Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Mười Một, 2021, 09:37:06 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 1  (Đọc 4000 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #70 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2021, 03:34:57 pm »

Trần Quốc Tuấn đã chủ trương chọn đánh đòn quyết định vào đạo quân rút theo đường thủy trên sông Bạch Đằng, nơi quân ta quen địa hình sông nước và đã được chuẩn bị sẵn, nơi phối hợp tốt giữa thủy binh và bộ binh, nơi địch phải đi theo đường độc đạo mà kỵ binh không hộ tống được. Đòn đánh sấm sét ở cửa sông Bạch Đằng là đòn quyết định kết thúc cuộc kháng chiến của quân, dân ta. Đó là đòn giáng mạnh vào ý chí xâm lược của kẻ thù.


Có thể nói rằng, những người lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến của vương triều Trần đã triệt để vận dụng yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hoà". Lý luận và tư tưởng quân sự thời Trần rất xem trọng và phát huy vai trò của địa lợi, coi đó là một yếu tố quan trọng, một chỗ dựa để thực hiện "dĩ đoản chế trường", lấy nhỏ đánh lớn. Đặc điểm địa hình rừng núi và sông ngòi, ao hồ ở nước ta được các nhà quân sự đời Trần triệt để khai thác, vận dụng. Đặc biệt, Trần Quốc Tuấn còn tận dụng yếu tố thủy văn, con nước thủy triều để phát huy lối đánh sở trường sông nước của quân đội Đại Việt. Trong chỉ đạo kháng chiến, Trần Quốc Tuấn đều lợi dụng việc đội quân xâm lược không quen thủy thổ nước ta để hạn chế chỗ mạnh của địch, làm cho địch thêm mệt mỏi, ốm yếu. Bản thân địa hình Đại Việt đã không cho phép kỵ binh Mông - Nguyên thi thố hết tài năng, chúng không thể sử dụng số lượng lớn, không phát huy được tốc độ, không thể bắn cung, vung kiếm ào ào trong thế "chẻ tre" như trên các cao nguyên, sa mạc ở Bắc Á và châu Âu.


Trong bài thơ Bạch Đằng hải khẩu của Nguyễn Trãi có câu:

   Quan hà bách nhị do thiên thiết,
   Hào kiệt công danh thử địa tằng.

Có nghĩa là: Trời dựng lên thế hiểm yếu của quan hà, ở đó hai người có thể địch nổi trăm người; Trên đất này, hào kiệt từng lập công danh. Đủ biết, địa hình đã được khai thác và phục vụ tốt cho tư tưởng "dĩ đoản chế trường" của Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn.


Tư tưởng nghệ thuật "lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh" tất nhiên không phải là hiện tượng riêng lẻ, cá biệt của Trần Quốc Tuấn, hay của vương triều Trần ở thế kỷ XIII; đó là tư tưởng quân sự truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành, phát triển sớm, nhưng đến Trần Quốc Tuấn là tiêu biểu và có công khái quát thành lý luận. Tư tưởng này đã được phát huy trong các triều đại sau, trong các cuộc kháng chiến giữ nước của dân tộc ta.


Trên đây là những quan điểm, tư tưởng quân sự thời Trần trong thế kỷ XIII. Những quan điểm, tư tưởng tích cực, tiến bộ nói trên đã phát huy tính ưu việt qua quá trình dựng nước và giữ nước, đặc biệt góp phần tạo nên sức mạnh quân sự, quốc phòng, đánh thắng ba cuộc tiến công xâm lược của quân Mông - Nguyên, một đế chế hùng mạnh nhất thế giới đương thời.


Tuy nhiên, tư tưởng quân sự tiến bộ đó chủ yếu thể hiện trong giai đoạn vương triều Trần đang độ phát triển, là tư tưởng của các vua Trần, của các quý tộc và tướng lĩnh nhà Trần thời kỳ mà quyền lợi của họ còn gắn liền với quyền lợi của quốc gia, dân tộc (chủ yếu ở thế kỷ XIII).


Bước sang thế kỷ XIV, nhất là từ giữa thế kỷ XIV, vua quan nhà Trần bước vào một quá trình suy thoái, suy nghĩ và hành động của tầng lớp quý tộc quan liêu đã đi ngược lại với quan điểm mà Trần Quốc Tuấn đã nêu trong Di chúc khi trả lời Vua Trần Anh Tông. Chế độ điền trang thái ấp được mở rộng quá đáng, ruộng đất của công xã và của nông dân bị xâm cướp. Bọn vua quan lo ăn chơi hưởng lạc, nạn cho vay nặng lãi và đục khoét của bọn quan lại làm cho đời sống nhân dân ngày càng khốn khổ. Nhiều dân nghèo bị mất hết tài sản, trở thành nông nô, nô tỳ.


Ở giai đoạn này, tư tưởng quân sự của các vua quan, quý tộc nhà Trần đã đổi khác. Nhà Trần chủ trương phát động chiến tranh với Ai Lao và Chiêm Thành. Chiến tranh liên miên làm cho nhân dân quanh năm phải đi phu, đi lính, hao người tốn của. Thế nước suy yếu, đến nỗi nhiều lần bị quân Chiêm Thành tiến vào cướp bóc, tàn phá kinh thành Thăng Long.


Sự bất bình và phẫn nộ của nhân dân đối với triều đình ngày càng dâng cao. Mâu thuẫn giai cấp phát triển mạnh, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân, nô tỳ nổ ra, các cuộc đàn áp của triều đình càng mở rộng, khiến cho đất nước Đại Việt thời cuối Trần lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn.


Tất cả đều đi ngược lại quan điểm, tư tưởng lãnh đạo của vương triều Trần giai đoạn thế kỷ XIII, thời kỳ mà các bậc minh quân còn trị vì đất nước. Tư tưởng kiên cường, bất khuất bảo vệ Tổ quốc trong giới quý tộc thay thế bằng tư tưởng bạc nhược. Quan điểm "khoan thư sức dân", "chúng chí thành thành" trước đây được thay thế bằng quan điểm và chính sách vơ vét, bóc lột và đàn áp nhân dân.


Thậm chí, trong giới tướng lĩnh trước đây có công đóng góp lớn cho chiến tranh cũng đã có những người thay đổi về quan điểm, coi thường những người dân thường đã từng đồng cam cộng khổ với mình. Câu nói của Trần Khánh Dư: "Tướng là chim ưng, dân lính là vịt. Dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ" đã nói lên điều đó.


Nếu quan điểm, tư tưởng đầu đời Trần đã đưa lại sự phồn vinh của xã hội, sức mạnh to lớn về quân sự, quốc phòng, để chiến thắng kẻ xâm lược lớn mạnh, thì sự thoái hóa nặng nề trong tư tưởng, quan điểm quân sự của vương triều Trần giai đoạn cuối đã đưa đến sự bần cùng và rối loạn xã hội và lẽ tất nhiên điều đó đã góp phần đưa đến sự sụp đổ của vương triều Trần.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #71 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2021, 09:26:08 am »

Chương IV
TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ TRONG CHIẾN TRANH
CHỐNG MINH (ĐẦU THẾ KỶ XV)

Đầu thế kỷ XV, đất nước ta trải qua nhiều biến động. Vương triều Hồ vừa mới được thiết lập đã phải lao vào cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhưng thất bại; một lần nữa nhân dân ta phải chống Bắc thuộc. Biết bao cuộc khởi nghĩa nổ ra và bị nhấn chìm trong biển máu. Cuối cùng, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng dân tộc do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo đã giành được thắng lợi. Do nhu cầu to lớn của công cuộc dựng nước và giữ nước, trong giai đoạn này đã xuất hiện nhiều quan điểm, tư tưởng quân sự khác nhau. Dưới đây là một số quan điểm, tư tưởng quân sự chủ yếu:


I- TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ THỜI HỒ (1400 - 1407)

1. Nước Đại Việt thời Hồ và nạn ngoại xâm đầu thế kỷ XV

a) Nước Đại Việt thời Hồ   

Vào cuối thời Trần, nước Đại Việt lâm vào tình cảnh khó khăn, do sự suy vong của vương triều và những biến đổi trong cơ cấu kinh tế - xã hội của chế độ phong kiến gây ra.

Sau thắng lợi huy hoàng của cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên và sau một thời gian dài phát triển hưng thịnh với những thành quả lớn lao trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đến nửa cuối thế kỷ XIV, vương triều Trần từng bước lâm vào khủng hoảng và suy thoái. Tầng lớp quý tộc có xu hướng ăn chơi, hưởng lạc trên sự bóc lột nhân dân. Xu hướng hưởng thụ thái bình càng phát triển mạnh dưới các đời vua cuối triều Trần, nhất là từ đời Trần Dụ Tông (1341 - 1369).


Cuối thế kỷ XIV, triều Trần suy yếu đến mức không còn khả năng bảo vệ sự an toàn của đất nước. Chế độ phong kiến trải qua những biến động sâu sắc trong kết cấu kinh tế - xã hội. Kinh tế điền trang thái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ đã trở nên lạc hậu, kìm hãm sự phát triển của sức sản xuất xã hội. Chế độ bóc lột tàn nhẫn của giới quý tộc phong kiến đối với nông nô, nô tỳ cùng sự nảy sinh những mầm mống mới của kinh tế hàng hóa và kinh tế địa chủ đã lay chuyển cơ sở điền trang thái ấp. Thủ tiêu chế độ điền trang thái ấp, giải phóng nông nô, nô tỳ là những yêu cầu bức thiết của sự phát triển xã hội.


Những mâu thuẫn chất chứa trong xã hội phong kiến, trước hết là mâu thuẩn giữa nô tỳ và nông dân nghèo với tầng lớp quý tộc đã phát triển đến mức bùng nổ thành bạo động của quần chúng. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra kéo dài suốt nửa sau thế kỷ XIV. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Ngô Bệ (1344 - 1360), Nguyễn Bồ (1379), Nguyễn Thanh, Nguyễn Kỳ, Phạm Sư Ôn (1389). Đối tượng đấu tranh nhằm vào tầng lớp quý tộc và vương triều Trần. Những cuộc khởi nghĩa đó đều thất bại, nhưng đã giáng đòn đả kích mạnh mẽ vào kinh tế điền trang và chế độ bóc lột nô tỳ, làm lay chuyển nền thống trị của triều Trần. Sự sụp đổ của một triều đại phong kiến đã quá suy thoái là điều tất yếu.


Trong hoàn cảnh đó, Hồ Quý Ly - một quý tộc có vây cánh và thanh thế trong triều đình, đã lấn át quyền lực của vua Trần. Hồ Quý Ly sinh năm 1336, xuất thân từ một dòng họ có thế lực lớn, có hai người cô và một em gái lấy vua Trần. Trong hai bà cô được chọn làm cung nhân triều Vua Trần Minh Tông, một bà sinh ra Vua Trần Nghệ Tông và một bà sinh ra Vua Trần Duệ Tông. Vua Trần Nghệ Tông còn gả em gái là Công chúa Huy Ninh cho Hồ Quý Ly và sau này, con gái trưởng của Hồ Quý Ly là hoàng hậu của Vua Trần Thuận Tông (1389 - 1398). Là một quý tộc ngoại thích với nhiều quan hệ thống gia, thân tộc chặt chẽ với các vua Trần, nhất là có sự tin cậy của Thượng hoàng Trần Nghệ Tông, Hồ Quý Ly tiến thân rất nhanh và trở thành người có thế lực nhất trong triều đình. Từ chức vụ Chi hậu cục chánh chưởng, năm 1371 thăng bổ làm Khu mật viện đại sứ; năm 1375 là Tham mưu quân sự; năm 1380 là Nguyên nhung hành Hải Tây đô thống chế; năm 1387 là Đồng bình chương sự, cương vị Tể tướng; năm 1395 là Nhập nội phụ chính thái sư Bình chương quân quốc trọng sự Tuyên Trung Vệ quốc Đại Vương. Năm 1394, trước khi từ trần, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông đã giao toàn quyền cho Hồ Quý Ly và căn dặn: "Bình chương là họ thân thích nhà vua, mọi việc nước nhà đều trao cho khanh cả... quan gia nếu giúp được thì giúp, nếu hèn kém ngu muội thì khanh cứ tự nhận lấy ngôi vua"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.187). Trên thực tế, Hồ Quý Ly đã nắm toàn bộ quyền lực, quyết định mọi việc triều chính và dọn đường tiến tới thành lập triều Hồ.


Cuối năm 1397, Hồ Quý Ly ép Vua Trần Thuận Tông dời vào cung Bảo Thanh tức Ly Cung (Hà Trung, Thanh Hóa). Năm sau, năm 1398, ông bức vua nhường ngôi cho Hoàng thái tử An mới 3 tuổi ở cung Bảo Thanh rồi chuyển về kinh đô mới ở Vĩnh Lộc (Tây Đô, Thanh Hóa) và tự xưng là Quốc tổ nhiếp chính Khâm Đức Hưng Liệt Đại Vương. Trở ngại duy nhất trên con đường "tiếm ngôi" của Hồ Quý Ly lúc này là phản ứng của các quý tộc Trần. Nhân sự kiện Hội thề Đốn Sơn (1399), khi Trần Khát Chân cầm đầu các thế lực chống đối định giết Hồ Quý Ly, Hồ Quý Ly đã bắt và hành hình Trần Khát Chân cùng với hơn 370 người khác. Cùng năm đó, Hồ Quý Ly xưng là Quốc tổ Chương hoàng; đến đầu năm 1400, bắt vua nhường ngôi, thiết lập vương triều Hồ (1400 - 1407). Sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đặt quốc hiệu là Đại Ngu, cuối năm nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, tự xưng là Thái thượng hoàng, giống như chế độ nhà Trần trước đó.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #72 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2021, 09:26:54 am »

Là một người có nhiều tham vọng, trong những năm giữ trọng trách dưới triều đình nhà Trần và nhất là từ khi thành lập triều Hồ, Hồ Quý Ly đã tiến hành một cuộc cải cách khá hệ thống, kiên quyết và mạnh bạo trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và quân sự.


Từ khi Thượng hoàng Trần Nghệ Tông qua đòi, với cương vị Nhập nội phụ chính thái sư, rồi Quốc tổ nhiếp chính, Hồ Quý Ly đã mượn danh triều đình nhà Trần tiến hành một loạt biện pháp quan trọng trong đường lối dựng nước. Đó là hệ thống các chính sách mới vừa nhằm mục đích củng cố và tập trung quyền lực về tay mình, vừa thực hiện cải cách chính trị, kinh tế, xã hội nhằm thoát khỏi cuộc khủng hoảng, cứu vãn tình thế của Đại Việt.


Về mặt chính trị, Hồ Quý Ly tìm cách gạt bỏ dần các thế lực thân cận triều Trần và tăng cường quyền lực của chính quyển trung ương mới, tập trung quyền hành vào tay cá nhân. Năm 1397, Hồ Quý Ly cho xây dựng kinh đô mới ở An Tôn gọi là Tây Đô (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), nhằm xây dựng cơ sở bảo vệ vương triều.


Về kinh tế - xã hội, nhà Hồ thi hành những chính sách nhằm hạn chế thế lực kinh tế của quý tộc Trần, xoa dịu phần nào nỗi bất bình của nhân dân và chủ yếu nhằm mưu cầu lợi ích cho tập đoàn thống trị mới. Ba chính sách lớn về mặt này là chính sách "hạn điền", "hạn nô" và phát hành tiền giấy.


Tiền giấy phát hành năm 1396, gồm 7 loại gọi là "Thông bảo hội sao" và quy định 1 quan tiền đồng đổi lấy 1 quan 2 tiền giấy.

Chính sách hạn điền ban hành năm 1397, quy định: "Đại vương và trưởng công chúa thì số ruộng không hạn chế; đến thứ dân thì số ruộng là 10 mẫu"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.192). Người nào có ruộng quá số quy định thì phải nộp cho Nhà nước hoặc dùng để chuộc tội nếu có.


Chính sách hạn nô thi hành năm 1401, quy định: Quý tộc quan lại tùy theo phẩm tước được nuôi một số gia nô nhất định. Ai quá số quy định thì triều đình sung công và đền tiền 5 quan mỗi gia nô, nếu chủ có chúc thư thì được kế thừa 3 đời.


Chính sách thuế thuyền buôn (1400), thuế ruộng đất, thuế đinh nam (1402) đều có sửa đổi nhằm đảm bảo nguồn thu nhập của Nhà nước. Thuế đinh nam trước đồng loạt thu 3 quan mỗi người, nay thu theo mức sở hữu ruộng đất, người không có ruộng, trẻ mồ côi, đàn bà goá được miễn. Thuế và tô ruộng trước mỗi mẫu 3 thăng thóc, nay tăng lên 5 thăng, bãi dâu lại giảm nhiều và thu theo 3 hạng. Các đơn vị đo lường như cân, thước, thưng, đấu được ban hành thống nhất.


Về phương diện văn hóa, Hồ Quý Ly chấn chỉnh lại chế độ thi cử (1396), mở rộng việc học, đặt học quan và học điền ở ấp, phủ, châu tại các lộ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương để lo việc dạy bảo học trò và chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình thi tuyển. Năm 1400, ngay sau khi thiết lập vương triều, ông đã mở khoa thi thái học sinh, lấy 20 người đỗ đạt, trong đó có những ngươi trẻ tuổi như Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên... Năm 1404, nhà Hồ lại quy định các kỳ thi hương, thi hội và năm 1405 tổ chức kỳ thi hội lần thứ hai, lấy đỗ 170 người. Hồ Quý Ly coi trọng chữ Nôm, biểu thị tinh thần dân tộc cao về văn hóa, đã tự dịch thiên Vô dật trong sách Thượng thư ra quốc ngữ "để dạy vua", soạn sách Quốc ngữ Thi nghĩa để dạy hậu phi và cung nhân.


Hồ Quý Ly tiến hành sửa đổi quy chế quan lại, cải tổ đơn vị hành chính trong nước. Từ năm 1397, bắt đầu đổi tên một số lộ trấn ở xa, như Thanh Hoa (Thanh Hóa), Quảng Oai (Quốc Oai), Thiên Hưng (Đà Giang), Lâm An (Nghệ An), Thiên Quan (Trường Yên), Lạng Giang (Lạng Sơn), Vọng Giang (Diễn Châu), Tây Bình (Tân Bình)... ở các lộ đặt chức an phủ sứ và an phủ phó sứ; ở phủ đặt trấn phủ trấn phủ phó sứ; châu đặt thông phán và thiên phán; huyện đặt lệnh úy và chủ bạ để cai trị. Lộ coi phủ, phủ coi châu, châu coi huyện.


Mục đích cao nhất của Hồ Quý Ly là cứu vãn chế độ quân chủ tập quyền đang khủng hoảng vào cuối thời Trần, củng cố triều đình và tăng cường bộ máy chính quyền các cấp. Định lại các cấp phủ, lộ, châu, huyện, bãi bỏ chức xã quan (đại tư xã, tiểu tư xã hay đại toát, tiểu toát) do nhà Trần đặt năm 1242, vẫn giữ chức quản giáp. Nhà Hồ đặc biệt quan tâm việc lập lại kỷ cương, ban hành nhiều luật lệ, quy chế và dành nhiều công sức củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội. Năm 1401, nhà Hồ định quan chế và hình luật nước Đại Ngu. Về nhân sự, nhà Hồ loại bỏ nhiều quý tộc Trần và những kẻ chống đối, bổ dụng nhiều tướng soái và quan chức mới.


Trong cải cách và xây dựng thiết chế chính trị vương triều, Hồ Quý Ly và triều Hồ dựa vào học thuyết Nho giáo theo xu hướng thiết thực và kết hợp với tinh thần dân tộc. Điều đó thể hiện trong việc năm 1392, Hồ Quý Ly biên soạn sách Minh đạo gồm 14 thiên dâng lên Thượng hoàng Trần Nghệ Tông, đề cao Khổng Tử nhưng lại nêu "bốn chỗ đáng ngờ" trong Luận ngữ, phê phán Hàn Dũ đời Đường là "đạo nho", chê học phái Tống nho như Chu Hy, Trình Di, Trình Hạo... "tuy học rộng nhưng tài sơ, không sát sự việc, chỉ thạo cóp nhặt".


Những cải cách của Hồ Quý Ly biểu hiện trên nhiều lĩnh vực với những giải pháp kiên quyết, táo bạo. Mục tiêu là nhằm củng cố chế độ quân chủ tập quyền và giải quyết các mâu thuẫn kinh tế - xã hội đang diễn ra gay gắt vào thời cuối Trần.


Sang thời Hồ, xã hội nước ta có những bước phát triển nhất định, nhưng về căn bản cuộc khủng hoảng của kinh tế điền trang thái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ vẫn chưa được giải quyết. Vương triều Hồ vừa xuất hiện trên vũ đài chính trị, nhưng nội bộ giai cấp phong kiến lủng củng, chính quyền trung ương còn thiếu một cơ sở xã hội vững chắc và đang gặp nhiều khó khăn trước những yêu cầu phát triển xã hội, trước những mâu thuẫn kinh tế, xã hội đang hết sức gay gắt và đòi hỏi phải giải quyết. Hồ Quý Ly và triều Hồ đang cố gắng để vượt qua những khó khăn, thử thách nói trên. Trong khi đó, giặc phương Bắc lại đang ngấp nghé ở biên thùy.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #73 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2021, 09:30:46 am »

b) Nạn ngoại xâm đầu thế kỷ XV

Trong khi vương triều Hồ mới thành lập, đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mới, thì nguy cơ xâm lược của phong kiến phương Bắc đã đến gần, đe dọa nền độc lập dân tộc. Bấy giờ, Trung Quốc thuộc triều Minh (1368 - 1644). Năm 1368, một triều đại phong kiến Trung Quốc do Chu Nguyên Chương tức Minh Thái Tổ (1368 - 1398) thành lập trên cơ sở thắng lợi của phong trào nông dân rộng lớn lật đổ ách thống trị của nhà Nguyên. Vào đầu thế kỷ XV, nhất là dưới triều Minh Thành Tổ (1402 - 1424), nhà Minh đạt đến giai đoạn thịnh trị của triều đại này và trở thành một đế chế lớn mạnh bậc nhất ở phương Đông lúc đó. Theo thống kê của nhà Minh vào năm Hồng Vũ thứ 26 (1393), cả nước có 8.500.000 khoảnh ruộng đất, 16.052.860 hộ và 60.545.820 nhân khẩu1 (Theo Minh sử, q.77, tờ 4b), vượt quá số dân thời cực thịnh của triều Nguyên.


Ngay từ khi mới thành lập, nhà Minh đã có xu hướng bành trướng ra nước ngoài. Xu hướng đó càng phát triển mạnh mẽ cùng với quá trình củng cố và tăng cường nền thống trị của triều Minh ở trong nước.

Phía bắc, nhà Minh đã nhiều lần gây chiến tranh với Mông Cổ và tu sửa lại Vạn Lý Trường Thành để phòng ngự mặt Bắc. Phía đông, nhà Minh phải đối phó vất vả với nạn "giặc biển" do một số thương nhân và quý tộc Nhật Bản cấu kết với người Trung Quốc cướp phá vùng ven biển. Phía tây, nhà Minh phát triển ảnh hưởng sang vùng Tân Cương, Tây Tạng, Thanh Hải, nhưng gặp phải đế chế Mông Cổ ở Trung Á, đế chế Timur Lenk, lúc đó đang cường thịnh. Vì vậy, khoảng cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, hướng bành trướng chủ yếu của nhà Minh nhằm vào vùng Đông Nam Á và Nam Á. Nước Đại Việt trở thành một mục tiêu thôn tính của chúng.


Phương thức bành trướng của nhà Minh là vừa chinh phục, vừa "chiêu dụ các nước thần phục và triều cống", tức là vừa dùng vũ lực, vừa dùng các biện pháp ngoại giao, kinh tế, quân sự... để mở rộng thế lực ra nước ngoài. Bảy lần Trịnh Hòa "hạ Tây Dương" là nhằm thực hiện phương thức bành trướng này.


Trịnh Hòa là một nhà hàng hải nổi tiếng của Trung Quốc. Năm 1405, Minh Thành Tổ phái Trịnh Hòa hạ Tây Dương lần thứ nhất với một hạm đội gồm 62 chiếc tàu biển cỡ lớn, 27.800 quân sĩ và mang theo nhiều vàng bạc, tơ lụa, đồ sứ. Tây Dương trong quan niệm của người Trung Quốc lúc đó là chỉ vùng Nam Dương và Ấn Độ Dương. Từ năm 1405 đến năm 1433, Trịnh Hòa đã bảy lần vượt biển như vậy. Ông đã qua Chămpa (Chiêm Thành), bán đảo Mã Lai, quần đảo Nam Dương, Xiêm La, rồi vòng sang Ấn Độ, Ba Tư, Ả Rập cho đến vùng bờ biển phía đông châu Phi. Mục đích chủ yếu của Trịnh Hòa là phụng mệnh vua Minh đi "chiêu dụ" các nước triều cống "thiên triều" và "diễu binh cõi ngoài để tỏ rõ Trung Quốc phú cường", nghĩa là phát triển ảnh hưởng của Trung Quốc xuống vùng Đông Nam Á và Nam Á. Khi cần thiết, Trịnh Hòa dùng cả hạm đội vũ trang để thị uy hoặc đánh bại sự chống cự của các nước không chịu thần phục. Sau gần 30 năm hoạt động với bảy lần vượt biển, Trịnh Hòa đã chiêu dụ được hơn 30 nước triều cống nhà Minh. Đồng thời, Trịnh Hòa còn thúc đẩy sự phát triển của nền mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc và mở đường cho hàng loạt người Hoa tràn xuống các nước vùng Đông Nam Á.


Trong chủ trương bành trướng xuống Đông Nam Á, nhà Minh coi nước Đại Việt/Đại Ngu, với vị trí chiến lược của nó trong khu vực này, là một mục tiêu trọng yếu. Nhà Minh đã đi từ những thủ đoạn chiêu dụ với những yêu sách ngày càng trắng trợn đến kế hoạch vũ trang xâm lược, quyết thôn tính Đại Việt.


Từ cuối thế kỷ XIV, nhà Minh đã lợi dụng sự suy yếu của triều Trần, tiến hành các hoạt động do thám và khiêu khích nhằm tìm cơ hội xâm lược Đại Việt. Năm 1377, nhân lúc Vua Trần Duệ Tông bị tử trận trong cuộc Nam chinh, nhà Minh định đem quân tiến công thôn tính. Nhưng viên Thái sư Lý Thiên Trường dùng lời can ngăn nên vua Minh gác lại ý định. Bởi vì lúc đó ở Trung Quốc, tình hình chính trị chưa ổn định, vả lại cũng chưa phải là cơ hội tốt. Tháng 9-1384, khi tiến quân đánh Vân Nam, Minh Thái Tổ sai bọn Dương Bàn, Hứa Nguyên sang đòi Đại Việt cấp lương cho quân đóng ở Lâm An. Năm 1395, khi quân Minh đánh Triệu Tông Thọ ở Long Châu, bọn Lễ bộ thượng thư Nhâm Hanh Thái đến đòi Đại Việt phải đem 5 vạn quân và 50 con voi sang và phải tải đến biên giới 50 vạn hộc lương cho chúng. Vua Minh còn cho sứ giả sang đòi ta cung cấp tăng nhân, phụ nữ, thợ thủ công, hoạn quan... với âm mưu vừa để cung phụng cho cuộc sống xa hoa, vừa có ý đồ mua chuộc, buộc họ trở thành tay sai để tung về nước làm nội gián cho chúng1 (Dưới thời Minh Thái Tổ, nhà Minh đòi ta nộp những tăng nhân, phụ nữ, thợ thủ công và hoạn quan. Sau vài năm, chúng cho bọn này về nước, chỉ giữ lại một số hoạn quan làm tay sai. Khi Minh Thành Tổ lên ngôi, trước khi đánh Đại Việt, chúng sai bọn hoạn quan Nguyễn Toán, Từ Cá, Nguyễn Tông Đạo, Ngô Tín về nước dò xét và liên lạc với những người chúng đã tha trước, hẹn đến ngày quân Minh sang thì dựng cờ hưởng ứng. Việc này bị lộ, Hồ Quý Ly ra lệnh tìm bọn gian tặc giết hết). Ngang ngược hơn, nhà Minh đã dùng áp lực đòi Đại Việt phải cắt bớt đất cho chúng. Vua Minh sai Lữ Nhượng, Trần Thành sang đòi 5 huyện Khâu Ôn, Như Ngao, Khánh Viễn, Uyên và Thoát thuộc phủ Tư Minh. Triều đình nhà Trần không chấp nhận, vì thế Minh Thái Tổ đã hăm dọa: Kẻ kia ngang trái, hãy để đợi đó, sẽ liệu thôi2 (Xem Cao Hùng Trưng: An Nam chí, Sđd). Vương triều Trần càng suy yếu, nhà Minh càng lấn lướt, đặt ra hết yêu sách này đến yêu sách khác. Triều Trần đối phó một cách mềm mỏng, có nhượng bộ một phần, nhưng kiên quyết khước từ những yêu sách xâm phạm đến lãnh thổ và chủ quyền quốc gia.


Từ năm 1400, triều Hồ mới thành lập, đang gặp nhiều khó khăn về mặt đối nội, nhà Minh càng ráo riết chuẩn bị xâm lược. Hồ Quý Ly và triều Hồ một mặt áp dụng những biện pháp ngoại giao khôn khéo để trì hoãn chiến tranh, mặt khác tích cực lo chuẩn bị kháng chiến chống xâm lược. Dưới triều Hồ, "sứ nhà Minh qua lại nước ta liên tiếp như mắc cửi, kẻ thì yêu sách, người thì sách hỏi, Hán Thương sai người tùy phương cứu gỡ, vất vả về việc tiếp ứng"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.206).


Lúc bấy giờ, giữa nhà Hồ và vương quốc Chiêm Thành đang có những xung đột phức tạp, nhà Minh đã tìm cách khoét sâu và lợi dụng những mâu thuẫn đó để quấy rối hậu phương nước ta. Năm 1403, nhà Minh đã phái 9 chiến thuyền vào giúp Chiêm Thành chống lại nhà Hồ.


Nhà Minh liên tục đưa ra những yêu sách ngang ngược về đất đai. Năm 1404, chúng đòi chiếm đất Lộc Châu, Tây Bình, Vĩnh Bình, lấy cớ những đất đó thuộc phủ Tư Minh (Quảng Tây). Năm 1405, nhà Minh lại sai sứ sang đòi đất Lộc Châu (Lạng Sơn) và 7 trại Mãnh Man thuộc châu Ninh Viễn một cách gay gắt. Triều Hồ cử Hoàng Hối Khanh làm cát địa sứ sang thương lượng với nhà Minh. Hoàng Hối Khanh cắt 59 thôn ở Cổ Lâu nhượng cho nhà Minh. Hồ Quý Ly bất đắc dĩ phải nhượng đất để kéo dài thời gian hòa hoãn, lo chuẩn bị kháng chiến, nhưng trước sau vẫn chủ trương bảo vệ chủ quyền quốc gia và lãnh thổ đất nưồc. Ngoài những hành động sách nhiễu nói trên, nhà Minh còn nhiều lần, bằng nhiều hình thức tung gián điệp dò xét nội tình và ý đồ của nhà Hồ, chúng muốn nắm vững tình hình nước ta để lập mưu tiến công xâm lược1 (Năm 1386, Minh Thái Tổ cho Lý Anh sang hỏi nhờ đường nước ta đi đánh Chiêm Thành. Năm 1403, chúng lại sai Dương Bột sang Đại Việt "điều tra hư thực". Năm 1404, Lý Kỳ được lệnh dẫn đầu một đoàn sứ bộ. Khi đi qua những địa phương và kinh đô nước ta, bọn này đều điều tra hình thế, vẽ bản đồ núi sông, đường sá. Khi về nước, Lý Kỳ bắt những người đi theo phải đi nhanh chóng. Thấy thái độ bọn Lý Kỳ khác thường, Hồ Quý Ly sai tướng Phạm Lục Tài đuổi theo, nhưng đến Lạng Sơn thì đoàn sứ giả đã ra khỏi cửa ải).


Như vậy, giữa lúc Đại Việt đang trải qua những biến động sâu sắc, giữa lúc nhà Trần suy yếu rồi sụp đồ và vương triều Hồ mới thiết lập đang gặp nhiều khó khăn thì nhà Minh đã tiến hành các hoạt động chuẩn bị xâm lược.


Nhà Minh đã chủ trương huy động một lực lượng quân sự lớn, bao gồm cả thủy binh, bộ binh và kỵ binh với trang bị vũ khí, lương thảo đầy đủ, sẵn sàng tiến công Đại Việt. Đặc biệt nhà Minh ra sức lợi dụng những mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị ở nước ta, một mặt đã công nhận triều Hồ, coi Hồ Hán Thương là "An Nam quốc vương"; mặt khác, lại nêu chiêu bài "Phù Trần diệt Hồ" để lấy cớ xâm lược và tập hợp những kẻ phản bội, nhất là trong tầng lớp quý tộc nhà Trần. Đó là một thủ đoạn chính trị hết sức thâm độc, kết hợp với áp lực quân sự để ép triều đình nhà Hồ đầu hàng, nhanh chóng xâm chiếm Đại Việt.


Năm 1406, nhà Minh phái một đạo quân hộ tống đưa tên phản bội đang lưu vong trên đất Minh là Trần Thiêm Bình về nước, hòng dựng nên một vương triều bù nhìn làm tay sai cho giặc. Nhà Minh định tái diễn màn kịch Trần Di Ái của nhà Nguyên hồi thế kỷ XIII. Nhưng nhà Hồ đã bố trí quân mai phục, đánh tan đạo quân hộ tống, bắt sống Trần Thiêm Bình về kinh đô xử tội lăng trì.


Sau vụ Trần Thiêm Bình, thấy không thể khuất phục được triều Hồ, nhà Minh quyết định phát động chiến tranh xâm lược Đại Việt/Đại Ngu. Sứ giả của triều Hồ sang trình bày về sự gian trá, giả mạo của Trần Thiêm Bình, bị nhà Minh bắt giữ. Vua Minh ra lệnh tiếp tục tiến công quân sự, quyết chí đánh Đại Việt.


Ngày 9-11-1406, nhà Minh làm lễ xuất quân ở Nam Kinh. Ngày 19-11-1406, quân Minh bắt đầu vượt biên giới vào nước ta. Nhà Minh huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược này một lực lượng viễn chinh lớn theo tuyên bố của vua Minh là 80 vạn. Theo lệnh điều động quân còn chép cụ thể trong Hoàng Minh thực lục thì gồm trên 21 vạn quân chủ lực tinh nhuệ cả bộ binh và kỵ binh, cùng hàng chục vạn quân phục dịch và dân phu vận chuyển hàng chục vạn thạch thóc cung cấp cho quân đội1 (Theo Hoàng Minh thực lục, quân chủ lực tinh nhuệ đánh Đại Việt gồm 215.000 người. Triều đình giao cho Bộ Hộ trù liệu trước 200.000 thạch thóc quân lương, sai Tổng binh Quảng Tây điều động dân phu và quân lính địa phương chuyên chở. Mộc Thạch xin trữ sẵn 220.000 thạch thóc ở Lâm An và Mông Tự để cấp phát cho quân sĩ).


Trước các mũi tiến công của địch, quân đội nhà Hồ tổ chức đánh chặn một vài nơi rồi rút về giữ phòng tuyến nam sông Nhị Hà (sông Hồng). Giặc hội quân và tập trung binh lực vượt sông Nhị Hà đánh chiếm thành Đa Bang. Ngày 19-1-1407, thành Đa Bang thất thủ. Quân Minh tràn xuống chiếm thành Thăng Long (20-1-1407). Quân chủ lực nhà Hồ rút lui xuống mạn hạ lưu sông Nhị Hà và sau vài trận phản công bị thất bại, phải rút vào Thanh Hóa. Quân Minh thừa thắng đuổi theo và đến tháng 5-1407 thì Hồ Quý Ly cùng với những người lãnh đạo của triều Hồ bị sa vào tay giặc. Cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo bị thất bại nhanh chóng.


Triều đình nhà Hồ chống đỡ quân xâm lược chỉ được nửa năm. Đất nước sau hơn năm thế kỷ giành và giữ nền độc lập, đã từng chiến thắng hiển hách nhiều đạo quân xâm lược lớn mạnh và tàn bạo của phong kiến phương Bắc, nay lại bị nước ngoài đô hộ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #74 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2021, 09:32:43 am »

2. Tư tưởng về xây dựng lực lượng và tiến hành chiến tranh tự vệ thời Hồ

a) Tư tưởng quyết tâm kháng chiến và chủ trương xây dựng quân đội đông, trang bị tốt để chống lại giặc phương Bắc

Từ cuối thế kỷ XIV, nhà Minh ráo riết dòm ngó và kiếm cớ phát binh xâm lược Đại Việt. Khi triều Hồ mới thành lập, vua Minh nhân cơ hội nội tình Đại Việt chưa ổn đã chủ trương chuẩn bị gấp lực lượng để nhanh chóng đưa đại quân thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược. Trước nguy cơ đó, Hồ Quý Ly và những người thân cận một mặt lo củng cố vương quyền mới, mặt khác ra sức chuẩn bị tiến hành cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.


Quan hệ bang giao ngày càng căng thẳng và đang tiến sát đến một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi. Hồ Quý Ly và những người lãnh đạo triều đình nhận thấy rõ điều đó và ngay từ khi mới lên nắm chính quyền đã dốc sức lo chuẩn bị đối phó. Đối với nhà Minh - một đế chế lớn đương lúc cường thịnh nên triều đình nhà Hồ vẫn kiên trì thực hiện một đường lối đối ngoại mềm dẻo, cố trì hoãn chiến tranh để có thời gian chuẩn bị. Tuy trước sau, Hồ Quý Ly vẫn giữ thái độ kiên quyết với nhà Minh trên nguyên tắc giữ vững chủ quyền lãnh thổ, nhưng trước những hành động khiêu khích của vua Minh, trong một chừng mực nhất định, Hồ Quý Ly đã có những nhân nhượng. Khi nhà Minh đòi 5 vạn quân, 50 con voi và 50 vạn hộc lương chở đến biên giới tiếp viện cho quân đội hoạt động ở Long Châu, Hồ Quý Ly đồng ý nhưng chỉ cấp một ít lương thực. Khi chúng đòi một số lượng lớn tăng nhân, gái đẹp, hoạn quan và thợ thủ công, thì Hồ Quý Ly cũng chấp thuận, nhưng chỉ cho một phần và nhắc nhở phải cảnh giác khi những người này về nước vì ông cho rằng, có thể đó là âm mưu sử dụng người Việt làm nội gián cho chiến tranh của giặc. Năm 1405, khi nhà Minh đòi đất Lộc Châu (Lạng Sơn) và 7 trại ở Ninh Viễn, Hồ Quý Ly buộc phải cắt 59 thôn cho giặc, nhưng ông ngầm sai thổ dân đánh thuốc giết chết những tên thổ quan do nhà Minh đặt. Hồ Quý Ly đã bất đắc dĩ phải nhượng đất để kéo dài thời gian hòa hoãn, lo chuẩn bị lực lượng kháng chiến.


Ngay từ khi giữ chức Tham mưu quân sự (1375) và Khu mật viện đại sứ (1379), Hồ Quý Ly đã có tư tưởng cải cách hệ thống quân sự, tìm cách đưa những người thân tín nắm giữ các chức vụ, chủ trương xây dựng quân đội mạnh hơn để làm chỗ dựa và chống lại sự xâm nhập, quấy nhiễu liên tục của Chế Bồng Nga - vua Chiêm Thành.


Từ khi mới có chính quyền trong tay, Hồ Quý Ly xúc tiến mạnh mẽ việc xây dựng một lực lượng quân sự lớn mạnh. Một mặt, Hồ Quý Ly muốn có một quân đội lớn để sẵn sàng đàn áp phong trào nông dân và các lực lượng chống đối, bảo vệ và củng cố địa vị thống trị của dòng họ; mặt khác, quan trọng hơn là để đối phó với nguy cơ xâm lược của các nước láng giềng. Nhà Hồ chủ trương dùng lực lượng quân sự mạnh để gây ảnh hưởng và uy tín của chính quyền mới vừa để chống lại sự bành trướng của các vương triều đang hưng thịnh ở cả phương Bắc và phương Nam.


Đặc biệt từ khi âm mưu xâm lược của nhà Minh càng lộ rõ thì nhà Hồ càng tích cực xây dựng lực lượng quốc phòng, tăng cường quân đội và khả năng phòng thủ quốc gia. Vấn đề quốc phòng, quân sự được đặt lên hàng đầu. Ước ao của Hồ Quý Ly là: Làm thế nào để có được trăm vạn quân để chống giặc phương Bắc1 (Xem: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II). Tất nhiên, điều kiện kinh tế và dân số nước ta lúc đó không thể cho phép triều Hồ xây dựng một quân đội chủ lực đông đến trăm vạn, nhưng câu nói đó trước các triều thần cũng biểu thị quyết tâm kháng chiến và quan điểm quân sự của Hồ Quý Ly.


Để thực hiện chủ trương đó, quan Khu mật viện Hoàng Hối Khanh dâng kế sách làm hộ khẩu, nhằm "biên hết dân làm lính" để huy động được tối đa nhân lực vào quân đội. Triều đình ra lệnh kiểm dân số, biên vào sổ tất cả những đinh nam 2 tuổi trở lên, cấm người phiêu tán. Điểm lại, dân số thực tế nước Đại Việt/Đại Ngu từ 15 tuổi đến 60 tuổi tăng gấp bội. Việc kiểm kê nhân khẩu trong cả nước, lập lại sổ hộ khẩu là cơ sở để tuyển lính. Những dân đinh khỏe mạnh được chọn, sung làm lính. Những người già trong quân ngũ được thải ra. Một số nhà sư khỏe và một phần quan nô (nô tỳ nhà nước) cũng được tuyển sung vào quân Điện Tiền. Dân ngụ cư Thanh Nghệ và những người có của nhưng không có ruộng đều biên vào sổ quân. Vì thế, quân đội của Nhà nước tăng rất nhanh trong thời gian thực hiện tư tưởng phát triển quân số của triều Hồ, mà người chủ trương chính là Hồ Quý Ly.


Triều đình sắp xếp và chỉnh đốn lại quân ngũ, lập quân trợ dịch, về sau đổi thành quân bồi vệ. Tuyển chọn trong hàng ngũ quan lại những người có khả năng chỉ huy, biết rèn tập võ nghệ và tinh thông thao lược dùng làm tướng. Tuy vẫn đặt các quan chức theo chế độ nhà Trần, song do hoàn cảnh lúc đó, Hồ Quý Ly buộc phải loại bỏ các lực lượng chống đối. Ngay từ những năm cuối triều Trần, khi đã được nắm giữ những chức vụ quan trọng, Hồ Quý Ly đã từng bước thực hiện cải cách quân sự, xây dựng đội ngũ võ quan, tướng lĩnh chuẩn bị cho triều đại mới. Các tướng trung thành với sự nghiệp nhà Trần có tư tưởng chống đối như tướng chỉ huy quân Thiết Lâm là Nguyễn Khoái và Nguyễn Vân Nhi, tướng chỉ huy quân Thiết Giang là Nguyễn Hà và Lê Lạc, tướng quân Thiết Sang Nguyễn Bát Sách đều bị giết. Thượng tướng Trần Khát Chân, tướng quản quân Hữu Thánh Dực cùng hàng trăm người bị hành quyết sau sự kiện Hội thề Đốn Sơn (1399). Các tướng trung thành với sự nghiệp họ Hồ được trao quyền chỉ huy, như Khả Tuân và Chương Dương được cử coi quân Thần Dực và Thần Dũng; Nguyễn Đa Phương và Hoàng Phụng Thế chỉ huy quân Thánh Dực; Phạm Lại quản lĩnh cấm vệ đô, v.v... Bấy giờ nhà Hồ đặt chức tả, hữu tướng quốc. Trong quân đội có các đại tướng, đô tướng thống lĩnh các đại quân, trung quân, vệ quân, v.v... Một số tướng được cử quản lãnh các quân Thần Sách, Long Tiệp, Thiết Giáp, Thiết Liêm, đặt các chức như đô đốc, đô thống, tổng quản trông coi các đơn vị... Trong đợt chinh phạt Chiêm Thành năm 1403, Phạm Nguyên Khôi làm Đại tướng thủy quân chỉ huy các vệ Thiên Ngưu, Phủng Thần và Long Tiệp; Đỗ Mãn làm Đô tướng bộ quân, coi quân Thiên Cương, Chương Thánh và củng Thần. Trước nguy cơ giặc Bắc xâm lược, em Hồ Quý Ly là Hồ Quý Tỳ giữ chức Hữu tướng quốc, con trai là Hồ Nguyên Trừng giữ chức Tả tướng quốc. Năm 1405, Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng và tướng quân Hồ Đỗ được trao quyền tiết chế, chỉ huy hai đạo quân lớn nhất của nhà Hồ chuẩn bị chống lại cuộc xâm lược của nhà Minh.


Như vậy, quan điểm, tư tưởng lựa chọn tướng lĩnh thời Hồ vẫn như các triều Lý, Trần trước đây là căn cứ vào tiêu chuẩn đức, tài. Đức lúc đó, chủ yếu là lòng trung thành với triều đại mới; những người giỏi nhưng vẫn trung thành với vương triều Trần đều bị loại bỏ. Những người có công, tài năng như Hồ Nguyên Trừng, Đỗ Mãn, Phạm Nguyên Khôi, Nguyễn Đa Phương, Hoàng Phụng Thế... được tin tưởng giao cho những trọng trách trong quân đội.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #75 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2021, 09:33:32 am »

Tháng 5-1405, nhà Hồ ra lệnh đại duyệt quân đội, định lại chế độ quân ngũ. Cấm quân, lực lượng chủ lực của triều đình có 20 vệ quân gồm 12 vệ quân Nam ban và Bắc ban, 8 vệ quân Điện hậu đông và Điện hậu tây. Quân đội biên chế thành nhiều quân, quân chia thành các vệ, mỗi vệ 18 đội, mỗi đội 18 người; ngoài ra còn phân định thành các đơn vị, như đại quân (30 đội, 540 người), trung quân (20 đội, 360 người), doanh quân (15 đội, 270 người), đoàn quân (10 đội, 180 người); có thể đó là những "đơn vị chiến thuật" cao nhất do các đại tướng thống lĩnh. Quân bảo vệ hoàng cung được gọi là cấm vệ đô, gồm 5 đội. Cùng với quân chủ lực (tức quân đội do triều đình trung ương trực tiếp quản lý), ở các phủ, lộ còn có quân đội riêng. Ngoài ra nhà Hồ còn tổ chức thêm các đội hương binh và quân dũng hãn. Hương binh là lực lượng vũ trang của các làng xã, giao cho những người có chức tước cai quản. Quân dũng hãn được chiêu mộ từ những người vong mệnh (tức nông dân lưu vong) và do các chức thiên hộ, bách hộ chỉ huy.


Lực lượng quân sự của nhà Hồ chủ yếu là bộ binh và thủy binh, trong đó có các đội kỵ binh, tượng binh và pháo binh phối thuộc. Trang bị quân đội có nhiều cải tiến và đạt trình độ cao trong lịch sử phát triển kỹ thuật quân sự thời bấy giờ.


Triều Hồ chủ trương và coi trọng việc chế tạo và cải tiến các thứ vũ khí. Năm 1405, triều đình lập bốn kho quân khí chuyên rèn đúc, chế tạo các loại khí giới cung cấp cho quân đội. Những người giỏi công nghệ trong dân gian, không phân biệt là quân hay dân, đều được sung vào làm việc trong các công binh xưởng ấy. Ngoài các loại vũ khí thông thường đã có từ trước như cung tên, nỏ cứng, giáo mác, kiếm lao, máy bắn đá..., quân đội nhà Hồ còn được trang bị thêm một loại hỏa pháo nổi tiếng là súng thần cơ do Hồ Nguyên Trừng sáng chế. Đây là một loại súng pháo có sức công phá và sát thương hơn hẳn các loại hỏa khí đương thời. Súng đúc bằng gang hay đồng, gồm hai loại. Loại lớn gọi là thần cơ pháo gồm nhiều cỡ, phải kéo bằng xe, bằng ngựa hay dùng sức nhiều người; đạn của nó đúc bằng chì, bằng gang hoặc bằng đá có sức xuyên và công phá mạnh, có hiệu quả sát thương và uy hiếp tinh thần quân địch. Loại nhỏ gọi là thần cơ sang trang bị chủ yếu cho bộ binh, bắn bằng các đạn ghém, đạn lửa, gây cháy và sát thương cao. Với thần cơ pháo và thần cơ sang, trong quân đội nhà Hồ đã bước đầu xuất hiện những đơn vị pháo binh. Đó là bước tiến quan trọng về kỹ thuật quân sự và tổ chức quân đội thời Hồ.


Trang bị của quân đội nhà Hồ đã có những bước phát triển mới mẻ, những bước tiến rõ rệt so với các triều đại trước. Do phát kiến của Hồ Nguyên Trừng, hàng loạt súng thần cơ được chế tạo và trang bị cho quân đội cả trong bộ binh và thủy binh.


Thủy quân vốn giữ vai trò trọng yếu trong điều kiện chiến đấu trên địa hình sông nước của ta. Triều Hồ mở xưởng đóng nhiều loại chiến thuyền trang bị cho thủy quân, trong đó nổi tiếng và lợi hại nhất là cổ lâu thuyền. Đặc biệt, trong những năm chuẩn bị cho kháng chiến, nhà Hồ đã lo đóng tàu, thuyền để trang bị cho quân đội chống xâm lược và trong chiến tranh, quân đội nhà Hồ cơ động chủ yếu bằng thuyền và đã sử dụng nhiều thuyền các cỡ. Sử chép rằng, Hồ Hán Thương mở xưởng đóng "thuyền đinh sắt", gọi là "tải lương cổ lâu thuyền". Mượn tiếng là "thuyền tải lương" để che mắt bọn thám thính nhà Minh, thực tế đó là loại thuyền chiến cỡ lớn, gồm hai tầng: phía trên bắc sàn tre làm đường đi lại để tiện chiến đấu, tầng dưới có một hệ thống mái chèo, cứ hai người chèo một mái chèo.


Đó là kết quả của tư tưởng muốn xây dựng quân đội mạnh và chính quy của triều Hồ. Cũng nhờ đó mà nhà Hồ có một đội quân đông và trang bị tốt. Cũng chính vì thế mà sau này, khi tiến quân xâm lược Đại Việt, các tướng lĩnh và quân sĩ nhà Minh không tránh khỏi nỗi khiếp sợ trước sức mạnh hỏa lực pháo binh của quân đội nhà Hồ và khi cướp được pháo của Đại Việt, chúng rất đỗi ngạc nhiên và khâm phục vì thần cơ pháo của ta có uy thế hơn hẳn các hỏa pháo của quân Minh.


Coi trọng xây dựng quân đội đông, có trang bị tốt để chống giặc là một quan điểm, tư tưởng xuyên suốt của Hồ Quý Ly và triều Hồ. Ngay từ cuối thời Trần, khi đang giữ các chức vụ Tham mưu quân sự (1375), Nguyên nhung hành Hải Tây đô thống chế (1380) hoặc Đồng bình chương sự (1387), Hồ Quý Ly đã chú tâm xây dựng lực lượng quân sự mạnh để làm hậu thuẫn cho thế lực riêng và để chống lại các cuộc tiến công xâm lược của Chế Bồng Nga - vua Chămpa. Lực lượng quân sự đó đóng vai trò nòng cốt, là chỗ dựa vững chắc cho Hồ Quý Ly trong quá trình từng bước phế bỏ vương triều Trần, thiết lập vương triều Hồ năm 1400.


Từ khi lên ngôi vua, trước những biến động lớn trong xã hội, Hồ Quý Ly đã tiến hành nhiều cải cách, trong đó có cả cải cách trên lĩnh vực quân sự. Do chưa có một cơ sở xã hội vững chắc cho triều đại mới, do trong nước còn có một số thế lực chống đối quyết liệt, Hồ Quý Ly và triều Hồ đã trông dựa vào lực lượng quân đội của triều đình. Bằng mọi cách, Hồ Quý Ly dốc sức chỉnh đốn quân ngũ, thay đổi võ quan, tướng lĩnh nhằm có một chỗ dựa đáng tin cậy cho chính sách đối nội và đốỉ ngoại của vương triều Hồ.


Đặc biệt, trước âm mưu xâm lược của nhà Minh ngày càng lộ rõ thì vấn đề quân sự, quốc phòng đối với triều Hồ càng hết sức cấp bách. Trong quá trình chuẩn bị kháng chiến, Hồ Quý Ly và triều đình nhà Hồ đặc biệt quan tâm xây dựng quân đội có số lượng đông, có tổ chức và trang bị tốt để chống lại giặc Bắc. Trong tư tưởng chỉ đạo chiến lược cũng như trên thực tiễn cuộc chiến tranh, nhà Hồ luôn chủ trương dựa vào quân đội để kháng chiến giữ nước.


Biết rằng, Trung Quốc là một nước lớn dân đông, nhà Minh là một triều đại phong kiến đang thời kỳ cường thịnh, có quân đội đông và quyết tâm thực hiện cuộc bành trướng xuống phương Nam, Hồ Quý Ly và những người lãnh đạo vương triều Hồ luôn mong muốn và chủ trương xây dựng một quân đội đông và thiện chiến để đủ sức chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Quá trình chuẩn bị kháng chiến của vương triều Hồ được xúc tiến rất khẩn trương và luôn thể hiện tư tưởng xây dựng và dựa vào quân đội mạnh. Nhà nước đã tìm mọi giải pháp để huy động được tối đa những nhân đinh khỏe mạnh vào quân đội. Những biện pháp cải cách trên lĩnh vực quân sự của triều Hồ đã đem lại nhiều hiệu quả tích cực: Quân số tăng nhanh, biên chế, tổ chức quân đội ngày một hoàn bị, nhiều loại vũ khí, phương tiện quân sự được cải tiến và tăng cường về số lượng, đội ngũ võ quan được đào luyện khẩn trương, nhiều tướng lĩnh giỏi và trung thành với chế độ mới được cất nhắc, tuyển dụng. Trải qua nhiều lần chỉnh đốn và đại duyệt quân đội, quân đội triều Hồ đã có bước phát triển mới cả về số lượng và chất lượng, nhất là về mặt tổ chức và trang bị vũ khí. Từ thành quả đó, triều đình nhà Hồ rất tin tưởng dựa vào quân đội để chống giặc Bắc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #76 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2021, 09:35:20 am »

b) Tư tưởng phòng ngự chiến lược

Cùng với chủ trương xây dựng quân đội đông và thiện chiến, Hồ Quý Ly và triều đình nhà Hồ còn có tư tưởng dựa vào các thành trì và phòng tuyến vững chắc để chống giặc; do đó, nhà Hồ đã hết sức chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống phòng thủ của mình.


Tư tưởng này thế hiện trước hết ở việc nhà Hồ xây dựng thành Tây Đô và dời kinh đô về Thanh Hóa. Sử cũ chép rằng: Năm Đinh Sửu, mùa xuân, tháng giêng (1397) sai Lại bộ thượng thư kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tĩnh đi xem đất và đo đạc động An Tôn, phủ Thanh Hóa, đắp thành, đào hào, lập nhà tông miếu, dựng đàn xã tắc, mở đường phố, có ý muốn dời kinh đô đến đó, tháng 3 thì công việc hoàn tất. Đó là thành An Tôn, còn gọi là thành Tây Đô.


Tại sao Hồ Quý Ly không chủ trương đóng đô ở Thăng Long, kinh đô của nước Đại Việt hồi đó? Hành khiển Phạm Cự Luận và Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết đều khuyên can không nên dời đô, nhưng Hồ Quý Ly không nghe. Đáng chú ý là bức thư can của Nguyễn Nhữ Thuyết có nói rằng: "Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Đỗ (tức Thăng Long) có núi Tản Viên, có sông Lô nhị, núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi. Từ xưa, các bậc đế vương mở nền dựng nước, không đời nào không lấy đất ấy làm nơi sâu gốc bền rễ. Hãy nên noi theo việc trước... Xin nghĩ lại điều đó, để làm thế vững vàng cho nước nhà"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.191). Bất chấp lời can ngăn của triều thần, Hồ Quý Ly vẫn tỏ quyết tâm thực hiện ý định của mình. Có thể do mấy nguyên nhân chủ yếu sau:


Một là, Hồ Quý Ly muốn rời xa Thăng Long bởi vào cuối thời Trần, đầu thời Hồ là thời buổi loạn lạc. Cái loạn thể hiện ở sự bất lực, rệu rã của bộ máy nhà nước quý tộc Trần, ở mâu thuẫn giữa thế lực Hồ Quý Ly với vương hầu quý tộc. Là nhân vật chủ chốt trong bộ máy nhà nước quân chủ, Hồ Quý Ly không thể không nhận thấy thực trạng của thời loạn, vì vậy ông phải tìm nơi đất hiểm để đóng đô, bảo vệ vương quyền của ông.


Hai là, theo Hồ Quý Ly, Thăng Long từng là nơi gắn bó với vương hầu quý tộc nhà Trần gần hai thế kỷ. Tầng lớp này đang là đối thủ một mất một còn với ông. Theo nhãn quan của mình, Hồ Quý Ly nhận thức rõ các thế lực quý tộc Trần sẽ kiên quyết chống lại và tìm mọi cách loại trừ ông. Do vậy, việc dời đô tuy là ý muốn chủ quan của Hồ Quý Ly, nhưng không hoàn toàn phiêu lưu, mà nó dựa trên cơ sở thời, thế được Hồ Quý Ly cân nhắc, tính toán cẩn thận.


Ba là, Thanh Hóa đất rộng, người đông, từng là vị trí chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285). Ở Thanh Hóa, ảnh hưởng của quý tộc Trần không mạnh. Dời kinh đô về đất Thanh Hóa, hẳn Hồ Quý Ly hy vọng dựa vào vị thế của vùng đất vốn là quê hương bản bộ của mình, để dễ dàng đoạn tuyệt với vương triều Trần, vững tâm xây dựng vương triều mới.


Bốn là, An Tôn có địa thế hiểm trở lại ở xa biên giới phía Bắc. Hồ Quý Ly biết trước âm mưu xâm lược của nhà Minh và muốn chuyển kinh đô về Thanh Hóa với mục đích chủ yếu phòng bị chống giặc xâm lăng từ phía Bắc trước mắt cũng như lâu dài.


Như vậy, ý đồ phòng thủ trong tư tưởng của Hồ Quý Ly thể hiện rất rõ trong việc thiên đô. Kinh đô mới thuộc huyện Vĩnh Ninh, phủ Thanh Hóa (nay là huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Vùng đất này được sông Mã bao quanh mặt tây, phía đông có sông Bưởi chảy về hợp lưu với sông Mã ở phía nam. Động An Tôn lọt vào giữa hai con sông và hàng loạt núi: phía bắc có núi Thổ Tượng, phía nam có núi Đốn Sơn. Từ An Tôn có thể xuôi sông Mã đến Đồng Cổ và theo hệ thống sông đào nhà Lê vào Nam, hoặc theo cửa Lạch Trường và đường thượng đạo ra Bắc.


Thành Tây Đô vừa là kinh đô vừa là một công trình phòng thủ kiên cố. Thành có quy mô lớn, mặt bắc - nam dài hơn 900m, mặt đông - tây hơn 700m, chu vi hơn 3.200m, cao khoảng 6m, mở bốn cửa Đông, Tây, Nam, Bắc. Tường thành mặt ngoài ốp bằng những phiến đá lớn, ghè đẽo công phu, kích thước tính toán phù hợp với yêu cầu kiến trúc, có những phiến có kích thước 5,1x1x1,2m, ước tính nặng đến 16, 17 tấn. Toàn bộ thành được xây dựng bởi gần 20.000m3 đá. Bốn cửa thành xây theo kiểu vòm cuốn, đặc biệt là cửa Nam (cửa Tiền) rất bề thế, rộng 38m, cao hơn 10m, xây nhô ra ngoài tường thành 4m, gồm 3 vòm cuốn, vòm giữa cao 8,5m, hai vòm bên cao 7,8m. Tất cả các cửa thành đều được đóng bằng hai cánh gỗ dày, nặng, chắc chắn, che kín toàn bộ, không thể dễ dàng đột nhập khi cánh cửa đã đóng sập lại.


Thành Tây Đô quả là một pháo đài có khả năng phòng ngự tốt nếu như bị giặc tiến công. Xung quanh thành còn có một hệ thống lũy tre gai bảo vệ. Sử chép rằng, tháng 9 năm Kỷ Mão (1399), Hồ Quý Ly sai Trần Ninh đốc suất người phủ Thanh Hóa trồng tre gai ở phía tây thành, phía nam từ Đốn Sơn, phía bắc từ An Tôn đến tận cửa Bao Đam, phía tây từ chợ Khả Lãng ở Vực Sơn đến Lỗi Giang, vây bọc La Thành. Phía ngoài La Thành bao quanh bốn mặt là một con hào vừa sâu vừa rộng, về vị trí và cấu trúc thành Tây Đô, sử gia Đặng Xuân Bảng viết rằng: Nói về mặt đô hội thì Tây Đô không rộng bằng Thăng Long, nói về mặt hình thế thì Thăng Long không hiểm bằng Tây Đô. Cho nên lập đô dựng nước ngoài Thăng Long ra có lẽ không đâu hợp hơn Thanh Hóa (Tây Đô)1 (Xem: Đặng Xuân Bảng: Sử học bị khảo, Sđd). Điều đó cũng dễ hiểu, bởi vì trên thực tế, Tây Đô nặng về tính quân sự, thủ hiểm.


Như vậy, Hồ Quý Ly xây thành Tây Đô và cho chuyển kinh đô từ Thăng Long về Thanh Hóa với mục đích chủ yếu là đề phòng với thù trong giặc ngoài. Tư tưởng phòng thủ đã thể hiện rất rõ trong hành động đó của ông.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #77 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2021, 09:37:48 am »

Từ khi lên ngôi vua, từ khi nắm thực quyền trong tay, Hồ Quý Ly và vương triều Hồ bắt tay vào việc đối phó với cuộc tiến công xâm lược của nhà Minh ngày càng đến gần.


Nhà Hồ đã tập trung lực lượng xây dựng hệ thống phòng thủ và bố trí quân đội phòng bị tất cả các điểm xung yếu. Các cửa sông, cửa biển đều được cắm cọc gỗ, chăng dây sắt để cản thuyền giặc. Trong công cuộc chuẩn bị kháng chiến, nhà Hồ chú ý điều tra, theo dõi âm mưu và kế hoạch xâm lược của nhà Minh.


Trên cơ sở dự đoán các hướng tiến công của giặc, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đã xây dựng một hệ thống phòng tuyến hết sức quy mô. Phòng tuyến chủ yếu của quân đội nhà Hồ chạy dài từ núi Tản Viên (Ba Vì, Hà Tây cũ) men theo bờ nam sông Đà, tiếp theo sông Nhị Hà qua Đông Đô (Hà Nội), rồi theo sông Hải Triều, sông Hy (sông Luộc) chuyển qua sông Ma Lao (sông Thái Bình) lên đến Bình Than (Chí Linh, Hải Dương). Phía sau còn có hai chiến lũy dài: Hoàng Giang và Muộn Hải (Ninh Bình và Hà Nam), cả hệ thống phòng tuyến dài hơn 700 dặm (khoảng 400 km) với hy vọng ngăn chặn quân địch tiến từ các hướng từ Vân Nam, Quảng Tây sang, nhằm bảo vệ thành Đông Đô và chặn không để quân giặc tiến vào Tây Đô. Trên phòng tuyến đó, các dòng sông được sử dụng như những con hào thiên nhiên. Bờ nam sống còn được đóng cọc, dựng rào, lập thành bãi chướng ngại và hệ thống đê sông được sử dụng làm chiến lũy.


Ngoài thành Đông Đô và Tây Đô, nhà Hồ còn xây dựng thêm thành Đa Bang dưới chân núi Tản Viên (Ba Vì, Hà Tây cũ), gần chỗ hợp lưu của sông Nhị Hà, sông Lô và sông Đà, làm cứ điểm phòng ngự chủ yếu. Năm 1405, Thái thú Đông Lộ Hoàng Hối Khanh được lệnh điều động dân phu, gấp rút xây thành Đa Bang. Thành đắp bằng đất khá cao, phía ngoài có hai lần hào, trong hào cắm chông tre dày đặc và phía ngoài hào có nhiều hầm hố để bẫy người và ngựa. Nhiều trại quân được thiết lập trên bãi Mộc Hoàn. Hồ Hán Thương còn lệnh cho quân dân vệ Đông Đô đóng cọc chặn cửa sông Bạch Hạc để ngăn giặc trên hướng này. Bấy giờ bãi Mộc Hoàn cùng thành Đa Bang là cứ điểm then chốt trong hệ thống phòng ngự của nhà Hồ.


Hồ Quý Ly đi tuần du các sông núi và cửa biển ở các lộ phía Bắc, xem xét nơi nào có vị thế hiểm yếu để xây dựng thế trận phòng ngự. Nhà Hồ cho tăng cường chướng ngại vật, như đóng cọc gỗ, giăng xích sắt ở các cửa biển, cửa sông và những nơi quan yếu đều bố trí phòng vệ.


Tư tưởng dựa vào quân đội mạnh và hệ thống phòng thủ kiên cố để chống giặc của vương triều Hồ đã thể hiện ngay trong quá trình chuẩn bị kháng chiến; và điều này càng biểu hiện rõ trong diễn trình chiến tranh chống quân Minh xâm lược. Từ những hiểu biết về địch tình, từ những dự đoán về âm mưu và đường tiến quân của địch, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương cùng Tiết chế quân đội Hồ Nguyên Trừng đã cho triển khai một thế trận phòng ngự, cho quân mai phục sẵn ở những hẻm núi và chia các đội ngũ chốt giữ những địa điểm trọng yếu sẵn sàng đón đánh giặc.


Tư tưởng phòng ngự của những người lãnh đạo kháng chiến thời Hồ không chỉ biểu hiện trong việc xây dựng các thành quách, phòng tuyến, mà còn thể hiện đậm nét trong quá trình chỉ đạo, chỉ huy tác chiến.


Năm 1406, sau khi đánh tan 10 vạn quân Minh trong đợt tiến công xâm lược do Hàn Quan và Hoàng Trung chỉ huy núp dưới chiêu bài hộ tống Trần Thiêm Bình về nước, nhà Hồ tiếp tục triển khai một thế trận chiến lược, dựa vào hệ thống tuyến phòng ngự và thành lũy kiên cố, lấy tuyến Đa Bang - Đông Đô làm chủ yếu, để quyết chiến khi quân Minh lại kéo sang. Nhằm kéo dài thời gian chuẩn bị thế trận phòng ngự, Hồ Hán Thương cử An phủ sứ Tam Giang Trần Cung Túc và Thông phán Ái Châu Mai Tú Phu làm Chánh, Phó sứ sang nhà Minh trình bày về việc Thiêm Bình gian trá, xin đặt giao hảo và cống nạp. Nhà Minh bắt giữ sứ giả, ra lệnh động binh, cử Thái sử thái phó Thành quốc công Chu Năng làm Tổng binh, các Phó tướng Tân Thành hầu Trương Phụ, Tây Bình hầu Mộc Thạnh, Tham tướng Huỳnh Dương bá Trần Húc, Phong Thành hầu Lý Bân... chỉ huy 80 vạn quân xâm lược Đại Việt. Khi quân Minh tiến đến Long Châu thì Chu Năng bị bệnh chết, Trương Phụ được cử thay làm Chinh Di đại tướng quân lãnh chiếu Tổng binh. Trương Phụ và Trần Húc chỉ huy một đạo quân 40 vạn theo đường ải Pha Lũy (Lạng Sơn); Mộc Thạnh và Lý Bân chỉ huy 40 vạn quân tiến theo ải Phú Lệnh (Hà Giang), vào nước ta.


Ngày 19-11-1406, cánh chính binh do Trương Phụ chỉ huy từ Bằng Tường tiến đánh ải Pha Lũy. Giặc tiến ào ạt, quân trấn giữ cửa ải phải bỏ chiến tuyến rút lui. Chiếm được Pha Lũy, Trương Phụ cho treo và thả xuống sông bảng văn kể tội họ Hồ, kêu gọi hưởng ứng "Phù Trần diệt Hồ". Đô đốc Hàn Quan vận chuyển lương thảo, lập căn cứ đầu cầu. Quân Minh chặt cây mở đường, bắc cầu qua sông. Tướng Lữ Nghị chỉ huy quân tiên phong dò xét tình hình, đề phòng phục binh của ta. Ở Ải Lưu, quân nhà Hồ có khoảng 2 vạn, dựa vào thế núi để đóng trại, đào hào, đắp chiến lũy, đặt máy bắn và tên độc để chặn giặc. Khi quân Minh tới, quân phòng thủ ở đây ra sức bắn tên độc, lăn đá, ném cây cự thủ. Quân tiên phong nhà Minh dùng thuẫn che mình tiến đánh. Tuy có chiến lũy kiên cố, địa hình hiểm trở và lực lượng phòng thủ khá mạnh, nhưng vì địch tập trung lực lượng đột phá liên tục nên sau một vài trận cự chiến, quân nhà Hồ không thể giữ vững được cửa quan. Lữ Nghị vượt qua được trận địa của ta. Quân Minh với ưu thế về binh lực đã vượt qua các trận địa phòng ngự của quân nhà Hồ ở biên ải.


Phía sau các phòng tuyến Pha Lũy và Ải Lưu, quân nhà Hồ xây dựng phòng tuyến ở Chi Lăng, ở đây có chiến lũy và trại quân xung quanh được đắp thành đào hào, cắm chông nhọn và đặt pháo bảo vệ. Ngày 20-11, tướng Minh là Chu Vinh chỉ huy một đạo quân tiến đến Chi Lăng. Quân nhà Hồ dựa vào chiến lũy cự chiến ngăn giặc. Nhưng thế trận phòng ngự ở đây cũng nhanh chóng bị phá vỡ và cửa ải Chi Lăng cùng với cả hệ thống chiến lũy sát biên giới đều bị quân giặc chiếm.


Quân Minh tiến đánh Cần Trạm (địa đầu Bắc Giang). Phục binh của quân nhà Hồ liên tiếp cản phá, nhưng không thắng. Từ Cần Trạm, một đạo quân Minh theo đường Xương Giang, Thị Cầu (Bắc Ninh) tiến đến Gia Lâm (Hà Nội), đóng ở bờ bắc sông Nhị Hà đối diện với thành Đông Đô. Còn đại quân thì vòng lên phía tây, tiến xuống Tân Phúc (Đa Phúc) và liên lạc với Mộc Thạnh từ Mông Tự (Vân Nam) tiến xuống.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #78 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2021, 09:38:44 am »

Cùng lúc đó, cánh quân do Mộc Thạnh thống lĩnh đã vượt biên giới, đánh chiếm các cửa ải của ta. Bọn Lý Bân, Trần Tuấn tiến công ải Phú Lệnh (Hà Giang) và nhiều cửa quan khác. Quân phòng thủ biên giới của nhà Hồ trên hướng này cũng dựa vào các chiến lũy, chiến đấu quyết liệt, nhưng không thể đương đầu nổi với sức tiến công mãnh liệt của quân Minh. Các trận địa phòng ngự đểu bị chọc thủng. Tướng Minh là Từ Nguyên dẫn một đạo quân tinh nhuệ bất ngờ đánh chiếm một vị trí phòng vệ quan trọng của nhà Hồ trên sông Tuyên Quang (sông Lô). Chốt phòng thủ ở Tuyên Quang bị mất. Lý Bân tung thám tử dò xét tình hình, sợ quân ta mai phục, nhưng quân nhà Hồ đã rút về giữ phòng tuyến phía sau. Quân Minh theo dòng sông Thao, gấp rút tiến xuống Việt Trì, tiến công thành Mộc Hoàn và các chiến lũy ở bờ sông Bạch Hạc (Phú Thọ). Quân Tả Thánh Dực do tướng Hồ Xạ chỉ huy dựa vào phòng tuyến Bạch Hạc, dàn trận đối địch với giặc. Vì địch quá đông, lại quen lối đánh trận địa, Hồ Xạ buộc phải dời hàng trận sang giữ phòng tuyến sông Cái. Đang đêm, bọn Lý Bân cho quân lính khiêng thuyền ra bãi phía bắc sông Thiên Mạc để tổ chức vượt sông. Tướng quân Trần Đĩnh bí mật dẫn quân tập kích bất ngờ, giành được thắng lợi lớn. Đội hình quân Minh có phần rối loạn, nhưng sau đó chúng đã hội quân tiếp tục tiến công. Quân nhà Hồ lập trận thế, dựa vào thành lũy đã xây dựng từ trước để cố thủ và đánh trả quyết liệt. Tuy nhiên, tướng chỉ huy quân Tả Thánh Dực Nguyễn Công Khôi do sơ hở đã bị quân Minh dùng kỳ binh đánh úp, phần lớn chiến thuyền của ta bị chúng phóng lửa đốt cháy. Quân cứu viện của nhà Hồ không kịp đến nên quân Minh đã làm chủ toàn bộ khu vực phòng ngự trên bờ sông Mộc Hoàn.


Ngày 11-11-1406, hai cánh quân Trương Phụ và Mộc Thạnh đã hội được trên tuyến bắc sông Nhị Hà từ Bạch Hạc đến Gia Lâm. Chúng hạ trại quân, đóng san sát thành ba cụm lớn: Mộc Thạnh ở Bạch Hạc, Trương Phụ ở Tân Phúc, Phương Chính và Vương Thứ ở Gia Lâm. Đến đây, trước mặt quân Minh là phòng tuyến sông Nhị Hà với dòng sông rộng mênh mông và hai thành Đa Bang và Đông Đô kiên cố do hàng chục vạn quân nhà Hồ chốt giữ.


Quân đội nhà Hồ, sau những trận đánh phòng ngự cố thủ không thành công, trước sức tiến công ào ạt của hai cánh quân lớn theo hướng Lạng Sơn và Hà Giang, đã lui về bờ nam sông Nhị Hà, tập trung lực lượng bảo vệ phòng tuyến chủ yếu Đa Bang - Đông Đô. Hồ Quý Ly ra lệnh củng cố phòng tuyến, dựng thêm rào gỗ ở bờ nam sông, đóng cọc ngăn giữ các cửa sông, dàn chiến thuyền trên mặt sông, tổ chức tuần tiễu nghiêm ngặt. Trên phòng tuyến bờ nam sông Nhị Hà, bộ binh cùng với tượng binh, kỵ binh lập thế trận, ngày đêm canh giữ. Đặc biệt, thành Đa Bang và Đông Đô là hai căn cứ phòng ngự then chốt được tăng cường lực lượng phòng thủ về mọi mặt và giao cho những đạo quân lớn, tinh nhuệ nhất trấn giữ. Chủ trương của triều Hồ là dựa vào phòng tuyến chủ yếu này để chặn đứng bước tiến quân của quân Minh và chờ khi chúng gặp khó khăn sẽ tổ chức phản công. Toàn bộ phòng tuyến đặt dưới quyền chỉ huy của tướng Hồ Nguyên Trừng và tướng Hồ Đỗ. Nhân dân vùng bắc sông Nhị Hà hầu hết đã được lệnh di cư về phía nam sông để thực hành kế "thanh dã" (vườn không nhà trống).


Theo dõi tình hình chiến sự ở Đại Việt, vua Minh (Minh Thành Tổ) lo chiến tranh phải kéo dài sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là sang mùa nóng bức, sợ không đủ lực lượng quân sự và lương thảo chi viện cho chiến tranh, nên đã truyền lệnh cho Trương Phụ, Mộc Thạnh phải đánh nhanh, hoàn thành cuộc chinh phục trong mùa xuân năm tới.


Trương Phụ và Mộc Thạnh vì thế đã quyết tâm đánh thành Đa Bang. Trương Phụ từ Tân Phúc kéo đến Tam Đái (Vĩnh Phúc) để cùng với Mộc Thạnh tập trung quân tiến công thành này. Chúng đóng thêm chiến thuyền, sửa sang khí giới, chuẩn bị phương tiện vượt sông. Trương Phụ dùng kế nghi binh, sai Chu Vinh dẫn một đạo quân với nhiều thuyền bè, từ Bạch Hạc tiến thẳng tới Gia Lâm, phối hợp với Phương Chính và Vương Thứ, uy hiếp Đông Đô. Chúng đóng trại, dàn quân, bày thuyền, ban đêm đốt lửa bắn súng làm như đang chuẩn bị vượt sông tiến công Đông Đô. Hồ Nguyên Trừng mắc mưu giặc, điều bớt quân về tăng cường cho Đông Đô. Trong khi đó, đại quân của Trương Phụ và Mộc Thạnh vẫn tập trung ở mạn trên để tiến công Đa Bang. Bọn tướng giặc coi trận đánh chiếm thành Đa Bang là trận đánh quyết định, nên đã tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất vào hướng và mục tiêu chủ yếu này.


Ngày 19-1-1407, quân Minh vượt sông, tập trung ở bãi cát dưới chân thành Đa Bang. Tối ngày 19, rạng ngày 20, quân Minh bắt đầu tiến công từ hai mặt. Trương Phụ cùng các tướng Hoàng Trung, Chu Anh, Trình Khoan, Hoàng Nghĩa đánh mặt tây bắc; Mộc Thạnh cùng Trần Tuấn đánh mặt đông nam. Kỵ binh và bộ binh giặc lớp lớp xông tới. Quân giữ thành dùng pháo, thủ tiễn và cung tên bắn chặn rất dữ dội, đến nỗi đạn bay như mưa, súng kêu tựa sấm1 (Xem Cao Hùng Trưng: An Nam chí, Sđd). Lợi dụng đêm tối, quân Minh dùng thang mây trèo lên thành. Quân nhà Hồ đánh lại quyết liệt, sử chép: Xác chết (của giặc Minh - TG) chất cao ngang với thành2 (Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II). Giặc đông, từ nhiều phía đánh vào. Quân nhà Hồ chống không nổi, phải rút cả vào trong thành cố thủ. Quân Minh vốn rất thạo công thành, nhưng vì thành Đa Bang kiên cố và quân trong thành chống trả hết sức quyết liệt nên sau nhiều lần tiến công, đột phá, chúng không thể chọc thủng được phòng tuyến, không đột nhập được vào trong thành, trái lại quân lính chết vô số, "máu chảy tựa sông, thây chết thành gò".


Thấy quân giặc nhiều lần tiến công đều thất bại và thương vong nhiều, mờ sáng hôm sau (20-1), tưởng rằng cách đánh phòng ngự đã có hiệu quả, các tướng của nhà Hồ cho quân từ trong thành dùng tượng binh đột phá, mở đường tiến ra phản kích, hy vọng tiêu diệt được quân Minh, phá vòng vây của giặc. Nhưng vì quân Minh còn rất đông, chúng đánh lại quyết liệt, buộc quân ta phải lui vào thành cố thủ. Hoàng Minh thực lục chép rằng, quân Minh vẽ hình sư tử trùm lên ngựa, dùng hỏa tiễn xông vào bắn voi. Voi sợ sư tử, lùi lại, quân Minh theo chân voi vào thành. Nhân cơ hội đó, Trương Phụ tung kỵ binh và thúc quân đánh gấp, đuổi theo và đột nhập vào thành. Một trận giáp chiến ác liệt đã diễn ra trong thành. Địch kéo vào ngày càng đông, quân ta yếu thế. Các tướng Lương Dân Hiến, Thái Bá Nhạc tử trận. Quân nhà Hồ buộc phải bỏ thành rút lui. Quân Minh thắng thế đuổi theo đến núi Tản Viên.


Sau ba ngày kịch chiến, ngày 21-1-1407, thành Đa Bang thất thủ. Phòng tuyến chủ yếu mà quân nhà Hồ đặt nhiều hy vọng trong chiến lược phòng thủ của mình bị chọc thủng ở cứ điểm then chốt nhất nên đã bị rung chuyển toàn bộ. Lúc đó, quân nhà Hồ căng ra trên một tuyến phòng ngự dài, lại bị kìm chân ở Đông Đô và Thiên Mạc nên không kịp ứng cứu cho nhau. Cứ điểm quan trọng số một của phòng tuyến bị giặc chiếm. Đây là thất bại lớn đầu tiên của tư tưởng tác chiến phòng ngự của quân đội nhà Hồ. Nghe tin Đa Bang thất thủ, những cụm quân đóng giữ dọc theo tuyến bờ sông đều ngã lòng. Quân giặc theo bờ nam sông tiến đánh các đồn trại, phóng lửa đốt cháy các hàng rào gỗ trên phòng tuyến của nhà Hồ. Quân Minh tập trung đánh Đông Đô. Ngày 22-1, thành Đông Đô bị giặc chiếm đóng. Chúng dựng doanh trại, cướp bóc phố phường, hãm hiếp phụ nữ, vơ vét vàng bạc, lụa là và các kho tàng của nhà Hồ. Kế sách phòng ngự giữ thành Đông Đô nhanh chóng thất bại.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 3840



WWW
« Trả lời #79 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2021, 09:41:27 am »

Sau khi Đa Bang và Đông Đô thất thủ, Hồ Nguyên Trừng phải rút đại quân xuống mạn Hoàng Giang (Hà Nam), cố giữ phòng tuyến Hoàng Giang. Đó là phòng tuyến phía nam của nhà Hồ từ Hoàng Giang qua sông Luộc, sông Thái Bình đến Bình Than, một phòng tuyến quan trọng được nhà Hồ xây dựng theo kế hoạch từng bước ngăn chặn, làm suy yếu quân giặc.


Cuối tháng 2-1407, quân Minh từ Đông Đô theo sông Nhị Hà đánh xuống Hoàng Giang, đóng trại đối địch với quân ta. Lợi dụng khi giặc mới đến, Hồ Nguyên Trừng chọn 300 chiến thuyền cỡ lớn, dùng một lực lượng tinh nhuệ gồm cả bộ binh và thủy binh, tổ chức phản công. Nhưng do không có sự chuẩn bị chu đáo, lại bị Mộc Thạnh đặt phục binh, từ hai bên đánh ập vào; bị bất ngờ, quân nhà Hồ thất bại, phải rút về sau phòng tuyến. Quân Minh thừa thắng, tập trung lực lượng tiến công đột phá. Phòng tuyến Hoàng Giang bị vỡ. Quân của Hồ Nguyên Trừng phải rút về cửa Muộn Hải (cửa sông Nhị Hà). Tại đây, Hồ Nguyên Trừng cho đào hào, đắp lũy, dựng rào gỗ, nhanh chóng xây dựng một phòng tuyến mới để chống giặc.


Tại Bình Than, một cánh quân Minh khác tiến công vào phòng tuyến của ta. Các tướng bảo vệ phòng tuyến đã chia quân cản phá địch ở nhiều nơi. Nhiều trận chiến đấu diễn ra quyết liệt ở núi Khôn Mai, ở trên sông Vạn Kiếp, ở núi Phả Lại, v.v... Các đạo quân Minh do Vương Hữu và Liễu Tông chỉ huy đánh rất mạnh. Đại tướng Hồ Đỗ trực tiếp chỉ huy chiến đấu ở đây đã yếu thế, buộc phải ra lệnh rời phòng tuyến, lui quân về Muộn Hải, hợp lực với Hồ Nguyên Trừng.


Như vậy là phòng tuyến Hoàng Giang - Bình Than lại thất thủ. Một lần nữa chủ trương dựa vào phòng tuyến tác chiến phòng ngự của quân đội nhà Hồ thất bại trước sức tiến công mãnh liệt của quân xâm lược.


Chọc thủng được phòng tuyến Hoàng Giang, Trương Phụ huy động đại quân đánh xuống Muộn Hải. Chúng dùng thủy binh và nhiều súng lớn bắn phá dữ dội vào phòng tuyến của quân nhà Hồ. Ở đây, quân Minh gặp phải sức chống trả quyết liệt của quân ta. Tướng quân Ngô Thành nhân lúc nước triều lên, lợi dụng chiều gió, tập trung chiến thuyền phản công tiêu diệt được nhiều thủy quân giặc. Các đợt tiến công của quân Minh đã bị thất bại. Do bị tổn thất lớn, lại gặp mưa nắng thất thường, quân lính ốm đau nhiều, Trương Phụ buộc phải bỏ Muộn Hải rút về cửa Hàm Tử (Hưng Yên) để củng cố, tăng thêm lực lượng, chuẩn bị cho đợt tiến công mới. Giặc dựng đồn trại ở hai bên bờ, dàn sẵn chiến thuyền và đặt phục binh đế phòng quân nhà Hồ tiến tới.


Thấy giặc rút lui, Hồ Nguyên Trừng cho rằng thời cơ phản công đã đến. Ông cho người đón Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương từ Tây Đô ra, rồi tiến quân lên chiếm giữ phòng tuyến Hoàng Giang. Hồ Quý Ly cũng định nhân đà thắng lợi ở Muộn Hải, tập trung toàn bộ lực lượng mở một trận phản công chiến lược vào đạo quân chủ lực của Trương Phụ đang cắm binh hạ trại ở Hàm Tử, với mục đích vừa tiêu diệt một phần lực lượng địch, vừa để phá thế tiến công của chúng, tạo thế lợi cho lực lượng kháng chiến.


Hồ Nguyên Trừng thống lĩnh toàn bộ 7 vạn quân thủy, bộ, dàn thế trận, từ Hoàng Giang tiến đánh quân Minh ở cửa Hàm Tử. Lúc đó, Hồ Xạ và Trần Đĩnh được lệnh chỉ huy một đạo quân bộ tiến theo bờ nam sông Nhị Hà đánh vào phía tây trại giặc. Đỗ Nhâm Giám, Trần Khắc Trang chỉ huy một đạo quân bộ khác tiến theo bờ bắc sông đánh vào mặt đông nam. Nguyễn Công Chửng chỉ huy một đạo thủy quân với 100 chiến thuyền đi tiên phong. Hồ Nguyên Trừng, Hồ Đỗ chỉ huy trung quân. Hồ Vấn, Đỗ Mãn chỉ huy hậu quân. Ba đạo quân này theo dòng sông tiến công vào mặt nam cụm quân Trương Phụ ở Hàm Tử. Thuyền quân nối nhau hơn mười dặm, kín cả mặt sông. Quân thủy, quân bộ tổng cộng 7 vạn người, nhưng để tăng thanh thế, Hồ Quý Ly cho phao tin tổng số quân tham chiến là 21 vạn.


Do đề phòng trước, Trương Phụ huy động thêm quân từ Đông Đô đến phối hợp, đặt phục binh, nhử quân Hồ Nguyên Trừng vào trận địa mai phục rồi tung quân ra đánh. Trương Phụ chỉ huy bộ binh và kỵ binh, Liễu Thăng chỉ huy thủy binh, từ hai mặt đánh rất mạnh. Bị đánh bất ngờ, quân nhà Hồ lúng túng đối phó, đội ngũ rối loạn và tan võ. Hồ Vấn và Đỗ Mãn chỉ huy hậu quân tiếp viện nhưng bị đánh tan. Các tướng Hồ Xạ, Trần Khắc Trang, Trần Đĩnh, Đỗ Nhân Giám... đều bị tử trận. Cuộc phản công thất bại, lực lượng bị tổn thất hết sức nặng nể, Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương cùng các tướng thu thập quân sĩ theo đường biển rút về Tây Đô cố thủ.


Tháng 5, cả triều đình và hầu hết quân đội tập trung ở Tây Đô, hy vọng dựa vào thành trì kiên cố này để bảo vệ lực lượng kháng chiến. Quân Minh theo hai đường thủy, bộ nhanh chóng truy kích gấp và bao vây Tây Đô. Quân nhà Hồ chưa kịp ổn định, vả lại tinh thần quân sĩ đã suy sụp nên không giữ được thành. Triều đình cùng bộ phận quân đội còn lại rút vào phía nam. Tháng 6-1407, những người cầm đầu vương triều và quân đội nhà Hồ lần lượt bị sa vào tay giặc ở Kỳ La (Hà Tĩnh).


Thất bại của triều đình nhà Hồ trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh do nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất, đó là sai lầm trong tư tưởng chỉ đạo tác chiến chiến lược và chiến thuật. Dựa vào một quân đội có số lượng đông và cả một hệ thống phòng vệ kiên cố, nhà Hồ trước sau vẫn "kiên trì" chủ trương thực hành chiến lược phòng ngự để chống lại chiến lược tiến công của địch, dùng thành cao hào sâu, chiến lũy kiên cố, sử dụng quân đội được trang bị khá tốt để cố thủ cự địch làm phương thức tác chiến cơ bản. Bởi thế, trong quá trình chiến tranh, quân đội nhà Hồ luôn buộc phải tác chiến trong thế trận phòng ngự trận địa hết sức bị động về cả chiến lược cũng như chiến thuật.


Triều đình nhà Minh và các tướng giặc đều có chủ định lợi dụng lúc triều chính nhà Hồ chưa ổn định, dùng lực lượng quân sự lớn mạnh để đánh chiếm Đại Việt trong một thời gian ngắn. Minh Thành Tổ rất lo sợ chiến tranh kéo dài đến mùa nóng nực nên đã hạ lệnh cho Trương Phụ và Mộc Thạnh "Không được chậm trễ". Mặt khác, bấy giờ nhà Minh là một đế chế cường thịnh trên thế giới, quân đội đã từng trải trong chiến tranh chống Nguyên và nhiều cuộc chinh phạt khác. Quân Minh thường áp dụng chiến lược đánh nhanh thắng nhanh; trong tác chiến, chúng quen lối đánh tập trung, đánh trận địa, có nhiều kinh nghiệm và phương tiện đánh thành. Trước một đối tượng tác chiến như vậy, quân đội nhà Hồ lại chủ trương thực hành chiến lược phòng ngự, phương pháp tác chiến phòng ngự bị động. Đó là sai lầm lớn trong tư tưởng chỉ đạo tác chiến. Trước sự tiến công ồ ạt của quân Minh, quân đội nhà Hồ chặn đánh ở một số điểm, rồi lui về giữ phòng tuyến chủ yếu ở bờ nam sông Nhị Hà với hai thành lũy lớn là Đông Đô và Đa Bang. Nhờ ưu thế về binh lực và sở trường tác chiến trận địa và công thành, quân địch đã tiến công mạnh mẽ, chọc thủng phòng tuyến của nhà Hồ ở một số cứ điểm then chốt. Từ sau thất bại có ý nghĩa chiến lược trên tuyến phòng ngự Đa Bang - Đông Đô, nhất là ở thành Đa Bang, quân nhà Hồ bị tổn thất nặng nề và toàn bộ hệ thống phòng ngự bị lung lay, dẫn đến thất bại ở Đông Đô rồi thất thủ ở Hoàng Giang và các phòng tuyến khác.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM