Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Mười, 2020, 10:08:04 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng (Đại tướng Lê Đức Anh)  (Đọc 1612 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #30 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:00:53 am »

Chương 8

CHỈ HUY CÁNH QUÂN HƯỚNG TÂY - TÂY NAM TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

 
Sau khi giải phóng tỉnh Phước Long, Bộ Tư lệnh Miền Tây bắt tay xây dựng kế hoạch tiến công giải phóng Sài Gòn. Chúng tôi thảo phương án sử dụng lực lượng, lấy lực lượng tại chỗ là chủ yếu, tính toán kỹ thấy thiếu một quân đoàn. Bộ Tư lệnh Miền họp thống nhất điện xin Trung ương đưa Quân đoàn 3 vào tăng cường cho B2. Cả Bộ Tư lệnh Miền gần như thống nhất là sẽ giải phóng Sài Gòn vào tháng 4, vì sang tháng 5 đã vào đầu mùa mưa ở Nam Bộ, việc cơ động của ta sẽ khó khăn; mà khó khăn nhất là hướng tây - tây nam Sài Gòn, vùng Long An với đồng nước, kênh rạch và sình lầy. Cùng với việc soạn thảo kế hoạch là xây dựng "quyết tâm chiến đấu”, sơ đồ đã phác ra năm hướng tiến công của chủ lực và lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị tại chỗ đánh vào sào huyệt cuối cùng của quân thù. Khi hai anh Lê Đức Thọ - Ủy viên Bộ Chính trị và Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng được Bộ Chính trị cử vào, các anh xem và nói: "Kế hoạch làm tốt, nhưng phải thêm quân".

Hướng ra tiền tuyến lớn, miền Bắc dốc toàn bộ sức mạnh to lớn của mình cho miền Nam. Miền Bắc đã chi viện liên tục, toàn diện cả sức người, sức của với nhịp độ ngày càng tăng, đáp ứng đòi hỏi của chiến trường miền Nam. Chỉ riêng bốn tháng đầu năm 1975, miền Bắc đã đưa nhanh vào miền Nam 110.000 cán bộ, chiến sĩ, 230.000 tấn vật chất các loại góp phần quyết định để quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi hoàn toàn.

Sau khi hoàn thành chuẩn bị chiến lược cả về thế và lực, cả ở miền Bắc và miền Nam, cuộc Tổng tiến công chiến lược của ta đã mở đầu. Ngày 4-3-1975, ta thực hiện cắt đường 19, đánh một số mục tiêu ở Pleiku để nghi binh tạo thế chiến dịch Tây Nguyên. Sáng ngày 10 tháng 3, ta đánh Buôn Ma Thuột, mở đầu chiến dịch Tây Nguyên, cũng là mở cửa đột phá của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy chiến lược mùa Xuân 1975. Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên.

Ngày 14 tháng 3, Nguyễn Văn Thiệu quyết định rút khỏi Tây Nguyên về Nha Trang, giữ đồng bằng. Ý định của địch là tháo chạy theo các đường 21, 19, 14, nhưng các con đường này đã bị ta chiếm giữ, địch buộc phải rút theo đường đi Cheo Reo. Đến 19 giờ ngày 16 tháng 3, Đại tướng Văn Tiến Dũng điện cho Bộ Tư lệnh Quân khu 5: "Địch rút chạy trên đường 7, tổ chức truy kích ngay"; cho lực lượng vũ trang Phú Yên kịp thời tổ chức đánh địch. Cuộc rút lui của địch bị bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên đánh tan rã và bắt sống. Ngày 16 tháng 8, lực lượng địa phương giải phóng Kon Tum, ngày 18 tháng 3, giải phóng Pleiku. Đến ngày 24 tháng 3, quân ta giải phóng Tây Nguyên.

Chiến thắng Buôn Ma Thuột và cả Tây Nguyên tạo ra bước phát triển nhảy vọt cả về thời cơ và thế chiến lược mới. Ngày 25 tháng 3, lực lượng quần chúng ở cả ba vùng chiến lược đã trong tư thế sẵn sàng phối hợp với bộ đội chủ lực thực hiện ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận và địch vận).

Phối hợp với hướng tiến công chiến lược của ta ở hướng chủ yếu Tây Nguyên và áp lực của các lực lượng chủ lực của Bộ, địch hoang mang, quân và dân Quân khu Trị - Thiên và Quân khu 5 đã đồng loạt tiến công xóa sổ hai quân đoàn, hai quân khu và một số trung đoàn cơ động của địch, giải phóng toàn bộ tỉnh Thừa Thiên - Huế (trưa 26 tháng 3); và 3 giờ chiều ngày 29 tháng 3, ta giải phóng Đà Nẵng.

Sau khi giải phóng Tây Nguyên, Huế, Quảng Nam, Bình Định, Quảng Ngãi, thì lực lượng Quân khu 7, Quân khu Sài Gòn - Gia Định, Quân khu 8, Quân khu 9 đã bám sát trong và ngoài đô thị với tư thế sẵn sàng phối hợp với quân chủ lực thực hiện ba mũi giáp công, giải phóng toàn miền Nam.

Ngày 1-4-1975, Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền nhận được điện của anh Lê Duẩn truyền đạt nội dung Nghị quyết Bộ Chính trị họp ngày 31-3-1975:

"Gửi: Anh Bảy Cường, anh Sáu, anh Tuấn*,

Bộ Chính trị đã họp ngày 31-3-1975 nghe Quân ủy Trung ương báo cáo tình hình phát triển của cuộc tổng tiến công của ta trong ba tuần qua, đặc biệt trong thời gian gần đây.

Bộ Chính trị nhất trí nhận định:

1. Tiếp theo thắng lợi lớn của ta ở Khu IX và giải phóng tỉnh Phước Long ở miền Đông Nam Bộ, cuộc tổng tiến công chiến lược của ta trên thực tế đã bắt đầu với việc đánh chiếm Tây Nguyên và trong một thời gian rất ngắn đã giành được những thắng lợi cực kỳ to lớn.

Chúng ta đã tiêu diệt và làm tan rã trên 35% sinh lực địch, tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hai quân đoàn địch, tiêu diệt khoảng 40% các binh chủng kỹ thuật hiện đại, thu và phá hơn 40% cơ sở vật chất hậu cần, giải phóng 12 tỉnh, đưa tổng số dân vùng giải phóng lên gần 8 triệu.

Đặc biệt trong trận Đà Nẵng, đã thực hiện được kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng do có những nhân tố mới là: nhân dân căm phẫn địch cao độ chỉ chờ cơ hội là vùng dậy; đại bộ phận sĩ quan và binh lính địch mất hẳn tinh thần chiến đấu. Quân và dân mặt trận Quảng - Đà đã lập được một chiến công xuất sắc: chỉ trong 30 giờ từ khi nổ súng, với lực lượng ít hơn địch, đã kịp thời, táo bạo, tiến công và nổi dậy đánh chiếm căn cứ quân sự liên hợp lớn nhất của quân ngụy ở miền Nam.

Qua những chiến thắng nói trên, các lực lượng vũ trang ta đã lớn mạnh vượt bậc: bộ đội thương vong ít, tinh thần và trình độ chiến đấu được nâng lên rõ rệt; vũ khí, đạn dược tiêu hao không đáng kể; ta lại thu được một khối lượng rất lớn vũ khí, đạn dược của địch. Quân chủ lực, trong một thời gian ngắn, đã tăng lên gấp bội, có sức cơ động khắp các chiến trường.

Trong tình hình đó, Bộ Chính trị nhận định: về chiến lược, về lực lượng quân sự, chính trị, ta đã có sức mạnh áp đảo, địch đang đứng trước nguy cơ sụp đổ và diệt vong. Mỹ tỏ ra hoàn toàn bất lực, dù có tăng viện cũng không thể cứu vãn được tình thế của ngụy. Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt, mà thời cơ để mở tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn - Gia Định đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu.

2. Cách mạng nước ta đang phát triển với nhịp độ "một ngày bằng hai mươi năm". Do vậy, Bộ Chính trị quyết định: Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm. Phải hành động "thần tốc, táo bạo, bất ngờ". Phải tiến công ngay lúc địch hoang mang, suy sụp. Tập trung lực lượng lớn hơn nữa và những mục tiêu chủ yếu trên từng hướng, trong từng lúc.

Phát huy sức mạnh của ba đòn chiến lược, kết hợp tiến công và nổi dậy, từ ngoài đánh vào, từ trong đánh ra. Trên từng hướng và trong từng trận, phải tập trung lực lượng áp đảo, tiêu diệt gọn, làm tan rã nhanh quân địch; tận dụng thời cơ và thuận lợi mới mà dồn dập tiến công, phát triển thắng lợi.

Trước mắt - như trước đã định, nay cần làm nhanh hơn - gấp rút tăng thêm lực lượng ở hướng tây Sài Gòn, thực hiện chia cắt và bao vây chiến lược, triệt hẳn đường số 4 và áp sát Sài Gòn.

Đồng thời, nhanh chóng tập trung lực lượng ở hướng đông và đông - nam, đánh chiếm những mục tiêu quan trọng, thực hiện bao vây, cô lập hoàn toàn Sài Gòn từ phía Long Khánh, Bà Rịa - Vũng Tàu.

Tổ chức sẵn sàng những đơn vị chủ lực được trang bị binh khí, kỹ thuật thật mạnh, để lúc thời cơ xuất hiện thì tức khắc đánh chiếm những mục tiêu quan trọng nhất ở trung tâm thành phố Sài Gòn.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, cần thúc đẩy các lực lượng quân sự, chính trị của ta hành động mạnh bạo, khẩn trương, phát triển tiến công và nổi dậy, tiêu diệt chi khu, quận lỵ, phá banh từng mảng lớn hệ thống kìm kẹp của địch, nhanh chóng mở rộng vùng giải phóng ở các khu vực trọng điểm.

3. Muốn thực hiện phương hướng chiến lược nói trên cho kịp thời gian, thì ngay bây giờ, cần vạch kế hoạch hành động táo bạo với lực lượng sẵn có tại chiến trường miền Đông. Quân ủy Trung ương đã quyết định nhanh chóng chuyển Quân đoàn 3 cùng các binh khí, kỹ thuật từ Tây Nguyên xuống, đồng thời ra lệnh đưa quân đoàn dự bị vào. Nhưng để tranh thủ thời gian, không nên chờ đợi lực lượng tăng cường đến thật đầy đủ, cũng cần tránh điều động quân không hợp lý, làm ảnh hưởng đến kế hoạch tiến hành chiến dịch.

4. Trong khi Trung ương Cục và Quân ủy Miền vẫn làm nhiệm vụ như hiện nay, Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Chỉ huy và Đảng ủy mặt trận Sài Gòn để tập trung, thống nhất cao độ sự lãnh đạo và chỉ đạo đối với chiến trường trọng điểm này. Khi anh Sáu, anh Tuấn vào đến nơi thì các anh trao đổi ý kiến để thực hiện ngay.

5. Ngoài này, Bộ Chính trị sẽ tập trung lực lượng chỉ đạo, và đã có những chỉ thị cần thiết cho toàn quân, cho các chiến trường và các ngành, các cấp để bảo đảm trận quyết chiến lịch sử này giành thắng lợi.

Tôi gửi đến các anh lời chào quyết thắng.

BA"
1


------------------------------------------------------------------
* Anh Bảy Cường tức Phạm Hùng; anh Sáu tức Lê Đức Thọ; anh Tuấn tức Văn Tiến Dũng.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, 200, t.36, tr.94-97.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #31 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:04:55 am »

Theo quyết định của Bộ Chính trị, anh Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng từ Tây Nguyên vào cùng các anh Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Lê Ngọc Hiền - Phó Tổng Tham mưu trưởng và một số cán bộ tổ chức thành một bộ phận ở chiến trường miền Nam, mang bí danh Đoàn A75.  Chiều 3-4-1975, Đoàn A75 đã tới cơ quan Bộ Tư lệnh Miền ở phía tây thị trấn Lộc Ninh (sau này trở thành chỉ huy sở cơ bản của chiến dịch giải phóng Sài Gòn). Phần lớn các đồng chí ở Trung ương Cục đã tới họp với Đoàn A75 để nghiên cứu quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị và bàn các giải pháp thực hiện.

Chiều ngày 7 tháng 4, chúng tôi đang họp thì anh Lê Đức Thọ tới. Anh Thọ cho biết: trước khi anh lên đường, Bộ Chính trị và bác Tôn căn dặn là "Ra đi thắng lợi mới trở về”.

Ngày 8 tháng 4, trong cuộc họp đông đủ Trung ương Cục, Quân ủy Miền và Bộ Tư lệnh B2, anh Thọ nhắc lại tinh thần điện ngày 1 tháng 4 của anh Lê Duẩn và phổ biến quyết định của Bộ Chính trị về việc thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định, gồm có: Đại tướng Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, anh Phạm Hùng làm Chính ủy, Thượng tướng Trần Văn Trà, tôi - Trung tướng Lê Đức Anh làm Phó Tư lệnh. Riêng tôi lại kiêm phụ trách chỉ huy cánh quân phía tây - tây nam Sài Gòn. Trung tướng Lê Trọng Tấn đang chỉ huy cánh quân phía đông cũng được chỉ định làm Phó Tư lệnh Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Trung tướng Đinh Đức Thiện là Phó Tư lệnh phụ trách về hậu cần. Trung tướng Lê Quang Hòa làm Phó Chính ủy. Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền được chỉ định làm quyền Tham mưu trưởng.

Đại tướng Văn Tiến Dũng đã nêu đặc điểm tình hình địch, những mặt ta cần khắc phục trong trận quyết định này ở chiến trường mới và giao nhiệm vụ cho từng quân đoàn, từng hướng.

Bộ Chỉ huy chiến dịch được quyền sử dụng các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của Miền phục vụ cho chiến dịch. Bộ Chỉ huy chiến dịch còn được tăng cường thêm số cán bộ Đoàn A75 mới vào. Theo quyết định của Bộ Chính trị, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền vẫn tiếp tục nhiệm vụ như trước đối với toàn miền.

Với cương vị là đại diện Bộ Chính trị, anh Lê Đức Thọ tham gia ý kiến vào mọi mặt công tác của Trung ương Cục cũng như của chỉ huy chiến dịch.

Bộ Chỉ huy chiến dịch điều động năm quân đoàn (trên dưới 15 sư đoàn). Đó là các quân đoàn 1, 2, 3, 4 và Đoàn 232 có đủ các binh chủng hợp thành, với năm cánh quân theo năm hướng (bắc, tây bắc, đông, đông nam và tây - tây nam) cùng các lực lượng bộ đội địa phương, dân quân và lực lượng nổi dậy của quần chúng ở nông thôn và thành thị,... Trong khi đó địch chỉ còn khoảng năm sư đoàn đang bảo vệ vòng ngoài Sài Gòn và Quân đoàn 4 đang ở đồng bằng sông Cửu Long, một số quân dù và liên đoàn biệt động quân...

Bộ Chỉ huy chiến dịch xác định phải đánh địch, không cho chúng co cụm về Sài Gòn; ngược lại, không để cho quân địch chạy về miền Tây. Tổ chức các mũi thọc sâu, mũi đánh vòng ngoài kết hợp giữa chủ lực với bộ đội địa phương và kết hợp giữa bộ đội với quần chúng nhân dân, đột phá liên tục, dồn dập cho đến toàn thắng.

Từ ngày 9 đến 14 tháng 4, Bộ Chỉ huy chiến dịch thảo luận kế hoạch tạo thế trận bao vây Sài Gòn và các công tác chuẩn bị khác. Anh Phạm Hùng và anh Văn Tiến Dũng cùng ký vào các bản mệnh lệnh điều động lực lượng. Kế hoạch đã điều chỉnh bố trí và phân công các lực lượng như sau:

Trên hướng tiến công chủ yếu tây bắc, sử dụng Quân đoàn 3 (do đồng chí Vũ Lăng làm Tư lệnh, đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy), có nhiệm vụ: tiến công tiêu diệt căn cứ Đồng Dù, chặn không cho Sư đoàn 25 địch co cụm về Sài Gòn; tổ chức một lực lượng mạnh (cỡ sư đoàn tăng cường) thọc sâu vào nội đô, đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là sân bay Tân Sơn Nhất và tổ chức một bộ phận hợp điểm ở dinh Độc Lập, chiếm lĩnh các quận Tân Bình, Phú Nhuận; tổ chức một sư đoàn có binh chủng phối thuộc, chặn đánh tiêu diệt Sư đoàn 25 địch ở Gò Dầu, Trảng Bàng, sau đó về làm dự bị cho chiến dịch và quân đoàn, chủ yếu là tăng cường cho đơn vị thọc sâu.

Trên hướng bắc, sử dụng Quân đoàn 1 (đồng chí Nguyễn Hòa làm Tư lệnh, đồng chí Hoàng Minh Thi làm Chính ủy), có nhiệm vụ: bao vây tiêu diệt địch ở căn cứ Phú Lợi, Bình Dương, Lai Khê, Bến Cát, Tân Uyên, ngăn chặn và tiêu diệt Sư đoàn 5 địch, không cho chúng co cụm về Sài Gòn; tổ chức một lực lượng binh chủng hợp thành (cỡ sư đoàn tăng cường) thọc sâu vào nội đô đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là Bộ Tổng Tham mưu địch, các bộ tư lệnh binh chủng địch ở Gò Vấp; tổ chức một bộ phận hợp điểm ở dinh Độc Lập, chiếm lĩnh các quận Gò Vấp, Bình Thạnh.

Trên hướng đông nam, sử dụng Quân đoàn 2 (đồng chí Nguyễn Hữu An làm Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Công Trang làm Chính ủy), có nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Nước Trong, Chi khu Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ - phà Cát Lái, Chi khu Đức Thạnh, khu Long Bình, căn cứ Long Bình - thị xã Bà Rịa, pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, đánh chiếm Vũng Tàu, phát triển sang Cần Giờ, tiêu diệt địch ở hữu ngạn sông Đồng Nai, đánh chiếm các quận 9 và 4; tổ chức một mũi hợp điểm ở dinh Độc Lập.

Trên hướng đông, sử dụng Quân đoàn 4 (đồng chí Hoàng Cầm làm Tư lệnh, đồng chí Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy), có nhiệm vụ đánh chiếm khu vực Biên Hòa - Hố Nai (gồm Sở Chỉ huy Quân đoàn 3 địch và sân bay); sử dụng một lực lượng mạnh binh chủng hợp thành thọc sâu vào nội đô đánh chiếm dinh Độc Lập, chiếm lĩnh quận 1, 2, 3 và một số mục tiêu quan trọng như căn cứ hải quân, bộ quốc phòng địch, đài phát thanh.

Trên hướng tây - tây nam, Đoàn 232 gồm các sư đoàn 3, 5 và 9, 4 trung đoàn độc lập, một trung đoàn đặc công, được tăng cường một tiểu đoàn xe tăng T54, một tiểu đoàn PT85, một tiểu đoàn pháo 130 ly, một trung đoàn và một tiểu đoàn phòng không, cùng với Sư đoàn 8 Quân khu 8 và các lực lượng vũ trang địa phương có ba nhiệm vụ: một là, chia cắt hai lực lượng Sài Gòn và miền Đông cùng lực lượng ở đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu là đoạn từ Bến Lục đến Mỹ Tho; hai là, tấn công Biệt khu Thủ đô; ba là, tấn công Tổng nha Cảnh sát, sau đó hợp điểm tại dinh Độc Lập và một bộ phận vào căn cứ Tư lệnh Hải quân (Ba Son và Bạch Đằng).

Các lực lượng ở vùng ven và nội đô tổ chức đánh phá các sân bay, bến tàu, kho tàng, trận địa pháo địch, phát động quần chúng nổi dậy, chiếm lĩnh và quản lý các cơ sở trong thành phố, mở rộng địa bàn đứng chân, đánh chiếm, giữ các cầu. Trong tổng tiến công, phối hợp chặt chẽ với chủ lực đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong thành phố, làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy.

Các binh chủng bảo đảm chỉ huy, cơ động và chi viện cho bộ binh chiến đấu. Không quân và hải quân còn sẵn sàng làm nhiệm vụ phối hợp cùng bộ binh giải phóng các đảo.

Có năm hướng đều được tăng cường lực lượng rất mạnh cả về bộ binh và các binh chủng, trừ công binh do thiếu nhiều về đơn vị và phương tiện, đặc biệt là phương tiện vượt sông. Riêng các hướng đông, tây và nam được tăng cường chỉ huy mạnh vì gồm nhiều lực lượng và có nhiều khó khăn.

Chỉ huy sở tiền phương của chiến dịch nằm trên khu vực Văn Tám, ở phía tây nam Châu Thành, bắc Bến Cát.

Trước khi chỉ huy các cánh quân trở về đơn vị triển khai kế hoạch tấn công, anh Phạm Hùng đã gặp gỡ và nói: "Bằng mọi cách, chúng ta phải chiến thắng trận quyết chiến chiến lược cuối cùng này. Làm sao lúc kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ, chúng ta đã có mặt ở Sài Gòn".

Bộ Chỉ huy chiến dịch nhất trí điện về Bộ Chính trị đề xuất xin được lấy tên Bác đặt tên cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định.

Đến 11 giờ ngày 9-4-1975, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận được điện của anh Lê Duẩn, thay mặt Bộ Chính trị chỉ thị: "Khi đã phát động tiến công thì phải tấn công thật mạnh và liên tục, dồn dập cho đến toàn thắng, vừa phát động tấn công ở ngoại vi, vừa có lực lượng đã chuẩn bị sẵn sàng nắm thời cơ thọc sâu vào trung tâm Sài Gòn từ nhiều hướng. Thực hiện từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào, tạo điều kiện cho đồng bào nổi dậy. Không chia làm hai bước... Đó là phương án cơ bản và chắc thắng nhất; đồng ý có dự kiến và chuẩn bị tình huống cuộc chiến đấu có thể kéo dài một thời gian"2.

Chiều ngày 14-4-1975, trong bức điện số 37-B/TK của anh Lê Duẩn gửi Bộ Chỉ huy chiến dịch nêu rõ: "Đồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là chiến dịch Hồ Chí Minh".

Khi nhận nhiệm vụ cùng tôi chỉ huy cánh quân hướng tây - tây nam đánh vào Sài Gòn, anh Lê Văn Tưởng rất phấn khởi vì ở "thời điểm lịch sử" lại được cấp trên giao nhiệm vụ đúng với ước nguyện của mình là "trận cuối cùng được trực tiếp về tham gia giải phóng quê hương" (anh là người gốc Long An). Tôi đã có dịp sát cánh cùng anh trong đợt 2 của Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. Nhận nhiệm vụ xong, tôi bảo anh về trước chuẩn bị về tổ chức; chiều 13 tháng 4 anh đi, ngày 14 anh đã có mặt ở sở chỉ huy tây nam. Tôi ở lại họp Bộ Chỉ huy chiến dịch, đến ngày 17 tháng 4 thì xuống Long An chính thức "cầm quân" ở hướng này.

Sau khi cùng anh Lê Văn Tưởng trao đổi, chúng tôi đề xuất và được trên chấp thuận, điều anh Lê Quốc Sản, Tư lệnh Quân khu 8 làm Phó chỉ huy, anh Trần Văn Nghiêm (trước đó là Phó chỉ huy Đoàn 232) làm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh cánh quân tây - tây nam.

Trên hướng tây - tây nam, việc chia cắt quân địch tại lộ 4 là điểm rất khó khăn, nhiệm vụ này được giao cho Sư đoàn 5 do anh Bùi Thanh Văn (Út Liêm), sau là anh Thược làm Sư đoàn trưởng, anh Nguyễn Xuân Hòa làm Chính ủy. Cũng vì khó khăn nên Sư đoàn 5 đã xuống từ hai tháng trước đó, tìm mọi cách để cắt đứt lộ 4 trước ngày N-3, tức là làm xong trước khi toàn tuyến nổ súng tiến công ba ngày; phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ cắt đứt đoạn từ Tân An tới Bến Lức, giải phóng Tân An, Bến Lức và giữ cho được hai đầu. Lúc đó có cô du kích tên là Sáu Sửa dẫn trung đoàn ra cắt lộ. Cô được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau này cô làm Bí thư Huyện ủy Thủ Thừa và Bí thư Huyện ủy Đức Huệ, rồi làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.

Tôi giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 5 tổ chức một trung đoàn đánh Thủ Thừa, hai trung đoàn đánh thị xã Tân An. Sư đoàn 5 phải làm tốt nhiệm vụ cắt lộ 4, sau đó phát triển vào thành phố, chiếm Phú Lâm.

Sư đoàn 8 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích Khu 8 đánh chiếm Mỹ Tho và đoạn Cái Bè, kiên quyết không cho quân địch từ Sài Gòn chạy về co cụm ở sở chỉ huy Vùng 4 chiến thuật tại Cần Thơ.

Còn một mũi tiến công nữa cũng rất khó, đó là Cần Giuộc, Nhà Bè, vì vùng này ngập nước, nhiều sình lầy. Bởi vậy, chúng tôi đã cử ba đồng chí đảm nhiệm mũi này. Đó là đồng chí Huỳnh Công Thân (Huỳnh Văn Mến, Tư Thân) - Phó Tư lệnh Quân khu 8; đồng chí Võ Văn Thạnh (Ba Thắng) - Cục phó Chính trị Miền, quê gốc Nhà Bè; và đồng chí Nguyễn Văn Chiểu (Tư Chiểu) - Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Long An, quê gốc Long An. Lực lượng trên mũi này phải nhờ những xuồng nhỏ của dân để vận động, cả quãng đường dài tiến công là hệ thống đồn bốt giặc dày đặc, đi tới đâu phải gỡ đồn bốt tới đó. Nhưng khi bộ đội ta đánh phủ đầu vài đồn, thì các đồn khác thấy quân ta tiến đến là địch bỏ chạy liền.

Việc hóc búa nhất đối với hướng tây - tây nam là vấn đề công binh bảo đảm vượt sông cho các đơn vị tiến quân vào nội đô. Đoàn 232 được Bộ Chỉ huy chiến dịch tăng cường thêm lực lượng bộ binh, pháo và cao xạ, cả pháo nặng 130 ly, có đến một trung đoàn xe tăng và thiết giáp, trong đó một phần ba là tăng T54. Tất cả xe, pháo các loại gần 800 chiếc. Thế mà từ lâu nay Miền chỉ có một phần hai bộ cầu phà nặng (TPP của Liên Xô). Bộ Chỉ huy chiến dịch đã xin Trung ương cho thêm nửa bộ nữa nhưng chưa vào. Tất cả các hướng khác lực lượng công binh cũng thiếu. Bộ Chỉ huy chiến dịch dự tính đơn vị cầu phà nào tới nơi sẽ đưa ngay cho Đoàn 232 vì các đơn vị của 232 phải dựa vào lực lượng hiện có và huy động phương tiện tại chỗ mà vượt sông Vàm Cỏ Đông.


------------------------------------------------------------------
2. Điện số 07 ngày 9-4-1975 của đồng chí Lê Duẩn. Lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #32 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:07:46 am »

Một vấn đề đặt ra là nếu địch ngoan cố rút nhanh vào nội thành và phá hoại các cầu trên các trục đường tiến vào Sài Gòn thì sao? Ta phải dự kiến để có kế hoạch sẵn sàng đối phó. Ta dùng đặc công chiếm và giữ cho kỳ được các cầu trọng yếu trên các hướng tiến quân.

Chúng ta có tất cả sáu trung đoàn đặc công sẵn sàng từ vùng ven đến nội thành. Quân đoàn 3 lại có riêng một trung đoàn đặc công nữa. Như vậy là ta có đủ sức làm nhiệm vụ giữ không cho địch phá cầu, bảo đảm cho các quân đoàn tiến thẳng vào mục tiêu không bị trở ngại.

Đoàn 232 vượt sông Vàm Cỏ Đông trước khi chiến đấu nên phải giữ bí mật, tiến hành vượt sông ban đêm và chiếm lĩnh tuyến xuất phát tấn công cũng vào ban đêm trong một khu vực địch còn kiểm soát: khu Mỹ Hạnh ở gần ngã ba đường 9 và đường 10 (Đức Hòa, Long An). Đoạn sông Vàm Cỏ Đông phải vượt nằm trên xã An Ninh, cách Bào Trai (tức Khiêm Hạnh, tỉnh lỵ tỉnh Hậu Nghĩa) trên 10km về phía tây bắc. Đoạn sông dự bị sẵn sàng khi cần thì vượt bằng sức mạnh, qua thẳng thị trấn Hiệp Hòa rồi lên đường 10. Sông Vàm Cỏ Đông ở những đoạn này cả hai bên đều sình lầy. Bên bờ tây sông là vùng ta đã giải phóng từ đầu đợt, vùng "Mỏ Vẹt", một bộ phận của Đồng Tháp Mười, chủ yếu là bưng sình, chỉ có một số giồng đất cao có dân cư. Ở đây cây củi rất hiếm. Trong chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, bộ đội ta về đây, đồng bào có thể giúp ta gạo, thực phẩm, nhưng củi đốt thì rất hiếm. Mỗi người mang theo một bó củi mà dùng. Dọc bờ sông là vùng địch kiểm soát xen kẽ có những căn cứ du kích của ta. Xã An Ninh là một xã có truyền thống cách mạng. Trong Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, Sư đoàn 9 của ta cũng về đóng quân ở xã này để tiến về Sài Gòn trong đợt 2 tấn công và nổi dậy. Địa hình ở đây tương đối tốt, có rẻo đất trồng cây liền ra đường 10, xuống ấp Bào Công rồi đến xã Mỹ Hạnh, xã căn cứ đầu tiên của "Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa" thời chống thực dân Pháp, xã của Anh hùng quân giải phóng Nguyễn Thị Mỹ Hạnh trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Đoạn sông vượt từ vùng bưng sình của ta đổ bộ lên vùng đất tương đối cao ở phía địch kiểm soát có thể triển khai chiến đấu ngay được. Đường từ hậu phương ra tới bến vượt rất lầy lội, không có biện pháp khắc phục thì khó mà hành quân cơ giới nổi. Cán bộ Đoàn 232 đã cùng cán bộ các địa phương lân cận vận động nhân dân chặt và bó hàng nghìn bó cây, phân tán cất giấu nhiều nơi. Như đã nói, ở đây củi hiếm nên phải vận động nhân dân chuẩn bị từ trước - và trong một vùng rộng thì mới đủ và kịp thời gian. Thế mà mọi việc đều thực hiện rất tốt và đặc biệt là địch không hề biết gì cả.

Ngày 18 tháng 4, anh Lê Đức Thọ, đại diện Bộ Chính trị, cùng Bộ Chỉ huy chiến dịch duyệt lại lần cuối cùng quyết tâm chiến dịch. Tất cả đều nhất trí cao là thực hiện đúng phương châm của Bộ Chính trị đề ra: "Thần tốc - táo bạo - bất ngờ - chắc thắng". Riêng lực lượng chủ lực, ưu thế của ta đã gấp ba lần so với địch về số lượng và gấp nhiều lần về chất lượng. Ta phải bố trí lực lượng tiêu diệt quân địch phòng thủ bên ngoài, đồng thời cùng lúc có lực lượng mạnh thọc thẳng và nhanh vào mục tiêu chủ yếu bên trong. Phải đánh nhanh, mạnh từ ngoài vào kết hợp với tấn công và nổi dậy từ bên trong để địch không kịp trở tay, không kịp phá hoại. Bộ đội kết hợp với lực lượng quần chúng nổi dậy chiếm lĩnh ngay mọi cơ sở, phố phường trong toàn thành, trong thời gian ngắn nhất. Đây là nội dung và ý nghĩa của thần tốc. Bộ Chính trị, Bộ Chỉ huy chiến dịch quy định năm cánh quân phải hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, năm mục tiêu chủ yếu phân chia cho năm cánh quân phải được chiếm gần như cùng một thời gian nhưng lấy mục tiêu dinh Độc Lập làm mục tiêu trung tâm cuối cùng. Cánh quân nào đã chiếm xong mục tiêu chủ yếu của mình thì phải tiến ngay về dinh Độc Lập. Nếu chưa có lực lượng nào chiếm thì phải đánh chiếm và treo cờ chiến thắng của ta lên. Nếu đã có lực lượng ta chiếm rồi thì lui ngay về khu vực tấn công của mình.

Phân tích, tổng hợp tình hình từ nhiều nguồn, từ ngày 15-1 đến 20-4-1975, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã nắm rõ ý đồ của địch. Chúng tập trung lực lượng còn lại (khoảng trên dưới năm sư đoàn) lập tuyến cố thủ ngoại vi Sài Gòn - Gia Định, tăng quân bảo vệ lộ 4 và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Hiện ở Sài Gòn chỉ có hai lữ đoàn dù yếu, địch đang lúng túng điều chỉnh binh lực. Trong khi đó, Mỹ đã bắt đầu thực hiện di tản, dự kiến đến ngày 19-4-1975 sẽ di tản phần lớn người Mỹ ra khỏi miền Nam. Quốc hội Mỹ biểu quyết không viện trợ cho Thiệu. Mỹ cũng bỏ rơi Campuchia. Tình hình đó, càng làm cho quân đội Sài Gòn thêm hoang mang, lo sợ. Tình hình đang chứa đựng nhiều biến đổi bất ngờ, mau lẹ... Trên cơ sở đó, cùng với những diễn biến cụ thể trên chiến trường và hướng tiến quân của mỗi cánh quân ta, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã kịp thời ra những mệnh lệnh, chỉ thị đốc thúc các cánh quân đánh mạnh, tiến nhanh hơn nữa.

Ở phía đông, ngày 9-4-1975, theo kế hoạch từ trước, Quân đoàn 4 của ta nổ súng đánh Xuân Lộc - Long Khánh - "cánh cửa thép" của địch trên hướng phòng thủ phía đông. Quân đoàn 3 của địch, được chi viện một lữ đoàn dù cùng phi pháo, không quân và đám tàn quân từ các quân khu 1, 2 và 3 kéo về, đã chống trả quyết liệt. Trận chiến đấu ở đây diễn ra rất gay go, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 4 và Quân khu 7 đã anh dũng chiến đấu. Đến ngày 12 tháng 4, thế trận vẫn giằng co. Bộ Chỉ huy chiến dịch tăng cường cho Quân đoàn 4 Trung đoàn 95, đồng thời chỉ đạo Bộ Tư lệnh Miền và ban lãnh đạo Quân đoàn 4 thay đổi cách đánh. Theo cách này, Quân đoàn 4 cho một bộ phận đánh cắt quốc lộ 1 tại Dầu Giây, đồng thời bắn phá khống chế sân bay Biên Hòa liên tục ngày đêm.

Ngày 19-4-1975, dưới sự chỉ huy của hai anh Trần Văn Trà và Hoàng Cầm, lực lượng vũ trang ta tấn công địch ở Xuân Lộc. Đêm 20 tháng 4, toàn bộ lực lượng địch ở đây bỏ chạy tán loạn về Bà Rịa, Xuân Lộc giải phóng, "cánh cửa thép" phía đông đã mở, đón Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4 của ta vào thế trận mới. Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định điều Sư đoàn 3 của Quân khu 5 tiến về giải phóng Bà Rịa - Vũng Tàu, đồng thời lệnh cho Quân đoàn 4 của ta áp sát Trảng Bom chuẩn bị tổng công kích.

Ở phía bắc và tây bắc, địch chỉ còn Sư đoàn 25 và liên đoàn biệt động, bảo an ở Tây Ninh. Toàn bộ hệ thống chính quyền địch đã bỏ chạy về Sài Gòn. Do đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch thống nhất chỉ bao vây Sư đoàn 25, không cho địch chạy về Sài Gòn. Tình hình này tạo điều kiện thuận lợi cho Quân đoàn của ta vào tập kết ở nam Sông Bé, Quân đoàn 3 vào khu vực Dầu Tiếng.

Bộ Tư lệnh cánh quân hướng tây - tây nam chỉ huy các lực lượng đẩy mạnh tiến công trên các hướng Bến Lức, Long An, đánh thông hành lang Tây Ninh - Kiến Tường, mở xong các vùng Bến Cầu, Bến Sỏi, Quéo Ba, làm chủ một vùng sông Vàm Cỏ Tây, tiếp tục tiến xuống vùng Tân An, Thủ Thừa, áp sát đánh giao thông lộ 4 và cắt lộ 4 thành nhiều đoạn mà ta làm chủ, bao vây chặt Cần Thơ và pháo kích sân bay Trà Nóc không để chúng chi viện cho Sài Gòn.

Trước ngày 20-4-1975, theo lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch, cánh quân hướng tây - tây nam đã vào vị trí tập kết. Đoàn 232 đã áp sát tuyến sông Vàm Cỏ Đông và Hậu Nghĩa, Sư đoàn 5 và Sư đoàn 8 đã áp sát lộ 4 từ Tân An đến Cai Lậy, áp sát Mỹ Tho. Hai trung đoàn bộ binh đã tập kết ở Cần Đước và Cần Giuộc sát phía nam quận 8 Sài Gòn,... Cánh quân hướng tây - tây nam đã cài thế chuẩn bị sẵn sàng tổng công kích.

Ở phía đông nam, theo lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch, Quân đoàn 2 cùng Sư đoàn 3 thuộc Quân khu 5 cũng đã áp sát Long Thành, Vũng Tàu, Nước Trong, Bà Rịa,... sẵn sàng đợi lệnh tấn công vào Sài Gòn.

Bộ Chỉ huy chiến dịch tích cực nghiên cứu tổ chức và giao nhiệm vụ cho các đơn vị đặc công. Đại tá Nguyễn Chí Điềm được giao giúp Bộ Chỉ huy chiến dịch về đặc công, đồng chí Trần Văn Danh (Ba Trần) được giao phụ trách chung bộ đội đặc công. Các đơn vị đặc công được tổ chức lại thành sáu đoàn có chỉ huy thống nhất. Đoàn 10 ở khu Nhà Bè - Lòng Tàu, Đoàn 116 ở Nước Trong - Long Bình, Đoàn 117 ở Vườn Thơm - Bà Dụ, Đoàn 429 ở tây nam Sài Gòn,... Nhiệm vụ của các đoàn này là đánh tàu và cắt đường sông ra biển của địch, đánh chiếm và bảo vệ các cầu vào Sài Gòn, hỗ trợ phong trào nổi dậy của quần chúng, đánh vào các sân bay và các trận địa pháo binh…, liên hệ chặt chẽ với các cánh quân ở khu vực hoạt động của mình để nhận nhiệm vụ cụ thể hoặc phối hợp tác chiến cả phía trước và trong quá trình diễn biến của chiến dịch. Bộ Chỉ huy chiến dịch giao cho biệt động thành hai việc: một là, dẫn bộ đội chủ lực vào mục tiêu nội đô; hai là, làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy ở nội đô.

Để thực hiện kết hợp đòn tiến công quân sự với phong trào nổi dậy của quần chúng, Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã họp, thông qua các kế hoạch kết hợp tổng tiến công với phong trào nổi dậy của quần chúng toàn B2; nhanh chóng thiết lập chính quyền để quản lý và duy trì trật tự ở những nơi địch tan rã, đẩy mạnh phong trào ở vùng ven và đô thị, tập trung vào phong trào ở Sài Gòn - Gia Định. Trung ương Cục phân công anh Nguyễn Văn Linh - Phó Bí thư Trung ương Cục và anh Võ Văn Kiệt - Ủy viên Trung ương Cục trực tiếp làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Gia Định chuyên lo vấn đề tổ chức và chỉ đạo kế hoạch nổi dậy của quần chúng phối hợp với lực lượng quân sự, trong đó có các binh đoàn chủ lực của ta vào thành phố, phân công anh Cao Đăng Chiếm - Giám đốc Công an B2 tổ chức mạng liên lạc của các đồng chí trong Chính phủ cách mạng lâm thời với cơ sở trong nội thành. Từ ngày 18 đến 25 tháng 4, Bộ Chỉ huy chiến dịch và Trung ương Cục đã đưa thêm vào thành phố hàng trăm cán bộ. Trong đó có nhiều đồng chí cấp thành ủy và tương đương, có nhiều đồng chí tương đương ủy viên ban cán sự quận,... để làm nòng cốt cùng cán bộ tại chỗ tổ chức nhân dân nổi dậy. Đồng thời, Trung ương Cục chỉ đạo các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tự giải phóng, với phương châm: xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh.

Để bảo đảm vận chuyển 20.000 tấn hàng từ miền Bắc, Tây Nguyên và Khu 5 vào cung cấp đủ cho yêu cầu của chiến dịch, hậu cần chiến dịch và chiến lược đã huy động 10.000 xe vận tải mở thêm hai tuyến vận tải mới vào Lộc Ninh và Long Khánh, mở sáu tuyến vận tải chiến dịch xuống các cánh do hậu cần B2 phụ trách, kéo dài đường ống dẫn dầu từ Bù Đốp vào Lộc Ninh, tăng cường khai thác lương thực tại chỗ,...

Tối 21-4-1975, đúng lúc Bộ Chỉ huy chiến dịch vừa họp xong để rà soát lại lần cuối công tác chuẩn bị cho chiến dịch thì nhận được tin Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Mỹ đưa Trần Văn Hương lên thay.

Ngày 25 tháng 4, mọi công tác chuẩn bị của ta đã hoàn thành.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #33 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:10:28 am »

Đúng 17 giờ ngày 26-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Các đơn vị hướng tây - tây nam chúng tôi tiến công. Đến 3 giờ sáng ngày 27, Sư đoàn 5 đã cắt được đoạn từ Bến Lức tới Tân An. Sư đoàn 8 cùng quân và dân Tiền Giang thực hiện đánh cắt lộ 4 từ Mỹ Tho đến bờ sông Tiền. Sư đoàn 3 đánh chiếm khu vực An Ninh - Lộc Giang, tổ chức vượt sông Vàm Cỏ, áp sát địch để bảo đảm cho Sư đoàn 9 cùng binh khí kỹ thuật qua sông. Sư đoàn 9 vượt sông Vàm Cỏ Đông vào vị trí tập kết tại Cầu Bông, Mỹ Thạnh, Đức Hòa. Các trung đoàn 24 và 88 bám sát vào nội đô phía nam Sài Gòn.

Khi xe tăng, thiết giáp của ta vượt qua sông Vàm Cỏ thì trời đổ mưa, đoạn thuộc huyện Đức Huệ (Long An) sình lầy, xe không đi được. Nhân dân vác những bó cây và dỡ nhà mình ra lót đường cho xe tăng và pháo ta vượt qua. Lúc đó tôi nói một số đồng chí trở lại giúp dân làm lại nhà, dù người dân không hề đòi hỏi. Sau này, anh Nguyễn Minh Châu - Tham mưu trưởng Miền - đã chỉ huy bộ đội làm lại hầu hết nhà cho dân.

Ngày 28-4-1975, Trần Văn Hương từ chức, Dương Văn Minh lên thay. Thường vụ Trung ương Cục gửi điện chỉ thị cho toàn quân và toàn dân "thực hiện quyết tâm không gì lay chuyển là đánh bại hoàn toàn Mỹ, ngụy, đánh sụp chế độ nguỵ Sài Gòn... giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước"3.

Tối 28 tháng 4, Bộ Chỉ huy chiến dịch thông báo tình hình và lệnh cho các cánh quân, các hướng tiếp tục phát triển tiến công để bảo đảm sáng ngày 29 tháng 4 toàn mặt trận nhất loạt thực hiện tổng tấn công vào thành phố Sài Gòn theo đúng kế hoạch đã định.

Ngày 29 tháng 4, lúc hơn 10 giờ, Sư đoàn 3 vượt sông Vàm Cỏ Đông tiến đánh và làm chủ thị xã Hậu Nghĩa, sau đó tổ chức đánh chiếm Chi khu Đức Hòa và căn cứ Trà Cú. Quân địch ở Hậu Nghĩa chạy về Sài Gòn bị Trung đoàn 1 Gia Định do đồng chí Phan Trung Kiên làm Trung đoàn trưởng, từ Xuân Thới Thượng vận động ra bắt hàng trên 1.000 tên. Sư đoàn 3 chiếm thị xã Hậu Nghĩa tạo điều kiện cho Sư đoàn 9 đưa toàn bộ lực lượng vào Mỹ Hạnh, sau đó thọc thẳng vào nội đô. Phía bên trong, lực lượng vùng ven cũng tăng cường hoạt động: Trung đoàn đặc công 429 tiến đánh Tiểu đoàn 8 biệt động địch tại Tân Tạo, Bà Hom, ra Chi khu Phú Lâm; đánh chiếm ấp 2 (Bình Trị Đông), ấp Bình Hưng, Ký Thúc On và cầu Nhị Thiên Đường. Trung đoàn đặc công 117 bắn 200 viên ĐKB vào sân bay Tân Sơn Nhất. Bộ đội địa phương Bình Chánh đánh chiếm các phân chi khu Tân Túc, Tân Tạo (quận Tân Bình).

Sáng ngày 30 tháng 4, các cánh quân ta cùng nhân dân nổi dậy, đồng loạt tấn công đánh chiếm các mục tiêu đã định. Đến 9 giờ 30 phút, quân địch về cơ bản đã mất sức chiến đấu. Cả Sài Gòn - Gia Định trở thành một rừng cờ, biểu ngữ, hoa các loại vẫy chào quân giải phóng. Những nơi chưa có bộ đội quản lý thì nhân dân, chủ yếu là công nhân, sinh viên, học sinh quản lý. Khi bộ đội đến thì họ giao cho bộ đội quản lý. Nhân dân dẫn đường cho các mũi đột kích đánh chiếm các mục tiêu còn lại. Trước tình hình đó, Dương Văn Minh, tân Tổng thống mới nhậm chức của chính quyền Sài Gòn, tuyên bố xin ngừng bắn để thảo luận bàn giao chính quyền. Lập tức, anh Phạm Hùng phát ngay bức điện hỏa tốc gửi thủ trưởng các đơn vị đang cầm quân trên chiến trường: "Địch dao động tan rã. Các cánh quân hãy đánh mạnh, tiến nhanh, chiếm lĩnh các mục tiêu đúng quy định. Hội quân tại dinh Độc Lập ngụy. Địch không còn gì để thương lượng bàn giao. Chúng phải đầu hàng vô điều kiện. Tiến lên! Toàn thắng"4.

Chấp hành nghiêm mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch, các cánh quân của ta tiếp tục tấn công, buộc chính quyền Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện.

Sáng ngày 30-4-1975, Sư đoàn 9 do anh Ba Hồng (tức Võ Văn Dần) làm Sư đoàn trưởng tiến thẳng vào nội đô, chia thành hai mũi: mũi thứ nhất, Trung đoàn 1 sau khi đánh tan một tiểu đoàn dù địch ở ngã ba Bà Quẹo, đánh chiếm phân chi khu Vĩnh Lộc, tiến vào ngã tư Bảy Hiền, đập tan sự kháng cự của địch ở đây và phát triển theo đường Lê Văn Duyệt, đánh chiếm Biệt khu Thủ đô, tướng địch Lâm Quang Phát đầu hàng. Mũi thứ hai, Trung đoàn 3 tiến công tiêu diệt Sở Chỉ huy Liên đoàn 8 và Tiểu đoàn biệt động quân 88 của địch trên tuyến vành đai Đại Hàn; tiếp đó đánh tan Tiểu đoàn bảo an 327 ở nam Vĩnh Lộc, tiến công chốt của Tiểu đoàn bảo an 317, diệt Chi khu Bà Hom, đánh chiếm trường đua Phú Thọ và phái một bộ phận sang hợp điểm ở dinh Độc Lập.

Lúc 5 giờ 30 phút, mũi tiến công của Trung đoàn 24 phối hợp cùng đơn vị đặc công diệt đồn ngã ba Đình Hưng Đông, sau đó chiếm cầu Nhị Thiên Đường và cầu Chữ Y; 10 giờ 10 phút, đánh chiếm Bộ Tư lệnh Cảnh sát quốc gia và đưa một bộ phận sang hợp điểm ở dinh Độc Lập.

Trung đoàn 88, từ 5 giờ 30 phút đến 8 giờ, tiến công diệt đồn và phân chi khu Bà Phước, sau đó phát triển tiến công và làm chủ đồn Ông Thìn, ngã ba An Phú, khu Nhà Bè.

Trung đoàn 16, lúc 6 giờ 30 phút, chiếm ga An Lộc; 10 giờ 30 phút chiếm cầu Bình Điền, sau đó phát triển vào nội thành.

Sư đoàn 5, từ 5 giờ đến 12 giờ, tiến công và bức hàng toàn bộ Sư đoàn 22 và các liên đoàn biệt động quân, cùng lực lượng tại chỗ đánh chiếm thị xã Tân An, Chi khu Thủ Thừa,... Các đơn vị đặc công, 8 giờ chiếm quận Tân Bình, 10 giờ chiếm quận Bình Chánh; 12 giờ chiếm Đặc khu Rừng Sác.

Mũi tiến công do ba đồng chí Tư Thân, Ba Thạnh và Tư Chiểu đánh vào Tổng nha Cảnh sát và Cảnh sát đô thành, địch bỏ chạy hết, không kịp tẩu tán và hủy tài liệu. Khoảng 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4, bộ đội đã làm chủ và tổ chức gác toàn bộ các vị trí. Anh em rất hăng hái nên dù không được giao mục tiêu, nhưng khi hoàn thành nhiệm vụ sớm ở Tổng nha Cảnh sát, đã cho một mũi vào dinh Độc Lập, còn một mũi phát triển ra cảng hải quân, đánh căn cứ Tư lệnh Hải quân địch.

Mũi phát triển vào tới dinh Độc Lập thì hợp điểm với mũi thọc sâu của Quân đoàn 2 ở đó. Ở thời khắc lịch sử trưa ngày 30-4-1975, tại dinh Độc Lập có mặt ba mũi cùng tiến công vào từ hai hướng: hướng đông là mũi của Quân đoàn 2, hướng tây - tây nam là một mũi của Sư đoàn 9 và một mũi của đồng chí Tư Thân (Đoàn 232).

Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc dinh Độc Lập. Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Lúc này, ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, quân và dân ta tự lực giải phóng địa bàn, góp phần cùng cả nước chấm dứt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc kéo dài 30 năm.

Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta toàn thắng. Nó đã toát lên một điều là đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta đã thấm sâu vào quần chúng, kể cả quần chúng bị bắt buộc vào trong hàng ngũ địch. Đây là thời cơ để bộc lộ tinh thần yêu nước, vì độc lập dân tộc, làm phát lộ chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quần chúng vô cùng sinh động, mạnh mẽ và hiệu qua hơn bao giờ hết.

Ngày 30 tháng 4 và mồng 1 tháng 5, chúng tôi ở sở chỉ huy cánh tây - tây nam tại một địa điểm phía nam huyện Đức Hòa, Long An. Khi nghe các nơi báo cáo: "Xong rồi!", trong cơ thể có một cảm giác nhẹ nhõm, thoải mái biết bao! Và, lúc bấy giờ mới thấy thấm mệt, có thể nói mệt rã rời sau bao ngày đêm toàn bộ cơ thể luôn căng ra như dây đàn. Tối hôm đó, khi anh Phạm Hùng và anh Văn Tiến Dũng cho người xuống gọi tôi lên họp, tôi nói, giờ cho tôi ngủ chút đã mệt quá! Và tôi đã ngủ một giấc tới 9 giờ sáng. Trên đời này, ai vừa trải qua những thử thách nghiệt ngã, những ngày tháng căng thẳng, thì hẳn sẽ hiểu và cảm thông cho giấc ngủ ngon lành, không gì cưỡng nổi của những người lính chúng tôi ngay khi vừa kết thúc cuộc chiến tranh.

Đời tôi đã đi suốt hai cuộc chiến tranh giải phóng đất nước. Biết bao kỷ niệm sâu sắc tưởng chừng không thể quên. Chiến tranh là thử thách cao nhất, nghiệt ngã nhất đối với con người. Nhiều lúc bom đạn ác liệt quá, tôi từng nói vui với anh em: “Bom đạn đầy trời thế này, chết là chuyện thường, còn sống thì mới kỳ lạ!”. Bởi vậy, cú chết hụt ở giờ phút cuối cùng, khi mà chiến tranh sắp kết thúc thì tôi không thể nào quên được.

Sở chỉ huy của cánh quân hướng tây - tây nam nằm ngay bên bờ sông Vàm Cỏ thuộc huyện Đức Hòa. Suốt ngày đêm, tôi vẫn trụ trong cái chòi nhỏ sát mép sông. Sáng hôm đó, tôi vào ăn cơm, chỗ ăn là nhà họp của địa phương, làm nửa chìm nửa nổi, Chính ủy Hai Tưởng đặt vị trí ở đây; vừa ăn xong tự nhiên anh Tưởng bảo tôi: "Anh hãy nán lại, nằm trên võng của tôi mà thở, nghỉ mươi phút rồi hẵng ra đó!". Tôi nghe anh, vừa ngả lưng, thì ở ngoài chòi của tôi một quả bom từ máy bay địch ném trúng, cái chòi bay mất, cậu lái xe của tôi hy sinh, cậu Thái bảo vệ bị thương. Nếu hôm đó ăn xong, tôi ra liền thì nhất định "cái chuyện thường" đã xảy ra với tôi và hôm nay, chẳng còn ngồi để mà viết ra những dòng chữ này! Chiến tranh có chừa ai, cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên nhiều khi không thể mang "tính quy luật ra mà giải thích"!

Từ chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975 đến nay đã hơn một phần ba thế kỷ. Thời gian trôi qua cho phép chúng ta có điều kiện nhìn lại mọi sự vật, hiện tượng đã diễn ra ngày càng rõ ràng, đầy đủ, chính xác hơn. Nếu nói tới chiến thắng 30-4-1975 mà chỉ nói về năm cánh quân trên năm hướng tiến công, tức là chỉ nói về các "quả đấm chủ lực" thì không đủ mà phải thấy đây thực sự là một cuộc "Tổng tiến công và nổi dậy" toàn thắng. "Quả đấm chủ lực" - những binh đoàn cơ động là lực lượng nòng cốt của đấu tranh quân sự, với những đòn "điểm huyệt" đã đánh trúng, đánh hiểm ở những trận then chốt và then chốt quyết định. Nhưng để giải quyết đồng loạt, rộng khắp, kịp thời làm cho cả bộ máy chính quyền và đội ngũ quân địch tan rã thì phải thấy rõ vai trò tiến công và nổi dậy của lực lượng tại chỗ, của lực lượng chính trị quần chúng, trong đó có lực lượng của những người bị bắt buộc ở trong hàng ngũ của địch. Lực lượng tại chỗ tạo điều kiện cho các mũi tiến công của chủ lực cơ động. Ngược lại, "quả đấm chủ lực" tạo điều kiện cho lực lượng tại chỗ nhất loạt tiến công có hiệu quả. Phải thấy rõ vai trò lãnh đạo nhạy bén, kịp thời, thống nhất của khu ủy, tỉnh ủy và đảng ủy các cấp cơ sở trong những ngày Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Trong đó, phải ghi nhận hai người giữ trọng trách hàng đầu là Bí thư Khu ủy và Tư lệnh Quân khu. Quân khu 5, Bí thư Võ Chí Công (Năm Công), Tư lệnh Chu Huy Mân (Hai Mạnh); Quân khu 6, Bí thư Trần Lê (Năm Hòa), Tư lệnh Nguyễn Trọng Xuyên; Quân khu 7, Bí thư Lê Quang Chữ, Tư lệnh Lê Văn Ngọc; Quân khu 8, Bí thư Huỳnh Châu Sổ (Năm Bê), Tư lệnh Lê Quốc Sản; Quân khu 9, Bí thư Vũ Đình Liệu, Tư lệnh Lê Ngọc Hưng; Quân khu Sài Gòn - Chợ Lớn, Bí thư Mai Chí Thọ, Tư lệnh Trần Hải Phụng; Quân khu Trị - Thiên, Bí thư Khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu Lê Tự Đồng.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh của quần chúng đã phát triển thành ba lực lượng: lực lượng vũ trang cách mạng; lực lượng chính trị, cơ sở cách mạng trong lòng địch, lực lượng quần chúng; lực lượng quần chúng bị bắt buộc. Cả ba lực lượng này chuyển hóa vào từng con người một. Nhưng với sự lãnh đạo tài tình, thấm đẫm tính nhân văn của Đảng ta, đã tạo ra động lực thúc đẩy để các lực lượng này có cơ hội bộc lộ và phát huy khả năng tạo nên sức mạnh, hiệu quả góp phần vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy thần tốc, đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương Cục là: "xã giải phóng xã", "huyện giải phóng huyện", "tỉnh giải phóng tỉnh". Các lực lượng của cách mạng đã hiệp đồng chặt chẽ, kết hợp và cộng hưởng tạo nên sức mạnh to lớn "đánh bật quân xâm lược Mỹ" rồi làm tan rã và quật đổ chính quyền tay sai, dù chúng có một bộ máy đồ sộ, với 1,1 triệu quân được trang bị hiện đại, dưới sự bảo trợ của quan thầy ngoại bang.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng chữ "thời". Trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng ta đã tận dụng thời cơ, chớp thời cơ để lãnh đạo quân và dân ta kháng chiến giành thắng lợi. Sau khi có Hiệp định Paris (tháng 1-1973), Mỹ buộc phải rút hết quân đội ra khỏi miền Nam, nhưng chưa rút xong. Chính quyền tay sai Sài Gòn thực hiện ráo riết chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" nhưng chưa triển khai được nhiều. Khi ta đánh "đòn thăm dò chiến lược" Phước Long, địch không dám phản ứng lại, thì đây là thời cơ ta tổng tiến công và nổi dậy giải quyết dứt điểm cuộc chiến tranh. Có thể nói đến cuối năm 1974, trước cuộc Tổng tiến công năm 1975, ở trong nước và cả quốc tế đều thống nhất "đánh cho ngụy nhào". Đây là thời điểm vàng ngọc, thực sự đã tạo ra sức mạnh tổng hợp - sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Nếu để chậm một chút thì chưa chắc đã còn sức mạnh như thế. Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chọn đúng thời cơ và tổ chức thắng lợi, hài hòa và rất hiệu quả cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Chính vì "quả đấm chủ lực" của ta thực hiện đòn mở đầu đánh vào huyệt điểm Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên, đã làm thay đổi nhanh cục diện chiến trường, đẩy quân đội Sài Gòn lâm nhanh vào thế bị động, lúng túng, dẫn đến hoang mang, dao động, vỡ trận, tan rã, sụp đổ trước sức mạnh như nước vỡ bờ của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trên khắp miền Nam.

Cùng với đó, chúng ta không bao giờ quên, sức mạnh của chúng ta có được còn nhờ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô, nhân dân Trung Quốc, cách mạng Lào và Campuchia, các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân và chính phủ các nước yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân và nhiều nghị sĩ tiến bộ Mỹ. Đúng như đồng chí Lê Duẩn nói: Sức mạnh dân tộc đã kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng quân thù.

Đối với dân tộc ta, đây là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử. Nó kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm kháng chiến, cứu nước, giải phóng miền Nam, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Nó trực tiếp góp phần to lớn với cách mạng Lào và Campuchia cùng hoàn thành thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ trong năm 1975.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước của nhân dân ta có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là sự lãnh đạo của Đảng với tư duy khoa học, biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại. Thắng lợi trọn vẹn của chúng ta còn một nguyên nhân cơ bản nữa là tư tưởng "nhân ái", tư tưởng "nhân nghĩa" bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc: “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo". Tư tưởng này đã kết tinh ở một con người của thời đại - Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác đã dạy chúng ta "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", chứ Bác không nói "Đánh tiêu diệt". Tư tưởng đó đã chuyển hóa vào hoạt động chính trị, quân sự, ngoại giao,... Đa số chiến sĩ và đồng bào cả nước thể hiện tư tưởng "nhân ái" ở chỗ: trong chiến tranh, khi bắt được tù binh địch, ta đối xử tử tế, cho ăn uống chu đáo rồi trao trả hết, kể cả lính và sĩ quan Mỹ và các nước chư hầu, kể cả ác ôn địch và chúng ta không có hận thù, trả thù. Chính vì không có cuộc trả thù "tắm máu" nào, quân đội và bộ máy chính quyền địch tan rã tại chỗ nên các đô thị của miền Nam hầu như còn nguyên vẹn, không bị tàn phá. Đây là yếu tố tiên quyết, là cơ sở nền tảng cho sự ổn định chính trị để đất nước đứng vững và phát triển đi lên. Số người trong quân đội và chính quyền Sài Gòn trước đây, kể cả ở trong nước và đi di tản, phần lớn bây giờ họ đã và đang hướng về Tổ quốc nhờ chính sách nhân ái này. Đây là điều minh chứng hùng hồn cho tinh thần "đại đoàn kết dân tộc" để giành "chiến thắng trọn vẹn" của cách mạng Việt Nam.

Trong suốt 21 năm, Đảng ta và dân tộc ta trải qua một cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ để chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược, không chỉ đem lại điều hết sức bất ngờ cho toàn nhân loại, cho cả người Mỹ, và như tôi - người đã trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu này - đến nay, tôi vẫn suy nghĩ vì sao ta thắng quân xâm lược Mỹ?

Vì dân tộc ta có truyền thống yêu nước nồng cháy, có nền văn hóa hàng nghìn năm với tư tưởng "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ". Lịch sử đã đem lại cho Việt Nam cơ may là bắt gặp tư tưởng của thời đại - cuộc cách mạng vô sản thế giới và cuộc cách mạng giành độc lập của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Dân tộc ta đã sản sinh ra người con vĩ đại là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã đem tư tưởng của thời đại vận dụng vào Việt Nam để Việt Nam tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đánh đổ mọi kẻ thù xâm lược. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ cho nhân dân ta đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo trong cuộc đấu tranh toàn dân toàn diện: với lực lượng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích); với ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn và đô thị); với ba mặt trận (chính trị, quân sự, ngoại giao). Nói cụ thể hơn, ta có một mặt trận đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, cô lập kẻ thù cao độ để chiến thắng chúng. Đế quốc Mỹ đưa đội quân xâm lược định thống trị nước ta, nhưng chúng đã sa lầy trong biển cả chiến tranh nhân dân rất sáng tạo và mưu lược của ta. Mưu lược chỉ đạo trong cuộc chiến tranh nhân dân của Đảng ta thật tài tình trong việc mở các mặt trận như: mặt trận Tây Nguyên, mặt trận đường 9, mặt trận nội đô, phối hợp mặt trận chính trị và mặt trận quân sự ở nội đô với quân chủ lực và vùng giải phóng bên ngoài,... Có thể nói, mưu lược chỉ đạo trong cuộc chiến tranh nhân dân của Đảng ta là chưa từng có tiền lệ trong lịch sử dân tộc và các học thuyết, binh pháp của nhân loại.


-----------------------------------------------------------------
3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam bộ và Trung ương Cục miền Nam (1945 – 1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.1087

4. Chân dung người cộng sản chân chính Phạm Hùng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.251.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #34 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:12:48 am »

Chương 9

CHỈ HUY XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
VÀ CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM

 
Kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị quyết định giải thể Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền. Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ từ năm quân khu (6, 7, 8, 9 và Sài Gòn - Gia Định) tổ chức lại thành hai quân khu: Quân khu 7 và Quân khu 9. Quân khu Sài Gòn - Gia Định nhập về Quân khu 7. Quân khu 8 nhập về Quân khu 9. Quân khu 6 nhập về Quân khu 5. Cuối tháng 11-1975, các cơ quan của hai quân khu thống nhất sắp xếp lực lượng theo biểu biên chế mới.

Tháng 2-1976, tôi được điều về làm Tư lệnh Quân khu 9. Trong Bộ Tư lệnh Quân khu có các đồng chí: Lê Văn Tưởng - Chính ủy, Nguyễn Văn Xuyến, Lê Quốc Sản, Phạm Ngọc Hưng và Nguyễn Văn Sỹ - Phó Tư lệnh, Nguyễn Văn Tòng - Phó Chính ủy. Bộ Tư lệnh Quân khu đóng ở thành phố Cần Thơ.

Lúc này, toàn quân đang thực hiện giảm quân số, giải thể các đơn vị. Bộ Tư lệnh Quân khu 9 triển khai thực hiện bốn việc cần làm ngay:

Một là, Quân khu có ba sư đoàn (330, 8 và 4), chúng tôi quyết định giữ lại Sư đoàn 330 thường trực, còn Sư đoàn 8 và Sư đoàn 4 đưa đi làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế. Sư đoàn 8 có công binh cơ giới, xây dựng nông trường sản xuất ở Đồng Tháp Mười, đào kênh từ sông Vàm Cỏ Tây qua sông Tiền. Bà con nhân dân gọi là “kênh Trung ương". Sư đoàn 4 xây dựng các nông trường sản xuất ở vùng tứ giác Long Xuyên. Như vậy, chúng tôi quyết định đưa hai sư đoàn chủ lực đi làm kinh tế, được coi như giảm quân số thường trực nhưng vẫn giữ được ba sư đoàn.

Hai là, Quân khu trực tiếp đào tạo cán bộ trung đội trưởng, trung đội phó, tiểu đội trưởng và một số chiến sĩ đã qua chiến đấu tại Trung tâm Đồng Tâm, sau đó đề nghị phong quân hàm sĩ quan. Nhờ làm tốt việc này nên đã giữ được những đồng chí có kinh nghiệm chiến đấu ở lại xây dựng lực lượng vũ trang. Khi bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, anh em đã chiến đấu dũng cảm, không quản gian khổ hy sinh.

Ba là, kiểm kê quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản, kể cả số vũ khí có trong biên chế sau chiến tranh còn lại và số vũ khí, khí tài, phương tiện, cơ sở vật chất thu được của địch, mà số này rất nhiều cả về số lượng và chủng loại.

Bốn là, chiến đấu ở biên giới Tây Nam và dẹp bạo loạn ở Trà Vinh. Về nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam, trước đây Quân khu đã tổ chức đánh thắng địch ở ngoài đảo, giờ chúng ta phải nghiên cứu bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyết không để một kẻ thù nào tàn sát đồng bào ta.

Việc dẹp bạo loạn ở Trà Vinh, ngay từ đầu, Quân khu ủy đã chủ trương phải giải quyết khôn khéo, mềm dẻo nhưng cương quyết, dứt khoát, không để đổ máu. Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh lúc đó là anh Trung (trước làm công tác binh vận ở Quân khu 9) sốt ruột đề nghị: - Quân khu đưa lực lượng xuống dẹp bạo loạn.

- Không được, thậm chí nếu để mất chính quyền một huyện tôi cũng không đưa. Bạo loạn cũng tại các anh. Các anh phải tìm hiểu và thấy rõ những lệch lạc mà sửa, chủ động xử lý, chứ đưa quân đội xuống là làm to chuyện. - Tôi nói.

Cuối cùng Tỉnh ủy Trà Vinh đã xử lý tốt vụ bạo loạn và những năm sau đó, tình hình chính trị trong tỉnh ổn định.

Kết quả việc thực hiện bốn việc nói trên không những không gây biến động lớn về tổ chức biên chế mà còn tạo được sự ổn định chung trong Quân khu, tạo cơ sở vững chắc cả về con người, tổ chức, xã hội khi có biến động. Khi quân Pol Pot (Pôn Pốt) đánh sang toàn tuyến biên giới Tây Nam, Quân khu 9 không rơi vào tình trạng "bỏ trống địa bàn" vì không có quân thường trực. Lúc đó, hai sư đoàn (4 và 8 ) đang làm kinh tế chuyển ngay sang chiến đấu. Quân khu tổ chức tám trung đoàn có cơ giới tiếp tục khai hoang Đồng Tháp Mười, đào kênh đưa nước vào thau chua rửa mặn, rồi giao cho địa phương chia cho nhân dân sản xuất.

Lúc này, quân Pol Pot đánh thăm dò ta ở biên giới Tây Nam. Quân khu 9 nhanh chóng ổn định tổ chức, vị trí đóng quân của các đơn vị, sẵn sàng chiến đấu. Ngày 17-6-1976, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra quyết định về việc hợp nhất hai đảng bộ Quân khu 8 và Quân khu 9, chỉ định Đảng ủy Quân khu lâm thời. Tôi được chỉ định làm Bí thư. Anh Lê Văn Tưởng làm Phó Bí thư.

Thực hiện nghị quyết của Quân ủy Trung ương về nhiệm vụ công tác quốc phòng năm 1976, Đảng ủy Quân khu 9 ra nghị quyết xác định: Ổn định một bước vùng mới giải phóng, tích cực chấn chỉnh tổ chức, xây dựng lực lượng, triển khai bộ đội làm nhiệm vụ kinh tế, xác định phương hướng kế hoạch cho các vấn đề cơ bản lâu dài, tiếp tục chuyển hướng các mặt công tác xây dựng lực lượng vũ trang và củng cố quốc phòng theo kế hoạch dài hạn, phù hợp với yêu cầu tình hình và nhiệm vụ mới,...

Được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng, từ những tháng cuối năm 1976, Quân khu 9 tổ chức xây dựng một số đơn vị nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, thành lập Trung đoàn thiết giáp 26, Trung đoàn thông tin 29, Trung đoàn công binh 25 và tổ chức thêm tám trung đoàn để thay thế Sư đoàn 4 và Sư đoàn 8 trở lại làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam Tổ quốc.

Đầu năm 1977, trong lúc Quân khu 9 đang tập trung củng cố xây dựng và phát triển lực lượng, đẩy mạnh sản xuất xây dựng kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, thì trên tuyến biên giới, quân Pol Pot đã tập trung lực lượng áp sát biên giới ta, bố trí Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 13 đối diện tỉnh An Giang, Lữ đoàn 2 biên phòng đối diện tỉnh Kiên Giang. Ngoài ra, chúng bố trí một đến hai tiểu đoàn ở các tỉnh sát biên giới của ta.

Trước khi phát động cuộc chiến tranh xâm lấn toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta, quân Pôn Pốt đã có hai năm tiến hành quấy rối, thăm dò, gây các cuộc xung đột vũ trang ở biên giới nước ta, đồng thời tích cực chuẩn bị chiến tranh chống Việt Nam. Ngày 30-4-1975, miền Nam nước ta hoàn toàn giải phóng, thì ngay sau đó, ngày 3-5-1975, Pol Pot cho quân đổ bộ lên đảo Phú Quốc; ta đánh, chúng phải rút. Ngày 5-5-1975, Pol Pot cho quân chiếm đảo Thổ Chu và bắt đi hơn 500 người dân ta; ở huyện Bảy Núi chúng giết hại 780 người dân ta, đồng thời chúng dùng tàu thăm dò các đảo Nam Du, bắc đảo Phú Quốc. Từ đó, chúng liên tục dùng thủ đoạn "trong nóng, ngoài lạnh", bên ngoài tỏ ra hữu nghị với Việt Nam, bên trong ráo riết chuẩn bị chiến tranh chống Việt Nam trên tất cả các mặt chính trị, quân sự và ngoại giao.

Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 chủ trương: “Kiên quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền đất nước, khôi phục các đảo và đất đai bị lấn chiếm". Quân khu tổ chức lực lượng đánh địch ở các đảo Thổ Chu, Phú Quốc và huyện Bảy Núi. Ngày 7-5-1975, lực lượng vũ trang Phú Quốc dùng áp lực buộc địch rút khỏi đảo Phú Quốc. Ngày 25-5-1975, Quân khu 9 tiến công lấy lại đảo Thổ Chu.

Tuy bọn Pol Pot trắng trợn xâm lược nước ta, nhưng ta vẫn kiên trì chủ trương khôi phục mối quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc, tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của nhau, tránh mọi va chạm. Trong hai năm 1975-1976, ta đã chủ động mở bảy cuộc đàm phán, nhưng đều không có kết quả. Thực chất là Pol Pot muốn kéo dài thời gian để chuẩn bị chiến tranh. Chúng đưa phần lớn lực lượng vũ trang ra sát đường biên chuẩn bị sẵn sàng tấn công. Mặt khác, được sự viện trợ ồ ạt của bên ngoài, chúng gấp rút tăng lực lượng vũ trang từ vạn quân chỉ tổ chức ở quy mô đại đội, tiểu đoàn lên 12 vạn quân tổ chức thành 12 sư đoàn chủ lực, 30 trung đoàn bộ đội địa phương và các binh chủng kỹ thuật. Chúng liên tục xâm phạm, đánh phá vùng biên giới của Việt Nam một cách dã man, gây cho nhân dân ta nhiều tổn thất về người và của.

Sau hai năm quấy rối, thăm dò, phía Pol Pot chủ trương: "Phải tiêu diệt người Việt Nam ngay trên đất Việt Nam". Chính Pol Pot tuyên bố mục tiêu là đánh đến cây thốt nốt số một, tức là Lăng Cha Cả, Thành phố Hồ Chí Minh của ta. Giai đoạn này, ở trong nước, Pol Pot thực hiện cuộc tàn sát diệt chủng đẫm máu, ở biên giới ta thì chúng liên tục đột nhập vũ trang gây tội ác, số người dân Campuchia và số cán bộ Campuchia hoảng sợ chạy sang ta, theo luật quốc tế, Bộ Ngoại giao ta có công văn chỉ thị trao trả. Khi trao trả bao nhiêu, chúng giết bấy nhiêu, thậm chí chúng giết ngay trên đất của ta, trước mặt ta. Sau này ta không trao trả nữa mà ta cấp lương thực cho họ và nuôi họ.

Hồi đó, khi quân Pol Pot đánh sang nước ta, giết dân ta, trở mặt rất rõ, nhưng về đối ngoại ta vẫn nhẫn nhịn gọi là “đồng chí Pol Pot". Vấn đề Campuchia đúng ra là ta phải tự kiểm điểm một cách nghiêm túc. Trong từng giai đoạn ta có sai sót. Rõ ràng là sau thắng lợi mùa Xuân 1975, ta thiếu cảnh giác. Khi chúng đánh ta rất đau mà ta vẫn nghĩ rằng: “Đây chỉ là sai lầm của lãnh đạo và chính quyền địa phương của bạn”. Ta chỉ thực sự thấy rõ âm mưu, bản chất dã man của kẻ thù khi chính thức có nguồn tin tình báo chiến lược về sự liên kết nhằm làm suy yếu Việt Nam trong khi Việt Nam đang phải gánh chịu hậu quả 30 năm chiến tranh xâm lược của thực dân, đế quốc, vết thương chưa lành, lương thực thiếu ăn.

Từ ngày 23 đến 29-10-1975, lãnh đạo hai nước lớn Mỹ và Trung Quốc đã gặp nhau và ký thỏa ước.

Ngày 30-4-1977, quân Pol Pot tấn công tuyến biên giới Quân khu 9, đến tháng 8 tấn công tuyến Quân khu 7 và tháng 10 tấn công tuyến Quân khu 5. Chúng thực hiện chính sách giết sạch, đốt sạch, phá sạch, tàn sát cực kỳ dã man đồng bào ta ở biên giới. Chúng kết hợp đánh ta ở bên ngoài biên giới với thanh trừng nội bộ bên trong.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #35 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:17:41 am »

Về phía ta, các tỉnh, các quân khu phía Nam bị động về sẵn sàng chiến đấu, biên giới bỏ ngỏ do ta giảm quân số và thiếu cảnh giác, nên không hoàn thành nhiệm vụ. Trước hành động xâm lược của bọn Pol Pot, ta vừa phải đối phó với cuộc tấn công của địch, vừa tiến hành xây dựng lực lượng và xây dựng tuyến phòng thủ biên giới. Thực hiện nhiệm vụ chiến lược chung, lực lượng bộ đội thường trực của Quân khu 9 được khôi phục lại biên chế, quân số thực hiện sẵn sàng chiến đấu. Bộ đội địa phương các tỉnh biên giới và nội địa được gấp rút ổn định lại tổ chức biên chế, sáp nhập các tiểu đoàn để xây dựng tiểu đoàn chiến đấu mạnh, chuyển các tiểu đoàn khung huấn luyện thành tiểu đoàn chiến đấu. Mỗi tỉnh có một đại đội pháo, một đại đội biên phòng. Mỗi huyện có một đại đội, mỗi xã có từ một đến hai tiểu đội du kích tập trung.

Để đáp ứng yêu cầu chỉ huy tác chiến, ngày 31-5-1977, Bộ Tổng Tham mưu quyết định tổ chức Văn phòng Bộ và Cục Tác chiến thường trực tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm tăng cường sở chỉ huy của Bộ ở phía Nam. Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo tăng cường lực lượng cho các quân khu 5, 7, 9, bố trí lại hệ thống hỏa lực mặt đất và phòng không, động viên bộ đội sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết giáng trả khi quân Pol Pot xâm phạm biên giới.

Từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6-1977, trên tuyến biên giới do Quân khu 9 phụ trách, địch lại tiếp tục tiến công từ An Giang đến Kiên Giang, xâm lấn từ Xà Xía (Hà Tiên) đến xã Vĩnh Điều (Kiên Lương) của tỉnh Kiên Giang. Chúng đưa hai tiểu đoàn của lữ đoàn biên phòng và một trung đoàn bộ binh từ tỉnh Cam Pốt đánh thẳng vào Sa Kỳ, Thạch Động, xã Mỹ Đức, bắc thị xã Hà Tiên. Mũi tiến công vào xã Vĩnh Điều chúng đưa một bộ phận vào Rọc Xây, sát Nhà máy xi măng Hà Tiên (nay thuộc huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang). Từ ngày 11 đến 14- 6-1977, Trung đoàn 20 thuộc Sư đoàn bộ binh 4 phối hợp với Tiểu đoàn 207 bộ đội địa phương tỉnh Kiên Giang đánh địch, song do địch có quân đông hơn nên ta không đánh bật địch ra được. Tôi lệnh cho anh Nguyễn Đệ, Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh 330, điều Trung đoàn 2, Trung đoàn 3 và hai chi đội máy bay chiến đấu (được Bộ quốc phòng chi viện) hiệp đồng với pháo binh Quân khu cùng Trung đoàn tăng - thiết giáp 26 phản kích tiêu diệt địch, đuổi địch ra khỏi biên giới.

Sau hai lần tiến công sang tuyến biên giới nước ta tại An Giang và Kiên Giang, địch đều bị thất bại, từ đó chúng liên tục bắn pháo sang đất ta. Ngày 18-7-1977, ta sử dụng không quân tập kích diệt hai trận địa pháo địch ở Cả Ngang, Lục Sơn. Quân khu chỉ đạo cho các đơn vị bảo vệ nhân dân trên tuyến biên giới.

Tháng 9-1977, Thường vụ Quân ủy Trung ương họp đề nghị Bộ Chính trị có chủ trương giải quyết tình hình biên giới Việt Nam - Campuchia và điều động hai quân đoàn (3 và 4) của Bộ vào, mở chiến dịch gồm bốn sư đoàn tham chiến. Tuy kết quả còn hạn chế, nhưng đã tạo tiền đề cho việc tổ chức đánh trả địch ở các bước tiếp theo.

Từ ngày 5-11-1977 đến 5-l-1978, ta mở chiến dịch lớn gồm tám sư đoàn tham gia đánh địch ra khỏi biên giới và truy kích chúng qua đất Campuchia, có nơi sâu đến 20-30km. Nhưng ngay sau đó, Bộ Chính trị yêu cầu quân đội phải rút quân về.

Ngày 31-12-1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố về vấn đề biên giới Việt Nam - Campuchia, nêu rõ lập trường quan điểm của Việt Nam là tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ hai nước theo nguyên tắc công bằng, hợp lý. Do quân Pol Pot - Ieng Sary (Yêng Xao) liên tục xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, nhân dân và lực lượng vũ trang Việt Nam ở vùng biên giới buộc phải chiến đấu tự vệ, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và cuộc sống bình yên của mình1.

Ngày 5-2-1978, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố lập trường ba điểm giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam - Campuchia:

1. Chấm dứt ngay mọi hành động thù địch bằng quân sự ở biên giới, lực lượng vũ trang của mỗi bên đứng sâu trong lãnh thổ của mình, cách đường biên 5km.

2. Hai bên gặp nhau để bàn bạc và ký một hiệp ước hữu nghị, không xâm lược nhau và ký hiệp ước về biên giới.

3. Hai bên sẽ thỏa thuận một hình thức thích hợp bảo đảm quốc tế và giám sát quốc tế2.

Những đề nghị hợp tình, hợp lý, nhân nhượng của ta được dư luận quốc tế đồng tình, nhưng tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary và quan thầy của chúng lại ngoan cố cự tuyệt, tiếp tục tiến hành chiến tranh và vu cáo Việt Nam xâm lược. Ngày 1-2-1978, Trung ương Đảng của Pol Pot họp bàn chủ trương chống Việt Nam và quyết định thành lập thêm năm sư đoàn. Kế đó, chúng đã điều 13/17 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn địa phương áp sát biên giới, liên tục mở các cuộc tấn công vào lãnh thổ của ta, có nơi chúng tiến sâu tới 15-20km.

Như chúng ta đã biết, sau chiến dịch Mậu Thân 1968, lực lượng chủ lực của ta rút sang Campuchia củng cố lực lượng, đồng thời giúp lực lượng cách mạng Campuchia giải phóng đất nước ngày 17-4-1975, sau đó ta giao cho bạn (mà lúc đó bạn là Đảng Cộng sản Campuchia). Sau chiến thắng vĩ đại này, đáng lẽ nhân dân Campuchia phải được sống trong hòa bình, độc lập, tự do và hạnh phúc, nhưng ngày 17-4-1975 đã trở thành mốc mở đầu một giai đoạn đen tối nhất của lịch sử Campuchia. Đây là thời kỳ tồn tại của "Campuchia dân chủ” do nhóm độc tài cực đoan Pol Pot - Ieng Sary - Khieu Samphan (Khiêu Xămphon) đứng đầu. Một mặt, chúng tiến hành quyết liệt và tàn bạo cuộc diệt chủng đối với những người Campuchia yêu nước, mặt khác, chúng ráo riết xây dựng quân đội và tiến công xâm lược trên toàn tuyến biên giới Tây Nam của Việt Nam.

Trên hướng Quân khu 9, sau nhiều tháng chiến đấu liên tục, lực lượng chủ lực cơ động chiến đấu trên nhiều hướng, chốt giữ trên các hướng quan trọng, quân số bị tiêu hao, lực lượng địa phương chưa đủ mạnh, vì vậy Quân khu chủ trương vừa chiến đấu đánh địch, vừa xây dựng huấn luyện, bổ sung quân số tại chỗ, đồng thời rút thêm các tiểu đoàn địa phương của các tỉnh phía sau lên tăng cường cho từng khu vực phòng thủ. Theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, lực lượng vũ trang Quân khu chỉnh huấn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IV), các tỉnh biên giới tiếp tục xây dựng thêm các tiểu đoàn, trung đoàn để đáp ứng yêu cầu chiến đấu.

Ngày 18-2-1978, Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ năm 1978, trong đó xác định: Đảng ủy các cấp, toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên, toàn thể cán bộ, chiến sĩ công nhân viên quốc phòng hãy nhận rõ tình hình nhiệm vụ, vai trò trách nhiệm của mình, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo vệ vững chắc biên giới, bảo vệ tốt trật tự trị an nội địa...".

Trước tình hình địch tăng cường đánh phá, sử dụng lực lượng tiến công quy mô ngày càng lớn và đánh sâu vào nội địa ta, ngày 2-3-1978, Bộ Tư lệnh Quân khu ra chỉ thị về việc “tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao sức mạnh chiến đấu cho các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới". Từ ngày 5 đến 25-4-1978, Quân khu chủ trương mở đợt phản công toàn diện trên tuyến biên giới nhằm giành lại thế chủ động, khôi phục các khu vực bị địch chiếm giữ, đẩy địch về bên kia biên giới. Đồng thời, huy động lực lượng phía sau lên xây dựng tuyến phòng thủ. Quân khu giao nhiệm vụ cho Sư đoàn bộ binh 330 cơ động diệt địch tại khu Tràm Hà Tiên, đoạn Phú Mỹ, sau đó đánh sâu qua đất Campuchia 6-7km, dừng lại đánh địch phản kích từ 10 đến 15 ngày, nhằm hỗ trợ cho lực lượng phía sau lên xây dựng tuyến phòng thủ, bảo vệ biên giới.

Cùng với nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới, các đơn vị ở tiểu  đội 2 đẩy mạnh lao động sản xuất, cày ải được 3.000ha; gieo sạ được 2.000ha, vượt chỉ tiêu so với kế hoạch, đào đắp được 15.000m3 đất kênh cấp I, II, xây dựng được nhiều nhà ở, củng cố doanh trại khang trang hơn.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, ngày 5-5-1978, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra quyết định tổ chức rút gọn Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh thành Bộ Chỉ huy quân sự Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 7. Anh Trần Văn Trà được Trung ương điều động ra Bắc làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và tôi được điều từ Quân khu 9 về làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu. Thiếu tướng Dương Cự Tẩm - Phó Chính ủy, Thiếu tướng Đồng Văn Cống, Thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâm, Đại tá Lương Văn Nho, Đại tá Nguyễn Thời Bưng - Phó Tư lệnh.

Bộ Tư lệnh Quân khu thống nhất đề nghị với Bộ Tổng Tham mưu khôi phục lại quân số và một số đơn vị thuộc Quân đoàn 4 (mà Quân khu 7 đã giải thể), đồng thời xin và đưa Quân đoàn 3 vào. Sau đó, Bộ Tổng Tham mưu quyết định điều động toàn bộ lực lượng còn lại của Quân đoàn 3 ở địa bàn Quân khu 5 lên bắc Tây Ninh.

Sau khi kiện toàn, tổ chức tại lực lượng và thế phòng thủ, các lực lượng vũ trang Quân khu phát triển thế tiến công tiêu diệt địch, vừa mở rộng đánh chiếm địa hình có lợi, vừa tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm huấn luyện tại chỗ. Để chuẩn bị hoạt động trong mùa khô 1978-1979, Bộ Tư lệnh Quân khu điều chỉnh đội hình, tổ chức lực lượng trực thuộc ba sư đoàn (5, 302, 303) cùng một trung đoàn bộ binh, bốn trung đoàn binh chủng (đặc công, pháo binh, phòng không, thiết giáp), hai đại đội và hai tiểu đoàn bộ binh mới xây dựng cùng các đơn vị bảo đảm (thông tin, công binh, vận tải trinh sát).

Sau một thời gian dài buộc phải đánh trả địch ở biên giới với mức độ kiềm chế, ta nhiều lần chủ động đề nghị phía Campuchia tiến hành thương lượng nhưng không những thiện chí của ta không được đáp lại mà tập đoàn phản động Pol Pot còn có hành động hung hăng hơn. Tình hình ngày càng xấu đi. Ở biên giới Tây Nam, các cuộc khiêu khích vũ trang của quân Pol Pot đã mở rộng thành cuộc chiến tranh xâm lược. Trung Quốc đưa ra cái gọi là “Việt Nam xua đuổi, bài xích người Hoa", tuyên bố cắt toàn bộ viện trợ, rút hết chuyên gia về nước; đồng thời tăng cường lực lượng đưa quân áp sát biên giới phía Bắc nước ta, gây tình trạng hết sức căng thẳng. Trong khi đó, Mỹ tăng cường bao vây cấm vận Việt Nam. Trước tình hình đó, ngày 15-6-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp bàn về cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và tình hình căng thẳng ở biên giới phía Bắc. Trên cơ sở đánh giá toàn diện tình hình ta - địch, Hội nghị xác định đây là một cuộc chiến tranh xâm lược mà ta mất cảnh giác từ sau giải phóng miền Nam tới nay. Hội nghị đã tập trung phân tích khả năng phát triển của tình hình, trên cơ sở đó xác định phương hướng, chủ trương và biện pháp chiến lược nhằm bảo vệ Tổ quốc trong quá trình xây dựng đất nước.

Ngày 19-7-1978, Quân ủy Trung ương ra Quyết định số 69/QĐ-QUTW tổ chức Tiền phương Bộ Quốc phòng, có nhiệm vụ: chỉ huy thống nhất mọi hoạt động tác chiến của các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng ở phía Nam thực hiện nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc ở biên giới Tây Nam. Tôi - Tư lệnh Quân khu 7 kiêm Chỉ huy trưởng, các anh Lê Ngọc Hiền và Hoàng Cầm làm Chỉ huy phó.

Do tính chất chiến trường có liên quan chặt chẽ với chiến trường Campuchia nên Quân khu 7 được xem là địa bàn trọng điểm vừa tập trung sức chiến đấu, vừa tham gia tích cực làm nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Campuchia. Đầu năm 1978, Bộ Tổng Tham mưu thành lập Ban K do đồng chí Trần Văn Quang phụ trách, làm tham mưu về xây dựng lực lượng cho Campuchia. Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho Quân khu 7 trực tiếp lo việc này.

Cuối tháng 7-1978, Hun Sen gặp một số đồng chí lãnh đạo Việt Nam và gặp Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam đề nghị Việt Nam giúp xây dựng lực lượng để sớm trở về nước cứu dân tộc mình. Được Tổng Tham mưu trưởng đồng ý, Hun Sen trực tiếp tổ chức xây dựng lực lượng, chọn người, thành lập các đơn vị.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Nghị quyết 4 của Ban Chấp hành Trung ương, từ tháng 8-1978, các quân khu ở biên giới Tây Nam đã khẩn trương giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Các căn cứ địa lúc đầu phải tạm xây dựng ở trên đất Việt Nam, gần biên giới hai nước.

Lúc này, đi đôi với tác chiến trừng trị địch và phòng thủ biên giới, cán bộ, chiến sĩ Quân khu 7 đã tích cực giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Tháng 10-1978, bạn đã tập hợp các cán bộ cách mạng chân chính lập ra đơn vị đầu tiên gồm 125 người, đặt tên là "Lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước Campuchia", sau đó đơn vị này chuyển thành khung huấn luyện. Bạn đến các trại tị nạn người Campuchia chọn các thanh niên khỏe mạnh, hăng hái, đưa về huấn luyện, tổ chức lực lượng vũ trang.

Quân khu 7 cử đồng chí Phùng Đình Ấm (tức Ba Cung) và một số đồng chí giúp bạn xây dựng lực lượng. Phía ta chủ yếu huấn luyện quân sự, còn chính trị thì do các đồng chí của bạn đảm nhiệm, trong đó có nhiều bài do đồng chí Hun Sen trực tiếp soạn thảo và lên lớp. Khi lực lượng phát triển đông, Quân khu 7 giúp bạn tổ chức căn cứ huấn luyện ở Long Giao, Đồng Nai. Đến tháng 12-1978, bạn đã xây dựng được 21 tiểu đoàn, 5 đại đội và 69 đội vũ trang tuyên truyền. Đây là lực lượng vũ trang cách mạng nòng cốt đầu tiên của nhân dân Campuchia.

Trong quá trình giúp bạn xây dựng lực lượng, quân và dân ta vẫn liên tục đánh địch và tăng cường công tác theo dõi nghiên cứu tình hình, đồng thời chuẩn bị mọi mặt để khi thời cơ đến thì giúp bạn giải phóng đất nước.

Ta phản công trên toàn tuyến biên giới, địch bị thiệt hại nặng. Nhưng do có sự giúp đỡ của nước ngoài nên chúng chưa chịu từ bỏ âm mưu tấn công xâm lược ta, chúng vẫn tiếp tục tăng cường lực lượng ra biên giới (19/23 sư đoàn chủ lực bố trí dọc biên giới).

Lực lượng vũ trang ta ngày càng được củng cố, tác chiến ngày càng thu được nhiều thắng lợi trên các tuyến biên giới và đã đánh bật các đơn vị của Pol Pot sang bên kia biên giới.

Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam đã lùi vào dĩ vãng hơn 30 năm. Là người được trực tiếp tham gia nhiệm vụ chiến đấu và công tác trên chiến trường Nam Bộ và bảo vệ biên giới Tây Nam, bấy lâu nay, tôi hằng suy tư một điều: Thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, cụ thể là hai năm 1967 và 1968, khi mà tuyến vận chuyển hậu cần trên dãy Trường Sơn chưa có hoặc có nhưng còn hạn chế, ta đã dùng tàu và ghe vận chuyển trên đường biển, có sự giúp đỡ của nhân dân và Chính phủ Campuchia do Quốc vương Sihanouk đứng đầu. Hàng viện trợ của Trung Quốc và bè bạn các nước xã hội chủ nghĩa được vận chuyển bằng đường biển cập cảng Sihanoukville, rồi từ đây ta chuyển bằng ôtô về mặt trận Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ rất hiệu quả. Rồi một thời kỳ dài (sau năm 1968), các đơn vị chủ lực của ta đứng chân trên đất bạn Campuchia. Bộ đội ta được chính quyền, nhân dân Campuchia và quân đội Hoàng gia giúp đỡ nhiều. Khi Lon Noi được sự hỗ trợ của nước ngoài đã làm đảo chính lật đổ Sihanouk (tháng 3-1970), giới cầm quyền Campuchia thực sự chỉ có một nhóm người phản động làm tay sai cho nước ngoài, còn nhân dân vẫn là nhân dân Campuchia, quân đội vẫn là quân đội Hoàng gia Campuchia, những người đã và đang giúp đỡ chúng ta.

Như vậy, về mặt chiến lược, ta đã không đánh giá đúng âm mưu cơ bản và ý định chiến lược của các thế lực thù địch, không kịp thời nhận ra nguy cơ chiến tranh xâm lược đang tồn tại và uy hiếp trực tiếp đối với nước ta. Đây cũng là một bài học lớn.




-----------------------------------------------------------------
1. Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Việt Nam thế kỷ XX - Những  sự kiện quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.537-538.

2. Xem Bộ quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Việt Nam thế kỷ XX - Những sự kiện quân sự, Sđd, tr.539.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #36 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:21:18 am »

Chương 10

LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ Ở CAMPUCHIA

 
Sau một thời gian bị quân Pol Pot đánh sang biên giới nước ta, ta kiên trì thương lượng nhưng không được. Đến ngày 15-6-1978, Bộ Chính trị ta xác định: Tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary là kẻ thù nguy hiểm có tội với đất nước Việt Nam và đất nước Campuchia. Lúc bấy giờ, Bộ Chính trị ta mới thành lập các ban phụ trách công tác Z1 để giúp Bộ Chính trị. Ban Công tác Z quân sự lấy bí danh là Ban 10, do đồng chí Thượng tướng Trần Văn Quang, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Trưởng ban. Ban Phụ trách công tác Z được thành lập một cơ quan giúp việc, với danh nghĩa là một đoàn, lấy phiên hiệu là Đoàn 478, gồm các cán bộ cao cấp, trung cấp phụ trách công tác tham mưu cho Bộ Chính trị và Bộ Quốc phòng về vấn đi Campuchia.

Tiếp đó, Bộ Chính trị thành lập Ban Công tác Z Trung ương, lấy bí danh là B68, do đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng, phó Viện trưởng Viện Khoa học quân sự Việt Nam làm Trưởng ban. Ngày 2-12-1978, Mặt trận đoàn kết cứu nước Campuchia do ông Heng Samrin (Hênh Xamrin) làm Chủ tịch đã ra mắt nhân dân.

Trên cơ sở lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia do đồng chí Hun Sen tổ chức xây dựng, huấn luyện được 21 tiểu đoàn, trong hai ngày 6 và 7-12-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm mở cuộc tổng phản công chiến lược đẩy quân địch ra khỏi tuyến biên giới Tây Nam; hỗ trợ các lực lượng vũ trang yêu nước và nhân dân Campuchia nổi dậy đánh đổ tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary.

Thực hiện quyết tâm trên đây, Bộ đã điều động ba quân đoàn (Quân đoàn 2, 3 và 4) và lực lượng chủ lực ba quân khu (Quân khu 5, 7 và 9) cùng với lực lượng của bạn mở cuộc tổng phản công vào ngày 26-12-1978. Được lệnh của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, đồng chí Lê Đức Thọ chỉ đạo, đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu trưởng - trực tiếp chỉ huy.

Ngày 7-1-1979, ta và bạn đã giải phóng Phnom Penh. Ngày 8-1-1979, bạn công bố thành lập Hội đồng Nhân dân cách mạng Campuchia do đồng chí Heng Samrin làm Chủ tịch.

Ngày 17-1-1979, ta và bạn chiếm lĩnh Angkor (Ăngco) và các thị xã trong cả nước Campuchia.

Còn nhớ, vào thời điểm trước khi ta nổ súng tiến công giải phóng Campuchia, anh Chu Huy Mân - ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị vào gặp một số anh em cán bộ, sau đó anh nói với tôi:

- Bây giờ ta đánh quân Pol Pot, giải phóng Campuchia, xong giao cho bạn. Ý anh thế nào?

- Khi nào bạn đảm đương được thì giao cho bạn - Tôi nói.

Anh Mân im lặng, không nói gì thêm.

Tháng 1-1982, anh Lê Duẩn gặp tôi và anh Lê Trọng Tấn, có cả anh Phi Long - Cục phó Cục Tác chiến - tại nhà số 6 phố Hoàng Diệu, Hà Nội.

Anh Duẩn hỏi:

- Tình hình ta và bạn tại Campuchia thế nào? Bạn tự đảm đương được chưa? Ta rút quân về đồng bằng để làm ruộng được chưa?

Tôi trả lời:

- Thưa anh! Trước ngày nổ súng tiến công sang Campuchia, anh Mân vào trong ấy cũng nói với tôi là đánh giải phóng xong thì giao cho bạn rồi về. Tôi trả lời: Khi nào bạn đảm đương được thì giao cho bạn.

Anh Duẩn nói:

- Các anh bàn cho kỹ, giúp bạn phải khẩn trương để giao cho bạn càng sớm càng tốt.

Tôi nói:

- Nếu bây giờ ta rút về thì sẽ hỏng hai việc lớn.

Anh Duẩn liền hỏi:

- Hai việc gì? Anh cứ nói để ta bàn.

- Báo cáo anh! Việc thứ nhất là, 10 vạn quân trở về chưa biết làm ruộng, không làm ra lương thực; việc thứ hai, nếu ta rút về thì Pol Pot sẽ quay lại thực hiện mưu đồ của nước ngoài tiếp tục đánh lại ta quyết liệt hơn. Nếu ta không đánh sang, cứ be bờ phòng thủ và tăng thêm quân cũng khó giữ được biên giới. Mà đã đánh, giải phóng, thì ta phải mất khoảng 10 năm để giúp bạn mạnh lên. Bạn có vững mới giữ được, lúc ấy ta về, không phải dai dẳng đương đầu với địch.

Nghe tôi nói xong thì anh nói:

- Vậy các anh về Bộ Tổng Tham mưu bàn lại cho kỹ để Bộ Chính trị quyết định.

Khi đặt chân sang đất bạn, tôi thấy một kiểu trại tập trung thật kinh khủng. Cả đất nước, cả xã hội Campuchia tan nát, tiêu điều. Sau khi giải phóng, Phnom Penh như một thành phố ma. Nhiều nhà không có người ở. Đất nước Campuchia từ bao đời vẫn lấy đạo Phật làm quốc đạo, nhưng chùa chiền bị phá hủy, hầu hết thiết chế văn hóa và cơ sở hạ tầng xã hội bị phá nát, biến cả đất nước thành nhiều trại tập trung gọi là công xã, một xã hội không tín ngưỡng, không cúng bái thờ phụng, không họp chợ, không dịch vụ điện thoại, bưu điện, không tiêu tiền, không trường lớp học hành, con người không quê hương và gia đình. Hôn nhân thì tổ chức cưới tập thể do Angkar (Ăngca) gán ghép. Con người trở thành nô lệ, phải lao động khổ sai. Quyền cơ bản của con người bị tước đoạt. Những cuộc xua đuổi ly hương và những cuộc hành quyết diễn ra dồn dập và triền miên với kiểu giết người man rợ của bọn Pol Pot: đập vỡ đầu bằng lưỡi cuốc. Những hố chôn người tập thể, nhiều năm sau vẫn chưa khám phá hết. Mới hơn ba năm Pol Pot cầm quyền mà hàng triệu dân lành đã bị giết hại. Chúng đã tạo ra một không khí lo âu, sợ hãi để đi đến tâm lý tuyệt đối phục tùng vô điều kiện, biến đội quân trẻ mặc áo lính thành những kẻ chỉ làm theo lệnh trên là giết người.

Khi quân ta đánh sang thì Angkar, cố vấn và quân đội của Pol Pot chạy lên biên giới Thái Lan và trốn vào rừng. Bộ đội ta cùng lực lượng vũ trang của bạn nhanh chóng giải phóng các công xã, cứu nhân dân.

Bộ Tư lệnh tiền phương phân công bộ đội bảo vệ các thành phố, thị xã, quản lý khu Hoàng cung, quản lý Nhà vàng, Nhà bạc, bảo vệ đền Angkor Thom (Ăngco Thơm), đền Angkor Wat (Ăngco Vát) và các vùng trọng điểm, đồng thời tổ chức lực lượng truy kích địch. Còn tất cả tập trung cứu đói, cứu đau cho dân và giúp dân sản xuất.

Hoàn thành nhiệm vụ được giao ở Campuchia, ngày 27-2-1979, Quân đoàn 2 có lệnh trở về nước nhận nhiệm vụ mới. Tiếp đó, đầu tháng 8-1979, toàn bộ đội hình Quân đoàn 3 rút quân về nước nhận nhiệm vụ bảo vệ các tỉnh biên giới phía Bắc Tổ quốc.

Trong bối cảnh đất nước Campuchia vừa thoát khỏi họa diệt chủng, quân Pol Pot bị đánh tan, nhưng lực lượng của chúng còn đông, lại được sự giúp đỡ và chỉ huy từ bên ngoài nên luôn tìm cách phá hoại cách mạng Campuchia, việc quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp bạn đòi hỏi phải nỗ lực rất lớn. Trên cơ sở quan điểm của Đảng là tôn trọng độc lập, chủ quyền, phong tục tập quán của bạn, ta giúp bạn để bạn tự vươn lên làm chủ, giành thắng lợi, tránh tác phong bao biện làm thay.

Tình hình nạn đói ở Campuchia lan rộng và ngày càng nghiêm trọng. Số người thiếu đói có thể lên tới hàng triệu và số lương thực cứu trợ mỗi tháng lên tới hàng vạn lần. Chính phủ ta đã chủ trương tập trung lực lượng cứu đói cho nhân dân Campuchia, quyết định mở chiến dịch vận chuyển cứu đói phục vụ sản xuất nông nghiệp trước mắt ở Campuchia và cử hai đồng chí Phó Thủ tướng Đỗ Mười và Lê Thanh Nghị cứu đau cho bạn.

Ngày 24-7-1979, Phó Thủ tướng Đỗ Mười đã chủ trì cuộc họp tại Thành phố Hồ Chí Minh để kiểm tra việc thực hiện kế hoạch vận chuyển lương thực khẩn cấp và bàn biện pháp giúp bạn. Đồng thời, đồng chí còn chỉ thị các đơn vị phải nhanh chóng giúp bạn mở cảng biển Kongpong Gom (Kôngpông Xom) để tàu biển của ta và Liên Xô cập bến vận chuyển hàng hóa trực tiếp cho bạn.

Đầu tháng 9-1979, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị chỉ thị cho Bộ Nông nghiệp và Bộ Giao thông vận tải vận chuyển hàng viện trợ giúp Campuchia 10.000 tấn thóc giống và 500 tấn ngô giống để bạn gieo trồng kịp thời vụ.

Không chỉ tập trung vận chuyển cứu đói, đội ngũ chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam còn vận động nhân dân Campuchia khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, khẩn trương cấy lúa và trồng các loại rau màu để giải quyết nạn đói.

Quân đội và chuyên gia Việt Nam đã khắc phục khó khăn, không ngại gian khổ đi cứu đói, cứu đau cho dân; dân bị đói dài ngày đi liền với dịch bệnh xuất hiện. Cụm từ "cứu đói, cứu đau" lúc đó được phổ biến đến từng đơn vị. Ta lập các tổ vận chuyển lương thực, tổ y tế đến từng địa phương cứu đói, cứu đau cho dân; đồng thời đưa các bác sĩ, y sĩ, y tá của ta kết hợp với bác sĩ, y sĩ, y tá của bạn thành lập các bệnh viện, bệnh xá để chữa bệnh cho dân; nhanh chóng khôi phục lại đời sống xã hội Campuchia, tạo mọi điều kiện để người dân tha phương, người dân bị o ép trong các trại tập trung mà bọn Pol Pot gọi là công xã trở về quê hương bản quán của mình, tức là khôi phục lại phum sóc, làng xã, dựng lại nhà cửa, trường học, chùa chiền. Ruộng đất, vườn tược của ai thì được trả lại cho người ấy.

Những ngày đó, chỗ nào xe đi được thì ta dùng xe để chở lương thực, thực phẩm đến cứu đói cho dân. Nơi nào xe không đi được thì bộ đội gùi, mang vác gạo, muối và thuốc men đến cứu dân. Người dân đói rách lâu ngày, lại không được tắm nên cơ thể vừa tiều tụy vừa toát ra một mùi hôi, khét. Nhưng anh em bộ đội tình nguyện chẳng nề hà, cứu họ như cứu người thân của mình. Người còn đi được thì anh em dìu đi. Người không đi được thì anh em bế, cõng họ về doanh trại, bón cháo, cho uống thuốc, rồi đưa họ đi tắm và giặt quần áo cho họ. Khi họ đã tỉnh lại, có thể đi được thì anh em dìu họ trở về quê. Có thể nói, cứu đói, cứu đau là một thời kỳ đã đi vào lịch sử nước bạn. Chúng tôi sang đó đều cảm nhận rất rõ rằng nếu bộ đội Việt Nam và lực lượng cách mạng Campuchia đến chậm thì không thể lường hết có bao nhiêu người dân ở các công xã sẽ chết vì đói, bệnh tật và bị giết. Từ năm 1975 đến 1979, hàng triệu người dân Campuchia chết, xương người chết rải rác ở nhiều nơi. Ngôi nhà ở gần sở chỉ huy của tôi ở Phnom Penh còn cả hố xương người.


-----------------------------------------------------------------
1. Trong các văn kiện của Đảng và quân đội thời kỳ này, Z được dùng để chỉ Campuchia.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #37 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:25:04 am »

Trong khi ta và bạn đang tập trung cứu đói, cứu đau cho nhân dân Campuchia, kết hợp với truy kích địch thì ngày 17-2-1979, Trung Quốc huy động 60 vạn quân với hàng trăm xe tăng, xe bọc thép và hàng nghìn khẩu pháo, mở cuộc tiến công ồ ạt vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Quảng Ninh đến Lai Châu nhằm: "Dạy cho Việt Nam một bài học". Đồng thời, Mỹ xiết chặt việc bao vây cấm vận đối với Việt Nam và phân chia ảnh hưởng trên ba nước Đông Dương. Ta chủ trương vừa đánh lui quân Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, vừa duy trì lực lượng ở Campuchia, tiếp tục cứu đói, cứu đau cho nhân dân Campuchia và truy quét địch.

Việc khôi phục lại sản xuất thì từng gia đình, từng thôn bản, phum sóc tự lo, người dân tự làm, nhưng bạn thiếu lao động. Bộ Tư lệnh tiền phương chủ trương huy động bộ đội tham gia sản xuất giúp nhân dân. Chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam còn vận động nhân dân thành lập tổ sản xuất để tương trợ lẫn nhau. Đến cuối năm 1979, cả nước Campuchia đã lập được 46.000 tổ sản xuất, góp phần quan trọng thúc đẩy sản xuất, khôi phục kinh tế nông thôn.

Bộ đội Việt Nam về nước mang hạt bí, hạt bầu, dây khoai lang, hom sắn, thóc giống, cả nông cụ nữa sang giúp nhân dân Campuchia, đồng thời còn giúp xây dựng chính quyền cơ sở, đoàn thể xã hội, trường lớp, chùa chiền, chợ búa, v.v..

Ngay từ đầu và suốt quá trình công tác, chiến đấu trên đất bạn, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam đã giáo dục, quán triệt tư tưởng cho bộ đội ta sang làm nhiệm vụ quốc tế phải lấy mục đích góp phần hồi sinh dân tộc và xây dựng lại đất nước Campuchia, lấy lòng nhân ái để vận động thuyết phục họ hướng thiện, xóa bỏ hận thù. Bởi vậy, khi quân Pol Pot chạy ra rừng, chúng ta đã động viên từng gia đình vào rừng kêu gọi, vận động con em, chồng, cha họ trở về với gia đình, với phum sóc lo làm ăn và xây dựng cuộc sống mới. Chúng tôi cũng động viên những người đã từng đi lính cho Pol Pot trở vào vận động những người lính khác còn ẩn náu. Dần dần số lính này trở về rất nhiều. Còn một số trốn trong rừng, gọi mãi không ra thì bạn bắn súng chỉ thiên để dọa. Sau đó, chúng tôi vận động một số lính đã trở về vào rừng gọi nhóm trốn chạy ra, tuy nhiên họ sợ vì không có vũ khí trong tay, nếu cán bộ cho súng thì họ đi. Nhiều anh em còn băn khoăn ngần ngại. Tôi bảo cứ đưa súng cho số người này. Quả nhiên, sau khi có súng, số người này đã kéo hết nhóm trốn chạy trở về. Chỉ còn Pol Pot trốn đi đâu không ai biết.

Về việc giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, chủ trương của ta là phải giúp bạn xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang trên cơ sở xây dựng chính quyền và các đoàn thể. Đồng chí Mai Xuân Tần, thuộc Đoàn chuyên gia quân sự 478, phụ trách việc giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng.

Để giúp bạn sớm khôi phục sản xuất, ổn định đời sống và sinh hoạt xã hội, Hội đồng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định tổ chức Đoàn chuyên gia kinh tế và văn hóa của Chính phủ Việt Nam sang giúp Hội đồng Nhân dân cách mạng Campuchia (lấy bí danh là A40). Đồng chí Nguyễn Côn, ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế - Kế hoạch Trung ương Đảng - được cử làm Trưởng đoàn; đồng chí Hồ Viết Thắng, Phó Chủ nhiệm ủy ban Kế hoạch nhà nước, làm Phó Trưởng đoàn và Thường trực tổng hợp của Đoàn; đồng chí Nguyễn Tuân, Thứ trưởng Bộ Điện và Than, được phân công phụ trách khối công nghiệp.

Tiếp đó, Trung ương Đảng cử Đoàn chuyên gia an ninh (bí danh là K79) gồm đồng chí Viễn Chi, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), làm Trưởng đoàn và các đồng chí Lê Đình Thảo, Trần Mão, Tư Hoàng, Vy Hồng Phong, Nguyễn Tâm thuộc Đoàn K79 giúp bạn xây dựng lực lượng an ninh.

Đoàn chuyên gia kinh tế và văn hóa của Chính phủ vừa phải khẩn trương giúp bạn nghiên cứu chủ trương công tác, đồng thời giúp tổ chức và chỉ đạo thực hiện; song chủ yếu giúp bạn những kinh nghiệm để bạn tự làm, qua đó đưa các ngành trở lại hoạt động, làm cho mọi sinh hoạt trong nước dần dần được khôi phục.

Đến tháng 4-1979, hệ thống chuyên gia Việt Nam giúp cách mạng Campuchia đã được hình thành từ cấp trung ương đến tỉnh, huyện, bao gồm cả chuyên gia chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và an ninh.

Trong quá trình truy kích địch, quân tình nguyện Việt Nam thu được chiến lợi phẩm đều giao ngay cho bạn. Ngày 26-10-1979, Phó Thủ tướng Đỗ Mười thay mặt Chính phủ Việt Nam bàn giao cho bạn số chiến lợi phẩm do Quân đoàn 3 thu được của Pol Pot ở biên giới Campuchia - Thái Lan gồm: hơn 7.000kg vàng, bạc, đá quý, nhiều hòm đồ trang sức, ngà voi, đồng hồ; hơn 30.000 khẩu súng, gần 6 triệu viên đạn và hàng nghìn xe các loại2.

Để giải quyết mọi công việc có quan hệ với bạn, ngày 24-8-1979, thay mặt Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Lê Duẩn đã ký Quyết định số 19 thành lập Ban Phụ trách công tác K (Campuchia). Ban Phụ trách công tác K gồm: đồng chí Lê Đức Thọ làm Trưởng ban; tôi là Phó ban thứ nhất; các đồng chí Nguyễn Côn, Hoàng Thế Thiện làm Phó ban. Quyết định nêu rõ: Ban này dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị; đối với những chủ trương, chính sách lớn phải xin ý kiến Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương.

Từ ngày 18 đến 24-11-1979, Hội nghị chuyên gia toàn Campuchia được tổ chức với sự tham gia của đại biểu Đoàn chuyên gia quân sự 478, Đoàn chuyên gia kinh tế và văn hóa (A40), Đoàn chuyên gia an ninh (K79), chuyên gia một số bộ, ngành, quân khu, tỉnh, thành phía Nam đang làm nhiệm vụ giúp bạn tại Campuchia. Sau khi nghe đồng chí Lê Đức Thọ - Trưởng ban điểm lại một số kết quả giúp bạn trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế - văn hóa, tôi báo cáo tình hình địch, ta trên chiến trường, âm mưu, thủ đoạn của địch trong thời gian tới. Hội nghị đã đi sâu bàn các giải pháp nhằm giúp bạn bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, ổn định đời sống nhân dân, phát triển sản xuất.

Ngày 21-1-1980, tôi được Chủ tịch nước ký quyết định thăng quân hàm từ cấp Trung tướng lên cấp Thượng tướng.

Tháng 2-1980, đồng chí Lê Đức Thọ về nước, Bộ Chính trị cử tôi thay đồng chí Lê Đức Thọ làm Trưởng Ban Phụ trách công tác Campuchia.

Trong hai năm 1979, 1980, với tinh thần giúp bạn là tự giúp mình, Đảng và Nhà nước ta đã điều động một lực lượng lớn cán bộ các cấp sang làm chuyên gia giúp bạn. Ta đã hình thành hệ thống chuyên gia từ trung ương đến cấp huyện (đầu năm 1980, ta bỏ chuyên gia cấp huyện). Đến cuối năm 1980, ta đã có 22 đoàn chuyên gia trung ương, 20 đoàn chuyên gia tỉnh, thành phố.

Trên cơ sở các chủ trương hợp tác đã được hai Đảng, hai Nhà nước thỏa thuận, để thống nhất lãnh đạo chỉ huy, nâng cao hiệu suất chiến đấu và công tác của các lực lượng vũ trang Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, ngày 18-5-1981, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết số 36/QUTW về tổ chức Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia và thành lập Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia mang phiên hiệu Bộ Tư lệnh 719. Theo quyết định, Bộ Tư lệnh 719 trực thuộc Bộ Quốc phòng, đồng thời là cơ quan đại diện của Bộ Quốc phòng trên hướng Tây Nam, trực tiếp chỉ huy quân tình nguyện và đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam giúp bạn Campuchia.

Ngày 29-6-1981, Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm tôi làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.

Bộ Tư lệnh 719 gồm có: tôi - Tư lệnh, đồng chí Lê Hai - Phó Tư lệnh về chính trị, đồng chí Hoàng Cầm - Phó Tư lệnh về quân sự, đồng chí Nguyễn Văn Tiên - Phó Tư lệnh về kỹ thuật, đồng chí Khôi - Phó Tư lệnh về hậu cần, một thời gian sau bổ sung đồng chí Hồ Quang Hoá làm Phó Tư lệnh.

Theo đề nghị của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, ngày 18-7-1981, Tổng Tham mưu trưởng ra các quyết định chuyển cơ quan tiền phương của Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9 thành các bộ tư lệnh 579, 779, 979. Các bộ tư lệnh 579, 779, 979 có quyền hạn tương đương bộ tư lệnh quân đoàn, chịu sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Tư lệnh 719 về tác chiến và hoạt động ở Campuchia, đồng thời chịu sự chỉ đạo, chỉ huy của các bộ tư lệnh Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9 về các mặt khác.

Ngày 8-6-1982, Bộ Chính trị ra Quyết định số 132 về việc thành lập Ban Lãnh đạo Đoàn chuyên gia tại Campuchia thay cho Ban Phụ trách công tác Campuchia đang thực hiện và chỉ định Ban Lãnh đạo gồm bảy đồng chí, do tôi làm Trưởng ban.

Về phương thức giúp bạn, Ban Lãnh đạo đoàn chuyên gia có chỉ thị3: phổ biến kinh nghiệm của Việt Nam để bạn tự làm, từng bước giúp bạn để bạn đảm đương nhanh nhiệm vụ. Cấp nào, ngành nào của bạn làm được rồi thì ta rút về nước.

Trên cơ sở những kết quả giúp bạn đã đạt được, ngày 14-7-1982, thực hiện quyết định của Chủ tịch nước, Bộ Quốc phòng chỉ đạo rút một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia về nước. Đây là đợt rút quân đầu tiên theo thông báo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Đông Dương lần thứ sáu. Sư đoàn bộ binh 317 (Quân khu 7) và một số đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được lệnh trở về Tổ quốc đã được Nhà nước Cộng hòa nhân dân Campuchia và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng nhiều phần thưởng cao quý.


-----------------------------------------------------------------
2. Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu: Báo cáo tình hình giao vũ khí, khí tài, vật tư hàng hóa, trang thiết bị thu được trong quá trình chiến đấu cho bạn Campuchia, ngày 26-10-1979. Phông 34, Đơn vị bảo quản 222, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương.

3. Chỉ thị từng bước chuyển công việc sang để bạn làm, tích cực bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ cán bộ trong công tác thực tế. B68. Phông 34, Đơn vị bảo quản 353, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #38 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:36:25 am »

Thời kỳ ở Campuchia, với tôi, có một chuyện không thể quên được. Lúc đó ở Việt Nam đã xảy ra đụng độ vũ trang ở biên giới phía Bắc. Liên Xô lập cầu hàng không viện trợ súng đạn cho ta và đưa cố vấn quân sự sang, tổ chức cố vấn đến cấp sư đoàn. Ở trong nước toàn quân đã thực hiện cơ chế mới theo Nghị quyết số 074, tức là bỏ chế độ đảng ủy, bỏ chức chính ủy, chính trị viên, thiết lập cơ chế "Một người chỉ huy" và "Hội đồng Công tác chính trị". Trưởng đoàn cố vấn Liên Xô sang Campuchia gặp tôi, hỏi:

- Tại sao quân đội Việt Nam ở đây chưa thực hiện Nghị quyết số 07?

- Trong quân đội, chỉ huy và những người lãnh đạo đều phải đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng - Tôi trả lời.

Sau đó, khi Bộ Chính trị họp ở T78 tại Thành phố Hồ Chí Minh có điện triệu tập tôi về dự. Tại hội nghị, tôi nói rằng riêng ở Campuchia vì quân đội của ta đang chiến đấu, xin cho chúng tôi vẫn để chế độ đảng ủy. Tôi trình bày tại sao giữ lại chế độ đảng ủy trong quân đội. Hôm đó có đồng chí Lê Duẩn - Tổng Bí thư - chủ trì và các đồng chí Lê Đức Thọ, Đỗ Mười, Văn Tiến Dũng, Tố Hữu,... đều có mặt. Tôi cũng nói rõ thêm: Chúng ta phải nhất quán rằng một chủ trương quân sự, một hoạt động quân sự không bao giờ là quân sự đơn thuần, mà hoạt động quân sự là hoạt động chính trị, phục vụ mục đích chính trị. Vì tổ chức quân sự, hoạt động quân sự, suy cho cùng là hoạt động chính trị. Tôi nói, ở trong này, mà hiện tại ở chiến trường chưa làm. Người chỉ huy quân sự là làm chính trị, phục vụ chính trị, phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của tổ chức đảng.

Vì vậy, ở bên đất bạn Campuchia, quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam vẫn luôn luôn có chế độ đảng ủy.

Để xây dựng và bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, ngày 15-2-1983, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia ra Nghị quyết số 39 "Về điều chỉnh tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang (1983-1986)", trong đó xác định ba mục tiêu chiến lược của cách mạng Campuchia trong thời gian tới là:

"1. Tiếp tục làm cho quân Pol Pot tan rã, suy tàn hơn nữa.

2. Tiếp tục xây dựng thực lực cách mạng Campuchia mạnh hơn cả về số lượng và chất lượng, đủ sức đảm nhiệm cuộc đấu tranh thắng lợi với mọi kẻ thù, bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng, bảo vệ và xây dựng đất nước.

3. Bảo đảm đoàn kết liên minh chiến lược, chiến đấu Campuchia - Việt Nam trên một thế vững chắc hơn và mạnh hơn"5.

Về phía Việt Nam, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cũng xác định ba mục tiêu chiến lược của Bộ Chính trị Campuchia là phương hướng giành thắng lợi của cách mạng Campuchia, đồng thời là mục tiêu nhiệm vụ quốc tế của quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam. Thời gian thực hiện xác định từ ba đến năm năm. Đạt được ba mục tiêu chiến lược đó là giành thắng lợi quyết định, Việt Nam có thể rút quân tình nguyện và chuyên gia về nước.

Những tháng đầu năm 1983, các đơn vị quân tình nguyện thuộc hai mặt trận 479 và 779 phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia mở các chiến dịch truy quét tàn quân địch để bảo vệ các trục đường giao thông, các địa bàn chiến lược, xóa các căn cứ của quân Pol Pot ở biên giới phía tây, ngăn chặn các nguồn viện trợ từ bên ngoài thâm nhập qua biên giới Thái Lan vào nội địa Campuchia.

Quân đoàn 4 làm nhiệm vụ giúp bạn trên địa bàn ba tỉnh Kandan (Kanđan), Kongpong Choang (Kôngpông Chnăng), Pursat (Puốcxát), đời sống nhân dân ở ba tỉnh này rất khó khăn, đặc biệt là nhân dân vùng biên giới. Quân đoàn đã khắc phục khó khăn, phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở nhiều đợt hoạt động liên tục đánh bại các đợt phản kích, triệt phá các căn cứ, kho tàng, hành lang quan trọng của địch ở nội địa cũng như ở biên giới. Đồng thời, Quân đoàn đưa các đội công tác xuống các xã giúp nhân dân xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng. Hoàn thành nhiệm vụ giúp bạn, tháng 5-1983, phần lớn lực lượng của Quân đoàn 4 (trừ Sư đoàn bộ binh 9 và Trung đoàn công binh 550 ở lại thuộc mặt trận 479) được lệnh rút quân từ Campuchia về nước.

Trong truy quét tàn quân địch, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã cùng với các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia hoạt động ở nhiều nơi, giành thắng lợi. Tuy nhiên, có trận do nắm tình hình địch chưa chắc, dẫn đến tổn thất, trong đó đáng lưu ý là vụ đánh địch ngầm ở Siem Reap (Xiêm Riệp). Tháng 5-1983, Bộ Tư lệnh mặt trận 479 dựa vào những nguồn tin chưa được thẩm tra, phân tích, đi tới nhận định: Chính quyền bạn ở tỉnh Siem Reap đã đi theo địch; chính quyền địch trùm lên chính quyền cách mạng, trong đó có hơn 80%, thậm chí có nơi 100% nhân dân theo địch. Cũng theo nguồn tin trên, đến tháng 6-1983, địch sẽ phối hợp với các lực lượng trong nổi dậy, ngoài đánh vào chiếm các cơ quan chính quyền cách mạng trong tỉnh. Bộ Tư lệnh mặt trận 479 đã đi đến một số quyết định sai lầm như: bắt những người đứng đầu để điều tra, hòng tìm ra lực lượng phản động; tước vũ khí của du kích bạn, phân tán cán bộ bạn vào bộ đội ta; chủ trương co lại, bỏ địa bàn nông thôn để rút về bảo vệ các trọng điểm, thậm chí đề nghị không quân đánh phá vào những nơi nghi địch tập trung lực lượng... Những việc làm đó đã gây nên sự dao động lớn về tư tưởng, làm mất phương hướng trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng và chính quyền địa phương. Bộ Chính trị gọi tôi về để xử lý việc này, anh Thọ thay mặt Bộ Chính trị ký điện. Lúc đó tôi đang đi chữa mắt ở Liên Xô. Vị giáo sư bác sĩ chữa mắt cho tôi tỏ ra rất ái ngại chia tay tôi, khi một bên mắt của tôi còn băng kín. Lúc đó anh Phạm Văn Đồng rất bực, anh đã đề nghị mức kỷ luật rất nặng đối với các cán bộ lãnh đạo và chỉ huy có liên quan của Bộ Tư lệnh 479 và 719. Tôi đề nghị: Bộ Chính trị đã giao trách nhiệm cho tôi thì cho tôi toàn quyền xử lý. Tất cả đồng ý.

Việc đầu tiên là tôi điện lên mặt trận yêu cầu thả ngay tất cả những người đã bị bắt. Và tôi ra lệnh, kể cả lính Siem Reap đã ra hàng, cả những tên bị người ta tố cáo là có tội ác cũng không được đánh đập, ngược đãi mà phải cho họ ăn uống tử tế rồi thả cho họ về. Việc thứ hai là tôi yêu cầu tất cả các ngành nộp toàn bộ các bản báo cáo tình hình, các bức điện đi, điện đến, tôi ngồi đọc hết. Lúc đầu có anh em không hiểu còn cho tôi là phản động. Họ nói là "Đã hỏi ý kiến của Hà Nội rồi". Tôi biết, nếu hỏi "Ý kiến Hà Nội là của người nào?" thì sẽ rất rối nên tôi "không hỏi, không biết", các anh tin tưởng giao cho tôi "xử lý" thì chỉ "xử lý" thôi. Ở đây, tôi kiên quyết: một là, nhất định không hỏi "Hà Nội là ai?", hai là chỉ "xử lý" thôi, sau khi xử lý rồi thì nhất định không giải thích nữa.

Khi tôi trở về báo cáo trong hội nghị Bộ Chính trị toàn bộ sự việc đã giải quyết, thì không ai phát biểu gì; chỉ có anh Phạm Văn Đồng nói: "Xử lý được thế là tốt, xử lý nội bộ có mức độ thế là đúng!". Thực chất các cán bộ bên đó đều mong muốn quan hệ giữa hai Đảng ngày càng tốt hơn, nhưng vì nóng vội và ấu trĩ cho nên phạm khuyết điểm, sai lầm, chứ không hề có ý đồ xấu. Ngay sau đó, Bộ Chính trị cử anh Chu Huy Mân đại diện sang chính thức gặp và xin lỗi Bộ Chính trị bạn. Anh Mân rủ tôi cùng đi, nhưng tôi bảo anh được cử thì anh cứ đi, tôi đã ở bên đó nhiều năm, luôn kề bên bạn nên tôi xin lỗi không hiệu quả và không gây ấn tượng bằng người có cương vị và từ bên ta sang xin lỗi bạn. Sau khi anh Mân sang xin lỗi, Bộ Chính trị Đảng bạn nói: Khuyết điểm có đáng kể gì so với mồ hôi xương máu của hàng vạn chiến sĩ quan tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã đổ xuống để cứu nguy dân tộc Campuchia khỏi họa diệt chủng và hồi sinh đất nước. Ngay sau đó, anh Mân đã mang quà đến thăm hỏi từng gia đình có người bị bắt ở Siem Reap.

Rút kinh nghiệm vụ đánh địch ngầm ở Siem Reap, Đảng ta đã nghiêm khắc kiểm điểm và có hình thức kỷ luật thích đáng đối với những cán bộ liên quan.

Tháng 7-1983, tại Hội nghị tổng kết việc hợp tác giúp đỡ về kinh tế, văn hoá, kỹ thuật giữa Việt Nam và Campuchia từ năm 1979 đến 1983, thay mặt Ban Lãnh đạo đoàn chuyên gia, tôi đã nêu rõ: "Chúng ta phải giúp bạn mạnh lên, tự mình đảm đương cuộc đấu tranh trong thế liên minh chiến lược chiến đấu ba nước Đông Dương... Nguyện vọng của cán bộ bạn là tha thiết muốn làm chủ lấy đất nước của mình. Một chuyên gia khi về nước mà bạn chưa trưởng thành, chưa đảm đương được nhiệm vụ là chuyên gia đó không hoàn thành nhiệm vụ, dù đồng chí đó làm việc ngày đêm... Vì thế, cần giúp bạn "nâng ba phong trào cách mạng" (đánh địch và địch vận, xây dựng lực lượng, sản xuất) lên một bước mới, với chất lượng mới"6.

Với thành tích lớn trong công tác giúp bạn, ngày 27-12-1983, Hội đồng Nhà nước Cộng hòa nhân dân Campuchia ra Quyết định số 22/QĐ tặng thưởng Huân chương Lao động cho 142 chuyên gia đã có nhiều thành tích xuất sắc trong quá trình giúp cách mạng Campuchia, có 53 chuyên gia được nhận Huân chương Lao động hạng Nhất (trong đó có đồng chí Nguyễn Côn, Phó Trưởng đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia, đồng chí Nguyễn Hữu Tài, Phó ban B68), 41 chuyên gia nhận Huân chương Lao động hạng Nhì và 48 chuyên gia nhận Huân chương Lao động hạng Ba.



------------------------------------------------------------------
4. Ngày 15-12-1982, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 07-NQ/TW "Về việc đổi mới hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội nhân dân Việt Nam, sự nghiệp quốc phòng và thực hiện chế độ một người chỉ huy trong quân đội".

5. Biên niên sự kiện hoạt động của Đảng, Nhà nước, quân đội, chuyên gia Việt Nam - Campuchia, 2008, t. III, tr. 194. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

6. Báo cáo số 142/DT-BC của Đoàn 478. Tài liệu lưu trữ tại thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr.188, 189.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4377



« Trả lời #39 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:37:55 am »

Năm 1984, cách mạng Campuchia bước sang một giai đoạn mới. Đất nước được hồi sinh sau những năm nỗ lực hàn gắn vết thương do hậu quả của chế độ diệt chủng Pol Pot, đã đạt được những thành tựu quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa. Quân đội cách mạng và nhân dân Campuchia từng bước tự đảm đương được những nhiệm vụ trọng yếu của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Mặc dù bị đánh thiệt hại nặng trên các địa bàn chiến lược, nhưng được các thế lực bên ngoài giúp sức và dựa vào các căn cứ ở vùng biên giới Campuchia - Thái Lan, quân Pol Pot và quân các phe phái khác cố đẩy mạnh các hoạt động phá hoại, hòng tạo ra thế hai vùng, hai chính phủ có lợi cho chúng. Trước tình hình đó, tôi giao nhiệm vụ trực tiếp cho các mặt trận 479, 579, 779, 979 tiếp tục phối hợp với các lực lượng vũ trang Campuchia chiến đấu. Những đòn tiến công liên tục của quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia vào các căn cứ của quân Pol Pot dọc biên giới Campuchia - Thái Lan, kết hợp với truy quét tàn quân địch trong nội địa, làm cho chúng suy yếu, lâm vào thế bị động đối phó, giúp cho tình hình Campuchia ngày càng ổn định có lợi cho cách mạng.

Thực hiện Nghị quyết số 228 của Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia "Về tăng cường tuyến phòng thủ biên giới Campuchia - Thái Lan", ngày 1-9-1984, Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện giao nhiệm vụ cho bộ đội công minh các mặt trận 479, 579, 779 và 979 làm lực lượng nòng cốt giúp nhân dân bạn xây dựng công trình phòng thủ biên giới mang tên "K5" nhằm tạo thế trận đánh địch, bảo vệ biên giới, hạn chế địch tiến công từ biên giới vào nội địa. Tuyến phòng thủ biên giới (K5) gồm hệ thống tổ chức phòng thủ, tập trung bộ đội chủ lực lên các trọng điểm và công sự, chiến hào, vật cản bằng hàng rào dây thép gai, mìn, đê, hào, lũy, rào, hầm chông, cạm bẫy,...

Để xây dựng tuyến phòng thủ biên giới, lực lượng quân tình nguyện cùng lực lượng dân công ở mỗi tỉnh của Campuchia tổ chức một tiểu đoàn hoặc hai tiểu đoàn làm một tháng rồi về địa phương lại đưa tiểu đoàn khác lên thay. Tuyến phòng thủ biên giới (K5) dài 800km bắt đầu xây dựng từ cuối năm 1984 đến 1987.

Hồi đó, một số đồng chí thắc mắc và cho rằng làm công trình phòng thủ K5 là tốn kém và không cần thiết. Có lẽ vì số anh em này không hiểu hết ý nghĩa và giá trị của nó. Làm K5 có hai ý nghĩa thiết thực. Một là, có tuyến tuần tra biên giới thì các đơn vị vũ trang của bạn vững tâm hơn, dám đảm nhận bảo vệ tuyến đường biên thì quân tình nguyện Việt Nam mới rảnh tay thực hiện nhiệm vụ của đơn vị chủ lực cơ động chiến lược đúng như mục tiêu mà ta và bạn đã đề ra. Hai là, nếu lúc đó để bạn đứng ra tổ chức những trận đánh lớn hoặc một cuộc "vận động cách mạng lớn" thì bạn chưa làm được; nhưng để bạn đứng ra tổ chức cho dân đào hào, trồng tre phòng thủ biên giới thì bạn làm được và làm tốt. Như vậy, công trình K5 là nơi thực tế tập dượt cho bạn biết làm công tác vận động, tổ chức quần chúng. K5 đã thực sự là một công trình quốc phòng của toàn dân và toàn quân Campuchia cùng quân tình nguyện Việt Nam tham gia, thể hiện tình đoàn kết, liên minh chiến đấu Việt Nam - Campuchia. Tuyến tuần tra biên giới này có tác dụng chia cắt chiến lược ngoại biên và nội địa, góp phần tích cực và có hiệu quả trong việc hạn chế, ngăn chặn sự xâm nhập của địch từ Thái Lan vào trong nội địa Campuchia. Còn ở trong nội địa, ta và bạn đã kết hợp ba mũi tiến công truy quét địch, địch vận và an ninh, làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực địch.

Bên cạnh thành tích giúp bạn tiến công địch ở các căn cứ dọc biên giới, truy quét tàn quân địch trong nội địa, phát triển lực lượng cách mạng, ổn định tình hình, chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam còn tích cực giúp bạn xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, từng bước để bạn tự đảm đương sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Ngày 21-12-1984, tôi được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký quyết định thăng quân hàm từ cấp Thượng tướng lên cấp Đại tướng.

Để tạo thế ổn định xây dựng đất nước, từ đầu năm 1985, Bộ Tư lệnh 719 thống nhất với bạn tiếp tục đợt hoạt động mùa khô 1984-1985, mở chiến dịch truy quét địch trên toàn tuyến biên giới Campuchia - Thái Lan, đánh vào các căn cứ sào huyệt của quân Pol Pot. Sau hơn một tháng chiến đấu (từ ngày 9 tháng 1 đến 15-2-1985), ta và bạn làm tan rã một bộ phận lớn sinh lực địch, đánh chiếm các cơ quan chỉ huy, buộc chúng phải thay đổi thế bố trí lực lượng, bị động đối phó, tạo điều kiện cho Campuchia xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng.

Sau chiến dịch truy quét địch trên toàn tuyến biên giới Campuchia - Thái Lan, phía quân Pol Pot chuyển hướng chiến lược. Một mặt, chúng đưa sở chỉ huy và cơ sở hậu cần vào sâu trong đất Thái Lan, mặt khác, đánh các điểm tựa, ngăn chặn vận chuyển của ta ra biên giới, phá tuyến phòng thủ biên giới của ta, xoi mở hành lang thâm nhập nội địa. Bên cạnh đó, chúng đưa lực lượng vào sâu trong nội địa, tập trung ở vùng Biển Hồ và vùng phụ cận Phnom Penh, củng cố và xây dựng lực lượng, lấy việc giành dân, giành chính quyền ở cơ sở làm biện pháp chiến lược, chờ thời cơ Việt Nam rút quân về nước thì phản công giành chính quyền.

Bộ Tư lệnh 719 chủ trương cùng với bạn tiếp tục đánh cho địch suy tàn, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Tháng 8-1985, khi làm việc với Bộ Chính trị Đảng bạn, đại diện Bộ Chính trị Đảng ta đã thống nhất với bạn thời gian lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia tự đảm đương và quân tình nguyện Việt Nam rút về nước. Đến năm 1987, bạn tự đảm đương, ta rút dần và đến năm 1989 thì rút hết.

Ngày 5-11-1986, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký Quyết định số 1318/NQ-NS/TW, theo đó tôi thôi giữ chức Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam và Trưởng Ban Lãnh đạo đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia, trở về Bộ Quốc phòng nhận công tác. Đồng chí Đoàn Khuê, ủy viên Trung ương Đảng - Phó Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam, làm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam và Trưởng Ban Lãnh đạo đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia thay tôi.

Ngày 26-9-1989, những đơn vị cuối cùng của quân tình nguyện Việt Nam và chuyên gia Việt Nam rút hết về nước, mở ra một giai đoạn mới của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Campuchia và quan hệ đoàn kết, hợp tác Việt Nam - Campuchia. Khi quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam về nước, Chủ tịch nước Võ Chí Công trực tiếp gắn Huân chương Sao vàng lên lá cờ quyết thắng của đơn vị.

Hơn mười năm giúp bạn, ta và bạn đã làm nên cuộc cách mạng giải phóng một dân tộc khỏi họa diệt chủng của tập đoàn Pol Pot, hồi sinh một đất nước từ tiêu điều, tan nát, đói rách để mọi người dân có quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc. Một đất nước có chủ quyền với hệ thống chính trị mới được xây dựng từ trung ương đến cơ sở xã ấp, cùng với những thiết chế văn hóa - xã hội bảo đảm sự độc lập của đất nước và quyền tự chủ của người dân, là nền tảng vững chắc để tiến lên xây dựng xã hội mới, cuộc sống mới.

Thời gian quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam giúp bạn có nhiều bài học sâu sắc được rút ra, theo tôi, trong đó có vấn đề bao trùm nhất, sâu sắc nhất là: chúng ta đã vận dụng đúng đắn và nhuần nhuyễn nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào tình hình cụ thể của giai đoạn này trong việc kết hợp chặt chẽ giữa tinh thần dân tộc thiêng liêng với tinh thần quốc tế cao cả. Nhận rõ bạn có "ổn" thì mình cũng mới "yên" nên chúng ta coi việc giúp bạn là tự làm cho mình, lo bảo vệ Tổ quốc mình. Bởi vậy, nhân dân Việt Nam đã sẵn sàng nhường cơm sẻ áo với nhân dân bạn. Các bà mẹ Việt Nam một lần nữa lại dứt ruột gửi con ra chiến trường khi nước nhà vừa mới im tiếng súng sau hơn 80 năm chiến tranh tàn khốc.

Trong chiến đấu, ta làm cho địch tan rã và làm chỗ dựa giúp bạn hồi sinh, xây dựng lại đất nước. Ta và bạn đã huy động được sức mạnh to lớn, nên dù kẻ thù hùng hổ, tàn bạo, lại được các thế lực nước lớn giúp đỡ, điều hành cũng vẫn tan rã. Người dân Campuchia được giải phóng khỏi công xã đã nói rằng, Việt Nam không bắn giết ai mà Việt Nam chỉ giúp họ xóa được chế độ diệt chủng Pol Pot. Thủ tướng Chính phủ Campuchia Hun Sen nói: "Không có sự giúp đỡ của Việt Nam, chúng tôi sẽ chết. Không có sự giúp đỡ của Việt Nam, Chính phủ Phnom Penh sẽ không tồn tại". Vì vậy, nhân dân Campuchia mới nói: "Bộ đội tình nguyện Việt Nam là bộ đội nhà Phật". Một đất nước từ lâu đời vẫn lấy đạo Phật làm quốc đạo mà người dân dành cho chúng ta câu nói đó thật đáng quý vô cùng. Khi tôi sang thăm chính thức Campuchia, vua sãi Tep Vong (Tếp Vông) nhất định xin gặp để chúc phúc cho tôi. Ở quốc gia Phật giáo này, người dân luôn tỏ lòng tôn kính Quốc vương Sihanouk và vua sãi. Cả hai ông vua đều nói lời cảm ơn nhân dân và đất nước Việt Nam, cảm ơn Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam. Giờ phút đó trong tôi cũng bồi hồi, xúc động và hạnh phúc tột độ.

Quân tình nguyện và đoàn chuyên gia Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước đã trao tặng những phần thưởng cao quý để ghi nhận công lao và thành tích của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Việt Nam với tinh thần quốc tế cao cả, khiêm tốn và trong sáng, đã đổ mồ hôi, công sức và máu xương, trong hơn 10 năm nỗ lực và bền bỉ giúp bạn đạt được mục tiêu: cứu đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng và một mục tiêu lớn hơn là: hồi sinh dân tộc - giúp bạn thực hiện mục tiêu củng cố chính quyền, độc lập, dân chủ, xây dựng lại đất nước.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM