Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Mười, 2021, 09:02:52 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mật Mã - Từ cổ điển đến lượng tử  (Đọc 10259 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #120 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2020, 07:03:12 am »


        Sau khi gặp nhiều nhà buôn đồ cổ ở Athen, Ngài Arthur cuối cùng cũng đã tình cờ bát gặp một số mẩu đá được chạm khắc. Dễ dàng nhận ra đó là những con dấu có niên đại từ thời tiền Văn minh Hy lạp. Những ký hiệu trên các con dấu đó có vẻ như chỉ là các biểu tượng chứ không phải là chữ viết thực, tương tự như hệ thống các ký hiệu trên các huy hiệu. Tuy nhiên, sự phát hiện này đã thúc đẩy ông tiếp tục truy tìm. Các con dấu này được cho là có xuất xứ từ đảo Crete, mà cụ thể là ở Knossos, nơi mà theo truyền thuyết có cung điện của Vua Minoa, trung tâm của một đế chế thống trị toàn bộ vùng biển Aege. Ngài Arthur bèn lên đường đến đảo Crete và tiến hành khai quật vào năm 1900. Những kết quả thu được cũng ngoạn mục như tốc độ mau lẹ của chúng. Ông đã khám phá ra phần còn lại của một cung điện huy hoàng, với một hệ thống chằng chịt các hành lang và được trang hoàng bằng rất nhiều tấm bích họa vẽ những người đàn ông trẻ tuổi nhảy lên những con bò đực hung dữ. Evans xét đoán rằng môn thể thao cưỡi bò này phần nào có liên quan tới thần thoại về Nhân Ngưu, một con quái vật đầu bò có thân hình là của chàng thanh niên vạm vỡ, và ông cho rằng sự phức tạp của các lối đi trong cung điện là lấy cảm hứng từ câu chuyện về mê cung của con Nhân Ngưu này.

        Ngày 31 tháng Ba, Ngài Arthur đã bắt đầu khai quật một kho báu mà ông mong đợi nhất. Đầu tiên chỉ là một tấm đất sét có chữ viết trên đó, rồi vài ngày sau là một cái rương bằng gỗ chứa đầy những tấm tương tự và sau nữa là những đống bản thảo còn hơn cả sự mong đợi của ông. Tất cả những bản khắc đất sét này xưa kia đã được phơi nắng cho khô, chứ không phải nung bằng lửa, vì vậy chúng có thể được sử dụng lại đơn giản bằng cách nhúng nước. Qua nhiều thế kỷ, mưa gió đã có thể làm tan rữa các tấm đất sét này và chúng có thể đã biến mất vĩnh viễn. Tuy nhiên, dường như cung điện ở Knossos đã bị lửa thiêu rụi, các tấm đất sét được nung chín và nhờ vậy mà chúng đã được bảo vệ trong suốt ba ngàn năm. Tất cả được giữ gìn tốt đến mức có thể phân biệt được cả dấu vân tay của người viết.

        Các bản khắc đất sét này được phân làm ba nhóm. Nhóm thứ nhất, có niên đại từ năm 2000 đến 1650 trước Công nguyên, chỉ bao gồm các hình vẽ, mà cũng có thể là các ký hiệu biểu ý, nhìn bề ngoài dường như là có liên quan đến các ký hiệu trên các con dấu mà Ngài Arthur Evans đã mua được từ các nhà buôn ở Athens. Nhóm thứ hai, có niên đại từ năm 1750 đến 1450 trước Công nguyên, được khắc các ký tự gồm các vạch thẳng đơn giản, và vì vậy chữ viết này được đặt tên là Linear A (linear có nghĩa là thẳng, tuyến tính - ND). Nhóm thứ ba, có niên đại từ năm 1450 đến 1375 trước Công nguyên, mang chữ viết có vẻ như là một dạng cải tiến từ Linear A, và vì vậy được gọi là Linear B. Vì hầu hết các tấm đất sét đều là Linear B và vì đó là bản chữ viết mới nhất nên Ngài Arthur và các nhà khảo cổ khác tin rằng Linear B sẽ mang đến cho họ một cơ hội giải mã tốt nhất.

        Rất nhiều tấm đất sét có chứa những bảng kiểm kê. Với nhiều cột bao gồm các ký tự số, nên tương đối dễ dàng xác định được hệ thống đếm, song các ký hiệu ngữ âm thì lại khó hiểu hơn rất nhiều. Chúng giống như một tập hợp vô nghĩa những nét nguệch ngoạc khá tùy tiện. Nhà sử học David Kahn đã mô tả một vài ký hiệu riêng lẻ trông như “một mái vòm Gothic với một đường thẳng đứng, một chiếc thang, một trái tim với cái cuống lá xuyên qua, một chiếc đinh ba cong có ngạnh, một con khủng long ba chân ngoái nhìn ra phía sau, một chữ A với một thanh ngang xuyên qua, một chữ s lộn ngược, một ly bia cao, đầy một nửa, với một chiếc nơ buộc quanh miệng; và hàng tá những ký hiệu khác trông chẳng giống thứ gì cả”. Chỉ có hai sự thực hữu ích được xác lập về Linear B. Thứ nhất là hướng viết rõ ràng là từ trái sang phải, vì những chỗ hụt ở cuối một dòng thường ở phía bên phải. Thứ hai, có chín mươi ký tự khác nhau, chứng tỏ chữ viết gần nhu chắc chắn là theo âm tiết. Các chữ viết thuần túy theo bảng chữ cái thì đều có xu hướng có khoảng từ 20 đến 40 ký tự (chẳng hạn như tiếng Nga có 36 ký hiệu, còn chữ ả rập là 28). Ở thái cực khác, những chữ viết dựa trên ký hiệu biểu ý thì thường có đến hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn ký hiệu (tiếng Trung Quốc có hơn 5000 ký hiệu). Các chữ viết theo âm tiết nằm trung gian, có khoảng từ 50 đến 100 ký tự âm tiết. Ngoài hai sự thực này, thì Linear B vẫn là một bí ẩn không thể hiểu được.

Hình 57 Các địa danh cổ xưa quanh biển Aege. Sau khi phát hiện các kho báu tại Mycenae trên lục địa Hy Lạp, Ngài Arthur Evans đã tiến hành tìm kiếm các bản khắc chữ viết. Những bản khắc chữ Linear B đầu tiên được tìm thấy trên đảo Crete, trung tâm của đế chế Minoa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #121 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2020, 09:10:19 am »

      
        Vấn đề cơ bản là không ai biết chắc là Linear B được viết bằng ngôn ngữ gì. Ban đầu có người phỏng đoán Linear B là một dạng chữ viết Hy Lạp, vì có bảy ký tự rất tương đồng với các ký tự trong chữ viết Cypriot kinh điển vốn được biết là một dạng chữ viết mà người Hy Lạp đã sử dụng trong khoảng từ năm 600 đến 200 trước Công nguyên. Song những nghi ngờ bắt đầu nảy sinh.

        Phụ âm cuối thường thấy nhất trong tiếng Hy Lạp là s, và do đó ký tự cuối cùng thông dụng nhất trong chữ viết Cypriot là f* , biểu thị âm tiết se - bởi vì các ký tự là theo âm tiết, nên một phụ âm đơn phải được biểu thị bởi một kết hợp phụ âm - nguyên âm, nhưng phải là nguyên âm câm. Chính ký tự này cũng xuất hiện trong Linear B, song hiếm khi thấy nó xuất hiện ở cuối một từ, điều này cho thấy Linear B không thể là tiếng Hy Lạp. Điều mà mọi người đều nhất trí, đó là Linear B, chữ viết cổ hơn, là đại diện cho một thứ ngôn ngữ còn chưa biết và đã bị mai một. Khi ngôn ngữ này biến mất, chữ viết vẫn còn và tiến hóa qua nhiều thế kỷ thành chữ viết Cypriot, được sử dụng để viết tiếng Hy Lạp. Vì vậy, hai chữ viết trông tương tự nhau nhưng biểu thị hai thứ ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau.

Hình 58 Một tấm khắc Linear B, 1400 trước Công nguyên. Bên phải là ký tự tương ứng trên tấm đá
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #122 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2020, 09:11:32 am »

               
        Arthur Evans là người ủng hộ tích cực thuyết cho rằng Linear B không phải là dạng chữ viết tiếng Hy Lạp, và ông đinh ninh là nó biểu thị ngôn ngữ Crete bản xứ. Ông tin tưởng rằng có những bằng chứng khảo cổ chắc chắn khẳng định lý lẽ của mình. Chẳng hạn, những khám phá của ông trên đảo Crete cho thấy đế chế của Vua Minoa, còn được biết tới là đế chế Minoa, tiến bộ hơn rất nhiều so với nền văn minh Mycenae trên lục địa. Đế chế Minoa không phải là một lãnh địa của đế chế Mycenae, mà là một thế lực thù địch, thậm chí còn có phần lấn át. Thần thoại về con Nhân Ngưu đã ủng hộ cho quan điểm này. Câu chuyện thần thoại này đã mô tả việc Vua Minoa yêu cầu người Athen cống nạp cho mình các nam thanh nữ tú để hiến tế cho Nhân Ngưu. Nói tóm lại, Evans kết luận rằng người Minoa đã rất thành công khi họ vẫn bảo tồn được tiếng mẹ đẻ của mình, không để cho ngôn ngữ kẻ thù của họ đồng hóa.

        Mặc dù việc người Minoa nói thứ ngôn ngữ riêng của họ (và Linear B biểu thị ngôn ngữ này), chứ không phải là tiếng Hy Lạp, đã được chấp nhận rộng rãi song vẫn còn đôi ba người cho rằng người Minoa nói và viết tiếng Hy Lạp. Ngài Arthur không mảy may để tâm đến những ý kiến bất đồng như vậy, và đã sử dụng ảnh hưởng của mình để trừng phạt những người không đồng quan điểm với ông. Khi A. J. B. Wace, giáo sư khảo cổ học của Đại học Cambridge, tuyên bố ủng hộ thuyết cho rằng Linear B biểu thị tiếng Hy Lạp, Ngài Arthur đã loại ông ra khỏi các cuộc khai quật và buộc ông phải về hưu từ trường British School ở Athens.

        Năm 1939, cuộc tranh luận “Hy Lạp và phi Hy Lạp” lại càng thêm gay gắt khi Carl Blegen của trường Đại học Cincinnati đã tìm thấy một loạt những tấm khắc Linear B ở cung điện Nestor ở Pylos. Điều này quả là khác thường vì Pylos nằm trên lục địa Hy Lạp, và là một vùng thuộc đế chế Mycenae chứ không phải Minoa. Một số ít các nhà khảo cổ vốn tin Linear B là tiếng Hy Lạp cho rằng điều này đã ủng hộ giả thuyết của họ: Linear B được tìm thấy trên lục địa mà ở đó người ta nói tiếng Hy Lạp, và vì vậy Linear B phải biểu thị tiếng Hy Lạp; Linear B cũng được tìm thấy ở Crete, như vậy thì người Minoa cũng nói tiếng Hy Lạp.

        Phe Evans tranh luận ngược lại: người Minoa ở Crete nói tiếng Minoa; Linear B được tìm thấy ở Crete, vì vậy Linear B biểu thị ngôn ngữ Minoa; Linear B cũng được tìm thấy ở lục địa vì vậy trên lục địa người ta cũng nói tiếng Minoa. Ngài Arthur nhấn mạnh: “ở Mycenae không có chỗ cho những vị vua nói tiếng Hy Lạp... văn hóa, cũng giống như ngôn ngữ, vẫn còn là Minoa một trăm phần trăm.”

        Thực tế, khám phá của Blegen không nhất thiết phải áp đặt một ngôn ngữ duy nhất cho người Mycenae và Minoa. Vào thời Trung cổ, rất nhiều nhà nước châu Âu, bất kể nói ngôn ngữ nào, cũng đều ghi chép bằng tiếng Latin. Có thể ngôn ngữ của Linear B cũng là một ngôn ngữ chung của những người làm kế toán ở vùng biển Aege để đơn giản quan hệ buôn bán giữa các quốc gia không cùng nói chung một ngôn ngữ.

        Trong vòng bốn thập kỷ, mọi nỗ lực nhằm giải mã Linear B đều kết thúc thất bại. Sau đó, vào năm 1941, Ngài Arthur qua đời ở tuổi 90. Ông đã không còn sống để chứng kiến việc giải mã Linear B, hoặc tự mình đọc được ý nghĩa của những văn bản mà ông đã tìm ra. Thực sự thì vào lúc đó cũng không có nhiều triển vọng là sẽ giải mã được nó.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #123 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2020, 09:26:52 am »

   
        CÁC ÂM TIẾT NỐI

        Sau cái chết của Ngài Arthur Evans, kho lưu trữ các tấm khác Linear B và những ghi chép khảo cổ của riêng ông chỉ được một nhóm nhỏ các nhà khảo cổ sử dụng, đó là những người ủng hộ thuyết của ông cho rằng Linear B thể hiện ngôn ngữ riêng của người Minoa. Tuy nhiên, vào giữa những năm 1940, Alice Kober, một chuyên gia về tiếng Hy Lạp và La Mã cổ ở trường Brooklyn College, đã quyết định tiếp cận các tài liệu này và bắt đầu phân tích chữ viết đó một cách kỹ lưỡng và vô tư. Đối với những người chỉ biết bà một cách sơ sơ thì Kober dường như là một phụ nữ hết sức bình thường -  một giáo sư ăn vận xuềnh xoàng, không duyên dáng cũng chẳng lôi cuốn, với lối sống rất giản dị. Tuy nhiên, niềm say mê nghiên cứu của bà thì quả là vô hạn. “Bà làm việc với một cường độ rất cao”, Eva Brann, nguyên là một sinh viên theo học ngành khảo cổ của Đại học Yale nhớ lại, “Bà từng nói với tôi rằng chỉ có một cách để biết khi nào mình đã hoàn thành một việc gì đó thực sự to lớn, đó là khi có cảm giác xương sống bị đau ê ẩm”.
        

Hình 59 Alice Kober.

        Để đột phá Linear B, Kober nhận thấy rằng bà cần phải loại bỏ tất cả mọi định kiến. Bà đã tập trung không vào gì khác ngoài cấu trúc tổng thể của chữ viết và kết cấu của từng từ. Đặc biệt, bà chú ý đến những từ tạo nên các bộ ba, vì chúng dường như là cùng một từ nhưng xuất hiện ở ba dạng hơi khác nhau. Trong một bộ ba từ này, gốc từ là giống nhau, chỉ có ba phần đuôi là khác nhau. Bà kết luận rằng Linear B là thể hiện của một ngôn ngữ biến cách rất cao, tức là đuôi các từ thay đổi để phản ánh giới tính, thời, cách và những thứ tương tự như vậy. Tiếng Anh là ngôn ngữ biến cách ít vì, chẳng hạn, như chúng ta nói “I decipher, you decipher, he deciphers” (Tôi giải mã, anh giải mã, anh ấy giải mã) - ở ngôi thứ ba, động từ có thêm “s”. Tuy nhiên, các ngôn ngữ cổ có xu hướng khắt khe và cực đoan hơn rất nhiều trong việc sử dụng vĩ tố (đuôi) của từ. Kober đã công bố một bài báo, trong đó bà mô tả bản chất biến cách của hai nhóm từ cụ thể, như trình bày ở Bảng 17. Mỗi nhóm vẫn giữ nguyên các gốc từ tương ứng của chúng, trong khi đó lại có các đuôi khác nhau tùy theo ba cách khác nhau.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #124 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2020, 09:29:30 am »

   
        Để dễ thảo luận, mỗi ký hiệu của Linear B được gán cho một số gồm hai chữ số, như trình bày ở Bảng 18. Sử dụng các số này, các từ trong Bảng 17 có thể được viết lại ở Bảng 19. Cả hai nhóm từ này đều có thể là các danh từ có đuôi biến đổi theo các cách - chẳng hạn, trường hợp một có thể là danh cách (chủ ngữ), trường hợp hai là đối cách (bổ ngữ), và trường hợp ba là tặng cách. Rõ ràng là hai ký hiệu đầu tiên trong cả hai nhóm từ (25-67 và 70- 52) đều là gốc từ, vì chúng được lặp lại ở mọi trường hợp. Tuy nhiên, ký hiệu thứ ba hơi khó hiểu hơn. Nếu ký hiệu thứ ba là một phần của gốc từ thì đối với từ đã cho nó phải không đổi, bất kể là ở cách nào, nhưng đằng này lại không phải như vậy. Ở từ A, ký hiệu thứ ba là 37 trong trường hợp một và hai, nhưng lại là 05 trong trường hợp ba. Ở từ B, ký hiệu thứ ba là 41 trong trường hợp một và hai, nhưng lại là 12 trong trường hợp thứ ba. Một giả thuyết khác, nếu ký hiệu thứ ba không phải là một phần của gốc từ thì có thể nó là phần đuôi của từ, song khả năng này cũng không chắc chắn lắm. Đối với một cách cho trước, thì đuôi từ sẽ phải như nhau bất kể là đuôi từ nào, nhưng ở trường hợp một và hai, ký hiệu thứ ba là 37 ở từ A, nhưng lại là 41 ở từ B, và trường hợp ba, ký hiệu thứ ba lại là 05 ở từ A và 12 ở từ B.

Hình 60 Các ký hiệu Linear B và các con số gán cho chúng
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #125 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2020, 09:41:26 am »


        Ký hiệu thứ ba không tuân theo dự đoán vì chúng dường như không phải là một phần của gốc từ cũng không phải đuôi từ. Kober đã giải quyết nghịch lý này bằng cách viện đến thuyết cho ràng mỗi ký hiệu biểu thị cho một âm tiết, có thể là sự kết hợp của một phụ âm và một nguyên âm tiếp sau. Bà cho rằng âm tiết thứ ba có thể là một âm tiết nối, biểu thị một phần của gốc từ và một phần của đuôi từ. Phụ âm có thể thuộc về gốc từ và nguyên âm là của đuôi từ. Để chứng minh cho giả thuyết này, bà lấy một ví dụ từ ngôn ngữ Akkadian, một ngôn ngữ cũng có các âm tiết nối và cũng có sự biến cách cao. Sadanu là danh từ ở cách 1 trong tiếng Akkadian, nó biến đổi thành sadani ở cách 2 và thành sadu ở cách 3 (Bảng 20). Rõ ràng là ba từ đều chứa gốc từ là sad-, và đuôi là -anu (cách 1), -ani (cách 2), hay -u (cách 3), với - da, -da hay -du là các âm tiết nối. Âm tiết nối giống nhau ở cách 1 và 2, song lại khác ở cách 3. Điều này cũng giống hệt nhu các hình mẫu quan sát thấy trong Linear B - ký hiệu thứ ba trong mỗi từ Linear B của Kober phải là một âm tiết nối.

        Bảng 19 Hai từ Linear B biến cách được viết lại bằng các con số.

                 Từ A                       Từ B         
Cách 1   25-67-37-57           70-52-41-57 
Cách 2   25-67-37-36           70-52-41-36 
Cách 3   25-67-05           70-52-12       

        Chỉ bằng việc xác định được bản chất biến cách của Linear B và sự tồn tại của các âm nối thôi, Kober đã tiến xa hơn bất kỳ ai khác trong việc giải mã các chữ viết Minoa, song điều này mới chỉ là bắt đầu. Bà còn định đưa ra những suy luận thậm chí còn lớn hơn nữa. Trong ví dụ về ngôn ngữ Akkadian, âm tiết nối biến đổi từ da sang du, song phụ âm lại như nhau ở cả hai âm tiết. Tương tự, âm tiết ở Linear B là 37 và 05 ở từ A sẽ phải có cùng một phụ âm, như các âm tiết 41 và 12 trong từ B. Lần đầu tiên kể từ khi Evans khám phá ra Linear B, sự thực về ngữ âm của các ký tự đã dần bộc lộ. Kober cũng còn xác lập được một tập hợp các mối quan hệ khác giữa các ký tự. Rõ ràng là các từ A và B trong Linear B ở cách 1 có cùng một đuôi. Tuy nhiên, âm nối biến đổi từ 37 thành 41. Điều này chứng tỏ ký hiệu 37 và 41 biểu thị các âm tiết với các phụ âm khác nhau nhưng nguyên âm thì giống hệt nhau. Điều này lý giải vì sao các ký hiệu là khác nhau trong khi vẫn có đuôi như nhau ở cả hai từ. Tương tự đối với các danh từ ở cách 3, các âm tiết 05 và 12 sẽ có cùng nguyên âm nhưng lại khác phụ âm.

        Kober không thể chỉ ra được chính xác nguyên âm nào chung cho 05 và 12, và chung cho 37 và 41; tương tự bà cũng không xác định được chính xác phụ âm nào chung cho 37 và 05, và chung cho 41 và 12. Tuy nhiên, bất kể giá trị ngữ âm đích xác của chúng là gì thì bà cũng đã thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ giữa các ký tự nhất định. Bà đã tổng kết các kết quả của mình trong Bảng 21. Từ Bảng này ta thấy rằng, tuy Kober không biết âm tiết được biểu thị bởi ký hiệu 37, song bà biết phụ âm của nó được dùng chung với ký hiệu 05 và nguyên âm của nó dùng chung với ký hiệu 41. Tương tự, bà cũng không biết âm tiết được biểu thị bởi ký hiệu 12, song bà đã biết phụ âm của nó dùng chung với ký hiệu 41 và nguyên âm của nó dùng chung với ký hiệu 05. Áp dụng phương pháp của mình với các từ khác, cuối cùng bà đã thiết lập được một bảng gồm 10 ký hiệu, hai cột nguyên âm và năm dòng phụ âm. Lẽ ra Kober hoàn toàn có thể thực hiện được bước đột phá quan trọng tiếp theo và thậm chí có thể giải mã được toàn bộ văn bản. Tuy nhiên, bà đã không sống đủ lâu để khai thác tiếp kết quả công việc của mình. Năm 1950, bà đã mất vì bị ung thư phổi ở tuổi 34.

        Bảng 20. Các âm nối trong danh từ sadanu của tiếng Akkadian

        Cách 1 sa-da-nu
        Cách 2 sa-da-ni
        Cách 3 sa-du
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #126 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2020, 06:24:37 am »

      
        MỘT SỰ LẠC HƯỚNG VÔ NGHĨA

        Chỉ một vài tháng trước khi mất, Alice Kober đã nhận được một bức thư của Michael Ventris, một kiến trúc sư người Anh, người cũng bị Linear B hấp dẫn từ khi ông còn là một đứa trẻ. Ventris sinh ngày 12 tháng Bảy năm 1922, con trai của một quân nhân Anh và người vợ mang nửa dòng máu Ba Lan. Mẹ ông đã có công lớn trong việc khơi dậy trong ông niềm đam mê khảo cổ học.

        Bà thường dẫn ông tới Bảo tàng Anh, nơi ông luôn kinh ngạc trước những kỳ quan của thế giới cổ đại. Michael là một cậu bé rất sáng dạ với một năng khiếu kỳ lạ đặc biệt về ngôn ngữ. Khi bắt đầu đi học, cậu đến Gstaad ở Thụy Sĩ và ở đây cậu đã thông thạo tiếng Pháp và tiếng Đức. Sau đó, khi được 6 tuổi, cậu đã tự học tiếng Ba Lan.

        Cũng giống như Jean-Franois Champollion, Ventris đã sớm phát triển tình yêu đối với những chữ viết cổ. Khi lên bảy, cậu đã nghiên cứu một cuốn sách về chữ tượng hình Ai Cập, một thành tích đầy ấn tượng ở lứa tuổi bé như vậy, nhất là khi cuốn sách lại được viết bằng tiếng Đức. Sự hứng thú đối với chữ viết của các nền văn minh cổ này vẫn tiếp tục duy trì trong suốt thời niên thiếu của ông. Năm 1936, ở tuổi 14, niềm đam mê này lại được thổi bùng lên thêm khi ông tham dự buổi thuyết trình của Ngài Arthur Evans, người đã phám phá ra Linear B. Chàng trai trẻ Ventris đã nghiên cứu về nền văn minh Minoa và bí ẩn của các bản khắc Linear B, và tự hứa với mình là sẽ giải mã bằng được nó. Chính từ ngày đó, một nỗi ám ảnh nảy sinh và đeo bám theo Ventris suốt cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng sáng chói của ông.

        Bảng 21 Hệ thống của Kober biểu thị mối quan hệ giữa các ký tự Linear B

                  Nguyên âm I Nguyên âm II
Phu âm 1             37          05            
Phụ âm II             41          12            
     
        Khi mới 18 tuổi, ông đã tóm tắt lại những ý tưởng ban đầu về Linear B trong một bài báo được công bố sau đó trên tạp chí danh tiếng American Journal of Archaeology (Tạp chí Khảo cổ học của Mỹ). Khi gửi bài báo, ông đã rất thận trọng giấu các biên tập viên của tạp chí tuổi của mình vì sợ không được xem trọng. Bài báo của ông đã ủng hộ rất mạnh mẽ những chỉ trích của Ngài Arthur đối với thuyết ngôn ngữ Hy Lạp, trong đó ông khẳng định: “Thuyết cho rằng tiếng của người Minoa có thể là tiếng Hy Lạp tất nhiên là dựa trên sự thiếu suy xét một cách thận trọng đến tính hợp lý lịch sử”. Bản thân ông tin rằng Linear B có liên quan đến tiếng Etrusca. Đây là một quan điểm hợp lý vì có bằng chứng cho thấy người Etrusca đã đến từ Aege trước khi định cư tại Italia. Mặc dù bài báo của ông không nhằm vào việc giải mã song ông kết luận một cách tự tin rằng: “Việc đó có thể sẽ làm được”.

        Nhưng rồi Ventris trở thành một kiến trúc sư chứ không phải một nhà khảo cổ học chuyên nghiệp, song niềm dam mê Linear B vẫn không hề phai nhạt nên ông dành hết thời gian rảnh rỗi để nghiên cứu mọi khía cạnh của thứ chữ viết này. Khi nghe tin về công trình của Alice Kober, ông đã rất sốt sắng tìm hiểu các thành quả của bà, và thậm chí ông còn viết thư cho bà để hỏi cụ thể hơn. Mặc dù bà đã qua đời trước khi trả lời ông, song những ý tưởng của bà vẫn sống mãi trong các công trình đã được công bố và Ventris đã nghiên cứu chúng một cách rất kỹ lưỡng. Ồng đánh giá cao tầm quan trọng của hệ thống các bảng của Kober và cố gắng tìm thêm các từ mới có chung gốc từ và các âm tiết nối. Ồng đã mở rộng thêm hệ thống các bảng của bà bằng các ký hiệu mới này, bao gồm các nguyên âm và phụ âm khác. Sau một năm miệt mài nghiên cứu, ông đã nhận thấy một điều gì đó thật đặc biệt, nó dường như gợi ý về một ngoại lệ của quy tắc cho rằng tất cả các ký hiệu trong Linear B đều là các âm tiết.

        Nói chung, dường như mọi người giờ đây đều đã nhất trí rằng mỗi ký hiệu của Linear B là sự kết hợp của một phụ âm với một nguyên âm (CV), và vì vậy khi đánh vần sẽ phải chia một từ thành các thành phần CV. Ví dụ, từ minute trong tiếng Anh, sẽ được đánh vần là mi-nu-te, một tập hợp gồm ba âm tiết cv. Tuy nhiên, có nhiều từ không thể phân chia thành các âm tiết cv được. Ví dụ, nếu chúng ta chia từ “visible” thành các cặp chữ cái, chúng ta sẽ được vi-si-bl-e, như vậy thì xem ra không ổn, vì nó không bao gồm một dãy chỉ gồm các cặp âm tiết CV: ở đây có một âm tiết hai phụ âm và thừa chữ e ở đuôi từ. Ventris cho rằng người Minoa khắc phục vấn đề này bằng cách chèn vào một âm i câm tạo ra âm tiết làm đẹp -bi-, nên từ này giờ sẽ được viết thành visi-bi-le, đúng là một sự kết hợp của các âm tiết cv.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #127 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2020, 06:32:43 am »


        Tuy nhiên, đối với từ invisible thì lại có vấn đề. Một lần nữa lại cần phải chèn vào các nguyên âm câm, lần này là sau n và sau b, để chuyển chúng thành các âm tiết cv. Hơn nữa, còn phải giải quyết cả nguyên âm i ở đầu từ: i-ni-vi-si-bi-le. Chữ cái đầu i không thể dễ dàng chuyển thành âm tiết cv, vì nếu thêm phụ âm câm vào đầu từ có thể sẽ dễ gây ra nhầm lẫn. Tóm lại, Ventris kết luận rằng phải có những ký hiệu Linear B biểu thị cho những nguyên âm đơn, được sử dụng trong các từ bắt đầu bằng một nguyên âm. Các ký hiệu này dễ phát hiện vì chúng chỉ xuất hiện ở đầu các từ. Ventris đã tính toán xác suất từng ký hiệu xuất hiện ở đầu từ, giữa từ và cuối từ. Ông quan sát thấy hai ký hiệu đặc biệt, là 08 và 61, phần lớn được tìm thấy ở đầu từ, và kết luận rằng chúng không biểu thị cho âm tiết mà là các nguyên âm đơn.


Hình 60 Michael Yentris.

        Ventris đã công bố các ý tưởng của mình về các ký hiệu nguyên âm và sự mở rộng hệ thống bảng của Kober trong loạt sách Work Notes (Ghi chép làm việc) và gửi chúng cho các nhà nghiên cứu Linear B khác. Vào ngày 1 tháng Sáu năm 1952, ông đã công bố kết quả quan trọng nhất của mình trong Work Note số 20, một bước ngoặt trong việc giải mã Linear B. Ồng đã dành hai năm cuối đời để mở rộng thêm hệ thống bảng của Kober như trình bày ở Bảng 22. Bảng gồm năm cột nguyên âm và 15 hàng phụ âm, tổng cộng là 75 ô, với 5 ô phụ thêm cho các nguyên âm đơn. Ventris đã điền các ký hiệu vào khoảng một nửa số ô. Bảng này là một kho thông tin quý báu. Chẳng hạn, từ hàng thứ 6, có thể nói ký hiệu âm tiết 37, 05 và 69 cùng có chung một phụ âm, VI, song lại có nguyên âm khác nhau là 1, 2 và 4. Ventris không biết giá trị chính xác của phụ âm VI hay các nguyên âm 1, 2, và 4, và đến lúc này, ông vẫn cưỡng lại được sự cám dỗ của việc gán các giá trị âm cho các ký hiệu đó. Tuy nhiên, ông cảm thấy rằng đây chính là lúc để nghe theo một số linh cảm, dự đoán một vài giá trị âm và kiểm định các hệ quả rút ra từ đó.


        Bảng 22 Bảng mở rộng của Yentris về các mối quan hệ giữa các ký tự trong Linear B. Mặc dù bảng không xác định rõ các nguyên âm hay phụ âm, song nó đã nêu bật được ký tự nào cùng có chung nguyên âm và phụ âm. Chẳng hạn, tất cả các ký tự trong cột đầu tiên có chung nguyên âm, được đánh số 1.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #128 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2020, 06:33:23 am »


        Ventris chú ý đến ba từ xuất hiện lặp đi lặp lại trên một số tấm Linear B: 08-73-30-12, 70-52-12 và 69-53-12. Chỉ dựa trên trực giác, ông đoán rằng các từ này có thể là tên của các thị trấn quan trọng. Yentris đã suy đoán rằng ký hiệu 08 là một nguyên âm và vì vậy tên của thị trấn đầu tiên phải được bắt đầu bằng một nguyên âm. Chỉ có một cái tên quan trọng phù hợp với yêu cầu này là Amnisos, một hải cảng quan trọng. Nếu ông đúng thì ký hiệu thứ hai và thứ ba, 73 và 30, sẽ biểu thị các âm -mi- và -ni-. Hai âm tiết này đều có chứa cùng một nguyên âm là i, nhu vậy thì 73 và 30 phải ở cùng một cột nguyên âm trong bảng. Quả đúng là nhu vậy. Ký hiệu cuối cùng, 12, biểu thị âm -SO-, và nhu vậy không còn ký hiệu nào biểu thị âm s. Ventris quyết định tạm thời bỏ qua chuyện âm s này và đi đến kết quả dịch như sau:

        Thị trân 1 = 08-30-12 = a-mi-ni-so = Amnisos Đây chỉ là phỏng đoán, song ảnh hưởng của nó đến bảng của Ventris là rất lớn. Chẳng hạn, ký hiệu 12, có thể biểu thị cho -SO-, thuộc cột nguyên âm số 2 và hàng phụ âm số 7. Vì vậy, nếu dự đoán của ông chính xác thì tất cả các ký hiệu âm tiết khác trong cột nguyên âm thứ 2 sẽ có chứa nguyên âm 0, và tất cả các ký hiệu âm tiết trong hàng phụ âm thứ 7 sẽ có chứa phụ âm s.

        Khi Ventris xem xét đến thị trấn thứ 2, ông nhận thấy rằng nó cũng có chứa ký hiệu 12, tức âm tiết -S0-. Các ký hiệu khác là 70 và 52, đều cùng trong cột nguyên âm như -SO-, tức là các ký hiệu này cũng có chứa nguyên âm 0. Đối với thị trấn thứ 2, ông có thể điền -so- và o vào các vị trí thích hợp và để lại những chỗ trống của các phụ âm chưa biết, và thu được kết quả sau:

        Thị trấn 2 = 70-52-12 =?o-?o-so =?

        Liệu nó có phải là Knossos? Các ký hiệu có thể biểu thị kono-so. Một lần nữa, Ventris lại vui vẻ bỏ qua vấn đề thiếu chữ cái cuối cùng s, ít nhất là vào lúc này. Ông hài lòng nhận thấy rằng ký hiệu 52, giả định là biểu thị -no-, ở cùng một hàng phụ âm với ký hiệu 30, giả định là biểu thị -ni- trong Amnisos. Điều này là chắc chắn vì nếu chúng có chung phụ âm n thì chúng phải thực sự ở trên cùng một hàng phụ âm. Sử dụng thông tin từ các âm tiết của Knossos và Amnisos, ông điền các chữ cái vào tên thị trấn thứ 3:

        Thị trấn 3 = 69-53-12=??-?i-so

        Chỉ có một cái tên có vẻ thích hợp là Tulissos (tu-li-so), một thị trấn quan trọng nằm ở trung tâm Crete. Một lần nữa, chữ cái cuối cùng s lại bị thiếu và một lần nữa Ventris lại tạm lờ đi vấn đề này. Giờ thì ông đã xác định được ba địa danh và giá trị âm tiết của tám ký hiệu khác nhau:

        Thị trấn 1 = 08-73-30-12 =a-mi-ni-so = Amnisos
        Thị trấn 2 = 70-52-12 =ko-no-so = Knossos
        Thị trấn 3 = 69-53-12 =tu-li-so = Tulissos

        Việc xác định được tám ký hiệu này có ý nghĩa rất lớn. Từ đây Ventris có thể suy ra các giá trị phụ âm và nguyên âm của các ký hiệu khác trong bảng, nếu chúng ở trên cùng một hàng hoặc một cột. Kết quả là rất nhiều ký hiệu đã tiết lộ một phần ý nghĩa âm tiết của chúng và một số có thể được xác định đầy đủ. Chẳng hạn, ký hiệu 05 trong cùng một cột với 12 (so), 52 (no) và 70 (ko) và vì vậy phải chứa nguyên âm o. Bằng quá trình lập luận tương tự, ký hiệu 05 ở cùng một hàng với 69 (tu), và vì vậy có chứa phụ âm t. Kết quả, ký hiệu 05 biểu thị cho âm tiết -to-. Đến ký hiệu 31, nó ở cùng một cột với ký hiệu 08, cột a, và cùng hàng với ký hiệu 12, hàng s. Vì vậy ký hiệu 31 biểu thị cho âm tiết -sa-.

        Việc suy ra các giá trị âm tiết của hai ký hiệu 05 và 31 là đặc biệt quan trọng vì nó cho phép Ventris đọc được hai từ trọn vẹn, đó là 05-12 và 05-31, thường xuất hiện ở cuối các bản kiểm kê. Ventris đã biết ký hiệu 12 biểu thị cho âm tiết -SO-, vì ký hiệu này xuất hiện trong từ Tulissos, và do vậy 05-12 có thể được đọc là to-so. Và từ còn lại, 05-31, có thể được đọc là to-sa. Đây quả là một kết quả đáng kinh ngạc. Vì các từ này luôn xuất hiện ở cuối các bản kiểm kê, nên các chuyên gia cho rằng chúng có nghĩa là “total” (tồng cộng - ND). Lúc này Ventris đọc chúng là toso và tosa, giống một cách kỳ lạ với các từ tossos và tossa trong tiếng Hy Lạp cổ, là dạng giống đực và giống cái của từ có nghĩa là “rất nhiều“. Ngay hồi mới 14 tuổi, từ thời điểm được nghe Ngài Arthur Evans nói chuyện, ông đã tin rằng ngôn ngữ của người Minoa không thể là tiếng Hy Lạp. Nhưng giờ đây ông lại khám phá ra các từ là bằng chứng rõ ràng ủng hộ cho quan điểm coi tiếng Hy Lạp là ngôn ngữ của Linear B.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #129 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2020, 06:34:39 am »


        Chính văn tự Cypriot cổ đã cung cấp một số bằng chứng sớm nhất chống lại quan điểm xem Linear B là tiếng Hy Lạp, vì nó gợi ý rằng các từ của Linear B ít khi có đuôi là s, trong khi đó đuôi này lại rất thông dụng trong tiếng Hy Lạp. Ventris đã khám phá ra rằng thực sự thì các từ trong Linear B hiếm khi có đuôi s, song có thể điều này chỉ đơn giản là vì việc bỏ s đi là một phần trong quy ước viết nào đó. Aminisos, Knossos, Tulissos và tossos đều được đánh vần thiếu chữ s ở cuối, cho thấy người viết đơn giản là không hề quan tâm đến chữ s, để người đọc tự điền vào sự thiếu hụt hiển nhiên này.

        Chẳng bao lâu sau, Ventris đã giải mã được một số từ khác, cũng có liên quan đến tiếng Hy Lạp, song ông vẫn hoàn toàn chưa tin chắc Linear B là chữ viết tiếng Hy Lạp. Về lý thuyết, một số từ mà ông giải mã được đều có thể coi như những từ vay mượn trong ngôn ngữ Minoa. Một người nước ngoài đến một khách sạn ở Anh có thể nghe thấy một số từ như “rendezvous” hay “bon appetit”, song sẽ là sai lầm nếu cho rằng người Anh nói tiếng Pháp. Hơn nữa, Ventris cũng đã gặp các từ không có ý nghĩa gì đối với ông, điều này lại cung cấp bằng chứng nữa ủng hộ cho thứ ngôn ngữ còn chưa biết cho tới lúc đó. Trong Work Note 20, ông không hoàn toàn chối bỏ thuyết tiếng Hy Lạp song ông gọi đó là “một sự lạc hướng vô nghĩa”. Ông kết luận: “Nếu tiếp tục theo đuổi thì tôi ngờ rằng hướng giải mã này không sớm thì muộn cũng sẽ đi đến bế tắc, hoặc tự nó tiêu tan vì phi lý”.

        Mặc cho sự nghi ngại đó, Ventris vẫn theo đuổi hướng tiếng Hy Lạp. Trong khi Work Note 20 còn đang được phát hành thì ông đã khám phá được thêm nhiều từ Hy Lạp nữa. Ông đã xác định được từ poimen (người chăn cừu), kerameus (thợ gốm), khrusoworgos (thợ kim hoàn) và khalkeus (thợ đúc đồng), và ông thậm chí còn dịch được cả một số cụm từ hoàn chỉnh. Đến lúc này thì không có sự phi lý đáng sợ nào chặn đường đi của ông nữa. Đây là lần đầu tiên trong ba ngàn năm, chữ viết câm lặng của Linear B lại thì thầm lên tiếng một lần nữa, và ngôn ngữ mà nó nói không nghi ngờ gì nữa chính là tiếng Hy Lạp.

        Trong quá trình giải mã nhanh chóng này, Ventris tình cờ được mời phỏng vấn trên đài BBC để thảo luận về bí ẩn chữ viết của người Minoa. Ông quyết định đây là một cơ hội lý tưởng để công bố những khám phá của mình. Sau một hồi thảo luận tẻ ngắt về lịch sử của Minoa và Linear B, ông đã đưa ra một tuyên bố có tính cách mạng của mình: “Trong suốt mấy tuần vừa qua, tôi đã đi đến kết luận rằng các bản khắc đất sét ở Knossos và Pylos, rốt cuộc, phải được viết bằng tiếng Hy Lạp - một thứ tiếng Hy Lạp khó và cổ xưa, bởi vì nó có trước thời Homer tới 500 năm và được viết ở dạng khá tắt, song dù sao thì vẫn là tiếng Hy Lạp”. Một trong các thính giả của buổi phát thanh đó là John Chadwick, nhà nghiên cứu thuộc Đại học Cambridge, người đã rất quan tâm đến việc giải mã Linear B từ những năm 1930. Trong chiến tranh, ông từng là nhà giải mã ở Alexandria, nơi ông đã phá được mật mã của người Italia, trước khi chuyển đến Bletchley Park, nơi ông đã giải được mật mã của người Nhật Bản. Sau chiến tranh, một lần nữa ông lại thử giải mã Linear B, nhưng lần này ông sử dụng những kỹ thuật mà ông đã học được trong thời gian làm việc với mật mã quân sự. Tiếc thay, ông mới chỉ đạt được chút ít thành công.

Hình 61 John Chadwick.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM