Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Bảy, 2020, 05:12:42 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết định  (Đọc 1033 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #60 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2020, 04:49:30 pm »

HOẠT ĐỘNG PHỤ VẬN SÀI GÒN - GIA ĐỊNH
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Cách đây 50 năm, với ý chí sắt đá "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và niềm tin mãnh liệt "địch nhất định thua, ta nhất định thắng" , quân và dân cả nước ta, Nam - Bắc một lòng quyết tâm đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ và tay sai. Đặc biệt, lời thơ chúc Tết của Bác Hồ vang lên trong đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968 từ Hà Nội: "Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!"2 trở thành lời hiệu lệnh, niềm tin chiến thắng thôi thúc hàng triệu trái tim yêu nước cùng một lúc tiến công địch trên khắp các chiến trường, trong đó, Sài Gòn - Gia Định là địa bàn trọng điểm.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là của Trung ương Cục, quân và dân miền Nam đã đưa chiến tranh nhân dân phát triển lên đỉnh cao, đồng loạt tổng tiến công và nổi dậy. Công tác tuyên truyền, vận động và hoạt động phụ vận Sài Gòn - Gia Định đã góp phần quan trọng động viên đông đảo lực lượng phụ nữ tham gia, từ quá trình chuẩn bị đến tiến trình tổng tiến công và nổi dậy bằng ba mũi giáp công, trên cả ba vùng chiến lược, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tạo ra bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta.

Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, cán bộ, hội viên phụ nữ Sài Gòn - Gia Định và quần chúng phụ nữ được tuyên truyền, giáo dục, học tập về tình hình mới, nhiệm vụ mới, chuẩn bị tâm thế sẵn sàng, quyết tâm tiến lên giành thắng lợi mới. Hội viên phụ nữ Sài Gòn - Gia Định tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào cả nước, tham gia phong trào "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Những cán bộ nữ có kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong nội thành được phân công xuống các địa bàn trực tiếp phụ trách xây dựng cơ sở. Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều cơ sở chính trị trong quần chúng được gây dựng. Công tác chuẩn bị chiến trường cũng được các cấp Hội tiến hành hết sức khẩn trương. Hàng chục vạn phụ nữ đã tham gia các đội nữ dân công, nữ thanh niên xung phong, cấp dưỡng nuôi quân, tiếp tế đạn dược, lương thực, tải thương, xây dựng công sự...

Trong khi chờ lệnh tổng tiến công, chị em hăng hái tham gia mọi công tác, tích cực đấu tranh. Mỗi người mỗi nhiệm vụ, sẵn sàng cho cuộc nổi dậy với tinh thần sôi sục, bừng bừng khí thế. Các mẹ, các chị chuẩn bị gậy gộc, giáo mác, trống mõ. Phong trào Hội mẹ chiến sĩ có bước phát triển mạnh mẽ. Với tinh thần yêu nước, thương con, các mẹ đã sẵn sàng làm nòng cốt, xung phong trên các mặt công tác, bất chấp nguy hiểm, vận động chị em đưa chồng con đi chiến đấu, khuyến khích con cháu đi tòng quân, vận tải, tiếp tế chiến trường, ủng hộ bộ đội, nuôi dưỡng thương binh, giác ngộ và động viên các gia đình có con em đi lính trong quân đội Sài Gòn tham gia đội ngũ đấu tranh cách mạng.

Công tác tuyên truyền, vận động nuôi quân được chị em đặc biệt hưởng ứng bằng những việc làm cụ thể và vô cùng cảm động. Có chị sẵn sàng cùng chồng, con cầm ruộng lấy tiền ủng hộ cán bộ, bộ đội; đóng góp tiền mua thuốc men ủng hộ cách mạng. Nhiều điểm tập kết tuy xa xôi, cách trở với đất liền nhưng từng xuồng lương thực, vật dụng... bằng mọi cách vẫn được vận chuyển về các căn cứ cách mạng.

Phụ nữ đóng vai trò chính trên mặt trận giao thông vận tải. Nhiều đơn vị nữ vận tải được thành lập ở khắp nơi, từ bưng biền đến các vùng giáp ranh và trong đô thị. Tại Sài Gòn - Gia Định, nhiều chị đã ngụy trang, dùng mọi phương tiện như xuồng, ghe, xe đò, xích lô chuyển vũ khí xuống từng cơ sở. Nhiều bà mẹ tuổi 50, 60 hay các bé gái tuổi 11, 12 cũng mang đạn dược, lội nước suốt đêm dưới làn bom, pháo của địch để phục vụ cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Với tinh thần quả cảm của "Đội quân tóc dài" phụ nữ Nam Bộ, Phụ vận và Phụ nữ Giải phóng Sài Gòn - Gia Định, các tổ chức phụ nữ công khai và nửa công khai đã dồn tổng lực chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công. Theo chỉ đạo của Khu ủy, các Ủy viên Ban và cán bộ phụ vận, cán bộ nữ các liên quận đã thâm nhập và cài cắm ổn định ở nội thành (từ 1966-1967), được phân công phụ trách một số điểm trọng yếu trong tổng tấn công, như đồng chí Đỗ Hữu Bích (Ba Bích) và Hai Thảo (Quận 1), đồng chí Phạm Thị Sứ (Năm Bắc) và Vũ Xuân Lý (Bảy Lợi, Quận 10), đồng chí Lê Thị Huệ (Chín Trang, Quận 6), đồng chí Trần Thị Mười Ngọc (Bảy Nghĩa, Quận 5), đồng chí Nguyễn Thị Minh (Ba Hà Bà Chiểu), đồng chí Huỳnh Thị Tuyết (Ba Khanh, Quận Gò Vấp)... khẩn trương gây dựng cơ sở quần chúng, xây dựng "lõm chính trị", tuyên truyền, vận động và giáo dục thanh niên trốn lính để tổ chức vào tự vệ mật, chuẩn bị gạo và thuốc men, hậu cần tại chỗ; chọn gia đình cách mạng nuôi giấu cán bộ vào nội thành hoạt động, xây dựng lực lượng chính trị nòng cốt cho tổng khởi nghĩa...

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, lực lượng phụ nữ Sài Gòn - Gia Định từ nông thôn đến thành thị, nhất là nữ thanh niên luôn phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang, khi làm công tác vũ trang tuyên truyền, rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, khi thì phục vụ chiến đấu hoặc trực tiếp cầm súng chiến đấu.

Phong trào phụ nữ đấu tranh chống địch ngày càng phát triển. Đường lối chiến lược và phương châm "hai chân" (chính trị, quân sự), "ba mũi" (chính trị, quân sự, binh vận) được vận dụng linh hoạt, sáng tạo; các loại vũ khí thô sơ như chông tre, lựu đạn, mìn tự tạo, súng bộ binh đến vũ khí đòi hỏi kỹ thuật cao như pháo đều được chị em sử dụng thuần thục. Với cách đánh vô cùng phong phú, lúc độc lập, khi phối hợp, lúc phân tán, khi tập trung, vừa đánh thật, vừa đánh giả khiến địch phải dàn mỏng lực lượng, bị động đối phó khắp nơi. Các chị còn biết kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, kết hợp quân sự, chính trị và binh vận, vừa chặn địch phản kích, vừa phát động quần chúng nổi dậy phá thế kìm kẹp, xây dựng cơ sở chính trị trong các đô thị và vùng ven.

Với sự chủ động, tích cực, sáng tạo, Hội Phụ nữ đã xây dựng được 12/40 "lõm chính trị" trong nội đô: "lõm chính trị" Quận 6 do đồng chí Lê Thị Huệ (Chín Trang) là địa điểm trú quân, hậu cần và dẫn đường bộ đội. Nhà chị Nguyễn Liễu Mai (số 1A Mai Xuân Thưởng, Quận 6) và Xí nghiệp dép của gia đình chị Tư (Lê Đại Hành, Quận 11) đã nuôi giấu, bảo vệ an toàn Ban Chỉ huy Tiền phương Phân khu II trụ tại nội đô trong đợt 1 tổng tiến công. Phụ nữ Tân Bình, Bà Quẹo, Gò Vấp, Quận 7, Quận 8 tham gia diệt ác phá kìm, tiếp tế hậu cần, dẫn đường bộ đội, tải đạn, chuyển thương. Chị em Quận 8 còn vận động được 200 thanh niên tòng quân đi theo bộ đội. Phụ nữ Bình Chánh lo xuồng ghe chuyển quân, vận động nhà thuốc Quỳnh Mai tiếp tế thuốc cứu thương. Phụ nữ Hóc Môn vận động cơ sở tề ấp chở gạo tiếp tế Trung đoàn Quyết Thắng.

Để phát huy thanh thế cho cách mạng, Ban Phụ vận chủ trương phối hợp với các đơn vị mở cuộc tuyên truyền xung phong đột xuất. Trong vòng hai tuần lễ, 30.000 truyền đơn, 3.500 bản in thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phân phát tại Xóm Chiếu, Cầu Bông và 5 chợ.

Ở nhiều địa phương, tổ chức Phụ vận đã vận động quần chúng phụ nữ nổi dậy, căng khẩu hiệu, treo biểu ngữ, đốt cờ ba que, treo cờ giải phóng, xé tờ khai gia đình, diệt ác ôn và uy hiếp tòa hành chính địa phương. Lực lượng quần chúng phụ nữ yêu nước còn tổ chức hàng nghìn cuộc vũ trang tuyên truyền ở vùng ven, vùng sâu, vùng yếu, các khu ấp chiến lược, phá rã một mảng lớn cơ sở tề ngụy, diệt nhiều tề điệp, cảnh sát, bình định, ác ôn, vận động hàng chục vạn gia đình binh sĩ, làm rã ngũ hàng vạn bảo an, dân vệ...

Công tác phục vụ chiến trường của phụ nữ được đẩy mạnh hơn với khí thế sục sôi. Được tuyên truyền, vận động và với ý chí căm thù giặc, chị em nô nức đi dân công, chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực cho mặt trận và chuyển thương binh.

Từ ngày 30-1 đến ngày 25-2-1968, khi lực lượng vũ trang ta tiến công và trụ lại ở nội thành Sài Gòn 27 ngày thì tại khu tứ giác Vườn Lài - Minh Mạng do chị Phạm Thị Sứ (Năm Bắc) và chị Vũ Xuân Lý (Bảy Lợi) phụ trách, đã đưa lực lượng xung kích kéo cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng, tung đuốc sáng rực, đón Tiểu đoàn 6 Lê Minh Xuân tấn công sâu vào vùng này, phát động quần chúng bám trụ 10 ngày. Địch phản kích ác liệt, phụ nữ nổi dậy bằng hình thức tản cư, đưa thương binh ra khỏi trận địa khi giặc bắn đạn lửa đốt nhà, hủy diệt.

Đặc biệt, chị em giao liên công khai đảm bảo xuất sắc mạch máu thông tin liên lạc trên, dưới, trong, ngoài thông suốt trong tổng tiến công. Lực lượng nữ Tự vệ nội thành và ven đô phối hợp phá kìm, chiến đấu rất dũng cảm: chị Tám Gờ một mình diệt 5 ác ôn ở phường Rạch Cát, chị Hiếu công nhân hãng rượu Bình Tây chỉ với một tay đã dùng súng ngắn diệt 2 ác ôn ở cầu số 3 phường Bình Đông... . Đồng chí Lê Thị Riêng, Trưởng ban Phụ vận Sài Gòn - Gia Định, bị địch sát hại đêm mồng 2 Tết.

Đợt 2 Mậu Thân nổ súng đêm 5-5-1968. Trung đoàn 6 Lê Minh Xuân vẫn là mũi nhọn tấn công vào hướng Quận 5 (Chợ Lớn). Đội Tự vệ Lê Thị Riêng của Phụ vận do đồng chí Hồng Quân chỉ huy, phối hợp với lực lượng biệt động Đoàn Thanh niên Quận 2, chủ động nổ súng chiến đấu từ 4 giờ sáng 5-5 đánh chiếm vùng Cầu Kho, Đề Thám. Trước sự chống trả quyết liệt của địch, đồng chí Lê Thị Bạch Cát (Ba Xuân) hy sinh, đồng chí Hồng Quân tự chặt đứt cánh tay bị thương nén đau đớn để điều hành đơn vị rút quân. Lực lượng Tự vệ của Phụ vận ở Bàn Cờ, Vườn Chuối, Xóm Chùa, Bà Chiểu, Cầu Tre, Phú Thọ, Phú Định... đã phối hợp các đơn vị bạn võ trang tuyên truyền phát động quần chúng, trấn áp ác ôn và trinh sát dẫn đường bộ đội. Các đội viên Tiểu đoàn Lê Thị Riêng đã chiếm lĩnh khu vực cầu Ông Lãnh, Bùi Viện, Đề Thám, Cô Bắc, Cô Giang, tập trung nhiều cảnh sát và nhân viên chính quyền Sài Gòn trong khu vực để giáo dục, tuyên truyền và vận động nhân dân làm chướng ngại vật, công sự...

Các cứ địa cách mạng như: nhà chị Trần Thị Ngọc Sương tại số 51/10/14 Cao Thắng, Quận 3 do cán bộ Phụ vận vận động xây dựng đã trở thành nơi gặp gỡ hội họp của Ban Phụ vận dưới danh nghĩa là trại tiếp cư; trường Phan Đình Phùng (số 491/7 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3) là trạm cứu thương cho bộ đội và dân tỵ nạn, dưới danh nghĩa là trại tiếp cư. Có nhiều chị còn tham gia trực tiếp chỉ đạo việc chăm sóc thương binh và quyên góp thuốc men gửi về trạm cấp cứu của ta ở Linh Xuân - Thủ Đức.

Tết Mậu Thân năm 1968, bão táp cách mạng dồn dập nổi lên khắp miền Nam, đưa chiến tranh vào tận sào huyệt của kẻ thù. Đội ngũ cán bộ Hội huy động hàng triệu phụ nữ xuống đường ngay trong những ngày đầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, tham gia đánh chiếm các công sở, bao vây cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn. Ở các địa phương, đông đảo chị em tham gia bao vây đồn bốt giặc, phá tan hàng loạt ấp chiến lược, vận động gia đình binh sĩ trong quân đội Sài Gòn tham gia phong trào khởi nghĩa của quần chúng.

Nhiều cuộc biểu tình do phụ nữ chủ trì nổ ra khắp nơi, như cuộc biểu tình của Hội Bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ; đội nữ biệt động Phân Khu 6... Các cuộc đấu tranh chống bắt lính, chống dồn dân lập "ấp chiến lược", chống bắn pháo, rải chất độc hóa học, đấu tranh đòi bồi thường nhân mạng... diễn ra sục sôi khắp miền Nam nói chung và Sài Gòn - Gia Định nói riêng. Ở nội đô, Phụ vận vận động nữ công nhân, sinh viên, học sinh, tiểu thương, trí thức, ni sư, Phật tử... xuống đường biểu dương lực lượng và khí thế cách mạng, giương cao biểu ngữ với tinh thần quật khởi, yêu nước, quyết đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Phát huy thế trận chiến tranh nhân dân, Hội Phụ nữ đã huy động lực lượng hội viên phụ nữ tham gia phục vụ cho Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Với nhiệm vụ chính là vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm vào nội đô cất giấu, cứu thương, tải thương khi chiến sự nổ ra và xây dựng "hũ gạo nuôi quân". Cán bộ Phụ vận đã vận động chị em phụ nữ, mỗi gia đình để sẵn 5 lon gạo đón chủ lực; sau đó, cứ mỗi tuần quyên góp một lần.

Ban Phụ vận Sài Gòn - Gia Định lãnh đạo các tổ chức phụ nữ công khai, bán công khai và bí mật tập trung lực lượng chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, góp phần tạo nên những chiến công vang dội. Nhiều cán bộ phụ vận đã rất dũng cảm, mưu trí, thâm nhập và cài cắm ổn định ở nội thành, gây dựng cơ sở quần chúng, xây dựng, giáo dục thanh niên trốn lính tham gia vào tổ chức tự vệ mật, chuẩn bị gạo và thuốc men, hậu cần tại chỗ. Nhiều tổ vũ trang tuyên truyền được thành lập ở các địa bàn trọng điểm khắp nội thành.

Sự tham gia của các cán bộ, chiến sĩ Ban Phụ vận đã góp phần vào chiến thắng quan trọng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, buộc chính quyền Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 và ngồi vào bàn đàm phán tại Pari. Đoàn cán bộ Ban Phụ vận do đồng chí Nguyễn Thị Bình - Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng với các đồng chí Đỗ Duy Liên, Nguyễn Thị Chơn (Phụ vận Sài Gòn), đồng chí Nguyễn Ngọc Dung, Phan Thị Minh, Nguyễn Bình Thanh... (Hội Phụ nữ Giải phóng miền Nam) vững vàng, kiên cường đấu trí với địch trực tiếp trong gần 5 năm.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với nhân dân cả nước, lực lượng phụ nữ Sài Gòn - Gia Định đã góp phần làm nên nhiều chiến thắng vẻ vang của dân tộc. Hoạt động phụ vận trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 góp phần thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng trong quần chúng, hiệu triệu công khai các tầng lớp phụ nữ thành phố, xây dựng và củng cố cơ sở, đưa phong trào phụ nữ tiến công mạnh mẽ cùng với phong trào các giới, làm nên sự thành công của chiến lược "thế trận lòng dân". Chúng ta đã buộc đế quốc Mỹ phải đương đầu với một cuộc chiến tranh nhân dân kỳ diệu mà trong đó thu hút hàng triệu phụ nữ vào cuộc cách mạng và kháng chiến với lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, là lực lượng kiên cường, dũng cảm trong đấu tranh, trung kiên, bất khuất trong lao tù, luôn xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu đã trao tặng "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #61 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2020, 04:55:51 pm »

CÔNG TÁC ĐIỆP BÁO, QUÂN BÁO, AN NINH
KHU TRỌNG ĐIỂM SÀI GÒN - GIA ĐỊNH
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Đại tá, TS. PHAN THANH LONG
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Công an


Chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về "Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định" , Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 14 (1-1968) xác định: "Dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định". Hướng tấn công chủ yếu là đô thị. Trọng điểm là các thành phố Sài Gòn - Đà Nẵng - Huế - đầu não hậu phương chiến lược của đối phương, tạo "thôi động" lớn về chính trị, ngoại giao; làm cho Mỹ phải lung lay ý chí xâm lược, tạo nên sự thay đổi cơ bản về cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Trước đó, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, ngày 25-10-1967, Trung ương Cục miền Nam họp ra nghị quyết về tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa chiến trường B2 với mật danh là "Nghị quyết Quang Trung". Nghị quyết Quang Trung thể hiện tinh thần cơ bản quyết tâm mục tiêu tổng công kích, tổng khởi nghĩa mà Bộ Chính trị đã nêu ra trên đây, được cụ thể hóa ở chiến trường B2 với trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định. Tháng 12-1967, Thường vụ Trung ương Cục ra chỉ thị gửi các T (quân khu) hướng dẫn việc chuẩn bị và tiến hành công kích tổng khởi nghĩa ở các thành phố và thị xã, thị trấn, mỗi địa phương phải xác định trọng điểm của mình, đồng thời cần phải sẵn sàng chuẩn bị đánh địch phản kích, đập tan mọi âm mưu phản kích của chúng ngay từ đầu, đã thể hiện tinh thần chủ động tiến công, chủ động phòng ngừa nếu khó khăn xảy ra.

Với quyết tâm trên, ngày 4-11-1967, Trung ương Cục miền Nam họp Hội nghị toàn thể để triển khai ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị về chuẩn bị tổng công kích, tổng khởi nghĩa và củng cố tổ chức lãnh đạo chiến trường B2. Tại Hội nghị quan trọng này, đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị - Phó Thủ tướng Chính phủ chính thức nhận nhiệm vụ Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Quân ủy Miền, Chính ủy các lực lượng vũ trang nhân dân quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phan Văn Đáng, Hoàng Văn Thái làm Phó Bí thư Trung ương Cục. Hội nghị quyết định thành lập Khu ủy Sài Gòn - Gia Định và củng cố Bộ Tư lệnh Khu. Theo đó, Khu Sài Gòn - Gia Định gồm 33 thành viên, trong đó có 25 thành viên chính thức, 8 ủy viên dự khuyết. Bộ Tư lệnh khu Sài Gòn - Gia Định do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Chính ủy, Tư lệnh là đồng chí Trần Văn Trà, Tham mưu trưởng là đồng chí Trần Đình Xu.

 Khu trọng điểm được thành lập gồm Sài Gòn - Gia Định và một phần đất của các tỉnh tiếp giáp với Sài Gòn và được mở rộng thêm các vùng thuộc miền Đông Nam Bộ. Khu trọng điểm được chia thành 6 phân khu; mỗi phân khu có Khu ủy và Ban chỉ huy quân sự. Khu trọng điểm đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Linh - Phó Bí thư Trung ương Cục, Võ Văn Kiệt và Trần Văn Trà - Uỷ viên Trung ương Cục.

 Đảng ủy khu trọng điểm tổ chức ra hai phân ban lãnh đạo của 2 bộ tư lệnh tiền phương: Bộ Tư lệnh tiền phương Bắc (I) gồm các đồng chí: Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Mai Chí Thọ; Bộ Tư lệnh tiền phương Nam (II) gồm các đồng chí: Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng. Bộ Tư lệnh tiền phương Bắc trực tiếp chỉ huy các mũi tiến công từ hướng bắc, tây bắc, phía đông và đông bắc thành phố, gồm các phân khu 1, 4, 5 và lực lượng chủ lực Miền. Bộ Tư lệnh tiền phương Nam chỉ huy các mũi phía Nam, một phần Tây Nam, gồm phân khu 2, 3, 6, đồng thời lãnh đạo quần chúng nổi dậy ở nội thành. Công tác phòng gian bảo mật, đặc biệt là giữ bí mật về ý đồ chiến lược của Đảng, được tuân thủ nghiêm ngặt; các kế hoạch bảo vệ tài liệu, bảo vệ tổ chức cán bộ được tiến hành ở tất cả các cấp. Quân ủy Trung ương và Miền tiến hành hoạt động nghi binh chiến lược để lôi kéo sự chú ý và lực lượng của địch sang các chiến trường miền Đông Nam Bộ; do đó, ta vẫn giữ được bí mật, bất ngờ của đòn tiến công chiến lược đánh vào thị xã, thành phố với quy mô lớn trên toàn miền Nam đến giờ chót.

 Trên cơ sở năm cánh quân có từ năm 1965, được sự chi viện của trên, an ninh các phân khu được thành lập, trực thuộc các phân khu ủy. Ngày 15-1-1968, An ninh Trung ương Cục tăng cường cho T4 30 cán bộ trung, sơ cấp để bố trí vào các phân khu. An ninh các phân khu tuyển thêm nhiều tân binh từ vùng giải phóng để tăng cường lực lượng. Lực lượng chiến đấu chủ yếu là điệp báo, an ninh vũ trang, trinh sát vũ trang, trinh sát vũ trang nội đô.

Lực lượng điệp báo, quân báo được điều động vào nội thành chuẩn bị cho Tổng công kích và nổi dậy. Tháng 11-1967, đồng chí Đỗ Thạnh (Ba Dũng), Phó Ban điệp báo và một số đồng chí cốt cán vào nội thành rà lại mạng lưới điệp báo, xây dựng cơ sở, xây dựng căn cứ "lõm chính trị", căn cứ "lõm" trong nội thành và chuẩn bị các điều kiện chiến đấu.

Kết hợp với Phòng quân báo Miền, sưu tầm các bản đồ thị xã, thị trấn các tỉnh miền Đông Nam Bộ và các quận nội thành Sài Gòn - Gia Định; điều tra những mục tiêu quan trọng trong nội thành Sài Gòn như: Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất, Tổng nha Cảnh sát, Nha cảnh sát Đô thành Sài Gòn, Đặc ủy Trung ương tình báo, Nha an ninh quân đội...; nắm chắc tình hình một số chi khu và mục tiêu quan trọng như Tổng kho Long Bình, sân bay Biên Hòa. Điệp báo và Quân báo đã đưa đón một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy an ninh, quân sự vào nội thành khảo sát thực địa, đảm bảo bí mật an toàn; chuẩn bị lực lượng trinh sát dẫn đường các mũi tiến công nội thành, các mục tiêu quan trọng, nắm chắc các động thái địch, phục vụ tốt cho Bộ Chỉ huy tiền phương.

Công tác giao liên được tăng cường cho vận chuyển vũ khí, đưa các tổ vào nội thành tạo thế làm ăn hợp pháp, phục vụ kịp thời cho lãnh đạo chỉ huy. Lợi dụng ngày nghỉ tết Nôen năm 1967, ta tranh thủ vượt sông Vàm Cỏ Đông qua Quốc lộ 22 (nay là Quốc lộ 1) để chuyển vũ khí vào nội thành bằng ghe hai đáy xuôi theo sông Vàm Cỏ, rạch Cây Khô vào rạch Bến Nghé, bố trí cơ sở đón ở đó đưa vũ khí, đạn dược, chất nổ C4, TNT được gói trong các bánh tét vào những ngày giáp tết được vận chuyển vào nội thành che giấu. Các trạm giao liên của điệp báo, trinh sát vũ trang dọc theo quốc lộ dùng xe lam chở súng đạn vào nội thành, bên trên chất đầy rau quả để nghi trang. Chúng ta còn dùng xe Jeep biển số quân đội Sài Gòn, người của ta đóng vai đại úy quân đội Sài Gòn lợi dụng giờ nhá nhem tối qua các trạm gác. Ngày 15-12-1967, tổ bảo vệ giao liên, văn phòng được tổ chức lại gọn nhẹ, gồm 26 đồng chí vào nội thành xây dựng lại các hộp thư, đồng thời theo sát các mũi tiến công của quân chủ lực đánh vào các mục tiêu trọng điểm Tổng nha Cảnh sát Đô thành. Ngày 15-12-1967, Thường vụ Trung ương Cục ra Chỉ thị số 32/CT-NT đề ra nội dung của công tác an ninh là: "Phải phục vụ quyết tâm chiến lược của Đảng, hướng vào các đô thị vùng yếu, kết hợp lực lượng vũ trang, chính trị của quần chúng để đẩy mạnh trừ gian diệt ác ôn... tạo thế cho phong trào cách mạng của quần chúng nổi dậy tiến lên tiêu diệt cả cơ quan đầu não, các tổ chức công an tình báo Mỹ - ngụy, các đảng phái phản động, đánh tan các cơ sở của địch một cách triệt để, giành chính quyền về tay nhân dân..."  . Thành ủy giao Ban An ninh nhiệm vụ trừ gian, diệt ác nhắm vào hai loại mục tiêu: Bọn đầu sỏ, bọn cao cấp và bọn tình báo, an ninh cảnh sát ác ôn trong chính quyền cơ sở địch.

 Trên toàn chiến trường miền Nam, cuộc tổng công kích chiến lược vào các đô thị đã mở ra đêm 30 rạng sáng ngày 31-1-1968, đồng loạt tiến công trên toàn miền Nam, đánh thẳng vào các thành phố, thị xã, sân bay, kho tàng, Sở chỉ huy. Lực lượng an ninh khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định phối hợp với các chiến trường chính đánh 372 trận lớn, nhỏ, tiêu diệt 4.575 tên địch các loại, trong đó có 1.124 tên Mỹ, có 9 sĩ quan cấp tá, bắt sống 129 tên, có 1 tên tư lệnh sư đoàn, 1 tên tỉnh trưởng; bắn cháy và phá hủy 105 xe quân sự các loại, 63 máy bay, bắn chìm 1 tàu, thu nhiều vũ khí quân trang, quân dụng . "Phân đội 2 bảo vệ Bộ Tư lệnh tiền phương II được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang công an nhân dân. Đồng chí Nguyễn Minh Hoàng thuộc an ninh T4 được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đơn vị trinh sát được tặng thưởng Huân chương hạng Nhì; 8 đồng chí được tặng thưởng Huân chương hạng Nhất, hạng Nhì".

 Thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược của chủ trương tổng công kích, tổng khởi nghĩa Mậu Thân 1968 là một sự thật lịch sử. Những bài học thắng lợi và thiếu sót là những kinh nghiệm quý giá cho chặng đường tiếp theo dẫn đến ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (tháng 1-1973) là vô cùng bổ ích cho chặng đường kết thúc chiến tranh bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy toàn thắng trong Xuân 1975, đưa dân tộc ta vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #62 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2020, 05:04:41 pm »

CÔNG TÁC TRÍ VẬN Ở SÀI GÒN - GIA ĐỊNH
TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ CHO TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY
 XUÂN MẬU THÂN 1968



TS. HỒ SƠN DIỆP
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh


Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, ngày 25-10-1967, Trung ương Cục miền Nam tổ chức Hội nghị, ban hành Nghị quyết Quang Trung: Tiến hành "Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa".

Ở Sài Gòn - Gia Định, lực lượng trí vận tiến hành công tác giáo dục chính trị tư tưởng các cơ sở nòng cốt trong các tổ chức quần chúng bí mật, công khai, nửa công khai, chuẩn bị lực lượng quần chúng, chuẩn bị nổi dậy "Tổng khởi nghĩa"; cài, cắm cán bộ nòng cốt vào các cơ quan báo, đài, Tổng hội Sinh viên, Tổng đoàn Học sinh, Lực lượng Bảo vệ văn hóa dân tộc, Hội Bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ, Phong trào Dân tộc tự quyết, Lực lượng quốc gia tiến bộ, Nghiệp đoàn ký giả... nhằm tập hợp tầng lớp nhân sĩ, trí thức thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam, giương cao ngọn cờ "hòa bình trung lập" đấu tranh trên mặt trận dư luận...

Từ năm 1965, thực hiện "Kế hoạch X" của Trung ương Cục, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã triển khai xây dựng năm tiểu đoàn "mũi nhọn", phát triển lực lượng biệt động, thành lập các đội vũ trang chiến đấu, các trung tâm huấn luyện bí mật quân sự, chính trị bí mật, phát triển các cơ sở cách mạng, "lõm" đứng chân, đẩy mạnh phong trào đấu tranh đô thị... Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được rút về Trung ương Cục nhận công tác mới, đồng chí Tạ Bá Tòng (Khu ủy viên) được cử làm Trưởng ban Trí vận - Mặt trận 1. Ban chia thành hai phân ban: phân ban hoạt động trong nội thành và phân ban hoạt động ở chiến khu. Trong đó, phân ban hoạt động nội thành có nhiệm vụ vận động, tập hợp nhân sĩ, trí thức, tư sản dân tộc, giáo giới, văn nghệ sĩ, báo chí, người Hoa, tôn giáo... giương cao ngọn cờ "hòa bình trung lập", đấu tranh chống chiến tranh, chống sự can thiệp của Mỹ, đòi quân đội Mỹ, quân đội đồng minh của Mỹ rút quân về nước;... Phân ban hoạt động ở chiến khu có nhiệm vụ lập đội vũ trang, xây dựng căn cứ, bảo vệ lãnh đạo và cán bộ cách mạng từ nội thành ra căn cứ làm việc, học tập, đồng thời tổ chức giao liên hai chiều từ căn cứ vào nội thành Sài Gòn hoặc đến các cơ quan của Khu ủy...

Ở nội thành, tính đến trước Tết Mậu Thân 1968, đội ngũ nhân sĩ, trí thức khá đông đảo, tham gia hầu hết trên các lĩnh vực từ chính trị, quân sự, đến kinh tế, văn hóa, xã hội của chính quyền Sài Gòn. Chỉ tính riêng ngành giáo dục, trong những năm 1960-1961, cả miền Nam có 24.533 giáo viên tiểu học, 6.607 giáo viên trung học, 595 giáo viên đại học, 419 giáo viên bậc cao đẳng, trung học chuyên nghiệp . Đến những năm 1967-1968, miền Nam đã có đến 27.572 giáo viên, 4.453 giáo viên công lập; 1.155 giáo viên bán công, 7.084 giáo viên, 7.730 giáo viên tư thục (con số này chưa tính các giáo viên hiện đang giữ các chức vụ khác) . Ngoài ra, Niên giám thống kê Việt Nam Cộng hòa còn cho biết, bình quân mỗi năm các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp trên toàn miền Nam (chủ yếu là ở Sài Gòn) có khoảng từ 4 đến 5 vạn sinh viên tốt nghiệp, nếu năm 1963, số lượng những "người có bằng cấp hơn 6 vạn"; năm 1965, con số này dao động từ 13 đến 15 vạn, và đến năm 1968 đã lên tới con số 25 đến 30 vạn, đó là chưa kể số sinh viên hằng năm du học tại phương Tây tốt nghiệp về nước.

Số sinh viên nói trên sau khi tốt nghiệp, có đến 60% bị Chính phủ Sài Gòn bắt lính, số còn lại chủ yếu trở thành "những cán bộ, công chức làm tay sai cho chế độ Mỹ-ngụy", "hay ít ra cũng biến họ thành những người an phận thủ thường xa rời cuộc đấu tranh của dân tộc".

Báo cáo của Thượng nghị sĩ Kennơđi (Mỹ) cho biết: Ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1965-1967, mỗi năm có khoảng từ 100.000 đến 150.000 thường dân bị thương, trong đó có khoảng ¼ tử vong và tối thiểu có 35.000 thường dân tàn tật vĩnh viễn. Đứng trước thực trạng đau buồn đó, đội ngũ trí thức ở Sài Gòn - Gia Định phân hóa mạnh mẽ, ngoài bộ phận thân chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, còn có không ít trí thức chủ trương trung lập và đông đảo trí thức mất phương hướng trước vòng xoáy dồn dập của cuộc chiến tranh tàn khốc... Trong khi đó "Ánh sáng lý tưởng tỏa từ trong chiến khu và từ bên kia nửa phần Tổ quốc không dễ dàng đến với tất cả thanh niên và trí thức miền Nam, tổ chức chỉ đến với một số người chọn lọc, thường qua một số trung gian bí mật mà một người bình thường không thể nào bắt liên lạc được". Do đó, nhiệm vụ của phân Ban Trí vận - Mặt trận là làm cho nhân sĩ trí thức, sinh viên, học sinh và các giới đồng bào... hiểu rõ bản chất của cuộc chiến, hiểu rõ cái ranh giới giữa kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược; hiểu rõ nhân dân Việt Nam đang thực hành cuộc chiến tranh cách mạng để giành lại tự do, độc lập cho dân tộc; hiểu rõ "người Mỹ là kẻ xâm lăng và người Việt Nam nào cũng có bổn phận đuổi người Mỹ ra khỏi nước nhà...".

Ở Sài Gòn - Gia Định, sống dưới sự kiểm soát gắt gao của "chế độ Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, con đẻ của nhóm quân nhân, một nhóm độc tài quân phiệt có từ trong bản chất"6 với hệ thống cảnh sát, mật vụ, an ninh quân đội, tình báo... dày đặc, luôn rình rập, "thả lưới, quẳng câu"... nên công tác trí vận vô cùng khó khăn. Do vậy, phân ban Trí vận - Mặt trận phải tạo vỏ bọc kín đáo, tìm điều kiện thuận lợi, từ rỉ tai, nói nhỏ vạch trần âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ, đến xâu chuỗi, tuyên truyền, tập hợp nhân sĩ, trí thức... nâng cao dần nhận thức chính trị, từng bước đưa họ tham gia vào các hoạt động yêu nước từ thấp đến cao, góp phần xây dựng những phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị. Hoạt động hết mình của lực lượng trí vận trong các phân tiểu ban: nhân sĩ, trí thức vận, giáo vận, tư sản vận, phật giáo vận... đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận.

Phân tiểu ban Trí vận đã thuyết phục được nhiều nhân sĩ, trí thức và công chức Sài Gòn tham gia cách mạng, điển hình như Nguyễn Trí Độ, Phan Văn Mỹ, Đinh Xáng, Lương Lê Đồng, giáo sư Nguyễn Văn Cứng, luật sư Trịnh Đình Thảo, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết, Match Tares, Trương Kim Soa, Nguyễn Ngọc Chương, Nguyễn Hữu Khương, Trần Minh Linh, Trần Văn Khá, Đào Kim Sang...

Phân tiểu ban Giáo vận, tập hợp được nhiều nhà giáo yêu nước, từng bước đưa phong trào đấu tranh, điển hình như Lê Minh Triết, Võ Môn (Hai Trọng), Phan Thị Nở, Lê Văn Thời, Lưu Văn Lê, Đặng Thị Mai, Trương Văn Đức, Lương Lê Đồng, Võ Thanh Bằng... Đặc biệt, sự ra đời của Hội Nhà giáo yêu nước Khu Sài Gòn - Gia Định (1965), Hội liên hiệp Giáo chức Việt Nam (1966)... đã tạo nên bước phát triển mạnh mẽ của phong trào giáo giới.

Phân tiểu ban Tư sản không những đã vận động, thuyết phục được nhiều nhà tư sản dân tộc, chủ hãng xưởng lớn... tham gia cách mạng như Khương Hạp, Nguyễn Quốc Ngọc, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Văn Thống, Trần Văn Bảy, Nguyễn Bá Nghè, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Phước Thị Phần...; mà còn thành lập được chi bộ Đảng do Lê Thị Nuôi (Việt Hạnh) làm Bí thư. Đồng thời biến nhà 157D/1 đường Nguyễn Trãi, quận 5, Chợ Lớn thành cơ sở cách mạng, địa điểm liên lạc, nơi phân phối tài liệu, truyền đơn, sách báo cách mạng do Nhà in bí mật Trí Thức Mới ấn hành và là nơi làm việc thường xuyên của Tạ Bá Tòng - Trưởng Ban Trí vận - Mặt trận khu Sài Gòn - Gia Định...

Phân tiểu ban Phật giáo vận đã vận động, thuyết phục được nhiều trí thức Phật giáo tham gia cách mạng như nhà nghiên cứu Phật giáo Võ Đình Cường, Thượng tọa Thích Huệ Hưng, Đại đức Thích Như Chánh, Đại đức Thích Minh Nguyệt... Tất cả họ đều không sợ nguy hiểm, sẵn sàng giúp đỡ, tạo điều kiện cho cán bộ cách mạng hoạt động trong nội đô...

Để thuận lợi cho hoạt động trong nội thành, năm 1965, Ban Trí vận - Mặt trận xuất bản tờ tạp chí Trí thức mới và bản tin Sài Gòn vùng lên do Giáo sư Lê Văn Huấn làm Chủ nhiệm, Vương Văn Lễ (Chín Quyền) làm Chủ bút kiêm Thư ký tòa soạn. Lúc đầu tờ tạp chí và bản tin in trong căn cứ rồi chuyển vào thành phố bằng con đường giao liên bí mật, mỗi số khoảng 500 - 600 bản, mỗi bản dày 100 trang, khổ (13x18 cm). Xuất bản được vài số thì tờ tạp chí Trí thức mới và bản tin Sài Gòn vùng lên phải đình bản vì thiếu vật tư và việc đưa báo từ căn cứ vào nội thành quá nguy hiểm do phải vượt qua nhiều trạm kiểm soát gắt gao của chính quyền Sài Gòn. Đến năm 1967, theo chủ trương của Khu ủy, tờ tạp chí Trí thức mới và bản tin Sài Gòn vùng lên phải bám trụ trong nội thành để có điều kiện tiếp cận quần chúng. Ban Trí vận - Mặt trận quyết định đưa Ban biên tập và xưởng in vào nội thành, lúc thì ở cơ sở Tân Định, lúc ở đường Phạm Thế Hiển, Quận 8, nhà in được bố trí trong một hầm bí mật... việc viết, in và phát hành vô cùng khó khăn và nguy hiểm...

Cùng với tờ Trí thức mới và bản tin Sài Gòn vùng lên, năm 1966, tờ Tiếng nói trí thức được xuất bản công khai tại Sài Gòn nhằm mục đích tập hợp giới trí thức đấu tranh cho "Độc lập, Tự do, Dân chủ, Dân sinh và Hòa bình" ở miền Nam. Tờ báo do Nguyễn Văn Kiết làm Chủ nhiệm; Thanh Lan làm Thư ký tòa soạn. Số đầu tiên phát hành không nhiều, nhưng được trí thức, sinh viên, học sinh đón nhận.

Trong những năm 1965, 1966 và 1967 "ở các đô thị miền Nam, quần chúng cơ bản ngày càng kiên quyết cách mạng, các tầng lớp trung gian ngày càng ngả về ta. Các phong trào đấu tranh đòi hòa bình dân chủ, tán thành trung lập, chống lệ thuộc đế quốc Mỹ ngày càng phát triển" . Điển hình là cuộc biểu tình của gần 50.000 trí thức, sinh viên, học sinh, công nhân và đồng bào Phật giáo Sài Gòn chống Mỹ (1-5-1965); cuộc biểu tình đòi đế quốc Mỹ rút quân về nước của hơn 30.000 nhân sĩ, trí thức, giáo chức, sinh viên, học sinh nhân Ngày Quốc tế Lao động (1-5-1966); sinh viên, học sinh xuống đường đốt cháy xe Mỹ và hô vang khẩu hiệu "mạng người Việt Nam không thể đổi bằng đô la và bom đạn Mỹ" (5-5-1966); cuộc biểu tình chống bắt quân dịch học đường của giới giáo chức, ký giả, sinh viên, học sinh tại Sài Gòn (8-1965); cuộc hội thảo chống Mỹ của khoảng 1.100 trí thức, sinh viên, học sinh Sài Gòn - Chợ Lớn (5-6-1966); cuộc biểu tình của trí thức, sinh viên, học sinh Sài Gòn - Chợ Lớn vận động quần chúng tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến của chính phủ Sài Gòn (11, 12-1966); cuộc hội thảo khoa học của nhân sĩ, trí thức, nhà báo, luật sư, giáo chức, doanh nhân Sài Gòn - Chợ Lớn bàn về việc Mỹ xâm lược Việt Nam và ra bản tuyên ngôn đòi Mỹ giao lại chủ quyền về kinh tế, đất đai và cơ sở hạ tầng cho người Việt Nam (2-1967). Cuộc mít tinh, biểu tình của giáo chức, sinh viên, học sinh Sài Gòn - Chợ Lớn đòi Mỹ không được can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam, đòi Mỹ rút quân đội về nước (9-1967)...

Cùng với phong trào đấu tranh chống Mỹ, bài Mỹ, vấn đề đấu tranh bảo vệ nhân phẩm và nền văn hóa Việt Nam trước sự xâm lăng của văn hóa Mỹ cũng được đặt ra một cách bức thiết. Trí thức, văn nghệ sĩ, các tầng lớp nhân dân cùng với các nhà tu hành liên tục mở các cuộc hội thảo khoa học tìm biện pháp bảo vệ nhân phẩm Việt Nam, bảo vệ nền văn hóa dân tộc. Các tổ chức yêu nước lần lượt ra đời như Hội bạn trẻ Việt Nam, Nghiệp đoàn Ký giả Việt Nam, Lực lượng bảo vệ tinh thần thanh thiếu niên, Hội Bảo vệ nhân phẩm phụ nữ (26-6-1966)... Trí thức, nhà báo tập trung "truy tầm nguyên nhân gây ra tệ dị đoan, lên án những sản phẩm dâm ô, những thủ phạm làm tan nát xã hội" . Tháng 4-1966, gần 70 trí thức soạn thảo bản Tuyên ngôn trong đó có đoạn viết: "Văn nghệ lai căng đồi trụy, phim ảnh, tân nhạc, tiểu thuyết, báo chí đầu độc tinh thần thanh niên, đe dọa tiêu diệt truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta - một dân tộc quật cường với 4.000 năm lịch sử đã từng chiến đấu oanh liệt vẻ vang để được độc lập tự tôn"; "văn nghệ sa đọa là kết quả tất nhiên của một chế độ không dân chủ, dung túng sự sa đọa, cản trở tính dân tộc;... văn nghệ nước ngoài tràn vào phá hoại tinh thần dân tộc và truyền thống cao đẹp Việt Nam". Tiếp đó, giới trí thức yêu nước thành lập Ban vận động rồi tiến hành Đại hội thành lập Lực lượng Bảo vệ văn hóa dân tộc ngay tại Tòa Đô chính Sài Gòn (7-8-1966).

Từ đầu năm 1967, báo chí ở các đô thị và vùng tạm chiếm luôn luôn xuất hiện các bài viết, bài nghiên cứu với nội dung: "Hiện tình của văn hóa và trách nhiệm của chúng ta", "một thực trạng văn hóa đòi hỏi sự quan tâm của mọi người"; "phải cứu lấy văn hóa Việt Nam", "chúng ta làm gì và sẽ làm gì?"... Lực lượng Bảo vệ văn hóa dân tộc đề ra nhiệm vụ: bài trừ văn hóa đồi trụy, lai căng, mất gốc, chống văn hóa ngoại lai, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc dựa trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, gạn lọc và phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống nhằm xây dựng nền văn hóa dân tộc hiện đại. Trí thức tổ chức các cuộc hội thảo về các đề tài: "Văn hóa dân tộc!, Thế nào là văn hóa dân tộc?"; "Thực trạng văn hóa và đòi hỏi sự quan tâm của mọi người"; "Phải cứu lấy văn hóa của chúng ta"; "Nội dung, tính chất, cơ sở truyền thống lập quốc, chống xâm lăng"; "Những hiện tượng dâm ô, đồi trụy trong văn nghệ"; "Chúng ta làm gì và sẽ làm gì để bảo vệ nền văn hóa dân tộc?"; Vai trò của nhà giáo trong công cuộc phát huy tinh thần văn hóa dân tộc"...

Phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc của giới trí thức yêu nước đã đánh thức mạnh mẽ tinh thần yêu nước và lòng tự tôn dân tộc trong giới học sinh, sinh viên. Do vậy, phong trào hát sử ca ra đời và lan nhanh trong các trường phổ thông, đại học làm bừng lên khí thế cách mạng hào hùng của dân tộc. Những bài sử ca như: Đêm Mê Linh, Hội nghị Diên Hồng, Gò Đống Đa, Hoa Lư, Thăng Long hành khúc... được giới học sinh, sinh viên biểu diễn nhằm ca ngợi những chiến thắng vang dội của cha ông ta trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm... Ngoài ra, học sinh, sinh viên còn trình diễn nhiều bản nhạc yêu nước, tiến bộ như: Khúc khải hoàn, Lên đàng, Du lịch sông Thao, Tiếng hát sông Lô, Bà Mẹ Gio Linh, Tiếng trống Hạ Hồi, Hoàng Hoa Thám... của Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Hoàng Quý, Trần Văn Khê, Đỗ Nhuận... Phong trào ca hát về đề tài lịch sử, đề tài kháng chiến cứ thế ngày một lan rộng và trở thành phương cách chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, khơi thổi ngọn lửa yêu nước và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc Việt Nam trong lòng mọi người dân Việt Nam.

Trong những tháng cuối năm 1967, để chuẩn bị cho Tết Mậu Thân, phong trào đấu tranh của giáo chức, sinh viên, học sinh diễn ra dồn dập. Sinh viên các trường Văn khoa, Sư phạm, Khoa học, Y Dược... bãi khóa, bãi thi, tổ chức hội thảo, mít tinh... phản đối chính quyền Sài Gòn độc tài phát xít, đòi Mỹ rút quân về nước (9-1967). Sinh viên liên viện Đại học Sài Gòn - Vạn Hạnh - Cần Thơ - Đà Lạt tổ chức mít tinh, tuần hành đòi quân đội nước ngoài rút khỏi miền Nam Việt Nam (24-9-1967). Sinh viên, học sinh bí mật treo cờ giải phóng, rải truyền đơn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tại các trường Nông Lâm Súc, Bồ Đề, Đức Trí, Y Dược, Khoa học, Phan Sào Nam, Lê Văn Duyệt, Petrus Ký, Gia Long, Cao Thắng,... kêu gọi nhân dân Sài Gòn nổi dậy chống chính quyền Sài Gòn. Tổng hội Sinh viên, Hội đồng đại diện sinh viên Sài Gòn tập hợp hàng chục ngàn sinh viên, học sinh của 21 phân khoa Đại học, 53 trường trung học và Đoàn văn nghệ Bừng Sáng tổ chức hội diễn văn nghệ mừng Tết Quang Trung, chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa (26-1-1968) ...

Rõ ràng rằng công tác trí vận Khu ủy đã góp phần quan trọng vào sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị trong những năm 1965-1967, đồng thời chuẩn bị lực lượng, tập dượt kỹ lưỡng cho cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân 1968.

Ở căn cứ, đội vũ trang của Ban Trí vận - Mặt trận được kiện toàn. Trong tổng số 23 thành viên có 7 đảng viên, 11 đoàn viên do Trần Văn Bắc (Sáu Điền) phụ trách. Dù số lượng ít nhưng hân ban được tuyển lựa kỹ lưỡng nên các thành viên rất trung kiên, gan dạ, không quản ngại mưa bom bão đạn, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh. Đến năm 1967, phân ban do kỹ sư Đặng Xuân Phong làm Trưởng phân ban... Ngoài ra, phân ban còn có kỹ sư Đặng Xuân Phong, bác sĩ Dương Quang Trung, bác sĩ Ủ Thị Anh, nhà giáo Bùi Thị Nga...

Trong những năm 1965-1967, phân ban đã xây dựng nhiều bàn đạp đứng chân ở Củ Chi, Long An, Mỹ Tho, Trà Vinh, Bến Tre, Tây Ninh, Long Thành, Bình Chánh, Bến Lức, Ba Thu;... Nhiều chuyến đi công tác bị đối phương phục kích, anh em đã dũng cảm chiến đấu, bảo vệ thư từ, tài liệu. Tính đến năm 1967, phân ban có 9 người hy sinh, 5 người bị thương, tuy nhiên anh em vẫn hoàn thành nhiệm vụ được giao, thực hiện thành công hàng ngàn chuyến giao liên đưa thư từ, tài liệu, đưa đón nhân sĩ, trí thức... ra, vào căn cứ; bảo đảm liên lạc thông suốt giữa mật khu với nội thành Sài Gòn.

Cuối năm 1967, Trung ương Cục ban hành Nghị quyết Quang Trung chuẩn bị tổng công kích - tổng khởi nghĩa, bộ máy lãnh đạo Khu ủy được sắp xếp theo năm cánh áp sát Sài Gòn, các ban ngành đoàn thể cũng được chia cho từng cánh, trong đó Phân ban Trí vận - Mặt trận thuộc Phân khu 6.

*
*         *

Tết Mậu Thân 1968, Quân giải phóng đồng loạt tiến công vào các mục tiêu quân sự của đối phương ở nội thành, nội thị thuộc các tỉnh thành trên toàn miền Nam. Tại Sài Gòn phân Ban Trí vận - Mặt trận tham gia tích cực cùng Quân giải phóng tấn công các vị trí quân sự quan trọng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Sau đợt 1 Mậu Thân, mặt trận thứ hai được Trung ương Cục và Khu ủy giao cho Ban Trí vận - Mặt trận chuẩn bị, giương cao ngọn cờ "hòa bình trung lập" trên mặt trận đấu tranh "dư luận" đã được hoàn tất. Ngày 20-4-1968, Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam, cùng Ủy ban Liên minh đô thành Sài Gòn - Gia Định ra đời với sự tham gia của đông đảo nhân sĩ, trí thức, chính khách và nhiều nhà tư sản dân tộc nổi tiếng tại Sài Gòn, miền Nam Việt Nam. Tiếp đó, Ban Trí vận - Mặt trận đã sử dụng toàn bộ đường dây giao liên bí mật, công khai, nửa công khai từ nội thành ra vùng ven đón đưa và bảo vệ an toàn cho các nhân sĩ, trí thức, chính khách, tư sản dân tộc, điền chủ, sinh viên... từ Sài Gòn ra chiến khu, vùng căn cứ.

Công tác trí vận Sài Gòn - Gia Định đã góp phần quan trọng vào cuộc "tổng công kích - tổng khởi nghĩa" Xuân Mậu Thân 1968 - góp phần tạo nên cột mốc lịch sử sáng ngời chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.




------------------------------------------------------------------
1. Tiền thân của Ban Trí vận là Chi bộ Trí thức trực thuộc Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn (thành lập tháng 12-1947). Chi bộ do Luật sư Hoàng Quốc Tân làm Bí thư, có nhiệm vụ vận động trí thức, công chức ở Sài Gòn - Chợ Lớn tham gia đấu tranh cách mạng. Tháng 11-1954, Đặc khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn chủ trương thành lập các ban Công vận, Phụ vận, Trí vận (bao gồm cả Tư sản vận)... Trên cơ sở đó, cuối năm 1956, Ban Trí vận Khu Sài Gòn - Chợ Lớn chính thức được thành lập do dược sĩ Phạm Thị Yên làm Trưởng ban, Trương Bội Hoàn phụ trách tuyên huấn, Bùi Thị Nga phụ trách phong trào. Năm 1961, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta chuyển sang thời kỳ mới, Chiến trường B2 được tổ chức thành các quân khu, hình thức tổ chức quân sự theo lãnh thổ (mật danh quân sự là T). Theo đó: ngày 19-3-1961, Ban Trí vận Khu Sài Gòn - Gia Định tái thành lập do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát - Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng Sài Gòn - Gia Định kiêm Trưởng ban. Ban Trí vận làm nhiệm vụ Trí vận - Mặt trận, do vậy mà từ đó gọi là Ban Trí vận - Mặt trận khu Sài Gòn - Gia Định.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #63 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2020, 09:08:46 am »

HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ CỦA THÀNH ỦY SÀI GÒN - GIA ĐỊNH
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968



TS. DƯƠNG KIỀU LINH
Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã xác định rõ tầm quan trọng của hoạt động báo chí trong sự nghiệp cách mạng và lãnh đạo chặt chẽ hoạt động báo chí, sử dụng báo chí làm vũ khí sắc bén chống lại âm mưu lũng đoạn của kẻ thù, đồng thời, sử dụng báo chí làm phương tiện tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, hướng dẫn quần chúng cách mạng phương pháp hoạt động trong lòng địch. Báo chí là một trong những nội dung quan trọng của công tác đô thị; hoạt động báo chí được coi là một mũi chiến lược quan trọng để đấu tranh trên mặt trận chính trị tư tưởng và là nội dung trong phương châm chiến lược của cách mạng miền Nam. Do đó, trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, báo chí được coi là một trong các mũi tấn công kẻ thù và được chuẩn bị khá chu đáo.

Trước, trong và sau Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, hoạt động của trận địa báo chí ở Sài Gòn khá sôi nổi, với những hình thức tổ chức và hoạt động đa dạng, phong phú. Căn cứ vào điều kiện hoạt động thực tế và các mục tiêu cách mạng, Thành ủy Sài Gòn - Gia Định đã chủ trương xây dựng lực lượng hoạt động cả trong thế hợp pháp và bất hợp pháp; với ba hình thức hoạt động công khai, nửa công khai và bí mật; các hoạt động được thực hiện cả trong nội đô Sài Gòn, vùng ngoại ô và trong chiến khu, cũng được tổ chức ở những quy mô, mức độ và phương thức hoạt động khác nhau:

Thứ nhất là dòng báo chí công khai.

Thành ủy Sài Gòn - Gia Định đã chỉ đạo lực lượng báo chí nội thành tiếp tục lợi dụng những tờ báo công khai, hợp pháp (có giấy phép do Bộ Thông tin của chính quyền Sài Gòn cấp) nhưng có các yếu tố tiến bộ và yêu nước mà lực lượng cách mạng có thể chi phối được trong những điều kiện và thời điểm nhất định. Sự nhận thức và chỉ đạo báo chí công khai trong nội thành thể hiện cách nhìn toàn diện về phong trào đô thị, về cách đánh giá đúng đắn và cần thiết về vai trò quần chúng nhân dân.

Do đặc tính công khai nên nội dung đấu tranh của dòng báo chí có giới hạn, chỉ dừng lại ở mức độ đấu tranh đòi các quyền lợi chính đáng, thiết yếu của người dân như quyền dân sinh, dân chủ, hòa bình, chống các chính sách hà khắc chứ không thể trực tiếp tuyên truyền chống chính quyền, phổ biến đường lối, chủ trương cách mạng. Vì vậy, vào thời điểm sự kiện Mậu Thân diễn ra, kết quả chi phối của dòng báo chí công khai có một số hạn chế. Dù vậy, trong đợt 1 của Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 hoạt động của dòng công khai đã được tổ chức hiệu quả.

Sau đợt 1 của cuộc tấn công, vì điều kiện hoạt động đã thay đổi nên không phải lúc nào báo chí cũng có được sự chỉ đạo cụ thể, sát sao của Đảng bộ. Lực lượng cán bộ, chiến sĩ báo chí nội thành luôn phải có sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong quá trình hoạt động dựa trên cơ sở chỉ đạo chung về chủ trương đấu tranh chính trị, yêu cầu, nhiệm vụ của báo chí trên mặt trận chính trị - văn hóa - tư tưởng. Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể tại mỗi thời điểm mà các cán bộ, chiến sĩ báo chí có sự ứng phó linh hoạt, vừa mang lại hiệu quả công việc, vừa đảm bảo bí mật cơ sở. Từ đặc điểm và kết quả của hoạt động báo chí công khai trong tổng tiến công và nổi dậy đã khẳng định rõ bản lĩnh, năng lực, trí tuệ của đội ngũ báo chí nội thành. Phải là những người anh dũng, kiên cường, có tư duy nhanh nhạy, sắc bén, linh hoạt và yêu nghề báo, hiểu độc giả, hiểu quần chúng thì những chiến sĩ báo chí nội thành mới đủ khả năng bám trụ và hoạt động hiệu quả trên trận tuyến này. Nhiều cán bộ, chiến sĩ, ký giả nội thành đã bị địch bắt bớ, tra tấn, giam cầm hoặc hy sinh.

Thứ hai là dòng báo chí nửa công khai.

Là những tờ báo không có giấy phép của Bộ Thông tin nhưng vẫn phát hành công khai để tặng hoặc bán. Dòng báo chí này chủ yếu do lực lượng học sinh, sinh viên thực hiện dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy và Thành đoàn Thanh niên Sài Gòn - Gia Định. Với chủ trương xây dựng đội ngũ nòng cốt trẻ khá đông trong các tờ báo, coi báo chí là một mũi chiến lược quan trọng đấu tranh trên mặt trận chính trị - tư tưởng. Từ đó, báo chí đã trở thành một phương tiện tuyên truyền, vận động cách mạng tích cực và hiệu quả, tạo hiệu ứng tốt trong tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên Sài Gòn.

Thực hiện chủ trương của Thành ủy, cuối năm 1967 đầu năm 1968, chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, phong trào học sinh, sinh viên giành được nhiều "ghế" trong Ban Chấp hành Tổng hội 1, nên hoạt động báo chí trong phong trào học sinh, sinh viên rất được chú trọng và có điều kiện phát triển mạnh và trở thành điển hình cho dòng báo chí nửa công khai, phù hợp với phương châm chỉ đạo của phong trào cách mạng đô thị.

Khi sự kiện Mậu Thân diễn ra, nội dung được thể hiện trên các tờ báo do sinh viên, học sinh Sài Gòn thực hiện đều truyền tải các nội dung trọng tâm là cổ động tinh thần yêu nước, chống chiến tranh, chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đòi hòa bình, độc lập và thống nhất. Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn trên trận địa báo chí luôn gắn liền với phong trào đấu tranh chung ở các đô thị miền Nam Việt Nam. Đến giữa năm 1968, vào đợt 2 của cuộc tổng tấn công, nhận thấy nguy cơ lớn từ phong trào học sinh, sinh viên, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn xúc tiến mở các đợt tiến công mạnh mẽ vào phong trào này nhằm dập tắt ngăn chặn khả năng lây lan nhanh chóng của nó. Nguyễn Văn Thiệu ban hành hàng loạt quân luật, bắt bớ các "thủ lãnh" phong trào, lập tòa án mặt trận xử án "báo sinh viên" và Chủ tịch Tổng hội.

Thứ ba là dòng báo chí bí mật (báo chí cách mạng).

Bên cạnh việc đẩy mạnh hoạt động của dòng báo chí công khai, nửa công khai, nửa bí mật, Thành ủy Sài Gòn - Gia Định còn chú trọng phát triển dòng báo chí bí mật ngay trong nội thành và lãnh đạo Thành ủy đặc biệt nhấn mạnh phải kết hợp chặt chẽ hai dòng báo chí công khai và bí mật, hỗ trợ lẫn nhau, cùng thực hiện nhiệm vụ chung do thực tiễn cách mạng thời kỳ này đặt ra.

Dòng báo chí này gồm hai bộ phận: Một là, những tờ báo được xuất bản ở chiến khu, sau đó bí mật đưa về phát hành trong nội thành Sài Gòn. Trước đó, nhiều tờ báo cách mạng đã xuất hiện ở nội thành Sài Gòn nhằm mục đích tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương đấu tranh cách mạng của Đảng tới người dân Sài Gòn, nên khi chuẩn bị cho đợt tấn công quan trọng này, công tác báo chí cũng được tăng cường. Hai là, những tờ báo bí mật được xuất bản ngay trong nội thành, bộ phận này nhằm đáp ứng những yêu cầu nhanh chóng, khẩn trương về mặt thông tin, đồng thời khắc phục những khó khăn, nguy hiểm của việc vận chuyển và phát hành báo chí từ vùng giải phóng vào nội đô Sài Gòn.

Để duy trì hoạt động trong nội thành, "trụ sở" của các tờ báo bí mật thường được ngụy trang bằng 2 cách. Cách thứ nhất là thuê nhà, ngụy trang thành cửa hàng kinh doanh như tiệm may, nhà thuốc,... máy móc và các vật dụng in được cất giấu dưới những hầm bí mật ngay trong nhà. Ban ngày hoạt động kinh doanh bình thường, ban đêm, những chiếc tủ, thùng đựng hàng trở thành một "tòa soạn" báo. Cách thứ hai là đào hầm bí mật, chui xuống dưới để đánh máy, thường các hầm này phải cài sẵn mìn, nếu bị lộ, phải phi tang toàn bộ bài vở và "tòa soạn".

Để trực tiếp chỉ đạo sát sao, chặt chẽ công tác nội thành, Thành ủy Sài Gòn - Gia Định quyết định thành lập Ban Chỉ đạo phối hợp các lực lượng đấu tranh chính trị ở nội thành Sài Gòn do đồng chí Trần Trọng Tân làm Trưởng ban. Hoạt động báo chí trong Ban rất được chú trọng, Ban Cán sự ký giả do đồng chí Trần Trọng Tân trực tiếp phụ trách.

Ngay từ cuối năm 1967 đầu năm 1968, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục phân công cụ thể cho các bộ phận như Đài Phát thanh Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng, Báo Giải phóng, Ban Tuyên truyền đối ngoại về nội dung tuyên truyền và sự phối hợp công tác để phục vụ nhiệm vụ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào dịp Tết. Bộ phận báo chí phát thanh đã có sự phối hợp chuẩn bị rất công phu. Máy móc thiết bị cơ động, phóng viên chiến trường sẵn sàng cho những tin bài tường thuật trực tiếp chờ khi có tin bộ đội ta đánh chiếm Đài Phát thanh - Truyền hình Sài Gòn. Tiểu ban Báo chí thuộc Ban Trí vận được giao nhiệm vụ thực hiện công tác phối hợp với Ban Tuyên truyền đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng phát đi những tin tức quân sự và tình hình tiến công của Quân giải phóng khi vào tới các đô thị, chuẩn bị các nội dung đăng trên Báo Giải phóng và Đài Phát thanh, liên lạc trực tiếp với các phân xã Thông tấn xã Giải phóng ở nước ngoài. Vì thế, trong thời gian diễn ra đợt 1 của cuộc tổng tấn công, các tin tức được truyền đi rộng khắp qua làn sóng phát thanh và báo chí. Các nhà báo như Tân Đức, Võ Nhân Lý... cùng với nhiều đồng nghiệp - chiến sĩ giải phóng túc trực bên các thiết bị kỹ thuật tuy thô sơ, nhưng được sử dụng tối đa công năng cho yêu cầu thông tin về cuộc tấn công lịch sử. Họ đã viết hàng trăm bài báo, bản tin về tình hình chiến sự đến người đọc, người nghe của cả nước, cả thế giới đang quan tâm đến cuộc chiến ác liệt. Cũng ngay trong đợt 1 của cuộc tấn công, hàng ngàn độc giả đã xúc động khi được nghe bài thơ "Dáng đứng Việt Nam" của nhà thơ liệt sĩ Lê Anh Xuân qua làn sóng của Đài Phát thanh Giải phóng và Báo Giải phóng.

Từ đầu tháng 1-1968, Ban phụ trách Báo Cờ Giải phóng đã tổ chức được bộ phận in và hình thành mạng lưới phát hành báo trong nội thành. Nhà in lấy cơ sở in công khai của đồng chí Tư Cao và đồng chí Năm Lăng đặt gần chợ Bà Chiểu; Tòa soạn đặt tại nhà đồng chí Sáu Thứ, trong khu xóm lao động Cầu Bông. Ngay sau khi tạm ổn định cơ sở in ấn và mạng lưới phát hành, tờ báo đã nhận được lệnh chiến đấu của đồng chí Trần Trọng Tân (Trưởng Ban chỉ đạo phối hợp các lực lượng đấu tranh chính trị ở nội thành Sài Gòn) chỉ đạo in tờ Cờ Giải Phóng trong đêm mồng một Tết và phát hành rộng rãi vào sáng mồng hai Tết, khi lực lượng vũ trang đã chiếm lĩnh các cửa ngõ vào Sài Gòn . Nội dung tờ báo là bản hiệu triệu của một tổ chức tiến bộ, lấy danh nghĩa là "Mặt trận dân tộc, dân chủ và hòa bình" của địa phương. Để phục vụ tốt nhất cho tổng tiến công và nổi dậy, các số ra của báo được phát thanh đọc chậm. Cùng với số báo được in ngay trong nội thành Sài Gòn còn có các bản được in ở vùng giải phóng. Đặc biệt trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Cờ Giải Phóng in trong nội thành đã kịp thời cung cấp thông tin về chủ trương, đường lối, mục tiêu của Đảng khi tiến hành chiến dịch cho quần chúng nhân dân, để quần chúng hiểu và ủng hộ. Bằng phương thức biên tập, in ấn và phát hành như vậy, Báo Cờ Giải phóng - tiếng nói của nhân dân Sài Gòn - Gia Định đã tồn tại trong lòng Sài Gòn cho đến ngày toàn thắng, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc.

Cũng trong những ngày quyết liệt diễn ra Tổng tiến công và nổi dậy, vào thời điểm tháng 4-1968, khi đợt tấn công lần 2 đã gặp một số tổn thất, Thành ủy vẫn chủ trương tăng cường công tác báo chí. Đó là phương châm chỉ đạo theo sát tình hình, tranh thủ đến mức tối đa sự ủng hộ của người dân đô thị, tìm mọi cách đưa thông tin về cuộc chiến nhanh nhất đến cho người dân. Ban Tuyên huấn Trung ương Cục đã tăng cường phát hành tờ Cờ Giải phóng vào đô thị qua đầu mối bí mật của nội thành. Nhiều cán bộ đóng giả thành dân thường đi buôn bán, phụ nữ đang nuôi con nhỏ chỉ mang theo từ một đến hai tờ báo Cờ Giải phóng giấu vào đồ dùng của các em bé như tã lót, sữa, bình cháo... hoặc cắt manchette báo Chính luận, Sài Gòn mới là những tờ báo công khai của Sài Gòn lúc đó để dán đè lên báo Cờ Giải phóng để mang vào nội thành. Mỗi lần chuyển được một tờ báo bí mật là mang tới một thông tin quý giá cho người dân... Có người không cầm được nước mắt, nghẹn ngào thốt lên: Nhìn thấy tờ báo Cờ Giải phóng là thấy cách mạng còn...

Ban Tuyên huấn Khu ủy còn chỉ đạo bộ phận phục vụ công tác in ấn, xuất bản báo chí và truyền đơn, in cờ và Lời kêu gọi, Bản tuyên bố của Mặt trận, in giả thẻ căn cước của chính quyền Sài Gòn. Công tác này do các đồng chí Tám Gân, Chín Mễ, Ba Nhiễu, Ba Kích, Bảy Lợi, Tám Kiểng ... phụ trách và đóng góp quan trọng cho Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 và cả sau này.

Tạp chí Trí Thức mới tham gia tích cực khi chiến dịch nổ ra. Ban đầu được in từ chiến khu Củ Chi rồi chuyển vào nội thành để phân phối đến các cơ sở. Về sau, Ban Trí vận tìm cách xây dựng được cơ sở in ngay trong nội thành nên việc in ấn và phát hành tạp chí được tốt hơn. Sau này việc in ấn và phát hành Tạp chí Trí Thức mới gặp nhiều khó khăn, cơ sở bị đứt liên lạc, máy móc, phương tiện in ấn bị phá hủy, chính quyền Sài Gòn nắm quyền kiểm soát giấy và mực in, coi đây là mặt hàng quốc cấm.

Hoạt động báo chí trong điều kiện chính quyền nằm trong tay đối phương nên thường không ổn định, khó nhất quán hoàn toàn về cả nội dung và hình thức, dù hoạt động ở thế công khai, nửa công khai hay bí mật cũng đều phải có sự linh hoạt theo chuyển biến của thời cuộc. Lực lượng cán bộ, chiến sĩ hoạt động trong hai dòng báo này cũng thường xuyên biến đổi. Sau Chiến dịch Mậu Thân, rất nhiều ký giả bị lộ phải lập tức rút vào chiến khu. Dù vậy, những thành quả đạt được trên trận tuyến này đã chứng tỏ bản lĩnh, khí phách và trí tuệ của các cán bộ, chiến sĩ báo chí mà theo nhận xét của nhà báo Trần Bạch Đằng, đó là: "Rất linh hoạt, rất thực tiễn, không bao giờ chịu dừng lại, luôn tìm cách đổi mới, làm tốt hơn cái hôm qua đã làm, không bị giáo điều, luôn tìm những cái mới, cái thiết thực, đưa ra những chuyện mới mẻ về nghiệp vụ..." .

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, nhận thấy báo chí cách mạng là nguy cơ đe dọa không nhỏ cho chính quyền nên Nguyễn Văn Thiệu đã quyết định đóng cửa nhiều tờ báo, tăng cường vật chất cho báo chí thân chính quyền hoạt động. Sau đó, trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của báo chí, chính quyền Sài Gòn buộc phải nhượng bộ, rút thời hạn đóng cửa các báo xuống còn ba ngày. Các chiến sĩ có mặt trong một số nhật báo yêu nước, tiến bộ như Dân chúng, Dân chủ, Tin sáng, Chánh đạo, Dân tiến, Miền Nam, Sống mới, Tin sớm, Quảng Đức, Điện tín, Thần chung... tiếp tục kiên trì, bền bỉ trong việc in đăng các bài về chống văn hóa đồi trụy, lai căng, mất gốc, bảo vệ văn hóa dân tộc, bảo vệ nhân phẩm phụ nữ...

Nghiên cứu hoạt động báo chí của Thành ủy Sài Gòn - Gia Định trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 góp phần làm rõ thêm một kênh thông tin để hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn từ nhiều khía cạnh về cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc, bổ sung nguồn tư liệu quan trọng về quá trình lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam. Đồng thời, những kinh nghiệm lãnh đạo hoạt động báo chí của Khu ủy, rồi Thành ủy Sài Gòn - Gia Định trong quá khứ sẽ góp phần giúp cho việc lãnh đạo hoạt động báo chí ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay thêm hiệu quả.
 



-----------------------------------------------------------------
1. Trong đó: Nguyễn Văn Quỳ (Đại học Nông Lâm Súc) giữ chức Chủ tịch Tổng hội, Huỳnh Tấn Mẫm (Phó Chủ tịch ban đại diện Y khoa) làm Phó Chủ tịch Nội vụ, Nguyễn Hoàng Trúc (Đại học Nông Lâm Súc) làm Phó Tổng Thư ký, Nguyễn Thị Yến (Đại học Văn khoa) làm thủ quỹ. Trong bảy ủy viên, lực lượng cách mạng nắm Ủy viên văn nghệ (Nguyễn Văn Sanh), Ủy viên báo chí - phát thanh (Tô Thị Thủy) và Tổng Ủy viên liên lạc (Nguyễn Tuấn Kiệt).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #64 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2020, 09:13:34 am »

BẢO ĐẢM VŨ KHÍ CHO LỰC LƯỢNG ĐẶC CÔNG BIỆT ĐỘNG
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Đại tá, ThS. NGÔ NHẬT DƯƠNG
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Kỹ thuật quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, lực lượng đặc công biệt động đảm nhiệm tiến công các mục tiêu quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, chiến dịch nằm sâu trong các thành phố, thị xã trên toàn miền Nam Việt Nam. Để giúp bộ đội đặc công biệt động hoàn thành nhiệm vụ quan trọng trên, công tác bảo đảm vũ khí là rất nặng nề, khó khăn và đầy phức tạp.

Bảo đảm vũ khí cho lực lượng đặc công biệt động trên các chiến trường miền Nam trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Ở miền Bắc, tháng 9-1967, Đảng ủy Binh chủng Đặc công họp nghiên cứu quán triệt tình hình nhiệm vụ theo chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng. Hội nghị thảo luận đánh giá công tác xây dựng lực lượng và chi viện chiến trường miền Nam; đồng thời đề ra kế hoạch chuẩn bị vật chất, vũ khí trang bị cho tổng tiến công khi có thời cơ chiến lược.

Theo quyết định của Bộ Quốc phòng, vũ khí trang bị của lực lượng đặc công được tăng cường và đổi mới. Trong năm 1967, Binh chủng Đặc công đã tiếp nhận gần 200 tấn vũ khí, khí tài, đạn dược và thuốc nổ, trong đó có hơn 1.000 khẩu tiểu liên AK báng gấp, cùng các loại vũ khí có uy lực mạnh, gọn. Đến cuối năm 1967, ngay sau khi bộ đội đặc công được huấn luyện xong và tăng cường cho các chiến trường, Binh chủng đã bảo đảm đầy đủ vũ khí trang bị theo thực binh cho các đơn vị gồm: 1 tiểu đoàn, 40 đội, 7 khung tiểu đoàn, 50 khung đội và 98 cán bộ kỹ thuật cùng nhân viên quân khí cho các chiến trường miền Nam. Toàn bộ số vũ khí vào chiến trường đều được tiến hành kiểm tra bảo đảm chất lượng kỹ thuật tốt; các loại trang bị như xẻng, cuốc, dây súng, túi đựng lựu đạn, thủ pháo, băng đạn được cấp mới. Với sự giúp đỡ của Cục Quân khí, Binh chủng còn tổ chức các dây chuyển bao gói chi viện gấp 59 tấn vũ khí đặc chủng gồm AK báng gấp, thuốc nổ C4 và các loại ngòi nổ cho chiến trường Khu 5, Nam Bộ.

Ở miền Nam, công tác chuẩn bị cho tổng tiến công được tiến hành sớm. Trên các chiến trường trọng điểm, lực lượng đặc công biệt động được tăng cường vũ khí trang bị cả về số lượng, chất lượng và chủng loại bảo đảm đủ sức mạnh đánh chiếm những mục tiêu trọng yếu nhất:

Ở Khu 5, tháng 7-1967, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định thành lập Trung đoàn đặc công 401. Trung đoàn được trang bị chủ yếu là bộc phá, thủ pháo, mìn, ngòi nổ, súng (AK, B40, cối 60 và ĐKZ-75)... Trạm quân giới của Tiểu đoàn đặc công 406 chuyển về thực hiện công tác bảo đảm kỹ thuật quân khí cho Trung đoàn. Các tiểu đoàn đặc công thuộc Quân khu 5 và tỉnh được tăng cường biên chế đủ nhân viên quân khí nên tự sửa chữa được vũ khí; kết cấu các khối nổ, bộc phá, thủ pháo.

Tại Trị - Thiên, tháng 10-1967, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên đã chỉ thị cho Thành ủy và Thành đội Huế khẩn trương chuẩn bị vũ khí đánh các mục tiêu theo kế hoạch tác chiến. Tháng 12-1967, Thành đội Huế thành lập 2 tiểu đoàn đặc công 1 và 2 được trang bị thuốc nổ, lựu đạn, mìn; súng (AK, B40, cối và ĐKZ). Lực lượng bảo đảm kỹ thuật ở tiểu đoàn đặc công có trợ lý và 1 tổ quân khí (5 người), ở đại đội đặc công có tổ quân khí (3 người) để hướng dẫn, kiểm tra việc bảo quản, bảo dưỡng vũ khí, đạn dược và kết cấu các loại bộc phá, thủ pháo. Các đội biệt động và cơ sở của Thành đội được củng cố và chuẩn bị làm hầm bí mật để tiếp nhận vũ khí trang bị. Trên Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, các đơn vị đặc công biệt động thuộc Mặt trận, sư đoàn và tỉnh Quảng Trị được bố trí ở thị xã, các mục tiêu trọng điểm; về vũ khí, do các đơn vị ở gần miền Bắc nên công tác bảo đảm có nhiều thuận lợi: khối lượng vũ khí nhận được khá dồi dào, đồng bộ tính năng kỹ chiến thuật; được nhiều cán bộ kỹ thuật và thợ quân khí ở Cục Quân khí và Bộ Tư lệnh Đặc công vào tăng cường lắp ráp vũ khí, hướng dẫn sử dụng mìn và ngòi nổ.

Ở Nam Bộ, tháng 5-1967, Phòng Đặc công - Cơ giới được thành lập mang phiên hiệu J16. Lực lượng trực thuộc Phòng có 2 liên đội và 1 trạm quân giới. Các đơn vị đặc công độc lập và trong sư đoàn trực thuộc các quân khu (5, 6, 7, 8, 9) nhận lệnh khẩn trương chuẩn bị mục tiêu và vũ khí trang bị cho Tổng tiến công. Đặc biệt ở Quân khu Sài Gòn - Gia Định, tháng 11-1967, Đội biệt động F100 được tách ra thành lập ba cụm biệt động gồm 10 đội chiến đấu và 2 đội bảo đảm thuộc Bộ Tư lệnh Phân khu 6, làm nhiệm vụ đánh chiếm các mục tiêu chiến lược đã định. Trên khu vực trọng điểm này, có 6 đoàn hậu cần khu vực, hậu cần phân khu. Ở khu vực nội đô bố trí 15 điểm vũ khí "lót ổ", trong đó có 13 hầm bí mật chứa vũ khí bảo đảm cho đặc công biệt động tiến công các mục tiêu chiến lược .

Để lót lực lượng và vũ khí vào hang ổ địch, lực lượng đặc công biệt động đã bí mật, kiên trì xây dựng được hệ thống hành lang, cơ sở và kho hầm để vận chuyển, ém giấu lực lượng, vũ khí trang bị trong hậu phương địch. Trên các địa bàn chiến lược, đặc biệt ở các thành phố, thị xã lớn, quan trọng như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ..., đặc công biệt động đã xây dựng được hàng chục cơ sở, kho hầm trú ém quân, cất giấu vũ khí. Nhờ có địa bàn đứng chân vững chắc, có hành lang đi lại, các đơn vị đặc công biệt động đã tổ chức vận chuyển an toàn hàng trăm tấn vũ khí từ căn cứ qua vùng ven vào thành phố.

Ở Sài Gòn, tháng 10-1967, hai đơn vị A20 và A30 nhận lệnh gấp rút vận chuyển vũ khí, mua sắm phương tiện cất giấu ở nội thành và tại các điểm gần mục tiêu chiến lược đã chỉ định. Nhiệm vụ hết sức khó khăn, nguy hiểm và phức tạp, nhưng cán bộ, chiến sĩ đơn vị A20, A30 và cơ sở đã mưu trí, dũng cảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cuối năm 1967, cả 13 kho hầm bí mật của đặc công biệt động đã chứa đầy vũ khí. Căn hầm trong gia đình đồng chí Trần Văn Lai chứa 350kg thuốc nổ và 1 hộp kíp, 10 khẩu AK và 3.000 viên đạn, 2 khẩu B40 và 20 viên đạn, 50 lựu đạn, 1 súng ngắn và 50 viên đạn . Căn hầm trong gia đình đồng chí Lê Tấn Quốc ở đường Lê Văn Duyệt chứa hàng tấn vũ khí.

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, các chiến trường nhanh chóng điều động lực lượng, chuẩn bị vũ khí trang bị. Các đơn vị đặc công biệt động có vũ khí trang bị mạnh, kinh nghiệm chiến đấu tốt bố trí ở các khu vực trọng điểm, được phân công đánh chiếm các mục tiêu quan trọng nhất. Một yêu cầu cấp bách đặt ra và quán triệt trong lực lượng đặc công biệt động là phải nhận rõ thời cơ, quyết tâm chuẩn bị tốt, đủ, đồng bộ vũ khí trang bị phục vụ chiến đấu và chiến thắng.

Bảo đảm vũ khí cho lực lượng đặc công biệt động trong quá trình thực hành Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Sau khi hoàn thành công tác chuẩn bị, từ đêm 29 đến ngày 31-1-1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta nổ ra đồng loạt ở toàn miền Nam. Các đơn vị đặc công biệt động đánh chiếm các cơ quan đầu não, sân bay, kho tàng, căn cứ địch ở Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Pleiku, Nha Trang, Sài Gòn và các đô thị ở đồng bằng sông Cửu Long...

Tại Sài Gòn, căn hầm ở nhà số 7, đường Yên Đỗ, được sử dụng làm Sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh Tiền phương Phân khu 6. Các kho hầm vũ khí qua kiểm tra phát hiện một hầm chứa đạn B40 thiếu liều phóng, 3 khẩu AK bị rỉ và gãy lò xo đã nhanh chóng được sửa chữa, bổ sung kịp thời; thuốc nổ đã kết cấu thành những trái bộc phá, thủ pháo theo yêu cầu sử dụng; mọi công việc bảo đảm cho vũ khí, phương tiện hoạt động được hoàn thành.

Kho hầm vũ khí nhà số 65 gồm thuốc và kíp nổ được kết cấu thành bộc phá, thủ pháo. Lựu đạn, súng (AK, K54, B40) và 2 ô tô, 1 mô tô ém giấu tại đây được trang bị cho Đội biệt động 4 đánh chiếm Đài Phát thanh. Do được chuẩn bị chu đáo về vũ khí nên chỉ sau ít phút ta đã đánh chiếm được mục tiêu. Suốt 3 giờ chiến đấu liên tục, quyết liệt với xe tăng, bộ binh địch, súng đạn, thủ pháo trong tay các chiến sĩ Đội biệt động 4 phát huy uy lực đánh thiệt hại nặng 1 đại đội dù và 1 trung đội bảo an địch. Đến sáng, do không có lực lượng đến tiếp quản nên các chiến sĩ buộc phải sử dụng 20kg bộc phá phá hủy máy móc, thiết bị phát thanh.

Phân khu 6 đảm nhiệm thêm mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ, nhưng vũ khí ém trong nội thành đã phân phát hết cho các đội biệt động. Lực lượng bảo đảm đã tổ chức vận chuyển được một số vũ khí từ Trảng Bàng về Sài Gòn, nhưng do cơ sở trong nội thành bị lộ nên chiếc xe chở hàng tấn thuốc nổ, vũ khí chạy trên đường phố mà vẫn không tìm được chỗ cất giấu. Đến sáng mùng 1 Tết, Đội biệt động 11 do đồng chí Ngô Thanh Vân (Ba Đen) đã vận động, thuyết phục được chủ ngôi nhà số 59 đường Phan Thanh Giản cho xe vào nhà giấu 12 khẩu AK, 3 khẩu B40, 200kg thuốc nổ TNT, 2 khẩu súng ngắn, 100 quả lựu đạn và 23 chiến sĩ . Sáng hôm sau, toàn bộ lực lượng và số vũ khí trên được chuyển lên 2 chiếc xe đi đánh Đại sứ quán Mỹ. Cuộc chiến đấu diễn ra ở đây vô cùng quyết liệt; súng, đạn, thủ pháo của ta được bảo đảm đủ, tốt, kịp thời đã phát huy uy lực giúp Đội biệt động 11 giành giật với địch từng căn phòng, từng bậc cầu thang.

Ba căn hầm vũ khí ở số nhà 348/38 đường Bắc Ái, 284/26/9 Trương Minh Ký, 246/25 Nguyễn Huỳnh Đức trang bị đủ cho Cụm biệt động 6-7-9 đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu địch. Toàn bộ vũ khí trong căn hầm nhà số 287/70 Trần Quý Cáp đủ trang bị cho toàn Đội biệt động 5 đánh chiếm Dinh Độc Lập; 2 xe ô tô và 1 mô tô tạo thuận lợi cho đội cải trang hợp pháp tiếp cận mục tiêu; súng B40 và các loại hỏa lực của ta đã bắn cháy 2 xe Jeep, diệt một số địch. Kho vũ khí nhà số 183/4 Trần Quốc Toản dành cho Cụm biệt động 1-2-8 đánh chiếm Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát. Toàn bộ vũ khí trong kho hầm ở khóm 4, phường 7 và xe du lịch được cấp cho Đội biệt động 3 đánh Bộ Tư lệnh Hải quân địch; đạn, bộc phá, thủ pháo, lựu đạn do các chiến sĩ sử dụng nổ tốt bảo đảm tiêu diệt được nhiều địch.

Cùng thời gian này, ở khắp các nơi trong nội đô vùng ven Sài Gòn, các đơn vị đặc công biệt động phối hợp với đơn vị bạn đánh chiếm nhiều mục tiêu. Các kho Hạnh Thông Tây, căn cứ pháo binh Cổ Loa, Bộ Tư lệnh Thiết giáp Phù Đổng, nam sân bay Tân Sơn Nhất, kho Nhà Bè, Thành Tuy Hạ, bưng Vĩnh Lộc bị vũ khí của đặc công phá hủy, phá hỏng nhiều máy bay, bom đạn, xăng dầu và phương tiện kỹ thuật... Chỉ tính riêng trong đợt 1 tiến công vào mục tiêu Sài Gòn, Hậu cần Tiền phương của Quân ủy và Chỉ huy Miền đã cấp phát bảo đảm cho tác chiến cho các đơn vị được 132 tấn đạn .

Ở Trị - Thiên, vũ khí trang bị của 3 tiểu đoàn đặc công, 10 đội biệt động tham gia tiến công Huế được kiểm tra kỹ thuật lần cuối tại căn cứ. Tất cả bộc phá, thủ pháo, súng, đạn và phương tiện vượt sông được chuẩn bị. Trên địa bàn Huế, vũ khí của lực lượng đặc công biệt động không được "lót ổ" trước trong nội đô mà phải cùng một lúc trên vai, trên lưng chiến sĩ hành quân từ căn cứ đến mục tiêu. Do vậy trên đường hành quân, các biện pháp bảo đảm kỹ thuật để tránh máy bay, phi pháo địch, qua rừng và đèo dốc, hầm hố trú ẩn bí mật ở vùng giáp ranh, ni lông làm phao và phương tiện đưa bộ đội, vũ khí trang bị vượt sông đều được tính toán chuẩn bị trước. Vì vậy, bộ đội đặc công được bảo đảm an toàn, vũ khí trang bị không bị ngấm nước và tới vị trí tập kết chiến đấu đúng kế hoạch, thời gian quy định.

Sáng 31-1-1968, pháo ĐKB và ĐKZ của ta bắn dồn dập 124 quả đạn vào khu Tam Giác, Ấp 5, Động Toàn mở đầu cuộc tiến công. Ở phía bắc, Tiểu đoàn đặc công 12 được trang bị đủ bộc phá, thủ pháo, súng (AK, B40, cối, ĐKZ)... cùng với 2 tiểu đoàn bộ binh đánh chiếm sân bay Tây Lộc, khu Đại Nội. Trong cuộc tiến công ở thành phố Huế, lực lượng đặc công biệt động sử dụng các loại vũ khí đặc chủng mới được cải tiến đã phát huy hiệu quả cao và uy lực mạnh tạo điều kiện tốt cho việc đánh chiếm và chốt giữ thành phố Huế 25 ngày đêm.

Từ thực tiễn hoạt động công tác bảo đảm vũ khí cho lực lượng đặc công nói chung, đặc công biệt động nói riêng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, có thể rút ra được một số kinh nghiệm như sau:

Một là, dựa vào dân để xây dựng hệ thống kho (hầm) vũ khí dự trữ sẵn sàng trong nội đô phục vụ yêu cầu tác chiến của lực lượng đặc công biệt động.

Việc xây dựng các căn hầm trong nội đô để tiếp nhận, cất giấu, bảo vệ và bảo quản vũ khí cho lực lượng đặc công biệt động là công việc cực kỳ khó khăn và nguy hiểm đòi hỏi phải giữ bí mật tuyệt đối, ngay cả với người xây hầm và gia đình mình. Để làm được những kỳ công đó, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định đã dựa vào nhân dân, kiên trì, khẩn trương xây dựng lực lượng, tạo chỗ đứng chân, tạo nguồn cung cấp phục vụ tác chiến. Ngay sau Hiệp định Giơnevơ (tháng 7-1954), Khu ủy đã phân công một số cán bộ có kinh nghiệm bám trụ, dựa vào phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, xây dựng nên các cơ sở trong nhân dân. Đầu những năm 1960, ta đã xây dựng được các "lõm" chính trị, các khu căn cứ ngay trong nội đô làm nơi cất giấu vũ khí và bảo đảm phương tiện hoạt động. Đến trước ngày tổng tiến công, lực lượng đặc công biệt động Sài Gòn đã xây dựng được 19 "lõm" chính trị với 325 gia đình cùng hàng ngàn cơ sở.

Trên cơ sở dự kiến phương án đón thời cơ chiến lược, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định đã thành lập Ban bảo đảm gồm hai đội A20 và A30 chuyên làm nhiệm vụ xây hầm cất giấu vũ khí. Nhờ công tác tổ chức được tiến hành khẩn trương, chu đáo, cùng tinh thần tận tụy, sẵn sàng hy sinh của cán bộ, chiến sĩ đặc công biệt động và đặc biệt là sự giúp đỡ của nhân dân nên đến cuối năm 1965, cả hai đội A20 và A30 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xây dựng được một hệ thống kho hầm bí mật chứa vũ khí sát các vị trí chiến lược của địch. Mỗi mục tiêu đều được bố trí từ 1 đến 3 hầm vũ khí với lượng vũ khí mỗi hầm khoảng 1 tấn.

Công việc xây dựng hầm cất chứa vũ khí trong vùng địch là cuộc chiến đấu âm thầm, lặng lẽ. Những người trong cuộc chiến đấu đó bao gồm cả già, trẻ, gái, trai, những quân nhân và người dân đã tự nguyện góp phương tiện, nhà cửa; không quản hy sinh, gian khổ làm nhiệm vụ xây dựng, bảo quản an toàn vũ khí trang bị, góp phần bảo đảm cho đặc công biệt động chiến đấu và chiến thắng.

Hai là, tổ chức vận chuyển vũ khí an toàn từ căn cứ vào trong nội đô phục vụ yêu cầu tác chiến của lực lượng đặc công biệt động.

Việc bí mật tổ chức vận chuyển vũ khí an toàn vào trong nội đô là nhiệm vụ then chốt trong công tác kỹ thuật chuẩn bị cho tổng tiến công. Nhiệm vụ này đòi hỏi không những chỉ dựa vào lòng dũng cảm, trí thông minh của mỗi cán bộ, chiến sĩ và các cơ sở quần chúng, vào chất lượng của hệ thống hành lang đã xây dựng từ vùng giải phóng vào nội thành, mà còn đòi hỏi phải có năng lực chỉ huy hiệp đồng, biết phát huy sức mạnh của nhiều yếu tố để linh hoạt tổ chức vận chuyển.

Để đưa vũ khí vào nội đô, công tác ngụy trang, nghi trang đóng vai trò quyết định. Công tác này đòi hỏi sự tỉ mỉ, linh hoạt và khéo léo.
Sau khi hoàn thành việc ngụy trang, nghi trang, ta tổ chức vận chuyển vũ khí vào thành phố theo các tuyến. Tuyến 1: từ căn cứ giải phóng đến căn cứ bàn đạp (vùng giáp ranh); tuyến 2: từ căn cứ bàn đạp lên trục đường giao thông (do địch kiểm soát); tuyến 3: từ trục đường giao thông vào cơ sở nội thành. Ở các tuyến trên, hầu hết lực lượng vận chuyển đều không biết mình chuyên chở hàng gì; người nhận và giao vũ khí không được phép giáp mặt nhau và không biết giao cho ai, nhận của ai... Để vận chuyển vũ khí đến đích và an toàn đòi hỏi phải có sự hiệp đồng chặt chẽ, chính xác bằng ký, tín hiệu giữa các tuyến, giữa người chuyển và người nhận. Hệ thống ký, tín hiệu trên do người chỉ huy cao nhất phát ra. Vũ khí được giao ở các địa điểm thích hợp do người nhận lựa chọn (thường ở trước nhà gia đình cơ sở của người nhận). Tại vị trí đó, đúng ngày, giờ đã định sẽ có ám, tín hiệu hiệp đồng, người chuyển vũ khí nếu nhận thấy tín hiệu an toàn cứ việc dỡ hàng xuống rồi rời khỏi vị trí. Với cách tổ chức trên, hàng trăm tấn vũ khí trong đó có cả súng (ĐKZ, cối, B40, B41)... được bí mật vận chuyển an toàn vào thành phố, ém sẵn cạnh các mục tiêu, hoàn toàn bất ngờ đối với địch.

Ba là, ưu tiên bảo đảm kịp thời, đầy đủ vũ khí trang bị có tình trạng kỹ thuật tốt, đồng bộ, có sức công phá cao, phù hợp cách đánh của đặc công biệt động.

Trong tổng tiến công và nổi dậy, với việc ưu tiên bảo đảm kịp thời, đầy đủ vũ khí có sức công phá cao, uy lực mạnh, gọn, mang đeo thuận lợi, phù hợp với cách đánh đặc công như tiểu liên AK báng gấp, các loại súng chống tăng B40, súng cối và ĐKZ; bộc phá, thủ pháo, thuốc nổ, mìn và thủy lôi; các loại ngòi nổ có vị trí đặc biệt đối với lực lượng đặc công biệt động. Tại những nơi này, hầu hết bộc phá, thủ pháo, đạn đều nổ đúng ý định làm tăng hiệu quả của nghệ thuật tập kích độc đáo, tạo điều kiện rất thuận lợi cho lực lượng đặc công biệt động chiến đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ tiêu diệt, đánh chiếm và chốt giữ các mục tiêu được phân công. Ngoài ra, tất cả trang bị (ô tô, mô tô) không có hỏng hóc tạo thuận lợi cho bộ đội hành quân tiếp cận mục tiêu nhanh, bất ngờ.

Mặt khác, ngành Kỹ thuật còn nghiên cứu cải tiến vũ khí hiện có trên các chiến trường phục vụ yêu cầu chiến đấu của lực lượng đặc công biệt động. Đặc biệt, ngòi nổ MY8 được các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật thuộc Cục Kỹ thuật, Cục Quân giới và nhà máy Zl, Z2 nghiên cứu cải tiến, có ưu điểm rất gọn, nhẹ (dài 110mm, đường kính 8mm), dễ cất giấu, dễ vận chuyển. Nhờ sự cải tiến đó, chỉ sau một thời gian ngắn, nhiều loại vũ khí đặc chủng mới được nghiên cứu cải tiến, ứng dụng và chi viện chiến trường góp phần nâng cao sức chiến đấu của bộ đội đặc công biệt động. Việc ưu tiên bảo đảm kịp thời, đầy đủ, đồng bộ vũ khí có tình trạng kỹ thuật tốt cũng như nghiên cứu cải tiến thành công một số loại vũ khí đã tạo nên hiệu quả chiến đấu cao, góp phần thúc đẩy nghệ thuật tác chiến đặc công biệt động phát triển.

Như vậy, bảo đảm vũ khí cho lực lượng đặc công biệt động đã góp phần làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Với thắng lợi đó, quân và dân ta đã giáng đòn mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc địch phải thay đổi chiến lược chiến tranh và cùng với ta đàm phán hòa bình tại Hội nghị Pari. Trong tương lai, đặc công biệt động vẫn là lực lượng quan trọng để tiến công các căn cứ xuất phát, các khu tập kết lực lượng, phương tiện chiến tranh từ xa trên đất liền trong giai đoạn địch chuẩn bị chiến tranh; tiến công tiêu diệt các mục tiêu chủ yếu, quan trọng của địch trong địa bàn thành thị và vùng biên giới bị địch chiếm đóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #65 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2020, 09:20:46 am »

ĐẶC CÔNG, BIỆT ĐỘNG
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬYXUÂN MẬU THÂN 1968



Đại tá VŨ HỒNG QUANG
Phó Chính ủy Binh chủng Đặc công


Thực hiện kế hoạch chiến lược Đông - Xuân 1967-1968, đến những tháng cuối năm 1967, công tác chuẩn bị của đặc công, biệt động tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy càng được đẩy mạnh. Lực lượng ở miền Bắc và các loại vũ khí, phương tiện đặc chủng liên tục được tăng cường cho chiến trường miền Nam. Những đoàn cán bộ chỉ đạo hoạt động tác chiến đặc công đã có mặt tại chiến trường, tích cực làm tham mưu cho Bộ và tư lệnh các mặt trận về việc xây dựng, sử dụng đặc công; đồng thời trực tiếp chỉ đạo các lực lượng đặc công đẩy nhanh hơn nữa tiến độ, nâng cao chất lượng, hiệu quả chuẩn bị mọi mặt. Các đơn vị đặc công trên các chiến trường đã tích cực bám địa bàn, xây dựng lực lượng và củng cố thế trận, chuẩn bị mục tiêu, tranh thủ lót sẵn thêm lượng dự trữ vật chất hậu cần, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của trận quyết chiến sắp tới.

Trước Tết Mậu Thân 1968 khoảng hai tháng, các lực lượng đặc công, biệt động có nhiệm vụ tiến công các mục tiêu trong đô thị đã có mặt tại các bàn đạp, căn cứ lõm hoặc tại các cơ sở mật trong thành phố, thị xã... sẵn sàng tiến công khi có lệnh. Lần đầu tiên, lực lượng đặc công, biệt động tham gia tác chiến với một quy mô lớn.

Hầu hết các tỉnh đều có lực lượng đặc công, biệt động trực thuộc và được tăng cường của cấp trên, sẵn sàng tiến công tiêu diệt mục tiêu trong thị xã, thị trấn: Ở thành phố Huế: 3 tiểu đoàn đặc công bộ là K1, K2, 12 và 10 đội đặc công biệt động; ở thành phố Đà Nẵng: 2 tiểu đoàn đặc công 487, 489 và Đội biệt động Lê Độ; ở thị xã Hội An và thị xã Tam Kỳ, thị xã Quy Nhơn: 3 tiểu đoàn bộ binh tinh nhuệ (mỗi thị xã 1 tiểu đoàn đặc công hóa, lúc đó gọi là tiểu đoàn mũi nhọn); thị xã Quảng Ngãi: Trung đoàn Đặc công 401 của quân khu và 1 tiểu đoàn đặc công của tỉnh; thị xã Tuy Hoà và Vũng Rô: Tiểu đoàn Đặc công 403 và các đại đội đặc công độc lập 201, 202, 25; thành phố Nha Trang và Cam Ranh: 3 đại đội đặc công bộ K88, K90, K91 và 2 đại đội đặc công nước K92, K93; thị xã Kon Tum: Tiểu đoàn Đặc công 406; thị xã Pleiku và An Khê: 3 tiểu đoàn đặc công 407, 408, 450 và 2 đại đội độc lập; thị xã Buôn Ma Thuột: Tiểu đoàn Đặc công 401. Đặc biệt ở thành phố Sài Gòn, nơi tập trung các cơ quan đầu não chỉ đạo, điều hành cuộc chiến tranh Việt Nam, ta đã tập trung lực lượng đặc công, biệt động nhiều và mạnh nhất. Riêng Phân khu 6 (các quận nội thành), ta bố trí 11 đội biệt động, tổ chức thành 3 cụm (3-4-5; 6-7-9 và 1-2-8). Các phân khu khác ở ven đô, mỗi phân khu đều có 1 đến 2 tiểu đoàn đặc công, 2 đến 4 tiểu đoàn bộ binh mũi nhọn (đặc công hoá) hướng vào nội đô để phối hợp, tiếp sức cho các cụm, đội biệt động. Ngoài ra, còn có đặc công của các sư đoàn bộ binh 5, 7, 9 và đặc công các địa phương như Bình Tân, Dĩ An, Gò Môn, Nhà Bè, Thủ Đức...

Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, các lực lượng vũ trang ta đồng loạt tiến công vào hầu hết các thành phố, thị xã trên toàn miền Nam Việt Nam, trọng điểm là những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế.

Tại Sài Gòn, các đội, cụm biệt động tập kích đồng loạt vào các cơ quan đầu não Mỹ - ngụy, gây chấn động dư luận trong nước và thế giới, không những chỉ quân viễn chinh Mỹ và quân đội, chính quyền Sài Gòn hoang mang cực độ mà cả Nhà Trắng cũng bàng hoàng, sửng sốt.
Lúc 2 giờ sáng 31-1, một đội biệt động 17 chiến sĩ tiếp cận Tòa Đại sứ quán Mỹ, nhanh chóng diệt lính gác, dùng bộc phá đánh sập tường bao, thọc thẳng vào toà nhà chính, chiếm giữ tầng một, diệt nhiều quân cảnh, đẩy lùi các đợt phản kích của địch. Đến 9 giờ sáng, địch dùng trực thăng đổ quân đánh từ sân thượng xuống, phối hợp với quân từ nhà Đại sứ Pháp đánh sang, trận đánh không cân sức diễn ra gay go, quyết liệt, các chiến sĩ biệt động đã anh dũng chiến đấu, giành giật với địch từng bậc cầu thang, từng căn phòng. Lực lượng sinh viên, học sinh không đến chi viện được theo như kế hoạch. Toàn đội biệt động đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng. 15 chiến sĩ đã hy sinh, 2 chiến sĩ bị thương và bị bắt.

Cùng thời gian trên, nhiều mục tiêu quan trọng khác đều bị biệt động tiến công đồng loạt. Tại Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, ở cổng số 4 và 5 bị một bộ phận Tiểu đoàn đặc công 4 cùng với Tiểu đoàn bộ binh 2 (mũi nhọn) của Phân khu 1 (Hóc Môn, Gò Vấp) tiến công, một phần khu vực Bộ Tổng Tham mưu và nhiều vị trí quan trọng bị đánh chiếm. Trong lúc đó, tại cổng số 2 và cổng Phi Long cũng bị Cụm biệt động 679 uy hiếp mạnh. Song, lực lượng của ta và của địch quá chênh lệch, các đơn vị chiến đấu cầm cự với địch ở Bộ Tổng Tham mưu của chúng được gần hai ngày, vượt thời gian dài so với kế hoạch. Do không có lực lượng đến tiếp ứng, đến 14 giờ ngày 1-2-1968, các đơn vị biệt động không còn đạn, buộc phải phân tán lực lượng về các cơ sở.

Tại Đài Phát thanh Sài Gòn, Cụm biệt động 345 sử dụng 12 chiến sĩ tiếp cận mục tiêu, diệt lực lượng bảo vệ, chiếm giữ đài chờ kỹ thuật viên vào phát sóng kêu gọi quân dân toàn Miền nổi dậy nhưng không có đơn vị nào vào tiếp ứng, kỹ thuật viên phát thanh cũng không đến. Trước sự phản kích quyết liệt của địch, buộc ta phải phá hủy đài và tiếp tục chiến đấu, 10 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh.

Tại Dinh Độc Lập, Cụm biệt động 345 sử dụng Đội 5 gồm 15 chiến sĩ (có 1 nữ) cơ động bằng xe ô tô đến tiếp cận mục tiêu. Do bộc phá không nổ, không phá được tường bao, xe ô tô chứa chất nổ không lọt được vào bên trong, nhưng tổ đột phá đã nhanh chóng nhảy vào bên trong cổng. Địch bắn chặn dữ dội, toàn đội phải lui ra, bị địch bao vây phong tỏa, ta vừa rút vừa chiến đấu trên đường Nguyễn Du, bắn cháy 3 xe Zeep, diệt nhiều lính nguỵ, nhưng ta cũng bị thương vong dần, lại không có lực lượng đến tiếp ứng theo kế hoạch. Cuối cùng toàn đội đã hy sinh.

Tại Bộ Tư lệnh Hải quân, Đội biệt động 3 thuộc Cụm 345 có 16 chiến sĩ cơ động bằng ô tô đến tiếp cận mục tiêu tại cổng chính, diệt lính gác, lao ngay vào bên trong, tỏa ra đánh chiếm các vị trí dưới làn đạn xối xả của địch, quân số bị hao hụt nhanh chóng, số còn lại cầm cự đến sáng vẫn không thấy lực lượng bên ngoài vào. Cuối cùng, 14 chiến sĩ hy sinh, chỉ còn 2 chiến sĩ (có 1 nữ) vượt được vòng vây về ẩn nấp ở cơ sở.

Ở Nhà lao Chí Hoà, Đội biệt động 90C không thực hiện được ý định tiến công tiêu diệt bọn cai ngục, giải thoát tù nhân vì trên đường cơ động đã phải chiến đấu và rút lui. Cụm biệt động 128 đảm nhiệm tiến công Tổng nha Cảnh sát và Biệt khu Thủ đô cũng không hoàn thành nhiệm vụ vì không tiếp cận được mục tiêu.

Các mục tiêu ven đô như Tổng kho Hạnh Thông Tây (Gò Vấp), căn cứ pháo binh Cổ Loa (Gò Vấp), căn cứ thiết giáp Phù Đổng, sân bay Tân Sơn Nhất... cũng bị các đơn vị đặc công, biệt động tập kích gây cho địch nhiều tổn thất.

Sát với Sài Gòn, các tỉnh Tây Ninh, Biên Hoà, Long An... các mục tiêu trong thị xã cũng bị tiến công đồng loạt. Điển hình như ở Biên Hoà, hàng trăm máy bay bị phá huỷ, hàng nghìn tấn bom đạn bị đánh nổ, nhưng ta cũng bị thương vong lớn.

Ở chiến trường Trị - Thiên, trọng điểm của cuộc Tổng tiến công là thành phố Huế. Tại đây, trước ngày Tổng tiến công, các đơn vị biệt động thành đã ém sẵn trong thành phố, các đơn vị đặc công, bộ binh cũng đều tập kết trong các bàn đạp trên hành lang. Vì vậy, ngay từ những phút đầu, các đơn vị đặc công, biệt động đã đánh trúng mục tiêu được giao như khách sạn Thuận Hoá, khách sạn Hương Giang, Sở chỉ huy Sư đoàn bộ binh quân đội Sài Gòn ở Mang Cá, sân bay Tây Lộc... Nhưng tại các mục tiêu này, đặc công không chiếm giữ được lâu vì quân số ít, vũ khí trang bị có hạn, lực lượng tiếp ứng không đến kịp, nên phải rút ra ngoài phối hợp với bộ binh vây ép trong suốt quá trình tổng tiến công ở Huế.

Ở khu vực Đại Nội, Đại đội 1 của Tiểu đoàn đặc công 12 cùng với bộ binh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, diệt gọn địch, chiếm giữ chắc mục tiêu được phân công, tạo điều kiện cho các lực lượng vũ trang và nhân dân phát triển tiến công đánh chiếm thành phố. Từ ngày 8-1, các vị trí địch trong nội thành và vùng ven căn bản đã bị tiêu diệt, tiếp theo ta đánh địch phản kích, giữ quyền làm chủ thành phố Huế trong 25 ngày đêm.

Ở Khu 5 và Tây Nguyên, hầu hết các thành phố, thị xã đều bị đặc công, biệt động tiến công. Các Sở chỉ huy của địch từ tiểu đoàn đến quân đoàn và nhiều sân bay, kho tàng, bến cảng bị tập kích. Nhưng ở đây, việc thực hiện đánh đồng loạt không thống nhất, do hiệp đồng thiếu chặt chẽ và một số địa phương hiểu thời khắc giao thừa khác nhau nên có nơi đánh trước, có nơi đánh sau, gây khó khăn cho các đơn vị đánh sau khi yếu tố bí mật bất ngờ không còn.

Như vậy, trong hai tháng thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng, ngay từ những phút đầu đến suốt quá trình của đợt tổng tiến công, đặc công, biệt động đã ra quân với một lực lượng hùng hậu nhất từ trước đến thời điểm này, có thể nói đã huy động toàn bộ lực lượng có trong tay, gồm cả đặc công chủ lực, đặc công địa phương và đặc công du kích làm mũi nhọn sắc bén, luồn sâu, thọc sâu vào hậu phương địch. Với chức năng, nhiệm vụ được giao, bằng trí thông minh, trình độ chiến thuật điêu luyện và tinh thần dũng cảm vô song, lòng yêu nước cao độ "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", các đơn vị đặc công, biệt động đã mở màn xuất sắc cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy bằng loạt trận đánh vào các thành phố, thị xã trên toàn miền Nam. Đặc biệt là ở Sài Gòn, lực lượng biệt động đã đánh trúng cơ quan đầu não chiến lược của Mỹ, chính quyền Sài Gòn gây chấn động mạnh cho cả nước Mỹ, có thể nói lực lượng biệt động đã lập công đầu.

Ở các địa bàn khác cũng vậy, từ Trị - Thiên đến Khu 5 và Tây Nguyên, ngay từ những phút đầu của "giờ G", những mục tiêu hiểm yếu, quan trọng trong hầu hết các thành phố, thị xã đều do các đơn vị đặc công, biệt động nổ súng tiến công đầu tiên; các lực lượng vũ trang và nhân dân thường lấy tiếng súng của đặc công, biệt động làm hiệu lệnh nổ súng chung cho cuộc tiến công trong địa bàn, địa phương mình.
Những chiến công xuất sắc, chiến thắng vang dội của lực lượng đặc công, biệt động ở Sài Gòn và các thành phố, thị xã khác trong những ngày Tết Mậu Thân 1968 là một đỉnh cao thắng lợi của chiến tranh nhân dân Việt Nam, chúng ta đã thực sự đưa được chiến tranh nhân dân vào đô thị, biến hậu phương địch thành chiến trường của ta, tạo nên sức mạnh và hiệu quả của cuộc tổng tiến công chiến lược, đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang, chấp nhận đàm phán với ta để tìm giải pháp kết thúc chiến tranh ở Việt Nam.

Tuy nhiên, tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đặc công, biệt động đã huy động hết lực lượng có trong tay, mà tác chiến chủ yếu ở địa bàn đô thị sâu trong hậu phương địch với hy sinh to lớn như vậy đã để lại cho đặc công, biệt động những tổn thất không nhỏ. Sau tổng tiến công, hầu hết lực lượng còn lại ở đô thị bị bộc lộ, nhiều cán bộ, chiến sĩ bị địch truy lùng gắt gao, nhiều cơ sở mật bị địch bóc gỡ, phải mất thêm thời gian mới khôi phục lại được.

Qua cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đối với đặc công, biệt động tham gia với vai trò là lực lượng mũi nhọn luồn sâu, tiến công những mục tiêu hiểm yếu, quan trọng trong đô thị, có thể rút ra một số vấn đề sau:

Một là, phải thấu suốt và chấp hành nghiêm sự lãnh đạo của Đảng, của quân đội.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đặc công, biệt động từng bước phát triển. Lúc đầu chỉ là những tổ, đội nhỏ, lẻ biên chế trong các đơn vị vũ trang địa phương, sau dần phát triển lên thành tiểu đoàn, trung đoàn, rồi nhiều tiểu đoàn, trung đoàn và vươn tới đỉnh cao về quy mô tổ chức là một binh chủng. Cùng với sự phát triển về lực lượng, nghệ thuật tác chiến cũng phát triển theo, từng bước được hoàn chỉnh cả về lý luận và thực tiễn. Có sự phát triển đó là nhờ có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, của quân đội đã xác định cho đặc công, biệt động về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và thường xuyên chăm lo, chỉ đạo, tạo điều kiện để đặc công, biệt động phát huy được vai trò của mình.

Trong thực tế chiến đấu, đặc công, biệt động luôn quán triệt, thấu suốt và chấp hành nghiêm các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo về xây dựng và tác chiến của Đảng, lấy đó làm nhân tố cơ bản quyết định mọi thắng lợi. Trong đó, những tư tưởng chính về chỉ đạo tác chiến được đặc biệt coi trọng là "lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn", "bí mật bất ngờ, đánh nhanh, đánh trúng, đánh hiểm", "đặc biệt dũng cảm, tiến công kiên quyết, táo bạo", "đặc công, biệt động phải đi sâu vào hậu phương địch, tìm những mục tiêu có giá trị để đánh"... Những tư tưởng ấy đã thấm nhuần trong từng cán bộ, chiến sĩ và biến thành sức mạnh hành động của đặc công, biệt động trong suốt chặng đường kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trước khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 diễn ra, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và quân đội, các lực lượng đặc công, biệt động đã xây dựng được lực lượng và một thế trận hoàn chỉnh trong thế trận chung của chiến tranh nhân dân Việt Nam ngay trong hậu phương địch. Vì vậy, đến khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy nổ ra thì lực lượng đặc công đã thực hiện tốt vai trò xung kích, mũi nhọn tiến công các cơ quan đầu não địch trong đô thị, giành được những chiến công xuất sắc, góp phần làm nên thắng lợi chung của cuộc tổng tiến công.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, trước những âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, để đặc công, biệt động tiếp tục phát huy được vai trò mũi nhọn cùng với quân, dân cả nước bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì việc không ngừng củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng lại càng cần thiết hơn lúc nào hết, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thường xuyên quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân; chấp hành nghiêm các mệnh lệnh, chỉ thị của Bộ về tổ chức lực lượng, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu... Từ đó, xây dựng Binh chủng và các đơn vị đặc công, biệt động nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và khả năng chiến đấu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hai là, công tác chuẩn bị mọi mặt cho đặc công, biệt động tham gia tác chiến phải được tiến hành chu đáo trước một bước.

Địa bàn hoạt động tác chiến của đặc công, biệt động là sâu trong hậu phương địch, nếu không chuẩn bị chu đáo sẽ không thực hiện được "bí mật bất ngờ, đánh trúng, đánh nhanh, đánh hiểm" và như vậy cũng tức là không thực hiện được chức năng làm lực lượng mũi nhọn, không hoàn thành nhiệm vụ tiến công tiêu diệt các mục tiêu hiểm yếu, quan trọng... Công tác chuẩn bị cho đặc công, biệt động tham gia tác chiến gồm nhiều nội dung như chuẩn bị con người; chuẩn bị hành lang, bàn đạp, cơ sở; chuẩn bị phương án, kế hoạch tác chiến; chuẩn bị vật chất hậu cần, kỹ thuật... Chỉ riêng công tác chuẩn bị vũ khí, trang bị trong nội dung chuẩn bị vật chất hậu cần, kỹ thuật, đã cho thấy đây là công việc cực kỳ khó khăn, gian khổ, phức tạp, vô cùng nguy hiểm.

Vũ khí chiến đấu trong đô thị của đặc công, biệt động là các loại mìn, lựu đạn, súng tiểu liên, súng ngắn và các loại thuốc nổ. Trong đó, chủ yếu nhất là thuốc nổ được chắp nối, kết cấu thành các loại thủ pháo, bộc phá, lượng nổ với các trọng lượng, kích cỡ khác nhau và các cách gây nổ khác nhau. Các loại vũ khí đó, việc khai thác tại chỗ ngay trong đô thị đang bị địch chiếm đóng là rất hạn chế mà phải vận chuyển theo các hành lang bí mật từ ngoài vào. Quá trình vận chuyển, người làm nhiệm vụ chuyên chở phải có "vỏ bọc" hợp pháp, có công việc thích hợp, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; phương tiện, vũ khí cũng phải được ngụy trang, nghi trang khéo léo dưới các dạng hàng hóa phù hợp với từng địa bàn nhằm che mắt sự soi mói, kiểm tra, kiểm soát của địch. Khi đã chuyển từ bên ngoài vào, còn phải có cơ sở cất giấu bí mật trong nội đô, cơ sở cất giấu cũng phải có "vỏ bọc" hợp pháp, địa điểm cất giấu phải có đủ các điều kiện, vừa bảo đảm giữ được chất lượng vũ khí, vừa có tính bất ngờ, tránh được mọi thủ đoạn kiểm tra, phát hiện của địch, đồng thời phải tiện cho việc cấp phát và sử dụng... Để chuẩn bị một khối lượng lớn vũ khí trang bị cho các đơn vị đặc công, biệt động tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chỉ tính riêng cho biệt động Sài Gòn tác chiến trong đô thị, công tác chuẩn bị vũ khí đã được tiến hành từ nhiều năm trước đó, đến trước khi diễn ra cuộc Tổng tiến công khoảng ba tháng, ta đã có 13 hầm chứa vũ khí với trữ lượng hàng chục tấn gồm các loại thuốc nổ, mìn, lựu đạn, súng AK, súng ngắn, B40, B41... Tiêu biểu như hầm vũ khí ở gia đình đồng chí Đỗ Văn Căn gần với Biệt khu Thủ đô và Cơ quan viện trợ Mỹ, chứa 50 kg đạn, 20 lựu đạn...; hầm vũ khí ở gia đình đồng chí Trần Văn Lai chứa 350 kg thuốc nổ, 10 tiểu liên AK, 3.000 viên đạn, 2 súng B40, B41, 20 quả đạn, 50 lựu đạn, 1 súng ngắn...; hầm vũ khí ở gia đình đồng chí Trần Tấn Quốc chứa hàng chục tấn... Do vũ khí được chuẩn bị trước nên đã bảo đảm cho các đơn vị đặc công, biệt động sử dụng kịp thời khi có lệnh tổng tiến công, phát huy được vai trò mũi nhọn lập công xuất sắc, góp phần làm nên thắng lợi trong cuộc tiến công vào các đô thị trong Mậu Thân 1968.

Ngày nay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, đặc công, biệt động tiếp tục được Đảng, Nhà nước và quân đội giao làm lực lượng mũi nhọn thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ đó, đặc công, biệt động đã và đang tích cực tiến hành công tác chuẩn bị mọi mặt về xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận đặc công trong thế trận quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân và mua sắm vũ khí, trang bị phù hợp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Ba là, phải bảo đảm chặt chẽ sự phối hợp, hiệp đồng tác chiến giữa đặc công, biệt động với các lực lượng trong tổng tiến công.

Tác chiến của đặc công, biệt động đòi hỏi hiệp đồng phải chặt chẽ và cụ thể. Không những hiệp đồng giữa các đơn vị đặc công, biệt động với nhau mà còn phối hợp, hiệp đồng với các lực lượng khác. Thực tế trong tổng tiến công, đặc công, biệt động đã tổ chức hiệp đồng chặt chẽ về thời gian và mục tiêu ở quy mô rộng lớn trên toàn miền. Để đưa một lực lượng lớn luồn sâu, thọc sâu, đánh tập kích bí mật vào sau lưng địch, trong lòng địch thì phải hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, nhất là lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng thì mới tạo cho mình một hậu thuẫn vững chắc, giúp cho đặc công, biệt động khắc phục được những khó khăn, nhược điểm, phát huy ưu điểm hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu. Qua cuộc tổng tiến công có thể rút ra kinh nghiệm đối với các binh chủng là, trong chiến đấu hiệp đồng, nếu biết khai thác khả năng chiến đấu của đặc công, biệt động, sử dụng đúng đặc điểm và yêu cầu chiến đấu thì càng phát huy tốt hơn nữa kết quả chiến thắng. Sự phối hợp đó tạo nên các trận đánh rất táo bạo, mưu trí, xử trí tốt những tình huống khó khăn, bất lợi. Tuy nhiên, bên cạnh những thắng lợi to lớn, trong một số trận cụ thể, việc hiệp đồng giữa các bộ phận, giữa đặc công với các lực lượng khác cũng còn thiếu chặt chẽ, không được như kế hoạch, khiến nhiều đơn vị đặc công, biệt động phải chiến đấu gần như "đơn thương độc mã", quân số ít, vũ khí trang bị có hạn, phải kéo dài thời gian trụ bám giữa hang ổ địch, khó tránh khỏi tổn thất, có đơn vị hy sinh đến người cuối cùng (trận đánh vào Đại sứ quán Mỹ).

Những bài học kinh nghiệm về phối hợp, hiệp đồng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của đặc công, biệt động đã được các đơn vị đặc công, biệt động vận dụng có hiệu quả trong các chiến dịch Tây Nguyên, Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 cũng như trong các hoạt động, tác chiến đặc công trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia sau này. Ngày nay, trước những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, đặc công, biệt động được Đảng và quân đội giao cho những nhiệm vụ quan trọng, là một trong những lực lượng tiên phong thực hiện các nhiệm vụ A2, chống khủng bố. Vì vậy, các bài học kinh nghiệm tác chiến trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 vẫn cần được nghiên cứu vận dụng vào huấn luyện để nâng cao lòng tự hào về truyền thống, nâng cao sức mạnh chiến đấu cho bộ đội.

Kỷ niệm 50 năm (1968-2018) thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ghi chép lại những diễn biến chính và rút ra một số vấn đề có tính kinh nghiệm của đặc công, biệt động khi tham gia tổng tiến công, từ đó khẳng định thêm một lần nữa, nhận thức sâu sắc hơn về sự sáng tạo của Đảng trong việc kế thừa, phát triển nghệ thuật đánh giặc của dân tộc ta, đã sáng suốt hoạch định đường lối chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân và xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ cho Binh chủng Đặc công.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #66 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2020, 09:27:45 am »

LỰC LƯỢNG TĂNG - THIẾT GIÁP
TRONG ĐÒN NGHI BINH CHIẾN LƯỢC ĐƯỜNG 9 - KHE SANH XUÂN - HÈ 1968
             


Đại tá ĐỖ ĐÌNH THANH
Phó Tư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp


Cuối năm 1967, thời cơ "chiến lược mới" có lợi cho cách mạng miền Nam đã xuất hiện. Đó là cơ sở để Trung ương Đảng và Bộ Chính trị đi đến kết luận: "chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định" . Theo đó, phương án xác định: Đòn tiến công của bộ đội chủ lực trên hướng phối hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là Đường 9 - Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, tạo điều kiện cho các chiến trường khác hoàn thành nhiệm vụ tiến công và nổi dậy đồng loạt, trước hết là cho Trị - Thiên - Huế và các thành phố lớn.

Thực hiện ý định chiến lược của Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng đã tập trung nhiều sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng kỹ thuật, mở chiến dịch tác chiến binh chủng hợp thành tiến công Đường 9 - Khe Sanh vào Xuân - Hè năm 1968. Đây là đòn nghi binh chiến lược nhằm kéo quân chủ lực của địch ra Đường số 9, tiêu diệt và giam chân chúng tại đây, tạo điều kiện để toàn miền Nam thực hiện đòn chiến lược Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Căn cứ Khe Sanh bao gồm cứ điểm Làng Vây, chi khu quân sự Hướng Hóa, cụm cứ điểm phòng ngự sân bay Tà Cơn, được xem như "cái mỏ neo" trong hệ thống phòng thủ chiến lược của địch ở Nam khu phi quân sự, đồng thời là một vị trí có giá trị trong việc kiểm soát đường mòn Hồ Chí Minh và bảo vệ Vùng 1 chiến thuật; là trung tâm chỉ huy của hàng rào điện tử Mc Namara mà Mỹ đang xây dựng nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, con đường huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam. Chính vì vậy, căn cứ Khe Sanh đã được Mỹ xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, có vị trí đặc biệt quan trọng trong bản đồ quân sự của Mỹ, chính quyền Sài Gòn. Đập tan tập đoàn cứ điểm Khe Sanh, chúng ta còn nhổ được "cái gai" mà Mỹ định "găm" vào đường Hồ Chí Minh. Mặt khác, Đường 9 - Khe Sanh là khu vực giáp ranh, gần hậu phương lớn miền Bắc, ta có điều kiện bảo đảm và mở đường để đưa xe tăng vượt Trường Sơn vào chiến trường, có điều kiện mở chiến dịch hiệp đồng binh chủng để thực hiện thắng lợi đòn nghi binh chiến lược. Chính vì vậy mà Bộ đã quyết định đưa tăng - thiết giáp vào tham gia đòn nghi binh chiến lược Đường 9 - Khe Sanh.

Chấp hành mệnh lệnh cấp trên, Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp quyết định sử dụng 1 tiểu đoàn xe tăng (thiếu) gồm Đại đội tăng 9/dT3 và Đại đội tăng 3/dT1 thuộc Trung đoàn xe tăng 203, lấy phiên hiệu là Đoàn 198, được trang bị 22 xe PT76 và một số phân đội bảo đảm cùng đoàn cán bộ Bộ Tư lệnh cơ động vào Mặt trận B5 sẵn sàng tham gia chiến đấu. Cùng với đó, Binh chủng đã thành lập một Sở chỉ huy nhẹ, do Phó Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo Đoàn 198 chuẩn bị chu đáo mọi mặt và thực hiện nhiệm vụ tác chiến chiến dịch.

Sau gần 50 ngày đêm hành quân, Đoàn 198 đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, sự đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Đến ngày 21-12-1967, Đoàn đã vư¬¬ợt chặng đường 1.350 km, đưa 100% quân số, trang bị vào khu tập kết chiến dịch ở Nậm Khang (phía nam đèo Văng Mu, trên trục Đường 128, cách cụm cứ điểm Huội San trên đất bạn Lào khoảng 70 km về phía tây).

Tháng 1-1968, Đoàn nhận lệnh phối thuộc cho bộ binh tham gia chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh, được chỉ huy binh chủng hợp thành sử dụng tập trung trong hai trận then chốt của đợt 1 chiến dịch.

- Trận then chốt thứ nhất: Đêm 23-1-1968, Đoàn 198 (11 xe PT76) phối thuộc cho d1/e24/fBB304 tiến công địch phòng ngự ở Tà Mây - cứ điểm then chốt trong cụm cứ điểm Huội San, trên đất bạn Lào, sát với biên giới nước ta, do 1 tiểu đoàn ngụy Lào chốt giữ. Đây là trận đánh đột phá, mở đường cho các lực lượng của ta tiến công vào tập đoàn cứ điểm Khe Sanh, buộc địch trong trung tâm phải ra ứng cứu, giải tỏa để ta tiêu diệt chúng ngoài công sự. Sự xuất hiện của xe tăng đã làm cho địch bất ngờ, hoảng loạn, chống cự yếu ớt. Chỉ trong một thời gian ngắn, Tà Mây và toàn bộ cụm cứ điểm Huội San đã bị ta đánh chiếm, cT3 cùng bộ binh tiêu diệt nhiều địch, bắt sống 300 tên, thu nhiều vũ khí. Lực lượng địch còn lại (khoảng 400 tên) buộc phải rút chạy về cứ điểm Làng Vây, một cứ điểm tiền tiêu của tập đoàn cứ điểm Khe Sanh.

- Trận then chốt thứ hai: Đêm mồng 6 rạng sáng 7-2-1968, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định sử dụng 2 đại đội (16 xe PT76) phối thuộc cho e24/fBB304 đột phá tiến công địch phòng ngự ở cứ điểm Làng Vây do 600 tên biệt kích nguỵ chốt giữ cùng 400 tên tàn quân từ Huội San co cụm về và khoảng 30 tên cố vấn Mỹ. Với cách đánh sáng tạo, chọn hướng tiến công phù hợp, tăng - thiết giáp đã lợi dụng sông Sê Pôn để cơ động, bảo đảm được yếu tố bí mật, bất ngờ, xe tăng triển khai trên hai hướng tiến công đã phát huy sức mạnh hỏa lực và khả năng cơ động, hiệp đồng cùng bộ binh đột phá tiêu diệt địch trong thời gian ngắn (khoảng 4 giờ), đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Chiến thắng Tà Mây - Làng Vây có ý nghĩa rất quan trọng trong đòn nghi binh chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh Xuân - Hè 1968. Bộ đội xe tăng cùng bộ binh đã tiêu diệt và bắt sống nhiều sinh lực địch; phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh; phá vỡ một mảng lớn tuyến phòng ngự kiên cố của địch ở phía tây Đường 9, giải phóng đoạn Đường số 9 từ Huội San đến Cà Lu, giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hóa, cửa ngõ của tuyến vận tải chiến lược 559; mở rộng bàn đạp cho binh chủng hợp thành vây hãm Tà Cơn và triển khai các hoạt động tác chiến trong các đợt tiếp theo của chiến dịch, buộc địch ở tuyến phòng thủ Đường 9 phải điều lực lượng cơ động cùng với một khối lượng lớn binh khí, kỹ thuật ra tăng viện, ứng cứu để binh chủng hợp thành giam chân, tiến công tiêu diệt chúng trong một thời gian dài, tạo điều kiện cho các hoạt động tiến công, nổi dậy đồng loạt của quân và dân ta trên toàn chiến trường miền Nam, trước hết là cho chiến trường Trị - Thiên - Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

Thắng lợi của đòn nghi binh chiến lược Đường 9 - Khe Sanh đã góp phần quan trọng trong thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy toàn miền Nam, mà trực tiếp là chiến trường Trị - Thiên - Huế. Thắng lợi đó đã buộc Mỹ phải ngừng ném bom phá hoại miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, ngồi vào bàn đàm phán tại Pari.

Đối với bộ đội tăng - thiết giáp, việc hoàn thành nhiệm vụ trong hai trận đầu ra quân không những gây được tiếng vang lớn, tạo đư¬ợc niềm tin của binh chủng hợp thành vào lực lượng tăng - thiết giáp mà còn trực tiếp khẳng định vai trò lực lượng tăng - thiết giáp trong nhiệm vụ thực hiện đòn nghi binh chiến lược trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Đó là: khả năng cơ động, sức mạnh hỏa lực, khả năng tự bảo vệ, là lực lượng đột kích quan trọng trong tác chiến hiệp đồng binh chủng. Qua thực tiễn chiến đấu đã khẳng định xe tăng tuy nặng nề, cồng kềnh, tiếng ồn lớn nhưng có khả năng và biện pháp để tiếp cận địch mà vẫn giữ được yếu tố bí mật, tạo được bất ngờ. Các trận đánh then chốt chiến dịch có xe tăng tham gia sẽ làm tăng sức mạnh đột phá, đột kích, có điều kiện nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm mục tiêu chủ yếu, rút ngắn thời gian tác chiến.

Ngay sau chiến thắng Tà Mây - Làng Vây, lực lượng tăng - thiết giáp được tăng cường bổ sung cho các chiến trường ngày càng nhiều hơn. Năm 1971, ta đã sử dụng 3 tiểu đoàn tăng tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào; năm 1972, tăng - thiết giáp sử dụng tương đương 4 trung đoàn trong cuộc tiến công chiến lược 1972; năm 1975, tăng - thiết giáp sử dụng 9 trung/lữ đoàn và một số tiểu đoàn độc lập trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Kết thúc chiến tranh giải phóng một thời gian ngắn, lực lượng tăng - thiết giáp lại cùng quân, dân cả nước bước vào cuộc chiến tranh chống quân xâm lược, bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc trong những năm 1977- 1979.

Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh còn mang lại một ý nghĩa lịch sử to lớn đối với Binh chủng Tăng - Thiết giáp, là niềm tự hào và mở đầu cho truyền thống vinh quang "Đã ra quân là đánh thắng" của bộ đội tăng - thiết giáp. Truyền thống ấy được bộ đội tăng - thiết giáp kế thừa, phát huy và tô thắm thêm trong suốt 211 trận chiến đấu trong chiến tranh giải phóng, hơn 600 trận chiến đấu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế.

Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh đã mở ra một trang sử mới về nghệ thuật sử dụng tăng - thiết giáp trong các loại hình chiến dịch; đồng thời để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu được bộ đội tăng - thiết giáp đúc rút và vận dụng một cách sáng tạo, hiệu quả trong những chiến dịch tiếp theo. Điển hình là các bài học về: nghệ thuật chọn đường cơ động nơi địch hoàn toàn không ngờ tới; nghệ thuật chọn hướng và mục tiêu tiến công vào nơi địch phòng ngự sơ hở, mỏng yếu, nơi ta có điều kiện triển khai lực lượng binh khí kỹ thuật, có điều kiện đánh nhanh vào mục tiêu chủ yếu; nghệ thuật sử dụng lực lượng tập trung có trọng điểm, ưu tiên cho hướng tiến công chủ yếu, có lực lượng bắn ngắm trực tiếp, có lực lượng đột phá, có lực lượng thọc sâu; công tác bảo đảm các mặt chu đáo, chặt chẽ và sáng tạo từ bảo đảm trinh sát, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật đến bảo đảm cơ động, nguỵ trang giữ bí mật.

Ngày nay, những bài học kinh nghiệm của bộ đội xe tăng trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh Xuân - Hè 1968 vẫn còn nguyên giá trị, đang và sẽ tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng trong quá trình giảng dạy, huấn luyện ở các nhà trường, đơn vị tăng - thiết giáp nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Trong sự nghiệp cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, tăng - thiết giáp vẫn là loại vũ khí chiến đấu không thể thiếu trên chiến trường, bộ đội tăng - thiết giáp ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng trong tác chiến hiệp đồng binh chủng của quân đội ta, kể cả trong chống chiến tranh xâm lược của kẻ thù, trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và trong ngăn ngừa, trấn áp bạo loạn có vũ trang. Trên cơ sở đường lối quân sự của Đảng, Quân đội ta vẫn xác định tăng - thiết giáp là một bộ phận lực lượng trong đội hình tác chiến binh chủng hợp thành, là lực lượng đột kích quan trọng của lục quân Quân đội nhân dân Việt Nam trong những trận đánh then chốt, then chốt quyết định, tăng - thiết giáp cùng bộ binh là lực lượng đột kích chủ yếu. Trong tác chiến tiến công, tăng - thiết giáp có thể dẫn dắt, chi viện hoặc cùng bộ binh chọc thẳng vào Sở chỉ huy, khu thông tin, trận địa pháo, cụm lực lượng chính của địch khi chúng phòng ngự, co cụm, tạm dừng; thọc sâu, vu hồi hoặc đổ bộ đường không, đổ bộ đường biển, làm cho chúng bị động đối phó, chỉ huy rối loạn, tạo điều kiện để bộ binh cùng các lực lượng của binh chủng hợp thành tiêu diệt gọn địch, dứt điểm trận đánh nhanh, giảm bớt thương vong, tổn thất.

Trong tác chiến phòng ngự, tăng - thiết giáp chủ yếu được sử dụng làm lực lượng cơ động tiến công cùng các đơn vị binh chủng hợp thành thực hiện phản kích nhanh, mạnh, đúng thời cơ hoặc dựa vào thế trận khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố được xây dựng thời bình, tổ chức bộ phận phòng ngự trận địa giữ vững mục tiêu, khu vực then chốt, làm tăng khả năng cơ động, tính chủ động và tính vững chắc của thế trận phòng ngự, đánh bại các hướng, mũi tiến công của địch, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển sang phản công, tiến công.

Để phát huy vai trò là lực lượng đột kích quan trọng của lục quân và bảo đảm cho tăng - thiết giáp hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trong điều kiện tác chiến mới, trước đối tượng địch có trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại, tiên tiến, ưu thế về hoả lực có độ chính xác và uy lực lớn, khả năng trinh sát phát hiện mục tiêu nhanh..., đòi hỏi bộ đội tăng - thiết giáp không ngừng phát triển toàn diện, cả về lực lượng, trang bị vũ khí kỹ thuật, phương pháp tác chiến và huấn luyện chiến đấu; từng bước nâng cấp, cải tiến, hiện đại hóa trang bị cho tăng - thiết giáp, tập trung vào cải tiến nâng cấp hệ thống tự động hóa điều khiển hoả lực trên xe, trang bị thông tin chỉ huy và một phần hệ thống vận hành để bảo đảm cho tăng - thiết giáp có khả năng chống lại vũ khí, trang bị của địch, đồng thời từng bước mua sắm các loại xe tăng, thiết giáp thế hệ mới trang bị cho Binh chủng. Tập trung nghiên cứu nhiều giải pháp nhằm nâng cao khả năng tồn tại và duy trì sức chiến đấu liên tục, dài ngày cho tăng - thiết giáp, nhất là trong phòng tránh, đánh trả vũ khí công nghệ cao để tạo thành sức mạnh tổng hợp, giành hiệu suất chiến đấu cao.

Phát huy truyền thống vẻ vang của Binh chủng anh hùng, hơn lúc nào hết, cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp cần phải chủ động, sáng tạo, cố gắng hơn nữa trong việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ theo cương vị, chức trách của mình. Trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay, bộ đội tăng - thiết giáp cần phải thống nhất nhận thức, thống nhất hành động, tạo thành sức mạnh tổng hợp hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong mọi tình huống.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #67 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2020, 09:39:25 am »

VỀ HAI ĐỢT TIẾN CÔNG SAU TẾT MẬU THÂN 1968



Đại tá, PGS.TS. HỒ KHANG
Nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Đã 50 năm trôi qua kể từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 nổ ra với hướng tiến công chính là các đô thị trên toàn miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, khoảng thời gian tương đối dài đó vẫn không hề làm cho sự kiện lịch sử này bị lãng quên; trái lại, nó vẫn luôn sống động trong ký ức của nhiều người dân Việt Nam, lôi cuốn giới chính trị, quân sự, sử học, báo chí... tìm hiểu, nghiên cứu về nó, nhằm nhận rõ nhiều vấn đề xung quanh sự kiện lịch sử độc đáo này. Những đợt tiến công sau Tết của Quân giải phóng là một trong những vấn đề như thế và sự mô tả, luận giải về những đợt tiến công này dù khá phong phú nhưng chưa bao giờ là đủ; nó luôn đòi hỏi được phân tích, bình giải một cách kỹ lưỡng hơn nữa, sâu hơn nữa.

1. Sau gần hai tháng Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 diễn ra, quân, dân miền Nam đã tiêu diệt và làm tan rã khoảng 160.000 binh lính đối phương (trong đó có 55.000 binh lính Mỹ), tiêu diệt gọn 32 tiểu đoàn bộ binh (trong đó có 4 tiểu đoàn Mỹ); diệt 1 trung đoàn và 6 chi đoàn cơ giới, 253 đại đội (có 73 đại đội Mỹ), làm tan rã 25 vạn binh lính của quân đội Sài Gòn (chiếm khoảng 1/2 tổng số quân), phá hủy và bắn rơi 2.578 máy bay (chiếm 58% tổng số máy bay của đối phương ở miền Nam Việt Nam); phá 3 căn cứ hải quân, 57 kho bom đạn, phá hủy 1.400.000 tấn vật tư quân sự. Riêng ở Trị - Thiên - Huế, hầu hết nông thôn hai tỉnh Quảng Trị - Thừa Thiên được giải phóng với 296 thôn, trong đó có 240 thôn đã xây dựng được chính quyền cách mạng. Những thắng lợi nói trên là rất to lớn và toàn diện, đã đưa thế chiến lược tiến công của chiến tranh cách mạng chống Mỹ, cứu nước phát triển lên một bước mới. Nhìn chung, qua hai tháng tổng tiến công của quân, dân miền Nam, quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn bị tổn thất nặng nề về người và phương tiện chiến tranh, sa sút về tinh thần, bị cô lập thêm về chính trị, suy yếu về kinh tế. Cả binh lính Mỹ và quân đội Sài Gòn đều ngập sâu trong thế bị động và tiêu cực, chiến lược chiến tranh bị phá sản đột ngột, ý chí tiến hành chiến tranh bị đổ vỡ một bước nghiêm trọng. Mặc dù vậy, Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn cố gắng tổng động viên sức mạnh mọi mặt, tập trung lực lượng, tiến hành các hoạt động phản công trên nhiều địa bàn với những cuộc hành quân quy mô lớn nhằm đánh bật lực lượng vũ trang cách mạng ra xa các đô thị, khôi phục lại các tuyến đường giao thông chiến lược đã bị cắt đứt để giành lại thế chủ động trên các khu vực trọng yếu. Thêm vào đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng đồng thời tăng cường đàn áp, khủng bố ác liệt các cơ sở cách mạng, ráo riết tiến hành "bình định" nhằm giành lại các vùng nông thôn đồng bằng, đặc biệt là các vùng trọng điểm vừa bị mất.

Dù bị những tổn thất to lớn trong đợt 1 của Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, song, tính đến tháng 4-1968, tổng quân số quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn ở miền Nam vẫn có tới 1.066.000 binh lính (trong đó có 516.000 lính Mỹ và 492.000 binh lính của quân đội Sài Gòn, 58.000 quân đồng minh của Mỹ), 3.800 máy bay (trong đó có 790 máy bay chiến đấu). Ngoài ra, để cứu vãn tình thế trên chiến trường, đế quốc Mỹ, chính quyền Sài Gòn dự định tiếp tục tăng thêm quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam để đến tháng 8-1968 sẽ đạt 550.000 quân và đến cuối năm 1968 sẽ bắt thêm lính, bổ sung 26.800 lính mới cho quân đội Sài Gòn. Với một lực lượng như vậy cùng với những phương tiện chiến tranh hiện đại, đội quân đông đảo này sẽ gây ra những khó khăn nghiêm trọng và to lớn cho cách mạng miền Nam. Nếu không tiếp tục đánh tiêu hao sinh lực đối phương, đánh gục ý chí, âm mưu tiến hành chiến tranh của cả đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, thì những thành quả giành được ở đợt 1 của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 rất có thể sẽ bị hạn chế nhiều phần. Lãnh đạo Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam phân tích: Nếu Quân giải phóng đẩy mạnh hoạt động quân sự, tiêu diệt một bộ phận lực lượng Mỹ và quân đội Sài Gòn, thì dù có tăng quân, thế phòng ngự của đối phương vẫn sẽ trống rỗng. Bộ Tổng Tham mưu giải thích rõ thêm: Nếu quân đội Mỹ vào đông, Quân giải phóng đánh mạnh vào các căn cứ hậu cần, phá hủy nặng phương tiện chiến tranh, thì lực lượng bộ binh của Mỹ và quân đội Sài Gòn dù có tăng nhanh thì sức chiến đấu cũng không đáng kể.

Nhận định, đánh giá tình hình mọi mặt, cân nhắc kỹ lưỡng mọi phương án hành động, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định tiếp tục tiến hành những đợt tiến công lớn nhằm giành ưu thế trên chiến trường, bảo vệ kết quả quân sự của đợt 1; đồng thời, thúc đẩy cuộc đàm phán trên bàn Hội nghị Pari với những điều kiện có lợi nhất 1.

2. Thực hiện chủ trương nói trên, ngay từ đầu tháng 3-1968, trong cuộc hội ý với Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương Song Hào, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Văn Tiến Dũng đã trình bày dự kiến kế hoạch tác chiến tiếp theo ở miền Nam Việt Nam. Kết thúc cuộc hội ý, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết luận: Kế hoạch tác chiến chia làm 3 đợt lớn, tập trung nỗ lực giành thắng lợi lớn về quân sự, chính trị; đối tượng tác chiến trong các đợt phải nhằm tiêu diệt sinh lực đối phương, nhất là lực lượng cơ động, hỗ trợ việc đẩy mạnh đấu tranh chính trị, lập chính quyền cách mạng; dự định tập trung cố gắng chiến đấu vào Vùng 1 của đối phương.

Cuối tháng 3-1968, Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu hội ý với Cục Tác chiến về thời gian bắt đầu mở đợt Tổng công kích đợt 2 trên chiến trường miền Nam 2. Qua phân tích tình hình cụ thể trên từng chiến trường, Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu và Cục Tác chiến thống nhất dự kiến thời gian chung của tiến công đợt 2 trên toàn chiến trường bắt đầu từ cuối tháng 4 đầu tháng 5-1968, cao điểm là từ ngày 15-5-1968. Tiếp đó, trong các ngày 3 và 4-4-1968, các đồng chí trong Bộ Chính trị họp bàn về kế hoạch chiến lược Hè - Thu 1968 3, xác định: Phương châm trong đợt tiến công Hè - Thu 1968 là nắm vững thời cơ, động viên phát huy hết sức mạnh để đẩy mạnh hoạt động quân sự và chính trị, kết hợp hoạt động thường xuyên với từng đợt lớn, đánh những đòn nối tiếp dồn dập, kết hợp công kích và nổi dậy của quần chúng, tranh thủ giành thắng lợi quyết định; đồng thời, chuẩn bị điều kiện thuận lợi để nếu chiến tranh kéo dài thì tiếp tục chiến đấu để giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 6-4-1968, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng làm việc với Phó Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn, bàn kỹ hơn về kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong Hè - Thu 1968, thống nhất kế hoạch hoạt động và thời gian của các đợt tiến công; theo đó, đợt 2 bắt đầu từ đêm mồng 4, rạng ngày 5-5-1968.

Ngày 24-4-1968, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết về phương hướng giành thắng lợi quyết định trên chiến trường miền Nam, trong đó nêu rõ: "Động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phát huy khí thế chiến thắng, tiếp tục phát triển tiến công toàn diện, giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn nữa (...), càng đánh, càng mạnh, đẩy kẻ địch vào thế thất bại liên tiếp, ngày càng suy yếu, tan rã không sao gượng dậy được, nhằm đi tới giành thắng lợi quyết định". Bộ Chính trị nhấn mạnh mục tiêu của các đợt tiến công sau Tết là: "Liên tục đánh vào các đô thị nhằm siết chặt vòng vây, tạo ra tình trạng khủng hoảng thường xuyên ở đó, phát động quần chúng nổi dậy mạnh mẽ giành và giữ chính quyền, làm cho địch rối loạn, không ổn định và mất dần chỗ dựa". Ngoài mục tiêu đó, các đợt tiến công sau Tết còn nhằm "giải phóng đại bộ phận nông thôn, tiến tới giành toàn bộ nông thôn - vùng hậu phương rộng lớn của ta"; đồng thời, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực của đối phương, làm tổn thất nặng nề hơn nữa cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh, làm cho đối phương bị suy yếu nghiêm trọng không sao gượng dậy được.

Như vậy, trong suốt hai tháng 3 và tháng 4-1968, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương cùng Bộ Tổng Tham mưu, Cục Tác chiến đã bàn soạn kế hoạch quân sự cho các đợt tổng công kích tiếp theo một cách vừa kỹ lưỡng, vừa toàn diện, vừa cụ thể. Quá trình phân tích tình hình, ra quyết định và xác định các chủ trương, biện pháp tiến hành các đợt tiến công sau Tết cho thấy mục tiêu, ý đồ của các cấp chiến lược được cân nhắc một cách cẩn trọng đặt trên việc hoàn thành mục tiêu chung, lớn nhất là tạo ra những điều kiện, tiền đề vững chắc và hiện thực nhanh chóng nhằm đưa công cuộc thống nhất đất nước đến đích cuối cùng.

Sau quá trình chuẩn bị mọi mặt, theo đúng kế hoạch, Bộ Tổng Tham mưu đã thống nhất với các chiến trường từ ngày 6-4-1968, hồi 1 giờ sáng 5-5-1968, các lực lượng vũ trang miền Nam đồng loạt tiến công vào 116 mục tiêu trên toàn chiến trường; trong đó có 3 thành phố lớn là Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, 21 tỉnh lỵ, 29 quận, 24 sân bay và một số Sở chỉ huy sư đoàn của Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hòa. Như vậy, các cơ quan quân sự, chính trị của Mỹ và quân đội, chính quyền Sài Gòn ở khắp các đô thị tại miền Nam đều bị tiến công. Có điều, đợt tiến công này bị lộ về thời gian , gây ra cho Quân giải phóng nhiều khó khăn, bất lợi.






-----------------------------------------------------------------
1. Đến ngày 31-3-1968, do tác động của "đòn Tết Mậu Thân", phía Mỹ phải đơn phương xuống thang chiến tranh, tuyên bố sẵn sàng cử đại diện đi vào đàm phán với phía Việt Nam, nhưng trên thực tế, đế quốc Mỹ vẫn duy trì cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 20, vẫn duy trì các chuyến bay trinh sát đường không trên vùng trời, vùng biển miền Bắc và vẫn để ngỏ khả năng sẵn sàng ném bom trở lại toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi cần. Thực tế đã cho thấy rằng, dù cho Mỹ có thực sự muốn ngồi vào bàn đàm phán từ đầu tháng 4-1968 đi chăng nữa thì đó cũng là ngồi vào bàn trên thế mạnh. Theo hồi ký của Giônxơn thì trong cuộc họp giữa Tổng thống với các quan chức hàng đầu trong Chính phủ Mỹ, ngày 9-4-1968 để bàn về việc cử đại diện đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Rốtxtâu - cố vấn Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ - đã bình luận việc Hà Nội chấp nhận cử đại diện đàm phán với Mỹ chính là đã "tự thừa nhận họ (tức Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - T.G) đã ở vào một tình thế quân sự suy yếu". Xem Linđơn. B. Giônxơn (Hồi ký): Về cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, Trung tâm Thông tin Khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng sao lục, 2010, tr.268.

2. Tham dự có các đồng chí: Văn Tiến Dũng, Phùng Thế Tài, Lê Ngọc Hiền và Phan Hàm.

3. Dự họp còn có các đồng chí: Lê Văn Lương, Lê Trọng Tấn, Lê Ngọc Hiền.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #68 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2020, 09:46:08 am »

3. Nhìn tổng thể, diễn biến hai đợt tiến công sau Tết (đợt 2 và đợt 3) diễn ra như sau:

Từ ngày 5 đến 21-5-1968, tại Sài Gòn - Gia Định, Quân giải phóng đồng loạt tiến công vào Tổng nha Cảnh sát, tòa Đô thành, khu nhà ở của Đại sứ quán Mỹ, Dinh Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, Đài Phát thanh, Đài vô tuyến truyền hình... làm chủ nhiều nơi trong nội thành Sài Gòn. Nổi bật là các trận đánh của các đội biệt động, các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu 1, 3 và 4. Ở cầu chữ Y, ngã tư Bảy Hiền, khu vực Phú Thọ Hòa... là những nơi chiến sự diễn ra vô cùng ác liệt. Tại Trị - Thiên - Huế, nổi bật là trận đánh đêm 20-5-1968 vào ấp 5 Động Tòa (Tây Nam Huế), phá hủy hơn 100 xe quân sự của quân lực Việt Nam Cộng hòa. Đêm 19-5-1968, trong trận đánh vào Đồng Lâm, Quân giải phóng đã tiêu diệt 1.600 binh lính thuộc sư đoàn kỵ binh bay Mỹ. Trận phục kích ngày 6-5-1968 trên sông Hương đã tiêu diệt nhiều binh lính Mỹ và quân đội Sài Gòn. Đặc biệt, khi quân đội Sài Gòn tiến công A Lưới (ngày 16-5-1968) đã bị lực lượng vũ trang cách mạng chặn đánh, diệt 2.197 binh lính, bắn rơi 72 máy bay trực thăng, bắn cháy/phá hủy 33 xe và 33 pháo các loại. Tại Trung và Trung Nam Bộ, Quân giải phóng đã tiến công và pháo kích vào các thành phố, thị xã như Đà Nẵng, Hội An, Quảng Ngãi, Phan Thiết... Đặc biệt, từ đầu tháng 5 đến đầu tháng 6-1968, trong trận đánh ở núi Ngang (Quảng Nam), Quân giải phóng đã tiêu diệt 2.000 binh lính đối phương, phá hủy 74 máy bay, 33 xe tăng. Ở đồng bằng sông Cửu Long, Quân giải phóng tiến công đối phương khắp các tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre, Cần Thơ, Châu Đốc, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cà Mau...

Sơ bộ nhận xét về tình hình những ngày đầu tổng công kích đợt 2, Thường trực Quân ủy Trung ương cho rằng, "mặc dù địch có đề phòng, chuẩn bị đối phó và có những hoạt động phá chuẩn bị tiến công của ta, nhưng cuộc tiến công lần này đã bước đầu thu được thắng lợi, nổ ra đúng lúc, phối hợp tốt với đấu tranh ngoại giao". Thường trực Quân ủy Trung ương đánh giá cao hiệu quả của các cuộc tiến công ở Sài Gòn, phía bắc Vùng 1, Tây Nguyên và Khu 5. Thường trực Quân ủy Trung ương cũng lưu ý thêm về việc cần chú trọng các cuộc chiến đấu ở vùng ven, giữ vững, mở rộng bàn đạp, nhấn mạnh phải luôn tuân thủ phương châm "càng đánh càng mạnh"; "giữ vững và phát triển lực lượng".
Ngày 30-5-1968, Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) tiến hành sơ kết đợt 2 cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên chiến trường miền Nam. Theo tổng hợp của Cục Tác chiến: ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 27.000 binh lính đối phương, bắn rơi 1.000 máy bay và phá hủy trên 173.000 tấn hàng quân sự . Với những thiệt hại nặng nề như vậy, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã rơi vào tình trạng suy yếu và khủng hoảng nhiều mặt. Tính đến ngày 15-6-1968, tổng lực lượng chủ lực của Mỹ và quân đội Sài Gòn trên toàn chiến trường chỉ còn: 1.062.000 binh lính (trong đó có 520.000 lính Mỹ, 482.000 binh lính Việt Nam Cộng hòa, 60.000 quân đồng minh của Mỹ); 3.400 máy bay các loại; 116 tiểu đoàn pháo; 38 tiểu đoàn và 10 đại đội xe tăng; lực lượng địa phương có 246.000 binh lính (90.000 bảo an, 85.000 dân vệ, 67.000 cảnh sát). Báo cáo của Cục Tác chiến cũng nhấn mạnh, ngoài những thiệt hại vật chất, điều quan trọng là đối phương tiếp tục bị suy yếu và hoang mang hơn, mâu thuẫn nội bộ càng lục đục, tinh thần binh lính sa sút nghiêm trọng, mâu thuẫn giữa nhân dân Mỹ với giới cầm quyền Mỹ ngày càng cao, đối phương bị lún sâu thêm vào thế phòng ngự bị động. Thật vậy, các đợt tiến công quyết liệt, liên miên của Quân giải phóng đã khiến binh lính Mỹ và quân đội Sài Gòn thối chí và bạc nhược về tinh thần. Tỷ lệ đào ngũ của quân đội Sài Gòn cao hơn bao giờ hết. Stên (Jeff Stein) và Lipxơn (Marc Leepson) - hai tác giả cuốn Sổ tay sự kiện chiến tranh Việt Nam, nhận xét: ""Việt Nam hóa chiến tranh" đã đặt gánh nặng quá lớn lên quân đội Sài Gòn, do đó nảy sinh một vấn đề chủ yếu trong quân đội Sài Gòn (...) - tệ đào ngũ" . Hơring (George.C. Herring) cho biết: Vào cuối năm 1968, các cố vấn Mỹ xếp hạng 2 sư đoàn quân đội Sài Gòn là "cực kỳ kém", 8 sư đoàn chỉ ở mức "khá lên" và chỉ một sư đoàn là "giỏi" . Trong Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Kôncô (Gabriel Kolko) khẳng định: "Tỷ lệ đào ngũ của quân đội Việt Nam Cộng hòa đạt đỉnh cao hơn bao giờ hết; nhìn toàn bộ, năm 1968 là năm xấu nhất của cuộc chiến tranh cho đến năm 1975. Các tiểu đoàn bộ binh của Việt Nam Cộng hòa trong hai tuần đầu của tháng Hai chỉ có một nửa số quân, các lực lượng biệt động ưu tú lại còn thấp hơn. Bốn trong chín tiểu đoàn không vận không còn hiệu lực chiến đấu. Các quan chức Mỹ vô cùng bất bình về tình hình không kỷ luật và nạn cướp phá của họ suốt giai đoạn đó". Dưới nhan đề Lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, tác giả Xêrari (Laurent Cérari) ghi nhận rằng, trong các đơn vị quân Mỹ từ năm 1968, nạn xung đột chủng tộc trong binh lính Mỹ tăng nhanh, hiện tượng không tuân lệnh chỉ huy lan rộng trong các đơn vị lục quân, hải quân và không quân Mỹ, tình trạng sử dụng ma tuý và những vụ tiến công sĩ quan bằng lựu đạn đã phổ biến. Stên và Lipxơn cho biết thêm: "Ý chí (của quân Mỹ trên chiến trường - T.G) bị chôn vùi, do dự khi bước vào cuộc chiến, sử dụng ma túy gia tăng, phá vỡ kỷ luật quân đội, tệ tham nhũng và tăng thêm số sĩ quan đào ngũ". Thậm chí, những người lính sư đoàn bộ binh số một "Anh cả đỏ" giờ đây gọi Sư đoàn này là "Anh cả chết".

Kết thúc đợt 2 tổng tiến công và nổi dậy, từ ngày 17-8-1968 đến 30-9-1968, quân và dân miền Nam tiếp tục mở đợt 3 tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đánh vào 27 thành phố, thị xã, 100 thị trấn, quận lỵ, chi khu quân sự, 17 sân bay, 3 khu kho, 6 Bộ Tư lệnh sư đoàn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Tại Sài Gòn, từ ngày 17-8 đến 21-9-1968, Quân giải phóng đã pháo kích nhà Quốc hội của chính quyền Sài Gòn và Bộ Tham mưu hành quân của quân đội Sài Gòn. Tại Đường số 9 - Trị Thiên - Huế, từ ngày 17-8-1968 đến 14-9-1968, các lực lượng vũ trang cách mạng tiếp tục tiến công đối phương và chặn đánh lực lượng hành quân ra vùng rừng núi. Bị vây hãm, ngày 7-7-1968, quân đội Sài Gòn đã buộc phải rút khỏi Tà Cơn, Đường số 9, một vùng rộng lớn từ Lao Bảo đến Ca Lu được giải phóng. Tại Trung Bộ, từ ngày 22 đến 24-8-1968, Quân giải phóng pháo kích vào thành phố Đà Nẵng và các thị xã như Hội An, Tam Kỳ, Hòa Vang, Vĩnh Điện. Quân giải phóng đã tiến công Đài Phát thanh Đà Nẵng, các căn cứ quân sự trên núi Non Nước, bán đảo Sơn Trà, đánh thiệt hại 2 trung đoàn cơ động của quân đội Sài Gòn và một bộ phận sư đoàn Amêricơn Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 23.000 binh lính đối phương. Ở Tây Ninh, các lực lượng vũ trang cách mạng tiến công khu tòa thánh, căn cứ Lữ đoàn 3, Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ ở Trảng Lớn, lực lượng đặc biệt của quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Cà Tum, đài truyền tin Mỹ ở núi Bà Đen, căn cứ Mỹ ở Chà Là, Bến Củi, loại khỏi vòng chiến đấu 14.000 binh lính đối phương (trong đó có 10.000 binh lính Mỹ), bắn rơi, phá hủy 85 máy bay, phá hỏng 1.335 xe quân sự. Lực lượng vũ trang cách mạng ở Bình Long tiến công vào Sư đoàn 1 bộ binh Mỹ tại Lộc Ninh, tiêu diệt 1.600 lính.

Tổng kết đợt 1 và đợt 2 tổng tiến công và nổi dậy, Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) kết luận như sau:

Về ưu điểm: 1- Lực lượng vũ trang cách mạng hoàn thành tốt nhiệm vụ, chiến đấu tốt ở nội thành Sài Gòn, còn ở vùng ven luôn tạo được thế uy hiếp, vây ép Sài Gòn; làm chủ Huế trong một khoảng thời gian khá dài; 2- Đã tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh, làm suy yếu một cách căn bản cơ sở vật chất, lực lượng hậu cần của đối phương; 3- Tạo thế chiến tranh du kích rộng khắp ở nông thôn đồng bằng, làm chủ thành phố, xây dựng chỗ đứng chân ở các khu vực miền núi; 4- Tiếp tục đánh bại ý chí tiến hành chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn, đẩy đối phương vào thế khủng hoảng trầm trọng.

Về khuyết, nhược điểm: 1- Chưa tiêu diệt được các cơ quan đầu não của đối phương ở các thành phố lớn; 2- Công tác vận động quần chúng nổi dậy làm còn yếu; 3- Công tác địch vận chưa đạt yêu cầu; 4- Chưa đánh tiêu diệt lớn ở chiến trường rừng núi; 5- Nhiều lúc sự phối hợp giữa Mặt trận Đường 9 với Sài Gòn và Huế không kịp thời; 6- Lực lượng Quân giải phóng cũng bị tổn thất khá nặng nề.

Nhìn lại các đợt tiến công tháng 5 và tháng 8-1968 của quân và dân miền Nam trên chiến trường với những khó khăn, tổn thất, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả đã xem như đó là một hạn chế về tầm nhìn hoặc sai lầm của các cấp chỉ đạo chiến lược mà hậu quả của sai lầm này đã làm cho cục diện chiến trường sau "Tết Mậu Thân" trở nên "xấu hơn trước năm 1968", cách mạng miền Nam lâm vào "thời kỳ đen tối". Nếu chỉ nhìn trên thực tế của chiến trường lúc ấy, những ý kiến trên đây có phần xác đáng. Tuy nhiên, nếu như 111.360 cán bộ, bộ đội lực lượng vũ trang giải phóng cùng hàng vạn quần chúng đã hy sinh và bị thương trong năm 1968 thì cũng trong năm này, số thương vong của quân Mỹ đã "gia tăng ghê gớm, nó gần gấp hai lần tổng số thương vong của tất cả các năm trước đó cộng lại - 30.610 người so với 16.210 người". Chỉ trong sáu tháng đầu năm 1968, Mỹ và quân đội Sài Gòn đã bị tổn thất 101.400 binh lính; Nam Việt Nam (tức quân đội Sài Gòn) trung bình tổn thất 500 người mỗi tuần. Qua những con số thương vong này, có thể hình dung được phần nào sự ác liệt của hai đợt tiến công sau Tết Mậu Thân 1968 - một sự ác liệt mà quân và dân ta buộc phải chấp nhận nhằm khẳng định ý chí, khẳng định tư thế của mình trên chiến trường để thông qua đó, giành lợi thế trên bàn đàm phán. Quân và dân Việt Nam đã phải hy sinh máu xương, phải gồng mình lên, chấp nhận những mất mát để hướng về và chuẩn bị cho cuộc chạy đua nước rút tới đích - giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thực vậy, nếu không có những hy sinh, tổn thất của những đợt tiến công sau Tết ngày đó, rất có thể những thành quả đạt được trong cuộc tiến công đợt 1 đã không được bảo đảm và phát huy, chúng ta không thể rút ngắn ngày kết thúc chiến tranh như đã diễn ra: Đưa sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam từ ba năm rồi hai năm trong kế hoạch, rút xuống chỉ còn 55 ngày đêm chiến đấu mà giành lại được một Sài Gòn hầu như nguyên vẹn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4293



« Trả lời #69 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2020, 09:49:25 am »

PHỤ NỮ MIỀN NAM
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



NGUYỄN THỊ TUYẾT
Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam


Trong lịch sử Việt Nam, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 mãi khắc sâu như một bản anh hùng ca bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đồng thời để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu có thể vận dụng, phát triển trong điều kiện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trên toàn chiến trường miền Nam Xuân Mậu Thân 1968 là một đòn bất ngờ, táo bạo..., đã tiêu diệt, phá hủy nhiều vũ khí, sinh lực của địch; làm cho chính quyền Mỹ choáng váng và làm lung lay ý chí xâm lược, làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ ở Việt Nam.

Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Phụ nữ miền Nam là lực lượng quan trọng trong công tác hậu phương quân đội, phục vụ chiến trường. Hàng vạn chị em phụ nữ tham gia các đội dân công, thanh niên xung phong; tham gia hoạt động tình báo, giao liên, tải lương, tải đạn, xây dựng kho vũ khí bí mật ở nội đô, ủng hộ lương thực, thực phẩm cho bộ đội, tham gia các đội du kích, biệt động... Những hoạt động này được thực hiện đồng loạt ở các tỉnh từ nông thôn đến thành thị và tạo nên cơ sở hậu cần - kỹ thuật chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân. Mỹ và chính quyền, quân đội Sài Gòn tìm mọi cách đàn áp nhưng không làm giảm được khí thế tham gia nổi dậy của phụ nữ - những con người luôn có mặt ở khắp mọi nơi trong lòng địch, ngoài tiền tuyến: khi làm công tác vũ trang tuyên truyền, rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, khi phục vụ chiến đấu hoặc trực tiếp chiến đấu, diệt ác ôn giữa ban ngày. Bên cạnh đó, nhiệm vụ tập kết tạo kho vũ khí trong nội đô là công việc tối quan trọng. Nhiều câu chuyện kể về các cô, các chị thực sự như những cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm đối với tính mạng, nhưng với tinh thần dũng cảm, xả thân, thông minh, sáng tạo, nhanh trí, các cô, các chị đã vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ. Ví dụ như khi vận chuyển vũ khí, có chị đóng giả là người di cư, mặc đồ kiểu tư sản, cho súng đạn vào vali quần áo chở bằng xe máy, qua mặt tên cảnh sát còn chào, không hề tỏ ra sợ sệt. Một trong những người phụ nữ gan dạ thời đó là má Sáu Hòa. Má được giao nhiệm vụ tổ chức xây dựng, thành lập hệ thống kho vũ khí trong nội đô. Má đã làm nghề may, buôn bán để che mắt địch. Má cùng những chị em khác tổ chức công việc buôn trái dừa, mỗi chuyến hàng vận chuyển 500 trái nhưng chỉ có khoảng 50 trái là dừa thật, còn lại đều bị đục bỏ nước, chèn chất nổ TNT để chuyển vào thành phố. Rồi má chuyển từ buôn trái dừa sang buôn than, gạo, và các loại trái cây. Mỗi lần nhập hàng là một lần vũ khí được chuyển thêm vào kho vũ khí của bên ta. Đây thực sự là công việc khó, đòi hỏi người thực hiện không chỉ gan dạ, dũng cảm mà còn phải thông minh, linh hoạt, biết cách xoay chuyển tình thế khi cần thiết. Trong suốt 3 năm chuẩn bị, hệ thống kho vũ khí được mở rộng bởi những chị em phụ nữ như má Sáu Hòa.

Bên cạnh đó là câu chuyện về những người mẹ, những bà má dành hết tình thương của mình để nuôi giấu cán bộ mà không màng đến nguy hiểm. Họ là những người âm thầm phía sau bao bọc, chở che hết lượt con này đến lượt con khác chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Những lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam được các mẹ, các chị ở khắp các tỉnh miền Nam âm thầm tự may để chuẩn bị cho cuộc nổi dậy, và hiện nay ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam còn lưu giữ nhiều lá cờ như vậy. Một trong những người phụ nữ đã tự may những lá cờ chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 là bà Trần Thị Xua ở ấp Phú Hưng, Phù Hựu, Châu Thành, Đồng Tháp.

Đêm giao thừa Tết Mậu Thân năm 1968, khi tiếng súng tổng tiến công đồng loạt nổ ra khắp các tỉnh miền Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam đã chỉ đạo các cấp Hội vận động hội viên cùng nhân dân địa phương sẵn sàng nổi dậy. Trong các thành phố, khi lực lượng Quân giải phóng vừa giành thắng lợi trong chiến đấu thì lực lượng chính trị xuất hiện, ngăn chặn bước phản công của địch, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang kịp thời rút đi. Hơn 11 triệu lượt phụ nữ từ thành thị đến nông thôn đã tham gia nổi dậy diệt ác, phá kìm, làm tan rã từng mảng bộ máy chính quyền Sài Gòn cấp cơ sở, tiến công vào thị xã, thị trấn, giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Tại Mỹ Tho, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp, hơn 40.000 phụ nữ và nhân dân theo từng đại đội, tiểu đoàn bộ đội kéo vào thành phố, thị xã phối hợp với quần chúng biểu tình. Ở Tây Ninh, nhân lúc tiếng pháo giao thừa, được chị em nội tuyến dẫn đường, bộ đội lần lượt tiến công vào các cơ quan chính quyền, đồn trại của quân đội Sài Gòn trong thị xã, đông đảo nhân dân kéo vào gây áp lực với địch.

 Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, khi có tiếng pháo giao thừa đón Xuân sang cũng là lúc tiếng súng tập kích của bộ đội ta nổ giòn giã. Các má, các chị được chuẩn bị tư tưởng, khi đón nhận những tiếng súng "phát lệnh" đã hành động ngay. Liên tục trong 10 ngày, bắt đầu từ ngày mồng 5 Tết, địch đổ quân xuống các trục lộ, dùng xe tăng, cối M79 phản kích lại quân ta. Hàng ngàn đồng bào, đi đầu là các má, các chị đã dũng cảm mang theo đồ đạc, quần áo gọn nhẹ, dắt con nhỏ, khiêng người bị thương ra đường Minh Mạng, ra công trường Ngã Bảy đấu tranh... Nổi bật là hoạt động của đơn vị biệt động Thành Sài Gòn: Ngày 27-1-1968, đơn vị nữ biệt động Thành đã phối hợp với các nhóm tự vệ vũ trang của Ban Phụ vận thực hiện cuộc tuyên truyền công khai tại chợ Bến Thành. Đồng chí Đào Hồng Nga được Ban Phụ vận và Đảng ủy 36 chợ Đô Thành giao nhiệm vụ làm diễn giả. Giữa chợ Bến Thành, chị đứng lên dõng dạc chuyển lời chúc Tết của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và lực lượng giải phóng miền Nam đến với đồng bào Sài Gòn và kêu gọi đồng bào kháng chiến... Trong đợt tổng công kích và nổi dậy này, người dân Sài Gòn chứng kiến những hình ảnh chiến đấu ngoan cường của đơn vị nữ biệt động Sài Gòn - Gia Định (Đơn vị được đổi tên là Tiểu đoàn Lê Thị Riêng ngày 8-3-1968). Đây là tiểu đoàn biệt động nữ đầu tiên và duy nhất của Thành phố trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Các đội tự vệ trong Tiểu đoàn Lê Thị Riêng dũng cảm thọc sâu đánh vào trung tâm Sài Gòn, tham gia đánh Tòa hành chính quận 5, treo cờ cách mạng lên cột cờ Tòa hành chính, bám sát lực lượng đánh vào cơ quan Tổng Tham mưu của quân đội Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất, các cơ quan đầu não quan trọng của địch.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chúng ta không thể không nhắc đến Tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương (Huế). Lúc đó, không chỉ người dân thành Huế mà cả các chiến sĩ của chúng ta đều nhớ mãi khẩu hiệu "Thà hy sinh, nhất định không rời trận địa" của Tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương. Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, tháng 6-1967, Thành ủy Huế đã giao cho Tiểu đội nhiệm vụ dẫn đường, đưa bộ đội tiến công vào các mục tiêu ở thành phố Huế, đồng thời trực tiếp đánh giặc. Vì hoạt động bí mật nên cả 11 chị em trong Tiểu đội đều phải làm mọi cách để che giấu tên tuổi, thân phận của mình, thậm chí người trong gia đình cũng không hề biết. Để hoàn thành nhiệm vụ dẫn đường, Tiểu đội phải bám địa bàn, nghiên cứu kỹ lưỡng từng đoạn đường để đưa bộ đội vào thành Huế mà không rơi vào bẫy của địch. Họ thường cải trang làm người bán rau, bán cá, người đưa thư... để có thể nắm tường tận các điểm chốt của địch nhằm dễ bề đối phó. Với lòng can đảm, tinh thần xả thân và trách nhiệm cao, 11 cô gái kiên trì bám trụ, phối hợp cùng bộ đội đánh lui một tiểu đoàn lính Mỹ thiện chiến, được trang bị vũ khí hiện đại, gây cho địch nhiều thương vong, được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi và tặng bài thơ:

"Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái,
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương".


Trong những ngày tháng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, còn rất nhiều, rất nhiều chị em phụ nữ gan dạ, dũng cảm tham gia vận động bà con, người dân theo cách mạng.

Chiến thắng Tết Mậu Thân 1968 đã qua đi vừa tròn nửa thế kỷ, nhưng ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vẫn còn nguyên giá trị trong cuộc sống hôm nay. Cách mạng nước ta hiện nay bên cạnh những nhân tố thuận lợi thúc đẩy quá trình đổi mới đất nước, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao, thì chúng ta cũng đang phải vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nhất là việc các thế lực thù địch chống phá bằng chiến lược "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn, lật đổ, âm mưu thúc đẩy "tự diễn biến", tạo cớ can thiệp dưới nhiều hình thức. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam với vai trò của mình sẽ tiếp tục định hướng, tổ chức giáo dục cho hội viên phụ nữ cả nước nắm chắc tình hình, xử lý được các tình huống bất ngờ, phức tạp có ảnh hưởng đến chính trị hoặc sự phát triển chung của đất nước. Bên cạnh đó, Hội còn động viên, thúc đẩy phụ nữ tích cực tham gia, học hỏi phát triển để nâng cao năng lực cho bản thân, gia đình, xã hội; có nhận thức đúng đắn, đẩy lùi những nguy cơ xấu ảnh hưởng đến nền hòa bình của đất nước. Đồng thời, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cần tạo dựng được mạng lưới đồng bộ liên kết ở mọi lĩnh vực của cuộc sống, cả trong và ngoài nước. Mạng lưới này cần phải có sự đoàn kết, và có định hướng phát triển cả về kinh tế, văn hóa vừa ở góc độ gìn giữ vừa ở góc độ thích ứng phát triển, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. Bên cạnh đó, không được quên những giá trị văn hóa truyền thống được tạo dựng nên từ thời Bà Trưng, Bà Triệu. Từ xưa đến nay, phụ nữ Việt Nam luôn có vai trò quan trọng từ cả trong gia đình đến ngoài xã hội; góp phần tạo nên những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của dân tộc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM