Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Bảy, 2020, 01:11:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến tranh điện tử  (Đọc 1899 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24010


« Trả lời #40 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2020, 07:14:13 am »


        Ngoài hệ tọa độ là thiết bị do chính, hệ thống tự dẫn còn có những thiết bị đo phụ như con quay, máy đo gia tốc ngang, máy đo góc..., bảo đảm cho tên lửa bay ổn định.

        Có thể tiến hành chế tạo tên lửa tự dẫn đến nguồn bức xạ sóng điện từ ở bất cứ tần số nào. Tuy nhiên, đó chỉ là nguyên lý. Việc chế tạo chúng ở mỗi một dải tần số  còn gặp những khó khăn nhất định.

        Hồi chiến tranh thế giới lần thứ hai, những hệ thống tên lửa, dầu đạn, bom tự, dẫn đã được thiết kế và sử dụng. Đức đã chế tạo hệ thống Mác - R dẫn tên lửa phòng không tới các máy bay cổ trang bị ra-đa bước sóng 3,1 cm. Hệ điều khiển tên lửa này, có cấu trúc đơn giản gồm 4 ăng-ten thanh điện mồi, 2 cái chuyển mạch làm việc đồng bộ với nhau, hai rơ-le phân cực truyền tín hiệu đến thiết bị lái và máy thu khuếch đại trực tiếp.

         

        Hướng mục tiêu được xác định theo vùng cân bằng tạo bằng các cặp ăng-ten. Cặp ăng-ten (l và 2) tạo ra vùng cân bằng trong mặt nằm ngang, còn cặp ăng-ten kia (3 và 4), trong mặt thẳng đứng. Khi nguồn bức xạ sóng vô tuyến (trường hợp này là ra-đa máy bay) ở trên đường cân bằng, các tín hiệu ở lối ra 4 ăng-ten đều bằng nhau. Các tín hiệu này, qua chuyển mạch 1 vào máy thu. Tín hiệu ở lối ra máy thu qua chuyển mạch II đưa đến các rơ-le phân cực Rn và Rđ.

        Do 2 chuyển mạch quay đồng bộ và đồng pha nên đài rơ-le Rn chỉ có các tín hiệu từ ăng-ten mặt nằm ngang (l, 2), còn đến rơ-lc Rd chỉ các tín hiệu từ ăng-ten mặt thẳng đứng (3, 4). Khi tín hiệu trong mỗi cặp ăng-ten bằng nhau, điện áp ở hai đầu cuộn dây rơ-le bằng nhau, bản tiếp điện rơ-le sẽ nằm ở vị trí trung gian,

        Nếu nguồn bức xạ nằm lệch hướng cân bằng, các tín hiệu ở lối ra ăng-ten không bằng nhau nữa, lúc đó sẽ xuất hiện điện áp sai số đặt vào các cuộn dây rơ-le, và tiếp điểm sẽ nghiêng về phía có tín hiệu ăng-ten lớn hơn. Tiếp điểm đó sẽ đóng mạch máy lái quay cánh lái tên lửa để lái tên lửa đến khi nào trục cân bằng đầu tự dẫn gắn chặt với thân tên lửa hướng về phía mục tiêu.

        Ngoài thiết bị Mác-R, phát xít Đức còn thiết kế mẫu bom tự dẫn đến các máy phát trên mặt đất, làm việc ở dải sóng cực ngắn và sóng ngắn nhãn hiệu Ra-di-hen.

        Khi có nhiều phương tiện vô tuyến cùng hoạt động, để bảo đảm cho tên lửa tự dẫn đến một mục tiêu xác định, máy thu đầu tự dẫn được lắp thêm thiết bị chọn lọc theo góc, theo tần số, theo độ dài xung, theo tần số lặp lại, hoặc theo mức công suất cần thiết tối thiểu, còn bản thân tên lửa được dẫn đến vùng mà tín hiệu mục tiêu đủ tác dụng lên đầu điều khiển, nghĩa là đến vùng công suất bức xạ tín hiệu của mục tiêu vượt công suất bức xạ của các phương tiện vô tuyến điện tử cùng loại.

        Các nước đang nghiên cứu và chế tạo loại vũ khí này, coi đó là một trong những trang bị để tiến hành chiến tranh điện tử.

        Hiện nay, Mỹ có loại tên lửa chống ra-đa mang tên Srai-cơ AGM-45A, nặng 227 kg, dài 3,5 m, đường kính 20 cm, tốc độ bay khoảng 800 m/gy. Tên lửa này, được trang bị cho các máy bay hiện đại của chúng. Sau khi phóng, nó không cần liên hệ với máy bay nữa, máy bay có thể cơ động được ngay. Nói chung, đấy là ưu điểm của loại tên lửa tự dẫn thụ động.

        Tên lửa thụ động chống các nguồn bức xạ mang sẵn nhược điểm cơ bản của phương pháp thụ động. Đó là khi tắt máy phát, mất nguồn bức xạ thì tên lửa sẽ mất điều khiển. Hơn nữa, khi phóng từ trên xuống đến quỹ đạo bay của tên lửa có nhiều phức tạp khi có sự phản xạ từ địa hình, cũng như khi có nhiều nguồn bức xạ cùng làm việc, gây ra sai số về xác định phương hướng, và do đó sẽ không đánh trúng mục tiêu.

         
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24010


« Trả lời #41 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2020, 07:16:10 am »


        Đi tìm nguồn nhiệt:

        Ta đã biết các phần địa vật bị đốt nóng, các thiết bị bay với tốc độ lớn và các luồng phụt của động cơ là, những nguồn bức xạ hồng ngoại. Định vị các nguồn hồng ngoại có khả năng phân biệt rất cao về góc so với dải sóng vô tuyến. Như thế các nguồn hồng ngoại trở thành mục tiêu cho những loại vũ khí tìm nhiệt.

         

        Trong các loại vũ khí này, có máy định vị hồng ngoại tự dẫn. Vai trò ăng-ten trong đầu tự dẫn là một hệ thống quang học hội tụ tia hồng ngọại vào bộ biến đổi năng lượng.

        Tia hồng ngoại (l) từ nguồn hồng ngoại đi qua nắp trong suốt (2) của đầu tên lửa, vào hộ thống quang học (gương 3 và 4) hội tụ lại qua thiết bị điều chế (9), đến phần tử nhạy cảm (quang điện trở 5).

        Thiết bị điều chế là phần tử làm cho đầu tự dẫn dễ dàng « nhìn » thấy nguồn bức xạ trên nền nhiễu của nguồn bức xạ khác. Vì các nguồn bức xạ khác tuy có công suất kém hơn (độ sáng kém hơn) nhưng cũng gây nhiễu, cản trở việc xác định chính xác nguồn bức xạ chính.

        Thiết bị điều chế thường có dạng đĩa quay tròn quanh trục nhờ một động cơ. Nhờ có đĩa điều chế, đầu tự dẫn «biết» được độ lệch của hướng bay của đạn so với hướng mục tiêu, nhờ đó hệ thống tạo lệnh mới tính toán được lệnh cần thiết. Trên quang điện trở sẽ xuất hiện điện áp tỷ lệ với độ lệch đó. Điện áp này được đưa vào bộ khuếch đại (6), sau đó vào thiết bị tạo lệnh (7) để điều khiển cơ chế thừa hành (Cool lái đạn đến nguồn bức xạ.

        Một thí dụ về vũ khí tự dẫn hồng ngoại là tên lửa Rết-ai của Mỹ. Đó là tên lửa phòng không loại nhỏ, năm 1965 đã trang bị cho quân đội.

         

        Trọng lượng toàn bộ khí tài 13 kg, nặng 8,2 kg, dài 1,219 m, đường kính thân 6,98cm, sải cánh ổn định ở đuôi 0,165 m, sải cánh lái 0,127 m.

        Bộ khí tài này do một người mang vác và chiến đấu gọi là xạ thủ — trắc thủ.

        Trắc thủ phát hiện và chọn mục tiêu để bắn bằng thiết bị quang học có độ khuếch đại 1,5 lần, trường nhìn 25 độ. Để bảo đảm báo hiệu nhanh chóng nhất cho trắc thủ chuẩn bị phóng, ngoài chỉ thị bằng đèn, khi đầu tự dẫn bắt được mục tiêu còn có chỉ thị bằng âm thanh phát ra ở bên cạnh súng phóng.

        Thiết bị dẫn tên lửa gồm đầu tự dẫn thụ động hồng ngoại và khối điện tử trên tên lửa. Nắp tên lửa làm bằng kính cho đi qua khoảng 82% bức xạ hồng ngoại trong dải sóng 0,4 - 4 mi-crông.

        Ống phóng khi đựng tên lửa, được đậy kín và nạp khí ni-tơ. Khi chuẩn bị phóng, sẽ nạp nguồn làm lạnh cho yếu tố nhạy cảm của đầu tự dẫn hồng ngoại làm tăng thêm khả năng bắt mục tiêu của tên lửa. Khối nguồn làm lạnh chi dùng được một lần. Nếu mở nguồn mà không phóng tên lửa, phải thay khối khác.

        Sau 0,6 gy động cơ tên lửa làm việc, tên lửa được đẩy đi. Lực đẩy tên lửa phát triển hoàn toàn trong ống phóng truyền cho tên lửa gia tốc lớn gấp 6 lần gia tốc trọng trường, làm cho tên lửa bay theo quán tính được một quãng cách vị trí phóng khoảng 7,3 m. Lúc này, động cơ hành trình mới được phát động, và tên lửa bay đến gặp mục tiêu với vận tốc siêu âm.

        Mạch chiến dấu được dóng lại sau 1,6 gy sau khi phóng. Nếu không gặp mục tiêu, tên lửa tự hủy sau khi bay được 15 gy.

        Độ cao cực đại của tên lửa: 1,5 km; cự ly bắn: dưới 5km.

        Tên lửa này khi bắn máy bay có nhược điểm là chỉ phóng đuổi theo máy bay, vì nguồn nhiệt được phụt ra từ phía sau máy bay.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24010


« Trả lời #42 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2020, 07:19:05 am »


CHƯƠNG IV

VÔ TUYẾN TRONG TRINH SÁT

        I. YÊU CẦU PHẢI ĐẠT ĐƯỢC

        Biết người biết mình, trăm trận trăm thẳng. Điều ấy, như một chân lý dễ hiểu. Để tiến hành chiến tranh thắng lợi, không thể thiếu công việc tình báo, trinh sát, tìm mọi cách để liên tục nhận được tin tức chính xác về lực lượng, vị trí và ý đồ đối phương.

        Nội dung và yêu cầu trinh sát có nhiều mặt và thường biến động. Những yêu cầu đó bao gồm thời gian và không gian trước khi xảy ra chiến tranh, lúc đang diễn ra trận đánh, và cả trong hòa bình. Yêu cầu chính xác về thời gian gần như tức thời đến hàng phút, hàng giờ; về khoảng cách, từ vài mét đến sâu trong lãnh thổ đối phương; về điều kiện trinh sát thì phải tiến hành trinh sát cả ban ngày, ban đêm, trong mọi thời tiết, trên mọi địa hình.

        Với nhiều yêu cầu phức tạp như thế cần phải xây dựng một hệ thống trinh sát sao cho có thể nhận được tất cả các tin tức cần thiết.

        Trinh sát này, cho những tin tức chủ yếu về quan điểm chính tri, đường lối chiến lược, về tiềm lực kinh tế, quốc phòng, về tổ chức lực lượng, về tình hình trang bị vũ khí, kỹ thuật.

        Phương tiện trinh sát chiến lược như vệ tinh, máy bay. Ngoài vệ tinh do thám, Mỹ đã chế tạo nhiều loại máy bay trinh sát chiến lược như SR-71, U-2. Máy bay trinh sát chiến lược cơ bản của Mỹ là SR-71 bay cao và bay nhanh, một máy bay SR-71 bay trong 1 giờ có thể trinh sát trên khu vực rộng 150.000km2.

        Trinh sát trực tiếp (cỏn gọi là trinh sát chiến thuật):

        Tiến hành trước trận đánh, nhằm xác định vị trí tập kết bộ đội, khí tài, ý đồ đối phương... Trinh sát trực tiếp bảo đảm thắng lợi cho từng trận đánh, từng chiến dịch.

        Về các loại phương tiện kỹ thuật dùng trong trinh sát, người ta đã vận dụng nhiêu lĩnh vực khoa học kỹ thuật vào việc trinh sát từng loại đối tượng cần trinh sát. Các phương tiện này, ngày càng được phát triển phong phú về chủng loại, sắc bén về tính năng, có thể thu thập khối lượng lớn tin tức chính xác về đối phương.

        Trinh sát bằng khí tài quang ngày nay vẫn là một trong những khí tài trinh sát cơ bản. Ngoài ống nhòm cổ điển, quân đội các nước còn tăng cường khả năng của chúng bằng những trang bị điện tử phức tạp như kính nhìn đêm khuếch đại ánh sáng yếu. Với nhiều tầng khuếch đại cường độ sáng của ảnh, nhìn được rõ hơn, quang cảnh ban đêm có thể được thấy rõ như khi rạng đông hoặc lúc hoàng hôn.

        Loại này, thích hợp cho cá nhân hay cho một nhóm nhỏ người. Có loại được lắp trên máy bay.

        Các thiết bị chụp ảnh đã được hoàn thiện bảo đảm ảnh chụp rõ, độ phân biệt cao, khoảng cách xa. Nhờ vệ tinh nhân tạo và máy bay tốc độ lớn, bay cao, và máy bay không người lái mà kỹ thuật truyền ảnh và xử lý tin tức, trinh sát bằng chụp ảnh đã phát triền mạnh mẽ.

        Vệ tinh trinh sát thích hợp nhất ở độ cao 150 - 200 km. Từ độ cao như vậy, với các phương tiện chụp ảnh hiện đại có thể thu vào mỗi ảnh một vùng đất rộng 300 - 400 km2.

        Khi cuộc chiến tranh giữa I-xra-en và Ai Cập bùng nổ, vệ tinh trinh sát Rít-bớc của Mỹ đã liên tục bay qua bán đảo Xi-nai để chụp ảnh. Ảnh truyền từ vệ tinh về cho thấy rõ cả xe cộ, cầu phà, sân bay.

        Trinh sát chụp ảnh từ độ cao 20 km cho hình ảnh mặt đất với tỷ lệ 1/3.300. Trên phim ảnh, đường rộng 6m hiện lên thành vệt có chiều ngang gần 2 mm. Trường hợp máy bay bay ở độ cao thấp, cách mặt đất khoảng 300 - 500 m thì ảnh chụp được cả những chi tiết nhỏ, có thể biết được cửa sổ của ngôi nhà là cửa chớp hay của kính.

        Tại hội chợ hàng không lần thứ l0 (1974) ỏ Tây Đức, Liên Xô đã trưng bày máy bay trinh sát chụp ảnh AN-30. Máy bay có tầm hoạt động 2.400 km, lập được bản đồ tỷ lệ 1/10 000 và 1/150.000.

        Các khí tài xen-xơ ra đời là một biến đổi lớn trong phương tiện trinh sát. Các cơ quan tình báo, phản gián, an ninh cũng như quốc phòng hy vọng rất nhiều ở kết quả của những máy trinh sát xen-xơ này.

        Xen-xơ (sensor) là thuật ngữ Mỹ để chỉ các bộ nhạy cảm điện tử. Bộ nhạy cảm sẽ biến các đại lượng không phải điện như âm thanh, sự rung động, sự chấn động, biến thiên từ trường... thành tín hiệu điện. Tín hiệu này được điều chế và phát về trung tâm theo dõi.

        Nhờ các xen-xơ, ở trung tâm theo dõi có thể nghe được tiếng nói của người trao đổi với nhau, tiếng động máy móc, hoặc qua phát hiện chấn động mặt đất để biết có người, xe đi qua.

         

        Tín hiệu không phải điện cần trinh sát, do bộ phận nhạy cảm thu được dưới dạng tín hiệu điện, được khuếch đại, rồi đưa sang bộ phận điều chế. Khối điều chế tín hiệu sơ bộ xử lý, rồi đưa vào điều khiển máy phát để phát về trung tâm thu các tin tức cần thiết.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24010


« Trả lời #43 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2020, 02:03:28 pm »

   
        Trước đây, những máy nghe trộm (nghe âm thanh) cũng có sơ đồ khối tương tự như trên. Âm thanh được bộ nhạy cảm âm thanh biến thành tín hiệu điện, khuếch đại, rồi đưa sang điều chế máy phát. Người nghe chỉ cần mở máy thu ở làn sóng làm việc của máy phát là có thể theo dõi được những người khác nói gì với nhau. Hiện nay, kỹ thuật đã phát triển đến mức cho phép chế tạo các bộ nhạy cảm cả với các đại lượng vật lý không phải là điện.

        Người ta được biết, cuộc chiến tranh điện tử dùng các «xen-xơ kỳ diệu» đang diễn ra trong nước Mỹ. Ở đấy, họ dùng các phương tiện trinh sát vào bất cứ mục đích gì.

        Trong một bữa tiệc chiêu đãi các thượng nghị sĩ, đã tìm được một xen-xơ rất nhỏ với một ăng-ten phát nhỏ như cái kim, thả trong một chai rượu Mác-ti-ni.

        Cơ quan tinh báo CIA thường dùng một loại xen-xơ thả trong các vườn có khả năng phát hiện từ xa vài chục mét những rung động của kính cửa sổ một căn buồng đóng kín, nhờ đó nghe trộm được mọi chuyện, dù căn buồng ấy đã được cách âm.

        Hai phần ba các công ty lớn của Mỹ than phiền là đã tìm thấy các thiết bị trinh sát điện tử trong phòng làm việc. Một công ty quan trọng ở Đi-tơ-roi tìm thấy 9 máy quay phim vô tuyến truyền hình đặt trong các quạt trần của phòng thiết kế, tất cả các bản vẽ đều được truyền đến phòng thiết kế của một công ty cạnh tranh.

        ... Và vụ đặt máy nghe trộm ở khách sạn Oa-tơ-ghết cũng là một thí dụ về loại đó.

        . Khi các xen-xơ ra dời, giới khoa học quân sự Mỹ đã dùng nó làm lính gác điện tử để phát hiện đối phương, và chúng đã thí nghiệm đầu tiên ở Việt Nam, gọi là (< Hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra »
  
Tháng 6-1966, trước khó khăn trong việc phát hiện đối phương, Mác Na-ma-ra (lúc đó là Bộ trưởng quốc phòng Mỹ) ra lệnh thành lập cơ quan nghiên cứu do một tướng ba sao chỉ huy. Sau 15 tháng, cơ quan này đã thiết kế chế tạo thí nghiệm hàng chục loại xen-xơ và vạch ra phương án sử dụng. Tháng 12-1967, hệ thống các xen-xơ được đem rải dọc phía nam khu phi quân sự.

        Thực chất, nó là một tuyến phòng thủ gồm một hệ thống dày đặc những căn cứ hỏa lực, bãi mìn, những đơn vị cơ động, phi đội máy bay trinh sát, quan sát, và hệ thống báo động điện tử.

        Hệ thống báo động điện tử gồm nhiều máy xen-xơ rải trên mặt đất cùng với một hệ thống chuyển tiếp tín hiệu về trung tâm xử lý.

        Các trạm chuyển tiếp thường là những máy bay được trang bị đặc biệt, bay thường trực trên cao nhận tin tức rồi gửi về trung tâm xử lý ở dưới đất.

        Các trung tâm xử lý có hai loại:

        Ở phạm vi chiến thuật, trung tâm xử lý là một máy thu vô tuyến điện cỡ nhỏ, nặng khoảng 10 kg kèm theo các thiết bị như: bộ ghi in tin tức lên một băng giấy dịch chuyển, mỗi bộ ghi có khả năng ghi nhận hoạt động của 30 máy cảm ứng; bản đồ sáng, ứng với mỗi vị trí đặt máy báo hiệu, khi xen-xơ gửi tín hiệu về, thiết bị sẽ sáng lên; bộ thu số biến đổi tin tức thành các số liệu cho các máy tính.

       

        Ở phạm vi chiến lược, trung tâm xử lý là một cơ quan lớn (đặt ở Na-khon Pha-nom — Thái-lan) có đặt máy tính. Các tin tức từ máy cảm ứng gửi qua máy bay chuyển tiếp về trung tâm sẽ đi thẳng vào máy tính, chuyển thành số liệu cụ thể biểu hiện hoạt động xảy ra quanh từng máy cảm ứng. Các số liệu này được chuyển đến đài chỉ huy (thường là hai máy bay C.130E bay trên đất Lào).
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Ba, 2020, 05:42:38 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24010


« Trả lời #44 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2020, 05:46:44 pm »

   
        Căn cứ vào tin tức nhận được, trung tâm xử lý sẽ phát lệnh cho các lực lượng chiến đấu đến đánh phá mục tiêu đã phát hiện. Nếu các mục tiêu di động (đoàn xe chẳng hạn) trung tâm xử lý phải tính toán xác định địa điểm oanh tạc. Địa điểm oanh tạc là khu vực mà đoàn xe có thể đi qua tại thời điểm máy bay đến ném bom.

        Trên thực tế, hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra chưa được đặt xong hoàn toàn vì các xen-xơ để lộ ra một loạt nhược điểm như độ tin cậy kém, tin tức thiếu chính xác, tốn kém. Chính vì vậy, trên tuyến vận tải của ta, địch vẫn phải dùng máy bay (AC.130, OV.10) tiến hành các biện pháp trinh sát thông thường và đánh phá trực tiếp, hay chỉ điểm cho những máy bay khác đến đánh phá khi chúng phát hiện ra mục tiêu. Tuy nhiên, việc mô tả hàng rào này cũng cho ta một hình ảnh ví một hệ thống trinh sát quân sự hiện đại của Mỹ.

        Các máy trinh sát xen-xơ không chỉ được dùng với một phạm vi lớn như vậy, mà còn được dùng trong phạm vi nhỏ như bảo vệ một chốt chẳng hạn. Đó là những máy đặt bằng tay gọn, nhẹ hoạt động ờ tầm gần hơn. Phổ biến nhất là máy trinh sát chấn động PSID trang bị cho các tổ tuần tra.

       

        Mỗi bộ có các máy xen-xơ và một máy thu. Các máy xen-xơ được đặt ở quanh vị trí cảnh giới, nơi nào nghi đối phương có thể tiến công hoặc qua lại. Còn máy thu đặt ở trực ban chiến đấu. Nếu có người đi qua, đất bị chấn động, xen-xơ làm việc, máy trinh sát gửi tín hiệu về báo động để trực bạn chiến đấu tìm biện pháp đối phó.

        Trinh sát các phương tiện vô tuyến điện từ, hiên nay, bên cạnh các thiết bị trinh sát tinh vi như vậy, với việc sử dụng rộng rãi các khí tải vô tuyến điện tử trong tất cả các quân chủng, binh chủng, một lĩnh vực trinh sát mới ra đời, đó là trinh sát các phương tiện vô tuyến điện tử.

        Trinh sát vô tuyến điện tử lấy tin tức về đối phương bằng cách thu và phân tích các năng lượng điện từ do các hệ thống vô tuyến điện của đối phương bức xạ ra.

        Những tín hiệu thu được thường được ghi lại và chuyển về cơ quan tình báo phân tích. Hiểu được các mối quan hệ giữa các dặc trưng kỹ thuật của các tín hiệu bắt được, sự phân bố các nguồn bức xạ, sự di chuyển của chúng, mật độ bức xạ và phương thức hoạt động của đối phương, có thể cho ta một khái niệm về chiến thuật và ý đồ của đối phương.

        Trong phạm vi chiến thuật, trinh sát vô tuyến điện tử báo động cho bộ đội, như các tổ lái máy bay, tàu chiến khi bị các phương tiện điều khiển hỏa lực chiếu xạ chuẩn bị tiến công, hoặc giúp cho bộ đội tiêu diệt mục tiêu, như dẫn máy bay đến khu vực có mục tiêu.

        Phải nói rằng, trinh sát vô tuyến điện tử là hình thức kết hợp thú vị nhất giữa tình báo quân sự thông thường với các phương tiện vô tuyến điện tử, cho phép nắm được các tham số chiến thuật, kỹ thuật của từng phương tiện để tiến hành đấu tranh chống lại chúng có hiệu quả. Trinh sát vô tuyến điện tử chính là cơ sở của chiến tranh điện tử.

        Trinh sát vô tuyến điện tử lấy tin tức về đối phương bằng cách thu và phân tích các năng lượng điện từ do các hệ thống vô tuyến điện của đối phương bức xạ ra.

        Những tín hiệu thu được thường được ghi lại và chuyển về cơ quan tình báo phân tích. Hiểu được các mối quan hệ giữa các dặc trưng kỹ thuật của các tín hiệu bắt được, sự phân bố các nguồn bức xạ, sự di chuyển của chúng, mật độ bức xạ và phương thức hoạt động của đối phương, có thể cho ta một khái niệm về chiến thuật và ý đồ của đối phương.

        Trong phạm vi chiến thuật, trinh sát vô tuyến điện tử báo động cho bộ đội, như các tổ lái máy bay, tàu chiến khi bị các phương tiện điều khiển hỏa lực chiếu xạ chuẩn bị tiến công, hoặc giúp cho bộ đội tiêu diệt mục tiêu, như dẫn máy bay đến khu vực có mục tiêu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24010


« Trả lời #45 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2020, 05:50:00 pm »

 
        Tổng hợp lại, trinh sát vô tuyến điện tử cho những loại tin tức về các đối tượng sau:

        — Loại hệ thống phương tiện vô tuyến điện từ: Cần phải xác định phương tiện vô tuyến điện tử trinh sát đó thuộc loại gì: ra-đa quan sát, dẫn đường, truyền số liệu, hệ thống liên lạc, hệ thống điều khiển hỏa lực, hệ thống dẫn tên lửa, hay hệ thống phát hiện từ xa.

        Nhiệm vụ của mỗi phương tiện trong một chừng mực nào đó có thể xác định bằng các tham số: điều chế, đặc trưng ăng-ten, tần số công tác, công suất bức xạ. Những đặc trưng đó là những đặc điểm điện tử của mỗi hộ thống, cho phép xác định mối quan hộ giữa tín hiệu và nhiệm vụ của hệ thống.

        — Phương pháp và thủ đoạn chiến thuật sử dụng các phương tiện vô tuyến điện'tử: Trên cơ sở thu được những sóng điện từ và các đặc trưng của chúng, có thể xác định ở đâu, khi nào đối phương dùng loại phương tiện vô tuyến, loại vũ khí nào.

        — Vị trí và khâu yếu nhất, dễ bị phá hoại nhất trong việc bảo đảm kỹ thuật vô tuyến điện tử: Cần xác định được mật độ, sự phân bố các nguồn bức xạ của các loại phương tiện vô tuyến điện tử; có thể xác định vùng phân bố và số lượng các đài ra-đa điều khiển tên lửa, các đài dẫn tên lửa. Từ đó, có thể vạch kế hoạch bố trí lực lượng chống lại các hoạt động của chúng.

        — Phương pháp và hiệu quả bảo vệ của chúng: Khi bị gây nhiễu, đối phương phải sử dụng các biện pháp chống nhiễu, tìm hiểu khả năng chống nhiễu của đối phương là một khâu quan trọng giúp ta tìm được biện pháp gây nhiễu hiệu quả hơn.

        — Trang bị, tổ chức và khả năng tiến hành các hoạt động chống bức xạ của đối phương: Trinh sát được điều này, có thè đề ra biện pháp thích hợp, thiết kế những phương tiện phù hợp để bảo vệ các khí tài vô tuyến điện từ.

        — Xác định trình độ phát triển kỹ thuật vô tuyến điện từ: Đối phương luôn luôn tìm cách hoàn thiện các khí tài. Ngày nay, các hệ thống vô tuyến điện tử mới thường có dải tần số công tác rộng, dạng điều chế phức

        tạp, phương pháp quan sát không gian và các đặc trưng ăng-ten mới. Đó là nhũng dấu hiệu cho thấy xuất hiện loại khí tài mới, hoặc phương pháp mới trong khi sử dụng các khí tài cũ.

        Trinh sát để biết được những phương tiện vô tuyến điện tử của đối phương còn ở trong giai đoạn thiết kế hoặc thực nghiệm, sẽ cho phép kịp thời tìm các biện pháp chống lại.

        Trinh sát vô tuyến điện tử là một lĩnh vực vô cùng quan trọng của chiến tranh điện tử. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong những lúc cần thiết, các bên tham chiến đều tổ chức những đội trinh sát gồm các chuyên gia của nước mình, nhất là khi đối phương, sử dụng những khí tài vô tuyến điện tử mới có hiệu quả cao.

        Hồi ấy, các máy bay Anh có ra-đa làm việc ở sóng đề-xi-mét để phát hiện tàu ngầm Đức khi chúng nổi lên mặt nước. Để tránh bị phát hiện, quân Đức đặt trên các tàu ngầm máy thu nhận tín hiệu của ra-đa phát của quân Anh trước khi ra-đa có thể phát hiện được tàu ngầm, do đó tàu ngầm có đủ thì giờ lặn xuống nước, hiệu quả các cuộc săn bắt tàu ngầm giảm đi.

        Khi quân Anh thấy hiện tượng như vậy dã dự đoán rằng quân Đức dùng máy báo động, và bắt đầu dùng ra-đa ở dải sóng xăng-ti-mét. Hiệu quả săn tàu ngăm lại tăng lên.

        Quân Đức tưởng đối phương dùng các máy phát hiện hồng ngoại, nên tập trung sức lực vào việc giảm các nguồn hồng ngoại của tàu ngầm. Trong một thời gian dài, hoạt động của tàu ngầm Đức bị hạn chế.

        Nếu biết được điều đó sớm, quân Đức chỉ cần có một máy thu khuếch đại trực tiếp, không nhạy lắm, cũng đã đủ hiệu quả. Và việc đó đỡ tốn kém, lại có ý nghĩa hơn rất nhiều so với việc chế tạo các thiết bị giảm nguồn hồng ngoại.

        Đấy là một thí dụ nhỏ về tầm quan trọng của trinh sát vô tuyến điện tử.

        Trinh sát vô tuyến điện tử nhanh chóng nhận được tin tức trinh sát từ khoảng cách rất xa, ít bị phụ thuộc vào thời tiết, ngày đêm, bảo đảm bí mật. Thực tế đó là phương pháp hiệu nghiệm có khả năng phát hiện sự bức xạ và đo được tần số mang của các phương tiện vô tuyến điện tử, cần thiết cho việc tạo nhiễu có hiệu quả.

        Tuy nhiên, trinh sát vô tuyến điện tử cũng có những hạn chế, nhất là những khó khăn trong khâu bắt được tín hiệu bức xạ của các phương tiện vô tuyến điện tử. Việc trinh sát càng gặp nhiều khó khăn hơn, khi đối phương tiến hành các biện pháp nhằm nâng cao bí mật hoạt động của các phương tiện vô tuyến điện tử.

        Ngoài ra, bản thân tin tức trinh sát được cũng hạn chế vì đối tượng trinh sát là các nguồn bức xạ vô tuyến, không thể phản ánh mọi tính năng chiến thuật, kỹ thuật của khí tài, lại càng không thể nói lên được mọi ý đồ đối phương. Cho nên trinh sát vô tuyến điện tử phải kết hợp với các biện pháp trinh sát khác.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24010


« Trả lời #46 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2020, 05:50:58 pm »

           
       II. KHOẢNG CÁCH VÀ ĐỘ NHẠY

        Thu các tín hiệu bức xạ của các phương tiện vô tuyến điện tử được giới hạn trong một vùng có kích thước xác định bằng cự ly hoạt động của đài trinh sát. Đó là khoảng cách giữa đài trinh sát và phương tiện vô tuyến điện tử cần trinh sát. Trong giới hạn ấy sẽ bảo đảm thu và phân tích được tín hiệu trinh sát.

        Cự ly hoạt động xác định bằng khoảng cách giữa điểm phát và điểm thu, khoảng cách lớn hay nhỏ phụ thuộc vào công suất tín hiệu ở lối vào máy thu, mà máy thu lại do nhiều yếu tố chi phối như đặc trưng kỹ thuật của đài trinh sát, đặc trưng năng lượng của máy phát cần trinh sát, điều kiện lan truyền sóng, đặc điểm tiến hành trinh sát (vùng không gian giữa đài trinh sát và phương tiện vô tuyến điện tử cần trinh sát).

        Các yếu tố ấy cần được xét đến khi tính toán giá trị công suất (hoặc cường độ trường) tín hiệu ở lối vào của máy thu trinh sát, và khi đó, nguồn bức xạ và máy thu được coi như các yếu tố của hệ thống vô tuyến, có khác là trong hệ thống này, đặc trưng máy thu không phù hợp vói các đặc trưng tín hiệu máy phát vì không biết các tham số tín hiệu ấy. Thí dụ, máy thu không được điều chỉnh chính xác về tần số tín hiệu, phân cực không trùng nhau.

        Cự ly trinh sát vô tuyến trong dải sóng cực ngắn bị giới hạn bởi cự ly nhìn trực tiếp, ở những điều kiện như nhau, nếu tăng độ cao ăng-ten sẽ tăng cự ly nhìn trực tiếp. Nếu 2 ăng-ten đặt cao 1,5 m so với mặt biển, cự ly nhìn trực tiếp xấp xỉ 8km. Nhưng nếu một ăng-ten được nâng cao lên 200 m, cự ly đó sẽ tăng lên đến 60 km, và cao lên 10 km thì cự ly đó lên tới 410 km.

        Trong giới hạn nhìn trực tiếp, cự ly trinh sát vô tuyến phụ thuộc vào các tham số phương tiện vô tuyến điện tử cả hai bên.

        Các phương tiện liên lạc và dẫn đường, nói chung có thể được trinh sát trên khoảng cách bằng cự ly làm việc của chúng. Tín hiệu ra-đa được phát hiện ở khoảng cách gấp 1,5 - 2 lần cự ly hoạt động cực đại của chúng, bởi vì máy thu trinh sát nhận tín hiệu trực tiếp phát đi từ ra-đa có công suất giảm tỷ lệ nghịch với căn bậc hai khoảng cách đến đài, trong khi đó máy thu ra-đa, nhận được tín hiệu phản xạ cỏ công suất giảm tỷ lệ nghịch với căn bậc bốn khoảng cách đó

        Giả thử, một máy bay đi trinh sát một đài ra-đa đang làm việc ở mặt đất. Ở trường hợp cực đại hai cánh sóng hướng vào nhau, cự ly trinh sát của đài được tính theo công thức:

       

        Đối với dải sóng ngắn, có hiện tượng phản xạ nhiều lần từ tầng điện ly (các lớp i-ông hóa của khí quyền), tầng điện ly lại hấp thụ rất ít, vì vậy sóng được truyền đi rất xa, có khi cự ly trinh sát tới hàng trăm, hàng nghìn ki-lô-mét.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24010


« Trả lời #47 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2020, 09:28:33 am »

   
       III. BẮT TÍN HIỆU VÔ TUYẾN

        Một máy thu thanh bằng sóng ngắn, nếu dò từ đầu băng đến cuối băng sẽ thấy trên một băng sóng đã có biết bao nhiêu đài phát đang làm việc. Thế mà trong trinh sát vô tuyến phải bảo đảm thu được tín hiệu của tất cả các đài phát ở tất cả các băng sóng.

        Điều kiện bắt tín hiệu :

        Bắt được tín hiệu vô tuyến của đối phương là khâu quan trọng nhất và cũng gặp nhiều khó khăn nhất trong trinh sát vô tuyến điện tử. Muốn bắt được tín hiệu, cần phải:

        — Tần số máy thu trinh sát được điều chỉnh về tần số máy phát tín hiệu.

        — Ăng-ten máy thu trinh sát hướng về phía khí tài vô tuyến điện tử đối phương.

        — Thời gian mở máy thu trinh sát trùng với thời gian làm việc của máy phát cần trinh sát.

        — Máy thu trinh sát đặt cách khí tài đối phương một khoảng cách đủ gần, sao cho máy thu có khả năng nhận được tín hiệu.

        Bốn điều đó được bảo đảm đồng thời, không thể bỏ một điều nào.

           Thiết bị trinh sát phải bảo đảm trinh sát được các phương tiện vô tuyến điện tử khác nhau. Các phương tiện này, có dạng tín hiệu và thời gian trinh sát khác nhau.

        Dạng tín hiệu trinh sát nhận được phụ thuộc chủ yếu vào nguyên lý hoạt động và tính năng chiến thuật, kỹ thuật của khí tài vô tuyến điện tử đang bị trinh sát, nhưng nó cũng phụ thuộc vào tính năng chiến thuật, kỹ thuật của máy trinh sát (trước hết là độ nhạy), cũng như điều kiện tiến hành trinh sát.

        Cũng là đài ra-đa bức xạ liên tục, nếu đài đang làm việc ở chế độ quan sát sục sạo mục tiêu thì tín hiệu nhận được sẽ là những đoạn tín hiệu liên tục, vì máy thu trinh sát chỉ nhận được chúng khi ăng-ten đài ra-đa đó quét cánh sóng qua hướng đặt máy thu trinh sát. Nếu ra-đa chuyển sang làm việc ở chế độ bám sát vật mang máy trinh sát (chẳng hạn như máy bay), tín hiệu nhận được sẽ có dạng liên tục, không bị gián đoạn. Khi trinh sát một mạng điều khiển từ xa bằng lệnh vô tuyến, có khả năng nhận được tín hiệu ở dạng những xung đơn độc.

        Máy thu trinh sát có độ nhạy càng cao thì đoạn tín hiệu thu được của ra-đa liên tục làm việc ở chế độ quan sát sục sạo càng dài.

        Máy thu có độ nhạy cao, có thể thu được tín hiệu cả ở cánh sóng phụ đài ra-đa, và dạng tín hiệu sẽ thay đổi theo các mức cánh sóng chính và phụ. Điều đó, cũng xảy ra khi thay đổi khoảng cách giữa máy thu trinh sát và ra-đa đang bị trinh sát. Khi vị trí của máy thu trinh sát và máy phát bị theo dõi thay đổi tương đối với nhau trong quá trình trinh sát, thì các tham số đo được có thể bị sai lệch, và cần phải có sự hiệu chỉnh phù hợp.

        Các phương tiện vô tuyến điện tử hiện nay làm việc ở các băng sóng từ cực dài đến ngắn, siêu cao, hồng ngoại... Cho đến nay, kỹ thuật chưa cho phép chế tạo được máy thu gọn nhẹ, hoặc trinh sát đồng thời tất cả các dải sóng. Muốn trinh sát tất cả các dải sóng, phải dùng nhiều máy thu kết hợp lại.

        Dải băng sóng trinh sát của máy thu phải rộng, máy thu có độ nhạy cần thiết và bảo đảm các tham số khác sao cho từ các tín hiệu thu được có thể đo các tham số của chúng với độ chính xác đủ để xác định loại phương tiện và chọn được phương pháp chóng lại có hiệu quả.

        Thu tín hiệu :

        Các tín hiệu vô tuyến xuất hiện ở nhiều hướng, nhiều tần số trong cả dải tần số rộng, người ta thường dùng hai cách thu:

        — Tách tín hiệu đồng thời (không sục sạo) : Tất cả tín hiệu có tham số khác vào cùng một lúc nhưng đi riêng vào từng kênh, phù hợp với tham số của kênh ấy. Như vậy, máy thu phải có nhiều kênh, mỗi kênh chỉ thu tín hiệu từ một phương tiện vô tuyến điện tử.

        Trong mỗi kênh, tín hiệu thu được không phụ thuộc vào công tác của các kênh khác.

        — Tách tín hiệu lần lượt (sục sạo) ; Các tín hiệu được thu lần lượt bằng một máy thu. Quá trình đó xảy ra với cả khoảng cần trinh sát, và như vậy, nhận được tín hiệu đến vừa đúng lúc các tham số trinh sát trùng với các tham số máy thu.

        Mỗi phương pháp trên có thể dùng để tách tín hiệu theo bất cứ tham số nào. Thông thường là để tách tín hiệu theo phương nguồn bức xạ và theo tần số mang bằng các thiết bị chọn. Mức công suất (điện áp) tín hiệu ra phụ thuộc vào tần số hay vào phương nguồn được coi là đặc trưng cơ bản của thiết bi chọn.

       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24010


« Trả lời #48 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2020, 09:30:24 am »


        Tách tín hiệu theo tần số, người ta dùng bộ lọc dải, hộp cộng hưởng, khung dao động.

        Máy thu nhiều kênh cho phép tiến hành trinh sát không sục sạo. Số lượng kênh xác định bằng độ rộng dải tham số cần trinh sát và độ chính xác cần có. Thí dụ, nếu cần quan sát cả dải sóng từ 30 ± 3.000 mê-ga-héc và xác định tần số với độ chính xác ±15 mê-ga-héc, máy thu cần ít nhất 99 kênh. Để để phòng trường hợp bỏ sót tín hiệu, các bộ lọc có đặc trưng trùng lên nhau.

        Máy thu tách tín hiệu lần lượt theo tần số có dạng như hình 70. Yếu tố chọn trong sơ đồ khuếch đại trực tiếp là mạch vào có tần số thay đổi theo quy luật nhất định.

         

        Trong máy thu siêu ngoại sai, yếu tố điều chỉnh là bộ dao động tại chỗ và bộ khuếch đại trung tần dải hẹp.

        Vì máy thu có dải thông tương đối hẹp, trong khi các phương tiện vô tuyến làm việc trong dải sóng rất rộng và trong thời gian ngắn, việc chọn tốc độ quét tần số máy thu là một điều quan trọng, nhất là khi trinh sát các phương tiện làm việc ở chế độ xung có ăng-ten định

        hướng nhọn (chủ yếu là các đài ra-đa và các hệ thống điều khiển sục sạo). Phát hiện các loại phương tiện này, thường dùng máy thu sục sạo theo tần số nhanh và chậm.

        Sục sạo chậm, tốc độ quét tần số nhỏ và trong thời gian thu tín hiệu các tham số máy thu có thể coi bằng hằng số. Như vậy, máy thu có khả năng nhận được tín hiệu trong thời gian một chu kỳ quay của ăng-ten đài bị trinh sát. Máy thu chỉ nhận được tín hiệu khi đài chiếu xạ máy thu mà thôi.

        Nếu máy phát làm việc liên tục, thời gian chiếu xạ Atcx có thể xác định theo công thức:

         

        thời gian cực đại cần thiết để phát hiện không vượt quá chu kỳ quay của ăng-ten của đài ra-đa cần trinh sát.

        Tuy nhiên, khi đó đối với các phương tiện làm việc ở chế độ xung, có thể xảy ra trường hợp trong cả chu kỳ quét không nhận được xung tín hiệu nào. Bởi vậy, tốc độ quét tần số phải chọn sao cho ở mỗi một lần quét tần số, phải nhận được ít nhất một xung. Muốn thế, thời gian quét tần số không được ngắn hơn chu kỳ lập lại xung tìm của đài ra-đa.

        Tách tín hiệu theo phương dùng các ăng- ten định hướng, và cũng được tiến hành tương tự, thu đồng thời và thu lần lượt.

        Máy trinh sát, ngoài nhiệm vụ định vị còn phải xác định các tham số phương tiện bức xạ. Điều đó làm cho máy thu trinh sát vô tuyến điện từ phức tạp, và hơn nữa, khả năng biết được tín hiệu về các tham số đó càng khó khăn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24010


« Trả lời #49 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2020, 09:33:11 am »

       
        IV. BIỂU HIỆN CHO THẤY ĐỐI PHƯƠNG

        Thu được tín hiệu chưa phải là kết quả cuối cùng của trinh sát, tín hiệu còn phải được biến đổi và xử lý để cho những số liệu cần thiết. Ngoài việc phân tích tại chỗ để sử dụng ngay, các tín hiệu trinh sát còn được ghi lại bẵng những phương tiện đặc biệt để tìm hiểu sâu hơn về các tin tức đó.

        Chỉ thị tín hiệu trinh sát:

        — Chỉ thị bằng ánh sáng (đèn báo) là loại chỉ thị đơn giản nhất, cho biết đã nhận được tín hiệu của khí tài vô tuyến điện tử đối phương, hoặc rõ hơn nữa cho biết khí tài đã làm việc ở dải tần số nào.

        — Chỉ thị băng âm thanh (tai nghe), thường dùng trong các đài trinh sát các phương tiện liên lạc của đối phương. Khi trinh sát các đài ra-đa hoặc dẫn đường, chỉ thị âm thanh cho phép xác định dải tần số công tác; xác định sơ bộ tần số lập lại xung; theo đặc điểm thay đổi âm lượng có thể xác định chế độ làm việc của đài là nhìn vòng, quan sát khu vực hay bám sát.

        — Chỉ thị bằng ống phóng tia điện tử, dùng trong các máy trinh sát phức tạp. Nó bảo đảm quan sát đồng thời và xác định nhanh chóng tham số của tất cả các phương tiện vô tuyến điện tử đối phương, và cho phép chọn những tín hiệu cần thiết để phân tích kỹ càng hơn.

        Loại chỉ thị này còn gọi là chỉ thị toàn cảnh, và những máy thu trinh sát có bộ chỉ thị này là máy thu toàn cảnh.

        Trên thực tế thường chế tạo các máy thu toàn cảnh tách tần số và phương bức xạ.

        Cơ chế quét thay đồi tần số mạch vào trong dải tần số máy thu trinh sát (thí dụ: từ 50 - 200 mê-ga-héc), đồng thời tạo ra xung đồng bộ quẻt ngang ống phóng điện tử sao cho khi bắt đầu quét tần số máy thu (50 mê- ga-héc) thì tia quét ngang cũng bắt đầu quét, và khi kết thúc quét tần số (200 mê-ga-héc) tia quét cũng kết thúc.

       

        Khi quét tần số, nếu máy thu nhận được tín hiệu ở tần số  nào, thì ở dầu ra máy thu tín hiệu sẽ đưa vào bản lệch đứng của ống phóng tia điện tử và làm lệch tia quét trong thời gian ngắn (xung nhọn), trắc thủ xác định ngay được tần số đài phát.

        Nếu máy thu có nhiều băng thì để đồng thời chỉ thị tất cả các tín hiệu, phải dùng ống phóng điện tử nhiều tia.

        Trong bộ chỉ thị toàn cảnh phương bức xạ, sơ đồ khối cũng có dạng tương tự, nhưng cơ chế quét sẽ quét ăng- ten theo phương, trên màn sẽ nhận được các tín hiệu theo phương. Trong sơ đồ này, dùng ống phóng tia điện tử làm lệch băng từ trường, khi ăng-ten quay được 360 độ thì tia quét trên màn cũng quét được 360 độ, trắc thủ dễ dàng dọc được phương vị tín hiệu.

        Ghi lại các tín hiệu :

        Tin tức trinh sát phải được biểu diễn ở dạng dễ dàng phân tích và nhanh chóng lập hồ sơ. Trước đây, việc ghi nhận do trắc thủ làm. Trong nhiều trường hợp, nhất là khi trinh sát các tín hiệu điều chế mã xung ở các hệ thống thông tin, các hệ thống điều khiển và dẫn đường, việc phân tích tại chỗ theo bộ chỉ thị thường gặp nhiều khó khăn.

        Ghi tín hiệu trinh sát và giữ chúng lại trên các chất liệu đặc biệt sẽ giúp cho việc phân tích chi tiết và giải mã các tín hiệu vô tuyến ấy được dễ dàng hơn.

        — Ghi ảnh, thường được thực hiện bằng các máy ảnh đặc biệt, chụp lại hình ảnh các bộ chỉ thị theo thời gian hay tại các thời điểm quan trọng. Phim ảnh rất nhạy có thể ghi lại các quá trình nhanh và có thể cho biết đặc điểm thay đổi tham số ghi được.

        (Cuộn phim khổ rộng : 70 mm ; dài: 30 mm ; máy nặng : 6,7 kg ; tốc độ kéo phim: 0,6 - cm/gy ; thời gian phim hiện trong máy: 1 phút).

       
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM