Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Sáu, 2020, 08:56:44 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức trời đêm  (Đọc 2699 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23690


« Trả lời #20 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2020, 05:32:11 am »


        Vũ Đình Rạng ấn nút “bám sát”, đưa mục tiêu vào giữa tâm ngắm và đến cự li 2,5 km, anh ấn nút phóng quả tên lửa bên trái. Tên lửa rời khỏi bệ phóng, anh kéo máy bay sang bên phải thoát li với độ nghiêng lớn. Lúc này, anh lại phát hiện được 1 chiếc khác với ánh đèn đang nhấp nháy trên cánh. Kiểm tra trên ra-đa thấy báo cự li 3 km, anh quyết định tiếp tục công kích. Sau khi chỉnh hướng, anh ấn nút “bám sát” và thấy điểm ngắm đã ổn định, anh ấn nút phóng tiếp quả tên lửa thứ hai rồi kéo máy bay thoát li về phía bên phải.

        Sở chỉ huy tiền phương dẫn anh về cho hạ cánh ở sân bay Anh Sơn.

        Vũ Đình Rạng tiếp đất an toàn trên sân bay Anh Sơn lúc 21hl5 phút, dầu liệu còn 800 lít.

        Từ lúc nghe phi công Vũ Đình Rạng báo cáo phát hiện mục tiêu, tất cả mọi thành phần trong kíp trực ở Sở chỉ huy hôm đó đều trong tâm trạng căng thẳng chờ câu “Cháy rồi!” được phát ra. Nó cũng giống như khán giả trên sân vận động bóng đá nín thở theo dõi trận đấu khi đội nhà đứng sút phạt quả “pê-nan-ti” 11 mét chuẩn bị nhảy dựng hết lên, hét vang: “Vào!”. Nhưng, bóng lại không vào lưới!...

        Những nhà bình luận bóng đá thường nói: “Giữa anh hùng và kẻ tội đồ chỉ cách nhau gang tấc!”.

        Biết rằng “mọi sự so sánh đểu khập khiễng”, nhưng người đời vẫn cứ so sánh như thế!

        Trận đêm 20 tháng 11 là trận với cơ hội ngàn hăm có một. Mọi phương án chiến đấu đưa ra đều chính xác, toàn bộ công tác tổ chức chỉ huy từ việc đảm bảo bí mật bất ngờ, đến việc phát hiện mục tiêu, dẫn dắt... đều triển khai đồng bộ, tạo điều kiện giúp cho phi công có điều kiện thuận lợi nhất để công kích.

        Tuy chiếc B-52 này không rơi tại chỗ, nhưng nó đã bị thương, nó không thể về hạ cánh ở sân bay chính được mà phải lết về hạ ở Nakhon Phanom, Thái Lan. Sau này nghe đâu phải hủy bỏ vì không thể sửa chữa được. Đội hình 3 chiếc của nó hôm đó cũng buộc phải từ bỏ đợt tấn công các mục tiêu mặt đất.

        Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, “pháo đài bay bất khả xâm phạm” đã bị máy bay MiG-21 công kích, bị trúng tên lửa không đối không.

        Trận đánh này là bài học rất quý giá giúp cho các thành phần từ chỉ huy các cấp đến các sĩ quan Sở chỉ huy, các phi công... tìm ra được phương án tiếp cận và bắn rơi tại chỗ B-52 vể sau này.

        Khi tổ chức rút kinh nghiệm trận đánh tại sân bay Anh Sơn, Phó Tư lệnh Trần Mạnh đã kết luận:

        1. Trận đánh B-52 đêm 20-11-1971 là một trận đánh lí tưởng về mặt tổ chức chỉ huy và bảo đảm mặt đất đã được rút kinh nghiệm ở sở chỉ huy B-8.

        2. Ta đã tập trung nghiên cứu kỹ lưỡng và đã tạo được yếu tố bí mật bất ngờ cao làm cho địch không kịp đối phó trong vòng 30 phút xảy ra trận đánh.

        3. Ra-đa dẫn đường C-41 phát hiện mục tiêu ta và địch tốt, đảm bảo dẫn đường liên tục và chính xác.

        4. Thông tin liên lạc trên, dưới và các đài trạm thông suốt, giữ nghiêm mọi quy định, không lộ liễu.

        5. Bảo đảm hậu cần mặt đất của sân bay Anh Sơn tốt trên tất cả các khâu. Không có gì sai sót lớn. Đã tạo điều kiện cho trận đánh thành công.

        6. Người lái có nhiều cố gắng trong công tác chuẩn bị bay theo phương án. Giai đoạn đầu đã thực hiện đúng yêu cầu tự bay thấp một đoạn đường dài trên 120 km ban đêm tối trời, trên địa hình rừng núi phức tạp ở khu Bốn. Đường bay gần dãy núi Đại Huệ (Nghệ An) và dãy Trường Sơn (Hà Tĩnh). Nhờ chuẩn bị kỹ cho nên đã bay đúng đường bay và độ cao đã quy định trong phương án. Giai đoạn dẫn đường cho lên cao và tiếp địch đã chấp hành chính xác mọi khẩu lệnh chỉ huy từ sở chỉ huy mặt đất. Sử dụng ra-đa trên máy bay và phóng quả tên lửa thứ nhất điều kiện tốt.

        7. Kết luận: Quả tên lửa thứ nhất phóng trúng B-52.

        Quả thứ hai không trúng vì có gia trọng tương đối lớn.

        Mặc dù đã có kết luận về trận đánh như vây, nhưng sau đêm 20 tháng 11 năm 1971, cũng vì chưa đủ mọi nguồn thông tin cần thiết, một số người, trong đó có cả lãnh đạo, chỉ huy đã đặt câu hỏi lên đầu Vũ Đình Rạng. Chừng như họ nghi ngờ phi công Vũ Đình Rạng có tư tưởng dao động.

        Sự ngờ vực ấy đè nặng lên tâm lí Vũ Đình Rạng cho đến tận nhiều năm sau này.

        47 năm sau trận đánh đêm ấy, vào đầu tháng 10 năm 2018, nhờ tài năng tổ chức của các anh Nguyễn Đức Soát, Nguyễn Sỹ Hưng..., các cựu phi công Mỹ và cựu phi công Việt Nam - những đối thủ từng chạm trán nhau trên trời trước đây, nay lại có dịp gặp lại nhau trên mặt đất.

        Lần gặp này là lần gặp thứ 3 (lần đầu tiên vào năm 2016 tại Việt Nam, lần thứ hai vào năm 2017 tại Mỹ và lần thứ ba này tại Việt Nam).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23690


« Trả lời #21 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2020, 07:30:34 am »


        Trong lần gặp thứ ba này, số lượng và thành phần cựu phi công Mỹ nhiều hơn, đa dạng hơn, có đến 15 cựu phi công Mỹ và có thêm các thành phần lái F-104, F-105, đặc biệt, có cả cơ phó của chiếc B-52 bay trong đêm 20-11-1971.

        Những cuộc gặp này đúng là những cuộc gặp mang tính lịch sử. Từ xưa tới giờ, qua nhiều cuộc chiến tranh với nhiều trận không chiến diễn ra nhưng chưa bao giờ có được cuộc gặp gỡ giữa các địch thủ như thế này. Chắc chắn các cựu phi công trong thế chiến thứ hai giữa Đức và Liên-xô, Đức và các nước đồng minh, rồi trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, cuộc chiến tranh ở Ap-ga-nix-tan... các đối thủ của nhau ở trên trời không hề gặp được nhau dưới mặt đất.

        Trong lần này, cơ phó của chiếc B-52 đêm 20- 11-1971 - Dave R.Volker đã có cơ hội tiếp xúc với Vũ Đình Rạng, người từng bắn mình trước đây. Sau đó, Dave Volker còn được chương trình truyền hình “Quốc hội Việt Nam” phỏng vấn. Dave R.Volker đã nói rằng: “Tôi thực sự ấn tượng bởi lòng dũng cảm và kỹ năng chiến đấu của phi công Việt Nam. Tuy không có được những trang bị tốt, nhưng phi công Việt Nam vẫn làm được những điều trước đây chưa ai làm được. Phi công Việt Nam thực hiện mệnh lệnh thật tuyệt vời...”.

        Trong cuộc gặp, Dave Volker sau khi trình bày lại phi vụ của mình trong đêm 20 tháng 11 xong, đã nói với phi công Vũ Đình Rạng: “Tôi cám ơn ông vì ông đã cho tôi có cơ hội gặp ông. Ông là người đầu tiên trên thế giới đã tấn công được “pháo đài bay” của chúng tôi. Rất thú vị khi tôi còn sống sót. Tôi và cả tổ bay của tôi nợ ông bằng chính mạng sống của mình! Một lần nữa xin được cám ơn ông!”...

        Tôi và chắc chắn nhiều người khác nữa phải suy nghĩ về câu nói ấy.

        Qua Dave R. Volker mới biết thêm được một điều là sau đêm 20-11-1971, một chỉ huy của Volker - Tướng 2 sao đã bị kỷ luật vì đã không tìm cách bảo vệ được B-52, đã để cho MiG tấn công.

        B-52 cũng đã phải lui về hoạt động ở phía Nam đường 9, mọi việc đánh phá phía Bắc đường 9 giao cho C-130 và F-4J đảm nhận một thời gian dài tới mấy tháng trời.

        Cũng từ đó, mỗi phi vụ của B-52 đều được bảo vệ cẩn trọng: tăng cường từ hệ thống nhiễu các loại dày đặc đến các loại máy bay tiêm kích yểm hộ.

        Khi chương trình truyền hình phỏng vấn Trung tướng, phi công Trần Hanh, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng về trận đánh đêm 20-11-1971 ấy, Trung tướng Trần Hanh đã nói: “Đây là lần đầu tiên MiG tiếp cận B-52 và khẳng định được rằng MiG-21 hoàn toàn có thể đánh được B-52. Qua trận này, tuy không bắn hạ B-52 tại chỗ nhưng đã rút ra được những kinh nghiệm dẫn dắt, tìm ra được cách đánh và chuẩn bị kỹ lưỡng cho chiến dịch 12 ngày đêm sau này".

        Còn Đại tá Nguyễn Văn Chuyên, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, cựu dẫn đường của Không quân, người từng dẫn chính trong trận đêm 20-11-1971 phát biểu: “Trận đánh này có tác dụng rất lớn cho chiến dịch Quảng Trị, giúp cho việc vận chuyển vũ khí, khí tài, vận chuyển quân được thuận lợi, góp phần lớn vào chiến dịch. Các Đại đội ra-đa cũng đã rút ra được kinh nghiệm phát hiện B-52 trong mọi tình huống và với Không quân là bài học về phương pháp tiếp cận, sử dụng vũ khí. Phía Mỹ sau trận này cũng đã có nhận định sai lầm: chỉ chăm chú đối phó với Không quân mà xem nhẹ tên lửa Phòng không nên trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã bị tên lửa Phòng không bắn hạ nhiều.

        Có một điều, mọi thiệt hại với các loại máy bay khác thì phía Mỹ công bố ngay qua đài BBC, nhưng riêng trận đêm 20-11 này thì lại im lặng tuyệt đối. Các thủ trưởng của ta tùy thuộc vào từng cương vị được nghe đài BBC để lấy thêm thông tin so sánh cũng không biết được gì hơn. Chính vì vậy mà ta không biết được cụ thể kết quả trận đánh đêm hôm ấy. Cũng là sự thiệt thòi!...”.

        Trận đánh đêm 20-11-1971 chắc sẽ còn được phân tích nhiều hơn nữa, đánh giá nhiều hơn nữa. Riêng với phi công Vũ Đình Rạng, sau lần gặp gỡ các cựu phi công Việt - Mỹ vào đầu tháng 10 năm 2018 vừa rồi, anh đã phần nào giải tỏa được tâm lí nặng nề bấy lâu nay từng gánh chịu...

        Trở lại năm 1971.

        Trở lại đêm 20 tháng 11. Anh Hoàng Biểu trực ban chiến đấu tại sân bay Vinh đã nhận lệnh xuất kích lúc 20h55 phút, tức là sau anh Vũ Đình Rạng 15 phút. Khi anh Hoàng Biểu bay đến Tân Ấp thì sở chỉ huy tiền phương không giữ bí mật qua đối không theo như quy định nữa mà thông báo rõ cho anh biết là phi công Vũ Đình Rạng đã gặp và bắn B-52, đồng thời lệnh cho anh quay ra, lên độ cao về sân bay Đa Phúc hạ cánh.

        Trận đêm 20-11 là trận đánh cuối cùng về đêm, (đánh ngày thì trận không chiến ngày 26-12 là trận cuối cùng) kết thúc năm 1971, kết thúc giai đoạn ném bom hạn chế, chuẩn bị bước sang năm 1972, một năm với các chiến dịch đường không ác liệt nhất.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23690


« Trả lời #22 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2020, 11:28:12 am »


        Tính đến thời điểm này, sau mấy năm thành lập, các phi công lớp đầu tiên của Đại đội 5 đã “ngót” dần: Trung đội trưởng Nguyễn Văn Thuận thôi bay, Trần Ngọc Nhuận thôi bay, Nguyễn Cát A thôi bay, Nguyễn Văn Quang thôi bay, Nguyễn Công Huy chuyển sang bay ngày, Nguyễn Hồng Mỹ chuyển sang bay ngày... Số phi công bay đêm còn lại chưa đến chục người.

        Cho dù liên tục các phi công bay ngày ở các Đại đội khác được chuyển sang huấn luyện đêm để tăng cường sức chiến đấu về ban đêm, nhưng thực ra vẫn không thể đủ cho yêu cầu nhiệm vụ.

        Phi công Nguyễn Khánh Duy thuộc lớp bay đêm thứ 3 của Đại đội 5 nhớ lại:

        - Chúng tôi vừa tốt nghiệp MiG-21 ở Liên-xô về được mấy ngày thì Mỹ tổ chức cuộc tập kích Sơn Tây giải cứu phi công, về phía ta, tuy tình hình thiếu phi công trầm trọng nhưng do khí tài thiếu thốn, chúng tôi phải vào bay từng người một. Lực lượng bay đêm lúc bấy giờ rất mỏng. Các phi công dày dạn kinh nghiệm như Đại đội trưởng Đinh Tôn, Đại đội phó Hoàng Biểu vừa phải làm nhiệm vụ chỉ huy đơn vị, chỉ huy bay, vừa phải làm nhiệm vụ của phi công chiến đấu đêm. Vì vậy, cuộc sống riêng tư ai cũng phải gác lại và chịu thiệt thòi, nhất là quan hệ bạn bè, yêu đương. Ngày ấy chúng tôi còn rất trẻ nên dễ vượt qua nhưng còn các anh lớp trước phải để lại những người vợ trẻ mới cưới hoặc sắp cưới, hoặc người yêu... thì đều khát khao cháy bỏng. Các anh chính trị viên có quy định bất thành văn là phi công cứ phải từ 28 tuổi trở lên mới được lấy vợ. Thủ trưởng của chúng tôi bấy giờ là anh Hoàng Biểu đã đến tuổi 28. Anh khi ấy đã mang hàm Đại úy. Với chúng tôi, đấy là quân hàm cao nên chúng tôi luôn thấy anh già lắm và thêm phần kính trọng. Sau thời gian chờ đợi rất dài, nay mới đến được bến bờ hạnh phúc. Chúng tôi bàn nhau gom các tiêu chuẩn nhu yếu phẩm có thể dùng được cho việc cưới hỏi để nhường anh, nhưng sang lắm thì cũng chỉ được ít kẹo Hải Châu và ít thuốc lá Tam Đảo hoặc Điện Biên bao bạc mà thôi. Mà cứ theo văn bản bất thành văn ấy thì ngay lứa chúng tôi cũng phải 5-6 năm nữa mới được lấy vợ. Liệu trong thời gian chiến tranh căng thẳng và xa nhau biền biệt, phi công nào có bạn gái rồi thì “người ấy” có chờ đợi được hay không. Bản thân tôi cũng rơi vào tình huống khó xử ấy nên đành phải chia tay với người bạn gái tuổi 22. Cũng may là văn bản bất thành văn kia cũng đến được tai bạn gái tôi nên được thông cảm phần nào. Cô bạn gái tôi xinh xắn, lại có công việc ổn định nên cũng đắt chồng. Tôi cũng thấy mừng cho cô. Ngày ấy chúng tôi trân quý tình yêu đôi lứa hơn bây giờ. Kỷ niệm duy nhất tôi lưu giữ, luôn mang theo cho đến hết cuộc chiến tranh là chiếc vỏ gối màu trắng thêu câu thơ bằng chỉ màu xanh: “Hai con chim con đậu con bay. Anh Duy của V... hăng say luyện rèn”. Cũng từ đó, ngoài các chị em nuôi quân ở đơn vị hàng ngày chăm lo cho chúng tôi, ít ai có được sự chăm lo của bạn gái. Chúng tôi hay xì xào, bí mật nói với nhau rằng tổ chức nuôi mình theo kiểu nuôi gà chọi, phải gác lại tất cả để luyện võ. Tôi “ở vậy” đến gần 10 năm sau mới lấy vợ tôi bây giờ. Sự thiệt thời này cũng là sự hy sinh cho một nghề cao quý, đó là: phi công tiêm kích chiến đấu.

        Thế rồi khí tài và xăng dầu cũng đã kịp về, đảm bảo cho hoạt động bay. Chúng tôi bay ngày với một số bài cơ bản rồi chuyển sang bay đêm ngay. Sau một thời gian ngắn, chúng tôi đã bay hết chương trình huấn luyện đêm. Kết thúc chuyến bay đánh chặn 1 chiếc ban đêm trong điều kiện thời tiết phức tạp là tôi được vào trực ban chiến đấu...

        Đúng! Sự chia tay luôn là đề tài lớn! Với đội ngũ phi công tiêm kích, chuyện của Nguyễn Khánh Duy không phải là trường hợp đơn nhất!...

        Càng gần những ngày cuối năm 1971, tuy cường độ các trận đánh của Không quân và Hải quân Mỹ ra miền Bắc có giảm nhưng mang nhiều dấu hiệu căng thẳng. Nó báo trước cho thấy rằng năm sau sẽ là năm rất ác liệt, nhất là khi trên chiến trường miền Nam Việt Nam, Quân giải phóng tiếp tục triển khai các chiến dịch trên toàn mặt trận sau sự kiện “Mùa hè đỏ lửa” ở Quảng Trị.

        Năm 1972 là năm Nixon tái tranh cử. Với cuộc chiến tranh ở Việt Nam thì chuyển chiến lược từ can dự trực tiếp sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Hội nghị Paris không đạt được thỏa thuận. Cuộc gặp giữa Nixon với Tổng bí thư L. Brêgiơnep cũng thất bại. Mỹ đứng trước một loạt các diễn biến bất lợi. Vì vậy, Mỹ bắt buộc phải tính toán chuyện phong tỏa các cảng biển của miền Bắc Việt Nam bằng mìn, thủy lôi... và đánh chặn các tuyến đường giao thông huyết mạch nhằm cắt đứt các nguồn viện trợ từ các nước vào Việt Nam và từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam.

        Không quân Mỹ cũng được tăng cường cả về số lượng máy bay, trang bị vũ khí mới, được chuẩn bị kỹ lưỡng hơn về chiến thuật và kỹ thuật không chiến cùng cách đánh phá.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23690


« Trả lời #23 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2020, 04:44:43 pm »


        Phía Việt Nam cũng đã sẵn sàng và quyết tâm bằng mọi giá giành được thắng lợi trong những chiến dịch mang tính quyết định. Bộ Tổng tư lệnh tối cao đã yêu cầu các lực lượng, trong đó Quân chủng Phòng không - Không quân làm nòng cốt nghiên cứu các phương án đánh B-52.

        Thực chất, các phương án đánh B-52 đầu tiên đã được soạn thảo từ năm 1968 và đến giữa năm 1972 đã hình thành phương án kế hoạch đánh B-52 của Quân chủng Phòng không - Không quân rồi.

        Nhiệm vụ chiến lược của Không quân Việt Nam ở giai đoạn này là: “tập trung lực lượng bảo vệ Hà Nội, tiêu diệt nhiều máy bay địch, bắt giặc lái, nhất là B-52; bảo vệ mạch máu giao thông, chi viện chiến lược...”

        Đầu năm 1972, khi Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 được thành lập, các phi công của Đại đội 5 là: Trần Cung, Vũ Xuân Thiều, Trần Thông Hào, Nguyễn Ngọc Thiên, Trần Anh Mỹ, Lưu Văn Hĩnh được điều động làm nòng cốt cho Trung đội bay đêm của Trung đoàn mới thành lập này.

        Vậy là, cho đến năm 1972, ta đã có 4 Trung đoàn Không quân tiêm kích (hai Trung đoàn sử dụng máy bay MiG-21, một Trung đoàn sử dụng máy bay MiG- 19 và một Trung đoàn sử dụng máy bay MiG-17).

        Các Trung đoàn Không quân tiêm kích trong đó có các phi công bay đêm, đánh đêm đã sẵn sàng quyết chiến trong một năm có ý nghĩa quyết định đến cục diện chiến tranh Việt Nam.

        Đỉnh điểm của nó sẽ là Chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, chiến dịch cuối cùng và quyết định thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng đường không của Không quân và Hải quân Mỹ ra miền Bắc Việt Nam.

        Tuy tình hình ngày càng căng thẳng nhưng lực lượng trực đêm cũng chỉ có 2 chiếc: 1 trực chính thức và 1 dự bị.

        Những trận đánh đêm đầu tiên trong năm 1972, như các đêm mồng 8, 17, 21 tháng 2, mặc dù các kíp trực ban dẫn đường đã nỗ lực tìm mọi cách dẫn MiG-21 vào tiếp cận khi địch luôn cơ động nhưng vì kinh nghiệm dẫn đánh đêm còn ít nên chưa tạo được điều kiện cho MiG lập chiến công.

        Đêm mồng 1 tháng 3 năm 1972, hai phi công Phạm Tuân và Đặng Vân Đình trực ban chiến đấu. Đây là đêm trực ban chiến đấu đầu tiên của Đặng Vân Đình, cả hai phi công cùng chuyển cấp 1 và Đặng Vân Đình xuất kích trước Phạm Tuân khoảng 3-4 phút. Lúc này, địch đang hoạt đông ở khu vực Mường Lát (phía Nam Mộc Châu) và Mường Xìa (phía Nam Mường Lát). Phi công Đặng Vân Đình được dẫn ra khu chiến để đánh chặn địch.

        Theo tài liệu tra cứu thì đêm ấy, chiếc F-4D được trang bị hệ thống tác chiến điện tử Tree Combat do Trung tá Joseph w. Kittinger và Trung úy nhất Leigh A. Hodgdon thuộc Phi đoàn 555, Không đoàn 432 TFW điều khiển đã sử dụng tên lửa điều khiển bắn 3 quả liên tục, hai quả trước không trúng, đến quả thứ ba thì trúng máy bay của Đặng Vân Đình.

        Sau này, khi Kittinger tiếp tục bay vào đánh phá các mục tiêu trên miền Bắc Việt Nam, đã bị phi công Ngô Văn Phú bắn rơi và Kittinger bị bắt. Đến thời điểm ấy, Kittinger đã tích lũy được hơn 7.000 giờ bay, còn Trung úy phi công Ngô Văn Phú mới có hơn 300 giờ bay.

        Phạm Tuân xuất kích chiến đấu sau Đặng Vân Đình 3-4 phút, nhưng lại ở kênh liên lạc khác nên không biết sự cố xảy ra với Đặng Vân Đình. Khi Tuân được lệnh chuyển kênh liên lạc sang kênh của Đình để gọi Đình thì không thấy trả lời. Phạm Tuân đã phán đoán: Đình có vấn đề.

        Khi biết Đình bị địch bắn, phải nhảy dù, Phạm Tuân trăn trở cả đêm không ngủ được và lẳng lặng ghi vào sổ nhật ký của mình:

        “Đêm đầu tháng, tao cùng mày kích
        Số chẳng may, mày bị địch bắn rơi
        Thương mày, thương quá đi thôi
        Hai mươi tư tuổi, cuộc đời đang xuân
        Mày ra đi giữa tuần trăng sáng
        Tao nhớ mày, thức trắng đêm thâu
        Nếu như nó bắn đối đầu ...
        Chúc mày ngon giấc rừng sâu Hòa Bình
        Thương mày, ơi Đặng Vân Đình !..."


        Tôi không biết Đặng Vân Đình có biết bài thơ này không, còn riêng tôi, tôi đã được đọc những dòng này rồi.

        Về chuyện nhảy dù thế nào, anh Đình sẽ kể sau.

        Vậy là, trận đêm 1 tháng 3 năm 1972, ta bị bắn rơi 1 máy bay. Phi công Đặng Vân Đình đã nhảy dù và được dân bản cứu, 3 ngày sau thì về đến đơn vị.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23690


« Trả lời #24 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2020, 04:35:53 pm »


        Đêm 30 tháng 3 năm 1972, thời tiết tại sân bay Vinh rất xấu. Gió mùa về nên ở khu vực này luôn có mưa nhỏ, mây thấp và tầm nhìn rất kém. Phi công Hoàng Biểu trực ban chiến đấu trên sân bay Vinh. Vào thời gian ấy, trực ban chiến đấu là trực ngay dưới cánh máy bay. Khi chưa có lệnh báo động thì có thể nằm nghỉ trên chiếc cáng cứu thương đặt ở cạnh máy bay. Khoảng 2h sáng, sở chỉ huy tiền phương nhận lệnh trên, cho anh Hoàng Biểu chuyển cấp, cất cánh. Tư lệnh phó Trần Mạnh trực chỉ huy nói với sĩ quan dẫn đường Tạ Quốc Hưng:

        - Dẫn cho bay vào sâu nhất có thể và về hạ cánh với lượng dầu dự bị tối thiểu!

        Anh Tạ Quốc Hưng hiểu rằng, chuyên bay này không phải là chuyến bay “săn” B-52 như mọi khi, nó mang ý nghĩa gì rất đặc biệt, nhưng đặc biệt thế nào thì anh không dám hỏi.

        Anh Hoàng Biểu mở máy, cất cánh. Máy bay của anh đeo 2 thùng dầu phụ (mỗi thùng chứa 490 lít) trong khi đường cất hạ cánh thì ngắn, anh phải cố gắng điều khiển và liều nhấc máy bay cho tách đất ở tốc độ nhỏ. Máy bay rời đất một cách khó nhọc. Chưa đến độ cao thu càng, máy bay đã chui vào mây. Thông thường, theo phương án chiến đấu thì phải bay rất thấp và phải giữ bí mật liên lạc qua đối không, nhưng lần này, ngay sau khi cất cánh, sở chỉ huy đã ra khẩu lệnh qua đối không và cho lấy độ cao lên 8.000 mét.

        Trong Sở chỉ huy tiền phương, anh Tạ Quốc Hưng đánh dấu thời gian lên bản đồ: G + 6 phút là ngang Đồng Hối, G + 12 phút là đến Huế, G +... là đến Đà Nẵng với tâm trạng ngày càng lo lắng không biết thời điểm nào cấp trên sẽ cho lệnh anh Hoàng Biểu quay về và sẽ quay về như thế nào. Đúng thời gian ấy, phía Không quân Mỹ cũng đã biết Không quân Việt Nam sử dụng MiG khả năng đi tìm diệt C-130 dọc theo biên giới Việt-Lào nên đã cho 2 chiếc F-4D từ Thái Lan sang để đánh chặn MiG. Anh Tạ Quốc Hưng lập tức nhận được chỉ thị tập trung vào việc yêu cầu ra-đa dẫn đường theo dõi địch.

        Anh Hoàng Biểu cũng nhận được lệnh từ sở chỉ huy:

        - Bật tăng lực, lấy độ cao lên 14.000 mét, vòng 2 vòng ở độ cao này, sau đó xuống độ cao 6.000 mét vòng một vòng, xuống độ cao 2.000 mét vòng tiếp một vòng nữa rồi lấy độ cao bay ra!

        - Nghe rõ! - anh Hoàng Biểu trả lời và điều khiển máy bay bay theo đúng yêu cầu.

        Sau khi lấy đủ độ cao, anh Hoàng Biểu vòng 2 vòng rồi cho máy bay lao xuống đến độ cao 6.000 mét và 2.000 mét, vòng tiếp theo như mệnh lệnh đã giao, anh được dẫn về với những hướng bay rất zic- zăc. Anh biết mình đã bị tiêm kích địch đuổi theo và Sở chỉ huy đang dẫn anh tránh chúng.

        Thời kỳ đó, ta đã lắp đặt được một đài xa ở ngã ba Vọt. Anh Hoàng Biểu được dẫn về hạ cánh ở sân bay Vinh, nhưng càng gần sân bay, thời tiết càng xấu, thật khó hạ cánh trực tiếp, nhất là ở phía đầu Bắc sân bay lại có điểm cao 200 mét. Khi nhận được tin thời tiết tại sân bay Anh Sơn có khả năng tiếp thu hạ cánh được, sở chỉ huy dẫn anh Hoàng Biểu về Anh Sơn, nhưng ở đây, anh Hoàng Biểu lượn đi lượn lại đến 2 vòng mà vẫn không thấy sân bay. Anh Tạ Quốc Hưng thấy dầu liệu của anh Hoàng Biểu không còn nên đề nghị dẫn anh bay xuống phía đường 7 để nhảy dù.

        Anh Hoàng Biểu nhảy dù an toàn xuống khu vực thuộc huyện Yên Thành, còn máy bay rơi xuống bãi cát bên kia đường 1 thuộc địa phận huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

        Sau khi tiếp đất trên ruộng khoai, anh Hoàng Biểu lần tìm đến được sân của Hợp tác xã. Anh được đón tiếp và rồi được đưa về sở chỉ huy ở Đại Huệ. Ở đây, anh được Tư lệnh Lê Văn Tri và Chính ủy Hoàng Phương gặp gỡ, động viên. Chính ủy Hoàng Phương nói:

        - Đây là chuyên bay cảm tử mà cậu đã được giao và đã được thực hiện. Chúng tớ biết khi cậu cất cánh thời tiết rất xấu, khi trở về khó mà hạ cánh được, nhưng cậu nên hiểu rằng, sáng sớm hôm nay, ta đã mở màn chiến dịch Quảng Trị. Cậu đi để đe dọa các tốp B-52, không cho chúng bay vào khu vực Tây Quảng Trị đánh đội hình tập kết của bộ đội ta chuẩn bị mở chiến dịch. Cậu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Hãy chuẩn bị tinh thần sẵn sàng nhận những nhiệm vụ mới nhé!

        Anh Hoàng Biểu hiểu rõ những nhiệm vụ ấy cùng với tầm quan trọng của nó hơn bất kỳ ai. Tiền tuyến đang rất cần sự chi viện của lực lượng Không quân ta. Chỉ cần có bóng dáng Không quân ta hoạt động là bọn B-52 và C-130 sẽ chạy dạt ra xa, không dám hoạt động, quấy nhiễu ở các cung đường đến cả tuần lễ hoặc hơn.

        Sau chuyến bay của anh Hoàng Biểu, Bộ tư lệnh Mặt trận Quảng Trị đã gửi điện cám ơn với nội dung: nhờ sự có mặt kịp thời của bộ đội Không quân ta trong ngày mở chiến dịch mà Không quân địch trong vòng gần một tuần lễ không dám hoạt động. Điều này tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho chiến dịch.

        Như vậy đủ biết rằng, mỗi chuyến xuất kích về ban đêm có tầm ảnh hưởng rất lớn. Chỉ cần một tuần vắng bóng bọn B-52 và C-130 đánh phá các địa điểm tập kết quân, các chân hàng... của ta thì cục diện trên nhiều hướng của mặt trận đã xoay chuyển theo tình thế có lợi cho ta rất nhiều. Nếu như Không quân ta lại bắn rơi được B-52 thì tiếng vang còn rất lớn và đấy chính là nhiệm vụ chính trị quan trọng. Vì vậy, bất kể điều kiện khí tượng khó đến mấy chăng nữa, hoàn cảnh gian nan đến mấy chăng nữa, lực lượng Không quân cũng phải có mặt cùng với các lực lượng của các Quân Binh chủng khác kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ được giao.

        Các lần xuất kích của MiG-21 trong giai đoạn này đã khiến cho các hoạt động của B-52 bị gián đoạn, nhiều thời gian phải ngừng hoạt động, đóng góp phần đắc lực cho công tác bảo vệ lực lượng vận tải trên tuyến đường chiến lược Trường Sơn. Đồng thời, cũng chính trong chiến dịch này, các sĩ quan chỉ huy và phi công MiG đã tích lũy được kinh nghiệm, tìm ra phương án dẫn dắt trong điều kiện nhiễu mạnh, cách vượt qua hàng rào tiêm kích yểm trợ, tiếp cận tới B-52 cho các chiến dịch sau này.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23690


« Trả lời #25 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2020, 09:09:44 am »


        Đêm 13 tháng 4 năm 1972, phi công Vũ Đình Rạng trực ban chiến đấu trên sân bay Đa Phúc. Đêm ấy là đêm mưa tầm tã, màn mây thấp xệ hẳn xuống tưởng chừng đứng ở nhà trực với tay lên là tóm được mây. Tầm nhìn rất kém.

        Khi mạng tình báo ra-đa phát hiện tốp B-52 đang bay từ Thái Lan qua Savanakhet (Lào) rồi qua Mộc Châu. Kíp trực chỉ huy Bộ tư lệnh nhận định đây là tốp B-52 bay vào đánh các mục tiêu quanh khu vực Hà Nội..., sở chỉ huy cho Vũ Đình Rạng chuyển cấp, cất cánh.

        Vũ Đình Rạng nhanh chóng mở máy, lăn ra đường băng xuất kích chiến đấu. Máy bay tách đất, chưa đến độ cao thu càng thì đã chui vào mây. Đây là lần thứ ba phi công Vũ Đình Rạng làm nhiệm vụ săn lùng B-52. sở chỉ huy dẫn nhưng không thể phát hiện được mục tiêu vì chúng gây nhiễu quá mạnh, quá dày đặc. Vũ Đình Rạng phải quay về hạ cánh.

        Lúc này trời vẫn mưa và tầm nhìn vẫn xấu như khi cất cánh. Vũ Đình Rạng được dẫn xuyên mây theo phương pháp hình hộp nhưng ba lần xuyên xuống vẫn không phát hiện được đường băng. Lần thứ tư, Vũ Đình Rạng liều cho máy bay lao xuống tới khi đồng hồ độ cao chỉ đến con số 0 mà vẫn không thấy gì, đành phải kéo máy bay lên.

        Đêm ấy, Trần Thông Hào trực ở Đài chỉ huy cất hạ cánh (Đài K-5) và Đại đội phó Nguyễn Đăng Kính chỉ huy trên Đài chỉ huy chỉ nghe thấy tiếng máy bay mà không nhìn thấy máy bay đâu vì thời tiết quá xấu.

        Dầu liệu máy bay gần cạn, sở chỉ huy cho Vũ Đình Rạng bay hướng 270 độ ra phía Sơn Tây và lên độ cao 3.000 mét để nhảy dù.

        Vũ Đình Rạng đành rời bỏ máy bay. Anh nhảy dù trong trời mưa, rơi xuống tiếp đất gần một bờ ruộng. Vì trời vẫn mưa, lại trong đêm tối và sức khỏe thấy đã có vấn đề, Vũ Đình Rạng quấn dù kín người nằm ngay bên bờ ruộng. Sáng sớm, có bà đi chợ phát hiện ra anh liền hô hoán lên. Cùng lúc, lực lượng dân quân du kích và tốp tìm kiếm của Quân chủng cũng vừa đến. Anh được đưa lên xe về bệnh viện Đan Phượng trong tình trạng gần như kiệt sức và đầu thì nhức như búa bổ...

        Những lần xuất kích chiến đấu trong tình hình thời tiết xấu như vậy, các phi công bay đêm đều xác định bằng mọi giá, tìm mọi cách đưa máy bay lên trời đi làm nhiệm vụ, khi quay về hạ cánh nếu không thể hạ được thì sẽ nhảy dù.

        Nhiệm vụ là trên hết! Không một ai đắn đo, suy tính riêng cho bản thân mình.

        Và không phải chỉ một lần xảy ra như với phi công Vũ Đình Rạng. Đã có những phi công khác cũng đã phải chấp nhận như thế.

        Suốt trong thời gian này, các phi công bay đêm của Đại đội 5 như: Đại đội trưởng Đinh Tôn, Đại đội phó Nguyễn Đăng Kính, Hoàng Biểu cùng các phi công Phạm Văn Mạo, Đặng Xây, Trần Cung, Vũ Đình Rạng, Trần Thông Hào, Vũ Xuân Thiều, sau này có thêm Phạm Tuân, Nguyễn Ngọc Thiên, Bùi Doãn Độ, Nguyễn Khánh Duy, Đặng Vân Đình, Nguyễn Đức Chiến, Lưu Văn Hĩnh... đã liên tục trực ban chiến đấu trên các sân bay dã chiến, sân bay cơ động với kích thước ngắn hẹp, trong tình trạng đường băng liên tục bị đánh phá không còn nguyên vẹn, hố bom chi chít, thậm chí như Đại đội trưởng Đinh Tôn đã có lần phải cất cánh khi trên đường băng vẫn còn bom nổ chậm...

        Kẻ địch có thể không tường tận được dung nhan, tưởng mạo của các anh, nhưng chắc chắn chúng dò được qua đối không giọng nói của các anh và đoán được các anh là những tay thợ săn chuyên nghiệp, chuyên lùng sục B-52. Chắc hẳn chúng rất gờm.

        Thòi ấy, trong Đại đội 5 đã có câu: Biểu “Xê- Pôn”, Tôn “Đường 9”. Có nghĩa là hai anh ấy đã mai phục và hoạt động ở những khu vực ấy quá nhiều, trở nên quen thuộc tựa như ta đi chợ ngày ngày vậy.

        Sau khi tiến hành chiến dịch Linebacker-1 từ ngày 10-5-1972, lực lượng Không quân và Hải quân Mỹ đã tiến hành triển khai ồ ạt các đợt tấn công vào các mục tiêu sâu trong lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, trong đó có cả các mục tiêu quanh khu vực các thành phố Hà Nội, Hải Phòng...

        Mục đích của chiến dịch là gây sức ép, buộc các nước Xã hội Chủ nghĩa không thể viện trợ cho Việt Nam, buộc miền Bắc Việt Nam phải ngồi vào bàn đàm phán theo các điều kiện có lợi cho Mỹ. Nhưng đến hết tháng 10 năm 1972, các mục tiêu của chiến dịch này không đạt được.

        Ngày 22 tháng 10 năm 1972, Nixon phải tuyên bố chấm dứt ném bom từ vĩ tuyến 20 trỏ ra.

        Cho dù tuyên bố như vậy, nhưng phía Mỹ vẫn có những toan tính chiến lược, nếu như miền Bắc Việt Nam không chịu khuất phục, không chịu chấp nhận những điều kiện mà Mỹ đưa ra (những điều kiện thật vô lí) thì Mỹ sẽ lại ném bom trở lại với quy mô lớn, trên diện rộng vào miền Bắc Việt Nam.

        Và, hủy diệt miền Bắc Việt Nam là mục tiêu cuối cùng trong chiến dịch Linebacker-2.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23690


« Trả lời #26 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2020, 02:28:28 pm »


THAM GIA CHIẾN DỊCH 12 NGÀY ĐÊM “ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”

        Tháng 4 năm 1972, quân và dân miền Nam Việt Nam đã mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy mà phía Mỹ gọi là “cuộc tiến công Lễ Phục sinh”. Nixon buộc phải Mỹ hóa trở lại cuộc chiến tranh, sử dụng Không quân và Hải quân đánh phá ác liệt hai miền Nam, Bắc Việt Nam, nhưng không xoay chuyển được tình thế.

        Ngày 20 tháng 10 năm 1972, chính quyền Nixon buộc phải chấp nhận “Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và ngày 23 tháng 10 năm 1972 tạm ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra. Tuy nhiên, chính quyền Nixon dây dưa không chịu ký kết đúng ngày 31 tháng 10 năm 1972 như đã thỏa thuận trước đó mà một mặt, gấp rút viện trợ ồ ạt cho chính quyền Sài Gòn, mặt khác đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở vào bằng máy bay B-52 hòng ngăn chặn việc vận chuyển, tiếp tế từ miền Bắc cho miền Nam và phá hoại tiềm lực của miền Bắc, đồng thời gây sức ép cho buộc ta phải nhượng bộ.

        Trong các cuộc họp từ 20 tháng 11 đến 13 tháng 12 năm 1972 ở Paris, phía Mỹ đòi sửa nhiều điểm của dự thảo Hiệp định mà trước đó họ đã thỏa thuận. Hội nghị Paris bế tắc.

        Ngày 14 tháng 12 năm 1972, Nixon ra lệnh phong tỏa cảng Hải Phòng bằng thủy lôi, cho tiến hành trinh sát toàn miền Bắc và ném bom các mục tiêu Hà Nội, Hải Phòng.

        Ngày 15 tháng 12 năm 1972, lệnh báo động được truyền đến căn cứ Không quân Andersen ở Gu-am và căn cứ Không quân U-ta-pao ở Thái Lan. Các mục tiêu cho máy bay B-52 gồm: 34 khu liên hợp ở Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Kép, Bắc Giang và Lạng Giang...

        Ngày 17 tháng 12, máy bay Mỹ tiến hành thả thủy lôi ở biển Hải Phòng và bắn tên lửa vào thành phố.

        18 giờ ngày 18 tháng 12 năm 1972, Mỹ gửi công hàm, thực chất là một tối hậu thư đến Hà Nội đòi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải họp lại Hội nghị Paris theo các điều kiện ngang ngược của Mỹ.

        Chỉ hơn 1 tiếng đồng hồ sau, vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 19 tháng 12, đợt B-52 đầu tiên đã ném bom Hà Nội mở đầu cho cuộc tập kích đường không chiến lược trong chiến dịch Linebacker II.

        Trong khi đó, cũng từ rất sớm, phía Việt Nam đã biết rõ âm mưu, thủ đoạn và sự chuẩn bị của phía Mỹ cho chiến dịch lỏn nhất, tàn bạo nhất và có thể là cuối cùng của cuộc chiến tranh này rồi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng tiên đoán: “Đế quốc Mỹ sẽ thua, nhưng chúng chỉ chịu thua sau khi đã thua trên bầu trời Hà Nội...”. Vì vậy, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng mà trực tiếp là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Tổng Tham mưu, Quân chủng Phòng không - Không quân đã tiến hành triển khai nhiều công tác chuẩn bị cho chiến dịch có ý nghĩa chiến lược và lịch sử này.

        Cuốn “Cẩm nang đỏ” là tập tài liệu đánh B-52 của bộ đội tên lửa được đúc kết từ thực tế qua các trận chiến đấu của các Trung đoàn tên lửa ở chiến trường miền Trung, Nam Lào và Bình Trị Thiên đã phát huy tác dụng, đóng góp phần to lớn cho các trận đánh sau này giành hiệu quả.

        Các sân bay dã chiến ở vòng ngoài cũng đã được xây dựng nhanh chóng như: Điền Trạch (Thọ Xuân), Thạch Quang (Thanh Hóa), Tân Trại (Vĩnh Phú), Chũ (Bắc Giang), Phú Thọ... và sửa lại sân bay Nà Sản (Sơn La).

        Những cuộc sơ tán đưa người già, trẻ em về các miền quê cũng được tiến hành.

        Các hầm hào, công sự được đào thêm, củng cố thêm cho vững chắc...

        Tất cả đều như những mũi tên nằm trên dây cung đã giương căng, sẵn sàng chờ thời khắc lao vút vào mục tiêu.

        Sau khi phương án tác chiến của Quân chủng Phòng không - Không quân “Đánh trả cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng” được phê duyệt. Ngày mồng 4 tháng 12 năm 1972, Bộ Tổng Tham mưu đã gửi bức Công điện số 420A cho Quân chủng Phòng không - Không quân với nội dung "... Nhiệm vụ trung tâm đột xuất của Quân chủng Phòng không - Không quân là tập trung mọi khả năng nhằm đối tượng chính là B-52 mà tiêu diệt.”

        Nhiệm vụ đã được triển khai nhanh chóng.

        Kế hoạch của Mỹ trong đêm đầu tiên của Chiến dịch Linebacker-II sẽ có 129 chiếc B-52 tham gia với đợt tấn công thứ nhất là 48 lần chiếc lúc chập tối, đợt thứ hai là 30 lần chiếc vào lúc nửa đêm và đợt thứ ba là 51 lần chiếc vào lúc 4 giờ sáng hôm sau. Đó là kế hoạch không cho người dân Hà Nội chợp mắt vào đêm 18 tháng 12.

        Đi đầu và bọc hậu B-52 là các máy bay tiêm kích bom mới F-111 của Không quân và máy bay A-6 của Hải quân. Hai loại máy bay này được trang bị các phương tiện tiến công đêm và mang nhiều bom.

        Kê hoạch Linebacker II yêu cầu thực hiện ném bom 3 đêm liền sau đó tạm nghỉ để đánh giá kết quả. Số máy bay tham gia đánh đêm đầu là 42 B-52D ở căn cứ Không quân U-ta-pao và 54 B-52G cùng 33 B-52D ở căn cứ Andersen. Tấn công làm 3 đợt và thời gian giữa các đợt là 4 đến 5 giờ.

        Trong tất cả các đợt tấn công phải gây nhiễu điện tử. Các máy bay tác chiến điện tử của Hải quân, Thủy quân lục chiến và Không quân luôn phải ở vị trí chiến đấu trong tất cả các cuộc tấn công để thực hiện nhiệm vụ phá rối điện tử.

        10 giờ 30 phút sáng ngày 17 tháng 12 năm 1972, sau khi nhận được lệnh chuyển trạng thái chiến đấu cao nhất, Quân chủng Phòng không- Không quân đã điện cho các đơn vị liên quan, chỉ rõ: “Tình hình rất khẩn trương, cần chuẩn bị cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu, thông tin lạc phải thông suốt, tổ chức kiểm tra tình trạng sẵn sàng và báo động cho tất cả các đơn vị cấp dưới”.

        Ngay từ sáng ngày 18 tháng 12, ngày được chọn là ngày bắt đầu chiến dịch lớn thứ ba và là cuối cùng của Không quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, vào lúc 10hl5 phút, nhiều tốp máy bay trinh sát bay qua bầu trời Hà Nội và đến 10h46 phút là bay qua bầu trời Hải Phòng.

        12h trưa, 2 chiếc máy bay trinh sát vũ trang RF-4 lại bay ngang Hà Nội.

        Các đơn vị trong toàn Quân chủng Phòng không - Không quân đã được chuyển cấp sẵn sàng chiến đấu cao nhất.

        Vào lúc 16h, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam nhận được tin tình báo: “Các phi đội B-52 gồm 32 chiếc đã cất cánh từ sân bay Andersen”.

        17h, Hà Nội ban bố lệnh báo động.

        6 máy bay MiG-21 trực tại 3 sân bay Hòa Lạc, Đa Phúc, Gia Lâm nhận lệnh vào cấp 1.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23690


« Trả lời #27 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2020, 11:08:59 am »


        Tối ngày 18 tháng 12, đợt gió mùa Đông Bắc tràn về Hà Nội, gây mưa phùn, những màn mây xám xịt xệ thấp hẳn xuống trong cái rét tái tê.

        Vào lúc 19hl5 phút, lệnh báo động B-52 đánh miền Bắc được phát. Còi ủ báo động lắp trên nóc nhà hát lớn, tòa nhà ngân hàng, ga Hàng cỏ đã đồng loạt rú lên kèm theo đó là tiếng loa hướng dẫn người dân vào hầm trú ẩn.

        Trên các sân bay Hòa Lạc, Đa Phúc, Gia Lâm, các phi công bay đêm sẵn sàng chờ lệnh cất cánh chặn đánh B-52, bẻ gãy các đợt tấn công của chúng, bảo vệ những mục tiêu được giao.

        Trước khi các tốp B-52 từ Thái Lan và Guam bay tới đánh phá Hà Nội, các máy bay F-111 bay ở độ cao thấp vào ném bom sân bay Đa Phúc, Kép... đồng thời, các máy bay EB-66 và F-4 bay vào thả một “hành lang nhiễu” trên độ cao 11.000 mét quanh khu vực Hà Nội. Các máy bay F-105 làm nhiệm vụ chế áp các trận địa tên lửa và 24 chiếc F-4 làm nhiệm vụ tìm diệt MiG quần ngay trên đỉnh các sân bay.

        Đêm đầu tiên của chiến dịch Linebacker II, số lượng máy bay B-52 tham gia đánh phá là: 42 chiếc B-52D ở căn cứ Không quân U-ta-pao, 54 B-52G và 33 B-52D ở căn cứ Andersen, tổng cộng 129 chiếc sẽ đánh 3 đợt, thời gian giữa các đợt là 4 đên 5 giờ. Đợt thứ nhất bắt đầu lúc 19 giờ 45 phút, đợt thứ hai vào lúc giữa đêm và đợt thứ ba ngay trước rạng sáng.

        Vào thời gian này, biên chế của Trung đoàn Không quân 921 và 927 đã được trang bị cả hai loại máy bay MiG-21 là F-94 và F-96.

        Loại MiG-2lMF (F-96) là phiên bản tiếp theo của MiG-2lPFM (F-94) thuộc dòng tiêm kích đánh chặn.

        Máy bay MiG-2lF-96 đầu tiên xuất hiện vào năm 1970.

        MiG-21F-96 có 1 động cơ phản lực Tumansky R-13-300, có 4 bệ treo với các phương án mang vũ khí đa dạng hơn MiG-2lF-94. Nó có thể đeo 4 quả tên lửa không đối không, hoặc 4 thùng rốc-ket, hoặc 2 tên lửa và 3 thùng dầu phụ... Nó cũng được trang bị pháo 23 li với 200 viên đạn.

        Đặc biệt, ghế dù của phi công có thể phóng ở độ cao bằng 0 (nghĩa là có thể nhảy dù thoát hiểm ngay khi máy bay chạy đà cất cánh trên đường băng).

        Nó cũng được trang bị hệ thống điện tử phân biệt địch ta SRZO-2.

        Những chiếc MiG-21F96 đã được lắp ráp tại Việt Nam vào cuối năm 1971.

        Cũng vào thời gian này và suốt trong 12 ngày đêm, các phi công bay đêm với số lượng ít ỏi (nếu tính những phi công có đủ trình độ chiến đấu và thực sự tham gia chiến đấu cho đến tận sau này thì chưa đến chục người) nhưng nhiệm vụ lại rất nặng nề. Họ giống hệt như các phi công cảm tử của Đội bay cảm tử. Bằng bất kỳ giá nào cũng phải cất cánh, bằng bất kỳ giá nào cũng phải tiêu diệt được B-52, cản phá các đợt tấn công của chúng trong khi trình độ kỹ thuật bay của các phi công bay đêm bấy giờ chưa được cao. Trình độ tiêu chuẩn kỹ thuật chủ yếu hầu hết mới được phép hoạt động khi đáy mây thấp nhất là 300 mét, tầm nhìn thấp nhất là 3.000 mét, một số còn chỉ được phép hoạt động khi đáy mây 400 mét và tầm nhìn 4.000 mét trở lên (theo ngôn từ chuyên môn là 300/3000 hoặc 400/4000). Mặc dù vậy, không một ai để ý, quan tâm lớn đến chuyện ấy. Có nhiều chuyến xuất kích, khi cất cánh thời tiết đã xấu lắm rồi và biết rằng khi quay về sẽ không thể hạ cánh nổi, nhưng không một ai chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy, vẫn đưa được máy bay lên trời, vẫn lao vào cuộc chiến...

        19h20 phút, phi công Trần Cung trực ban chiến đấu trên máy bay MiG-21 F-94 tại sân bay Hòa Lạc vào cấp 1 và xuất kích lúc 19h28 phút.

        Trước khi anh Trần Cung xuất kích, sân bay Hòa Lạc đã bị đánh phá dữ dội, Các tấm ghi lát trên đường cất hạ cánh bị bong tróc, dựng ngược lên, nhất là ở phía cuối đường cất hạ cánh. Anh Trần Cung kéo máy bay mình cho tách đất sớm với tốc độ nhỏ nhất có thể.

        Sau khi tách đất, anh Trần Cung được dẫn về hướng Hòa Bình - Suối Rút để chặn đánh tốp B-52 từ Nam Mộc Châu lên Vạn Yên. Tiếp cận mục tiêu đến cự li 15 km, khi bật ra-đa trên máy bay lên thì màn hình trắng xóa vì bị nhiễu nặng, không thể bắt được mục tiêu. Ngay lúc ấy, các máy bay F-4 quây lấy anh và bắn tên lửa. sở chỉ huy dẫn dắt anh tránh tên lửa và cho anh thoát li về sân bay Đa Phúc hạ cánh.

        Sân bay Đa Phúc trước đó đã bị bọn F-111 ném bom hai đợt, nhiều đoạn đường băng bị hư hỏng nặng. Đài chỉ huy cất hạ cánh ở sân bay (đài K-5) cũng bị đánh hỏng. Anh Trần Cung được lệnh bay về hạ cánh ở sân bay Kép, nhưng sân bay Kép và đài chỉ huy ở sân bay đã bị đánh hỏng, sở chỉ huy cho anh về sân bay Gia Lâm để hạ cánh, nhưng sân bay Gia Lâm cũng vừa bị địch đánh phá xong, hệ thống ánh sáng của đường băng bị hỏng, chưa khắc phục được. Một lần nữa anh lại được dẫn về hạ cánh ở sân Đa Phúc. Máy bay anh bay đến đâu là hỏa lực phòng không bắn theo đến đấy vì tất cả không nhận diện được máy bay ta. Đến sân bay Đa Phúc, chỉ đến khi anh Trần Cung lao xuống, bật đèn pha trên máy bay để hạ cánh thì bấy giờ hỏa lực phòng không mới thôi không bắn.

        Vào lúc 20h 16 phút, anh Trần Cung cố gắng tiếp đất ở phần gần cuối đường băng. Tiếp đất xong là thả dù giảm tốc và tắt máy ngay nhưng máy bay vẫn lao chồm qua một hố bom cỡ nhỏ rồi mới dừng lại trước miệng một hố bom cỡ lớn.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23690


« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2020, 11:36:16 am »

     
        19h40 phút, Phạm Tuân trực ban chiến đấu trên sân bay Đa Phúc vào cấp 1 trên loại máy bay MiG-21 F-96 và nhận lệnh xuất kích lúc 19h47 phút. Khi mở máy, lăn ra chuẩn bị cất cánh, khói lửa của bom đạn địch vẫn còn nghi ngút, đạn cao xạ vẫn nổ chi chít quanh máy bay. Quá nửa đường băng đã bị phá hỏng, nhưng Phạm Tuân vẫn cố gắng cất cánh. Sau khi cất cánh, bay đến khu vực Sơn Tây, anh nhận được lệnh vứt thùng dầu phụ rồi lấy độ cao 4.000 mét và được dẫn đến khu vực Hòa Bình. Lúc này, anh phát hiện thấy những hàng đèn trên thân các máy bay B-52, anh bật tăng lực lấy độ cao lao về phía B-52, bật ra-đa trên máy bay mình. Lập tức, bọn B-52 tắt vụt đèn và bọn F-4 bay hộ tống xông vào máy bay anh, bắn tên lửa. Màn hình ra-đa bị nhiễu nặng, không thấy mục tiêu nữa. Bọn F-4 quây đến ngày càng đông. Sau khi làm các động tác tránh tên lửa, sở chỉ huy cho anh thoát li khỏi cuộc chiến và dẫn anh về sân bay Đa Phúc hạ cánh. Đài chỉ huy ở sân bay Đa Phúc đã bị đánh hỏng. Đúng thời điểm đó, một chiếc B-52 bị tên lửa Phòng không của ta bắn cháy, rơi ở Phủ Lỗ. Lợi dụng ánh sáng đó, cộng với đèn pha trên máy bay, Phạm Tuân lao xuống hạ cánh. Máy bay vừa tiếp đất đã rơi ngay vào hố bom rồi lại nhảy lên. Phạm Tuân tắt vội động cơ, thả dù giảm tốc, nhưng máy bay lại nảy lên, chạy bằng cánh bên phải rồi nghe cái “rầm”. Máy bay đã lao xuống hố bom, quay ngược lại 180 độ, nằm lật ngửa.

        Trước đó vài phút, khi anh Trần Cung nhảy ra được khỏi buồng lái thì thấy Phạm Tuân xuông hạ cánh, rồi thấy những vệt lửa sáng chạy dọc theo đường băng trước khi máy bay lao xuống hố bom. Thì ra, do lực va chạm mạnh nên những quả tên lửa đã “nhảy” ra khỏi giá treo, mài trên mặt đường bê tông tạo ra những vệt lửa như vậy.

        Khi Phạm Tuân đạp chân vào phần mảnh nắp buồng lái bị vỡ, tạo lỗ hổng to hơn để chui ra thì anh Trần Cung cũng vừa tới nơi.

        Hai anh dò dẫm trên đường băng và được đón về Sở chỉ huy rút kinh nghiệm.

        Vũ Đình Rạng trực ban chiến đấu trên sân bay Gia Lâm với máy bay MiG-21 F-96 nhận lệnh vào cấp 1 lúc 4h 25 phút sáng ngày 19-12 và xuất kích chiến đấu vào lúc 4h43 phút.

        Sau khi rời đất, anh được dẫn về phía Chương Mỹ, lấy độ cao lên 3.000 mét. 3 phút sau, sở chỉ huy lệnh cho anh vứt thùng dầu phụ, tăng lực kéo lên độ cao 7.000 mét, rồi 8.000 mét bay ra phía Tân Lạc. Lúc này, Sở chỉ huy thông báo mục tiêu cách 8 km. Đến cự li 5 km, Vũ Đình Rạng phát hiện thấy 4 đốm lửa phía trước, đoán là lửa từ động cơ của B-52, liền bật ra-đa trên máy bay. Ngay lập tức, không hề thấy các đốm lửa nữa và màn hình bị nhiễu nặng, không thấy được mục tiêu.

        Sở chỉ huy thông báo: chú ý cảnh giới phía bên phải. Lập tức, Vũ Đình Rạng phát hiện được 2 quả tên lửa vụt qua sát máy bay mình. Máy bay rung hất mạnh lên phía trên tạo quá tải âm, bụi trong buồng lái tung mù mịt. Vũ Đình Rạng kéo máy bay hạ thấp độ cao, cảm thấy khi vòng phải thì nhẹ mà vòng sang phía trái thì rất nặng. Phán đoán máy bay đã bị chấn thương rồi, nhưng anh vẫn theo lệnh của Sở chỉ huy lấy độ cao. sở chỉ huy thông báo mục tiêu phía trước. Vũ Đình Rạng phát hiện được chiếc F-4 bay ở phía bên phải máy bay mình chừng 30 độ đang tăng lực đi từ phía phải qua trái. Anh nhanh chóng vòng trái bám theo, tiếp cận và khi đến cự li 2.500 mét, với tốc độ 1.100 km/h, anh ấn nút phóng tên lửa không đối không rồi vòng phải thoát li. Bay đến ngang Suối Rút, anh thấy máy bay mình không ổn định nhưng vẫn còn điều khiển được, sở chỉ huy cho anh thoát li, xuyên mây từ phía Thái Nguyên về đầu Bắc sân bay Gia Lâm hạ cánh.

        Sân bay Gia Lâm bấy giờ đã bị địch đánh hỏng nặng, hệ thống đèn đêm của sân bay chưa khắc phục được, chỉ còn 1 chiếc đèn chiếu ở phía hồ Lâm Du.

        Khi xuyên xuống, máy bay vượt qua sân Gia Lâm nên lại phải vòng lại. Máy bay lúc này đã khó điều khiển hơn. Đường xuống bị cao, không thể hạ cánh được. Vũ Đình Rạng vòng tiếp vòng nữa, lợi dụng ánh sáng của mấy chiếc 11-18 và Mi-4 đang cháy vì trúng bom, anh lao xuống hạ cánh. Khi tiếp đất với tốc độ lớn, máy bay bị “nhảy cóc”. Đến lần tiếp đất thứ hai, anh liền tắt máy và thả dù giảm tốc đồng thời ấn cần lái về phía sát bảng đồng hồ, bóp phanh hết cỡ. Máy bay va vào chướng ngại vật, gãy càng trước, tiếp tục lao qua những hố bom nhỏ, những rãnh... và chỉ chịu dừng trước miệng hố bom lớn trên đường băng.

        Các đồng chí thợ máy khi kiểm tra máy bay phát hiện thấy bánh lái lên xuống phía bên trái bị cụt mất 1/3 và nhiều vết thủng do mảnh tên lửa của bọn F-4.

        Sau đợt đánh phá của F-111 và B-52 vào các sân bay, nhân dân các địa phương đã được huy động để cùng lực lượng bộ đội công binh nhanh chóng sửa chữa gấp, khôi phục đường cất hạ cánh, sẵn sàng cho máy bay MiG cất cánh.

        Với 2 sân bay Đa Phúc và Kép, đường băng bị hỏng quá nặng nên các phi công đã quyết định cất hạ cánh bằng đường lăn và đường kéo dắt máy bay từ hầm ra, mặc dù chiều rộng chỉ có 16 mét.

        Trong đêm 18 tháng 12 này, phi công Nguyễn Đức Chiến trực ban chiến đấu ở sân bay Kép, nhưng sân bay bị bọn F-111 và B-52 đánh hỏng nặng, không thể cất cánh được. Chiều ngày hôm sau -  ngày 19 tháng 12, Nguyễn Đức Chiến được máy bay trực thăng đưa lên sân bay Phú Thọ (sân bay cũ của Pháp xâu dựng) để trực. Sân bay Phú Thọ lúc này nền đất còn ẩm ướt, Nguyễn Đức Chiến đi trên mặt đường băng thấy giày mình bị lún nên lo lắng, tìm cách tính toán cho việc xuất kích thê nào để đảm bảo an toàn.

        Máy bay trực thăng Mi-6 cẩu chiếc MiG-21 đeo 2 quả tên lửa bổ trợ lên sân bay Phú Thọ, nhưng gặp sự cố’bị đứt giây cáp, máy bay hỏng.

        Nguyễn Đức Chiển đợi ở Phú Thọ đến trưa ngày 21 thì được đón vê sân bay Đa Phúc.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Năm, 2020, 06:51:29 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23690


« Trả lời #29 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2020, 06:52:23 am »

   
        Đêm 20 tháng 12 năm 1972, B-52 lại bay 3 đợt, sử dụng đường bay tiếp cận hẹp từ Tây Bắc xuôi về Hà Nội .

        Vũ Xuân Thiều trực ban chiến đấu với loại máy bay MiG-21 F-94 vào cấp 1 lúc 19hl2 phút và xuất kích chiến đấu lúc 19h27 phút từ đường lăn sân bay Đa Phúc, được dẫn về phía Việt Trì - Phú Thọ.

        Vũ Đình Rạng trực trên máy bay MiG-21 F-96 vào cấp 1 sau Vũ Xuân Thiều 1 phút và cất cánh lúc 19h32 từ sân bay Gia Lâm, được dẫn về vùng Mộc Châu - Suối Rút.

        Cả hai phi công đều có nhiệm vụ đánh chặn tốp B-52 đang bay vào từ hướng Tây Bắc.

        Được Sở chỉ huy dẫn dắt tốt, cả hai phi công đều phát hiện được mục tiêu, nhưng khi chỉ còn cách tốp B-52 chừng 7 - 8km thì đều bị địch phát hiện. Tất cả đội hình B-52 tắt đèn hàng hành. Trên màn hình ra-đa các máy bay MiG đều bị nhiễu rất nặng, không sao phát hiện được mục tiêu, phải quay về.

        Vũ Xuân Thiều hạ cánh lúc 20h 08 phút và Vũ Đình Rạng hạ cánh lúc 20h 22 phút.

        Trong trận này, tuy cả hai phi công Thiều và Rạng chưa có điều kiện bám sát, phát hỏa nhưng đã làm cho đội hình B-52 và bọn tiêm kích hộ tống rối loạn, làm giảm lượng nhiễu thả ra, gây khó khăn cho kế hoạch ném bom của B-52 và cũng chính điều đó đã tạo điều kiện cho các trắc thủ tên lửa phân biệt được các loại dải nhiễu của đội hình có B-52 dễ dàng hơn, chính xác hơn.

        Đêm này kết thúc với cái giá Mỹ không chịu đựng nổi. Mỹ công nhận bị rơi 4 chiếc B-52G và 2 chiếc B-52D, còn chiếc B-52D thứ ba thì bị hư hỏng. Bộ tư lệnh Không quân chiến lược Mỹ (SAC) không thể tiếp tục làm nhiệm vụ nếu để mất mỗi đêm 6 máy bay B-52 hay thậm chí chỉ 3 chiếc thôi. Lực lượng ở Gu-am được nghỉ xả hơi trong một thời gian. Việc đánh giá lại tình hình được tiến hành. Đêm thứ 4, lực lượng này không được sử dụng để đánh miền Bắc Việt Nam. Thay vào đó, nó đưa 30 máy bay B-52 đến vùng trời miền Nam Việt Nam để huấn luyện các kíp bay mới. Nỗ lực ném bom đêm để đánh phá Hà Nội được giao cho 30 máy bay B-52D ở U-ta-pao thực hiện.

        Đêm 21 tháng 12, các cuộc đánh phá đều do B-52D từ căn cứ U-ta-pao thực hiện.

        Phi công Nguyễn Đức Chiến từ Phú Thọ về trực ban chiến đấu (thay cho Vũ Đình Rạng vì bị huyết áp cao) trên sân bay Đa Phúc với loại máy bay MiG- 21 F-96 đeo 2 quả tên lửa bổ trợ, nhận lệnh chuyển trạng thái chiến đấu vào cấp 1 lúc 02h45 phút.

        Loại tên lửa bổ trợ SPRĐ-99 mà ta vẫn gọi với mật danh là K-99 được treo lắp ở phần phía sau thân theo trục dọc của máy bay MiG-21. Miệng phun của nó được đặt ở vị trí có lợi nhất để lực đẩy của nó hướng vào trọng tâm của máy bay. Xung lượng tổng cộng của tên lửa bổ trợ cất cánh lớn hơn 22.000 KG/s. Sau khi bật tăng lực, máy bay bắt đầu chạy đà thì phi công ấn nút “Phóng tên lửa bổ trợ”. Ba vệt lửa kéo dài sau đuôi máy bay (ở chính giữa là của buồng tăng lực, hai bên là của hai quả tên lửa bổ trợ) tạo nên cảnh tượng cực kỳ hoành tráng trong trời đêm. Máy bay gần như được nhấc bổng khỏi đường băng vì lực đẩy của tăng lực kết hợp với lực đẩy của tên lửa bổ trợ lớn hơn trọng lượng của máy bay. Phi công không được phép cho máy bay tách đất quá sớm để đảm bảo an toàn. Sau khoảng thời gian từ 10 đến 17 giây (phụ thuộc vào tình hình thời tiết), tên lửa bổ trợ hết làm việc thì bấy giờ phi công ấn nút “Vứt tên lửa bổ trợ”, chỉ còn sử dụng chế độ tăng lực trên máy bay mà thôi.

        Loại tên lửa bổ trợ SPRĐ-99 này chỉ sử dụng được 1 lần. Để đảm bảo vứt vỏ tên lửa bổ trợ an toàn, trên vỏ nó có đặt những tấm lá đặc biệt.

        Trong giai đoạn cuối năm 1972, không chỉ các phi công bay đêm mà cả các phi công bay ngày cũng đều phải sử dụng loại tên lửa bổ trợ để cất cánh mới có thể đưa máy bay lên trời được vì tất cả mọi đường băng đều bị đánh hỏng nặng nề, đoạn đường dùng cho cất cánh còn rất ngắn.

        03h09 phút, Nguyễn Đức Chiến xuất kích, cất cánh trên đường băng đất. Máy bay vừa tách đất thì Nguyễn Đức Chiến bị bọn F-4 lao đến bắn. Nguyễn Đức Chiến vứt tên lửa bổ trợ và cơ động tránh tên lửa.

        Tới lúc anh vừa cải máy bay ra thì bất ngờ thấy chiếc F-4 to lù ngay bên cạnh, cánh của nó như đè lên cánh MiG của anh. Anh còn nhìn thấy rõ 2 thằng phi công trong buồng lái vì cự li rất gần và lúc ấy trời có ánh sáng trăng. Thằng F-4 xông vọt lên trước bởi tốc độ lớn. Nguyễn Đức Chiến bám theo chuẩn bị ngắm bắn thì thằng F-4 tắt tăng lực. Nguyễn Đức Chiến không nhìn thấy mục tiêu nữa nên không thực hiện được việc ngắm bắn.

        Sở chỉ huy dẫn anh bay xuyên qua khu vực Tam Đảo - Ba Vì để đánh chặn bọn B-52 bay từ phía Tây sang.

        Cũng giống như các chuyến xuất kích của Vũ Xuân Thiều và Vũ Đình Rạng trước đó, Nguyễn Đức Chiến không thể tiếp cận được B-52 nên sở chỉ huy dẫn anh quay về hạ cánh.

        Khi xuất kích, thời tiết đã rất xấu rồi. Khi về hạ cánh, nó còn tồi tệ hơn nữa. Xuyên đi xuyên lại không thấy được đường băng, dầu liệu lại sắp cạn nên Sở chỉ huy dẫn Nguyễn Đức Chiến vòng ra phía Hòa Bình để nhảy dù. Nguyễn Đức Chiến đành phải rời bỏ máy bay, nhảy dù và tiếp đất ở vùng Kỳ Sơn - Hòa Bình.

        Phi công Bùi Doãn Độ trực chiến với loại máy bay MiG-21 F-94 chuyển cấp sau Nguyễn Đức Chiến 13 phút, tức là vào lúc 02h58 và xuất kích chiến đấu lúc 03hl8 phút. Anh cũng được dẫn về phía Tây để đánh chặn bọn B-52. Khi lên đến độ cao 4.000 mét, Bùi Doãn Độ phát hiện được đèn của bọn B-52 bay đối đầu và ở trên độ cao 10.000 mét. Anh bật tăng lực vòng lại kéo máy bay lên lấy độ cao. Vẫn thấy đèn của bọn B-52 nhưng máy bay anh bị “treo” vì tốc độ còn quá nhỏ và chênh lệch độ cao lại khá lớn: anh thấp hơn lũ B-52 đến 2.000 mét.

        Đúng lúc ấy, bọn B-52 tắt đèn hàng hành. Bùi Doãn Độ không phát hiện bằng mắt thường được, liền bật ra-đa trên máy bay nhưng bị nhiễu rất nặng, không nhìn thấy gì và sở chỉ huy đã dẫn anh về hạ cánh lúc 04h02 phút.

        Thòi gian đó, ta áp dụng chiến thuật “đi thấp kéo cao” (một số tài liệu gọi là chiến thuật “thia lia đớp mồi”) để đảm bảo yếu tố bí mật bất ngờ, nhưng chiến thuật này khi áp dụng cho đánh ngày và nhất là ở chiến trường “cán xoong” khu Bốn thì có tác dụng, còn cho đánh đêm ở khu vực miền Bắc, nó đã bộc lộ những nhược điểm cần khắc phục. Đó là khi ta thấy được B-52 bằng mắt thường qua các dãy đèn hàng hành của chúng nhưng không đánh được bởi độ cao của ta và địch chênh nhau quá lớn, khi máy bay ta kéo lên thì tốc độ ngày càng giảm, máy bay bị “treo”. Vừa thấp lại tốc độ nhỏ như thê thì ta bị tụt hậu là đương nhiên. Phần nữa, trên các máy bay địch đã được lắp đặt hệ thống cảnh báo MiG và sử dụng các loại nhiễu dày đặc nên ta gặp khó khăn rất lớn trong quá trình dẫn dắt. Không chỉ một mình phi công Bùi Doãn Độ gặp phải tình trạng ấy mà một số phi công khác cũng gặp phải cảnh ngộ tương tự như vậy.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM