Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Sáu, 2020, 04:37:12 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Miền Tây (tiểu thuyết - Tô Hoài)  (Đọc 2128 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4199



« Trả lời #10 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2020, 04:20:07 pm »

Trong tàu ngựa, mấy con ngựa cắm cúi liếm cái bao bì muối ướt thâm sịt. Ngoài kia, nắng bừng to. Thỉnh thoảng, từ trong bóng nắng xanh rờn trên cỏ, lại nhô ra một con ngựa. Một anh chàng nào về mua muối chậm, vừa ném vội cương ngựa vào gốc vông, không kịp buộc, đã nhảy xuống. Con ngựa đực đứng trong tàu vênh mõm cất vó, hí ầm ĩ.

   Bà Giàng Súa gọi:

   - Cán bộ Nghĩa!

   Cán bộ Nghĩa đến bắt tay bà Giàng Súa và bắt tay cô Mỵ:

   - Bà Giàng Súa! Cả cô Mỵ cũng về mua muối kìa!

   Bà Giàng Súa hỏi ngay:

   - Cán bộ đi xa lâu thế có gặp thằng Khay không?

   Bà lão tưởng ai đi đâu cũng đều gặp Thào Khay. Nghĩa nói:

   - Khay đi học rồi.

   - Đi học à?

   - Học xa đấy.

   - Học xa thì ban giờ được về?

   Nghĩa cười:

   - Bà Giàng Súa đừng lo. Khay học giỏi lắm, sắp về rồi.

   Bà Giàng Súa cũng cười. Cái cười nhợt nhạt kéo rúm nét mặt lại, nhưng con mắt trìu mến thì ánh lên, ngước nhìn Nghĩa.

   - Khay đi học với Chính phủ bao giờ về cũng được, tôi không lo đâu.

   Nói thế rồi bà Giàng Súa bỗng sa nước mắt. Nghĩa không hiểu sao, nhìn Mỵ. Nghĩa không thấy Mỵ buồn mà lại thấy Mỵ mỉm cười và quay đi. Lấy làm lạ, Nghĩa hỏi:

   - Mẹ Mỵ khóc gì vậy.

   Mỵ nói:

   - Mẹ muốn hỏi đường về suối Nậm Ngù, anh Nghĩa ạ.

   Bà Giàng Súa nức nở.

   Mỵ lại nói.

   - Anh Nghĩa có biết suối Nậm Ngù ở đâu thì bảo mẹ.

   Bà Giàng Súa nói:

   - Cán bộ Nghĩa đã đi khắp đất nước rồi, có biết suối Nậm Ngù ở đâu?

   Nghĩa nhớ ra câu chuyện vừa đáng cười vừa đáng thương về thằng Nhìa hóa hổ rồi được người Xá cứu cho sống lại - bà Giàng Súa đã kể nhiều lần, từ khi Nghĩa còn ở khu du kích. Có lẽ từ ngày đầu tiên, cán bộ Nghĩa đến tìm bà Giàng Súa trong hốc đá, bà Giàng Súa đã kể chuyện ấy.

   Nhớ thế, Nghĩa nhớ luôn câu trả lời đã quen, Nghĩa bèn thong thả lắc đầu:

   - Tôi chưa lần nào được đến Nậm Ngù.

   - Bao giờ cán bộ Nghĩa đến suối Nậm Ngù có người Xá thì bảo cho tôi biết với.

   - Suối Nậm Ngù chảy qua làng người Xá.

   - Ừ, suối Nậm Ngừ chảy qua làng người Xá, năm ấy...

   Ông chủ tịch Tỏa ở trong trụ sở đã đong sẵn rồi đem ra đưa cho bà Giàng Súa hai ống muối, đủ một cân. Chủ tịch Tỏa nói:

   - Muối đây.

   Lại toan rút cái túi trên vai bà, như rút túi của lão Nhìa Páo, nhưng bà Giàng Súa đã cầm cân muối gói chặt trong chiếc lá dong bắt chéo, đem đặt vào chiếc địu dựng cạnh chân. Rồi bà cúi đầu, nhắm mắt, ngồi yên.

   Không phải bà còn tưởng đến con suối Nậm Ngù xa xôi mà bà đương nghĩ về cân muối cầm trong tay. Cân muối, cân muối trắng bông. Bao nhiêu năm chưa được nhìn thấy có lúc có cả một cân muối nhiều như thế.

   Lúc xúc động là lặng im. Người ta nhắm mắt lại mà chiêm bao thì ngẫm ra nhiều điều. Cán bộ Nghĩa vừa nói: "Thằng Khay học giỏi lắm". Cái ngày cán bộ Nghĩa đến túp lều nhà bà ở hốc đá trong rừng, từ ngày ấy, bà Giàng Súa nhẹ như cất được quả núi trên lưng. Cán bộ đến, nhạt ma rồi thằng quan thằng lính chết rồi, Khay đi bộ đội rồi bây giờ đương học giỏi ở xa. Khay sẽ về, Khay sắp về. Những hạt muối trắng hơn bọt nước suối. Hàng đời người mới trông thấy cả gói một cân muối. Ngày trước, bà Giàng Súa hay nghĩ đời con người như mớ củi đốt lên đến tàn. Không, bây giờ bà Giàng Súa thấy đời người như bếp vừa lên lửa, mỗi lúc một sáng, mỗi ngày một sáng hơn. Rồi cũng có khi bà Giàng Súa hỏi thăm được đường đến suối Nậm Ngù. Đời người ta quả nhiên là mỗi ngày một sáng hơn rồi.

   Chủ tịch Tỏa nói:

   - Chốc nữa anh Nghĩa về ăn cơm với tôi nhé.

   - Bây giờ đồng chí đi đâu?

   - Đi vào rừng kiếm thịt ăn.

   Rồi chủ tịch Tỏa khoác súng, phóc lên lưng một cơn ngựa không có yên. Con ngựa cung cúc chạy.

   Còn một mình Nghĩa đứng đấy, Mỵ hỏi:

   - Đã lâu sao anh Nghĩa không lên Phiềng Sa?

   - Công tác bận lắm.

   - Có người nói giải phóng rồi, cán bộ về làm quan dưới ruộng, chẳng lên núi như lúc kháng chiến nữa. Đấy là người xấu nói. Em không tin, anh Nghĩa nhỉ?

   - Phải, người xấu nói thế thôi. Bây giờ tôi lên lập kho muối đấy. Tôi chuyển sang làm cán bộ kinh tế, cô Mỵ ạ.

   - Cán bộ muối à?

   - Thế đấy. Việc gì của Chính phủ cũng là việc cách mạng, cô Mỵ ạ. Tôi sẽ lập cửa hàng mậu dịch.

   - Ở đây à?

   - Ở đây.

   Mỵ cười:

   - Thế thì anh nghĩa là người dân tộc Mèo rồi.

   - Tôi vẫn là người Mèo, cô Mỵ chưa biết ư?

   - Biết rồi.

   Lại cười.

   Nghĩa cũng cười, nhớ lại một chuyện của mình năm trước. Năm ấy, đội võ trang tuyên truyền phát triển sang tới biên giới, các tổ cán bộ vào Tây Bắc củng cố cơ sở, tổ chức các đoàn thể kháng chiến. Nghĩa từ Phú Thọ theo đường châu sông Mã vào một lần với các đồng chí Bắc Dũng và đồng chí Trần Quốc Mạnh. Nghĩa lên phụ trách “trạm" giao thông đường dây qua Phiềng Sa. Nghĩa đến một mình, nhưng nhân dân thấy cán bộ đến giúp đánh Tây liền tin cậy ngay.

   Người Mèo vốn đã từng trải nhiều lần đánh giặc Pháp. Ngày xưa, ngót trăm năm trước, khi giặc Pháp đến chiếm nước ta, Phiềng Sa đã nổi lên. Suốt dọc biên giới dài sang Xiêng Khoảng, vào sâu Hà Giang, đâu đâu người Mèo cũng đánh Pháp. Nhưng rồi không có người đi đầu tài giỏi nên không lấy lại được đất nước. Ở Phiềng Sa, giặc Pháp giết mấy chục người. Còn bao nhiêu, đem đi bỏ tù dưới đường xuôi, không ai sống về được quê. Nghĩa lên đây đã nghe nói về tinh thần quật khởi và truyền thống dũng cảm ấy của Phiềng Sa.

   Thế rồi, nhiều lúc trò chuyện, Nghĩa thường kể cho mọi người nghe câu chuyện của mình tưởng tượng ra sau đây:

   Bố Nghĩa làm ruộng quê dưới xuôi. Ngày trước bố Nghĩa cũng làm cách mạng đánh Pháp, bị bắt đi tù. Ở tù, gặp một người Mèo, hai ông kết nghĩa anh em. Bố cho Nghĩa thăm hỏi, làm đầu con nuôi ông bạn người Mèo phải đi tù xa quê. Đến lúc ốm sắp chết, ông bố nuôi dặn lại Nghĩa: “Con ơi! Cha mẹ ngày trước sinh ra ta, cho ta được nhìn trời ở Phiềng Sa. Sau này, con nhớ mà tìm đường về, nhìn cho thấy trời Phiềng Sa". Vì vậy Nghĩa đã nhớ, đã biết quê Phiềng Sa từ thuở bé. Lớn lên, đi làm cách mạng, được Chính phủ phái vào Tây Bắc, lên công tác Phiềng Sa, Nghĩa mừng như được Chính phủ chỉ đường về quê, Nghĩa lên ngay.

   Chuyện có ông bố nuôi người Mèo là chuyện Nghĩa tưởng tượng ra. Nghĩa nghĩ: đặt ra câu chuyện ấy làm cho cán bộ với nhân dân càng đoàn kết thân thiết. Và thật thì Nghĩa đương làm theo lý tưởng tốt đẹp của câu chuyện ấy. Những cán bộ người các dân tộc anh em đến với nhân dân Tây Bắc đương làm theo lý tưởng ấy. Mỗi lần kể chuyện làm con nuôi người Mèo, Nghĩa đều cảm động, như thấy lại những ngày cũ thật như thế.

   Đã biết bao nhiêu cán bộ lặn lội vào Tây Bắc ngày kháng chiến. Những con đường vào Tây Bắc, con đường chỉ độc một vết chân người tìm ra, con đường quanh co tránh đồn, tránh địch đưa người cán bộ vào tới nhân dân. Nhưng trên những gian khổ, nhiều đồng chí đã nằm lại. Đoàn cán bộ xung phong vào Tây Bắc của Nghĩa có lần qua dốc Lùng Cúng, leo trên sườn đá sương mù, dưới rừng đọng nước như thạch. Có đồng chí rét quá, không chịu được, ngã xuống, chỉ đưa đẩy con mắt được mấy lần rồi thôi.

   Nghĩa vào tới Phiềng Sa, gặp lại tinh thần kháng chiến, như ở địa phương mình. Đâu cũng kháng chiến. Nghĩa tưởng mình là người Mèo, có câu chuyện con nuôi thật. Không đùa cợt, Nghĩa nói "tôi là người Mèo", chân thật và bình thường.

   Ngẫm nghĩ một lát rồi Mỵ trả lời Nghĩa:

   - Không phải, anh Nghĩa là người quê xuôi thôi.

   - Cán bộ công tác đâu thì lấy đấy làm quê mình, cô Mỵ ạ.

   - Còn người ở quê nào thì về lấy vợ quê ấy, không lấy vợ ở quê công tác.

   - Cô Mỵ có là chim bay đâu mà biết.

   - Em biết.

   Nghĩa không nói thêm. Nghĩa cẩn thận, giữ ý trước tình cảm sôi nổi tự nhiên của những cô gái vùng cao.

   Bà Giàng Súa đứng dậy, chào Nghĩa và dặn: "Hôm nào xong công tác, nhớ đến nhà chơi". Mỵ theo mẹ bước ra.

   Ánh chiều xanh dịu lướt thướt qua bãi cỏ trước cửa. Người đi tận đằng này cũng nhìn thấy bóng dài xuống đến chân nương.

   Nghĩa lơ đãng trông ra, tình cờ thấy trong nắng, bóng bà Giàng Súa đi chậm chậm. Tò mò, Nghĩa đợi nhìn bóng Mỵ theo sau. Nhưng lạ, sao không thấy. Rõ ràng, vừa đây ra, Mỵ bước đi sau mẹ.

   Nghĩa ra hẳn cửa, nhìn theo. Thì thấy Mỵ đeo địu trên lưng, vẫn tần ngần đứng bên cửa.

   Đôi mắt lư đừ. Nghĩa thoáng nhìn thấy thế, rồi cúi nhanh xuống không dám nhìn thêm. Cảm tưởng đôi mắt ấy vẫn nhìn anh.

   Nghĩa hỏi:

   - Cô Mỵ đứng đấy làm gì?

   Mỵ nói:

   - Em đứng đây đợi chào anh. Chào anh Nghĩa.

   Rồi Mỵ chạy theo mẹ, không quay đầu lại.

   Trong kháng chiến, thường qua nhà bà Giàng Súa, Nghĩa xem Mỵ như em. Ba năm không lên Phiềng Sa, hôm nay trở lại, cô bé năm trước đã có cặp mắt đương thì biêng biếc, làm xao động lòng người.

   Mỵ có lòng yêu Nghĩa. Người con gái e lệ, nhưng lại thật thà hồng bột tin yêu. Nếu bây giờ Nghĩa chỉ nói một câu yêu Mỵ, lát sau, cả vùng đều biết Nghĩa nói Nghĩa yêu Mỵ, cả vùng biết Nghĩa cho Mỵ chiếc khăn hay Nghĩa đã giữ cái gương của Mỵ rồi.

   Mơ màng thế, Nghĩa bồi hồi. Nỗi bồi hồi của người trai được yêu. Nhưng Nghĩa lại buồn ủ ê. Nghĩa chưa có vợ. Nghĩa chẳng có ai ở đâu chờ đợi, nhưng Nghĩa không muốn yêu người ở đây. Nghĩa không muốn. Thế là Nghĩa lại vẩn vơ nghĩ.

   Quê Nghĩa dưới Phú Thọ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4199



« Trả lời #11 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2020, 02:42:33 pm »

IV


   Một hôm, người đi làm nương sớm nhìn thấy từ dưới núi đi lên một đốm trăng trắng. Rồi sau mỗi lúc trông một rõ ra đấy là một người cưỡi ngựa.

   Người ấy cưỡi ngựa trắng, đội mũ lưỡi trai có cái lưỡi cứng đen nhoáng, mặc quần áo dạ đen, kín cổ. Chân đi bốt lửng cao su. Lưng đeo cái túi da vuông. Người thanh niên cao lớn trắng trẻo, vành tai to. Hai má lông tơ, đi trong sương lạnh, má cứ hồng lên.

   Con ngựa lững thững giữa đám cỏ tranh vàng áy.

   Người trên nương không đoán được ai quen. Có lẽ bộ đội dưới châu lên. Bộ đội thật. Vì đồng chí ấy đội cái mũ lạ và có chiếc túi da đeo lưng.

   Đồng chí bộ đội lên đến đầu dốc thì xuống ngựa. Các khe núi đương tuôn sương mù dày đặc, trăm nghìn dòng suối bông chảy ra lưng trời, chảy ngang người, ngang ngựa. Con đường chỉ còn mờ mờ dưới chân. Nhưng những tảng đá to rải rác ven bờ thì đồng chí bộ đội vẫn trông thấy rõ và nhớ, gọi tên ra từng tảng được.

   Những tảng đá lực lượng ngồi đấy, đứng đấy. Đá đứng đá ngồi, đá cũng có việc, đá không chơi không đâu. Đồng chí bộ đội nghĩ thế. Tảng đá kia có cái tai bành ra che ô cho người làm nương và người đi chợ trú mưa. Tảng đá này có hang sau lưng. Ngày trước, mỗi khi du kích đi chiến đấu về lỡ sáng giữa đường, thì leo lên hang ngủ. Có tảng đá, mặt hũm sâu bằng giếng, chứa nước trời quanh năm. Chuyến nào đi giao thông vượt dốc đến đây, khát nước, trèo lên cúi mặt xuống hớp một hớp, ngọt hơn nước đọng ống vầu. Có những tảng đá rỗng. Cụ già về đến đấy thì mỏi rồi, liền đem cành củi cắm vào chân đá. Chân đá đầy que cắm của các cụ già mỏi gối. Cụ già cắm củi vào chân thần đá để xin thần đá phù hộ cho chân người càng đi càng khỏe ra.

   Mỗi hòn đá lặng lẽ bên đường mà mang trong mình biết bao nhiêu chuyện. Con đường này, người già đi rồi, cái khổ lên rồi cái khổ qua. Con đường này đã bao lớp người đi qua. Nó chẳng ở yên đâu. Bây giờ nó sắp đến kỳ thay đổi, con đường cho lớp người trẻ đi, cho hạnh phúc, cho ngựa phóng, cho ô tô lên.

   - Ta đã đi nhiều đường ô tô lên vùng núi cao khắp đất nước. Phiềng Sa rồi cũng thế. Những ngọn núi lượn vòng chân trời kia. Đất nước mình bao la không bao giờ hết.

   Vui quá đồng chí bộ đội ngước nhìn sườn nương đã cày vỡ. Trong sương sớm, đã thấy những người chăm làm lố nhố đi ra. Đồng chí bộ đội buông cương cho con ngựa đứng lại. Ngựa được dịp cúi mõm, lặng lẽ quơ cỏ. Đồng chí bộ đội nhảy xuống, tựa lưng vào sườn con ngựa ấm, rút sáo thổi.

   Cái sáo lưỡi đồng thả tiếng vờn theo bóng sương, đâu cũng nghe tiếng.

      Đường quê người Mèo
      Bao nhiêu dốc, bao nhiêu núi
      Bao nhiêu bài hát khó nhọc
      Đường nào qua Tà Sùa
1.

   Ai mà khéo thổi sáo đến thế? Các nương đổ cả ra đầu dốc. Lúc kháng chiến, người quê ta đi du kích, đi bộ đội cũng nhiều. Hay là lại có người trở về?

   Trong một khoảng nương cách núi nàn đó, không thấy nhau, nhưng nghe tiếng sáo trả lời.

      Đường quê người Mèo
      Một nghìn dốc, một nghìn núi
      Một nghìn bài hát khó nhọc...


   Lúc ấy, đầu dốc đã phủi khỏi làn sương, nhìn xuống thấy nhô lên con ngựa trắng. Ai cũng trông thấy một người cưỡi ngựa mặc áo dạ tím, đeo túi da, đi giày và đội mũ lưỡi trai bóng nhoáng, mặt trắng hồng, tai to. Đẹp quá, không phải người quê ta. Ồ, nhưng trên túi áo ngực người cưỡi ngựa lại lấp ló cái đuôi sáo buộc sợi chỉ đỏ. Thế thì ai đây?

   Người cưỡi ngựa trông lên, cất tiếng hỏi:

   - Còn nhớ tôi không?

   - Nhớ lắm.

   - Tôi là ai?

   - Đồng chí bộ đội.

   - Bộ đội nào, bộ đội anh Long hay bộ đội anh Mạnh?

   - Bộ đội Thào Khay đây.

   Tất cả các núi cùng kêu lên:

   - Thào Khay!

   Ngoài nương còn sót một cụ Nhìa Páo điếc, thấy người ta chạy hết ra đầu núi, cũng đã theo nốt ra rồi.

   Đàn bò vàng đeo chuông, đủng đỉnh dừng lại. Một con chó to, xù lông, hốt hoảng tưởng chuyện gì, đứng sủa vọng ra. Con ngựa đương gặm cỏ bỗng dưng cũng lơ đãng đánh rơi mấy nhánh cỏ, rồi cất mũi, hí dài vào vòm sương đương tan.

   Các cụ già nhớ ngày xưa các cụ có câu khấn người chết phù hộ "người sống ở lại trên đời sinh đẻ con cái cho đông dòng họ, lội suối không bao giờ ngã chết đuối, con gà con lợn con ngựa nuôi đều to béo, khỏe mạnh”. Lúc ấy, các cụ già nghĩ: "Những người hy sinh lúc kháng chiến đã phù hộ cho Thào Khay được trở về, béo tốt, mặc quần áo đẹp, trong người có súng, có chữ". Thào Khay đã trở về, đúng như ước mong của mọi người.

   Ở nhà bà Giàng Súa và con gái đương sắp cơm đi nương. Mỵ còn cời trong đống than ra mấy quả ớt nướng. Bà Giàng Súa lắng nghe tiếng chân ngựa rầm rập ngoài phên. Lại thoáng sợ rợn người. Cái giật mình suốt đời của bà Giàng Súa.

   Thào Khay bước vào, nói to:

   - Lạy mẹ!

   Bà Giàng Súa ngớ ra. Rồi bà Giàng Súa chạy lại:

   - Thằng Khay!

   Mẹ nắm cả hai bàn tay, dõi mắt vào mặt con. Bấy lâu lòng mẹ có ngần nào thương nhớ, dồn vào đấy, không buông mắt buông tay con ra được nữa.

   Người làng đã vào đông đầy, nhìn thấy thế, đều đứng im. Không ai cười, cũng không ai khóc. Cả vùng này xưa kia tối tăm, cả vùng này ngày nay giải phóng, có giải phóng mới sinh ra được một người bộ đội đẹp như thế cưỡi ngựa về, đứng một chỗ mà thơm khắp nhà.

   Mọi người lẳng lặng đi quanh, ngắm nghía hai mẹ con. Đến lúc Mỵ khe khẽ nói:

   - Mẹ bảo anh Khay ăn cơm!

   thì mẹ mới buông tay con trai, rối rít ra dọn cơm. Dọn thế nào mà mấy lần lấy chậu đựng ngô lại lấy lẫn bát canh cải bát muối ớt giã. Thào Khay ngồi ăn, thong thả, ăn một miếng lại cất tiếng mời mẹ, mời họ hàng - vẫn nhớ phong tục tốt đẹp quê mình: ai ăn - uống thì luôn luôn mời người xung quanh cùng ăn. Tay nó cầm thìa múc bột ngô đưa lên miệng vẫn khéo lắm. Thấy thế, mọi người đều mừng rỡ sung sướng lạ lùng, chạy về đem cơm ngô sang cùng ăn. Họ cười khoái như xưa nay chưa trông thấy ai ăn cơm ngô ngon lành thế.

   Bà Giàng Súa hỏi:

   - Con về với bộ đội nào?

   - Con ở trường về, mẹ ạ.

   Thào Khay nhấc chiếc bao da trên vai, mở nắp túi. Cái hộp tiêm ánh ra màu kền sáng. Cái ống nghe thòi hai chiếc vòi cao su như hai cái hoa dáy đỏ rơi xuống. Bà Giàng Súa không biết những gì đấy. Thào Khay cắt nghĩa:

   - Con học trường y tế, con biết chữa bệnh, mẹ ạ.

   Bà Giàng Súa tròn mắt nhìn:

   - Con làm thày cúng của Chính phủ a?

   Thào Khay cười:

   - Con là đồng chí y sĩ của Chính phủ.

   Mỵ cũng cười:

   - Em biết rồi. Đồng chí y tá dưới châu Yên cũng có những cái này!

   Thào Khay nói:

   - Đúng đấy.

   Rồi Thào Khay lại múc ngô, múc canh, cười đùa, kể chuyện cưỡi ngựa thổi sáo. Người làng càng thấy nó thật là thằng Thào Khay.

   Chủ tịch Tỏa, rồi Nghĩa tới. Trong nhà đông ngộn người. Cái điếu cày truyền khắp nhà, truyền đến tận người ngồi trong các xó. Vui quá, ai cũng vê mồi thuốc lá đưa mời nhau. Trẻ con leo thang lên sàn bếp, ngồi vắt vẻo thò đầu nhòm xuống. Chủ tịch Tỏa hỏi:

   - Về công tác hay về chơi đấy?

   - Về công tác.

   Nghĩa nói:

   - Khay về làm y tế, tôi về làm mậu dịch, đồng chí chủ tịch kiêm tổ trưởng đổi công, đồng chí chủ tịch sướng chưa?

   Chủ tịch Tỏa nói:

   - Tốt quá, tốt quá, có thêm người về, không vắng vẻ như năm ngoái nữa, bây giờ chúng ta đông đặc rồi.

   Thào Khay nói:

   - Giấy giới thiệu của tôi đây. Cả Đảng, cả chính quyền giới thiệu đấy.

   Có người hỏi lại:

   - Mày đã được về công tác đây a?

   - Được rồi.

   Chủ tịch Tỏa châm đóm hút thuốc. Cái đóm dúi vào lửa bếp đã cháy lại tắt mấy lần mà chủ tịch Tỏa vẫn chưa rít xong điếu thuốc, chủ tịch Tỏa vẫn lẩm bẩm chưa ngớt nói: “Tốt quá. Tốt...".

   Một người khác nói to:

   - Ông chủ tịch ơi, ông gả con gái ông cho thằng Khay thì nó được ở quê mãi thôi.

   Tiếng cười ầm cả nhà.




-------------------------------------------------------------------------------
1. Tà Sùa: tiếng Mèo, nghĩa là vùng đất cao giữa núi. Người Mèo thường nhận những nơi ấy là quê mình.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4199



« Trả lời #12 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2020, 02:46:57 pm »

V


   Trong cuộc họp xã hôm ấy, các trưởng thôn làng Mèo, làng Dao, cả những trưởng thôn ở các làng người Lừ và người Xá rải rác dưới thấp, ngoài cửa suối Nậm Ma, phải đi cật sức hai ngày mới tới, cũng về.

   Nghe đồng chí Nghĩa nói:

   “Năm nào mưa lũ cũng lấy mất đường, không xuống châu được. Năm nay chúng ta sẽ làm kho trữ muối. Có nghẽn mưa cũng chẳng lo".

   Các trưởng thôn đều trả lời:

   - Sướng chưa!

   Nghĩa lại nói:

   - Các đồng chí trưởng thôn làng nào thì về đem người làng ấy lên làm nhà kho.

   Mọi người đáp:

   - Thế thì xong rồi.

   Chỉ có trưởng thôn Pàng ngồi im, lúc lúc lại rít liền từng chập ba mồi thuốc rồi chống tay lên má, ủ ê nhìn ra. Vẫn không yên tâm, chốc chốc Pàng lại quay nhìn Nghĩa. Pàng có điều bối rối muốn nới. Người trưởng thôn ấy ở một xóm chưa được mười nóc nhà tận cái cửa suối xa nhất xã và cũng xa tận cuối cùng đất nước, ngày ngày có bao nhiêu khó khăn qua lại, ban nhiêu khó khăn chờ đợi.

   Nghĩa đang mải nói giữa cuộc họp. Sôi nổi, hào hứng, Nghĩa không để ý nỗi băn khoăn của Pàng. Đã lâu mới lại có cán bộ về công tác, nhất là thấy Nghĩa về, ai cũng tranh nhau kể chuyện và hỏi dồn. Nghĩa phải trả lời hàng trăm thứ. Từ những tin đồn về các vùng Thái đương lên hợp tác xã đến chuyện con trâu sa hố đá. Cả chủ tịch Tỏa cũng hỏi Nghĩa luôn.

   Lát sau, chừng không chịu được, Pàng bước đến trước mặt Nghĩa:

   - Nó nói rằng người Xá có công với cách mạng nhưng vì người Xá nghèo ở bờ suối, nên bây giờ Chính phủ bỏ quên người Xá rồi.

   - Ai nói?

   - Bọn bên Lào về nói.

   - Thế có đúng không?

   - Tôi vẫn bảo nó nói sai, đến hôm nay trông thấy anh Nghĩa thì tôi lại biết nó sai thật rồi.

   - Chuyến này chúng ta về đưa anh em lên làm kho. Bà con các làng được gặp nhau luôn thì sẽ thấy đoàn kết, thấy đông vui, càng tin tưởng, đồng chí ạ. Nhiều anh em lên nhé.

   - Bọn ở Lào về cứ nói mãi Chính phủ bỏ ta rồi. Chính phủ mà bỏ ta thì ta cũng phải bỏ Chính phủ, đi ở nơi khác thôi. Chửi nó, nó vẫn nói thế. Khó lắm.

   - Đồng chí làm trưởng thôn…

   - Bọn nó chửi tôi rằng mày không phải người ở Ná Đắng mày cút về Huổi Ca cho người Ná Đắng chúng tao muốn đi đâu thì đi.

   Nghĩa chưa hiểu và ngạc nhiên. Trưởng thôn Pàng lại khe khẽ hỏi:

   - Anh Nghĩa có còn nhớ Huổi Ca?

   Nghĩa vẫn chăm chú nhìn trưởng thôn làng Ná Đắng, như đang nhìn qua người ngồi đấy mà thấu ra một điều khác, một điều đau khổ mà vô cùng thiêng liêng đối với những cán bộ kháng chiến trên miền Tây. Pàng còn trẻ, nhưng vóc người võ vàng, khó rõ tuổi. Thoạt nom Pàng cũng đoán biết được dân tộc Xá còn nhiều khó khăn. Quần áo vải thô không nhuộm, đen xỉn như trát đất. Vành khăn thô lố khoanh trên đầu, cũng ảm đạm như màu áo, càng làm khuôn mặt Pàng gồ ghề, trắng nhợt.

   Người Xá xưa kia vốn có hèm sợ núi cho nên hay làm nhà ở tránh xuống bờ suối. Tay không có một tấc sắt, không bới nổi cục đất. Người ta kể cổ tích: ngày xưa con hươu đến giẫm qua cái nương mới đốt, lốt chân nó lỗ chỗ bước như thế để nó dạy ta biết cầm cái que chọc lỗ tra hạt. Con hươu thương người Xá. Cho nên, biết ơn con hươu, người Xá không bao giờ ăn thịt hươu. Người Xá hiền lành, quanh năm chỉ xúc tép, bẫy cá, nhặt rau, đan vó, quấn cót, lấy song mây ghép ghế, đóng mâm đem đổi ngô làng Mèo, đổi gạo làng Thái, suốt đời lội theo con suối nhìn tăm cá, không muốn nhìn ai gặp ai, càng nghĩ càng buồn số phận làm người.

   Trưởng thôn Pàng, hai con mắt nhạt nhạt, nhìn lại Nghĩa:

   - Anh Nghĩa ơi! Pàng tôi ngày trước là người ở Huổi Ca...

   Nghĩa nhắc lại, như nói theo:

   - Huổi Ca à...

   Huổi Ca à... Huổi Ca. Cái xóm Huổi Ca ngày trước có vài ba nóc nhà bên suối Nậm Cuổi. Suối Nậm Cuổi xanh rợp bóng rừng, con suối lắm cá, nguồn kiếm ăn của các làng Xá và làng Thái hai bên ven bờ.

   Năm ấy, những đội Xung phong Quyết tiến đương phát triển sang biên giới phía tây, đến Huổi Ca thì gặp mùa nước lớn. Muốn qua Nậm Cuổi phải khảm thuyền. Nhưng vùng này không có cơ sở, không đầu mối liên lạc, không người đưa.

   Các đồng chí võ trang, khi biết đây là một xóm nghèo, liền quả quyết vào hỏi đường.

   Lúc đầu, đón suối; người ra, vừa thấy hút bóng bộ đội đã chạy mất. Đêm lần vào một nhà, kể chuyện thằng Tây làm khổ dân ta thế nào, người cách mạng cùng nhân dân đánh Tây thế nào, cả nhà đều cúi mặt, giàn giụa nước mắt. Đêm sau, cả xóm lẳng lặng đến ngồi nghe đội võ trang kể chuyện đánh Tây.

   Thế là đội Quyết tiến qua được Huổi Ca. Xóm Huổi Ca đưa thuyền, lại nhất định nèo mỗi đồng chí phải cầm theo một giỏ cơm, một gói cá muối.

   Ít lâu sau, đội võ trang trở ra qua thì không thấy làng Huổi Ca đâu. Đế quốc đã đốt hết và giết cả làng Huổi Ca. Chỉ còn sống sót mấy em nhỏ lúc Tây vào làng thì đương đi mò cá.

   Nhớ chuyện Huổi Ca, Nghĩa cảm thấy thân thuộc với Pàng như anh em, dù Nghĩa không hề biết làng Huổi Ca. Cũng như mọi cán bộ Tây Bắc, ai đã từng lăn lộn vào Tây Bắc tạm bị giặc chiếm, khi nghe những chuyện nhân dân Tây Bắc đấu tranh gian khổ và dũng cảm ngày kháng chiến, dù chuyện xảy ra ở bản ở mường xa nào, bao giờ ta cũng đều cảm thấy thấm thía như có mình cùng lúc ấy, ở đấy.

   Nghĩa hỏi:

   - Rồi Pàng chạy được lên Ná Đắng à?

   - Lúc ấy anh em làng Thái ở dưới suối lên cứu Pàng về nuôi. Nhưng anh em tốt bấy giờ thì ở chỗ nào cũng nghèo. Mỗi mùa Pàng lại phải đi ở đổi tay đổi cửa một nhà. Pàng đi mãi, lặn lội lên đến suối này thì đã lớn, đã biết đi kiếm cái ăn một mình, thế là thành người Ná Đắng.

   Trước kia, Nghĩa chưa hề gặp Pàng. Nhưng, Nghĩa cũng lại như mọi cán bộ hậu địch miền Tây, Nghĩa biết nhiều chuyện và đi công tác ở các làng Thái, làng Dao, làng Mèo, làng Lừ, Nghĩa đã kể đi kể lại không biết bao nhiêu lần những tấm gương giác ngộ và lòng trung thực của người Xá, của những làng dân tộc Xá suốt mười năm kháng chiến đã làm liên lạc, đưa đò cho cách mạng qua sông Đà, sông Mã, các suối Nậm Ma, Nậm U, Nậm Mu... Địch đánh thì chịu, nhất định không nói. Địch bắt ai thì người ấy chịu một mình, không nói thêm cho ai, không bao giờ vỡ mối. Chết cả xóm như Huổi Ca cũng không bỏ cách mạng.

   Nhiều đội du kích đã tổ chức trận đánh "rửa thù cho anh em Xá ở Huổi Ca".

   Ngày ấy, làm lễ truy điệu xóm Huổi Ca rồi đội Quyết Tiến đi, đem theo một em bé. Em bé gái sống sót, các đồng chí gặp nó ngồi khóc bên bờ suối. Các đồng chí đặt tên kỷ niệm là bé Huổi Ca.

   Đã hơn mười năm rồi. Nghe nói về sau bộ đội cho bé Huổi Ca đi học và cũng nghe bé Huổi Ca bây giờ đã là một nữ thanh niên đương học trường Đại học ở Hà Nội.

   Và bây giờ, từ ngọn suối ra đến cửa suối, trên Lai Châu hay dưới Sơn La, đâu có người Xá, đấy đều biết vô khối chuyện lạ lùng và vui sướng về "con bé Huổi Ca người Xá đương ăn học ở thủ đô Hà Nội". Trưởng thôn Pàng cũng khoe "hôm ấy Huổi Ca cùng đi mò cá với tôi, nó bằng tuổi tôi". Mỗi khi gặp cán bộ, Pàng thường xưng mình người Huổi Ca và khoe “con Huổi Ca học ở Hà Nội. Người Huổi Ca chết rồi mà nghe thế chắc cũng vui!”. Được nói với ai như vậy, Pàng sướng như gặp anh em, cái gì cũng muốn kể ngay.

   - Không, anh Nghĩa ạ, người Ná Đắng đều cùng một bụng với ta. Chỉ lúc nào có đứa ở Lào về xui giục thì nó lại nghĩ vẩn vơ mà thôi. Lâu quá, chẳng có cán bộ ta đến Ná Đắng. Lời phải đã lâu chẳng ai được nghe, chỉ nghe nói nhảm. Con dím ra phá nương cũng đổ tại Chính phủ, người ốm cũng tại Chính phủ, con tôi ốm nó bảo tại tôi làm trưởng thôn.

   - Ừ, đã lâu thật, không có cán bộ xuống Ná Đắng.

   - Chỉ một mình Pàng thì khó lắm.

   - Tôi sẽ xuống họp xóm với đồng chí. Có anh em tới thì nhân dân lại vui ngay thôi mà…

   Pàng cười nhệch cả mép.

   - Sướng quá.

   Hình như từ nãy Pàng chỉ băn khoăn điều ấy, thì nay đã được bằng lòng rồi. Con mắt Pàng tinh nhanh hẳn lên.

   Chủ tịch Tỏa tranh:

   - Để tôi xuống cho.

   - Ở nhà còn nhiều công tác. Bận sau ông xuống, ông chủ tịch ạ.

   Chủ tịch Tỏa sốt sắng nhưng bao giờ cũng dễ dãi, lại giơ tay cười:

   - Đúng rồi. Ta tiếp tục họp thôi. Đến chỗ nào rồi nhỉ?

   Nhưng câu chuyện với Pàng vẫn còn khiến Nghĩa phân vân.

   Ba năm về công tác dưới châu Yên, chính đến cả Nghĩa cũng dường như đôi khi mờ nhạt tình cảm đối với vùng cao, nơi mình đã làm công tác của cách mạng và chia sẻ cái sống cái chết với nhân dân trong cuộc kháng chiến. Cũng không muốn hiểu vì sao mà lạnh lùng thế. Có lẽ, dù thế nào thì công tác ở vùng thấp cũng thuận lợi và dễ chịu hơn. Những dễ chịu ấy đã chớm thành thói quen. Hôm vừa rồi lên Phiềng Sa, người ngựa vượt dốc, thở ngùn ngụt như bốc khói. Đã lâu mới ngồi ngựa, đêm nằm đau ê ẩm suốt đêm. Cũng ngại. Nhưng đến lúc nghĩ so với ngày trước trèo núi cả tháng, cả năm, cả đêm thì lại thấy tinh thần trách nhiệm thấm thía trong người và tưởng như bấy lâu mình vẫn ở vùng cao.

   Chuyện với Pàng làm cho Nghĩa nhớ lại những làng xóm hẻo lánh, thưa thớt, tít tắp trên núi. Trước kia, bao giờ cũng vậy, nhân dân gặp cán bộ thì tin yêu, nhận làm người họ, nhận làm anh em. Cán bộ đến thì nhớ đời, không đến thì tủi, giận, lo lắng, nghi ngờ. Những ý nghĩ ấy giục Nghĩa xuống với nhân dân Ná Đắng. Nghĩa tin mọi người đương mong chờ cán bộ, như lúc kháng chiến.

   Bấy giờ mùa xuân đã qua. Trời Phiềng Sa mù vữa ra rồi buông mưa xuống, cơn nọ rả rích gối cơn kia. Trông sang cửa núi bên kia, suốt ngày thấy bụi nước mịt mờ trùm qua đầu người đi.

   Nghĩa theo suối quanh xuống hết triền núi, thì đã xế chiều. Bốn phía đều tận cùng hoang vắng. Ngẩng mặt lên, chỉ còn gặp đồi tranh và một tầng không xám ngắt. Bất chợt, rẽ ngọn tranh ra thấy ở chân rừng thưa đằng trước có một túp nhà, như cái nấm mọc trơ trọi trên thân cây mục.

   Không đến kịp Ná Đắng, Nghĩa nghỉ lại đấy.

   Cái nhà sàn thấp ọp ẹp, dáng như nhà nương. Ông cụ chủ nhà cởi trần, khăn quấn quanh búi tóc cao, ngồi đầu sàn, cặm cụi tước đay đan lưới. Mỗi lần con dao miết nghiêng lên, lại kéo theo một sợi đay trắng bóng. Lần lần, từng sợi đay treo lên cọc như bức mành rủ.

   Nghĩa cất tiếng chào:

   - Cụ làm gì đấy?

   Ông cụ ngước cặp lông mày bạc trắng, trông như có sợi đay vừa vướng lên trán. Tay ông cụ vẫn giơ con dao tước đay. Nghĩa thấy thoắt một cái, lưỡi dao bập mạnh vào thân đay, như giận dữ, một cách lạ thường. Cây đay tẽ đôi ra. Nghĩa hơi giật mình, thoáng nghĩ có cái gì khang khác. Ông cụ lẳng lặng đứng dậy, vào nhà. Trong xó nhà, phía vách giường thờ, vẳng ra những tiếng sừng trâu gieo lóc cóc. À ông lão già này yếu bóng vía, còn nặng mê tín. Có người lạ đến thì lo, phải vào "hỏi ma" xem việc xấu hay tốt đến. Rồi lại thấy ông cụ ra ngồi tước đay. Chắc con ma bảo "tốt" nên ông lão không nói gì. Thỉnh thoảng, đến các làng, Nghĩa vẫn gặp những người già hiền lành và mê tín như thế. Biết vậy, Nghĩa yên trí hơn.

   Tối sập xuống từ nãy mà ông cụ người Xá vẫn ngồi làm. Nghĩa cũng yên lặng, Nghĩa đi cắt cỏ rồi ra lùa con ngựa vào đứng gầm sàn.

   Đến khi tối hẳn, ông cụ mới lom khom đứng dậy. Lúc nãy Nghĩa cũng ngợ hay là ông cụ mắc bệnh hủi. Làng thường có thói quen cũ hay bắt người hủi, người ho nhiều phải vào rừng ở một mình. Nhưng bây giờ trông lại dáng hai bắp chân ông cụ đứng choãng, vững như dé chân sắp quăng chài, thì biết không phải là người bệnh. Thôi rồi, có thể ông cụ bị làng ngờ ma chài. Cái độc ác của xã hội cũ đầy đọa bà Giàng Súa, Nghĩa đã biết và đã cứu được người ra. Tục lệ dã man trói buộc đầu óc và giết người. Ở những chỗ khuất nẻo này có thể vẫn còn những tệ hại ấy.

   "Ông lão bị người ta ngờ có ma nên gặp người không dám nói. Tội nghiệp!". Nghĩa tự cho mình đoán đúng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4199



« Trả lời #13 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2020, 03:35:18 pm »

*
*    *


   Nghĩa không đoán đúng.

   Không như Nghĩa đoán, ông cụ này không phải người ở vùng Phiềng Sa từ lâu. Cũng không bị hủi hay có ma chài, ông cụ ấy bình thường như mọi người già cả. Người Xá nghèo, lại già mà nghèo thì đi đâu, lang bạt đâu cũng vậy thôi, chẳng mấy ai chú ý.

   Ông cụ đến đây từ bao giờ, không rõ. Chỉ biết đã mấy năm nay, mỗi lần nhà nào ở Ná Đắng có người ốm, lại ra gọi ông cụ về cúng. Những người già đều biết cúng. Và người ta ưa mời người lạ đến cúng hơn.

   Từ bao giờ, ông cụ tới đây, cũng không rõ. Cả ông cụ cũng chỉ mang máng nhớ mình từ khi lớn lên cho đến lúc biết bắt cá và đan ghế, đã ở qua ba con suối, rồi vào đến con suối Nậm ma đây thì gần hết đời người.

   Một đời người đi kiếm ăn phải thay ba bốn con suối, mà vẫn giữ nguyên cái khổ cực và một câu hát buồn. Ông cụ hát hay lắm, buồn lắm. Những khi lội suối bắt cá, ông cất tiếng than "đời đi ở" thì người nghe muốn tránh xa, muốn bỏ đi mà không bỏ đi được, muốn khóc, muốn bắt ông đừng hát rồi lại van ông cứ hát, cứ hát mãi nỗi khổ của chúng ta cho chúng ta nghe nữa đi.

   Cách mạng vào Tây Bắc. Các làng Xá dọc sông dọc suối đều đứng lên. Thằng đế quốc chẳng lạ gan người Xá. Nó giết cả làng như ở Huổi Ca, mà cụ già một mình này vẫn chở đò cho cách mạng.

   Tây đi càn, bắt được ông, đem về đồn.

   Tây đồn bảo thông ngôn quát:

   - Thằng ăn thịt hươu mất giống Xá kia? Quan bảo mày hát cho quan nghe.

   Cụ già cất tiếng than, tiếng đắng cay, tiếng giận dữ:

      Nhà ông bắt làm bằng gỗ đẽo
      Ông mổ chó con canh với hoa chuối cho ăn
      Gắp hai ba đũa không nên miếng thịt
      Chỉ toàn bã gừng vụn
      Ăn môn nhiều quá, ngứa cổ đau bụng
      Kiếp làm tớ ông pọng Mường Muối nặng nề thay
      Trốn đi Mường Hoa sợ xa cô
      Chạy đi Mường Quài lo xa chú
      Ước gì nước lũ ngập ngọn cây cớm
      Ngập ngọn cây dâu da
      Chết cả Xá lẫn Thái
      Chết cả ngựa dưới gầm đã thắng yên
      Chết cả ông quan ngồi hàng uống rượu
1.

   Nghe thông ngôn nói lại, Tây đồn đập bàn, cười to: “Không phải thế! Không phải thế!".

   Nhưng nó không đánh ông già, cũng không bắt đi vác nước như mọi tù khác, mà sớm tối cho ăn xong rồi đi ngủ.

   Một hôm, lính đến bịt mắt ông già lại, dắt tay đem đi. Đi đâu, lâu lắm, mới được mở mắt ra. Thấy mình đương đứng giữa ánh sáng đèn, chân bước lên tòa nhà thềm cao, bên trong ngồi giữa một ông mặt bôi vôi trắng phốp đội mũ mặc áo thêu rồng, lại có hai ông áo tướng mặt nhọ đen, cầm gươm đứng hai bên.

   Ông vua nói tiếng Xá rằng: Trời thương người Xá nên sai tao về làm vua đứng đầu giống người. Người Xá và người Mèo trước kia đều có người đầu họ, có vua, có chữ, sau vì người Kinh độc ác mới làm cho người Xá, người Mèo mất cả vua, cả chữ. Bây giờ Trời cho quan Tây về với vua cùng nhau đánh chết hết bọn Kinh, bọn Thái, cho người Xá và người Mèo lại được vua, được chữ. Chữ đã về đến đỉnh núi kia. Chỉ còn giết nốt mấy cán bộ Kinh là xong. Từ nay nó có đến bảo chở đò thì ta giết nó đi. Về gặp anh em thì nói lại như vậy.

   Vua dặn thêm: ai theo vua thì làm thế.

   Ông già quỳ xuống, cúi rạp đầu. Bỗng nhìn thấy cái ống quần ông vua rách gấu lỏa tỏa và thấy ông vua cũng đi chân đất đen như thui, như chân mình.

   Hôm sau, ông già được thả.

   Trở về, ông già cứ mê mê mẩn mẩn chẳng biết lúc ấy mình tỉnh hay mê. Khi tưởng mê, khi ngỡ thật rõ có gặp vua. Lại nghĩ nếu không giết cán bộ, vua sẽ không cho theo.

   Nhưng rồi thấy cán bộ đến, cán bộ ở với ta, lúc no lúc đói cũng đều bàn những điều phải. Mấy lần muốn cầm dao giết mấy lần có ý định lúc khảm thuyền qua suối thì cầm sào đánh vào gáy. Nhưng hễ trông thấy cán bộ, hễ cầm đến con dao, cái gậy, lại nghẹn ngào, không giơ lên được.

   Về sau, nghĩ khổ quá, cán bộ đến thì ông già tránh mặt.

   Nhưng cũng không yên, cứ u uất một mình chẳng dám nói với ai, hỏi ai. Cả đêm ròng rã không chợp mắt. Nghĩ quá không biết làm thế nào, đành phải đi. ông cụ thình lình bỏ đi. Người suối ấy cũng không rõ tại sao và ông bỏ đi đâu.

   Ông cụ lần đến ở hẻo lánh bên suối gần Ná Đắng đã mấy năm. Giải phóng lâu rồi, mấy lần nghe nói đất nước cả châu Yên đã được giải phóng. Bỗng chốc, ông già lại tha thiết nhớ những anh cán bộ ngày trước, nhưng rồi, vẫn một mình, ông cụ lại âm thầm ngẩn ngơ mang máng như không biết, không nhớ.



--------------------------------------------------------------------------------
1. Bài hát cũ của dân tộc Xá Khao ở Noong Lay (Cầm Biêu sưu tầm và dịch).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4199



« Trả lời #14 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2020, 03:38:28 pm »

*
*    *


   Nghĩa để một phần cơm nếp vào chạn biếu ông cụ, rồi mới ăn gói cơm.

   Lát sau, Nghĩa ngồi hút thuốc lá lập lòe bên lửa, lòng bình thản. Cảnh bình thường, quen thuộc này thường thấy mỗi buổi tối đi công tác rẽ vào ngủ nhờ trong xóm. Chủ nhà quen hay lạ, ít nói, không nói, có khi người ta ngại, có khi chẳng vì cớ gì. Không nói nhưng ai nấy vốn tốt bụng cho nên mọi việc cư xử cứ êm đềm và tự nhiên. Nghĩa đã quen thế rồi.

   Nghĩa trầm ngâm hút thuốc, nghĩ lơ mơ gần xa. Phú Thọ.

   Những khi rỗi và vắng, thường thả mình rong ruổi về đất quê. Nghĩa lên công tác Tây Bắc từ lâu. Cha mẹ đã khuất núi, anh em thì mỗi người một phận rồi. Cho nên, tuy nhớ, nhớ miên man nhiều mà chẳng rõ nhớ ai. Đồi cọ, lá già xanh biếc, lá non nõn như lụa; đồi chẩu vào hè hoa trắng; mùa dứa mùi dứa thơm đến ngọt cả nắng; vui nhất là những vụ hái chè đầu xuân; nước giếng chân đồi Phú Thọ trong mát đã có tiếng; sông Thao "nước đục người đen"; nhớ sao nhớ thế, cứ đếm lại từng đứa bạn trai gái cùng lứa tuổi.

   Ông cụ cầm chiếc que đóm dài châm vào bếp. Ông cụ sắp đi đâu? Ánh lửa hẩng lên, soi rõ mặt người cán bộ và cụ già lặng lẽ.

   Đêm hôm thế này, ông cụ đi đâu? Đột nhiên, Nghĩa lại ngại một sự gì bất trắc. Hay là đi báo bọn xấu, bọn cướp đến giết người lấy súng rồi nổi phỉ? Không có lẽ. Nghĩa đã thuộc cả Phiềng Sa, từ lâu, vốn thuần những người tốt. Bọn tay sai thống lý Mùa Sống Cổ cũng trốn sang Lào đã mấy năm nay rồi. Thế thì ông cụ đi đâu bây giờ? Có bọn phản động bên kia biên giới thường lẻn về - trưởng thôn Pàng mới nói thế. Mà ở giữa rừng đêm nay chỉ độc một ta với lão.

   Nghĩa hỏi. Phải hỏi xem ông cụ định đi đâu.

   Ông cụ chợt ngẩng nhìn Nghĩa. Thế rồi ông cụ lại điềm nhiên dụi tắt bó đóm đã bùng lửa, ngồi vào hóc cột, lại đan lưới.

   Như lúc nãy, chỉ còn có đống lửa bếp leo lét với hai người.

   Nghĩa ngủ phấp phỏng. Cũng một phần vì cẩn thận, mà cũng tại nhiều bọ chó quá, suốt đêm bọ chó sục sạo khắp người. Dưới châu Yên bây giờ thật dễ chịu, thuốc ĐĐT phun mỗi năm hai lần, trắng cả làng xóm, không đâu còn sót một mống bọ chó, rệp, ruồi vàng.

   Ông cụ đan lưới bên ổ lá, không ngủ.

   Đêm đầu hè trên núi, khuya, hiu hiu lạnh như đêm tháng mười. Tiếng nõ điếu sòng sọc rít vừa dứt, con ngựa đứng dưới gầm sàn bỗng rùng mình, hắt hơi loạn một chập, rồi im. Cái vắng càng trùm lên, thăm thẳm hơn trước.

   Người không ngủ được, ngồi dậy, cời lửa, nghe con hươu rời rạc kêu theo bóng khuya, từng tiếng đi dần từ núi ngoài vào núi trong, nghe thế cũng đoán biết được đêm đã sang canh mấy.

   Ông cụ rít hơi thuốc nữa xong, cất tiếng hỏi:

   - Cán bộ này...

   Nghĩa thú vị, nghĩ thầm: "Đấy, ông lão bắt đầu quen với mình, cứ tự nhiên thế thôi mà". Nghĩa sốt sắng:

   - Cái gì, hả cụ?

   Ông cụ hỏi:

   - Tại sao người đi đường nghe hươu kêu lại gặp điềm xấu, ai thấy con chim bay qua phải bỏ cả cái nương đương phát. Trời ghét gì người Xá mà chỉ cho ta cái sợ, cái khổ thôi!

   - Không phải, thằng Tây làm ta khổ.

   Ông cụ lặng im một lúc, rồi nói tiếp, nói những gì ở đâu đâu:

   - Ai đi đường, tay cầm điếu thuốc, gặp con hổ thì đừng chạy, đưa điếu cho hổ hút bốn mồi thuốc ngon thì hổ nói. Hổ sẽ nói: bao giờ người Kinh theo vua Kinh, người Xá theo vua Xá, thì mới hết khổ, phải không?

   - Không phải đâu. Đứa nào nói thế, a cụ?

   Những câu ông cụ nói như nói một mình giữa đêm, cứ từng tiếng rời rạc, ú ớ, như gọi hồn, như khóc. Người nghe tưởng ra trong bóng tối có con hổ đến cầm cái điếu cày hút thuốc, có người chết đương ngồi dậy. Nghĩa nhìn xoáy mắt vào ông cụ. Mặt ông cụ lồi lõm như tảng đá, vẫn thản nhiên.

   Nghĩa hơi xẵng:

   - Đứa nào nói thế thì cho nó xuống tù dưới châu Yên. Nói nhảm!

   Ông cụ cúi mặt, ngó quanh, sợ sệt. Nghĩa dịu lời, hỏi lại:

   - Đứa phản động nào nói thế, cụ già ơi?

   Ông già cúi đầu, lại lặng im. Sau Nghĩa hỏi gợi ngọt nhạt thế nào ông già cũng không nói nữa.

   Nghĩa biết có nhiều cụ già Mèo, cụ già Xá hay cụ già Thái "đầu óc mê tín", lúc nào cũng như đương sống lẫn với người chết. Các cụ hay băn khoăn chuyện người chết sống lại, cho là có thật. Ông cụ này chắc cũng có tính lẩn thẩn ấy. Nhưng Nghĩa còn cảm thấy ông cụ hình như không phải chỉ lẩn thẩn hay bị ma ám. Ông cụ có những nghĩ ngợi khó hiểu. Nghĩa ngờ ngợ.

   Con từ quy khắc khoải gọi bạn suốt đêm trong rừng sâu bây giờ đã bay ra tới đầu nhà: trời sáng. Nắng sớm cuồn cuộn lồng lên từng tảng sương xanh thẫm, xanh nhợt rồi tan xanh lơ. Mép núi lóng lánh sáng. Những triền đá, những cánh đồi tranh xám mờ chiều qua đi ngủ bây giờ lại miên man rướn lên một làn sóng chàm biếc vượt xa quá tầm mắt.

   Trời quang quẻ nắng, những u uất và bí mật khó hiểu cũng rũ xuống đâu mất.

   Nghĩa xuống thang sàn, nói to, vui vẻ:

   - Cụ ơi! Hôm nào cụ cho tôi ăn cá với. Chào cụ!

   Nghĩa nhanh nhẹn đi. Ông cụ lẩm nhẩm chào lại hay khấn khứa gì không biết, rồi đứng dậy, rút nhanh con dao tước đay trên hóc cột, ra đầu tháng, nhìn theo Nghĩa đương lúng túng dắt con ngựa đau móng, con ngựa cứ nhót chân nhảy chụm, trượt trên gờ đá.

   Ông cụ lại vào nhà, lấy cặp sừng trâu ra gieo quẻ. Lát sau, ông cụ tần ngần ngồi xuống, lại tước đay như cũ.

   Một lúc lâu, ông cụ nhìn lên, thấy nắm cơm nếp cán bộ biếu, để trên gác bếp từ tối qua. Ông cụ buông thõng tay dao, thừ mặt, nghĩ, rồi thở dài.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4199



« Trả lời #15 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2020, 03:42:40 pm »

Nghĩa đi quá nửa buổi thì xuống đến Ná Đắng.

   Xóm Ná Đắng thấp thoáng bên những ngọn nước kè trắng từ trên núi buông xuống ngay đầu nhà.

   Cả xóm đi nương vắng. Đương vụ mà chưa kịp làm cỏ, ngô và cỏ tranh đua nhau lên, rậm lút đầu. Nương rẫy lúc giáp hạt, chưa trông thấy gì ăn được, chỉ tràn lan một màu xanh khó nhọc, rợn mắt.

   Những đám khói ủ lửa đầu bờ còn âm ỉ. Tiếng chó chạy sủa tang tang trong rừng ẩm ướt. Nhưng không thấy người. Chắc trong rừng có người đi tìm đào củ mài.

   Người vợ trưởng thôn Pàng vừa về tới nhà.

   Chị địu một giỏ khoai nước, chất cao hơn đầu. Sợi dây quai "giỏ" chằng lên trán, phải níu tay vít xuống cho dày căng khỏi vướng đầu đứa con ngồi địu sau lưng. Bé đương ốm. Bé úp ngoẹo mặt vào lưng mẹ, hai chân sạm đen, thòng xuống như hai cái dải khoai. Bé anh theo sau, cũng cõng cái giỏ khoai to. Về tới trước cửa, vừa ngồi thụp, cả bé anh và cái giỏ nặng đều lăn ình ra.

   Nghĩa hỏi:

   - Đồng chí Pàng đi đâu?

   Người đàn bà đáp khẽ:

   - Không biết.

   Nghĩa đợi một lúc thì Pàng về. Pàng cởi trần, mình nhợt nhạt như ngâm dưới suối lên. Một giỏ nặng củ mài và rau lợn buông trên lưng xuống. Buổi chiều, mỗi người đều đi kiếm bữa ăn về nhà. Cái lưới vẫn vướng lòng thòng trên nửa vai. Thấy Nghĩa, Pàng luống cuống quên gỡ.

   Pàng nói như reo:

   - Anh Nghĩa vừa xuống à!

   Buổi tối ấy Nghĩa ăn cháo củ mài nấu nõn chuối ở nhà trưởng thôn Pàng. Cái đóm Pàng cầm soi vào mâm ăn cứ bị tắt luôn. Nhưng cũng chẳng cần đến chút lửa chập chờn. Có gì phải gắp đâu. Nghĩa hỏi:

   - Hôm nọ Pàng có lên mua dầu hỏa không?

   - Có.

   - Sao không thắp đèn?

   Pàng đứng dậy, lấy trong hóc cột ra cái ống nứa đựng dầu hỏa bọc lá chuối khô, như ống mật. Pàng đưa ống cho Nghĩa ngửi biết mùi dầu hỏa như để khoe Nghĩa biết Pàng có dầu hỏa, chứ Pàng cũng không thắp. Nghĩa nói:

   - Chưa có bóng à?

   Hỏi xong Nghĩa mới nhớ dưới châu Yên cũng hết bóng đèn. Và Nghĩa càng thấy Phiềng Sa cần có một cửa hàng tổng hợp bách hóa cố định rôm rả vài trăm mặt hàng.

   Nghĩa đoán Pàng không thắp đèn có thể còn vì một lẽ ở đây người ta quý dầu hỏa. Dầu hỏa hiếm, lâu lắm mới lại được thấy dầu hỏa. Nhưng Nghĩa không biết làng không thắp đèn vì có đứa xấu đương nói dầu hỏa của Chính phủ có ma chài, Pàng cũng ngại thắp. Con Pàng đương ốm.

   Nghĩa hỏi thêm:

   - Bà con lên mua muối mua dầu hỏa đủ cả chứ?

   Pàng nói:

   - Đủ.

   Bé em nằm đằng góc sàn ỉ ê khóc. Vợ chồng Pàng xúm đến. Nghĩa xuống gầm sàn vác củi lên, cời bếp cho to lửa. Bé anh vừa buông bát cháo, đã ngủ khì ngay bên bếp ấm và sáng.

   Lúc bé em dịu khóc, Nghĩa lại hỏi Pàng:

   - Nhân dân đương bận lắm a?

   - Ai cũng đi ở nương làm cỏ, đồng chí ạ.

   - Ta họp xóm được không?

   - Phải gọi về mới họp được.

   - Thế thì mai họp, đồng chí Pàng à.

   Nghĩa bàn cách cho Pàng họp xóm. Những điều thiết tha thường nghĩ, Nghĩa đã sắp đặt thành kế hoạch từ lúc đi đường. Nghĩa nói theo công việc và lòng mình đương sôi nổi.

   Pàng ngồi nghe, nhưng trong bụng còn vướng bao nỗi lo khác. Chốc Pàng lại bước ra sàn bên, ôm đứa con vẫn lả trên cánh tay. Pàng lo quá. Nghĩa thì chăm chăm những việc mình đương nói. Ngay từ lúc mới đến Ná Đắng, Nghĩa đã thấy mọi khó khăn của mọi người và của Pàng đúng như Pàng nói hôm trước. Nghĩa nghĩ: "Xã hội chủ nghĩa thì việc gì cũng tốt, trước sau giải quyết cả thôi. Ngày mai, Thào Khay sẽ xuống chữa bệnh cho con Pàng. Năm nay, Ná Đắng vào tổ đổi công và cuối năm, cả Phiềng Sa có cửa hàng mậu dịch, rồi tổ đổi công lên hợp tác xã, lần lượt thế đấy" Nghĩa tin những việc tốt ấy, việc của cách mạng và hạnh phúc, nhất định ai cũng đều thích. Và thế là Nghĩa chẳng để ý đến nỗi niềm riêng của Pàng nữa.

   Không phải Pàng chỉ lo con ốm. Nghĩa bàn điều gì, Pàng đều hiểu, muốn làm theo. Và Pàng đã hiếu từ khi nhớn lên, biết nghĩ biết mình người Huổi Ca là người đi theo cách mạng rồi. Khi giải phóng ít lâu, chủ tịch Vừ Sóa Tỏa xuống bảo "ta đã có đất nước rồi", cả xóm còn phân vân. Nghe nói Tây vẫn giết người ở Mường Lay, lại còn nghe kể chuyện thằng Tây đồn chạy qua biên giới dọa lại: “Ít lâu nữa quan về, đứa nào theo Việt minh thì quan về chọc tiết cả họ". Pàng đã không ngần ngại, Pàng không sợ, Pàng đứng ra làm trưởng thôn cho cách mạng.

   Lâu nay, Pàng nghe có người thở dài nói với nhau: ở với Chính phủ mấy năm rồi mà chẳng thấy Chính phủ đâu.

   Lại hỏi nhau:

   - Chẳng may mà thằng Tây về nữa thì ai che chở cho ta?

   Những lo âu ấy Pàng không trả lời được. Người ta lại nói:

   - Đến chết hết mất!

   Pàng chửi đứa nói nhảm và những đứa hay buồn rầu.

   Thế rồi có người đến bảo Pàng:

   - Mày làm trưởng thôn cho nên con mày ốm.

   Pàng lại chửi đứa rủa Pàng.

   Nhưng bé em ỉa chảy đã nhiều ngày.

   Pàng còn lo nhiều nữa, nhiều nữa, nhiều lúc chính mình cũng bối rối. Bọn xấu ở đường Lào lén lút về thì thào, làm cho nhân dân cứ đương vui lại buồn. Muối và dầu hỏa đem về xóm hớn hở được vài hôm. Rồi lại cứ im im. Có tiếng đồn ma chài trong dầu hỏa. Lại như có ai còn dọa dẫm điều gì nữa. Quả thế thật. Có tiếng than thở: "Chẳng may nếu đế quốc Mỹ nó đến mà thấy dầu hỏa này, muối này thì có Chính phủ đâu để che chở cho ta?!”.

   Pàng quát to trước mặt những người hay ngơ ngác: "Chính phủ là tao, Chính phủ là mày!". Nói thế, nhưng cũng không biết cắt nghĩa sao cho rõ ra, và cũng lại muốn được hỏi ai, muốn hỏi: Bảo cho ta thế nào, ta làm thế nào bây giờ? Lo lắm.

   Cuộc họp đủ mặt người cửa suối Ná Đắng. Ai về họp, thoạt thấy Nghĩa, đều chạy xô đến - dù người xưa nay chưa gặp Nghĩa bao giờ, cũng cứ nắm chặt cả hai tay Nghĩa. Mấy hôm nay nghĩ vơ vẩn bây giờ mới lại thấy vui.

   - Đồng chí Nghĩa về công tác à?

   - Lại thấy cán bộ về rồi!

   - Cán bộ Nghĩa ở Ná Đắng với chúng tôi!

   - Có đứa nói bây giờ các anh về dưới ruộng làm quan châu quan tỉnh, chẳng còn ai lên vùng cao nữa.

   Nghĩa cười:

   - Đứa xấu mới nói thế. Thưa bà con...

   Nghĩa bắt đầu nói chuyện. Chuyện miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vùng cao vào đổi công, làm hợp tác, lên chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam thì đấu tranh thống nhất. Chúng ta theo Chính phủ. Chúng ta làm gì bây giờ?

   Trước mặt Nghĩa vẻn vẹn có gần hai chục người - tất cả các nhà ở xóm Ná Đắng. Họ ngồi im, chăm chú. Trong khi nói, Nghĩa thật xúc động nhớ bữa ăn cháo củ mài nấu nõn chuối buổi tối hôm qua ở nhà Pàng. Một tay Pàng cầm đóm giơ lên soi chỗ ngồi ăn, một tay Pàng lấy chiếc thìa gỗ múc cháo.

   Lúc kháng chiến, cán bộ bảo "ta hãy cùng nhau cố gắng để đi lấy lại đất nước”, mọi người đều nghe và làm việc, đánh giặc để lấy lại đất nước. Bây giờ được đất nước rồi, nhân dân chờ đợi và hỏi "Ta lại cùng nhau làm gì nữa? Ta cùng nhau làm gì nữa?”.

   Những điều cao xa và thiêng liêng mà trước kia chúng ta đã sôi nổi chiến đấu để thực hiện, ngày nay đã thành toàn những sự thật xem thấy được. Vì thế, bây giờ cách mạng yêu cầu Nghĩa phải trở nên người cán bộ cụ thể. Sống và chiến đấu trong nhân dân, Nghĩa hiểu sâu sắc như vậy, Nghĩa bằng lòng được cấp trên phân công về làm thương nghiệp và lại lên vùng cao. Sôi nổi, những công việc sắp tới! Nghĩa hiểu làm người cán bộ kinh tế của chủ nghĩa xã hội không phải là nhà buôn, đổi chác tính lãi, chỉ biết ních tiền chặt túi như bọn đế quốc và tư bản. Việc Nghĩa sẽ làm, trước nhất là cùng giúp nhau làm đổi công xóa những khó khăn nghìn đời lúc giáp hạt như bữa cháo củ mài nõn chuối ở nhà Pàng, rồi đem cày cuốc tốt lên đây, rồi làm hợp tác có ruộng định cư, nhân dân xây dựng đời sống và giúp đỡ cách mạng giải phóng miền Nam. Làm gì ư? Thưa bà con, Đảng bảo chúng ta làm thế đấy...

   Nghĩa say những quang cảnh Phiềng Sa sắp tới mà Nghĩa đã nói và vẽ ra với bà con xóm Ná Đắng. Hôm sau trở về, Pàng theo tiễn Nghĩa một quãng.

   - Cuộc họp kết quả, đồng chí Pàng nhỉ? Hôm này Pàng cố đưa cả anh em lên Phiềng Sa làm kho cho vui.

   - Tôi xem ai cũng thích, chỉ còn có một người không thích thôi.

   - Ai?

   - Nó ngồi im, không nói gì.

   - À…

   - Thằng ấy hay gặp bọn ở Lào về...

   Rồi Pàng sẽ nói cho nó biết phải trái.

   Pàng đương còn muốn hỏi Nghĩa nhiều, bao nhiêu nữa. Bây giờ anh Nghĩa ở đây, chốc nữa anh Nghĩa đã đi rồi. Nhiều người sẽ còn đến than thở và lo nhiều điều về đôi công, về hợp tác, về bọn xấu bên Lào. Nhưng Pàng lúng túng không biết hỏi anh Nghĩa những gì cho rõ hơn. Đến cửa suối, Pàng và Nghĩa đứng lại.

   Pàng mới hỏi:

   - Anh Nghĩa ơi! Chính phủ có ở gần ta không?

   Nghĩa hiểu câu hỏi của Pàng theo những ý phấn khởi mà Nghĩa đương nghĩ, và Nghĩa cười to, vỗ vai Pàng:

   - Ủy ban là Chính phủ, trưởng thôn là Chính phủ, là đồng chí Pàng.

   Ồ, lúc tức quá gay quá, Pàng vẫn sừng sộ bảo người ta: "Chính phủ là tao, Chính phủ là mày". Bây giờ anh Nghĩa cũng nói thế. Pàng thật thích, nhưng Pàng cũng còn băn khoăn.

   Nghĩa đương khoái về câu trả lời đầy ý nghĩa của mình. Nghĩa vẫn cười, rồi chợt nhớ, mới hỏi Pàng về cụ già hôm trước gặp ở túp nhà nương giữa rừng.

   Pàng nói:

   - Ông lão thày cúng.

   Nghĩa bảo:

   - Thảo nào! Toàn nói chuyện ma.

   Nghe nhắc đến thầy cúng và ma, nỗi lo con ốm của Pàng lại dội lên, chồng chất trong lòng.

   Nhưng Nghĩa đi rồi.

   Nghĩa ra tới giữa sườn núi, ngoảnh lại, còn thấy Pàng đứng.

   Nghĩa cảm về những đức tính trung thực lặng lẽ của người Xá. Dân tộc Xá, dân tộc Mèo xưa nay thật trung thực, nhưng những công việc định làm mới chỉ là những câu nói, thế mà Nghĩa tưởng mọi việc ở Ná Đắng đã được giải quyết Lúc ra đi Nghĩa chỉ thấy bồi hồi quyến luyến, như trong kháng chiến, những lần rời cơ sở quần chúng.

   Về Phiềng Sa, Nghĩa đến gặp Thào Khay:

   - Con nhà trưởng thôn Pàng ỉa chảy nặng lắm.

   Thào Khay nói:

   - Để Khay xuống xem.

   Trên các đầu núi, mây nước ám như khói, chập chờn đưa từng cơn mưa rào tới.

   Muối trữ cho Phiềng Sa ăn trong mùa mưa lũ đã dỡ ra kho dưới châu Yên, chỉ còn đợi ngựa đưa lên những chuyến đầu. Mọi việc gấp gấp, cố xong trước khi có những trận mưa to liên miên.

   Chủ tịch Tỏa hỏi Nghĩa:

   - Có gặp trưởng thôn Pàng dưới ấy không?

   Nghĩa kể chuyện Ná Đắng. Chủ tịch Tỏa nói:

   - Cái thằng hay chứa bọn xấu ở Lào về, tôi đã đuổi một lần mà nó lại về à? Lại phải xuống cho nó một trận mới được. Còn lão thày cúng thì hiền lành thôi. Năm nào lão cũng đi tìm diêm tiêu qua đây, tôi vẫn gặp.

   Nghĩa nói:

   - Tốt cả rồi, đồng chí chủ tịch chẳng cần phải xuống. Nhân dân sẽ đến làm kho, chúng mình gần gũi trò chuyện nữa, tinh thần lên thôi.

   Cả hai, không ai băn khoăn gì nữa.

   Mấy hôm sau, người các làng kéo về làm kho và trạm xá Phiềng Sa nhộn nhịp hẳn lên.

   Nhưng chưa thấy các xóm Mèo, xóm Xá phía Ná Đắng tới.

   Cả mấy xóm ở Ná Đắng đương sắp sửa đi. Nhiều nhà đã đóng ngựa.

   Bỗng dưng có một bọn ở đâu về qua, buông lời:

   - Mày chưa biết ư, vua ta đã về làm loạn đến Phiềng Sa rồi. Mày đi Phiềng Sa bây giờ để vợ mày lên khiêng cái xác thịt thối của mày về a?

   Thế là cơn hăng hái của mọi người xèo đi, như nòm lửa ra gặp mưa. Nhà nào cũng chẳng lại. Hơi một tí cũng lo sợ mà không hỏi ai được tin tức gì hơn, người ta đâm nghĩ quẩn, lại lủi đi ở nương hết. Pàng gọi, Pàng gọi. Cái xóm vùi dưới những làn mây nước, cứ ắng lặng như không.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4199



« Trả lời #16 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2020, 09:04:30 am »

VI


   Đêm ấy sáng trăng.

   Những đêm đầu mùa hè, mây dày từng mớ, từng lớp vàng đẫm ánh trăng ủ trên những cánh rừng tít tắt chân mây, những thung lũng làng mạc xa lạ, những cánh đồng rải rác đâu trong hóc núi không ai biết.

   Tất cả im lìm dưới kia. Tưởng chỉ có Phiềng Sa này trên cao. Phiềng Sa gần trời. Tiếng sáo của người trai đi chơi khuya thấp thoáng ánh trăng. Giàn sao sáng rợn mắt cua chặp tối, dần dần mờ đi, khi trăng vằng vặc lên ngang đỉnh đầu. Tưởng có thể với tay tới mặt trăng, như trong truyện người già thường kể.

   Nửa đêm, có tiếng máy bay. Đám trai gái ngồi hát và thổi sáo trước cửa, trông ra thấy cái bóng máy bay đen như con quạ to bay dưới mặt trăng.

   Thỉnh thoảng, máy bay lạ vẫn qua phía biên giới.

   Mọi người thường nói đùa: "Đố mày dám thòng chân xuống đây!”. Mấy cụ già thức giấc, nghe máy bay gừ gừ ngoài vách gỗ thì nghĩ lo: "Thằng đế quốc còn về được trên đầu ta", rồi các cụ nổi cơn ho, trằn trọc mãi.

   Thào Khay sửa soạn đi Ná Đắng.

   Ở châu Yên, phòng y tế đã giao nhiệm vụ cho Thào Khay lên Phiềng Sa, trước nhất đi khắp vùng, tìm hiểu và tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh. Đó cũng là cách giới thiệu trạm xá đương dựng - cái trạm xá đầu tiên của toàn khu tự trị.

   Vệ sinh phòng bệnh và chữa bệnh, những việc hoàn toàn mới. Nhân dân các dân tộc trên vùng cao tin yêu cách mạng, vì tin yêu mà làm, chứ lắm việc mới mẻ của cách mạng, bắt tay vào làm bây giờ mới biết thật là bỡ ngỡ.

   Vệ sinh phòng bệnh và chữa bệnh ở trạm xá là những công tác mới. Những vùng núi cao đã nghìn đời khiếp sợ, chìm đắm trong tay thày cúng và ma quỷ. Mỗi năm, vào lúc ngô vàng lá cũng là đến tuần tháng chín tháng mười buồn bã vì cứ đến cữ tháng ấy thì có người ốm chết nhiều.

   Bây giờ cách mạng phải làm cho khác thế. Lập trạm xá, Thào Khay sẽ đi thăm hỏi từng xóm, nói ý nghĩa trạm xá và công việc vệ sinh phòng bệnh, mở đầu trận đánh vào bệnh tật và mê tín.

   Cuộc sống bộ đội và trình độ văn hóa, khoa học đã rèn cho Thào Khay một nếp sống cẩn thận, có kế hoạch, biết nghiên cứu và kết luận. Thào Khay hăng hái làm thế.

   Thào Khay nhắc cái túi da treo trên cột xuống, kiểm lại hộp tiêm, cồn, ống nghe, mấy thứ cần thiết và thuốc cấp cứu xếp lại thành hàng chặt chẽ trong túi.

   Bà Giàng Súa hỏi:

   - Khay đi đâu?

   - Ná Đắng.

   Bà Giàng Súa kêu:

   - Con ơi!

   - Cái gì hả mẹ?

   Bà Giàng Súa nói:

   - Người Chính phủ lại xuống Ná Đắng theo vua à?

   - Con xuống Ná Đắng chữa bệnh.

   - Có người bảo con nai lông trắng đã ra Ná Đắng, vua người Xá vua người Mèo cũng từ bên Lào về Ná Đắng rồi.

   Thào Khay tròn mắt, ngạc nhiên, hỏi mẹ:

   - Ai nói thế?

   Ai nói cho bà Giàng Súa? Bà cũng chẳng thật nhớ có ai nói thế hay không. Chuyện người chết sống lại, chuyện vua ra, chuyện ma làm người ốm, chuyện nỗi khổ ngày xưa, những cái ấy người già hay kể. Lúc đi nương, đi rừng, những chuyện vẩn vơ này thường được các cụ đem rắc, từ đầu dốc xuống cuối dốc, để đi cho đỡ nhớ nỗi gối mỏi và đường dài. Tuổi bà Giàng Súa hợp nghe chuyện ma, chuyện người chết. Tuổi của thanh niên - từ khi cách mạng, đã giác ngộ, thì những cái lôi thôi ấy khó lọt tai. Bà Giàng Súa - một đời đã khổ vì ma, lúc nào cũng cứ nửa tin nửa lo. Và mỗi lần nghe người rỉ tai những chuyện vua ra, chuyện ma làm, thì lại như bị khêu vào vết đau, bà Giàng Súa lại ngơ ngác, và lặng im.

   Lúc ấy bà không trả lời được con. Bà thật chẳng nhớ ai đã nói vua bên Lào về Ná Đắng.

   Thào Khay bảo mẹ:

   - Anh Nghĩa vừa ở Ná Đắng về, có thấy gì đâu.

   Bà Giàng Súa nói:

   - Cán bộ không biết. Nó chỉ kể với nhau thôi. Nó bảo không cần dầu, muối của Chính phủ. Vua Xá vua Mèo cũng có nhiều dầu, nhiều muối, lại có ô tô, có tàu bay mười hai đầu.

   Nghe mẹ kể một thôi những chuyện ma quỷ kỳ quái thật lạ tai, Thào Khay bảo mẹ, giọng quả quyết:

   - Người ở dưới Ná Đắng hôm nọ đã lên mua dầu mua muối khắp mặt rồi. Mẹ không được sợ!

   Thào Khay đã tưởng lầm mẹ. Không phải sợ, mà vì thương con, bà Giàng Súa kể những chuyện như thế. Kể chuyện ấy với con, ngồi trước mặt con, nhìn vẻ mặt thản nhiên của con, bà Giàng Súa không thấy sợ gì đâu. Thường thì người già có tính hay cả lo. Bà Giàng Súa đã trải nhiều gian truân, nhưng gian truân đã không dìm chết được bà và bà Giàng Súa đã gặp được cách mạng. Từ lâu, bà Giàng Súa đã tin và ơn cách mạng hơn sợ vua quan, ma quỷ. Bà Giàng Súa nói:

   - Mẹ không sợ, mẹ không biết sợ đâu. Nhưng mà con đi thì mẹ lo.

   Có lần nghe nói bọn phản động theo đế quốc đi giết người ở Lào về qua Ná Đắng lên tận đây. Nhiều người đã gặp. Bà Giàng Súa lo là phải.

   Nhưng Thào Khay không để ý đến nỗi lo của mẹ, Thào Khay nói:

   - Chính phủ đã dạy cho con biết chữa bệnh thì không  được để người chết, mẹ ạ.

   - Con nhà Pàng ốm à?

   - Không được để người chết, mẹ ạ.

   - Con đi chóng về nhé.

   Từ hôm Thào Khay về, mẹ con cũng chưa trò chuyện với nhau được mấy. Tối tối, người đến chơi đông lắm. Ngày ngày, các cô con gái suốt cả mấy làng, ai đi củi, đi nương tận đâu xa cũng cứ vờ đến lượn qua ngoài cửa, ngượng nghịu, nghiêng mắt nhìn trộm vào nhà người con trai đẹp. Bà Giàng Súa sung sướng có đứa con đẹp trai, được nhiều cô gái mê.

   Thào Khay nói thêm mấy câu nữa cho mẹ yên lòng, rồi mới khoác súng, cầm bộ yên ra đóng ngựa.

   Thào Khay đã xuống khỏi dốc. Tiếng sáo còn vẳng lại qua vai. Bài Qua miền Tây Bắc nghe thật lạ tai. Nhưng rồi tiếng réo rắt càng xa thì bà Giàng Súa không còn biết đấy là sáo của con trai mình hay sáo ai - người trai Mèo nào ra đường cũng thổi sáo.

   Bà Giàng Súa nhẩm theo sáo những lời hát.

      Suối chảy trên đá
      Mẹ anh ăn gì đẻ ra anh
      Đẹp như mặt đồng bạc trắng...


   Bà Giàng Súa động lòng, rớm nước mắt.

   Bà ước có ngày Thào Nhìa trở về như Thào Khay. Trở về, "thằng Nhìa cũng được như thằng Khay", đẹp như mặt đồng bạc trắng. Con gái khắp vùng muốn xem mặt, đi nương đi củi tận đâu xa cũng về lượn qua ngoài cửa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4199



« Trả lời #17 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2020, 09:08:01 am »

*
*    *


   Trên đầu nương líu ríu có tiếng ai nói. Nghe tiếng được tiếng chăng. Mỵ nhanh chân chạy ra.

   Cả xóm đi làm cỏ ngô. Cây dền già cao ngang lưng ngô đã đỏ lá. Những dây dưa chuột xơ xác nở một chiếc hoa trái mùa vàng khè. Quả dưa cuối vụ đã đỏ phấn như quả éc lợn.

   Ngô năm nay kém. Nương ngô tháng hai mới nhỉnh, phải gió to, đạt gãy chưa lại hơi, là còn nghẹn, lại bị phủ luôn mấy trận mưa. Thế là cỏ tranh cứ ngùn ngụt lên lút đầu ngô. Nhà nào cũng trông chừng phải cào cỏ, làm thêm đất, trồng gối vụ đậu tương, đậu nành. Nhưng ngô kém thì khoai riềng đã tốt um. Lại tấp nập sửa soạn trồng đậu. Người Mèo khéo làm, biết lo xa, chẳng bao giờ để nương rỗi, bị mất vụ đến đói người.

   Một lát, Mỵ vào nương bảo mẹ biết một chuyện lạ: làng dưới đêm qua bắt được một thằng biệt kích, bây giờ đương dẫn nó lên ủy ban xã.

   Bà Giàng Súa hỏi con gái:

   - Thằng biệt kích là thằng gì?

   Mỵ nói:

   - Thằng biệt kích là thằng nhảy dù.

   - Phải rồi, đêm qua đấy. Ăn cướp à?

   - Đế quốc Mỹ sai thằng biệt kích đi phá hoại.

   - Bây giờ vẫn còn thằng ăn cướp, thằng phá hoại ư? Thế thì ta phải giết nó thôi.

   Nương này truyền nương khác tin ấy, mọi người đùng đùng nổi cơn giận. Những con ngựa vội vã trở về làng, phóng dạt cả đàn bò xô xuống vực. Bọn trẻ con lại xuống vực đá đánh bò lên, thúc bò đuổi theo ngựa. Chuông cổ bò reo vang, lạc cả tiếng, loạn xạ trên các sườn nương.

   Trụ sở ủy ban xã là nơi bán muối hôm trước. Hai gian trong kê một chiếc bàn gỗ đẽo gồ ghề và hai ghế dài. Gian bên che kín một cái giát nứa cho ông thường trực và cán bộ về công tác mà phải ngủ đêm. Trên giữa vách treo quyển lịch. Miếng bìa bẻ uốn thành cái hộp đựng thư, công văn. Đằng kia, dán kín góc phên một tờ tranh in to của Sở văn hóa Khu mới gửi lên, vẽ cô gái chít khăn áo Mèo trắng lại mặc váy Mèo đỏ xòe rộng, gấu viền hoa. Ai xem cũng bảo cô này không giống con gái vùng ta.

   Người đứng từ trụ sở lô nhô ra đầy cả quanh dốc. Người đến sau, chưa biết trong kia thế nào, cứ nháo nhác chen vào. Bỗng một anh tái mét mặt chui ra. Gặp bà Giàng Súa, anh ta hét lên:

   - Bà Giàng Súa à, nó bảo nó họ Thào!

   - Ai?

   - Nó.

   Mỵ hỏi:

   - Thằng nhảy dù à?

   Anh ta vẫn hét:

   - Nó bảo nó họ Thào! Nó bảo nó là người họ Thào!

   Rồi anh ta chạy thẳng đi.

   Mỵ phải dìu mẹ ngồi ngay xuống giữa dốc.

   "Nó là..”. Nó đâu? Nó là ai? Nó có phải thằng Thào Nhìa chết hóa hổ đã được người Xá cứu cho sống lại ở suối Nậm Ngù? Nhưng sao nó lại biến thành ra thằng đế quốc nhảy dù. Không phải. Nó chết lần nữa rồi ư? Không biết nghĩ thế nào... Nhưng không phải.

   Bà Giàng Súa lần đến trước cửa ủy ban. Mọi người trông thấy bà thì kêu lên: "Bà Giàng Súa đây rồi!", và rẽ cả ra. Bà Giàng Súa nhìn trên ghế có chủ tịch Tỏa và cán bộ Nghĩa. Hai người ngồi nghiêm nghị khác mọi ngày, như quan xử kiện.

   Mỵ dìu mẹ vào. Nghĩa thoáng trông ra, không tươi cười như thường khi. Nghĩa chỉ lừ mắt, im lặng. Thấy vẻ lạnh lẽo nghiêm khắc, không biết tại sao, bà Giàng Súa đau quặn trong lòng, lại cảm như cái khổ ghê gớm ngày trước đương trở về.

   Một người ngồi xệp dưới đất. Thoạt trông nó chẳng khác bọn lính dù trước kia đã có lần lên đóng đồn Tây ở đây. Quần áo tay chân nó cũng loang lổ như con trăn đang lột. Đầu nó không mũ, tóc nó xoắn trôn ốc, xoáy từng đám quanh gáy.

   Cạnh nó, để mấy chiếc hòm con, một cái túi vải xám, một đống dù lùng nhùng trắng toát.

   Cái người ngồi phệt dưới đất ấy nghe xôn xao sau lưng thì quay mặt lại. Thấy bà Giàng Súa, nó gọi:

   - Mẹ tôi kia! Mẹ ơi!

   Ôi thật cái tiếng nói nghe ra tiếng người Mèo trắng ở Phiềng Sa!

   Bấy giờ bà Giàng Súa mới trông rõ trên trán nó hằn lên, vẫn còn một cái sẹo ngày xưa bị gấu tát. Thằng Nhìa đây rồi.

   Nhưng sao lạ quá. Không phải nó chỉ lạ vì bộ quần áo ma quỷ đế quốc kia. Con mắt người mẹ và đứa con nhìn nhau bây giờ thật khác, nhìn nhau mà không thấy nhau. Trong lúc kháng chiến và bây giờ nữa, ngày nào, lần nào thằng Khay đi lâu trở về, bà Giàng Súa nhìn con, trong lòng thấm thía yêu thương tình đứa trẻ mình sinh ra nó. Đằng này không, nó khác làm sao, khác đến nỗi trông thấy nó mà bà Giàng Súa dửng dưng, bà không bước lại, miệng bà không cất nổi một tiếng gọi. Đúng là cái khi thằng Nhìa hóa hổ chết ở Nậm Ngù thì hồn người khác đã nhập tranh vào xác nó rồi.

   Bà Giàng Súa cứ đứng nguyên giữa đám đông, bà nghĩ thế và khóc. Bà bỗng xót xa thằng Nhìa, thằng Nhìa ra đi mười mấy năm chưa về, bà xót xa cái thằng Nhìa khác kia. Cái đêm năm trước, đêm dõng nhà thống lý dong đuốc đến bắt nó đi tải hàng cho ông khách Sìn, thằng Nhìa ấy, thằng Nhìa, thằng Nhìa…

   Mỵ chỉ đứng lặng, Mỵ thì quên hẳn mặt anh Nhìa. Mỵ chỉ trông thấy thằng biệt kích nhảy dù bị dân quân bắt đem đến ngồi đây, mà không hề nhìn ra tình ruột thịt mình. Những chiếc hòm vuông mầu da con tắc kè xanh xám. Bộ quần áo dù sạm ngoét. Cái đầu tóc xoắn và khuôn mặt béo phì của một người thật lạ lờ chỉ gợi cho Mỵ một chuyện gì độc ác, như con hổ, con rắn, như thằng Tây, mà ta phải đứng lên như đánh Tây lúc kháng chiến. Có súng, có lựu đạn, có bẫy đá bố trí thì mới đối phó được với nó. Thằng biệt kích lại cất tiếng gọi: "Mẹ ơi!” giữa lúc bà Giàng Súa khóc.

   - Mẹ ơi! Mẹ còn nhớ cái ngày nhà ta ở rừng, con đi tải đồ cho ông khách Sìn. Con Mỵ kia, mày không nhận ra anh hay sao? Tao vẫn nhớ hôm tao đem mày trốn đi chơi chợ. Thằng Khay, thằng Thào Khay đâu, nó chết rồi à?

   Thằng biệt kích - trước nhất, bà Giàng Súa chỉ trông thấy cái hình thù gớm ghiếc thế kia của thằng biệt kích, nó cứ nói vanh vách những chuyện anh em máu mủ, bà Giàng Súa lại càng khóc to. Bà chợt nhớ cái hèm kiêng: gặp người mà khóc không hỏi trước thì độc. Nhưng bà cũng chẳng thể giữ nổi nước mắt.

   Chủ tịch Tỏa bảo:

   - Mày khai nốt; bắt đầu cái chuyến mày đi theo khách Sìn.

   Thào Nhìa kể:

   - Mẹ tôi, em tôi kia. Đúng rồi. Ngày ấy, ông khách Sìn mang tôi đi, xuống hết dốc này thì hàng ông Sìn bị cướp đánh. Đây là chủ ngựa Tòng với chủ ngựa Đèo thù nhau giả cướp để giết nhau thôi, chứ ông khách Sìn không can gì, ông khách Sìn còn biết trước cả việc chủ ngựa Tòng đón đường chẹn cổ chủ ngựa Đèo nữa. Rồi sau tôi đi với ông Sìn sang nước Lào, sang nước Miến Điện. Ở đâu thì quanh năm cũng vẫn có một việc đuổi ngựa lên buôn các núi có người Mèo ta ở bên Lào, bên Miến Điện. Cũng có năm ông khách Sìn tính chuyện muốn trở lại Phiềng Sa, nhưng nghe bên nước Nam có loạn thì khách Sìn không về nữa. Còn tôi, tôi đi xa quá, một mình không còn biết đâu đường về tôi đành theo ông khách Sìn. Một năm kia, ở nước Miến Điện, đoàn ngựa ông khách Sìn lên buôn trên núi bị cướp đánh, lần này cướp bắn chết ông khách Sìn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4199



« Trả lời #18 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2020, 09:15:58 am »

(Đúng như Nhìa kể, khách Sìn bị một bọn nửa buôn nửa cướp khác giết chết. Vẫn những chuyện tranh ăn cướp mồi và cướp của của các chủ ngựa và chủ hàng.

   Thào Nhìa phải sang tay đi đuổi ngựa cho chủ mới. Nhưng từ hồi thay chủ, Thào Nhìa lại có thêm việc, khi theo ngựa thồ, nhiều khi thì đi làm kẻ cướp. Chủ nó vừa đi buôn vừa ăn cướp, giết người. Mấy năm ấy, đi khắp rừng núi nước Miến Điện sang tận miền bắc nước Xiêm. Đến Xiêm, bọn cướp này bị một cánh cướp khác đánh tan.

   Nhưng Thào Nhìa vẫn sống. Nó lại thuộc về chủ mới. Bọn chủ mới đây chuyên nghề buôn người, bán nhân công cho các đồn điền và nơi khẩn hoang. Vì thế, Thào Nhìa thành phu đồn điền cao su.

   Ít lâu sau, Thào Nhìa theo ông chủ đồn điền người Ănglê xuống thị trấn Cò Rạt. Ở Cò Rạt bấy giờ, nước Hoa Kỳ đương xây sân bay to.

   Người các nơi kéo đến làm ăn đông kiếm tiền dễ lắm. Chủ đồn điền người Ănglê xuống Cò Rạt mở khách sạn. Thào Nhìa thành phu quay máy kem ở cửa hàng cao lâu của khách sạn.

   Thào Nhìa nói tiếp.)


   - Tôi nhớ nhà quá, đi đến đâu cũng chỉ tìm đường về. Ở  Lào, thỉnh thoảng nghe có nơi tên là Phiềng Sa. Tìm đến thấy cũng là người Mèo ở, nhưng chưa lần nào đúng Phiềng Sa nhà mình.

   (Biết đâu Thào Nhìa nói thật hay giả ? Nhưng bà Giàng Súa nghĩ:

   - Khổ thân nó, đúng là nó đã bị cướp bắn chết cùng với ông Sìn, rồi xác nó trôi ra suối Nậm Ngù. Nhớ nhà thì tưởng đã về tới Phiềng Sa, chứ vẫn chỉ trôi quanh suối Nậm Ngù đây thôi)
.

   - Đến năm ngoái, tôi gặp ông thống lý Mùa Sống Cổ.

   (Bà Giàng Súa sửng sốt:

   - Ôi chao, bây giờ mà mày còn gọi quân ác bằng tên người trời!

   Nhiều tiếng nhao nhao:

   - Con dê thối! Con dê thối! Gọi thằng Sống Cổ là con dê thối mới đúng tên nó.

   Thào Nhìa nói cho ngắn chuyện lại, chứ từ thị trấn Cò Rạt mà đi, Thào Nhìa còn trải bao nhiêu những cái lạ, cái khổ khác nữa. Chuyện thật còn như sau:

   Một hôm, ông chủ người Ănglê gọi Thào Nhìa ra, bảo:

   - Tao cho mày thôi việc.

   Lại nói:

   - Tao cho mày đi theo ông này.

   Ông ấy mặc áo đen dài, cũng trắng da, xanh mắt, có nhiều râu như ông chủ người Ănglê và ông Tây đồn ngày trước.

   Ông ấy hỏi Thào Nhìa bằng tiếng Mèo rất sõi:

   - Quê mày ở Lai Châu?

   - Tôi ở Phiềng Sa.

   - Được.

   Tại sao ông này biết quê mình? Hay đây cũng là ông Tây đồn cho nên mới biết Lai Châu và nói được tiếng Mèo? Mình lại sắp bị buộc tội có ma chài ư? Thào Nhìa sợ quá.

   Chủ mới đem Thào Nhìa đến Uđon gần nước Lào. Từ đây Thào Nhìa thôi dắt ngựa, không quay máy kem, cũng không đi ăn cướp lần nào nữa. Thào Nhìa vào học trường Thần học. Dần dần, biết chủ mới là một người cố đạo.

   Thỉnh thoảng, Thào Nhìa được theo ông cố đạo mặc quần áo ka ki nhà binh Hoa Kỳ, qua sông chơi với vua Bun Ù ở Sambatxăc. Cố đạo và vua nằm hút thuốc phiện với nhau cả tháng.

   Và Thào Nhìa biết được thêm điều bí mật là ông cố đạo và ông vua buôn thuốc phiện nhiều gấp bao nhiêu lần ông khách Sìn. Thuốc phiện của vua Bun Ù giao, ông cố đạo đóng vào va li, chở máy bay đi.

   Có những lần Thào Nhìa đi với ông cố đạo lên Xiêng Khoảng. Thào Nhìa đã được trông thấy quan năm Vàng Páo người Mèo làm quan với nước Hoa Kỳ cũng về Xiêng Khoảng bán thuốc phiện cho ông cố đạo.

   Chính Thào Nhìa đã gặp lại thống lý Mùa Sống Cổ ở một vùng núi trên Xiêng Khoảng, tại nhà quan năm Vàng Páo. Chuyện còn thêm như thê đấy!

   Thào Nhìa vẫn đều giọng kể.)


   - Ông thống lý sang bên Lào được người Hoa Kỳ cho làm vua to. Ngày nào ông thống lý cũng ăn thịt, có đèn điện thắp, có ô tô đi, lại ở nhà mát nhiều tầng, cao lắm.

   (Những tiếng xì xào chen nhau từ ngoài cửa nói chõ vào: Ngày trước, thằng phong kiến, thằng Tây đồn ở đây cũng ăn thịt, hút thuốc phiện nhiều lắm, cũng ác nhiều lắm, mày biết đấy.

   - Tao phải nộp của cho nó ăn!

   - Có ai được ăn gì đâu! Nó ăn hết của người ta!

   Thào Nhìa lại nói.)


   - Ông thống lý bảo tôi mà theo ông thì chỉ có việc ngồi mà ăn uống cho sướng. Ông bảo tôi về rủ người sang Lào cùng đi sung sướng với ông.

   (Một bà già hỏi:

   - Cái lúc còn đời thằng phong kiến ở đây, mẹ con nhà mày thế nào? Sướng lắm a?

   Chủ tịch Tỏa quát:

   - Tao đã theo thằng Sống Cổ, tao phải bỏ nó, từ Lào về đây. Tao không lạ nó đâu, mày chưa biết à?)


   Thào Nhìa chợt nhìn lên chủ tịch Tỏa, định nói gì, rồi lại luống cuống, ấp úng:

   - Tôi… tôi…

   (Chủ tịch Tỏa quát chẹn:

   - Kể nốt vào tội mày đi.

   Thào Nhìa kể.)


   - Người Hoa Kỳ lái máy bay đem tôi về đây.

   (Nhưng câu chuyện cũng không ngắn như Thào Nhìa kể thế. Thào Nhìa cố ý nói gọn lại đấy thôi.

   Tối ấy, ở một sân bay của đế quốc Mỹ mới lát xong đường băng, gần Viên Chăn. Tám biệt kích bí mật ngồi đợi bay một chuyến nhiệm vụ đặc biệt. Trong cái nhà kho chứa hàng, cả tám biệt kích đều mặc quần áo dù vằn vèo. Có người đã đeo sẵn lên cổ những cái vòng bạc to, quàng trễ đến nửa vai.

   Ông cố đạo ở Uđon cũng có ở đấy. Ông nhắc từng người:

   - Các con muốn gì nữa không?

   Không ai nói.

   Rồi cố đạo lại ôm từng người, cử chỉ thân thiết mà lạnh, nom như ông ta đương áp lại, sờ nắn khám xét người sắp đi.

   Trong bóng trăng mờ mờ, họ lặng lẽ ra. Chiếc máy bay đakôta màu xám không số hiệu đậu kín đáo ngay đấy. Có ba người bước theo tiễn tám tên biệt kích: ông cố đạo, thống lý Mùa Sống Cổ và một người Mỹ.

   Thế là chiếc máy bay lạ qua Thượng Lào, vào biên giới Việt Nam, đêm sáng trăng ấy.

   Thào Nhìa cứ nhớ, đến tận lúc chui vào tàu bay, thống lý Mùa Sống Cổ còn nhắn thêm:

   - Bảo thằng Tỏa rằng tao vẫn nhớ nó!

   Cơ chừng Thào Nhìa lại vừa nhớ ra câu ấy. Nhưng sự thực là chủ tịch Tỏa đương ngồi oai vệ trước mặt đã làm nó lúng túng, ấp úng.

   Một du kích nói:

   - Mày ngồi tàu bay Mỹ về đây, thế thì mày cũng là giặc bằng thằng đế quốc Mỹ rồi.

   Bà Giàng Súa lại khóc.

   Thào Nhìa nói.)


   - Tôi đem theo có máy điện, khẩu súng, bộ quần áo Mèo, các quan Hoa Kỳ dạy tôi cách nhảy dù xuống rừng, dạy tôi thay áo dù mặc quần áo Mèo rồi ra làng, gặp ai thì bảo đi với ông thống lý, ai không đi thì dọa bắn chết. Lúc nào tôi muốn về Lào hay muốn nói gì với các quan Hoa Kỳ, tôi cứ mở đài, nói vào đấy, các quan ngồi bên kia tôi nói câu gì các quan cũng nghe được ngay. Ông thống lý ở bên ấy muốn nhắn tôi, tôi lắp cái này vào tai là tôi nghe tiếng, tôi còn gọi được cả tàu bay mười hai đầu đến đón đi.

   Nói rồi Thào Nhìa đứng dậy, rút hai ống nghe trong cái hòm điện đài, đặt lên tai, làm hiệu nghe ngóng như thật. Rồi buông ống xuống, lấy trong đống hòm ra một hộp nhỏ, Thào Nhìa bấm cái "tăngdito", tìm luồng điện. Tiếng hát eo éo trong cái hộp đột ngột nảy ra.

   Thào Nhìa cười, khoái, quên cả mình đương là tù, nói to, khoe:

   - Đấy! Đấy!

   Chủ tịch Tỏa nhảy phắt ra. Chủ tịch Tỏa cũng chưa thấy cái máy này bao giờ. Nhưng chủ tịch Tỏa chỉ biết đây toàn là các thứ lôi thôi vớ vẩn của đế quốc Mỹ, thế đủ cho ông chủ tịch thù nó lắm rồi, nóng máu lên rồi, không thể nào chịu được.

   Chủ tịch Tỏa hét:

   - Đập chết nó đi!

   Thào Nhìa vẫn nói tự nhiên, Thào Nhìa cũng quên không phân biệt được lúc nào mình nói thật, lúc nào nói những điều "các quan" bên Lào dặn nói.

   - Mùa Tỏa à, bên ấy ông thống lý bây giờ không làm cày bán nữa đâu.

   Chủ tịch Tỏa trừng mắt, tức quá:

   - Thằng hổ vồ này muốn chết rồi, họ Vừ nhà tao không thèm đội nhờ đầu họ Mùa nhà Sống Cổ, tao ném họ Mùa xuống suối từ lâu rồi.

   - Vâng, thưa ông Tỏa...

   - Mày về rủ tao lại theo đi đúc lưỡi cày cho thằng Sống Cổ à?

   Thào Nhìa nói:

   - Bây giờ ông làm quan rồi...

   Chủ tịch Tỏa nghiến răng, với tay lấy khẩu súng:

   - Không, tao bây giờ làm chủ tịch. Này, mày không bảo cái máy im đi thì tao cho nó một phát chết ngay.

   Thào Nhìa vội tắt đài.

   Chủ tịch Tỏa đặt ngang khẩu súng xuống mặt bàn, bảo:

   - Mày nói nốt tội mày đi. Thằng Sống Cổ sai mày về Phiềng Sa làm giặc, thế nào?

   Thào Nhìa trân trân dán mắt vào chủ tịch Tỏa. Không biết nó đương ngơ ngẩn vì sợ cái tay chủ tịch Tỏa vừa vơ khẩu súng hay nó còn mải nghĩ gì.

   Chủ tịch Tỏa ra lệnh:

   - Nói!

   Thào Nhìa sực tỉnh. Nó đã nhớ ra, nó đương phải bắt làm tù. Thào Nhìa vội quỳ buông gối xuống, cúi đầu, run run, mặt càng tái bệch, lắp bắp:

   - Lạy quan, tôi xin hàng, tôi xin hàng Chính phủ rồi. Từ ngày ra đi, tôi lạc đi xa mãi, bây giờ tôi mới được về.

   (Bà Giàng Súa xót xa:

   - Khổ thằng Nhìa!

   Thào Nhìa nói.)


   - Lúc các quan Hoa Kỳ sai tôi về Phiềng Sa gọi người đi theo ông thống lý, tôi sướng quá, tôi nghĩ rằng tao chẳng rủ, chẳng gọi, tao không bắn ai, không bao giờ tao trở lại với chúng mày nữa đâu.

   (Bà Giàng Súa thở dài - Thào Nhìa vẫn nói.)

   - Con dê gặp con hổ, thế mà con dê dám xông vào tát con hổ, thằng Hoa Kỳ mày còn dại hơn con dê thối. Mày cho máy bay đưa tao về với mẹ tao rồi đấy.

   (Mọi người cười ồ.

   Nước mắt chảy lóa cả hai tròng mắt bà Giàng Súa:

   - Lúc nào thằng Nhìa cũng nhớ mẹ, khổ thân nó!)


   - Máy bay Hoa Kỳ thả tôi xuống rừng đêm hôm qua, tôi chỉ ngồi đợi sáng, tôi không thay quần áo Mèo như các quan Hoa Kỳ bảo, tôi cứ thế này đi ra nương tìm người. Người làm nương thấy tôi thì chạy. Đến lúc có du kích vào hỏi, tôi mới kể chuyện thằng Hoa Kỳ muốn cho tôi về làm những việc như thế. Tôi đưa du kích đến chỗ lấy hòm điện máy, lấy súng. Mười mấy năm nay tôi mới lại được trở về... Tôi bảo du kích cho tôi về hàng... tôi ra hàng quan... Chính phủ...

   Mọi người lại cười ầm vì những tiếng nói ngớ ngẩn, và lạ tai. Không giận dữ, người ta cười vì nó to đầu thế, nó là người lớn mà lại nói sai cả. Đến người lẫn tính cũng không ai nói "quan Chính phủ” như vậy.

   Người xem bảo nhau:

   - Nó còn mê ngủ cho nên nó nói lẫn cả!

   Không hiểu thế, Thào Nhìa cứ phân trần và lại càng nói hỗn, lẫn lộn, lung tung hơn:

   - Tôi đã ra hàng các quan rồi. Thằng du kích này lúc vào rừng nó chưa trông thấy tôi, tôi đã gọi nó trước. Chúng mày làm chứng cho tao. Tao ra hàng các quan chứ chúng mày không phải bắt tao, có phải thế không?

   Chủ tịch Tỏa tính nóng như lửa, nhưng lúc ấy lại không mắng, tỏ vẻ thông cảm mà dịu dàng nói:

   - Nó đi làm đứa ở nợ với đế quốc lâu rồi cho nên nó láo quen, nó nhầm cả thằng quan đồn với thằng du kích, nhân dân ta đừng bắt tội nó. Nó đã biết nghĩ về hàng Chính phủ, ta đừng giết nó. Này thằng biệt kích, mày là thằng biệt kích chứ mày chưa được là thằng Thào Nhìa, bây giờ mày cũng như thằng tù binh năm trước bị bộ đội đánh đồn bắt được, rồi du kích sẽ giải mày xuống châu Yên xem mày có tội không.

   Thào Nhìa ngơ ngác:

   - Tôi không được ở nhà à?

   - Mày phải xuống cho ủy ban châu hỏi.

   - Tôi ra hàng các quan rồi mà?

   Bà Giàng Súa cũng vội hỏi to:

   - Nó lại đi đâu bây giờ?

   Có người nói:

   - Người bụng tốt thì đi đâu cũng không phải tù. Chính phủ hỏi xong rồi mày cũng được về thôi.

   - Còn đem uốn cho cái bụng mày thẳng lại đã.

   Rồi đùa:

   - Ai mượn nó bộ quần áo vằn này mặc để đi săn thì con hổ tưởng là họ hàng, cứ đến đứng trước mặt cho mà dắt về.

   - Cái đầu nó toàn ốc sên bám, khiếp thật thôi!

   Lát sau, một con ngựa thồ cồng kềnh những cái hòm điện đài, cái máy thu thanh, bộ quần áo Mèo mới, khẩu súng lục và nhiều thứ nữa, cả lưỡi câu có mồi đỏ giả, cả túi gạo với cái dù trắng phủ lên trên.

   Những người giải thằng biệt kích ra hàng đi chen qua giữa tiếng đùa cợt, tiếng cười. Cả đám vui bỗng ồn lên, không trang nghiêm hay im lặng căm thù như lúc nãy nữa.

   Bước chân Thào Nhìa đi lặng lẽ mà trong đầu thì xôn xao bóng mẹ già và đất quê. Nhưng cái miệng nó lại nói ra toàn lời thằng biệt kích đã được người ta dạy cho nói thế. Vừa đi vừa băn khoăn, phân vân, Thào Nhìa xuống châu Yên.

   Bà Giàng Súa, đến lúc này chỉ còn một tấm lòng mẹ thương con. Người mẹ thương đứa con xa đàn bấy lâu mà vẫn còn nhớ mình gốc là người Mèo, cho nên nó mới khôn thế, nó biết bỏ đường đế quốc mà nhớ ra được đường về với mẹ. Nó vừa sống lại trong một cái chớp mắt cho bà trông thấy, giờ nó lại phải đi đâu?

   Mỵ đứng lặng im. Những ngày ở rừng trước chỉ còn mờ mờ trong đầu cô gái mới lớn. Bộ quần áo dù kỳ quái và những câu nói khác lạ của thằng biệt kích chẳng có cái gì giống nhân dân ta, làm cho Mỵ không thấy được chỗ nào nó là anh em với mình.

   Bà Giàng Súa ngước theo:

   - Thế là thằng Khay chưa được nhìn mặt anh.

   Mỵ thản nhiên:

   - Nó còn là biệt kích, ông chủ tịch Tỏa đã bảo thế mẹ ạ.

   - Đời nó khổ hơn chúng mày nhiều. Thằng Nhìa!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4199



« Trả lời #19 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2020, 09:21:22 am »

VII


   Thào Khay đã xuống tới Ná Đắng.

   Con ngựa chạy qua làng, chân bước trên đá lóc cóc, rộn rã cả bóng tối chập choạng. Phía trong sàn, nhà nào cũng thấy lạt sạt tiếng chân người xô ra vách nhòm. Rồi các bếp vội tắt ngấm.

   Thào Khay quay lại. Ánh lửa leo lét trên vách nhà ai lúc nãy vừa trông thấy, đã biến mất. Thào Khay băn khoăn: sợ gì mà họ phải rấp bếp?

   Thào Khay nhớ chuyện mẹ kể: ngày xưa, cứ tối đến, ở Phiềng Sa, cướp vào làng nhiều như người đi chợ, nhà nhà lại dụi ngay lửa, rét đến cắt ruột cũng phải trốn vào rừng.    Thào Khay nhớ chuyện mẹ kể, rồi nhìn ra bốn bên chỉ thấy một bóng mờ lặng. Con ve núi kêu muộn, tiếng rền trong khe đá. Con suối đổ nước đôi hồi xa, thật xa. Những tảng đá thẫm đen nối lên giữa xóm, người lạ tưởng đây vẫn ở giữa rừng. Nhưng câu chuyện cướp vào làng mẹ kể ngày trước và cảnh Ná Đắng vắng vẻ buổi chập tối đã khiến Thào Khay nhớ tới nhiệm vụ ngày nay. Thào Khay tưởng mình đương là cả đơn vị tới giải phóng Ná Đắng. Nghĩ thế, thấy hăm hở lạ thường. Xóm này ở biên giới, luôn bị thói quen mê tín và những lời dọa nạt bao vây.

   Thào Khay nhìn quanh, thấy thoáng trong vách một nhà còn sáng bếp. Tự nhiên, Thào Khay đoán đây nhà trưởng thôn Pàng.

   Đúng nhà Pàng. Pàng và vợ ngồi như hai cái cột. Thấy người lên ngoài thang, không đứng dậy, chỉ buồn bã ngảnh mặt nhìn ra.

   Thào Khay hỏi to:

   - Đồng chí Pàng à, tôi là y sĩ Thào Khay. Con ốm đâu cho tôi xem nào…

   Câu nói ấy thúc Pàng tỉnh. Câu nói to rức lên một niềm tin. Pàng cúi thổi lửa, châm đóm.

   Cái đóm bùng cháy, Thào Khay trông thấy hai vợ chồng và đứa con ốm với đứa con khỏe cùng rúm lại bên bếp lửa.

   Mấy hôm rồi, vợ chồng Pàng tưởng như bé chẳng còn biết thương cha mẹ nữa. Bé mà chưa bỏ đi vì đống lửa ấm này chưa tắt. Vợ chồng Pàng chỉ còn biết cặm cụi, chăm chút vào đống lửa ấm giữ người, giữ bé đừng chết vội.

   Bé như cái xác ở trần, chân và tay gầy bằng nhau, còn cái đầu thì càng to ra. Cả người bé xám lẫn với bóng tối, nghe tiếng môi chóp chép. Anh của bé khỏe mạnh thì kề đầu về phía lửa, nằm ngoan ngoãn xếp tay vào đùi, ngủ ngáy ngon lành.

   Thào Khay giục giã, nhộn nhịp:

   - Thắp đèn lên. Không sợ, không sợ cái gì cả!

   Mỗi cử chỉ và một tiếng nói của người thày thuốc mạnh dạn toang toang có sức lôi Pàng đứng dậy. Pàng thò tay móc ống cột, lấy chai dầu hỏa, lại nhấc ra cả cái phao đèn trơ trụi không có bóng. Lần này thì Pàng châm đèn. Thắp đèn lên! Thắp đèn lên! Pàng nghe Khay giục thế liền làm theo ngay. Ánh lửa dầu bấc lung lay. Dù sao thì như vậy là ánh đèn dầu hỏa đã lên đều, tỏa sáng đến tận sau lưng cái cột đằng kia.

   Sáng đèn, tiếng nói chan chứa tinh thần của Thào Khay, "hòm đạn" (cái túi da đựng thuốc, Pàng ngỡ hòm đạn) và khẩu súng trên vai Thào Khay hạ xuống, những mới lạ ấy cứ mỗi lúc lại đem thêm hơi sống ấm áp phả trên nét mặt thảm đạm của vợ chồng Pàng. Người vợ lúc nãy rũ rượi, bây giờ lặng nhìn Thào Khay với cái đèn và đứa con ốm, mặt sang sáng hy vọng.

   Pàng từ từ lại gần Thào Khay, hỏi như chào:

   - Đồng chí Thào Khay đến à!

   Thào Khay đương chăm chú nhìn bao quát một vòng quanh sàn. Con mắt Thào Khay nhanh nhẹn như lúc mặc áo "lui” trắng trong phòng thuốc. Rồi, trước hết, Thào Khay đến bế xốc thằng bé anh đương ngủ ra nằm sau xó cột.

   Ngoái lại, Thào Khay bảo Pàng:

   - Cho nó nằm xa tận đây này.

   Thào Khay gỡ ống nghe ra, đến cạnh bé. Từ nãy, mọi việc Pàng làm đều theo từng câu chỉ bảo của Thào Khay. Nhưng đến giờ, thấy Thào Khay đeo cái ống nghe lên tai, rờ tay vào con mình, Pàng khẽ nói:

   - Đồng chí Thào Khay à…

   Thào Khay đã hiểu Pàng định nói gì, Thào Khay bảo:

   - Yên nhé, tôi xem bệnh cho bé đây.

   Vợ Pàng sụt sịt khóc sau lưng Pàng vẫn nói, bạo dạn hơn, nhưng run rẩy như sắp khóc:

   - Tôi sợ.

   Thào Khay nhìn lên tờ giấy dán trên vách và nắm chân hương còn cắm gần đấy, mỉm cười:

   - Ma thì bảo cúng, tôi thì chữa bệnh, bên nào làm khỏi, nhân dân sẽ cho phục vụ. Không sợ đâu.

   - Tôi sợ lắm.

   - Làm trưởng thôn thì không sợ thằng mê tín nào cả.

   Vừa nói, Thào Khay điềm nhiên cúi xuống, lần lượt nghe ngực, lấy mạch của bé.

   Pàng nói vậy, nhưng rồi Pàng cũng đứng im nhìn Thào Khay. Vợ Pàng thì dần dần cứ lặng như ngây nhìn người thày thuốc, không còn biết sợ nữa.

   Con ốm ròng rã nhiều ngày, người ta đến bảo cúng. Chồng cương quyết: ta theo cách mạng thì không cúng. Nhưng cách mạng làm thế nào cho con khỏi ốm? Biết cách mạng làm thế nào? Những câu làng xóm rỉa róc "Mày làm trưởng thôn nên ma bắt con mày", lại đến cắn rứt. Thế là cúng. Cúng một lần rồi cúng hai lần. Nhưng cúng rồi mà bé vẫn rườn rượt héo ngoẹo, như cây thuốc phiện đứt rễ. Thôi, bé chẳng có lòng ở với bố mẹ, có phải chỉ tại mình làm trưởng thôn cho cách mạng không?

   Bây giờ Thào Khay đến, người của cách mạng đến. Lúc nãy chưa hiểu Thào Khay đến làm gì, chỉ biết Thào Khay đến với mình, những nỗi băn khoăn của Pàng đương được cởi ra. Bây giờ lại thấy cách mạng chữa bệnh, làm thế đấy. Trong lòng chan chứa những lo, những tin. Niềm tin le lói, rồi rạng lên. Cho dù cực khổ hiểm nghèo tới đâu, không bao giờ người Xá tắt lòng tin. Các làng Xá dọc suối đầy lòng tin, đã chở đò cho cách mạng vào khắp Tây Bắc ngày trước đấy.

   Thào Khay gỡ một bên tai, cái ống nghe trễ xuống ngực áo:

   - Không, bé không việc gì đâu. Còn kịp.

   Rồi Thào Khay cắt nghĩa cho vợ chồng Pàng - thói quen mỗi khi người thày thuốc khám bệnh xong:

   - Ỉa chảy lâu thành nhiễm trùng, lại hết cả nước trong người. Trẻ con nó chưa biết nói thôi, chứ môi khô mấp máy thế là khát lắm.

   Thào Khay bắt đầu đặt xoong đun nước. Dao, kéo, kim tiêm, kìm gắp sáng nhoáng được bày ra bên cạnh một lọ thuốc đỏ. Cẩn thận, đã có sẵn cả mấy chiếc tăm dài quấn bông sạch sẽ, dựng ngược lên.

   Bé chóp chép uống thuốc, ngoan ngoan, mệt mỏi. Lúc tiêm, Thào Khay bảo Pàng bế, giữ chân bé. Pàng ẵm con, quay mặt đi. Nhưng bé yếu đến nỗi không còn sức quẫy. Bé chỉ hơi cựa chân lúc thích mũi tiêm. Tiêm liền mấy ống nước, kim tiêm nằm thật lâu, vồng cả cái bắp đùi tý tẹo khẳng khiu. Bé vẫn thiếp trong tay bố, mắt đờ đẫn.

   Thào Khay bảo Pàng ủ lót thêm cho bé.

   Vợ chồng Pàng làm theo lời thày thuốc và dần dần bình tĩnh trở lại. Những việc lạ lùng này chưa bao giờ họ biết đến, nhưng trong lòng đã bốc dần nguồn tin, như Thào Khay.

   Bé nằm im. Thuốc vào, cơ thể bé chưa bao giờ biết thuốc, ngấm nhanh. Bé yên yên. Tiếng thở nặng trịch lúc nãy cứ man mát, thoang thoảng nhẹ dần.

   Suốt đêm, ngoài trời rào rào tiếng mưa, tiếng nước chảy. Trước những cảnh khó khăn thế này, người thày thuốc đã quen điềm tĩnh và nghĩ: ta chữa đúng mặt thuốc, cứu được em bé làm cho mọi người tin tưởng y tế, tiếng đồn tốt lành sẽ bay đi rất xa. Nghĩ thế, Thào Khay háo hức, bồng bột và khó ngủ, chốc lại đến xem em bé nằm.

   Quả nhiên, bé cầm ỉa và ngủ yên. Sáng ra, làn môi bé cười mụ hơi cong lên, bớt khô trắng, tứa chút nước bọt. Bé chợt thức. Hai mắt bé thao láo, nhẹ nhõm và xinh xắn trở lại trông cũng biết sống rồi!

   Thào Khay bảo vợ chồng Pàng:

   - Mới chuyển thôi. Phải theo cho đến lúc chắc chắn bệnh thật lui mới được.

   Đột ngột, Pàng ngó Thào Khay, hỏi xỗ:

   - Ở nữa à?

   Thào Khay nhìn Pàng rất nhanh, con mắt dò hỏi, rồi nói:

   - Ừ.

   Pàng tự nhiên bảo Thào Khay:

   - Hôm nay có thày cúng đến. Hẹn hôm trước rồi. Có làm sao không?

   - Ừ.

   - Cán bộ có đánh nó không?

   - Chỉ giải thích thôi, không đánh.

   Thào Khay đặt kế hoạch: "Thày cúng đến đây a? Được. Ta sẽ giải thích cho cái lão ma ấy phải mở mắt theo khoa học". Thào Khay đã định rõ công tác khi xuống đây rồi. Có hai việc: một là chữa bệnh cho con Pàng, hai là xem tình hình nhân dân đối với y tế, kết hợp tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh. Vậy thì nói chuyện với thày cúng, cũng là dịp tốt. Thào Khay không ghét thày cúng, Thào Khay hiếu nghĩa giản dị: thày cúng cũng như người già, thường hay buồn, thích gặp người chết và tính lẫn lộn.

   Vẻ mặt Pàng vui hơn. Có lẽ vì Thào Khay vừa nói Thào Khay sẽ không đánh thày cúng. Pàng liền bảo: để đấy, Pàng đi cắt cỏ cho ngựa, Thào Khay có đi đâu cứ đi, chốc nữa về ăn cơm.

   Vợ Pàng và bé lớn đeo giỏ ra suối.

   Dòng suối đục lờ, mưa rừng gần mới tràn ra đêm qua, cuồn cuộn ôm theo cả rác rưởi và những cây gỗ mục. Nước lũ mới thì loãng cá. Nhưng mùa lũ hay mùa kiệt, chẳng lúc nào người Xá có thể rời được con suối nuôi mình.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM