Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 10 Tháng Bảy, 2020, 08:09:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến khu Đồng Bò  (Đọc 916 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2020, 07:40:54 pm »

*
*   *

Người chiến sĩ cách mạng lúc đầu ra đi đầu đội trời, chân đạp đất, áo bà ba, quần xà lỏn, đi đâu nhờ dân ở đó... Vừa lo công tác đánh giặc; vừa lo ăn, lo mặc... Ăn, uống, mặc... là tất cả những vấn đề phải lo của người chiến sĩ bất kỳ ở đâu, nhưng ở một chiến khu ngay sát nách cơ quan đầu não của địch, nằm giữa vòng vây quân thù, nhất là trong kháng chiến chống Mỹ, chính là những thử thách gay gắt, sống còn. Nhiệm vụ quan trọng ấy phải được giải quyết tốt cùng với những nhiệm vụ khác để tồn tại, chiến đấu và chiến thắng.

Để đảm bảo sự tồn tại của chiến khu, yếu tố đầu tiên là phải tuyệt đối giữ bí mật, vì vậy mọi cán bộ chiến sĩ phải thực hiện phương châm “đi không dấu, nấu không khói, nói đủ nghe, che ánh sáng”.

Đầu mối ra vào nơi ở thường là những nơi có hòn đá to, khó leo để vào ra không để lại dấu vết. Do đó mới có cái tên gộp “Leo dây” vốn là đầu mối ra vào của cơ quan huyện Vĩnh Xương (lúc đầu gọi là Trung Sơn). Nơi đây có một tảng đá to cao, dựng đứng, có cây sộp mọc trên. Rễ sộp chằng chịt bám chặt vào tảng đá, khi vào phải nắm rễ sộp để leo lên, khi ra thì đu dây để xuống. Qua tảng đá này còn phải băng qua hai dãy gộp đá dài nữa mới vào đến nơi ở. Đi lại trong khu vực cơ quan và vùng ngoại vi, thường thì anh em phải theo các bờ đá, cao thấp khác nhau còn gọi là “nhảy gộp”. Mỗi khi đi ra ngoài đất thì không được mang giày, dép vì để lại dấu vết, khó ngụy trang. Mỗi khi đi vào bìa đất phải có một tổ đi sau cùng để ngụy trang cho hết dấu vết.

Nơi ở thường là chỗ có đá to, có hang động và cây cối che kín. Để có thể ở được phải chặt cây gác đà, bện sạp và dựng cọc trong gộp để cột võng. Cây phải chặt thấp xuống dưới mặt gộp và chỉ được chặt những cây trong phạm vi gộp gần nơi ở, không được chặt cây ngoài bìa đất. Cành lá phải thu dọn, nhét sâu xuống dưới gộp. Trong gộp những chỗ bị mưa dột thì dùng nylon để che. Ở gộp Mít Nài (gộp K5), cơ quan Huyện Thị có làm 2 cái trại nhỏ để ở. Còn gộp Suối Lùng thì có trại của tổ liên lạc.

Lấy nước để sinh hoạt cũng là việc khó khăn. Nước thường ở những tầng gộp phía dưới, khi lấy nước anh chị em dùng đèn pin và chui xuống, phải dùng ca múc nước đổ vào ruột xe, cột chặt hai đầu để vác lên. Nơi khó, một người không thể vác lên được, phải có một người đứng trên để kéo lên. Nam giới đi lấy nước còn đỡ vì chỉ mặc một cái quần xà lỏn, còn các đồng chí nữ mỗi lần đi lấy nước thì phải tắm giặt, thay quần áo, rất vất vả. Về sau học tập kinh nghiệm của đồng bào dân tộc anh em đã có sáng kiến: chặt lồ ô (nứa) về thông hết mắt bắt thành đường ống dẫn nước từ trên cao xuống cho chảy vào giỏ chứa nước. Để chứa nước, anh em chặt nứa đan thành giỏ lớn rồi lót kỹ bằng nylon. Ruột xe dùng lấy nước xong phải cuốn gọn và giao cho người được phân công bỏ vào bao đề sẵn sàng di chuyển khi có báo động. Tất cả xoong nồi sau bữa ăn cũng được làm như vậy. Người phụ trách cơ quan, đơn vị thường xuyên nhắc nhở, kiểm tra. Khi có địch lùng sục, cơ quan phải di chuyển thì mọi dụng cụ nhà bếp đã sẵn sàng đi theo người được phân công đến chỗ ở mới. Việc di chuyển, nhảy gộp, mang vác dụng cụ nhà bếp thật hết sức vất vả. Mỗi khi bị mất bất cứ thứ gì, mua sắm lại không phải là dễ đàng. Cơ quan phải gửi cho đội công tác, đội công tác gửi cho cơ sở bí mật mua sắm để sẳn. Đến khi có chuyến đi về làng mới có dịp mang về. Mà mỗi lán về làng chủ yếu là để vận chuyển lương thực, thực phẩm để có cái ăn.

Nấu nướng sao cho địch không phát hiện được khói cũng là một việc rất công phu. Củi nấu dùng những cành khô ở trong gộp, đem về gác lên trên gián bếp để sấy cho thật khô. Chiều tối mới được đi kiếm củi, khi bẻ củi phải bẻ sao cho tiếng kêu thật nhỏ. Những lúc căng thẳng (có hiện tượng hoặc được tin địch đi lùng sục), trước khi đi lấy củi phải tổ chức đi trinh sát quanh vùng. Nhiệm vụ lấy củi là nhiệm vụ chung của tất cả mọi người.

Ở trong gộp đã vậy, khi cơ quan đóng ở bìa rừng hay các đồng chí ở đội công tác phải thường xuyên ở bìa rừng thì việc ăn ở, đi lại, nấu nướng lại càng khó hơn nhiều. Ho cũng không dám ho lớn, nói phải nói thật nhỏ, lâu ngày mỗi khi có dịp về hậu cứ (Khánh Sơn), lên đến Suối Cua, đồng chí nào cũng la hét thật to cho nó xả hơi.

Gia tài của người chiến sĩ Đồng Bò thật giản dị ngoài cái để đánh giặc ra, phần còn lại là tấm nylon, cái võng, dây dù, một chiếc dao găm, một bình toong, một chiếc khăn đùm cơm vắt hay bắp rang, gạo rang... Mỗi một món vật chiếm một chỗ đứng trong cuộc sống và chiến đấu, tất cả đều được nằm gọn trong chiếc bao mang của mỗi người. Những chiến sĩ thuộc các đơn vị được tăng cường về thì có ba lô, còn các đồng chí cán bộ chính trị, đội công tác thì dùng bao đựng bột mì. Bao đựng bột mì được nhuộm màu xám bằng ruột pin rồi cột dây để mang. Giây đeo thì dùng loại dây dù cứng của địch có bề rộng khoảng ba phân rồi cắt ra may với túi bột mì, vậy là có được cái ba lô. Tất cả chỉ có vậy, bao nhiêu đó không thừa, không thiếu... Nhưng đó không phải chỉ là phương tiện mà nó là hình ảnh của những vấn đề lớn hơn: tấm nylon đó là chiếc phao bơi của một chiến khu ven biển, gần sông; cái khăn khi thì đùm cơm vắt, lúc thì nắm bắp rang hay gạo rang, đó là khẩu phần ăn trên đường ra trận, cái mà nhân dân đã tần tảo, chắt chiu bằng cả mồ hôi, nước mắt và máu. Hơn nữa, hành trang gọn nhẹ cũng giúp cho sự vận động linh hoạt của mỗi cán bộ chiến sĩ khi nhảy gộp đi công tác hay về làng, đảm bảo giữ bí mật. Ngoài ra người chiến sĩ Đồng Bò còn có tài sản chung là cái ruột xe. Ruột xe có thể dùng để lấy nước ở trong gộp, để mang gạo, mắm, cá, cất tài liệu; còn có thể sử dụng đựng phân và nước tiểu khi nằm hầm bí mật “bám dân, bám làng”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #41 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2020, 07:42:01 pm »

Vốn là một căn cứ cách mạng nằm giữa Nha Trang, Diên Khánh và Cam Ranh, phía Đông giáp biển, lại có đường Quốc lộ 1 và đường sắt xuyên Việt bao quanh từ phía Bắc vòng lên phía Tây chạy về phía Nam, chiến khu Đồng Bò ở trong thế cô lập, bị địch bao vây nên việc liên lạc, tiếp tế lương thực, thực phẩm là yếu tố sống còn của chiến khu.

Lúc đầu mỗi tuần một chuyến, về sau mỗi tuần hai chuyến, liên lạc của cơ quan Huyện, Thị và liên lạc của tỉnh gặp nhau ở một địa điểm hẹn trước để chuyển giao thư từ, tài liệu và đưa đón cán bộ đi công tác. Mỗi chuyến liên lạc phải đi từ 2 đến 3 đồng chí. Những năm 1965 - 1967 liên lạc thường đi từ bìa rừng Võ Kiện - An Ninh hoặc từ Xuân Sơn - Đồng Nhơn băng qua làng, qua quốc lộ, lên gặp liên lạc của tỉnh ở vùng gộp Đại Điền Đông. Trên trục đường đi, được một số cơ sở giúp đỡ nắm tình hình. Những năm về sau thì đi về phía Cam Ranh, băng qua quốc lộ vùng thôn Phú Bình (xã Cam Tân) rồi sang chân núi phía bên kia (thường gọi là chân đồi Quan Sát). Đường giao liên này đi từ cơ quan lên bìa rừng Phú Bình thì đi trong rừng nên có thể đi ban ngày. Tới gần bìa rừng khoảng 3, 4 giờ chiều, chọn một điểm cao nào đó để quan sát đoạn đường sẽ đi qua. Đến tối sẩm mới xuống bìa rừng, băng qua đường quốc lộ... Sau khi gặp liên lạc của tỉnh chuyển giao thư từ, tài liệu xong thì quay trở lại bìa rừng bên này kiếm chỗ cột võng ngủ, sáng sớm mới đi về cơ quan.

Tháng 6/1962 đến tháng 5/1964 tỉnh đã cử một tổ cơ yếu điện đài về hoạt động tại Đồng Bò. Sau đó đến năm 1966, tỉnh chính thức tăng cường cho chiến khu Đồng Bò một tổ cơ công, cơ yếu và một đài vô tuyến điện 15w. Nhờ có điện đài việc liên lạc giữa Huyện - Thị với tỉnh và Khu được thường xuyên và chặt chẽ hơn.

Việc liên lạc giữa cơ quan Thị ủy, Huyện ủy, Thị đội, Huyện đội với cơ sở ở nội, ngoại thị được thông qua các đội công tác. Ngoài ra thường kết hợp các chuyến về làng để chuyển lương thực, thực phẩm lên chiến khu. Những năm từ 1969 về sau, địch tăng cường hơn nữa việc phục kích, gài mìn ở ngay các bìa rừng Võ Kiện, An Ninh, Võ Dõng, Đồng Nhơn, Bút Sơn... Việc ra vào làng rất khó khăn, rất ít khi vào làng mà không bị phục kích, bị đánh, bị mìn.

Từ đó, ta có sáng kiến tổ chức hộp thư liên lạc. Thư từ, mệnh lệnh, chỉ thị, báo cáo được viết rất ngắn gọn, gói lại thật chặt, thật nhỏ. Ban đêm liên lạc đem bỏ vào hộp thư. Hộp thư thường đặt ở các vị trí bất ngờ đối với địch. Ban ngày cơ sở cốt cán được giao nhiệm vụ giả đi làm đồng đến đó lấy tài liệu rồi chuyển cho đội công tác bên trong và gửi báo cáo của các đội công tác về chiến khu. Việc tổ chức các hộp thư liên lạc đã tránh cho ta nhiều tổn thất, nhất là từ năm 1970 về sau. Hộp thư tồn tại lâu và được sử dụng nhiều nhất là hộp thư của G5 ở thôn An Ninh.

Như vậy, thời chống Mỹ, chiến khu Đồng Bò sử dụng các hình thức liên lạc: liên lạc đường bộ qua đường dây bất hợp pháp, đường dây sử dụng hộp thư và liên lạc qua vô tuyến điện. Nhờ đó đường dây liên lạc thông suốt, sự chỉ đạo của Đảng kịp thời, phong trào cách mạng Nha Trang - Vĩnh Xương được liên tục và phát triển.

Lúc đầu tổ liên lạc của Huyện, Thị quá ít người nên lực lượng tham gia làm công tác liên lạc còn gồm cả các đồng chí làm nhiệm vụ cấp dưỡng, tuyên huấn, kinh tài... kể cả các đồng chí ở các đơn vị lực lượng vũ trang. Từ năm 1969 về sau, công tác liên lạc ngày được chuyên môn hóa hơn.

Đường dây liên lạc được thông suốt kể cả trong những lúc khó khăn nhất bởi vì nó được trả giá bằng máu của hàng chục cán bộ chiến sĩ. Tại trục liên lạc với tỉnh, các đồng chí: Hạ, Trí, Thành... là những tấm gương hy sinh vì sự nghiệp chung. Đi liên lạc với cơ sở lại càng gian nan, nguy hiểm hơn, hàng loạt chiến sĩ đã ngã xuống như các đồng chí: Nhị, Châu, Lục, Thanh, Hợi, Việt, Nguộc, Phùng, Được, Minh... Quê hương mãi mãi ghi công của các đồng chí!

Lương thực, thực phẩm là những vấn đề có mặt trong mọi nghị quyết hậu cần và phương án chiến đấu, công tác của chiến khu Đồng Bò.

Những năm 1960 đến 1965, trăng thượng tuần hàng tháng, thông qua các đường dây liên lạc, cán bộ chiến sĩ ở Đồng Bò tổ chức đi nhận tiếp tế của cơ sở nội ngoại thị chuyển lên. Đồng thời tổ chức đem các mặt hàng thiết yếu như: muối, vải, văn phòng phẩm... chuyển lên căn cứ của tỉnh và lấy bắp về ăn. Lúc tình hình bớt căng thẳng, những đêm trăng sáng cán bộ chiến sĩ ở chiến khu còn tổ chức mò tôm, cá để cải thiện - gọi là “đi nằm nước” hay đi đánh cá tại vùng biển Vườn Dừa (Sông Lô). Mới nghe qua thì thấy việc vận chuyển lương thực, thực phẩm cũng đơn giản, nhưng thực tế lại rất gian nan, vất vả và lắm hy sinh. Mỗi lần tổ chức đi về căn cứ của tỉnh, đến kho dự trữ lương thực Suối Dầu (Khánh Sơn) phải băng qua vùng địch kiểm soát, đoàn đi vận chuyển lại đông, rất dễ để lại dấu vết. Nhiều lúc bị địch phục kích, phải quay về hoặc bị hy sinh. Đồng chí Hạ là một trong những tấm gương hy sinh anh dũng, chặn đánh địch khi gặp phục kích, tạo điều kiện để đồng đội rút lui (1964). Nhiều lúc vào mùa mưa, bắp nhận về bị ướt, mốc... không dễ ăn. Lúc khó khăn, không vận chuyển lương thực kịp thời, ở Đồng Bò, cán bộ chiến sĩ bữa đói, bữa no.

Từ cuối 1965, phong trào mở ra, nhiều vùng địch rệu rã, lỏng kèm, trong phạm vi của tỉnh đã có nhiều vùng giải phóng, Nha Trang - Vĩnh Xương không phải thường xuyên làm nhiệm vụ mua nhu yếu phẩm như: muối, vải, thuốc tây, văn phòng phẩm... chuyển lên vùng căn cứ của tỉnh nữa. Giai đoạn này, nhân dân ở các thôn Thái Thông (Vĩnh Thái), Đồng Nhơn, Bút Sơn (Vĩnh Trung), Vĩnh Điềm Thượng (Vĩnh Hiệp), Phú Vinh (Vĩnh Thạnh), Xuân Lạc, Phú Nông (Vĩnh Ngọc), Phú Ân Nam, An Ninh, Võ Kiện (Diên An)... vẫn là những nơi đã cung cấp lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác cho chiến khu. Trong những năm từ 1965 đến giải phóng Nha Trang - Khánh Hòa (02/4/1975) có những chuyến về làng mang gạo đi một đoàn hàng trăm người. Chuyến đi ít nhất cũng hàng chục người.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #42 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2020, 07:43:49 pm »

Từ cuối năm 1968 về sau, bị địch đánh phá ác liệt, đội công tác Đông Nam bị hy sinh và bị bắt(1), cơ sở bị bể vỡ, đứt liên lạc trong một thời gian dài. Mãi đến đầu năm 1971, đồng chí Nguyễn Chánh, Trưởng ban cán sự nội thị liên hệ được với cơ sở cốt cán ở Bãi Trủ là gia đình chị Nguyễn Thị Cúc, Thị đội Vĩnh Trang cử tổ đặc công nước do anh Ngân chỉ huy bơi qua Bãi Trủ để liên lạc. Đội công tác Đông Nam được tổ chức lại. Các đồng chí: Phạm Sở, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Việt, Trần Thanh Châu... là những người đã vượt qua nhiều khó khăn, với ý chí và quyết tâm cao mới đứng chân lại được ở Hòn Rớ và tìm cách móc nối lại các cơ sở ở vùng này. Cũng từ đó, đồng chí Mười Đo mới thường xuyên đứng chân ở Vĩnh Trường để ra vào nội thị hoạt động. Từ đó phong trào ở đây được phục hồi nhanh chóng. Nhưng để đảm bảo cho bàn đạp chỉ đạo nội thị ở đây được tồn tại lâu dài nên nhiệm vụ tiếp tế lương thực, thực phẩm ở cánh này được đặt xuống hàng thứ yếu.

Để có lương thực, thực phẩm cung cấp cho cán bộ chiến sĩ ở chiến khu, các đội công tác ngoài việc xáy dựng cơ sở, tổ chức vũ trang tuyên truyền, diệt ác phá kèm, nắm tình hình địch, vận động tài chính, chuyển đổi đô la(2)... còn phải tổ chức cho cơ sở và quần chúng tốt mua lương thực, thực phẩm để có sẵn cho cán bộ, chiến sĩ ở chiến khu về lấy.

Mỗi lần vào làng lấy lương thực, thực phẩm phải tổ chức như một cuộc hành quân chiến đấu rất gian khổ, vậy mà vẫn phải hy sinh rất nhiều. Có trận hy sinh hàng chục đồng chí như trận suối Hang Cọp (bìa rừng Đồng Nhơn), trận Rộc Giông (Phú Vinh) năm 1967. Nhiều trận ở cánh đồng Võ Kiện, An Ninh, Võ Dõng, Gò Đu... những năm 1966, 1967 về sau. Nếu không tính đợt Tổng công kích Mậu Thân 1968 tại Nha Trang, số cán bộ chiến sĩ bị hy sinh trong khi đi lấy lương thực nhiều hơn trong các trận tổ chức chiến đấu. Mỗi hạt gạo, hạt bắp... đến thuốc men, quần áo... rõ ràng là thâm đẫm mồ hôi và máu của cán bộ, chiến sĩ và của đồng bào các gia đình cơ sở cách mạng ở Nha Trang - Vĩnh Xương. Bất chấp tù đày khảo tra, kể cả hy sinh đến tính mạng, đồng bào vẫn luôn một lòng hướng về cách mạng. Hơn thế nữa, nhiều thành viên gia đình cơ sở lại trở thành những chiến sĩ cách mạng. Và thật khó rạch ròi đâu là sự đóng góp, hy sinh của đồng bào cơ sở, đâu là sự hy sinh của cán bộ chiến sĩ.

Đồng Bò là chiến khu ở sát nách địch, không có dân và diện tích cũng hẹp nên trong kháng chiến chống Mỹ không thể tổ chức tăng gia sản xuất được. Năm 1969, thực hiện chủ trương phải sản xuất tự túc một phần lương thực, thực phẩm, Ban Thường vụ Liên huyện thị Vĩnh Trang đã chỉ đạo cho các cơ quan của Huyện Thị đưa một bộ phận lên làm rẫy tại Ba Cụm (Khánh sơn). Trại sản xuất có nhiệm vụ phải sản xuất đủ ăn và cung cấp một phần cho bộ phận phía trước. Lúc đầu trại sản xuất do đồng chí Lương Ca (Nguyễn Thiện) phụ trách. Trại đã sản xuất được một số bắp, lúa, mì... và chăn nuôi heo, gà để phục vụ cho cán bộ chiến sĩ mỗi khi về hậu cứ có cái để ăn và mang về. Đặc biệt là cung cấp thực phẩm cho cơ quan vào mỗi dịp lễ tết. Ngoài ra lại làm nhiệm vụ chăm sóc điều dưỡng một số thương bệnh binh, đồng thời là nơi mà các đồng chí nữ của chiến khu Đồng Bò lên ở trong thời kỳ thai sản.

Có được lương thực, thực phẩm và các đồ dùng sinh hoạt thiết yếu rồi, việc cất giấu, dự trữ, bảo quản cũng không dễ dàng. Bộ phận hậu cần của cơ quan ở chiến khu dùng tole làm thùng để chứa. Ngoài ra còn sử dụng cả ống pháo, thùng đại liên, Ống đèn của địch bỏ lại sau các cuộc càn để làm đồ chứa lương thực, thực phẩm như gạo, bắp, đường... Cất giấu trong gộp sâu thường ở những chỗ khô ráo, kín đáo, trở ngại khó đi để heo, gấu không ăn và khi địch đi càn quét, lùng sục không phát hiện được.

Sau Tết Mậu Thân, địch phản kích điên cuồng, tiến hành bình định cấp tốc hết đợt này đến đợt khác. Chúng thường xuyên lùng sục, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, gắt gao nên lúc này muối phải mua từng lon, gạo không có đủ, ta phải chuyển qua mua một phần lúa và phải mang lúa về trong gộp giã lấy gạo. Anh em có sáng kiến dùng vỏ quả bom vỡ hoặc cái mũ đầu bom Napal để làm cối giã. Cối giã làm bằng nửa quả bom vỡ rất tốt, giã được nhiều gạo và giã mãi không hư. Tìm được cái cối như vậy rất khó, ở chiến khu chỉ có anh em C4 (đại đội pháo) mới có cái cối giã như vậy, còn cơ quan Huyện Thị ủy và các đơn vị khác giã gạo bằng cái mũ đầu bom Napal. Loại này giã được ít gạo hơn nhưng rất sẵn vì địch thường xuyên dội loại bom này xuống chiến khu. Để cho nó đứng được mà giã gạo rất khó vì nó nhọn và ngắn, phải có người giữ hoặc đào lỗ chôn xuống mới giã được và giã một thời gian thì thủng phải tìm cái khác thay.

Ở chiến khu lúc nào cũng phải đảm bảo bí mật mà giã gạo thì tiếng chày giã kêu ình ịch nên thường giã gạo vào lúc mờ sáng hoặc 4, 5 giờ chiều. Trước khi giã gạo phải đi trinh sát vùng xung quanh. Giã gạo bằng cách này chỉ vừa tróc vỏ lúa, chứ không giã trắng được nên những năm từ 1969 về sau ở chiến khu cán bộ chiến sĩ toàn ăn gạo lức, rất khó nhai. Riêng anh em ở các đội công tác thì được ăn gạo mua trong làng.


(1) Năm 1969, đội công tác và một số thanh niên chống bắt lính là 17 người do đồng chí Phan Bền, đội trưởng chỉ huy, hầu hết hy sinh ở Hòn tre, một số bị địch bắt.
(2) Năm 1969-1970, Vĩnh Trang được tỉnh giao nhiệm vụ đổi đô la ra tiền ngụy cho tỉnh
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #43 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2020, 07:44:28 pm »

Trận càn của quân Nam Triều Tiên tháng 10/1968, chúng bỏ lại nhiều thùng đạn và thùng ống đựng nước... Anh em đã thu lượm về để chứa lương thực, thực phẩm và cất giấu tài liệu ở dưới gộp sâu, rất tốt. Cũng đợt càn này, địch đã cung cấp cho ta một số đồ hộp để cải thiện, về sau những lần càn khác chúng rút kinh nghiệm: Nếu đồ hộp còn thì chúng dùng lưỡi lê đâm lủng hoặc đem đốt hay đào lỗ chôn.

Về thực phẩm, những năm 1968 về trước chủ yếu là nước muối nấu sôi cho bột ngọt vào làm nước mắm chấm lá rừng như: lá gà mổ, lá sộp, lá da, lá quýt rô non, cỏ đá, rau rịa, lá gạc nai... Thỉnh thoảng mới có ít nước mắm, cá khô, cá mặn. Những năm sau này đồ hộp nhiều thì mua thịt hộp, cá hộp về bỏ thêm muối, bột ngọt và nước vào kho làm thức ăn.

Thời đánh Mỹ, lá gà mổ là món quà tặng đặc biệt của thiên nhiên đối với chiến khu. Trong chống Mỹ, lá rau gà mổ đã đi vào lịch sử Đồng Bò cũng như củ mài, củ chụp lá bép, rau tàu bay trong lịch sử chiến khu miền Đông Nam Bộ và Trường Sơn, Tây Nguyên. Đó là thứ dây leo của rừng, sau những trận mưa dầm chất độc, bom Napal cháy, nó lại leo lan tràn. Lá gà mổ hơi nhớt, ăn nhiều thì bị đi lỏng.

Các loại rau khác cũng có nhiều như lá da, lá cừa, lá sộp non... Sau này phát triển thêm rau rịa, củ dớn, rau san đá. Rau san đá là thứ cỏ mọc trên đá, cọng to, lá dài, có thứ màu tím, có thứ màu trắng. Rau này luộc chấm mắm ăn ngon nhưng nhai nó kêu rạo rạo như lính Tây đi giày đinh nên gọi là “rau san đá”. Củ dớn cũng là loại cây mọc nhiều và bám chặt trên đá, có lớp lông tơ màu nâu. Hái về gọt sạch, xắt ra xào, ăn xơ xơ, cứng cứng, được anh em gọi là su hào Đồng Bò. Rau rịa thì rất ngon, xào, nấu canh ăn vừa ngọt, vừa béo, dai dai, càng nhai thì càng béo.

Về mùa Xuân thì phổ biến là lá cừa, lá da, lá sộp. Lá sộp non, lá cừa non, lá da non ăn vừa chua chua chát chát. Lá da, lá cừa thì chát nhiều hơn chua nên không ngon bằng lá sộp. Lá sộp cũng như rau rịa được coi là rau cao cấp ở Đồng Bò. Lá sộp non với mắm nêm, kho nước thì ngon tuyệt! Sau này anh chị em còn hái, muối chua để ăn lâu dài.

Đến mùa xay, trái xay nấu chua ăn cũng rất ngon. Đọt cây thiên tuế non, cạo sạch lông, bẻ khúc, rửa sạch đem kho với dầu cũng là món ăn ngon ở chiến khu. Loại cây này mọc nhiều ở bìa rừng và vùng Trảng É.

Khi đi công tác gặp đọt thiên tuế non, rau rịa, lá sộp non thì anh em tranh thủ hái đem về. Mỗi khi mà có những thứ rau đó thì anh em cơ quan rất mừng vì có được bữa ăn cải thiện. Còn nhiều loại lá cây khác, hái nhấm thử thấy không đắng, ăn thử thấy không sao thì cũng trở thành rau ăn.

Sau năm 1968, địch thả bom và bắn phá nhiều, ở gộp Suối Lùng, cây gãy đổ nhiều, làm trống một khoảnh đất gần gộp cơ quan. Lúc đầu anh em tận dụng để trồng rau cải để ăn, về sau phải phá bỏ vì không đảm bảo bí mật. Anh em khắc phục khó khăn đem từng bao đất, lá mục trải trên những hòn đá trước mặt gộp, lấy cây chận không cho đất trôi đi rồi gieo cải, trồng ổ qua, ớt... lên đó, hàng ngày vác nước bằng ruột xe tưới. Vậy mà rau cũng tốt, cũng có ăn nhưng không nhiều lắm.

Các đội công tác ở bìa rừng thường xuyên ra vào làng nên thực phẩm phong phú hơn, trừ những lúc tình hình căng thẳng, bữa ăn còn có cá, có rau, tối thiểu cũng có được trái mít non nấu canh. Những đồng chí khi vào làng, xin được quả mít đem về được gọi đùa là “chiến sĩ lái núc”.

Cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ hoạt động ở chiến khu Đồng Bò gặp rất nhiều thiếu thốn, khó khăn. Những lúc địch càn quét, lùng sục căng thẳng thì gạo không có mà ăn, phải ăn lá gà mổ thay cơm. Thiếu thốn nhất là chất đạm, nhiều khi cả năm anh em không biết đến miếng thịt, miếng cá ra sao. Ở trong rừng thấy con rắn mối nào anh em cũng tìm cách chận bắt.

Ở Đồng Bò, thú rừng như: dộc, khỉ, chồn, cheo, lợn rừng, nai... có nhiều, nhưng vì đảm bảo bí mật nên không được săn bắn.

Tết năm 1966, cơ quan huyện Vĩnh Xương đóng ở bìa rừng Võ Kiện (suối Khô), để có cái Tết vui vẻ, lãnh đạo huyện cử một tổ vào trảng tranh Năm Nọc để săn bắn. Anh em đi cả tuần lễ nhưng khi về chỉ có một con chồn nhỏ. Thế là cái Tết này cả cơ quan và lực lượng vũ trang của huyện khoảng 60 đồng chí ăn Tết với một con chồn nhỏ và một con chó của đồng bào cho. Cơ quan thị xã Nha Trang đóng ở vùng suối Khu A cũng tổ chức săn bắn, may mắn hơn được một con nai.

Những năm 1970 về sau, địch bớt lùng sục trong núi hơn trước, mỗi lần ở chiến khu đón Tết, cơ quan thường cử một bộ phận mang muối, vải, bột ngọt... lên Ba Cụm đổi heo, làm thịt muối đem về ăn Tết. Vùng Ba Cụm - Tô Hạp (Khánh Sơn) có nhiều gà nhưng khó mang về vì sợ qua vùng địch, gà kêu dễ bị lộ.

Sau đợt cắm cờ phân vùng ranh giới giữa ta và địch năm 1973, toàn bộ lực lượng Huyện Thị tập trung về học tập, chỉnh huấn gần 10 ngày tại gộp Suối Lùng. Tổ săn bắn phục vụ cho hội nghị đã hạ được 6 con nai trong dịp này. Thịt nai ăn không hết được xẻ ra phơi khô để dùng dần và còn làm quà tặng cho cơ sở. Suốt mười mấy năm ròng, chưa bao giờ cán bộ chiến sĩ có được những bữa ăn ở chiến khu thịnh soạn như vậy. Từ đó về sau việc săn bắn và đánh bẫy để cải thiện ở chiến khu được làm thường xuyên hơn. Những bữa ăn của cán bộ chiến sĩ, lâu lâu lại có thịt nai, dộc, sơn dương...
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #44 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2020, 07:45:36 pm »

*
*   *

Món ăn tinh thần ở chiến khu Đồng Bò là rađiô. Mỗi cơ quan đơn vị thường có vài chiếc. Nhờ có rađiô mà anh chị em ở chiến khu theo dõi được tình hình thời sự trong nước và thế giới. Qua rađiô, cán bộ chiến sĩ ở chiến khu được tin Hồ Chủ tịch kính yêu qua đời. Tin Bác mất làm tất cả mọi người bùi ngùi xúc động. Lễ truy điệu được tổ chức ở chiến khu tuy đơn sơ nhưng không kém phần trang trọng, mọi cán bộ chiến sĩ đều rưng rưng nước mắt, quyết tâm biến đau thương thành hành động cách mạng. Di chúc của Người được cán bộ chiến sĩ tổ chức học đi học lại cho đến khi thuộc lòng.

Còn báo chí, bản tin thì ít ỏi, anh chị em chuyền tay nhau để đọc. Vào những lúc rãnh rỗi, anh chị em còn tổ chức đánh cờ, chơi bài...

Tuy đời sống tinh thần của cán bộ chiến sĩ còn thiếu thốn, nghèo nàn, cuộc sống đầy khó khăn, gian khổ, phải chấp nhận mất mát, hy sinh nhưng ở chiến khu Đồng Bò vẫn tràn đầy không khí lạc quan. Vui nhất là lúc nhận được thư nhà hay khi nghe tin thắng giặc và vào những dịp cơ quan có tổ chức đám cưới, đám cưới giữa những người đồng chí tuy đơn sơ nhưng trang trọng và ấm tình đồng đội.

Thường kỳ hàng tháng, hàng quý các đơn vị tổ chức sinh hoạt, hội họp, học tập, phát động thi đua. Nội dung chủ yếu thường là kiểm điểm công tác của đơn vị và từng cá nhân. Sinh hoạt văn hóa văn nghệ thì gần như không có bởi lý do đảm bảo giữ bí mật, anh chị em có ca hát thì cũng chỉ dám hát nho nhỏ mà thôi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2020, 07:45:59 pm »

*   *
*

Chiến khu Đồng Bò tuy có nhiều rừng cây rậm rạp, cán bộ chiến sĩ chủ yếu sống dưới các hang gộp nhưng là vùng gần biển nên khí hậu tốt, mát mẻ dễ chịu. Cán bộ chiến sĩ hoạt động ở đây thời chống Mỹ khó khăn, thiếu thôn nhiều bề nhưng nhờ được ăn gạo và không lạt muối, lại được nằm võng có bọc dù chống muỗi đốt nên cũng ít bị sốt rét và đau bệnh. Nếu bị thương thì điều kiện thuốc men cũng đỡ hơn một số vùng khác vì đã có đồng bào cơ sở lo. Hầu hết những ca bị thương không quá nặng đều được điều trị ở đây. Những ca bị thương nặng mới chuyển về hậu cứ của tỉnh để điều trị. Nhưng đường về hậu cứ xa,. đường rừng núi, dốc cao, phải băng qua Quốc lộ 1, qua làng rất dễ bị địch phục kích. Mỗi lần chuyển một ca thương binh nặng về tuyến trên là phải chuẩn bị chu đáo như cho một trận đánh.

Cuối tháng 12/1954 y tá trưởng Lê Quang Dũ đi theo cơ quan Tỉnh ủy về Đồng Bò kiêm nhiệm phục vụ chăm sóc sức khỏe cho các cơ quan đơn vị của Nha Trang và Vĩnh Xương.

Đầu năm 1959 cơ quan Tỉnh ủy chuyển lên căn cứ miền núi Khánh Sơn. Từ năm 1959 đến năm 1961 ở chiến khu Đồng Bò không có cán bộ y tế. Để giải quyết khó khăn đó, áp dụng kinh nghiệm trong kháng chiến chống Pháp, mỗi cán bộ tự trang bị cho mình một túi thuốc cấp cứu gồm: Lọ dầu cù là, chai dầu song thập, thuốc viên kháng sinh, thuốc cảm, đau bụng, thuốc sốt rét, viên sinh tố, củ gừng, hạt nén, bông băng..., băng cá nhân, thuốc đỏ, thuốc tím. Chiến sĩ cán bộ đa số biết cắt lể, cạo gió, xoa bóp, tiêm thuốc... để tự cứu mình và đồng đội khi ốm đau hoặc bị thương, (từ năm 1965 trở đi, còn thêm thuốc Pénicylin tan chậm tiêm thẳng). Nhờ đó đã vượt qua bước khó khăn ban đầu.

Năm 1962 y sĩ Nguyễn Nam Tiến đi tập kết về công tác tại Đồng Bò. Sau đó thêm y tá Ngọc Anh và y tá Hà ở Bắc về. Như vậy ở Đồng Bò lúc này có 1 y sĩ, 2 y tá. Các đồng chí phân công nhau phục vụ chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho cán bộ chiến sĩ Huyện, Thị. Y tá đi theo phục vụ các đơn vị vũ trang, y sĩ phụ trách chung, phục vụ cho cơ quan Huyện, Thị.

Chiến khu Đồng Bò được thiên nhiên ưu đãi thuận lợi cho việc ẩn núp tránh bom đạn, có hang gộp rộng ở được vài ba chục người, có chỗ cất dấu thương binh lúc địch càn quét.

Cuối năm 1966 Ban Dân y bổ sung cho Nha Trang y tá Phù Bảy và y sĩ Đoàn Long Phẩm về huyện Vĩnh Xương. Các đồng chí cán bộ y tế ở Đồng Bò chẳng những điều trị thương bệnh binh mà còn thay nhau đi theo lực lượng vũ trang, đội công tác vào sâu trong lòng địch phục vụ chiến đấu, công tác và kết hợp thu mua mang cõng thuốc men, lương thực, thực phẩm từ trong lòng địch về chiến khu nuôi dưỡng thương bệnh binh. Đồng Bò rất thiếu rau tươi, vì vào làng ưu tiên cho thuốc men và lương thực nên không lấy được rau. Cán bộ y tế phải lặn lội leo trèo trên gộp đá, ngọn cây hái rau phục vụ thương binh.

Cuối năm 1967, được trên tăng cường một bác sĩ để xây dựng bệnh xá. Bệnh xá vào cuối năm 1967 có 1 bác sĩ và 2 y sĩ. Đó là bác sĩ Huỳnh Văn Phước, y sĩ Lê Thị Tâm (Minh Tâm), y tá Lê Kỳ Nam, về sau có thêm y tá Lê Thị Độ và Nguyễn Thị Yến. Chuẩn bị chiến dịch Tổng công kích Mậu Thân 1968, tỉnh tăng cường thêm 1 bác sĩ, 3 y sĩ và một số cán bộ của Ban Dân y để cùng các bác sĩ quân y của trung đoàn Sao Thủy hình thành bệnh xá tiền phương của mặt trận Nha Trang.

Đoàn cán bộ y tế Ban Dân y tăng cường cho Nha Trang, Vĩnh Xương có: bác sĩ Huỳnh Tân Chức, y sĩ Trần Khánh Lân, y sĩ Võ Thị Mỹ Ngọc (Song Vũ), Lê Văn Sương (Túy), các y tá Lương Duy Trưng, Võ Thị Hà (Dậu), Trương Thị Thọ, Lê Văn Chiến và y tá Hẩm. Quân y trung đoàn 20 có bác sĩ Tuyến, Chí, y sĩ Sơn, Khương và Phương.

Bệnh xá tiền phương do bác sĩ Phước phụ trách từ gộp Mỹ Sơn (Đồng Bò Hạ, dưới Dốc Gáo) chuyển lên gộp Cột Cờ ở cuối Đồng Bò Trung gần Đồng Bò Thượng.

Đội mổ tiền phương II đứng chân tại suối Mạnh Hùng (núi Chín Khúc) cách đường sắt trên 100m thuộc xã Vĩnh Trung do bác sĩ Chức phụ trách.

Một bộ phận được phân công vào nội thị có y sĩ Trần Khánh Lân đi với Ban chỉ huy tiền phương; y tá Lê Thị Độ và Nguyễn Thị Yến, y sĩ Võ Thị Mỹ Ngọc (Song Vũ), Trương Thị Thọ vào nội thành trước làm công tác chính trị vận động quần chúng xuống đường.

Quân y trung đoàn 20 đóng cách chỉ huy sở trên 100m. Sau về phối hợp với bệnh xá tổ chức hoàn phẩu cho thương binh từ mặt trận chuyển về (các y tá Lê Thị Độ, Nguyễn Thị Yến, Nguyễn Thị Minh Thư chuyển sang công tác chính trị vận động quần chúng do Thị ủy Nha Trang quản lý).

Sau chiến dịch Mậu Thân, Quân y trung đoàn 20 theo đơn vị làm nhiệm vụ nơi khác, tháng 9/1968 y sĩ Trần Khánh Lân về Ban Dân y, số còn lại tiếp tục phục vụ ở Đồng Bò. Ngày 13/10/1968 địch tập trung quân càn quét lớn Đồng Bò. Ngày 21/10/1968 bác sĩ Huỳnh Tấn Chức đưa đoàn thương binh nhẹ theo đoàn Thị đội do đồng chí Võ Hồng Quân - Thị đội trưởng cùng một số cán bộ y tế lách ra ngoài vòng càn của địch. Số thương binh nặng không đi được ở lại có các đồng chí: Trương Văn Thịnh, Tô, Nguyễn Lòng, Trần Lan, Oanh, Sum, Hay, Bảo, Khôi... ở lại phục vụ có bác sĩ Huỳnh Văn Phước, các y sĩ Võ Thị Mỹ Ngọc, Nguyễn Nam Tiến, Lê Thị Tâm, các y tá Trương Thị Thọ, Lương Duy Trưng, phục vụ có đồng chí Xễ... và tổ bảo vệ của trung đoàn Sao Thủy (trung đoàn 20). Ngày 31/10/1968 địch đánh vào bệnh xá, y tá Trương Thị Thọ và thương binh Tô và Khôi, Oanh, Sum bị bắt, y sĩ Nam Tiến và Lương Duy Trưng may mắn thoát được về hậu cứ, còn lại tất cả đều bị hy sinh (lúc này bệnh xá ở tại gộp Cột Cờ). Sau trận càn, bệnh xá bị xóa sổ, y cụ thuốc men mất hết, địch bao vây gắt gao nên việc điều trị nuôi dưỡng thương bệnh binh rất khó khăn. Trước khó khăn đó được Liên Huyện Thị ủy tập trung ưu tiên cho bệnh xá, từ đó khó khăn được tháo gỡ. Cơ sở nội thị gởi lên một bộ đồ mổ và thuốc men phục vụ cho thương binh. Tháng 4/1970 y sĩ Đoàn Long Phẩm cùng đơn vị chiến đấu vào làng bị thương gãy chân, phải chuyển về tuyến trên điều trị, y sĩ Huỳnh Thuần từ Diên Khánh được điều về Nha Trang. Sau đó y sĩ Lê Duy Sáu thay cho y sĩ Nguyễn Nam Tiến đi ra Bắc. Lúc này y tế tổ chức gọn nhẹ theo sát cơ quan đơn vị Vĩnh Trang di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác, tổ chức bệnh xá lưu động phục vụ công tác và chiến đấu. Các đồng chí cán bộ y tế đã vượt qua gian khổ, khắc phục khó khăn, cứu chữa được nhiều thương bệnh binh ở chiến khu Đồng Bò.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #46 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2020, 07:47:03 pm »

*   *
*

Trên một mảnh đất đầy thử thách gian lao đứng sát ngay trung tâm đầu não của kẻ thù ở tỉnh Khánh Hòa, lại gần như hoàn toàn cô lập trong vòng vây quân thù thời đánh Mỹ, vậy mà chiến khu Đồng Bò vẫn tồn tại và chiến thắng.

Quân thù muốn lột da Đồng Bò và các khu vực ngoại vi nhưng gốc rễ cách mạng đã ở trong lòng người thì chúng không thể càn quét, đào bới hay phá hủy được. Trên địa bàn Nha Trang - Vĩnh Xương vẫn tồn tại các đội công tác bám dân, bám làng ngay trong lòng địch. Hơn thế nữa, các đội du kích mật cùng đội vũ trang công tác đội nắp hầm bí mật hay từ những nơi bất ngờ nhất thường xuyên tấn công địch, diệt ác phá kềm, phối hợp với chiến công diệt địch của lực lượng vũ trang đứng chân ở chiến khu, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị và binh vận. Có thể nói những cán bộ chiến sĩ các đội công tác là những người chiến đấu ở tuyến đầu của những tuyến đầu. Ở trận tuyến ấy, có biết bao những tấm gương hy sinh anh dũng như các đồng chí: Ngũ Hữu Tám, Phan Khá (Duy), Trần Thị Bẻo, Quyết, Trường Xuân, Phan Bền, Hải, Sơn, Nguyễn Xuân Bình... Máu của các đồng chí đã góp phần làm nên tượng đài lịch sử hùng vĩ của chiến khu Đồng Bò. Và còn có biết bao nhiêu tấm gương chiến đấu kiên cường quả cảm của các đồng chí khác như nữ đồng chí Nguyễn Thị Đo, một Thị ủy viên từng lăn lộn ở các đội công tác, người mà ai cũng từng biết ra tù vào khám như đi chợ. “Còn non còn nước còn trời, cô còn giám thị tui thời còn vô”. Đó là câu trả lời giám thị trại giam khi mụ chất vấn đồng chí Đo, tại sao ra tù mới hai năm đã bị bắt trở lại?

Ngũ Hữu Tám là con của bà Hai Lạch (tức Lê Thị Ngân) ở Phú Ân Nam (Diên An). Khu vườn rộng vài sào của bà Hai có những căn hầm bí mật nuôi giấu cán bộ du kích cả thời đánh Tây rồi đánh Mỹ. Bản thân ông bà Hai cũng là đội viên đội tự vệ hoạt động tại làng. Người dân sống ở Cây Dầu Đôi (Diên Khánh) giờ đây vẫn chưa quên những chiến công và sự hy sinh anh dũng của Ngũ Hữu Tám - người mà bọn địch mệnh danh là “con hổ dữ vùng Diên An” và chỉ trong hai năm (1967 - 1968) ông bà Hai đã chịu thêm hai cái tang của những đứa con thân yêu là Ngũ Hữu Bảy và Ngũ Thị Mười. Họ không chết nơi xa mà ngã xuống ngay trên đất làng, nơi họ đã sinh ra, lớn lên và đi theo cách mạng. Có những tháng ngày nỗi đau đớn làm cho bà Hai như phát điên lên được. Bà chửi tụi tề ngụy tàn bạo, dã man đã giết chết con bà... Rồi nén đau thương bà càng hăng hái tham gia công tác. Đêm đêm cán bộ chiến sĩ vẫn đi về bám trụ ngay trong nhà.

“Hiến dâng cho Đảng, cho nhân dân đến giọt máu cuối cùng”. Đối với chị Trần Thị Bẻo, đó không chỉ là một lời thề mà là sự chứng minh bằng chính cuộc sống của mình. Chị đã hy sinh vào một đêm đầu xuân 1969, ngay trên mảnh đất Xuân Lạc (Vĩnh Ngọc) quê nhà. Người nữ đội trưởng công tác ở tuổi bốn mươi ấy đã ngã xuống trong khi chiến đấu ghìm chân quân giặc để đồng đội rút lui. Bốn mươi tuổi đời, chị Bẻo đã có trên hai mươi năm công tác.

Làm sao có thể kể hết được những tấm gương chiến đấu anh dũng, ngoan cường của cán bộ chiến sĩ các đội công tác, nhưng có thể nói chiến khu Đồng Bò không thể tồn tại nếu khỏng có các đội công tác “bám dân, bám làng”. Gác đội công tác chính là cây cầu nối giữa chiến khu và nhân dân. Cán bộ chiến sĩ đội công tác phải làm giỏi ở cả ba mũi giáp công: Vũ trang, đấu tranh chính trị và binh vận, làm tốt công tác vận động nhân dân nuôi giấu cán bộ, nắm tình hình địch, đóng góp sức người, sức của cho cách mạng. Chính những việc làm đó đã bảo đảm cho sự tồn tại của chiến khu.

Và trận đánh láu dài, gian lao có quan hệ nhất đối với sự tồn tại của chiến khu Đồng Bò chính là việc chén cơm manh áo của chiến sĩ. Người ta hỏi, hàng trăm cán bộ chiến sĩ cùng với bao nhiêu cơ quan nằm trên một chiến khu đã tồn tại như thế nào trong suốt cả trận đụng đầu lịch sử vô cùng quyết liệt? Nhân dân Nha Trang - Vĩnh Xương đã một lòng hướng về cách mạng đã đùm bọc, che chở, nuôi dấu cán bộ chiến sĩ nằm vùng và tiếp tế cho chiến khu... vì Đồng Bò cũng là căn cứ giữa lòng dân.

Một câu chuyện nhỏ hồi năm Mậu Thân 1968 đả nói lên khá đậm tình cảm các gia đình cơ sở cách mạng ở Nha Trang, Vĩnh Xương. Số là, đồng chí Nguyễn Du, 18 tuổi, chiến sĩ lực lượng vũ trang Thị đội, người tỉnh Thái Bình, một hôm về Phú Vinh lấy gạo bị địch đánh, lạc đơn vị, vì chưa quen địa hình nên lội qua sông Cái về hướng Hòn Thơm mà cứ tưởng là bơi qua sông Đồng Nhơn để về Đồng Bò. Khi lên Hòn Thơm, thấy toàn đá là đá, khác hẳn với những viền cỏ tranh của hòn Chín Khúc mới biết đã lạc hướng, quay trở lại, bơi qua sông vào làng thì trời đã gần sáng. Du chỉ biết có mỗi một nhà cơ sở mà đơn vị ghé lấy gạo lúc đầu hôm là nhà chú Ba Kéo, bèn tìm đến gõ cửa. May mà thím Ba nhớ chủ “nhỏ nhỏ nói tiếng Bắc” lúc đầu hôm hỏi thím xin riêng hai lon muối nên mới đưa vào nhà, cho ăn uống xong dẫn ra giấu trong đám mía. Suốt tháng ấy chú Ba giả đau bệnh không lột lá mía. Chú Hai Xe và các gia đình quanh xóm Miễu Cổ Chi thường đến “thăm người bệnh” đem theo đủ thứ bánh trái. Đó là cách bà con che mắt địch nuôi nấng anh bộ đội Cụ Hồ. Anh Du được nuôi nấng che chở, ngày càng mập trắng ra. Trong lúc đơn vị không biết đồng chí hy sinh hay bị bắt, theo dõi đài Nha Trang không thấy gì, nắm tin tức ở các nơi cũng không nghe ngóng gì, đơn vị tưởng đồng chí bị chết trôi ở sông. Gần hai tháng sau đồng chí Hồng Quân và Phan Thị Hạnh về Phú Vinh mới biết, rồi tổ chức đưa lên chiến khu. Sau đó nhà chú Ba Kéo xây hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ. Hầm bí mật trong vườn nhà chú đã từng nuôi giấu nhiều đồng chí cán bộ lãnh đạo Huyện, Thị ủy. Các đồng chí Trần Quốc Khánh, Nguyễn Văn Tự, Lương Duy Ánh, đều đã về ở nhà chú và được gia đình chăm sóc rất tận tình.

Năm 1968, chuẩn bị cho chiến dịch Tổng công kích Mậu Thân, tham gia trong việc vận chuyển vũ khí, truyền đơn có bà Phan Thị Lào, ngụy trang dưới hình thức đi chợ, dưới những gánh rau của bà Lào là các loại vũ khí và truyền đơn, đưa vào nội thị trót lọt. Những gánh rau của bà đã góp phần vào những đòn sấm sét giáng vào kẻ thù ở Nha Trang. Sau Tết Mậu Thân, cả vợ chồng dâu con 5 người nhà bà đều bị địch nhốt vào nhà lao. Lúc đó, bà Lào có một người con đang ngồi tù Côn Đảo, còn những người con khác hầu hết đã đi thoát ly tham gia cách mạng. Chồng bà là ông Lê Tiết một địa chủ kháng chiến. Trước Cách mạng Tháng Tám, ông vốn là phó tổng. Trong cuộc kháng chiến gia đình ông đã đóng góp lớn về người và của cho cách mạng. Gia đình ông bà Tiết ở Đồng Nhơn (Vĩnh Trung) đã từng nuôi dưỡng rất nhiều cán bộ, nhiều đồng chí là cán bộ lãnh đạo như: Lưu Văn Trọng, Nguyễn Nghiềm, Đặng Nhiên...
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #47 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2020, 07:48:04 pm »

Ở xóm Giếng Đá (Hòn Tre) tất cả có 12 hộ gia đình thì tất cả đều là cơ sở cách mạng. Các gia đình cơ sở ở đây gắn bó với đội công tác Đông Nam và các đơn vị đặc công. Ở đây, đồng bào giúp đỡ ghe thuyền, tiếp tế lương thực cho Đồng Bò, nuôi dưỡng cán bộ chiến sĩ bám trụ ở đảo... Trong xóm có gia đình bà Nguyễn Thị Lẫm, nhà bà lúc đầu là cơ sở cách mạng, về sau có 3 người cùng sinh hoạt trong một chi bộ đó là bà, chồng bà ông Nguyễn Đình Mai, con bà là chị Nguyễn Thị Cúc. Các chiến công đánh tàu địch ở cảng Cầu Đá, ở đảo Hòn Tre hầu hết đều có sự đóng góp không nhỏ của gia đình bà Lẫm.

Trên đây chỉ là một vài mẩu chuyện nhỏ về sự hy sinh, đóng góp cho cách mạng của nhân dân Nha Trang, Vĩnh Xương. Và người ta có thể hiểu vì sao trải qua những tháng năm ròng rã của cuộc kháng chiến chống Mỹ - ngụy, chiến khu Đồng Bò coi như đã hoàn toàn bị bao vây mà vẫn tồn tại và chiến thắng.

Suốt ba mươi năm trời, tính từ sau những ngày bao vây giam chân địch trong thị xã, cuộc chiến đấu thầm lặng, dai dẳng và hết sức gian lao của nhân dân Nha Trang - Vĩnh Xương và sự hy sinh to lớn của các chiến sĩ cách mạng tại Nha Trang - Vĩnh Xương đã giải thích cho sự tồn tại của một chiến khu giữa vòng vây quân thù.

Sống giữa lòng dân, chiến sĩ cách mạng ở Nha Trang - Vĩnh Xương, những người từ bốn phương của Tổ quốc quy tụ về đây, thường nhắc lên hai tiếng “Đồng Bò”. Đồng Bò đã trở thành quê hương của niềm thương nỗi nhớ của phần lớn những chiến sĩ ngày nào đã từng hoạt động cách mạng ở chiến trường Nha Trang - Vĩnh Xương. Đồng Bò còn là niềm tin tất thắng của nhân dân Nha Trang - Vĩnh Xương trong những thời kỳ đen tối nhất dưới kìm kẹp của địch.

Máu của chiến sĩ ta đổ xuống Đồng Bò và đổ xuống mảnh đất Nha Trang - Vĩnh Xương đã làm nên một tượng đài lịch sử hùng vĩ, một bản anh hùng ca của một vùng đất với vị trí và điều kiện thiên nhiên vô cùng độc đáo.

Trong lịch sử đấu tranh giữ nước và chống áp bức của dân tộc ta, vấn đề hậu phương và căn cứ địa luôn luôn chiếm vị trí hàng đầu và là một trong những vấn đề cơ bản quyết định sự thành bại, sống còn. Trong điều kiện dân tộc ta phải chiến đấu với kẻ thù hơn hẳn về tiềm lực kinh tế, quân sự thì điều kiện này càng có ý nghĩa đặc biệt. Nhận thức rõ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng với căn cứ địa và hậu phương, coi đó là một quy luật, suốt quá trình lãnh đạo chiến tranh cách mạng, Đảng ta luôn đặt vấn đề căn cứ địa và hậu phương ở vị trí, tầm vóc đã nói. Trong tác phẩm “Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta”, đồng chí Võ Nguyên Giáp viết: “Nói đến đấu tranh vũ trang, đến xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng thì không thể không nói đến vấn đề căn cứ địa cách mạng, vấn đề hậu phương của chiến tranh cách mạng”. Đó là “Những vùng giải phóng xuất hiện trong vòng vây của địch, cách mạng dựa vào đó để tích lũy và phát triển lực lượng của mình về mọi mặt, tạo thành những trận địa vững chắc về chính trị, quân kinh tế, văn hóa, lấy đó làm nơi xuất phát để mở rộng dần ra, cuối cùng tiến lên đánh bại kẻ thù lớn mạnh, giải phóng hoàn toàn đất nước. Căn cứ địa là chỗ đứng chân của cách mạng, đồng thời là chỗ dựa để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng; Trên ý nghĩa đó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách mạng”(1).

Với những tính chất trên, căn cứ cách mạng chính là nơi đứng chân của các bộ máy chỉ đạo, chỉ huy chiến tranh, là hậu cứ và là bàn đạp xuất phát của các lực lượng vũ trang và hoạt động vũ trang, là nơi tồn trữ và điều hành cung cấp hậu cần cho chiến tranh. Chiến khu Đồng Bò cũng không ngoài những quy luật về hậu phương, căn cứ đã nói, nó còn có đặc thù riêng gắn liền với hoàn cảnh địa lý, lịch sử, đặc điểm, tính chất chiến trường, gắn liền với vị trí, nhiệm vụ của các cơ quan lãnh đạo Đảng, cơ quan quân sự ở Nha Trang - Vĩnh Xương.

Từ việc xây dựng chiến khu Đồng Bò để chỉ đạo cuộc kháng chiến tại Nha Trang - Vĩnh Xương suốt 30 năm ròng, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm về xây dựng căn cứ:

Một là: Việc chọn địa điểm đặt căn cứ phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Phải căn cứ vào đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng.

- Vị trí được chọn đặt căn cứ phải dễ dàng liên lạc đi toàn chiến trường, đảm bảo sự chỉ đạo, chỉ huy nhanh chóng, kịp thời.

- Các mặt vị trí, địa hình, dân cư của địa điểm được chọn phải có thế tiến lui đều thuận lợi.

- Phải bảo đảm được cung cập hậu cần thường xuyên, lâu dài.

Hai là: Công tác phòng thủ căn cứ phải tuân thủ các nguyên tắc:

- Phòng thủ từ xa.

- Trong nội bộ khu vực căn cứ, việc phòng thủ càng phải thường trực, chặt chẽ, từ việc bố trí các khu vực đóng quân, tổ chức lực lượng bảo vệ, xây dựng nơi ăn, ở... đến các quy định bảo mật.

- Phải nắm chắc địch, phán đoán trước được tình hình, đồng thời luôn luôn chuẩn bị trước các căn cứ dự phòng, khi cần có thể di chuyển đến ngay.

- Quán triệt tư tưởng tiến công trong công tác phòng thủ và chiến đấu bảo vệ căn cứ.

Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau, vùng đất chiến khu Đồng Bò trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chắc chắn còn giữ một vai trò quan trọng. Đồng thời, những điều nhìn lại, tổng kết và tái hiện lịch sử quá trình xây dựng và phát triển, phát huy hiệu lực vùng căn cứ đó không chỉ có ý nghĩa lớn trong giáo dục truyền thống cho thế hệ hiện nay, mai sau mà còn đúc rút nhiều kinh nghiệm, tìm ra những vấn đề có ý nghĩa lý luận quân sự, từ đó góp phần đề ra chính sách xây dựng nền quốc phòng toàn dân.


(1) NXB Sự Thật. Hà Nội 1970. trang 89-90
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #48 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2020, 07:49:24 pm »

ĐỒNG BÒ NGÀY NAY

Mới đó mà đã vừa trọn một phần tư thế kỷ qua đi, kể từ những ngày lịch sử tháng tư năm 1975, khi những cán bộ, chiến sĩ cuối cùng rời chiến khu Đồng Bò, cùng với đoàn quân giải phóng tiến về giải phóng hoàn toàn Nha Trang, Khánh Hòa, góp vào chiến công chung của cả nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Lịch sử đã sang trang mới. Tiếp theo Cách mạng Tháng Tám 1945, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ kéo dài suốt 30 năm đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Giang sơn từ nay thu về một mối, đất nước sạch bóng quân thù, nước Việt Nam thống nhất bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

“Căn cứ cách mạng Đồng Bò”, “Chiến khu Đồng Bò”, hay “Mật khu Đá Hang” theo cách gọi của địch giờ đây đã thành một trong những khu di tích lịch sử và cách mạng đáng tự hào nhất của Nha Trang và tỉnh Khánh Hòa. Hiếm có một chiến khu cách mạng nào với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, hiểm trở tưởng như giữa chốn rừng sâu, núi thẳm nhưng lại nằm sát ngay một thành phố du lịch, chỉ cách trung tâm thành phố khoảng 5 đến 6 kilômét đường chim bay. Và đến nay mặc dù bị nạn phá rừng nghiêm trọng, cảnh quan ngày xưa nay đã đổi thay rất nhiều nhưng phần nào vẫn còn giữ được những dấu tích chủ yếu của những ngày kháng chiến gian khổ, anh hùng.

Một hệ thống hang động liên hoàn hoặc biệt lập được tạo hóa sắp xếp như dành sẵn cho một tập đoàn cứ điểm kiên cố, có sức chứa hàng trăm, hàng ngàn người rất thuận lợi, độc đáo. Những lối mòn chênh vênh trên lưng núi, những cây gỗ lớn dùng làm cột chống hay bắc qua khe đá cho người vượt qua, có những chỗ mòn vẹt do dấu chân. Những sạp tre, gỗ đơn sơ làm giường nằm kín đáo trong những gộp đá sâu, rộng như một “hội trường”, có sức chứa hàng trăm người dự họp hay xem biểu diễn văn nghệ. Những phiến đá phẳng lì nguyên khối hay đơn lẻ có thể tận dụng làm bàn viết, bàn ăn, ghế ngồi nằm rải rác. Những “cối giã gạo” thiên nhiên, những đoạn lồ ô nối nhau dùng làm đường ống dẫn nước từ khe suối vào hang còn nằm rải rác đây đó. Những vệt khói đậm nhạt mà thời gian chưa thể xóa mờ trên vách đá ở gộp “nuôi quân” như còn tỏa mùi thơm và hơi ấm... Còn nữa, chắc chắn trong nhiều kẽ đá, khe sâu của những gộp đá lặng thầm của lòng núi kia vẫn còn bí mật cất giữ nhiều hiện vật vô giá khác của lịch sử: một cuốn sổ ghi chép, những trang nhật ký, một đoạn văn, bài thơ, những bức thư của người thân, một mảnh vải dù, một tấm khăn thêu dở, một kỷ vật của tình yêu và cuộc sống được gói kín nhiều lần trong những mảnh nylông, túi nhựa, lọ đựng thuốc... mà chủ nhân của nó đã đi xa chưa có dịp trở về tìm lại, hoặc đã vĩnh viễn nằm lại ở một mảnh đất xa xôi nào của Tổ quốc...

Qua nhiều lần khảo sát, thăm dò lại khu di tích, cán bộ, nhân viên của Bảo tàng Nha Trang trong những năm trước đây và Bảo tàng Khánh Hòa trong nhưng năm gần đây vẫn tiếp tục phát hiện, sưu tầm thêm được nhiều hiện vật quý, trong đó có cả cây súng, những viên đạn được cất giữ khá cẩn thận, chỉ cần bỏ đi lớp mỡ bảo quản, lau chùi vẫn còn có thể sử dụng tốt.

Những cuộc hành quân “tiếp bước cha anh”, “về nguồn” của những lớp tuổi trẻ hôm nay đến với chiến khu Đồng Bò, một “bảo tàng sống” còn nóng hổi nhiều dấu tích một thời gian khổ, hào hùng của cha anh đi trước luôn là những hoạt động bổ ích, mang lại những ấn tượng và bài học khó quên đối với họ.

Mấy năm gần đây, vào những ngày kỷ niệm lớn, không chỉ có thanh thiếu niên, thành phố còn tổ chức cho những đại biểu là cán bộ lão thành, từng sống và chiến đấu ở Đồng Bò về thăm lại vùng chiến khu năm xưa để cùng với lớp trẻ ôn lại, hiểu và yêu thêm từng gộp đá, bụi cây, khe suối nơi này để cùng nhau gìn giữ, bảo vệ và phát huy truyền thống anh hùng vào công cuộc đổi mới hôm nay.

Nếu những gì thuộc di tích lịch sử và cách mạng của chiến khu Đồng Bò năm xưa luôn được quan tâm gìn giữ, bảo tồn, hạn chế đến mức tối đa những tác động của khí hậu, thời gian và các tác động khác của con người có thể làm thay đổi, biến dạng hoặc mất đi, thì ở tầm rộng hơn của cả vùng đất thuộc khu Đồng Bò từ ngày giải phóng đến nay đã có nhiều thay đổi lớn lao. Ngay sau ngày giải phóng 1975, một khu kinh tế mới của thành phố Nha Trang đã được xây dựng ở đây. Những người dân thành phố trước đây sống lệ thuộc vào nền kinh tế chắp vá, què quặt của chủ nghĩa thực dân mới, chủ yếu phục vụ cho bộ máy chiến tranh, nay không có công ăn việc làm; Những người dân từ nhiều vùng đất khác di tản vào, nay không có điều kiện trở về quê cũ; Những người tình nguyện bỏ những nghề nghiệp bấp bênh từng làm trước đây, nay muốn có cuộc sống lao động sản xuất ổn định, cả những cán bộ chiến sĩ và nhân dân tự nguyện đến đây góp phần xây dựng xã hội trong thời kỳ mới... đã trở thành những cư dân đầu tiên của khu kinh tế mới. Qua những khó khăn, thử thách ban đầu, vượt lên những hạn chế mang tính lịch sử, những ấu trĩ, giản đơn, chủ quan duy ý chí cùng hàng loạt những tác động tiêu cực, những trở ngại, ràng buộc không đáng có, khu kinh tế mới Đồng Bò từng bước ổn định và phát triển, là một mô hình xây dựng khu kinh tế mới tại chỗ thành công ở thành phố Nha Trang.

Từ khu kinh tế mới này, tháng 6 năm 1978, Chính phủ đã có quyết định cho phép thành lập một đơn vị hành chính mới lấy tên là xã Phước Đồng.

Với diện tích tự nhiên trên 7.500 hécta, dân số hiện nay là 5.675 người, bao gồm 4 thôn, cơ cấu kinh tế của xã được xác định là: nông - lâm - ngư nghiệp và du lịch. Xã Phước Đồng tuy còn nhiều khó khăn nhưng đã có bước phát triển nhanh chóng. Được sự quan tâm của Thành phố, Phước Đồng đã có sự đầu tư toàn diện những cơ sở hạ tầng ban đầu như đường giao thông, trạm xá, trường học, công trình thủy lợi và thủy điện nhỏ. Thành ủy Nha Trang đã có Nghị quyết số 09/NQ-TƯ ngày 24/7/1985 thể hiện quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân Nha Trang trong việc xây dựng một xã Phước Đồng giàu đẹp, nếp sống văn minh, nhanh chóng tiến kịp các xã ngoại thành khác.

Năm 1997, cầu Bình Tân, một cây cầu mới bắc qua dòng sông Tắc, nối khu vực nội thành với vùng đất mới được khai phá để xây dựng làng cá Hòn Rớ và khu công nghiệp hải sản tương lai của thành phố. Đây thực sự là một tin vui lớn với nhân dân thành phố Nha Trang, đặc biệt là với người dân Phước Đồng. Làng cá Hòn Rớ với dự toán kinh phí xây dựng gần 40 tỷ đồng, diện tích quy hoạch khoảng 30 hécta nằm phía Đông xã Phước Đồng là một trong những mô hình mới về làng nghề thủy sản, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế miền biển trong thời kỳ cả nước tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Số dân ban đầu của làng cá chủ yếu từ những hộ ngư dân được giải tỏa từ những tụ điểm dân cư làm nghề cá đã quá đông đúc, chật chội, gây ô nhiễm môi trường và khó khăn cho đời sống ngư dân ở khu vực Xóm Cồn, nay được tạo điều kiện di dời về. Khu Hòn Rớ được xây dựng thành 2 cụm: một dành cho khu dân cư gồm những căn nhà ở của các hộ gia đình cùng các công trình phục vụ công cộng được xây dựng theo một quy hoạch hợp lý nhất; Cụm còn lại dành cho các công trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thủy sản. Bến đậu ở đây có khả năng chứa 1.200 tàu thuyền đánh cá, có thể tiếp nhận được tàu 150 tấn.

Dự án làng cá và khu công nghiệp hải sản tương lai của thành phố được triển khai xây dựng ở Hòn Rớ thật sự tạo cho Phước Đồng và cả vùng đất ven biển phía Nam thành phố một sức bật mới để có thể phát huy tiềm năng, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, điều chỉnh, phân bổ lại địa bàn dân cư để đáp ứng yêu cầu mở rộng thành phố Nha Trang, phát triển mạnh mẽ hơn nữa hai ngành kinh tế quan trọng của thành phố là hải sản và du lịch theo mục tiêu chiến lược kinh tế của Nha Trang từ nay đến năm 2010.

Cùng với việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng để sớm hình thành làng cá và khu công nghiệp hải sản Hòn Rớ, tháng 8/1999 vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã chấp nhận cho lập dự án đầu tư xây dựng khu du lịch Sông Lô theo hướng phát triển chủ yếu loại hình du lịch sinh thái như tắm biển, leo núi, các khu vui chơi, giải trí, nhà hàng, khách sạn...

Trước đó, trong năm 1998, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ra quyết định về việc khoanh vùng và bảo vệ một số khu vực tại khu di tích lịch sử - cách mạng Đồng Bò, đồng thời tiếp tục hoàn chỉnh các thủ tục đề nghị Bộ Văn hóa thông tin công nhận việc xếp hạng chiến khu Đồng Bò là di tích cấp quốc gia.

Năm tháng sẽ qua đi, Nha Trang cùng cả tỉnh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ ngày càng thêm phát triển, đổi mới theo hướng “đàng hoàng hơn, to dẹp hơn”; Nhưng những gi là di tích lịch sử - cách mạng của chiến khu Đồng Bò mãi mãi là tài sản quý, được trân trọng, gìn giữ không chỉ cho hôm nay mà còn cho muôn đời con cháu mai sau. Bởi cùng một cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ những hiện vật, dấu tích của cách mạng và kháng chiến được lưu giữ, còn có cả những giá trị phi vật thể lớn lao, những bài học cụ thể, sinh động về truyền thống anh hùng, sự thông minh sáng tạo cùng ý chí sắt đá bảo vệ tự do, độc lập cho quê hương, đất nước của lớp lớp cha anh nối tiếp nhau tạo nên với bao mồ hôi, xương máu.

Chiến khu Đồng Bò mãi mãi là một điểm sáng tự hào trong lịch sử và đời sống của người dân Nha Trang và tỉnh Khánh Hòa.

Không chỉ ở giá trị lịch sử, văn hóa, phát triển kinh tế trước mắt và lâu dài, chiến khu Đồng Bò vẫn có một vị trí và vai trò đặc biệt trong bảo đảm an ninh quốc phòng cho Nha Trang và cả tỉnh với những ưu thế riêng mà ít có nơi nào sánh được.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9782


Lính của PTL


« Trả lời #49 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2020, 07:56:23 pm »



Toàn cảnh vùng gộp Dốc Gáo


Gộp Thị ủy ở vùng gộp Dốc Gáo


Gộp dưới - khu vực gộp Leo Dây



Vùng gộp Mậu Thân (còn gọi là gộp Liên Huyện Thị)


Quả bom địch ở vùng gộp Suối Lùng


Sạp ở vùng gộp Suối Lùng


Trạm quan sát của cơ quan Liên Huyện Thị ủy ở vùng gộp Suối Lùng


Giã gạo ở chiến khu Đồng Bò


Về thăm lại chiến khu xưa
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM