Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Mười, 2020, 10:35:39 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 1364 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10044


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2020, 06:55:32 am »

Chiến thắng Hà Vy còn cung cấp cho quân và dân ta nhiều bài học kinh nghiệm quý trong quá trình chiến đấu chống đế quốc Mỹ.

Trận đánh Hà Vy chỉ là một trong những trận đầu đánh Mỹ đi càn của bộ đội địa phương huyện phối hợp với du kích xã, song đây lại là trận đánh tiêu diệt nhiều lính Mỹ nhất khu vực ở thời kỳ đó và thu giữ nhiều vũ khí, trang bị. Hơn nữa, chiến thắng Hà Vy đã khẳng định được tính ưu việt của nghệ thuật chiến tranh du kích “lấy ít địch nhiều”, “lấy yếu thắng mạnh”. Trận đánh này chúng ta chỉ có một đại đội với khoảng 120 chiến sỹ, du kích xã trên 30 chiến sỹ song chúng ta đã diệt gọn một đại đội Mỹ, làm thiệt hại 02 đại đội khác, thu được 28 khẩu súng, nhiều vật dụng khác. Trận đánh Hà Vy cũng khẳng định được sức mạnh của lực lượng vũ trang tại chỗ đồng thời cho thấy chỉ với lực lượng nhỏ nhưng với quyết tâm cao. biết vận dụng linh hoạt cách đánh thì chúng ta có thể đánh bại đội quân viễn chinh Mỹ dù chúng có quân số đông, được trang bị vũ khí hiện đại, tối tân. Sau chiến thắng Hà Vy, quân và dân Đại Lộc càng nêu cao hơn nữa phương châm hành động “Tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt”; làm dấy lên phong trào thi đua “Dũng sĩ diệt Mỹ” trên địa bàn huyện, gây nên nỗi kinh hoàng đối với quân viễn chinh Mỹ.

Từ những thành công của trận đánh Hà Vy, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, phải thường xuyên quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân, xây dựng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, đảm bảo cho lực lượng vũ trang địa phương có thể đánh địch. Trong quá trình chiến đấu, phải tận dụng những lợi thế của làng chiến đấu với hệ thống giao thông hào, công sự, hố chông, cọc chống máy bay trực thăng... Lực lượng bộ đội phải có sự phối hợp chặt chẽ với du kích, nhân dân địa phương để nắm chắc địa hình chiến đấu, chủ động trong tiến công, phòng thủ, đảm bảo an toàn cho lực lượng ta. Thực tế lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta cho thấy, đường lối chiến tranh nhân dân đã phát huy hiệu quả cao trong các cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Thắng lợi của ta ở trận đánh Hà Vy đã đem lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho quân và dân Đại Lộc trong công tác chỉ đạo, điều hành chiến tranh cách mạng, nhất là khi quân Mỹ mới đổ bộ xuống chiến trường Đại Lộc.

Thứ hai, muốn đánh Mỹ và thắng Mỹ thì phải đánh gần, “bám thắt lưng địch mà đánh”, phải biết “tùy cơ ứng biến”. Quân Mỹ với số lượng đông được trang bị vũ khí hiện đại, có sự yểm trợ đắc lực của hỏa lực, máy bay nên quân ta phải thực sự mưu lược trong chiến đấu mới có thể giành thắng lợi. Chiến thắng Hà Vy là một trong những minh chứng cụ thể nhất cho cách đánh của quân dân ta. Trong trận đánh này, quân ta đợi địch đến gần mới nổ súng nên hiệu suất chiến đấu cao hơn; giành thế chủ động ngay từ loạt đạn đầu tiên, khiến quân địch rối loạn, hoang mang. Quân ta đã buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta, không cho chúng phát huy ưu thế về vũ khí, trang bị, hỏa lực và sức cơ động. Ở trận đánh này, quân ta cũng thực hiện chiến thuật “đánh nhanh, rút nhanh” để bảo toàn lực lượng tham gia chiến đấu. Chỉ sau một ngày, từ mờ sáng đến tối, bộ đội địa phương đã rút quân khỏi làng Hà Vy, toàn đại đội chỉ có 01 đồng chí hy sinh.

Thứ ba, phải thường xuyên xây dựng và củng cố niềm tin, quyết tâm đánh địch của quân và dân ta. Công tác chính tri tư tưởng là công tác vô cùng quan trọng, mang yếu tố quyết định thành công hay thất bại đối với một trận đánh. Nếu không làm tốt công tác tư tưởng trong cán bộ, chiến sỹ và nhân dân, khả năng giành thắng lợi là rất thấp. Trận đánh Hà Vy có thể nói là một trận đánh không cân sức mà ưu thể thuộc về quân địch. Trong khi chúng ta chỉ có một đại đội với hơn 100 người thì địch điều cả một tiểu đoàn cùng với sự yểm trợ của phi pháo, trực thăng. Nhưng với quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, quân và dân ta đã đồng lòng, kiên cường chiến đấu với địch, đánh bại quân địch ngay phút đầu xâm nhập trận địa. Chúng ta đã không sợ sức mạnh của quân Mỹ, không sợ hy sinh, gian khổ, chính vì vậy chủng ta đã giành được thắng lợi lớn.

Thứ tư, dù ở bất kỳ trận đánh lớn hay nhò, công tác chuẩn bị phải kỹ càng, chu đáo, đảm bảo trong quá trình tác chiến không bị động. Ở trận đánh Hà Vy, chúng ta thấy rằng, để có được thành công trước một đối thủ mạnh về trang bị vũ khí, sức cơ động trong chiến đấu, ngoài tinh thần anh dũng, dám hy sinh còn phải chuẩn bị chu đáo. Trước khi quân Mỹ đổ bộ một ngày, quân ta đã khảo sát địa hình, chuẩn bị chiến trường, nhận định hướng tấn công chính của địch để bố trí lực lượng mai phục. Chúng ta cũng lựa chọn cách đánh phù hợp với khả năng và trình độ kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội địa phương huyện. Trận đánh Hà Vy đã tuân thủ các nguyên tắc cơ bản, để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về tổ chức và thực hành chiến đấu, đó là chù động, bất ngờ, đánh nhanh, diệt gọn.

Thứ năm, chiến thắng Hà Vy đã để lạí bài học quý giá về bảo vệ sinh mạng vả tải sản của nhân dân. Theo nguồn tin từ Huyện ủy mà trực tiếp là đồng chí Bí thư Huyện ủy Phan Thanh Thủ là địch sẽ tổ chức đi càn trên địa bàn xã Lộc Vĩnh; thêm vào đó là dấu hiệu trước khi đi càn, địch thường cho máy bay quần lượn, do thám địa hình vài ngày nên quân vả dân ta đã chuẩn bị tinh thần sẵn sàng đối đầu với địch. Lúc đó, nhân dân xã Lộc Vĩnh, những người tham gia chiến đấu vả phục vụ chiến đấu thì ở lại, người già và trẻ em được bố trí sơ tán vào khu vực an toàn. Chính vì vậy, trong trận đánh Hà Vy. lực lượng bộ đội và du kích địa phương đã bảo vệ được tính mạng và tài sàn cho nhân dân; không có người dân nào bị thương vong.

50 năm đã qua, song ý nghĩa và bài học lịch sử từ chiến thắng Hà Vy mãi là niềm tự hào của quân và dân Đại Lộc nói riêng, Quảng Nam nói chung. Chiến thắng Hà Vy đã thể hiện quyết tâm đánh Mỹ, khẳng định được sức mạnh đoàn kết của quân và dân ta trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ. Giá trị của chiến thắng Hà Vy sẽ góp phần cổ vũ, động: viên đối với quân và dân Đại Lộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước hôm nay.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10044


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2020, 06:58:05 am »

TỪ THẾ TRẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN Ở ĐẠI LỘC TRONG
NHỮNG NĂM ĐẦU CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ”
CỦA ĐẾ QUỐC MỸ ĐẾN CHIẾN THẮNG HÀ VY

Hứa Văn Bảy(1)

Quy luật của chiến tranh là “mạnh được yếu thua”. Đứng vững trên quan điểm quân sự Mác- Lênin kế thừa tư tưởng đánh giặc giữ nước của dân tộc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng quy luật chung vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để đề xuất và tổ chức thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân rất phong phú sáng tạo với hạt nhân cơ bản là tiến hành chiến tranh nhân dân.

Theo Đại tướng Hoàng Văn Thái “...Bất cứ cuộc chiến tranh nào mà ta tiến hành dù có hiện đại đến đâu cũng là chiến tranh nhân dân. Chiến tranh nhân dân Việt Nam có đặc trưng chủ yếu là lấy tư tưởng chiến lược tiến công làm lõi, là toàn dân đánh địch, tiến công một cách toàn diện, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp chặt chẽ giữa vũ trang khởi nghĩa với chiến tranh, kết hợp tiền tuyến lớn với hậu phương lớn...”

Chiến thắng Hà Vy - Lộc Vĩnh (Đại Hồng), ngày 02 tháng 4 năm 1966 trên chiến trường Khu 5 là chiến công xuất sắc của bộ đội địa phương huyện Đại Lộc, trong những năm đầu tiên quân đội Mỹ trực tiếp tham chiến ở miền Nam. Chiến thắng đó thể hiện sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân là toàn dân, toàn diện; sức mạnh của ý chí dám đánh và đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân ta.

Bước vào năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ đã cơ bản thất bại, Tổng thống Giôn-Xơn quyết định đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam nhằm chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Mỹ tin rằng với sức mạnh “ghê gớm” của quân lực Hoa Kỳ, chúng sẽ đánh gục quân giải phóng, bình định hoàn toàn miền Nam, trong vòng từ 2 năm đến 2 năm rưỡi. Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1965, Mỹ ồ ạt đổ quân vào Đà Nẵng và Quảng Nam với một đội quân chiến đấu nhà nghề và được trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại. Đến tháng 6 năm 1965, vành đai diệt Mỹ đã nới rộng ra các huyện Hòa Vang, Điện Bàn và một phần huyện Đại Lộc. Trước những khó khăn, thử thách, hy sinh cực kỳ to lớn, quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy, Đảng bộ huyện Đại Lộc tiến hành chỉnh huấn để giải quyết tư tưởng ngại đánh Mỹ, ngại ác liệt xây dựng tinh thần tấn công địch. Kiên trì phương châm tiến công địch bằng 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị. binh vận). Thực tiễn chửng minh ở Đại Lộc là bên cạnh thực hiện đòn tiến công quân sự là cơ bản thì đấu tranh chính trị của quần chúng cách mạng là quan trọng để góp một phần cho thắng lợi.

Từ cuối năm 1964 đến Xuân năm 1965, nhân dân Đại Lộc thực hiện phong trào “đồng khởi” nổi dậy giải phóng nông thôn, đồng bằng. Ta đã đánh 131 trận, diệt làm bị thương và bắt sống 543 tên địch (có 23 tên Mỹ) thu 138 súng các loại, có 04 trung liên, về đấu tranh chính trị có trên 50 cuộc, thu hút hàng vạn quần chúng tham gia trực diện đến các đồn, các quận lỵ, các trụ sở hội đồng của địch đề chất vấn, đòi bồi thường nhân mạng chấm dứt bắn phá, thả bom, trả tự do những người bị bắt. Mũi đấu tranh binh vận cũng trở thành mũi tấn công sắc bén, ta đã làm tan rã 348 lính ngụy, như Dân vệ, bảo an, cộng hòa... bỏ ngũ về ta mang theo 16 súng, 35 lựu đạn, 3500 viên đạn. Dân vệ các cứ điểm được ta vận động đồng tình ủng hộ các cuộc đấu tranh chính trị 7 lần(2). Thực tế đó đã chứng minh ở Đại Lộc đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị và công tác binh vận trở thành 3 mũi tán công tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù.

Từ khi quân Mỹ ào ạt đưa quân vào Đại Lộc, ta đã giải phóng 100 thôn với 4/5 đất đai, khoảng 80.000 dân trong số 100 thôn nói trên ta thực sự làm chủ 77 thôn, với 65.000 dân ở 6 xã vùng B (Lộc Thành, Lộc Sơn, Lộc Hòa, Lộc Quý, Lộc Phước, Lộc Tân) và 2 xã vùng A (Lộc Quang, Lộc Vĩnh), hình thành một vùng giải phóng liên hoàn với các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Quế Sơn. 23 thôn còn lại có trên 13000 dân là vùng tranh chấp gồm một số thôn của Lộc Bình, Lộc Phong, Lộc Chánh, Lộc An, Lộc Mỹ. Ở đây du kích thoát ly hoạt động thường xuyên. Trên địa bàn huyện Đại Lộc còn lại 22 thôn nằm trong vùng địch kiểm soát quanh chi khu Đại Lộc và chi khu Thượng Đức. Như vậy, ta đã có đất, có dân, có được hậu thuẫn tương đối lớn, trước khi quân Mỹ vào Đại Lộc, chúng sẽ gặp một thế trận chiến tranh nhân dân. Xét về qui luật khách quan “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” đánh giặc phải có địa lợi, nhân hòa thi mới thắng lợi. Mỹ vào xâm lược nước ta nhưng nhân dân ta đoàn kết chống lại chúng quyết liệt, đó là “nhân không hòa”; “địa lợi” thì Việt Nam cách Mỹ nửa vòng trái đất địa hình hiểm trở, núi non trùng điệp, không hợp địa hình, thủy thổ là điếm bất lợi cho Mỹ. Cùng với “địa lợi, nhân hòa”, ta có Đảng lãnh đạo, chỉ đạo và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên cơ sở cuộc chiến tranh chính nghĩa. Tất cả điều đó đã tạo nên sức mạnh thuận lợi để quân và dân ta đánh thắng trận, phủ đầu quân Mỹ tại Hà Vy (Lộc Vĩnh).


(1) Huyện ủy viên, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy Đại Lộc.
(2) Tình hình Đại Lộc sau phòng trào đồng khởi (1964). Bản đánh máy lưu tại Ban tuyên giáo huyện ủy Đại Lộc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10044


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2020, 06:58:46 am »

Quân đội Mỹ vào Đà Nẵng, Hòa Vang trở thành tuyến đầu đánh Mỹ, đã hình thành “Vành đai diệt Mỹ”. Ở huyện Đại Lộc vào thời điểm này ta tích cực xây dựng vùng giải phóng, cử từng đội du kích ra Hòa Vang học tập kinh nghiệm đánh Mỹ. Huyện phát động phong trào du kích chiến tranh, triển khai phong trào thi đua “Tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt”, phấn đấu trở thành dũng sỹ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt Ngụy. Ở các xã vùng giải phóng ta đã thành lập chi bộ Đảng, ủy ban nhân dân tự quản xã, Ban tự quản, thôn, mặt trận, đoàn thể và lực lượng quần chúng, lực lượng vũ trang đánh địch. Có thể nói, khi quân Mỹ vào miền Nam thì tâm lý chung của quân và dân ta đều “gờm Mỹ”, “sợ Mỹ”. Ở Đại Lộc hầu như tuần nào, tháng nào địch cũng tiến hành càn quét vào vùng giải phóng, mỗi trận ít nhất có từ 01 đến 02 đại đội, nhiều nhất là từ 01 đến 02 tiểu đoàn. Đầu năm 1966, Mỹ mở cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966, tập trung hướng chủ yếu là Khu 5 và miền Đông Nam Bộ, trọng điểm là Khu 5. Ở tỉnh ta, mở đầu chiến dịch mùa khô lần thứ nhất, quân Mỹ đánh vào vùng giải phóng Gò Nổi (Điện Bàn) và vùng B (Đại Lộc). Chúng cho đây là hai địa bàn đứng chân quan trọng của lực lượng ta. Trong trận càn đầu tiên ở vùng B (Đại Lộc), nhân dân và cán bộ đã được chuẩn bị tư tưởng trước nhưng vẫn còn hiện tượng gờm Mỹ, quần chúng không dám trụ lại hợp pháp đấu tranh bảo vệ nhà cửa, tài sản của mình, chống địch phá hoại. Tình hình này đã làm cho phong trào du kích mất chỗ dựa để chống địch càn quét, bào vệ vùng giải phóng. Do đó, tháng 2 năm 1966, Tỉnh ủy chỉ đạo kiên quyết chống địch càn quét lấn chiếm và binh định mở rộng vùng giải phóng, phải kết hợp chặt chẽ 3 mũi giáp công trong chống địch, kiên định hơn nữa mũi đấu tranh chính trị, Tỉnh ủy chủ trương động viên “Ba bám” (Cán bộ bám dân, dân bám đất, du kích bám địch), tổ chức nhân dân ăn thề bám đất.

Khi lực lượng quân Mỹ vào miền Nam, lực lượng quân sự và lực lượng chính trị quần chúng được Đảng lãnh đạo, đề ra biện pháp, kế hoạch cụ thể. Hai mũi đấu tranh này đã thực hiện hiệu quả. Mũi đấu tranh quân sự tại nhiều địa bàn Mỹ chiếm đóng, ta đã đẩy mạnh cao trào đánh Mỹ, tìm cách đánh Mỹ, tổ chức lực lượng phủ đầu Mỹ. Tin chiến thắng từ các nơi dội về, nhất là chiến thắng Núi Thành (ngày 26 tháng 5 năm 1965) ta đã diệt gọn một đại đội Mỹ, góp phần cổ vũ tinh thần chiến đấu quân dân Đại Lộc. Trong thòi gian này, ở Đại Lộc cũng diễn ra một số trận đánh Mỹ, thu được kết quả bước đầu khích lệ. Ngày 26 tháng 6 năm 1965, bộ đội địa phương huyện và du kích xã Lộc Chánh đã tiến công tiêu diệt và làm bị thương trung đội thám báo Mỹ tại thôn Phú Bắc (Lộc Chánh), thu 1 khấu súng Garan M2. Ngày 05 tháng 01 năm 1966. tại Bàu Mưng, thôn Lâm Tây (xã Lộc Quang), đại đội 1 do đồng chí Lê Văn Thanh - Đại đội trưởng, Nguyễn Mới - Đại đội phó, Trần Văn Anh - Chính trị viên trực tiếp chỉ huy, chủ động phối hợp và du kích xã Lộc Quang phục kích đón đánh 02 tiểu đoàn Mỹ hành quân có máy bay và xe tăng yểm trợ, ta đã diệt gọn một trung đội và đánh thiệt hại nhiều trung đội khác, thu 01 súng đại liên cực nhanh, 10 súng Garan M2, 4 súng M79... Đây là trận đối mặt trực diện của bộ đội địa phương (Đại đội 1 huyện Đại Lộc) với 02 tiểu đoàn Mỹ với vũ khí trang bị hiện đại được máy bay, phi pháo yểm trợ, có ý nghĩa cực kì quan trọng trong công tác tổ chức đánh Mỹ ở Hà Vy ngày 02 tháng 4 năm 1966.

Những thắng lợi này thể hiện vai trò to lớn của đấu tranh chính trị kết hợp nhuần nhuyễn với tiến công quân sự. Trong các xã vùng giải phóng, ta đã xây dựng được 52 tổ công tác đấu tranh chính trị, tiến hành hàng chục cuộc đấu tranh như, nhân dân xã Lộc Phước (Đại Cường) chặn xe M113, M118 không cho chúng tràn vào thôn Thanh Vân, Quảng Đại phá nát hoa màu và bảo vệ hầm bí mật của các đội du kích buộc xe phải chạy theo hướng đồng bào hướng dẫn. Nhân dân xã Lộc Chánh (Đại Hiệp) đấu tranh đòi bọn Mỹ ở Gò Cao không được bắn phá xuống thôn Đông Hải, buộc tên tỉnh trưởng Quảng Nam đến giải quyết. Nhân dân 3 xã Lộc Thành (Đại Chánh), Lộc Sơn (Đại Thạnh), Lộc Quý (Đại Thắng) kéo sang quận Đức Dục đấu tranh đòi địch chấm dứt bắn phá bừa bãi. Ban đầu địch đàn áp nhưng về sau trước lý lẽ đấu tranh cương quyết của đồng bào, chúng phải nhượng bộ. Chính đấu tranh chính trị đã làm cho quân Mỹ thấy rằng không chỉ tác chiến với lực lượng quân sự mà còn phải đối mặt với cuộc kháng chiến chính nghĩa, yêu nước của nhân dân Việt Nam, trong khi tinh thần chiến đấu của quân Mỹ - ngụy ngày càng suy sụp, không có dân để dựa, ra ngoài căn cứ thường bị đấu tranh chính trị bao vây, uy hiếp buộc phải quay về bám cứ. Đây là điều kiện thắng lợi cho lực lượng vũ trang tiêu diệt địch, rõ ràng mũi đấu tranh chính trị hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh vũ trang. Song song với mũi tiến công chính trị, đấu tranh binh vận cũng góp phần quan trọng, khi Mỹ vào ta đã tổ chức lực lượng đấu tranh binh vận. Ban binh vận các cấp được kiện toàn, tổ chức học tiếng Anh đấu tranh với Mỹ, bồi dường cán bộ nòng cốt bán điểm, xây dựng cơ sở trong hàng ngũ địch, hoạt động ớ các đồn bót Mỹ - ngụy, tập trung tuyên truyền lôi kéo Mỹ - ngụy từ bỏ dã tâm xâm lược, đã làm cho tinh thần binh lính Mỹ - ngụy hoang mang dao động. “Một tấc không đi, một ly không rời” đó là quyết tâm sắt đá của nhân dân bám trụ ở vùng giải phóng hướng về cách mạng để giải phóng quê nhà. Do vậy, cùng với thực hiện 3 mũi giáp công, thực hiện du kích chiến tranh chống địch càn quét lấn chiếm, từ đầu năm 1965 trở đi phong trào làng chiến đấu phát triển mạnh mẽ, đồng bào ta khắp nơi đều thi đua rất tích cực làm cả ngày lần đêm. Có những cụ già cặm cụi vót chông, những đội thiếu nhi xung phong đào hầm kiểu mẫu. Các làng chiến đấu có rào vi thôn xóm, chia ô dọc ngang, cải biến địa hình, làm chướng ngại vật, đánh chông hầm, chông bàn, chông tre, chông sắt. Đường xe hơi bị cắt nhiều đoạn, có hầm ngăn xe M113, các vùng ven sông có bãi chông dày, có nhiều lớp rào tương đối kỹ. Các bãi cát, ngọn đồi rải rác có cọc chống máy bay trực thăng. Hầm kéo chống phi pháo của nhân dân nhà nào cũng có, rải rác đã có hầm sâu 2 ngách, có nắp đậy và thang lên xuống. Công sự chiến đấu, công sự mật cho du kích, cán bộ đã phát triển nhiều. Giao thông hào đã phát triển đều khắp, nhiều nơi đã thực hiện thôn giáp thôn, với nhiều hình thức ngụy trang chạy vòng quanh xã. Đến cuối tháng 6 năm 1965, giao thông hào toàn huyện đã lên đến 43.655 m (tính ra chiều dài tương đương từ An Điềm đến Vĩnh Điện). Đặc biệt một công trình rất qui mô ở 2 xã Lộc Quý và Lộc Quang là đào địa đạo thông từ xóm này qua xóm khác sâu dưới lòng đất 3m, rộng 8 tấc, các thôn Phú An, Phú Xuân, xã Lộc Quý đào địa đạo được 262m, được Đặc khu Quảng Đà chọn làm nơi đóng cơ quan. Cã 2 xã đào được 4.577m địa đạo, tốn 9.594 công lao dộng, dây là sự cố gắng lớn chưa từng có trong phong trào đấu tranh cách mạng huyện nhà.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Ba, 2020, 07:46:00 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10044


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2020, 06:59:10 am »

Chiến công oanh liệt của chiến thắng Hà Vy là minh chứng rất rõ ràng cho dường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện của Đảng, được vận dụng sáng tạo vào xã Lộc Vĩnh (Đại Hồng) góp phần làm nên chiến công oanh liệt này. Không phải ngẫu nhiên từ khi Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc nhận được nguồn tin địch sẽ đi càn bằng bộ binh lên Đại Lộc (ngày 28 tháng 3 năm 1966) đến khi diễn ra và kết thúc trận đánh (ngày 02 tháng 4 năm 1966), chỉ có 04 ngày, ta trong thế bị động, triển khai lực lượng chiến đấu trong lực lượng vũ trang huyện và du kích xã ở tình trạng cấp tốc.

Đẻ chặn đánh lực lượng đối phương có số quân đông, có trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại trong tương quan lực lượng chênh lệch khá lớn về quân số và trang bị vũ khí từ bị động ta lại chuyển sang thế chủ động hoàn toàn. Đó là kết quả của công tác chính trị tư tưởng, phát động lòng dân, căm thù giặc Mỹ xâm lược, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ của Đảng bộ huyện Đại Lộc cho nhân dân, cán bộ chiến sĩ xã Lộc Vĩnh trong những năm trước đó. Do đó, khi chiến sự xảy ra thì cấp ủy chi bộ, chính quyền đến Mặt trận, đoàn thể, du kích xã đã vào cuộc theo chức năng nhiệm vụ đã được phân công để thực hiện ba bám: cán bộ bám dân, dân bám đất, lực lượng vũ trang bám địch và phát huy tối đa hiệu quả của làng chiến đấu, giao thông hào, công sự chiến đấu, hầm kéo chống phi pháo của địch. Cho nên tổn thất về người và của của ta trong trận chiến đấu này không đáng kế. Đối với lực lượng vũ trang, vấn đề đặt ra lúc này đối với lãnh đạo chỉ huy của ta là làm thế nào để hạn chế được sức mạnh của quân Mỹ trong khi vũ khí trang bị của ta còn hạn chế, dùng vũ khí thu được của Mỹ trong trận Bàu Mưng trước đó để thực hiện được chiến thuật “gậy ông đập lưng ông”. Dựa vào lợi thế của giao thông hào và làng chiến đấu, chờ địch đến gần nhất nổ súng, bộ đội và du kích đã chặn đánh một cách quyết liệt tiêu diệt trung đội Mỹ đi đầu giáng trận phủ đầu vào quân đội Mỹ ở thôn 2-3 và chính khẩu đại liên cực nhanh của Mỹ ta thu được ở chiến thắng Bàu Mưng đã tiêu diệt tốp lính Mỹ đi đầu trong loạt đạn đầu tiên của xạ thủ đại liên Đại đội 1. Bị bất ngờ, địch phải tháo chạy ra ngoài bờ sông, dùng phi pháo bắn tới tấp vào làng và đổ quân ứng cứu, nhưng ta đã dựa vào lợi thế của giao thông hào, công sự chiến đấu và đã phân tán địa hình của địch để chủ động đối phó, kết họp chặt chẽ giữa bộ đội, du kích và nhân dân đánh địch khắp nơi không cho chúng củng cố địa hình buộc địch phải ứng chiến theo ý định của ta. Trận đánh diễn ra ác liệt trong suốt ngày 02 tháng 4 năm 1966, ta đẩy lùi địch tấn công càn quét của địch buộc chúng dùng trực thăng rút toàn quân bại trận về căn cứ.

Kết quả ta diệt gọn một đại đội Mỹ, đánh thiệt hại nặng 02 đại đội Mỹ khác, loại khỏi vòng chiến đấu 160 tên Mỹ, thu 28 súng trong đó có 01 đại liên, bắn rơi và phá hỏng 02 máy bay trực thăng.

Chiến công của Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Đại Lộc được Tỉnh ủy - Ban chỉ huy tỉnh đội Quảng Đà biểu dương và chọn báo cáo điển hình tại Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn Khu 5 (lần thứ 2) vào tháng 12 năm 1966 và Bộ Tư lệnh Khu 5 phát động học tập trong toàn Khu.

Chiến thắng Hà Vy (Lộc Vĩnh) ngày 02 tháng 4 năm 1966 là trận đánh đầu tiên của một Đại đội bộ đội địa phương huyện Đại Lộc và du kích xã Lộc Vĩnh đã chiến đấu với một tiểu đoàn Mỹ có phi pháo yểm trợ giữa ban ngày và thu nhiều súng nhất trong các trận chống càn trên chiến trường Khu 5, không những đó là tinh thần quả cảm vô song của cán bộ, chiến sĩ trực tiếp chiến đấu với một đơn vị Mỹ, mà còn là sức mạnh vô địch của đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mang lại cho Đảng bộ và nhân dân huyện Đại Lộc những bài học bổ ích về đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10044


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2020, 07:02:56 am »

ĐẠI ĐỘI 1 BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG HUYỆN VỚI CHIẾN THẮNG HÀ VY

Ban Chỉ huy Quân sự huyện Đại Lộc

Thực hiện sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Thành lập bộ đội địa phương” ngày 19 tháng 8 năm 1949, tại sân vận động thôn 14, xã Đại Lãnh, Đại đội bộ đội địa phương đầu tiên của huyện được ra đời trên cơ sở trung đội Đề Thám lực lượng tự vệ chiến đấu thoát ly tập trung của huyện được thành lập từ tháng 01 năm 1946. Đại đội lấy tên Đại đội Đặng Khiết, sau là Đại đội 9.

Khi mới thành lập Đại đội 9 có 140 cán bộ, chiến sĩ được tỏ chức thành đại đội bộ, 3 trung đội, bộ phận văn thư, tiểu đội trinh sát liên lạc, tiểu đội công binh, quản lý và nuôi quân. Đại đội Đặng Khiết là 01 trong 05 đại đội bộ đội địa phương cấp huyện ở Quảng Nam có đại đội bộ và đủ 3 trung đội.

Do yêu cầu nhiệm vụ, tháng 5 năm 1950, tình rút một bộ phận Đại đội 9. Huyện ủy và Ủy ban Khảng chiến Hành chính huyện, Ban chỉ huy Huyện đội dân quân tiến hành xây dựng lại bộ đội địa phương. Ngày 20 tháng 6 năm 1950, tại xã Đại Phong, đại đội bộ đội địa phương mới của huyện, mang phiên hiệu Đại đội 1 được thành lập (Đại đội 83 – Đại đội 89) trên cơ sở tổ chức của Đại đội 9 và được tỉnh tăng cường một số cán bộ, chiến sĩ.

Đến ngày 20 tháng 6 năm 1950, đại đội có chi bộ Đảng lãnh đạo và đầy đủ các tổ chức; sau Hiệp định Giơnevơ một bộ phận cán bộ. chiến sĩ đi tập kết, bộ phận chuyển qua các nhiệm vụ khác. Khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đang xác định nhiệm vụ và phương hướng của cách mạng miền Nam là “dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”, được sự chỉ đạo của cấp trên, Đại đội được tái thành lập vào tháng 8 năm 1962. Tên Đại đội 1 bộ đội địa phương dù có thay đổi tên gọi nhưng vẫn giữ được cơ cấu tổ chức cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Nhiệm vụ của đơn vị là học tập, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, góp phần đánh bại các kế hoạch bình định, dồn dân, lập tề của địch; phá địch bao vây, càn quét, cướp phá tài sản của nhân dân: đồng thời tham gia hỗ trợ phong trào đấu tranh của nhân dân vùng bị địch tạm chiếm, bảo vệ vùng tự do của ta và khi có điều kiện thì phối hợp cùng bộ đội chủ lực trong các chiến dịch. Ngoài ra, lực lượng này còn là nguồn bổ sung cho các đơn vị của trên và đơn vị bạn.

Qua gần 30 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành Đại đội đã tổ chức chiến đấu, phối hợp chiến đấu, chiến đấu trong đội hình của trên hàng trăm trận; tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên Pháp Mỹ, ngụy, tề, điệp; thu, phá hủy hàng nghìn phương tiện quân sự của địch, diệt gọn gần 2 đại đội Mỹ, thiệt hại 5 đại đội.

Trong kháng chiến chống Pháp, Đại đội đã phối hợp với lực lượng dân quân các xã tiến hành bao vây, quấy rối các cứ điểm Hoán Mỹ, Giao Thủy, Núi Lở, tiêu diệt một số hương vệ và tề, thu được nhiều tài liệu quan trọng. Có lúc, chỉ trong một đêm, ta huy động đồng bào nhổ sạch các hàng rào do địch rào chung quanh các thôn vùng trên xã Đại Hòa. Tại xã Đại Hiệp, ta vận động được 02 lính địch mang 02 súng về với cách mạng; phối hợp với bộ đội chủ lực đánh cứ điểm Bà Du, diệt 50 tên, thu 15 súng; phục kích địch trên đường Bình Yên đi Giao Thủy, diệt 2 tiểu đội Âu - Phi, bắt sống 04 tên, thu 08 súng; tham gia chống cuộc càn quét của quân Âu - Phi từ các đồn Giao Thủy, Kiểm Lâm ra vùng Hoán Mỹ...

Trong kháng chiến chống Mỹ; Đại đội đánh nhiều trận như: Trận Phú Bắc ngày 20 tháng 6 năm 1965; Trận Bầu Mưng ngày 05 tháng 01 và ngày 20 tháng 6 năm 1966; Trận Hà Vy ngày 2 tháng 4 năm 1966; Trận cầu Ông Nở tháng 11 năm 1967..., dù diễn ra ở không gian, thời gian khác nhau, đặc điểm tính chất của từng trận đánh cũng không giống nhau, nhưng Đại đội 1 địa phương huyện đã quán triệt được tinh thần cách mạng tiến công, nghệ thuật quân sự của Đảng, thể hiện được tinh thần quả cảm, đoàn kết, sáng tạo, biết phát huy lợi thế của chiến tranh nhân dân, vận dụng đánh gần, tiến công liên tục, tạo được sức mạnh tổng hợp để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, thể hiện rõ được vai trò, sức mạnh của đội quân tập trung duy nhất, được huấn luyện khá chu đáo của lực lượng vũ trang nhân dân huyện nhà.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10044


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2020, 07:03:26 am »

Về trận Hà Vy, ngày 02 tháng 4 năm 1966, diễn biến trận đánh như các đại biểu dự hội thảo đã nghe và xem trên chiến lệ. Trong khuôn khổ hội thảo hôm nay, tôi chỉ xin làm rõ thêm vai trò lãnh đạo của chi bộ, các tổ đảng, Ban chỉ huy đại đội, các trung đội, tiểu đội, các bộ phận làm công tác bào đảm và đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ của đại đội 1 trong trận chiến đấu ngày hôm ấy.

Chiều ngày 30 tháng 3 năm 1966, Huyện ủy giao nhiệm vụ cho Huyện đội tổ chức lực lượng chiến đấu chống địch càn vào địa bàn huyện, mà trực tiếp là xã Lộc Tân (Đại Phong). Ngay trong đêm 30 tháng 3, Ban chỉ huy huyện đội giao nhiệm vụ cho Đại đội 1, sau khi nhận lệnh, đồng chí Lê Văn Thanh - Đại đội trưởng; đồng chí Trần Văn Anh - Chinh trị viên; đồng chí Nguyễn Mới - Đại đội phó chỉ huy đại đội đã cấp tốc lên đường từ Lộc Tân (Đại Phong) lên Lộc Vĩnh (Đại Hồng) đẻ chuẩn bị địa bàn chiến đấu. Sáng ngày 01 tháng 4 năm 1966, Ban chỉ huy đại đội tổ chức họp khẩn cấp với lãnh đạo xã Lộc Vĩnh để phối hợp tác chiến với dân quân du kích xã.

Về lực lượng của ta: đại đội quân số khoảng 120 đồng chí. Vũ khi ta có 02 khẩu cối 60; 01 khẩu đại liên cực nhanh thu được của Mỹ và vũ khí cá nhân do đại đội thu được của Mỹ từ các trận đánh trước đó.

Về địch: 01 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, được máy bay, phi pháo yểm trợ; đây là lực lượng tinh nhuệ của quân đội Mỹ. Với mục đích “Tìm diệt và bình định” đánh phủ đầu lực lượng ta, tạo bàn đạp tiến công lên các huyện phía tây của tỉnh ta.

Trước tình hình đó, thời gian làm công tác chuẩn bị không có nhiều, tuy nhiên với kinh nghiệm chiến đấu được đúc rút từ trước đó, chi ủy, chi bộ nhanh chóng tổ chức họp quán triệt nhiệm vụ, xác định những công việc cần làm trước mắt, phân công cán bộ phụ trách từng phần việc, từng lực lượng, quá trình thực hiện nhiệm vụ là quá trình bổ sung, điều chỉnh nhiệm vụ cho phù hợp với thực tế chiến đấu.

Khi đã xác định được địch đổ quân tại thôn Hà Vy, quá trình đi càn địch sẽ phát triển sang thôn 2-3, nhằm tìm diệt lực lượng cách mạng bám trụ của ta. Ban chỉ huy đại đội nghiên cứu địa hình, chọn nơi có lợi thế để bố trí quân phục kích sẵn chờ địch đến gần sẽ nổ súng tiêu diệt. Tuy thời gian để làm công tác chuẩn bị không nhiều, nhưng nhờ tận dụng được giao thông hào mà địch đào để lập ấp chiến lược, nên việc củng cố công sự, hầm hào được tiến hành nhanh chóng, ngoài tận dụng bờ tre, ụ đất, Ban chỉ huy đại đội cho chiến sĩ đào thêm đảm bảo giao thông hào sâu hơn 1m, dưới giao thông hào mỗi người đều khoét hầm ếch để ẩn nấp khi địch dùng phi pháo hoặc ném bom. Sau khi nghiên cứu địa hình thôn Hà Vy, thôn 2-3, đồng chí đại đội trưởng nhanh chóng cho lên sơ đồ bố trí phòng ngự để tiện cho việc giao nhiệm vụ cho các trung đội và phối hợp hiệp đồng với du kích xã, theo đó xác định tổ chức lực lượng thành 4 bộ phận: bộ phận đảm nhiệm trên hướng chủ yếu, hướng thứ yếu, bộ phận dự bị và bộ phận làm công tác bảo đảm.

Trên cơ sở giao thông hào đã được củng cố, các bộ phận nhanh chóng vào vị trí chiến đấu. Trung đội 1 đảm nhiệm trên hướng chủ yếu; Trung đội 2 đàm nhiệm hướng thứ yếu, trung đội 3 làm lực lượng dự bị đứng chân ở thôn 6. Vị trí chỉ huy đại đội ở giữa thôn 6. Các thôn khác do lực lượng du kích địa phương đảm nhiệm.

Để đảm bảo chiến sĩ nắm chắc nhiệm vụ, từng trung đội không những giao nhiệm vụ cụ thể cho từng người mà còn chỉ rõ vị trí phục kích, đường hướng cơ dộng, phạm vi quan sát, hiệp đồng tác chiến với đơn vị bạn và địa phương, cán bộ trung đội thường xuyên sâu sát kiểm tra các tiểu đội, từng chiến sĩ củng cố công sự, giao thông hào, động viên đồng chí khỏe hỗ trợ giúp đỡ đồng chí yếu. Phân công nhiệm vụ hợp lý là cơ sở để phát huy được sở trường của từng người: 02 khẩu cối 60, Ban chỉ huy đại đội giao cho đồng chí Huê (Lộc Vĩnh) và đồng chí Tin (Lộc Bình), là những người được học tập chu đáo hơn, nhận thức nhanh hơn sử dụng; khẩu đại liên cực nhanh giao cho đồng chí Bùi Bích đảm nhiệm, các đồng chí được giao hỏa lực mạnh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bắn chế áp vào đội hình, chia cắt, tiêu diệt địch, làm cho chúng hoang mang, tạo điều kiện cho đơn vị đẩy lùi các đợt càn quét vào làng của địch.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10044


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2020, 07:04:14 am »

Để giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ, Ban công tác chính trị đã phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình, không chỉ tham mưu cho chi bộ, Ban chỉ huy đại đội họp quán triệt, giao nhiệm vụ tập trung mà còn cử cán bộ xuống tận giao thông hào để nhắc nhờ, động viên bộ đội, kịp thời chấn chỉnh hiện tượng nhận thức lệch lạc, thiếu ý chí quyết tâm, ngại khó khăn gian khổ, sợ hy sinh ở một số cán bộ, chiến sĩ. Bên cạnh đó, Ban công tác chính trị còn tham mưu phát động đợt thi đua dành danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, từ đó đã động viên, khích lệ được tinh thần chiến đấu của bộ đội. Nhờ làm tốt công tác chính trị nên tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ có nhận thức đúng đắn về cuộc chiến đấu chính nghĩa của quân và dân ta, luôn nêu cao tính thần cảnh giác, không lơ là chủ quan trong công tác chuẩn bị, thực hành tác chiến với hiệu suất chiến đấu cao và rút quân bảo đảm bí mật, an toàn (trong trận này đại đội chỉ hi sính 01 đồng chí), Cùng với công tác chính trị - tư tưởng, việc ăn nghỉ, chăm sóc sức khỏe cho bộ đội rất được quan tâm, Bộ phận phục vụ một mặt đảm bảo đủ chế độ, tiêu chuẩn trên cấp phát cho từng người, mặt khác còn tích cực khai thác nguồn thực phẩm tại chỗ vả vận động nhân dân đóng góp lương thực thực phẩm để cải thiện, náng cao dời sống, bảo đảm sức khỏe cho bộ đội. Nhân dân rất tự hào vì họ đã được góp phần chăm lo, bảo đảm ăn uống cho những đứa con yêu quý của họ, tinh thẩn đoàn kết quân dân cả nước vốn đã sâu sắc, trong chiến đấu càng thể hiện rõ nét và được củng cố vững chắc hơn, bộ đội đại đội 1 của huyện đã thực hiện được khẩu hiệu “đi dân nhớ, ở dân thương”, đó cũng là nguồn động lực quan trọng để mỗi cán bộ, chiến sĩ yên tâm giết giặc ngoài trận địa, góp phần tô thắm thêm truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”.

Quan điểm nhất quán của Đảng ta là xây dựng quân đội phải lấy chính trị làm cơ sở, “Người trước, súng sau”, con người là yếu lố quyết định đề giành thắng lợi trên chiến trường, con người bên cạnh tinh thần kiên định, tin tưởng vào cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc ta, gan dạ dũng cảm, còn phải thông minh, sáng tạo trong vận dụng cách đánh phù hợp, không máy móc cứng nhắc. Điều này Ban chỉ huy đại đội 1 lúc bấy giờ đã thực hiện tốt, dù chưa được đào tạo bài bản, kinh nghiệm chưa nhiều, song cấp ủy, chỉ huy đã phát huy tốt chiến thuật phòng ngự chủ động, phòng ngự để tiến công chứ không bị động, kiên trì mai phục, đánh gần theo đúng tư tưởng chỉ đạo “bám thắt lung địch” mà đánh. Trong khi địch có ưu thế về quân số, vũ khí trang bị, hỏa lực mạnh, có cả không quân đánh phá thì ta lại đánh vào chỗ yếu nhất của địch là chiến tranh phi nghĩa, đánh vào tâm lý sợ chết của chúng, ban đầu chỉ cần dùng cối 60 chế áp, đại liên cực nhanh chia cắt, khi chúng tràn vào làng toán đi đầu bị ta tiêu diệt ngay lập tức làm cho tâm lý của chúng vốn đã bất an càng thêm hoang mang, không dám tấn công nữa.

Khi chúng gọi máy bay ném bom vào trận địa, chỉ huy đại đội cho bộ đội ẩn nấp trong công sự đã chuẩn bị sẵn nên ta không thương vong gì, địch hết ném bom bộ đội đã nhanh chóng ra củng cố công sự trận địa tiếp tục chiến đấu, về điều này ta đã đánh đúng vào tâm lý chủ quan, khinh địch của chúng, chúng chủ quan vì tin vào sức mạnh của không quân khi ném bom đã tiêu diệt được ta, chúng chỉ việc vào thu dọn chiến trường nên hùng hổ dàn hàng ngang tiến vào làng; chỉ huy đại đội một mặt cho hỏa lực chế áp, bắn thẳng để tiêu diệt những tên vào trước, mặt khác cho bộ đội cơ động liên tục hình thành thế bao vây làm cho chúng  thấy ở đâu cũng có ta, lúng túng bị động đối phó, vừa đánh gần vừa quần lộn trong thời gian khá dài làm cho chúng mệt mỏi, còn ta có điều kiện tiêu diệt từng bộ phận tiến tới tiêu diệt gần gọn 01 đại đội Mỹ, đánh thiệt hại nặng 02 đại đội Mỹ khác, loại khỏi vòng chiến đấu 160 tên Mỹ, thu 28 súng trong đó có 01 đại liên, bắn rơi và phá hỏng 02 máy bay trực thăng, đẩy lùi được đợt tiến công càn quét của tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, buộc chúng dùng trực thăng rút những tàn quân bại trận về căn cứ.

Đánh nhanh, rút nhanh cũng là nét đặc trưng trong tác chiến của đại đội, vì theo quy luật, sau khi thất bại địch thường tăng cường lực lượng chi viện hoặc dùng không quân ném bom lấy lại trận địa. Vì vậy sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Ban chỉ huy đại đội đã nhanh chóng rút quân về nơi an toàn để rút kinh nghiệm, bình xét thi đua, giải quyết thương binh, liệt sĩ; tiếp tục huấn luyện và sẵn sàng nhận nhiệm vụ tiếp theo.

Ngày 02 tháng 4 năm 1966, Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Đại Lộc trở thành đại đội địa phương cấp huyện đầu tiên ở miền Nam đã tiêu diệt gọn 1 đại đội Mỹ, đánh thiệt hại 2 đại đội khác; cùng với chiến thắng Núi Thành, Quảng Nam vinh dự được tặng 8 chữ vàng “Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” (đồng chí Lê Văn Thanh đại đội trưởng; đồng chí Nguyễn Năm - Đại đội phó chỉ huy trận đánh được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân). Được tham gia và góp phần quan trọng cùng với du kích và nhân dân xã Đại Hồng đánh địch tại Hà Vy và thôn 2-3 là trách nhiệm và vinh dự to lớn của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, góp phần tô thắm thêm truyền thống của Lực lượng vũ trang huyện, để lại cho thế hệ hôm nay nhiều kinh nghiệm quý báu. Phát huy truyền thống Anh hùng, cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang huyện sẽ tiếp tục nghiên cứu, vận dụng kinh nghiệm của các thế hệ đi trước, tích cực tham mưu cho Huyện ủy, Ủy ban nhân dân xây dụng huyện thành khu vực phòng thủ vững chắc, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng xử lý thắng lợi mọi tình huống, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10044


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2020, 07:43:20 am »

CHIẾN THẮNG HÀ VY THỂ HIỆN
TINH THẦN CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO, QUYẾT TÂM ĐÁNH MỸ
VÀ THẮNG MỸ CỦA QUÂN VÀ DÂN XÃ LỘC VĨNH

Lê Năng Đông(1)

Những thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam trong năm 1965 buộc Mỹ phải thay đổi kế hoạch. Cuối năm 1965, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Việt Nam vạch kế hoạch phản công chiến lược mùa khô 1965 -1966 (cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất), với mục tiêu tìm diệt và bình định nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường, củng cố vùng chúng chiếm đóng, khai thông các tuyến giao thông, ngăn chận sự sụp đổ của ngụy quyền tại miền Nam Việt Nam. Tại Quảng Đà, quân Mỹ từng bước mở rộng vùng chiếm đóng ra Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc.

Mở đầu chiến dịch Mùa khô lần thứ nhất, địch chọn hai vùng giải phóng vững chắc nhất của ta là Gò Nổi (Điện Bàn) và vùng B Đại Lộc để tấn công đầu tiên, vì chúng cho đây là địa bàn đứng chân quan trọng của lực lượng ta. Sau gần một tháng đưa quân vào vùng B Đại Lộc từ ngày 28 tháng 01 đến ngày 25 tháng 02 năm 1966, quân địch đã phải nếm mùi thất bại, buộc phải rút khỏi nơi đây. Nhưng với âm mưu “Tìm diệt và bình định”, địch liên tiếp tổ chức nhiều cuộc càn quét ở Đại Lộc. Chỉ trong 3 tháng đầu năm 1966, quân Mỹ một mặt càn quét, một mặt nống ra đóng chốt điểm tăng thêm quân ngụy ở 3 khu vực Ái Nghĩa, Núi Lờ và Thượng Đức. Trong các cuộc càn quét, chúng đi đến đâu thì đốt nhà, cướp của, bắn bừa, giết ẩu, chúng phá giao thông hào, làng chiến đấu...

Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Đà: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Toàn dân đánh Mỹ”, “Toàn tỉnh là một vành đai”, thực hiện khẩu hiệu 3 bám: “Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám địch”, Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện nhà thực hiện phong trào 3 bám, đồng thời chỉ đạo cho lực lượng vũ trang huyện và đội du kích các xã tổ chức chặn đánh các cuộc càn quét của địch. Trận đánh trên cánh đồng Hà Vy ngày 02 tháng 4 năm 1966 đã thể hiện “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của quân và dân xã Lộc Vĩnh (Đại Hồng).

Sau thất bại trong lần đưa quân vào vùng B Đại Lộc, với âm mưu “tìm diệt và bình định”, địch liên tiếp tổ chức nhiều cuộc càn quét ở Đại Lộc. Lần này chúng chọn xã Lộc Vĩnh là địa điểm đổ quân cho đợt càn mới. Để dọn đường đố quân càn quét ngay sáng sớm ngày 02 tháng 4 năm 1966, địch cho máy bay ném bom dữ dội dọc từ bờ sông Vu Gia dến làng Hà Vy và dọc rìa làng Ngọc Kinh, xã Lộc Vĩnh (nay là xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc), sau đó là hàng chục máy bay trực thăng, có máy bay HU1A yểm trợ, đổ quân Mỹ xuống cánh đồng Hà Vy, một toán máy bay khác đổ thêm một đại đội ở sát bờ sông Vu Gia để tấn công vào làng. Dưới sự chỉ huy tài tình, sáng tạo của đồng chí Lê Văn Thanh, ta dựa vào thế của giao thông hào, công sự và rào vi chiến đấu và linh hoạt phân tán đội hình quần lộn với địch đánh suốt một ngày. Kết quả, ta đã diệt gần trọn đại đội Mỹ, đánh thiệt hại gần 2 đại đội khác, loại khỏi vòng chiến đấu 160 tên Mỹ, thu 28 súng, trong đó có 1 đại liên, bắn rơi và phá hỏng 2 máy bay trực thăng.

Đây là trận đánh xuất sắc, thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời, biết phát huy ưu thể của làng chiến đấu, sự ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân, sự linh hoạt, sáng tạo trong chiến đấu của cán bộ chiến sĩ Đại đội 1.

Qua chiến thắng trên cánh đồng Hà Vy ngày 02 tháng 4 năm 1966 của quân và dân xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc, xin rút ra một số nhận định như sau:

Thứ nhất, sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sáng tạo của Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc.

Sau khi có nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng và lời kêu gọi của Tỉnh ủy Quảng Đà “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” và phát động phong trào “Toàn dân đánh Mỹ”, “Toàn tỉnh là một vành đai”, thực hiên khẩu hiệu 3 bám: “Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám địch”. Trên cơ sở đó, Huyện ủy Đai Lộc tiến hành chỉnh huấn, giải quyết tư tưởng ngại Mỹ, ngại ác liệt, xây dựng tinh thần tiến công địch chủ trương động viên thực hiện phong trào 3 bám do Tỉnh ủy phát động, đồng thời chỉ đạo cho lực lượng vũ trang huyện và đội du kích các xã tổ chức chặn đánh các cuộc càn quét của địch. Đồng thời Huyện ủy quyết định tăng cường xây dựng chất lượng cho lực lượng quân sự, phát động phong trào thanh niên tình nguyện đăng ký 3 sẵn sàng, noi gương anh Nguyễn Văn Trỗi. Phụ nữ có 4 đảm đang; Nông hội tổ chức Hội nghị hiến kế diệt Mỹ, nắm chắc tay cày, tay súng, động viên thi đua diệt Mỹ; thiếu nhi có phong trào “tuổi nhỏ chí lớn, làm việc anh hùng”... Tổ chức cho quần chúng, nhất là chị em phụ nữ, học các lớp tiếng Anh để đấu tranh với Mỹ, xây dựng hệ thống cơ sở trong hàng ngũ địch, xây dựng một lực lượng thường trực sẵn sàng tiến công địch bất cứ lúc nào. Đồng thời cử các đội du kích ra Hòa Vang học tập kinh nghiệm đánh Mỹ.

Nhờ nắm vững tinh thần chủ động tiến công, vậy mà trong khoảng thời gian 01 tháng đưa quân vào vùng B Đại Lộc địch đã bị đánh lui. Sau khi biết tin, địch sẽ tiếp tục thực hiện các cuộc càn quét bằng bộ binh lên Đại Lộc, mà trọng điểm là xã Lộc Vĩnh. Trong chiều ngày 30 tháng 3 năm 1966, Huyện ủy tổ chức cuộc họp cấp tốc với Huyện đội tại thôn Mỹ Hảo, xã Lộc Tân để triển khai lực lượng chiến đấu. Như vậy là, sau khi nắm được tin quân Mỹ sẽ đổ bộ càn quét ở xã Lộc Vĩnh, Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo huyện đội lên kế hoạch sẵn sàng chiến đấu với kẻ thù.

Có thể nói, ngay từ khi quân Mỹ đến, Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng, đặc biệt là công tác chính trị - tư tưởng, qua đó khẳng định tinh thần quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ xâm lược.


(1) Phó trưởng Phòng Lý luận Chính trị - Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10044


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2020, 07:44:26 am »

Thứ hai, Chiến thắng Hà Vy thể hiện sự chủ động xây dựng lực lượng, xác định tư tưởng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân và dân xã Đại Hồng.

Sau khi Mỹ đổ bộ vào chiến trường miền Nam, trên cơ sở Nghị quyết Hội nghị 11 (tháng 3 năm 1965), 12 (tháng 12 năm 1965) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặc biệt là quyết tâm của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Đà tại Hội nghị mở rộng (tháng 3 năm 1965): “Chưa giải phóng miền Nam thì còn đánh, chiến tranh gì cũng đánh, đối tượng nào cũng đánh và lâu dài bao nhiêu cũng đánh... chúng ta có nhiệm vụ trước tiên bằng hai chân, ba mũi giáp công để đóng góp kinh nghiệm cho toàn miền Nam và góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ”(1), và chủ trương của Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc, Chi bộ xã Lộc Vĩnh đã lãnh đạo chỉ đạo công lác xây dựng lực lượng, chuẩn bị tinh thần quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ.

Chi bộ xã Lộc Vĩnh đã xác định để đánh Mỹ và thắng Mỹ, nhiệm vụ đầu tiên là xây dựng và củng cố lực lượng đủ khả năng để đương đầu với kẻ thù sừng sỏ như đế quốc Mỹ. Từ đó, các đội công tác được củng cố lại, tăng cường thêm về lực lượng và trang bị, thành lập trung đội đu kích xã và mỗi thôn có một tiểu đội du kích. Theo quyết định của Huyện ủy, có hơn 50% đảng viên và đoàn viên tham gia du kích để tăng cường chất lượng cho lực lượng quân sự. Công tác xây dựng phong trào thanh niên được đặc biệt chú trọng, nhiều thanh niên tình nguyện đăng ký 3 sẵn sàng, noi gương anh Nguyễn Vãn Trỗi. Qua hai đợt vận động thanh niên phục vụ tiền tuyến (1965, 1966) toàn xã có 90 người đăng ký lên đường.

Cùng với phong trào thanh niên, các hoạt động khác lớp nô nức tham gia, Phụ nữ có 4 đảm đang; Nông hội tổ chức Hội nghị hiến kế diệt Mỹ, nắm chắc tay cày, tay súng, động viên thi đua diệt Mỹ; thiếu nhi có phong trào “tuổi nhỏ chí lớn, làm việc anh hùng”...

Đặc biệt, đã đẩy mạnh củng cố lực lượng đấu tranh chính trị, binh vận thành một mũi tiến công địch có quy mô hơn trước. Thành lập Ban Chỉ đạo và chỉ huy đấu tranh chính trị - binh vận cấp xã, thôn. Tổ chức cho quần chúng, nhất là chị em phụ nữ, học các lớp tiếng Anh để đấu tranh với Mỹ, xây dựng hệ thống cơ sở trong hàng ngũ địch, xây dựng một lực lượng thường trực sẵn sàng tiến công địch bất cứ lúc nào. Phong trào đấu tranh chính trị - binh vận luôn luôn gắn liền với phong trào của phụ nữ: Với tinh thần 4 đảm đang, phụ nữ Đại Hồng đã sẵn sàng xốc vác trên tuyến đầu, đối chọi với bao nguy hiểm để chia lửa cho bộ đội, du kích cả ta.

Thứ ba, phát huy ưu thế của làng chiến đấu, sự linh hoạt, sáng tạo trong chiến đấu của cán bộ chiến sĩ Đại đội 1.

Trên tinh thần chỉ đạo của Huyện ủy, ngay trong đêm ngày 30 tháng 3 năm 1966, Ban Chỉ huy huyện đội họp triển khai nhiệm vụ và giao cho nhiệm vụ cho Đại đội 1. Sáng ngày 01 tháng 4, đồng chí Lê Văn Thanh, Đại đội trưởng Đại đội bộ đội địa phương huyện họp khẩn với lãnh đạo xã Lộc Vĩnh thảo luận phương án chiến đấu. Nhờ đã xây dựng làng, xã chiến đấu mạnh từ trước, phương án tiêu diệt địch nhanh chóng được hình thành, mà hình thức chiến thuật chủ yếu là: Dựa vào công sự trận địa vững chắc, tổ chức phục kích địch, khi có thời cơ nhanh chóng chuyển sang xuất kích vận động tiến công tiêu diệt địch, về cách đánh, đơn vi quán triệt: Sử dụng toàn bộ lực lượng của đại đội, được tăng cường thêm các tiêu đội du kích xã, thôn, dựa vào địa hình của làng, xã chiến đấu tổ chức trận địa phục kích, bí mật, chờ địch đến sát giao thông hào, công sư từ 5 đến 10m, bất ngờ nổ súng tiêu diệt từng tốp quân địch, có thời cơ sẽ xuất kích vận động tiến công diệt gọn quân địch còn lại, làm chủ chiến trường, thu vũ khí, rồi tiếp tục phục kích đánh quân đổ bộ tiếp viện. Nhận định địch sẽ tiến công nên nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Lực lượng du kích xã phối hợp với bộ đội huyện sẵn sàng đón đánh địch.

Về phía địch, sau khi cấp tập nã pháo, dội bom, tường rằng đã dọn sạch đường, bọn Mỹ tiến quân vào làng. Quân ta dựa vào hệ thống công sự, giao thông hào... đợi chúng đến gần rồi bất ngờ nổ súng tấn công, ngay từ đợt tấn công đầu tiên đã diệt gọn 1 trung đội Mỹ đi đầu. Bị đánh bất ngờ chúng nháo nhác lùi ra, gọi phi pháo bắn tới tấp vào làng và đổ thêm 2 đại đội Mỹ xuống ứng cứu. Ta đã linh hoạt phân tán đội hình, bám trụ, dựa vào hệ thống công sự, giao thông hào quần nhau với địch suốt từ sáng đến tối.

Như vậy có thể khẳng định, chiến thắng Hà Vy là trận đánh nhỏ của bộ đội địa phương huyện Đại Lộc và du kích xã Lộc Vĩnh, nhưng có ý nghĩa hết sức to lớn, thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm, tinh thần chủ động, sáng tạo của quân và nhân dân xã Lộc Vĩnh nói riêng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam nói chung. Với chiến thắng Núi Thành, chiến thắng Hà Vy góp phần khẳng định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, qua đó tô thắm thêm truyền thống “Trung dũng kiên cường” của mảnh đất Quảng Nam anh hùng.


(1) Dẫn theo: Báo cáo tổng kết phong trào du kích chiến tranh tỉnh Quảng Đà (3/1965-10/1967), tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng, ký hiệu 30.III.i, tr.11.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 10044


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2020, 07:48:34 am »

VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG LÀNG, XÃ CHIẾN ĐẤU
TRONG CHIẾN THẮNG HÀ VY (NGÀY 02 THÁNG 4 NĂM 1966)

Đại úy, Ths Trần Văn Giáp(1)

Ngày 02 tháng 4 năm 1966, Đại đội bộ đội đoka phương huyện Đại Lộc đã phối hợp với dân quân du kích xã Lộc Vĩnh (nay là xã Đại Hồng) tổ chức trận đánh xuất sắc tại Hà Vy. Trên chiến trường Quảng Nam Quảng Đà, đây là lần đầu tiên một đại đội bộ đội địa phương huyện diệt gọn một đại đội Mỹ, làm thiệt hại 02 đại đội khác, thu giữ nhiều vũ khí. Có nhiều nguyên nhân làm nên chiến thắng vẻ vang này, trong đó, việc tích cực xây dựng và phát huy tốt vai trò của làng, xã chiến đấu là một trong những nguyên nhân rất quan trọng.

Trong thời kỳ chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, để phá âm mưu lập ấp chiến lược của địch, Bộ Chính trị chỉ rõ: “Để đối phó với âm mưu thâm độc và tàn bạo của địch phải lấy việc chống phá ấp chiến lược làm nhiệm vụ hàng đầu và cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quán ta. Trước mắt và trong cả một thời gian dài đi đôi với phá ấp chiến lược của địch, phải ra sức phát triển du kích chiến tranh, xây dựng làng, xã chiến đấu, có xây dựng làng, xã chiến đấu mới chống càn quét thắng lợi, mới phá được âm mưu phát triển ấp chiến lược của địch, mới giữ vững tinh thần nhân dân, duy trì được cuộc đấu tranh lâu dài, mới có thể lấn dần địch tùng bước, hình thành thế cài răng lược giữa ta và địch, phá được âm mưu chia cắt giữa rừng núi và đồng bằng, giữa nông thôn và đô thị; có phá được ấp chiến lược, xây dựng làng, xã chiến đấu mới biến hậu phương địch thành tiền phương của ta, mới giữ được quan hệ giữa tấn công và phòng ngự, giữa công khai và bí mật, giữa hợp pháp và bất hợp pháp, mới giữ vững, phát triển và đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần ở nông thôn. Phá ấp chiến lược, xây dựng làng, xã chiến đấu còn là quá trình thực hiện chế độ dân chủ nhân dân trong cuộc cách mạng miền Nam, là nhiệm vụ chiến lược của chiến tranh du kích hiện nay”(2).

Quán triệt chủ trương chung, Quân khu ủy 5 chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo các tỉnh phải kịp thời có phương án xây dựng làng, xã chiến đấu ngay sau khi giải phóng, cần phải nhanh chóng phát động quần chúng nhân dân và huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác xây dựng làng, xã chiến đấu. Khi đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, tháng 3 năm 1965 Bộ Tư lệnh Quân khu 5 tô chức hội nghị du kích chiến tranh, hội nghị thảo luận và quyết định 3 vấn đề lớn:

- Phát động toàn Đảng bộ, quân và dân trong toàn Khu 5, kiên quyết đánh thắng quân Mỹ.

- Khẩn trương xây dựng lực lượng chính trị, quân sự ở cơ sở, đặc biệt ở vùng ven, vùng sâu, vùng dự kiến quân Mỹ sẽ đóng quân.

- Xây dựng làng, xã chiến đấu liên hoàn từ căn cứ rừng núi đến đồng bằng và vùng ven đô thị. Tổ chức “Vành đai diệt Mỹ” ở những nơi quân Mỹ vừa đổ quân vào(3).

Phát huy kinh nghiệm xây dựng làng, xã chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp, xuất phát từ tính chất ác liệt của chiến trường và quán triệt chủ trương của trên, Tỉnh ủy Quảng Nam, Quảng Đà đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng làng, xã chiến đấu. Trong năm 1965, các tỉnh ủy và tỉnh đội đã hai lần tổ chức hội nghị bàn về công tác xây dựng làng, xã chiến đấu. Tỉnh chỉ đạo các huyện ủy tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết, hội nghị chuyên đề về xây dựng làng, xã chiến đấu. Tỉnh đội thành lập đoàn cán bộ trực tiếp xuống các xã điểm chỉ đạo triển khai xây dựng làng, xã chiến đấu, rút kinh nghiệm chỉ đạo phong trào chung trong toàn tỉnh. Thông qua các đợt chỉnh huấn, sinh hoạt chính trị, các cấp ủy chú trọng lãnh đạo làm tốt công tác chính trị tư tưởng trong dân quân du kích và toàn thể nhân dân. Đợt sinh hoạt chính trị vào tháng 8 và tháng 9 năm 1965, đã tạo được chuyển biến sâu sắc, phát động được ý thức tự giác xây dựng làng, xã chiến đấu.


(1) Ban Khoa học Quân sự, Bộ Chỉ huy Quân sự tình Quảng Nam.
(2) Cục Dân quân tự vệ, Tổng kết làng xã chiến đấu trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1946 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.81
(3) Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Một số kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân địa phương ở Khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Sđd, tr 45.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM