chiến lược "chiến tranh cục bộ". Nếu ta để muộn, cuộc tổng tiến công diễn ra sau năm bầu cử Tổng thống Mỹ thì áp lực quân sự khó làm rung chuyển nước Mỹ, khó làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền. Độc đáo hơn, ta chọn thời cơ tiến công vào dịp Tết Nguyên đán - đúng đêm giao thừa, lúc mà địch sơ hở, chủ quan. Vì thế, khi ta tiến công, địch hoàn toàn bị bất ngờ. Chúng không chỉ bất ngờ về thời gian mà còn bất ngờ về mục tiêu bị tiến công là các đô thị, các căn cứ quan trọng và bất ngờ cả về quy mô của cuộc tiến công khi ta không đánh vào vài chục điểm nhỏ như phán đoán của tình báo địch, mà đánh đồng loạt trên khắp chiến trường miền Nam.

3. Lựa chọn đúng hướng tiến công chủ yếu

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mâu Thân 1968 được Đảng lựa chọn nhằm vào đô thị, nơi tập trung các cơ quan đầu não Trung ương và địa phương của chính quyền Sài Gòn. Đó là những mục tiêu tập trung sinh lực cao cấp của cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn, những mục tiêu nhạy cảm nhất trong bộ máy chiến tranh của chúng ở miền Nam. Cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn cho rằng lực lượng ta ít kinh nghiệm đánh thành phố và chưa có khả năng đánh vào các trung tâm đầu não của chúng. Hơn nữa, từ năm 1968, ta chủ động mở Mặt trận Đường 9, coi đây là một hướng tiến công của quân chủ lực để tiêu hao, tiêu diệt địch, đồng thời kéo một lực lượng lớn quân Mỹ ra giam chân tại Khe Sanh. Vào đúng lúc tướng Oétmolen đang cố gắng điều động lực lượng lên "cố giữ bằng được cái chốt Khe Sanh" thì "Việt cộng lại mở một loạt trận tiến công táo bạo và bất ngờ vào hầu hết các căn cứ Mỹ và nguỵ ở Nam Việt Nam".

Có thể nói, chọn đánh vào đô thị làm hướng tiến công chủ yếu là ta đã chọn đánh vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù. Đòn hiểm yếu đó đã phơi bày đầy đủ sự thất bại về quân sự và sự yếu kém của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên trong suốt gần 15 năm kháng chiến, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào thành thị, thực hiện một đòn đánh hiểm, đánh đau, đánh vào "trung ương thần kinh địch". Rôbơt Kennơđi, Thượng nghị sĩ Mỹ đã phải thốt lên rằng: Tại sao nửa triệu lính Mỹ với 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và trên biển, được cung cấp hết sức đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công?

4. Tổ chức, bố trí và điều động lực lượng thực hiện nghi binh, lừa địch để tiến công gây bất ngờ lớn đối với địch

Để thực hiện tiêu diệt, tiêu hao, vừa nghi binh thu hút, giam chân một phần lực lượng quân cơ động Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chính tổng tiến công và nổi dậy ở thành thị, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã chỉ đạo lực lượng vũ trang nổ súng đánh địch ở Khe Sanh. Chính hoạt động này đã thu hút được sự chú ý của địch ra vùng giới tuyến và giam chân một nửa lực lượng của Mỹ ở miền Nam gồm 17 trên tổng số 33 lữ đoàn , buộc chúng phải phân tán lực lượng trên nhiều khu vực chiến trường. Nhận xét về tài nghệ nghi binh của ta, Maicơn Máclia, tác giả cuốn sách Việt Nam cuộc chiến tranh mười ngàn ngày, đã viết: Nhưng rồi các trận đánh trong Tết Mậu Thân làm người ta có cảm tưởng rằng Khe Sanh có vẻ như là cuộc bao vây bỏ đấy mà thôi. Nếu vậy thì Bắc Việt Nam là bậc thầy trong việc nghi binh. Sách Việt Nam - Giờ quyết định của Hãng thông tấn Pháp AFP tiết lộ: Những sai lầm nặng nhất của các tổ chức tình báo - không còn nghi ngờ chút nào - là không tin rằng Việt cộng có thể huy động được số người đông đảo và ném ra những cuộc tiến công hết sức ác liệt với một sự hợp đồng chặt chẽ và một cường độ lớn như vậy.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, dù chưa đạt được mục tiêu chiến lược "giành thắng lợi quyết định", chưa đạt được theo khả năng thứ nhất: Ta thắng lớn, Mỹ buộc phải chịu thua, phải thương lượng với ta để kết thúc chiến tranh; ta còn có những sai lầm, khuyết điểm. Nhưng đây là cuộc động binh lớn nhất trong lịch sử chống Mỹ, cứu nước từ năm 1954 đến lúc này. Lần đầu tiên ta đưa chiến tranh tới hang ổ của kẻ thù, làm đảo lộn kế hoạch chiến tranh và thế bố trí chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Do thất bại nặng nề này, Tổng thống L. Giônxơn phải tuyên bố: Đơn phương chấm dứt không điều kiện việc đánh phá bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; loại bỏ mọi cuộc leo thang lớn; huỷ bỏ kế hoạch chiến lược "tìm và diệt" quay sang thực hiện "quét và giữ", đẩy tới sự thất bại hoàn toàn của chiến lược "chiến tranh cục bộ". Đánh giá về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng chí Lê Duẩn khẳng định: "Ta đã thắng rất to, địch đã thua rất nặng nề. Rõ ràng trận này đã mở ra một bước ngoặt chiến lược đánh dấu thời kỳ Mỹ phải xuống thang chiến tranh do thất bại trong "chiến tranh cục bộ" . Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân 1968 chứng tỏ khả năng và tài nghệ chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo chiến tranh tài tình, sắc bén, táo bạo của Đảng ta.

Từ những thành công về chỉ đạo chiến lược của Đảng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 cho chúng ta bài học lớn để tiếp tục vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đó là nêu cao ý chí kiên cường, táo bạo, dám nghĩ, dám làm và quyết tâm cao, kết hợp với trí tuệ sáng tạo tuyệt vời của con người Việt Nam xóa bỏ đói nghèo và lạc hậu. Đồng thời, luôn xuất phát từ thực tiễn, dựa vào dân, tin tưởng ở nhân dân, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tranh thủ thời cơ, kịp thời đề ra những bước đi, những quyết sách phù hợp với quy luật khách quan, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #27 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 11:10:07 am »

CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - KHE SANH XUÂN HÈ 1968 ĐÒN NGHI BINH CHIẾN LƯỢC
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Trung tướng HUỲNH NGỌC HÀ
Cục trưởng Cục Tác chiến


Mưu cao nhất là mưu lừa địch, kế hay nhất là kế điều địch. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), hoạt động nghi binh đã được chúng ta vận dụng rất linh hoạt, điển hình như các chiến dịch Bắc Tây Nguyên (1972), Tây Nguyên (1975)... Đặc biệt, đòn nghi binh chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968) đã thu hút, giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn (chủ yếu quân Mỹ), tạo điều kiện thuận lợi cho toàn miền Nam thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thắng lợi.

Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968) đã thể hiện nghệ thuật chỉ đạo nghi binh chiến lược tuyệt vời của Bộ Thống soái tối cao, khiến Mỹ và chính quyền Sài Gòn đánh giá sai tình hình, hoàn toàn bị bất ngờ về quy mô, thời gian của đòn chiến lược Xuân Mậu Thân, nổi bật một số vấn đề đó là:

Một là, quán triệt sâu sắc đường lối quân sự của Đảng, kế thừa và phát huy nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam; chỉ đạo, chỉ huy kiên quyết giành thắng lợi.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 (khóa III) của Đảng đã xác định: Trên cơ sở nắm vững phương châm đánh lâu dài, cần phải động viên và tập trung lực lượng của cả nước, cố gắng cao độ đập tan âm mưu của địch, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn; đồng thời tích cực chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng địch trong trường hợp chiến tranh kéo dài hoặc mở rộng ra cả nước . Tiếp đó, từ ngày 27 đến ngày 29-4-1967, Bộ Chính trị (tổ 5 người) và Thường trực Quân ủy Trung ương họp bàn kế hoạch chiến lược giành thắng lợi quyết định ở miền Nam. Hội nghị triệu tập cán bộ Cục Tác chiến, Cục Tình báo đến báo cáo. Hội nghị kết luận: Ta một mặt phải nắm chắc vấn đề đánh lâu dài; mặt khác phải nỗ lực để buộc Mỹ phải chịu thua trong năm 1968. Theo đó, các lực lượng vũ trang phải tổ chức những đợt hoạt động lớn, bắt đầu ngay từ mùa mưa năm 1967, nhằm tiêu diệt bằng được các đơn vị tinh nhuệ (các trung đoàn, sư đoàn chủ lực) của địch, đánh phá mạnh giao thông, hậu cứ Mỹ. Hoạt động quân sự phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, thể hiện dưới hình thức ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận).

Tháng 6-1967, Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục và các khu ủy toàn miền Nam: phải kiên quyết giành ưu thế quân sự, chính trị; phải tiến lên giành chủ động chiến dịch và buộc địch phải chuyển vào thế phòng ngự trên ba chiến trường quyết định:

Chiến trường quyết định thứ nhất là Sài Gòn - Chợ Lớn và miền Đông Nam Bộ: Thực hiện bao vây chặt Sài Gòn - Chợ Lớn, buộc địch phải phân tán một lực lượng quan trọng, tiêu diệt từng đơn vị lớn quân Mỹ, quân đội Sài Gòn ở các vùng rừng và giáp ranh thành phố.
Chiến trường quyết định thứ hai là từ Đường 9 qua Trị - Thiên đến Quảng Đà, Quảng Nam: Phải căng địch ra và đánh mạnh vào thủy quân lục chiến Mỹ ở hai đầu. Phải tiêu diệt một bộ phận quan trọng thủy quân lục chiến Mỹ, đánh quỵ 2 sư đoàn quân đội Sài Gòn, đánh phá các căn cứ lớn của địch ở Đường 9, cắt đứt đường giao thông huyết mạch, buộc chúng phải chuyển vào phòng ngự bị động trên toàn Vùng chiến thuật 1.

Chiến trường quyết định thứ ba là đồng bằng, giáp ranh Khu 5 và Tây Nguyên: Bao vây, tiến công mạnh các căn cứ và đường giao thông chiến lược của địch; tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch, đánh quỵ các sư đoàn 2, 22 quân đội Sài Gòn; tiêu diệt nhiều tiểu đoàn quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên; phá tan kế hoạch "bình định" của địch, cố gắng giải phóng một số thị trấn, thị xã. Ngoài ra, các chiến trường Phân khu Nam của Khu 5 và đồng bằng Nam Bộ là những chiến trường phối hợp rất quan trọng cần phải cố gắng đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh bại kế hoạch "bình định" của địch, giữ vững và mở rộng quyền làm chủ của ta.

Ngày 6-12-1967, Quân ủy Trung ương quyết định lập Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Đồng chí Lê Quang Đạo, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy; Trần Quý Hai, Phó Bí thư, Tư lệnh. Nhiệm vụ của Mặt trận là tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng, tiêu hao một bộ phận quân Mỹ, quân đội Sài Gòn, thu hút địch ra Đường 9, tạo điều kiện cho các chiến trường khác đánh địch.

Từ ngày 20-1 đến ngày 15-7-1968, ta mở chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh, từ Cửa Việt đến biên giới Việt Nam - Lào, với lực lượng tương đương quân đoàn tăng cường, do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo. Sau 170 ngày đêm kiên cường chiến đấu, ta diệt và bắt sống 11.900 tên địch, phá hủy 78 xe quân sự, bắn cháy và phá hủy 197 máy bay các loại, bắn chìm, hỏng 80 tàu vận tải của địch...

Hai là, đòn nghi binh chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh nằm trong tổng thể kế hoạch nghi binh chiến lược Tết Mậu Thân 1968, được xây dựng và tổ chức thực hiện toàn diện, chặt chẽ, hiệu quả, giữ bí mật tuyệt đối.

Chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đó là: thu hút lực lượng cơ động của địch ra vòng ngoài để đánh tiêu diệt, tạo thời cơ công kích mãnh liệt vào các thành thị, thành phố lớn, đây cũng là một phần trong kế hoạch nghi binh chiến lược của ta.

Trung tuần tháng 11-1967, qua nắm tình hình, ta nhận thấy: Mỹ đã biết được nội dung cơ bản của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (tháng 12-1965) với nội dung cơ bản là ta tranh thủ tìm kiếm một số thắng lợi quân sự nhằm làm chuyển biến cục diện chiến tranh, phục vụ thương lượng. Từ đó, Mỹ đánh giá ta không đủ khả năng làm một "Điện Biên Phủ 1968". Kế hoạch nghi binh là phải khiến địch tin chắc vào đánh giá trên của chúng. Triển khai thực hiện, Cục Tác chiến đã dự thảo kế hoạch nghi binh chiến lược phục vụ tổng công kích - tổng khởi nghĩa; đồng thời xây dựng một loạt kế hoạch nghi binh của Trung ương, của các địa phương, phối hợp với cả các cơ quan Cục Tình báo, Bộ Ngoại giao, cơ quan lãnh đạo báo chí phát thanh... Ngày 14-11-1967, kế hoạch này được đồng chí Văn Tiến Dũng thông qua.

Về quân sự, trên Mặt trận Đường 9, ta xác định dùng đòn tiến công của bộ đội chủ lực nhằm thu hút, phân tán lực lượng, tiêu diệt địch. Đây là chiến dịch do Bộ mở và trực tiếp chỉ đạo, sử dụng hơn 4 sư đoàn chiến đấu hiệp đồng binh chủng; tiến công 3 trung đoàn tăng cường thuộc Sư đoàn 3 thủy quân lục chiến, Sư đoàn 1 kỵ binh không vận Mỹ và một số lực lượng khác của quân đội Sài Gòn. Vận dụng phương pháp tác chiến là phong tỏa cảng Cửa Việt, tiêu diệt các cứ điểm vòng ngoài (Hướng Hóa, Huội San, Đường 9, Cam Lộ...), nhằm cô lập quân Mỹ ở thung lũng Khe Sanh; bao vây lực lượng địch phòng ngự, tiêu diệt lực lượng địch ứng cứu giải tỏa bên ngoài, đe dọa tiêu diệt gọn quân địch, buộc địch phải rút khỏi Khe Sanh.

Hướng Nam Bộ, ta đánh lên Lộc Ninh, Phước Quả, tập trung đẩy mạnh phá ấp chiến lược, giành dân, đánh tiêu diệt quân đội Sài Gòn, đánh phá giao thông... Đồng thời, ta đã thảo một "mệnh lệnh giả" giao nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang Tây Ninh mở cuộc tiến công quân Mỹ và phối hợp tác chiến các nơi bằng chống phá bình định. Đúng như kế hoạch, mệnh lệnh nghi binh đó đã rơi vào tay địch. Lập tức Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn tập trung nghiên cứu và tìm mọi biện pháp để tăng cường lực lượng đối phó hướng Tây Ninh, càn quét vòng ngoài; hệ quả là đã tạo ra sơ hở trong các thành phố, thị xã.

Trên hướng Tây Nguyên, ta tăng cường hoạt động ở Gia Lai, Buôn Ma Thuột, cắt các đường 19, 21, 14; tạo thời cơ đánh địch ở Bình Định, An Khê. Hướng Trị Thiên, ta liên tục tiến công địch, mở rộng đồng bằng, vây ép đô thị, làm tan rã những đơn vị chính quy của địch đang suy sụp về tinh thần...

Về tuyên truyền - ngoại giao, vị trí đặc biệt của Khe Sanh giống như "cái mỏ neo" trong bản đồ quân sự của Mỹ, là trung tâm chỉ huy của hàng rào điện tử Mắc Namara, phòng tuyến chống xâm nhập hiện đại nhất ở bờ Nam sông Bến Hải. Khe Sanh - Quảng Trị được xây dựng thành một tập đoàn phòng ngự mạnh, liên hoàn, kiên cố nhất của Mỹ ở địa đầu miền Nam Việt Nam. Quân Mỹ đang có ý định "thả mồi ngon" để lừa ta phải chiến đấu theo cách đánh quy ước, vốn là sở trường của quân Mỹ. Khe Sanh được kỳ vọng sẽ là "nam châm hút quân Bắc Việt", để Hoa Kỳ dùng ưu thế hỏa lực tiêu diệt trong một thế trận "Điện Biên Phủ đảo ngược".
 
"Tương kế, tựu kế", Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ đạo khéo léo để lộ kế hoạch với địch, thực hiện một bước nhỏ trong toàn bộ kế hoạch nghi binh; một mặt chỉ đạo Đảng ủy Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ; mặt khác chỉ đạo cơ quan báo chí phát thanh hạn chế tuyên truyền những trận đánh đô thị mà tập trung vào những hướng nghi binh... Khe Sanh đã thu hút được chú ý của truyền thông đại chúng và công luận Mỹ, những mối lo ngại về cái dớp "Điện Biên Phủ" vẫn lơ lửng trong "Phòng Bầu dục"...

Mặt khác, theo đề nghị của Trung Quốc, Trung ương đồng ý cho bạn đưa một số đoàn cán bộ quân sự vào nghiên cứu tình hình miền Nam (năm 1967, vào Tây Nguyên có 2 đoàn, Khu 5 có 1 đoàn). Bộ chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chuẩn bị và tiếp nhận thân tình, thông báo toàn diện về kinh nghiệm ta đánh Mỹ... Trong quá trình làm việc với bạn phải giữ đúng nguyên tắc, nội dung làm việc phải chuẩn bị chu đáo, số liệu chính xác và thống nhất...

Những động thái trên càng khiến Tổng thống Giônxơn cũng có nhận định rằng Khe Sanh sẽ là một Điện Biên Phủ thứ hai; và đã triển khai làm cả sa bàn Khe Sanh ở Oasinhtơn. Thậm chí, ông ta còn yêu cầu tướng Oétmolen – Tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam - phải ký giấy cam đoan không được để mất Khe Sanh vì đó là danh dự của nước Mỹ. Mỹ đã sử dụng các lực lượng của Sư đoàn 3 thủy quân lục chiến và Sư đoàn 1 kỵ binh không vận cùng với hỏa lực pháo binh và không quân không hạn chế, kể cả máy bay chiến lược B52 tại Khe Sanh...

Đêm ngày 20 rạng ngày 21-1-1968, pháo binh chiến dịch của Sư đoàn 304 phát hỏa mở màn chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh. Tiếp theo, ta phong tỏa cảng Cửa Việt, tiêu diệt các căn cứ Hướng Hóa, Huội San, đánh thiệt hại lực lượng Mỹ trên Đường 9... Sức ép của ta ở Đường 9 - Khe Sanh ngày càng tăng đã làm cho Bộ Tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam thực sự lo ngại, buộc phải tăng quân lên 43 tiểu đoàn chủ lực (25 tiểu đoàn quân Mỹ) với tổng quân số 69.490 lính (40.800 lính Mỹ), cho không quân ném bom Khe Sanh và khu vực giới tuyến, đồng thời thiếp lập một sở chỉ huy tại Phú Bài (Huế) để chỉ huy lực lượng đánh trả các cuộc tiến công của ta trên Đường 9 - Khe Sanh. Đến đây, Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh đã hoàn thành nhiệm vụ thu hút, giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược của Mỹ.

Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, quân và dân miền Nam đã đồng loạt nổ súng tiến công vào hầu hết các cơ quan đầu não của Mỹ - ngụy, từ trung ương đến địa phương, gồm: 4/6 thành phố lớn (trong đó có Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế); 37/44 thị xã, 64/242 thị trấn (thị tứ), quận lỵ khắp miền Nam, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 bộ tư lệnh sư đoàn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, bộ tư lệnh các biệt khu 1, 2 của Mỹ, 30 sân bay... Phối hợp với đòn tiến công của các lực lượng vũ trang, nhân dân nhiều vùng nông thôn đã nổi dậy phá kìm kẹp của chính quyền ấp, xã.

Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt được các mục tiêu: tiêu diệt một phần lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ và quân đội Sài Gòn, giành quyền kiểm soát Khe Sanh, không còn căn cứ nào có thể uy hiếp trực tiếp tuyến đường cùng dòng hàng đưa ra tiền tuyến; giam chân, thu hút lực lượng tinh nhuệ của Mỹ - quân đội Sài Gòn, tạo điều kiện cho tổng tiến công ở các đô thị giành thắng lợi.

Hoạt động nghi binh chiến lược là một trong những giải pháp tác chiến quan trọng để thực hiện phương thức tác chiến. Để hoạt động nghi binh tiếp tục phát huy hiệu quả trong điều kiện mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra), địch chủ yếu sử dụng vũ khí, trang thiết bị công nghệ cao, đòi hỏi phải tiếp tục quan tâm nghiên cứu, chuẩn bị trước từ thời bình trên toàn diện các mặt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
 
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #28 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 02:13:55 pm »

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG, KẾ HOẠCH
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Đại tá, TS. NGUYỄN VĂN LƯỢNG
Trưởng phòng Quản lý khoa học, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Đầu năm 1967, sau những thất bại liên tiếp của hai chiến dịch phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967, chính quyền Mỹ bắt đầu hoài nghi về khả năng giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nội bộ giới cầm quyền Mỹ ngày càng mâu thuẫn, bất đồng sâu sắc, nhất là giữa quan điểm tiếp tục mở rộng leo thang chiến tranh xâm lược hay hạn chế dần sự tham dự của nước Mỹ vào cuộc chiến tranh. Cùng lúc đó, phong trào phản đối cuộc chiến tranh tại Việt Nam, đòi Tổng thống Mỹ Giônxơn phải rút quân ngày càng lan rộng trên khắp nước Mỹ. Nhiều nghị sĩ Mỹ đã nhìn thấy "tương lai không thể lường trước được của một cuộc chiến tranh hiện đang có tác động làm rã rời ý chí dân tộc Mỹ" . Những mâu thuẫn, bất đồng đó lại càng trở nên gay gắt, khi năm bầu cử tổng thống Mỹ (1968) đã tới gần, triển vọng về cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài và có nguy cơ thất bại đã uy hiếp nặng nề khả năng tái cử nhiệm kỳ hai của Tổng thống Giônxơn.

Về phía ta, sau hơn hai năm đối đầu trực tiếp với quân Mỹ và quân đội Sài Gòn trong chiến lược "chiến tranh cục bộ", quân và dân ta vẫn giữ vững quyền chủ động về chiến lược, vùng giải phóng được mở rộng ở cả rừng núi, nông thôn đồng bằng và xung quanh đô thị; lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang phát triển lớn mạnh hơn bất cứ thời điểm nào trước đó. Miền Bắc vẫn đứng vững sau hơn ba năm bị không quân và hải quân Mỹ đánh phá quyết liệt, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, tích cực chi viện ngày càng lớn cho chiến trường miền Nam.

Theo dõi sát diễn biến của chiến trường, ngày 18-4-1966, Bộ Tổng Tham mưu họp quyết định giao đồng chí Nguyễn Văn Vịnh - Phó Tổng Tham mưu trưởng chịu trách nhiệm xây dựng "Kế hoạch chiến lược từ Hè 1967 đến Hè 1968" trên cơ sở "Đề án kế hoạch chiến lược năm 1967" đã được xây dựng trước đó. Bộ Tổng Tham mưu nêu rõ yêu cầu là phải xây dựng một kế hoạch chiến lược để ta có thể làm chủ cục diện chiến trường: "đẩy địch về phòng ngự, mất ý chí và khả năng tấn công". Mốc kế hoạch xác định từ Hè 1967 đến Hè 1968 bởi nhiều lý do, trong đó có tính tới yếu tố chính trị khi chính quyền Sài Gòn tiến hành tổng tuyển cử tháng 9-1967 và bầu cử tổng thống Mỹ tháng 11-1968 .

Trong các ngày từ 27 đến 29-4-1967, bản dự thảo "Kế hoạch chiến lược từ Hè 1967 đến Hè 1968" được đưa ra thảo luận trong cuộc họp mở rộng của Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương 1. Về quyết tâm của ta trong thời gian sắp tới, Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương nhất trí những vấn đề cơ bản trong Kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu và lưu ý: một mặt phải nắm chắc phương châm chiến lược đánh lâu dài; mặt khác phải nỗ lực để buộc Mỹ phải chịu thua trong năm 1968. Để thực hiện chủ trương trên, các lực lượng vũ trang phải tổ chức những đợt hoạt động lớn, bắt đầu ngay từ mùa mưa năm 1967, nhằm tiêu diệt các đơn vị tinh nhuệ, tiêu diệt các trung đoàn, sư đoàn chủ lực địch, đánh phá mạnh giao thông, hậu cứ Mỹ. Hoạt động quân sự phải kết hợp với phát động quần chúng ở các đô thị lớn vùng dậy... Trên cơ sở đó, ta chủ động đấu tranh ngoại giao, mở một con đường cho Mỹ rút khỏi miền Nam.

Trên cơ sở bản dự thảo "Kế hoạch chiến lược từ Hè 1967 đến Hè 1968", Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các chiến trường xây dựng kế hoạch chiến lược Đông - Xuân - Hè 1967 - 1968, đồng thời cử nhiều đoàn cán bộ của Bộ Tổng Tham mưu vào các chiến trường nắm tình hình, đôn đốc kiểm tra việc chuẩn bị lực lượng, vật chất theo phương hướng mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn. Cũng trong thời điểm này, theo đề xuất của Bộ Tổng Tham mưu, các đồng chí Nguyễn Chí Thanh (Chính ủy Quân giải phóng miền Nam), Lê Đức Anh (Bộ Tư lệnh Miền), Nguyễn Đôn (Tư lệnh Quân khu 5), Chu Huy Mân (Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên) được triệu tập ra báo cáo tình hình với Quân ủy Trung ương và tham gia xây dựng "Kế hoạch chiến lược từ Hè 1967 đến Hè 1968".

Tháng 5-1967, sau khi nghe báo cáo thực tế của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, Bộ Chính trị tổ chức phiên họp do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, Hội nghị đã thông qua quyết tâm chiến lược, trong đó xác định: "Nắm vững phương châm đánh lâu dài, cần phát huy mạnh mẽ chiến thắng to lớn trong mùa khô vừa qua, ra sức đẩy mạnh những cố gắng của ta đến mức cao nhất nhằm giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn" . Vấn đề giành thắng lợi trong một "thời gian tương đối ngắn" là bao lâu? Hội nghị chưa xác định cụ thể, nhưng nội dung "giành thắng lợi quyết định" đã được Hội nghị Bộ Chính trị xác định rõ thông qua phương hướng chiến lược mà: "Mục tiêu chiến lược và cục diện chiến trường trong thời gian tới cần đạt được yêu cầu là triển khai thế chủ động và thế tiến công của ta trên quy mô chiến lược, chiến dịch và trên những hướng chiến trường chủ yếu... buộc địch phải chuyển vào thế phòng ngự...". Về mục tiêu tác chiến, Hội nghị cũng chỉ rõ: "đối với quân Mỹ, trong vòng một năm, cố tiêu diệt từ 3 đến 5 lữ đoàn... Đối với quân ngụy, cố gắng tiêu diệt một số chiến đoàn hoặc trung đoàn, đánh quỵ từ 3 đến 5 sư đoàn...". Về cách đánh, Bộ Chính trị chỉ rõ, cần vận dụng linh hoạt 6 phương thức đánh và kiên quyết thực hiện cho được một số trận đánh lớn có tính chất quyết chiến quan trọng.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị Bộ Tổng Tham mưu và bộ tư lệnh các chiến trường gấp rút triển khai mọi mặt các công tác chuẩn bị, bắt tay xây dựng các phương án, các kế hoạch tác chiến cho Thu - Đông 1967 nhằm sẵn sàng đón nắm thời cơ, đánh những đòn "thôi động" lớn có tác dụng xoay chuyển cục diện chiến trường.

Vấn đề lớn đặt ra đối với Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh các chiến trường lúc này là làm thế nào để lực lượng vũ trang của ta có thể tiến hành tác chiến đạt hiệu suất cao như dự kiến của Bộ Chính trị. Qua hơn 2 năm đọ sức với quân đội Mỹ (1965 - 1967), ngoài tiểu đoàn Mỹ bị tiêu diệt ở Ia Đrăng tháng 11-1965, ta chưa đánh tiêu diệt gọn được một đơn vị Mỹ cấp tiểu đoàn nào khác. Với yêu cầu "đánh tiêu diệt 3 đến 5 lữ đoàn Mỹ" chắc chắn ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì khả năng đánh tiêu diệt lớn của bộ đội chủ lực ta còn hạn chế, không thể khắc phục ngay trong một thời gian ngắn. Mặt khác, đối với quân Mỹ có hỏa lực mạnh, sức cơ động cao, lại có ưu thế áp đảo trên không, trên sông, trên biển, thì khả năng tiến hành các trận đánh lớn, bao vây để tiêu diệt như ta đã từng làm đối với quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ là không hiện thực, thậm chí có thể nhanh chóng bị thất bại. Nhưng nếu lại cứ tiếp tục mở các đợt hoạt động quân sự như trước, đánh theo lối cũ, đánh theo mùa đợt thì địch có thời gian hồi phục, tình hình sẽ nhùng nhằng, kéo dài, không thể gây chuyển biến gì lớn. Về chiến lược, không tranh thủ được thời cơ có lợi, không đáp ứng được tình thế đã mở ra.

Trong khi Bộ Tổng Tham mưu còn đang xác định mục tiêu, cách đánh thì trong một cuộc họp với Quân ủy Trung ương về kế hoạch chiến lược năm 1968, đồng chí Lê Duẩn đã đề xuất giải pháp đánh thẳng vào sào huyệt địch tại các thành phố, thị xã, nơi địch cho là an toàn nhất cũng là nơi chúng có nhiều sơ hở, chủ quan. Theo đồng chí, đánh thẳng vào các thành phố, thị xã mới có thể tạo nên làn sóng đấu tranh chính trị mạnh mẽ ở các đô thị miền Nam và nước Mỹ, tạo nên những đòn quyết định đánh bại hoàn toàn chính sách xâm lược của đế quốc Mỹ. Đề xuất của đồng chí Lê Duẩn được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương thông qua và được giữ bí mật tuyệt đối. Chỉ những lãnh đạo, chỉ huy cao cấp nhất của Trung ương Cục, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Bộ Tư lệnh các chiến trường mới được truyền đạt để hoạch định kế hoạch chiến lược của từng vùng trong năm 1968.

Tuy nhiên, lúc này lại nảy sinh vấn đề cần giải quyết: nếu xác định mục tiêu chủ yếu là thành thị thì ta sẽ sử dụng cách đánh như thế nào? mục tiêu then chốt là ở đâu? liệu bộ đội ta có đủ sức đánh vào thành phố và trụ vững ở đó trong điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch còn hết sức chênh lệch? Qua trao đổi, các chiến trường đều thống nhất khẳng định bộ đội ta đủ khả năng đánh được vào thành phố, tuy nhiên sau khi đánh được vào thành phố thì có trụ lại và giữ được hay không còn tùy theo phản ứng của Mỹ và khả năng ủng hộ của quần chúng nhân dân ở trong nội thành cũng như ở vùng ven.

Trong tháng 8-1967, Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục bổ sung, hoàn thiện kế hoạch đánh lớn vào đô thị ở miền Nam. Đến cuối tháng 8-1967, trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương cũng như ý kiến của các lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, cách đánh mới - tiến công vào các trung tâm đầu não của chính quyền Sài Gòn bằng hình thức tổng tiến công kết hợp với nổi dậy (tổng công kích kết hợp với tổng khởi nghĩa) đã chính thức hình thành. Ta xác định: chỉ có tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa mới có thể phát huy được tối đa sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân mà ta đang tiến hành, tạo ra so sánh lực lượng có lợi cho ta; chỉ có tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa, kết hợp chặt chẽ sức mạnh quân sự với sức mạnh của quần chúng nhân dân, các lực lượng vũ trang của ta mới có khả năng tiến đánh và trụ vững ở các thành thị, hạn chế được tối đa những phản ứng tiêu cực nhất từ phía quân đội và chính quyền Mỹ.

Ngày 9-9-1967, đồng chí Lê Đức Anh (Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam) báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương "Kế hoạch Tổng công kích - tổng khởi nghĩa" của Trung ương Cục, kế hoạch nêu rõ: Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền nhất trí với nhận định tình hình của Bộ Chính trị, quán triệt quyết tâm tranh thủ giành thắng lợi quyết định. Trung ương Cục dự kiến tổ chức 27 tiểu đoàn địa phương, 9 đội biệt động thành cùng 7 trung đoàn chủ lực của các sư đoàn 5, 7, 9 tạo thành 5 cánh quân bao vây, tiến công Sài Gòn, chiếm Chợ Lớn. Phương châm tổng công kích - tổng khởi nghĩa là tiến hành nhanh, giải quyết nhanh. Kế hoạch nêu rõ khả năng của ta: cố gắng giữ thành phố trong 5 - 6 tháng, thành lập chính phủ liên hiệp, có cả thành phần trung lập, thân Mỹ, thân Pháp buộc chính quyền Mỹ không có lý do can thiệp, đồng thời kêu gọi quân Mỹ ở đâu thì giữ nguyên ở đó, hoặc tập hợp về Đà Nẵng, Chu Lai, Quy Nhơn, Cam Ranh, rút dần khỏi Việt Nam.

Sau khi thảo luận, Bộ Chính trị đồng ý với Kế hoạch tổng công kích - tổng khởi nghĩa của Trung ương Cục và xác định Sài Gòn - Chợ Lớn là hướng chủ yếu của toàn miền Nam, đồng thời giao Bộ Tổng Tham mưu dự thảo "Kế hoạch chiến lược Đông - Xuân - Hè 1967 - 1968".




---------------------------------------------------------------
1. Gồm có các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Nguyễn Văn Vịnh, Lê Quang Đạo, Đinh Đức Thiện cùng một số cán bộ Cục Tình báo và Tác chiến.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #29 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 02:18:05 pm »

Trong các ngày từ 20 đến 24-10-1967, Bộ Chính trị họp hội nghị mở rộng bàn về "Kế hoạch chiến lược Đông - Xuân - Hè 1967-1968" ở chiến trường miền Nam 1. Tại hội nghị, Bộ Chính trị xác định rõ, cho đến thời điểm này, thời cơ chiến lược đã xuất hiện. Muốn chớp thời cơ trong điều kiện so sánh lực lượng vũ trang trên chiến trường vẫn nghiêng hẳn về phía địch thì hướng tiến công chiến lược của ta là nhằm vào các đô thị trên toàn miền Nam. Về phương pháp, dùng hình thức cao nhất của chiến tranh cách mạng là tổng công kích - tổng khởi nghĩa. Về phương thức, tiến hành tiến công và nổi dậy đồng loạt. Đây là một phương hướng mà lúc đó Mỹ và chính quyền Sài Gòn "không hề nghĩ tới và cũng không thể nghĩ tới".

Các ý kiến tại hội nghị cũng phân tích, bàn bạc nhiều về vấn đề thời cơ, khả năng đánh thành phố của bộ đội, khả năng nổi dậy của quần chúng, biện pháp khắc phục khó khăn... Khi thảo luận, Bộ Chính trị chủ động đặt vấn đề: chủ trương tổng công kích - tổng khởi nghĩa có đúng không? có gì phiêu lưu hay không? phải nghiên cứu thật kỹ để có kết luận trong hội nghị tới. Về ba trường hợp có thể giành thắng lợi: mức cao, giành thắng lợi hoàn toàn ở miền Nam; mức thứ hai, căn bản giành thắng lợi, nhưng địch co lại cố thủ một số nơi, tiếp tục cuộc chiến tranh; mức ba, chỉ thắng được một phần; trong thảo luận còn có ý kiến khác nhau, nhưng nhìn chung đều quyết tâm cố gắng giành thắng lợi ở mức cao nhất. Kết thúc hội nghị, đồng chí Trường Chinh kết luận: Về quân sự, đánh vào thành phố là có khả năng, nhưng vấn đề khởi nghĩa phải nghiên cứu thêm và chờ ý kiến của một số đồng chí lãnh đạo nữa sẽ quyết định trong cuộc họp sau.

Để chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa trên chiến trường miền Nam, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ thị cho các chiến trường đẩy mạnh các đợt hoạt động Đông 1967. Thực hiện chỉ thị trên, tại chiến trường Đông Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Miền mở Chiến dịch Lộc Ninh - Đường 13 tiêu diệt một bộ phận quan trọng Sư đoàn bộ binh 1 Mỹ và Sư đoàn bộ binh 5 quân đội Sài Gòn. Phối hợp chặt chẽ với Chiến dịch Lộc Ninh, ngày 3-11-1967, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên mở Chiến dịch Đắc Tô đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 1 (Sư đoàn 4) và Lữ đoàn dù 173 quân Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 4.000 tên địch... Trên địa bàn Khu 5, Khu 9 ta đẩy mạnh tiến công địch ở nhiều thị xã, quận lỵ, chi khu quân sự như Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Cần Giuộc, Hậu Nghĩa, Tịnh Biên (Châu Đốc), Cao Lãnh (Sa Đéc)... Trên hướng trọng điểm Sài Gòn - Gia Định, Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định hợp nhất và phân chia địa bàn thành 6 phân khu với 5 mũi tiến công sẵn sàng tiến công vào nội đô Sài Gòn.

Trước tình hình căng thẳng trên khắp toàn Miền và đặc biệt khi phát hiện các cuộc chuyển quân lớn của bộ đội chủ lực ta ở giáp Khe Sanh (Quảng Trị), Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ buộc phải bỏ dở kế hoạch phản công chiến lược lần thứ ba, đưa lực lượng về tăng cường phòng thủ xung quanh Sài Gòn và Trị Thiên. Thế bố trí chiến lược của địch bị đảo lộn, lực lượng bị căng mỏng trên các chiến trường và lùi dần vào thế phòng ngự chiến lược. Đây là thất bại lớn về chiến lược của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Ngày 28-12-1967, Hội nghị Bộ Chính trị họp dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cơ sở bám sát, nắm chắc và phân tích toàn diện động thái chiến trường, tình hình nước Mỹ và thế giới, Bộ Chính trị chính thức thông qua "Kế hoạch chiến lược năm 1968 và nhiệm vụ của quân, dân ta" đồng thời hạ quyết tâm: "Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định".

Để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, Bộ Chính trị khẳng định: "Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định". Mục tiêu chiến lược của tổng công kích, tổng khởi nghĩa là: Tiêu diệt và làm tan rã tuyệt đại bộ phận quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được các nhiệm vụ chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam. Trên cơ sở đó: đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc, còn ta thì bảo vệ được miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đạt được những mục tiêu trước mắt của cách mạng Việt Nam là độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà.

Sau khi thảo luận kỹ khả năng đánh vào thành phố của lực lượng vũ trang và khả năng nổi dậy của quần chúng, Bộ Chính trị thông qua phương án tổng công kích - tổng khởi nghĩa do Bộ Tổng Tham mưu soạn thảo đã được Quân ủy Trung ương phê duyệt. Phương án xác định: "Để thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, một mặt, phải biết điều động lực lượng quân sự của địch ra các chiến trường quan trọng và sử dụng những quả đấm mạnh đánh quỵ các binh đoàn chủ lực của địch...; mặt khác, đòn chính của ta phải nhằm vào các thành thị quan trọng, kết hợp lực lượng xung kích về quân sự với lực lượng chính trị của quần chúng ở các thành thị và vùng nông thôn kế cận vùng dậy đánh sụp các cơ quan đầu não của Mỹ và ngụy, đánh phá các hậu cứ, các cơ sở hậu cần, các trung tâm thông tin và các phương tiện giao thông vận tải chiến lược của địch... đồng thời, kêu gọi binh lính ngụy quay lại cùng với nhân dân khởi nghĩa. Đó là đòn đánh ác liệt nhất đánh vào óc, tim, mạch máu của địch...".

Để thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh xác định thời gian tiến hành nghi binh trên chiến trường Lào (bằng chiến dịch Nậm Bạc) sẽ triển khai trước Tết 15 đến 20 ngày; thời gian nổ súng ở Đường 9 - Khe Sanh trước Tết 10 ngày và thời gian tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa đồng loạt ở các chiến trường chính và trọng điểm được xác định là đúng 0 giờ đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968.

Tháng 1-1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 họp tại Kim Bôi (Hòa Bình). Sau khi thảo luận, hội nghị đã chính thức thông qua Nghị quyết tháng 12-1967 của Bộ Chính trị, quyết định thực hiện tổng công kích - tổng khởi nghĩa trên chiến trường miền Nam để giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị Trung ương quyết định lấy Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967 làm Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14.

Từ 0 giờ ngày 30-1 đến 0 giờ ngày 31-1-1968, quân ta bất thần đồng loạt nổ súng tiến công trên toàn chiến trường miền Nam. Cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa đầy táo bạo, bất ngờ của ta trong Tết Mậu Thân, đặc biệt là các trận đánh của Quân giải phóng vào Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn... cùng sự kiện thành phố Huế "thất thủ" trong 25 ngày đêm đã gây choáng váng cho chính trường nước Mỹ. Nhân dân Mỹ thấy nước Mỹ đang lao vào một cuộc chiến tranh phi nghĩa, đẫm máu; đang lún sâu vào một đường hầm không có lối thoát. Sau sự kiện Tết Mậu Thân 1968, phong trào chống chiến tranh của nhân dân Mỹ lan rộng và lên cao chưa từng có.

Quốc hội Mỹ cũng đã phải tổ chức cuộc họp gấp để xem xét toàn bộ chính sách và chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Trong cuộc họp đó, phần lớn quan chức cao cấp trong chính quyền và giới tài phiệt nhận thức rõ ràng rằng: Mỹ không thể giành chiến thắng quân sự ở Việt Nam với cái giá có thể chấp nhận được.

Do bị tổn thất trên chiến trường cùng những áp lực từ nhân dân và chính giới Mỹ, ngày 31-3-1968, Tổng thống Giônxơn buộc phải tuyên bố: ngừng ném bom miền bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị đàm phán với ta tại Pari về lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Như vậy, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một quyết định lịch sử, một chủ trương táo bạo, đúng đắn, sáng tạo, là một sáng kiến lịch sử của Đảng ta trong chỉ đạo chiến tranh cách mạng. Trong quá trình hình thành chủ trương và đi đến quyết định tổng tiến công và nổi dậy, Đảng đã phát hiện, nắm bắt đúng thời cơ chiến lược; hạ quyết tâm chính xác, kịp thời; xác định hướng tấn công chủ yếu táo bạo, đúng chỗ hiểm yếu của địch cùng với việc sáng tạo hình thức tiến công mới đã làm cho đòn Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 giành được thắng lợi to lớn, trở thành một trận quyết chiến chiến lược, một bước ngoặt quyết định thay đổi hoàn toàn cục diện chiến tranh.
 




---------------------------------------------------------------
1. Tham dự gồm các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Lê Đức Thọ (đồng chí Lê Duẩn  và đồng chí Võ Nguyên Giáp vì lý do sức khỏe và đi chữa bệnh nên vắng mặt). Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng và Ủy viên Quân ủy Trung ương: Tố Hữu, Lê Văn Lương, Song Hào, Nguyễn Văn Vịnh, Trần Quý Hai. Ngoài ra còn có Cục trưởng Tình báo Lê Trọng Nghĩa,  Cục trưởng Cục Tác chiến Lê Ngọc Hiền và đại diện các chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Khu 5, Tây Nguyên và Nam Bộ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM