Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Chín, 2021, 02:42:49 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2  (Đọc 1477 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2021, 06:53:27 pm »

Anh hùng Tô Thị Huỳnh
(Liệt sĩ)


Tô Thị Huỳnh, sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, vào du kích năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là xã đội phó xã Lương Hòa, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, bố bị giặc bắn chết, có lòng căm thù giặc sâu sắc, lại được cán bộ đi sát giúp đỡ, giáo dục, Tô Thị Huỳnh sớm giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi chị đã hăng hái vận động được 8 bạn gái cùng xin vào du kích và Tô Thị Huỳnh được cử làm đội trưởng. Được tập thể giáo dục, rèn luyện, Tô Thị Huỳnh đã trở thành người chỉ huy trẻ tuổi, luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, táo bạo, chỉ huy mưu trí, dẫn đầu đơn vị trong những tình huống khó khăn, phối hợp cùng các đơn vị bạn đánh thắng nhiều cuộc càn quét của địch.


Đặc biệt, đầu năm 1968, Tô Thị Huỳnh chỉ huy đội du kích dựa vào thế trận chông, mìn, kiên cường chiến đấu đánh bại cuộc càn của 1 tiểu đoàn địch có hỏa lực, cơ giới mạnh yểm hộ, diệt trên 30 tên, giữ vững khu căn cứ Ô Chích. Chiến công của đội nữ du kích do Tô Thị Huỳnh chỉ huy đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ phong trào du kích chiến tranh ở địa phương, làm cho nhân dân tin tưởng quyết tâm đánh giặc.


Tháng 4 năm 1964, Tô Thị Huỳnh được cử làm xã đội phó trực tiếp chỉ huy tiểu đội du kích xã, đã chỉ huy đơn vị nhiều lần tiến công diệt bốt do từng tiểu đội địch đóng giữ, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.


Tính chung, đồng chí đã tham gia chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 150 trận, cùng đơn vị loại khỏi vòng chiến đấu trên 100 tên địch, bắt 20 tên, thu 30 súng các loại. Riêng Tô Thị Huỳnh còn gài chông, đạp lôi, làm bị thương trên 20 tên địch.


Trong quá trình chiến đấu, đồng chí đã kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động vũ trang với binh vận, đi sát tuyên truyền giải thích 55 gia đình binh sĩ, vận động được 16 lính địch bỏ ngũ; xây dựng được 5 cơ sở làm nội ứng cho du kích đánh chiếm đồn địch, thu 18 súng.


Tô Thị Huỳnh tích cực tham gia xây dựng các đoàn thể cách mạng trong xã, tuyên truyền được 28 hội viên phụ nữ giải phóng, vận động được 40 thanh niên nam, nữ vào lực lượng vũ trang (có 16 thanh niên vào bộ đội).


Là một nữ thanh niên trẻ tuổi, Tô Thị Huỳnh đã tỏ ra là một người giàu nghị lực, có lòng yêu nước nồng nàn, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, có phẩm chất trong sáng, được đồng đội và nhân dân tin yêu. Sau khi chị hy sinh, (tháng 12 năm 1966) tiểu đội nữ du kích Lương Hòa mang tên liệt sĩ Tô Thị Huỳnh, tiếp tục lập nhiều chiến công, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở địa phương lên rất cao.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Tô Thị Huỳnh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2021, 05:03:29 pm »

Anh hùng Nguyễn Văn Lịch
(Liệt sĩ)


Nguyễn Văn Lịch, sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng trinh sát bộ đội địa phương quận Dĩ An, khu Sài Gòn - Gia Định.


Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo khổ, cha bị giặc giết chết, Nguyễn Văn Lịch phải đi ở cho địa chủ từ lúc còn bé. Căm thù sâu sắc bọn giặc cướp nước và bè lũ bán nước giết hại đồng bào, chia cắt Tổ quốc, khi được tiếp xúc với cách mạng, đồng chí sớm giác ngộ, mới 12 tuổi đã hăng hái tham gia công tác thông báo tin tức, canh gác, bảo vệ cán bộ. Năm 14 tuổi Nguyễn Văn Lịch vào du kích xã, sau chuyển sang bộ đội tập trung của quận. Đồng chí là một chiến sĩ luôn luôn thể hiện lòng trung thành với cách mạng, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết tiến công địch.


Trong một trận chống càn (năm 1964), được phân công bám địch, nhân lúc bọn địch sơ hở, Nguyễn Văn Lịch ném 1 quả lựu đạn, diệt 1 tên thiếu úy ngụy, làm bị thương một số khác.


Tháng 5 năm 1965, đồng chí được điều đi học, sau bổ sung về Dĩ An. Tuy mới vào bộ đội, trong trận chiến đấu đầu tiên. Nguyễn Văn Lịch đã tỏ ra rất dũng cảm, mưu trí, ngay phút đầu đồng chí đã cùng đồng đội nổ súng diệt 4 tên, bắn bị thương một số khác, thu 1 súng.


Trận chống càn ở rừng Cò Mi (tháng 8 năm 1965), đồng chí đã dùng tiểu liên diệt gọn ban chỉ huy đại đội địch, dùng thủ pháo đánh hỏng 1 xe M.113, buộc địch phải dừng lại, bảo vệ cho đơn vị rút ra an toàn.


Năm 1966, Nguyễn Văn Lịch được điều về đơn vị trinh sát. Một lần đồng chí cùng 2 du kích đi mở đường bị lọt vào ổ phục kích của địch, Nguyễn Văn Lịch bình tĩnh nằm lại nổ súng diệt 1 tên địch, bảo vệ cho 2 du kích rút trước, sau đó thu 1 súng rồi rút ra an toàn. Trong một lần khác, Nguyễn Văn Lịch bị thương vào tay nhưng vẫn bình tĩnh nằm lại, dùng 2 trái lựu đạn diệt ổ trung liên và tên thiếu úy chỉ huy rồi tìm đường trở về đơn vị.


Ngày 27 tháng 5 năm 1966, trên đường từ đội điều trị về đơn vị, đồng chí bị địch phục kích. Bị thương gãy nát cả 2 chân, nhưng 2 tay vẫn nắm chác 2 trái lựu đạn, đồng chí trườn đi hướng khác đánh địch. Tới một căn nhà bỏ trống, vì kiệt sức quá, đồng chí phải nghỉ lại. Sáng hôm sau, 2 tên sĩ quan Mỹ và 8 tên sĩ quan Nam Triều Tiên đi qua đấy, vừa khi đó, một bà má từ ngoài đi vào nhà. Thấy Nguyễn Văn Lịch bị thương nặng quá, má giục đồng chí tránh đi kèo nguy hiểm. Nguyễn Văn Lịch cố thuyết phục má tránh ra xa cho mình tiện đánh địch. Khi bà má đã đi xa, bọn địch thấy có vết máu đang tụm lại xem, Nguyễn Văn Lịch dùng hai khuỷu tay cố trườn đến gần và tung 2 trái lựu đạn, diệt cả 10 tên sĩ quan địch. Đồng chí đã anh dũng hy sinh bên đống xác giặc.


Khi còn sống, Nguyễn Văn Lịch luôn luôn gương mẫu trong công tác, học tập và rèn luyện. Sự hy sinh anh dũng của đồng chí đã nêu tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho đồng đội noi theo giết giặc, cứu nước.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Lịch được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2021, 05:04:06 pm »

Anh hùng Lưu Văn Liệt
(Liệt sĩ)


Lưu Văn Liệt, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, nhập ngũ năm 1965. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ biệt động thị xã Vĩnh Long.


Đồng chí là con út trong gia đình có một anh hy sinh trong kháng chiến chống Pháp và một anh hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Khi đồng chí còn nhỏ, cha mẹ cho ra học ở thị xã Vĩnh Long.


Là một thanh niên học sinh, sống ở thành phố, hàng ngày tai nghe, mắt thấy những tội ác của giặc Mỹ, Lưu Văn Liệt sớm giác ngộ cách mạng, có lòng căm thù sâu sắc giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Đồng chí đã hăng hái tham gia rải truyền đơn trong khu vực có nhiều căn cứ quân sự, tình báo và công an Mỹ - ngụy. Nhiều lần bị địch đuổi bắt, Lưu Văn Liệt vẫn bình  tĩnh, mưu trí, dũng cảm đối phó với địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Năm 1965, đồng chí bỏ học, xin vào bộ đội. Với quyết tâm diệt địch cao, Lưu Văn Liệt say mê rèn luyện nâng cao bản lĩnh chiến đấu. Khi được giao lựu đạn và động viên tìm Mỹ để diệt, đồng chí rất phấn khởi. Suốt nửa tháng, chiều nào Lưu Văn Liệt cũng mang lựu đạn đi về phía căn cứ quân sự Mỹ, nhưng chỉ gặp những tên Mỹ đi lẻ tẻ. Không muốn nổ 1 trái lựu đạn mà chỉ diệt được 1 tên địch, Lưu Văn Liệt kiên trì chờ thời cơ giết được nhiều địch hơn. Một lần, gặp 3 tên Mỹ và bốn tên sĩ quan ngụy đi cùng, đồng chí quan sát đường rút và tháo chốt lựu đạn chuẩn bị ném. Nhưng bất ngờ một chiếc xe quân vụ của địch chạy đến đỗ chắn mất đường, đồng chí phải gài chốt lựu đạn và tìm cách rút ra an toàn.


Khi được giao nhiệm vụ điều tra nghiên cứu và vạch phương án diệt Mỹ, Lưu Văn Liệt kiên trì ngày đêm bám sát, theo dõi nắm chắc tình hình địch và đề ra phương án tác chiến táo bạo, mang bom vào đặt ở nơi bọn Mỹ thường hay lui tới. Khi được giao nhiệm vụ chiến đấu, Lưu Văn Liệt xung phong nhận khai hỏa bom và chặn hậu khi lui quân. Tối 5 tháng 2 năm 1966, Lưu Văn Liệt và một đồng chí nữa bí mật mang bom vào đặt ở cái quán bọn Mỹ hay tới ăn uống. Bọn Mỹ đến rất lẻ tẻ nên đồng chí phải kiên trì chờ đợi. Mặc dầu biết cảnh sát địch đã nghi ngờ theo dõi, Lưu Văn Liệt vẫn bình tĩnh, nhanh nhẹn châm ngòi nổ rồi chờ đến lúc bom sắp nổ mới vượt ra ngoài. Bom nổ, 17 tên Mỹ và một số cảnh sát tan xác tại chỗ, nhưng Lưu Văn Liệt cũng bị thương. Bọn cảnh sát đuổi theo và bắn đồng chí bị thương lần thứ hai. Biết mình không thể thoát khỏi, đồng chí chờ bọn giặc đến gần, rồi rút chốt quả lựu đạn cuối cùng diệt thêm 2 tên giặc nữa và Lưu Văn Liệt đã anh dũng hy sinh.


Khi còn sống, Lưu Văn Liệt luôn luôn gương mẫu, xung phong đi đầu trong mọi công tác, vui vẻ nhận phần khó về mình, sẵn sàng nhường thuận lợi cho bạn. Đồng chí Lưu Văn Liệt đã sống xứng đáng với lòng tin yêu, mến phục của đồng đội và đã hy sinh oanh liệt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.    Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Lưu Văn Liệt được Ủy ban trung ương Mật trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2021, 10:56:07 am »

Anh hùng Hoàng Đình Nghĩa
(Liệt sĩ)


Hoàng Đình Nghĩa, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, ở xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 9 năm 1961. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng bộ binh đại đội 3, tiểu đoàn 1, trung đoàn 15, sư đoàn 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Gia đình Hoàng Đình Nghĩa vốn quê hương ở Nam Hà (miền Bắc), do quá nghèo khổ, phải bỏ làng đi làm ăn khi thực dân Pháp mộ phu. Cha làm phu ở đồn điền cao su cho tới khi ốm chết, một người anh của Hoàng Đình Nghĩa bị giặc giết năm 1964, bản thân đồng chí sinh ra và lớn lên ở miền Nam, sống rất cơ cực từ nhỏ, phải đi ở đợ, làm thuê hết nhà này sang nhà khác cho mãi tới ngày vào bộ đội.


Đồng chí có lòng cảm thù rất sâu sắc bọn thực dân đế quốc và rất tha thiết với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Lúc nào đồng chí cũng hết lòng hết sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, nêu tấm gương sáng cho toàn đơn vị học tập.


Từ ngày nhập ngũ cho đến lúc hy sinh, Hoàng Đình Nghĩa đã dự 29 trận đánh, luôn luôn thể hiện tinh thần hăng hái, dũng cảm và tác phong chiến đấu mưu trí, linh hoạt, quyết tâm tiêu diệt địch, góp phần xứng đáng vào những chiến công vẻ vang của đơn vị.


Ngày 29 tháng 12 năm 1964, làm nhiệm vụ dẫn đường đưa đơn vị vào tiêu diệt tiểu đoàn biệt động ngụy vừa đổ xuống phía nam "ấp chiến lược" Bình Giã, mặc cho máy bay địch rà sát, bắn phá dữ dội, địa hình vận động lại trống trải, Hoàng Đình Nghĩa vẫn khẩn trương, khéo léo dẫn bộ phận kìm giữ địch đến vị trí triển khai chiến đấu, rồi kịp thời quay lại đón cả đại đội. Cuộc chiến đấu nổ ra ác liệt. Đồng chí như con thoi lao đi giữa làn đạn địch, nhanh chóng truyền đạt mệnh lệnh của chỉ huy đến các trung đội, lại còn hướng dẫn một khẩu đội súng cối đến chiếm lĩnh vị trí có lợi, bắn tiêu diệt một cụm giặc ngoan cố. Đồng chí đã góp công lớn cùng đơn vị tiêu diệt tiểu đoàn biệt động ngụy này.


Ngày 31 tháng 12 năm 1964, bọn thủy quân lục chiến ngụy chia thành hai mũi từ "ấp chiến lược" Bình Giã tiến đến sở cao su ở Xuân Sơn. Hoàng Đình Nghĩa đã cùng đơn vị chặn đánh địch, nhiều lần đánh bật chúng trở lại. Địch ỷ thế đông, tập trung hỏa lực bắn dữ dội vào trận địa ta rồi tổ chức phản kích cả chính diện và bên sườn; máy bay địch quần đảo bẳn phá vào giữa đội hình, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Hoàng Đình Nghĩa không sợ đơn độc, một mình cũng tiến công, dũng cảm nhằm chỗ địch núng thế, thọc sâu vào giữa đội hình địch, dùng tiểu liên, lựu đạn diệt bọn ở gần, rồi xông tới diệt gọn một ổ hỏa lực nguy hiểm đang cản trở quân ta tiến lên. Hoàng Đình Nghĩa dùng ngay khẩu trung liên vừa thu được bắn mãnh liệt, tạo thời cơ cho đại đội xung phong, cùng các đơn vị bạn đánh thẳng vào sở chỉ huy của giặc, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến ngụy. Trong trận này, đồng chí diệt 35 tên địch, thu 16 súng (có 1 trung liên), nên được cử đi kể chuyện chiến đấu cho toàn trung đoàn học tập.


Đánh địch đổ quân xuống sân bay Thuận Lợi ngày 10 tháng 6 năm 1965, Hoàng Đình Nghĩa là tiểu đội trưởng đã linh hoạt chỉ huy tiểu đội đánh mũi vu hồi vào sườn quân địch. Với lối đánh nhanh, mạnh, chia cắt địch, diệt hết cụm giặc này đến cụm giặc khác, đồng chí đã tạo điều kiện thuận lợi cho cả đơn vị chỉ trong vài chục phút bao vây, tiến công, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn quân ngụy.


Ngày 12 tháng 6 năm 1965, 1 tiểu đoàn lính dù có máy bay yểm trợ định đánh chiếm lại sân bay. Đồng chí nhanh chóng dẫn tiểu đội vận động vượt qua lưới lửa của địch, chiếm vị trí có lợi, đánh giáp lá cà với địch vô cùng dũng mãnh. Mũi tiến công của giặc bị bẻ gãy; riêng đồng chí đã diệt 30 tên địch. Trong khi truy kích, Hoàng Đình Nghĩa bị trúng đạn và anh dũng hy sinh; nhưng toàn đơn vị đã nắm thời cơ có lợi xung phong, tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn dù của địch.


Hoàng Đình Nghĩa rất nhiệt tình và tận tụy, trong chiến đấu cũng như trong công tác và học tập, luôn luôn xung phong nhận việc khó về mình, có ý thức trách nhiệm chung đối với toàn đơn vị. Đồng chí chân thành, hết lòng thương yêu và chăm sóc đồng đội, được anh em rất quý mến, tin yêu.    Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, 6 bằng khen, 13 giấy khen, 2 năm liền 1964 - 1965 là Chiến sĩ thi đua trung đoàn, 2 lần đạt danh hiệu "Chiến sĩ Ấp Bắc".


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Hoàng Đình Nghĩa được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2021, 02:46:45 pm »

Anh hùng Nguyễn Văn Quang
(Liệt sĩ)


Nguyễn Văn Quang, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Phương Bình, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ tháng 7 năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội phó thuộc đại đội 2, tiểu đoàn 303, bộ đội chủ lực Tây Nam Bộ.


Với lòng căm thù quân cướp Mỹ và bè lũ tay sai, lòng tha thiết yêu quý độc lập, tự do của Tổ quốc, tháng 7 năm 1964, Nguyễn Văn Quang tạm biệt gia đình ra vùng giải phóng, vào bộ đội.


Đồng chí là một chiến sĩ luôn luôn tỏ rõ tinh thần dũng cảm, gan dạ, tích cực tiến công địch trong nhiều trận chiến đấu, mặc dù có trận lực lượng địch nhiều hơn ta gấp bội.


Sáng ngày 8 tháng 2 năm 1966, địch cho 3 tiểu đoàn chia làm 3 mũi càn vào khu vực kênh xáng Cò Tuất - nơi trú quân của đơn vị đồng chí - tiểu đội Nguyễn Văn Quang phụ trách chặn địch ở một hướng của đại đội. Sau khi bị đánh bật ra nhiều lần, bọn địch tập trung 1 mũi đánh vào hướng tiểu đội của Quang để mở lối rút về Tân Hiệp. Với quyết tâm chặn địch lại để tiêu diệt, đồng chí đã động viên anh em kiên trì chờ cho địch vào thật gần mới nổ súng. Địch vào cách 300 mét, 200 mét... 30 mét... rồi 10 mét, Quang mới xiết cò khẩu trung liên và cùng đồng đội diệt nhiều tên, đánh bật bọn địch ra xa, nhưng tiểu đội trưởng hy sinh và Quang cũng bị thương. Bọn địch củng cố lại và tổ chức xung phong tiếp đợt 2. Đồng chí vẫn chờ cho địch vào gần mới chỉ huy anh em nổ súng mãnh liệt đánh bật chúng ra. Bọn địch cụm lại bắn mạnh vào khu vực tiểu đội đồng chí, đồng thời dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống phía sau tiểu đội. Lúc này, trong tiểu đội đã có thêm một số đồng chí nữa bị thương vong. Nguyễn Văn Quang bị thương gãy tay trái, nhưng vẫn bắn trung liên mãnh liệt và trườn lên ném lựu đạn, diệt nhiều tên và đánh bật bọn địch trở ra. Ba vết thương đau nhức làm Nguyễn Văn Quang ngất đi, nhưng khi tỉnh dậy đồng chí lại ôm trung liên bắn dập đầu quân địch xuống. Cánh tay trái giập nát làm vướng quá, đồng chí nhờ đồng đội chặt hộ rồi lại tiếp tục chiến đấu. Tiểu đội chỉ còn 2 người phải chống trả với gần 2 tiểu đoàn địch. Nguyễn Văn Quang quyết định cho đồng chí kia về báo cáo đơn vị và xin bổ sung lực lượng. Bọn địch phát hiện lực lượng ta ít nên ồ ạt xung phong. Còn một mình lại bị thương nặng, Nguyễn Văn Quang vẫn kiên cường chiến đấu, bắn hết 1 băng trung liên, quật ngã nhiều tên giặc. Bọn địch xô đến, đồng chí ném quả lựu đạn thứ nhất, rồi ném quả lựu đạn thứ hai; bọn địch bị chết thêm một số, buộc chúng phải chững lại. Nguyễn Văn Quang bị thương lần thứ tư và đã anh dũng hy sinh, nhưng trận địa vẫn giữ vững, và đơn vị đã kịp thời vận động tới đánh bật bọn địch ra xa.


Khi còn sống, Nguyễn Văn Quang luôn luôn gương mẫu, xung phong đi đầu trong mọi mặt, công tác, học tập và rèn luyện. Đồng chí luôn luôn chú trọng xây dựng tiểu đội lớn mạnh toàn diện, hết lòng thương yêu, giúp đỡ nhân dân và đồng đội, được mọi người tin yêu, mến phục.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, nhiều bằng khen và giấy khen.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Quang được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2021, 02:49:08 pm »

Anh hùng Huỳnh Văn Tạo
(Liệt sĩ)


Huỳnh Văn Tạo sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nhập ngũ năm 1965, khi được tuyên dương Anh hùng là tiểu đội phó thuộc đại đội 2, tiểu đoàn 2 bộ đội địa phương tỉnh Long An.


Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống cách mạng, khi 10 tuổi Huỳnh Văn Tạo đã phải đi ở đợ, chăn trâu, nên đồng chí sớm giác ngộ cách mạng và hăng hái tòng quân cầm súng giết giặc, giải phóng quê hương, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.


Đồng chí là một chiến sĩ xung kích dũng cảm, gan dạ, luôn luôn sẵn sàng xả thân vì cách mạng. Mới hơn 1 tuổi quân, Huỳnh Văn Tạo đã đánh trên 20 trận, trận nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nêu cao tinh thần kiên quyết, tích cực tiến công tiêu diệt địch, bị thương nặng không rời trận địa, một mình, một mũi cũng tiến công tiêu diệt địch.


Trận đánh đồn Phú Lộc, đơn vị gặp khó khăn vì một bãi mìn và lựu đạn của địch trước cửa mở. Không ngại hy sinh, Huỳnh Văn Tạo đã xung phong lên trước, khéo léo bò qua bãi mìn, mưu trí dùng 1 bó chà rào kéo cho mìn, lựu đạn nổ, mở đường cho xung kích xung phong tiêu diệt gọn đồn địch.


Trận đánh đồn Vĩnh Công, khi đơn vị rút ra, bọn địch phản kích ác liệt, một mình đồng chí đã dũng cảm nằm lại chặn địch, chiến đấu ngoan cường suốt mấy giờ liền đẩy lùi nhiều đợt xung phong của địch, bảo đảm cho đơn vị đưa hết thương binh, tử sĩ ra ngoài an toàn. Khi rút lui, bị địch đuổi theo, đồng chí vừa bình tĩnh chiến đấu, vừa mưu trí chuyển được 1 thương binh, 1 tử sĩ và 4 khẩu súng về nơi quy định.


Trận Nhật Ninh, trong lúc địch đang bắn phá ác liệt, Huỳnh Văn Tạo đã vượt qua bom đạn vào nhà cõng một bác nông dân ra ngoài rồi nhường hầm của mình cho bác. Hành động quên mình cứu dân của đồng chí được nhân dân địa phương hết sức ca ngợi.


Trong một trận đánh khác, tuy đã bị thương, Huỳnh Văn Tạo vẫn nằm lại tiếp tục chỉ huy phân đội. Bị ngất đi, nhưng khi tỉnh dậy, đồng chí lại tiếp tục chiến đấu.


Trong trận diệt đồn Tân Quý ngày 8 tháng 10 năm 1966, đồng chí đã dũng mãnh xung phong đánh chiếm lô cốt đầu cầu rồi đánh thọc sâu vào giữa đội hình địch. Khi bị thương rất nặng, Huỳnh Văn Tạo vẫn nêu cao khí phách chiến đấu kiên cường chơ đến lúc hy sinh.


Khi còn sống, Huỳnh Văn Tạo luôn luôn gương mẫu đi đầu trong mọi mặt công tác, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, hết lòng thương yêu đồng đội, tận tình giúp đỡ nhân dân, được đồng đội tin yêu, nhân dân quý mến.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Văn Tạo được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2021, 02:04:30 pm »

Anh hùng Huỳnh Việt Thanh
(Liệt sĩ)


Huỳnh Việt Thanh (tức Thanh Vân), sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Khánh, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, trú quán xã Hậu Thạnh, huyện Tân Thanh, tỉnh Long An, vào du kích tháng 7 năm 1957. Khi hy sinh đồng chí là xã đội trưởng xã Hậu Thạnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Huỳnh Việt Thanh tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1956, làm liên lạc, tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào đấu tranh; sau đó vào du kích, đến tháng 12 năm 1958, bị địch nghi ngờ bắt giam 16 tháng. Chúng dùng đủ mọi thu đoạn tra tấn dã man, nhưng đồng chí vần giữ trọn khí tiết người chiến sĩ cách mạng. Năm 1960, Huỳnh Việt Thanh đã cùng với anh em trong tù phá nhà giam, trở về địa phương, tổ chức, phát triển đội du kích đánh giặc giữ làng.


Huỳnh Việt Thanh là một cán bộ chỉ huy du kích tài trí, hơn 10 năm tham gia hoạt động cách mạng và chiến đấu, luôn luôn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, có mặt ở những nơi khó khăn nguy hiểm nhất, sẵn sàng xả thân, cứu đồng đội. Địa phương bị địch đánh phá quyết liệt, bị chúng gom   dân, lập ấp chiến lược, đồng chí đã cùng đội du kích quyết tử bám đất, bám dân, trụ lại đánh địch, diệt trừ ác ôn, phá thế kìm kẹp, góp phần đưa phong trào chiến tranh du kích ở xã tiến lên mạnh mẽ.


Hai năm 1965 - 1966, đồng chí đã chỉ huy đội du kích chiến đấu trên 100 trận, diệt 400 tên địch, thu nhiều súng các loại. Đồng chí Huỳnh Việt Thanh có nhiều sáng kiến trong việc chế tạo, sử dụng vũ khí thô sơ đánh địch.


Trận chống càn ở bờ nam kênh Dương Văn Dương, đồng chí tổ chức gài mìn, đặt chông và chỉ huy du kích phục sẵn một đại đội địch đi càn. Chờ cho địch vào thật gần, đồng chí mới ra lệnh cho du kích nổ súng mãnh liệt. Bọn giặc bị đánh bất ngờ nhảy xuống mương chống cự thì đụng phải chông, nhưng cụm lại trên bờ đất cao thì bị mìn, lựu đạn gài nổ, chúng hoang mang tìm đường tháo chạy, bỏ lại 40 xác chết.


Để diệt tên ác ôn chỉ huy đại đội biệt kích về đóng ở xã, đồng chí tổ chức cho du kích đào hầm bí mật, bố trí sẵn lựu đạn, đạp lôi và kiên trì nằm phục suốt 7 ngày liền. Tên này cùng với 1 trung đội địch đi trên chiếc xuồng máy. Chờ cho chúng đi qua rồi khi trở lại, đồng chí chỉ huy du kích 2 bên bờ bắn mạnh. Hai chiếc xuồng bị chìm, tên ác ôn bị thương nặng, một số lính bị diệt.


Ngày 21 tháng 9 năm 1966, 3 đại đội địch bất ngờ càn vào khu vực có cán bộ và du kích đang họp. Khi địch vào gần ta mới phát hiện được, Huỳnh Việt Thanh đã dũng cảm, một mình chống một chiếc xuồng ra chiến đấu chặn dịch và thu hút hỏa lực về phía mình để đội du kích đưa cán bộ thoát vòng vây an toàn. Bọn địch tập trung bắn mạnh về hướng đồng chí, xuồng chìm, đồng chí bị thương nặng và đã hy sinh oanh liệt.


Khi còn sống, Huỳnh Việt Thanh luôn luôn hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng đội, bảo vệ nhân dân, được mọi người rất yêu mến, tín nhiệm.


Đồng chí đã nhiều lần được tặng bằng khen và giấy khen, 3 năm liền (1964 - 1966) là Chiến sĩ thi đua.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Việt Thanh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2021, 02:05:32 pm »

Anh hùng Huỳnh Thúc Bá


Huỳnh Thúc Bá (tức Huỳnh Ba), sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 10 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là y tá đại đội 1, tiểu đofn 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lớn lên trong một gia đình có nhiều người tham gia cách mạng bị địch giết, bắt tù đầy, tra tấn, Huỳnh Thúc Bá sớm có lòng yêu quý độc lập, tự do của Tổ quốc, lòng căm thù giặc Mỹ sâu sắc. Sau khi hoạt động ở địa phương bị lộ, đồng chí đi bộ đội, làm công tác cứu thương và từ tháng 10 năm 1965 làm y tá đại đội.


Từ năm 1962 đến năm 1966, đồng chí đã trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu 65 trận, là một y tá rất tận tụy, hết lòng cứu chữa thương binh, quên mình vì đồng đội, vì nhân dân. Ngoài ra Huỳnh Thúc Bá còn là một chiến sĩ dũng cảm, tự tay diệt 55 tên địch, bắt sống 5 tên, thu nhiều vũ khí. Trong nhiều trận đánh gay go, ác liệt, đồng chí đều xông xáo, lên xuống nhiều lần dưới hỏa lực địch, luôn luôn có mặt ở nơi gay go ác liệt để kịp thời động viên và cấp cứu thương binh. Huỳnh Thúc Bá đã cấp cứu tại chỗ 80 anh em và cùng đơn vị đưa về nơi an toàn 120 thương binh, nhiều lần dũng cảm chiến đấu bảo vệ thương binh, tử sĩ, giữa bom đạn đã lấy thân mình che chở cho thương binh.


Trong trận cầu Tam Kỳ (tháng 1 năm 1966), giặc chỉ cách ta 35 mét, chúng bắn ra dữ dội, Huỳnh Thúc Bá vẫn bình tĩnh lấy thân mình che đỡ và băng bó cho thương binh, đem ra an toàn rồi tiếp tục cùng đơn vị chiến đấu.


Trận tiến công đồn Chổi Sũng (tháng 2 năm 1966), mặc cho đạn địch đang bắn tới tấp, đồng chí vẫn bám sát đơn vị, chạy lên chạy xuống kịp thời cứu chữa, băng bó 28 thương binh và đưa ra an toàn, mặc dù bản thân cũng bị thương hai lần.


Trận Núi Giàng (tháng 3 năm 1966), khi cán bộ chỉ huy bị thương vong, máy bay và pháo địch bắn phá dữ dội chuẩn bị cho bộ binh địch phản xung phong Huỳnh Thúc Bá tự động tổ chức và chỉ huy 12 đồng chí còn lại vừa chiến đấu ngăn chặn địch, vừa yểm hộ cho nhau đưa thương binh, tử sĩ lui về phía sau. Khi ra khỏi trận địa, kiểm tra biết còn sót 2 tử sĩ, Huỳnh Thúc Bá lại cùng đồng chí cứu thương quay trở lại tìm bằng được để đưa về chôn cất chu đáo.


Sau trận Kỳ Sanh, có 7 thương binh không kịp đưa đi, phải đem giấu trong rừng, phi pháo địch đánh liên tục, đồng chí ở lại tìm cách nuôi dưỡng anh em trong 5 ngày rồi tìm đường dìu cả 7 thương binh về bệnh xá an toàn.


Huỳnh Thúc Bá còn khéo phát động và tổ chức anh em đẩy mạnh phong trào phòng bệnh, chú ý huấn luyện cho các cứu thương thuần thục động tác chuyên môn và có kế hoạch chu đáo trước mỗi trận đánh để làm tốt công tác cứu chữa thương binh. Đồng chí thường ở lại trận địa đến phút cuối cùng để kiểm tra, không trận nào bỏ sót thương binh, tử sĩ.


Trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men, Huỳnh Thúc Bá chịu khó học hỏi nhân dân, áp dụng các phương pháp chữa bệnh cổ truyền như nấu cám làm thuốc chữa ghẻ, dùng lá vông chế thuốc an thần, tìm nhiều lá, rễ cây khác thay thế thuốc đỏ và làm thuốc chữa ho, kiết lỵ...


Đồng chí còn có kế hoạch cụ thể giúp đỡ nhân dân các vùng đóng quân về công tác vệ sinh, phòng bệnh, băng bó cho hàng chục người bị thương vì bom, đạn địch. Trận lụt lớn năm 1964 ở Bình Giang, đồng chí một mình bơi thuyền ra giữa dòng nước lũ vớt được 29 đồng bào, cấp cứu 41 người khác khỏi nạn lụt.


Đồng chí Huỳnh Thúc Bá không sợ gian nguy, tận tình bảo vệ tính mạng của đồng đội trong chiến đấu, chăm lo nghiên cứu, cải tiến, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu chiến đấu và xây dựng của đơn vị, là ngọn cờ đầu thi đua của ngành quân y Quân khu 5.


Huỳnh Thúc Bá đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua liền 2 năm 1965-1966 và là Dũng sĩ Quyết thắng cấp ưu tú.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Thúc Bá được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3726



WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2021, 02:06:22 pm »

Anh hùng Nguyễn Văn Bé


Nguyễn Văn Bé, sinh năm dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Cường, huyện Châu Thành, tỉnh Sông Bé, nhập ngũ tháng 7 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó đại đội 304, tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Lợi, Thủ Dầu Một, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong chiến đấu Nguyễn Vãn Bé luôn luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, dũng cảm, tích cực chủ động tiến công, bình tĩnh, mưu trí trong mọi tình huống gay go, ác liệt, nhiều lần bị thương, vẫn không rời vị trí, ngoan cường chỉ huy đơn vị giữ vững trận địa, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn, lập công xuất sắc. Từ năm 1961 đến đầu năm 1967, đồng chí đã tham gia chiến đấu 60 trận, giết chết 85 tên địch (có 30 tên Mỹ), bắt sống 8 tên, thu 30 súng (có 1 đại liên, 2 trung liên).


Trong trận Bến Súc, tổ Nguyễn Văn Bé có 4 người thì 3 đã bị thương vong, chỉ còn một mình đồng chí. Bị địch ném lựu đạn hất ngã từ trên lô cốt xuống đất, ngất đi, nhưng tỉnh lại, đồng chí vẫn giữ vững quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, leo lên dùng thủ pháo diệt bằng được hỏa điểm địch.


Trong trận phục kích Quý Hiệp trên đường số 13, ngày 22 tháng 5 năm 1965, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, thấy đơn vị bạn gặp khó khăn, Nguyễn Văn Bé chủ động chỉ huy phân đội đánh sang chi viện cho bạn. Trong lúc xung phong, bị hỏa lực địch ở chính diện ngăn chặn quyết liệt, đồng chí bình tĩnh tổ chức một bộ phận nhỏ bắn kiềm chế, rồi tự mình chỉ huy đại bộ phận đánh thọc sườn và sau lưng địch, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn, tiêu diệt gọn quân địch. Bị thương vào cánh tay, máu chảy nhiều Nguyễn Văn Bé vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu cho đến khi trận đánh hoàn toàn thắng lợi.


Tại truông Bồng Bông (cách bắc thị xã Thủ Dầu Một 5 ki-lô-mét), ngày 24 tháng 3 năm 1966, 1 tiểu đoàn Mỹ có xe tăng yểm hộ ồ ạt tiến vào trận địa của ta. Nguyễn Văn Bé bình tĩnh động viên anh em chờ địch tới thật gần mới bất ngờ nổ súng, tiêu diệt nhiều địch ngay từ loạt đạn đầu. Địch cho xe tăng đi trước, xông thẳng vào trận địa ta, đồng chí linh hoạt chỉ huy anh em bắn mạnh, chia cắt bộ binh với xe tăng địch, đồng thời tập trung hỏa lực diệt chiếc xe tăng đi đầu ngay trước chiến hào 10 mét. Chúng chuyển sang hướng khác, Nguyễn Văn Bé lập tức dẫn chiến sĩ B.40 vượt qua làn đạn địch, đến chi viện cho trung đội bạn, bắn cháy thêm một chiếc xe tăng nữa. Sau 5 tiếng đồng hồ bị quân ta đánh trả quyết liệt, giặc Mỹ bị đòn đau buộc phải rút lui. Nguyễn Văn Bé đã góp phần xứng đáng cùng đại đội diệt 185 tên Mỹ, 2 xe tăng, 1 xe bọc thép, thu nhiều vũ khí, giữ vững trận địa.


Tại Bông Trang ngày 25 tháng 6 năm 1966, 3 lữ đoàn Mỹ có xe tăng, pháo binh và máy bay yểm trợ, tiến vào đánh phá khu vực đóng quân của ta. Giữa làn đạn pháo địch dày đặc, Nguyễn Văn Bé đến với từng chiến sĩ để động viên, kiểm tra công tác chuẩn bị. Địch tiến công vào nhiều đợt nhưng đều bị đơn vị đồng chí đánh bật ra. Thấy phía trung đội bạn gặp khó khăn, Nguyễn Văn Bé dẫn một số anh em tới chủ động phối hợp, vừa tiêu diệt bộ binh địch, giữ vững trận địa, vừa chỉ huy tổ hỏa lực diệt được xe tăng địch. Suốt từ 6 giờ sáng đến 8 giờ tối trong lửa đạn mịt mù, không kịp ăn cơm, uống nước, Nguyễn Văn Bé luôn luôn dẫn đầu anh em, có mặt ở những nơi ác liệt nhất, xông xáo, dũng cảm chiến đấu rất linh hoạt, góp phần cùng cả tiểu đoàn trừng trị đích đáng bọn Mỹ, diệt gọn 1 tiểu đoàn địch và tiêu hao 2 tiểu đoàn khác.


Nguyễn Văn Bé là một cán bộ xuất sắc toàn diện, không những huấn luyện hay, chỉ huy chiến đấu giỏi, mà còn làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, chăm lo xây dựng đơn vị, hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng đội lúc thường cũng như khi chiến đấu; sống khiêm tốn, giản dị, được đồng đội yêu mến.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua 2 năm liền (1965-1966), đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Bé được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM