Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 10 Tháng Bảy, 2020, 08:07:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 1  (Đọc 473 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1242



WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2020, 08:31:17 pm »

Đến nửa sau thế kỷ II, phong trào đấu tranh nổ ra trên cả ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Với khí thế đấu tranh quyết liệt, nghĩa quân đốt phá các thành ấp, đồn trại, giết chết bọn quan lại đô hộ người Hán từ huyện lệnh đến Thái thú. Có những cuộc nổi dậy đã liên kết được nhiều địa phương và kéo dài được ba, bốn năm. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Chu Đạt ở các quận Cửu Chân và Nhật Nam những năm 157-160; của Lương Long ở hàng loạt quận, huyện từ Giao Chỉ cho tới Nhật Nam những năm 178-181. Binh lính người Việt trong quân đội đô hộ Hán được nhân dân thức tỉnh cũng nhiều lần nổi dậy đấu tranh.


Từ thế kỷ III trở đi, nhân dân ta liên tục nổi dậy đấu tranh khiến bọn quan lại đô hộ phương Bắc không sao đối phó nổi. Thái thú Giao Chỉ lúc đó là Tiết Tổng dâng số cho Tôn Quyền nói rằng: "Giao Châu đất rộng người đông, hiểm trở độc hại, dân xứ ấy rất dễ làm loạn, rất khó cai trị"1 (Ngô Chí, q.9. Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, Sđd, t.2, tr.113).


Cuộc nổi dậy gây chấn động Giao Châu bấy giờ là cuộc khởi nghĩa Bà Triệu năm 248 ở Cửu Chân (Thanh Hóa). Bà Triệu lập căn cứ ở núi Nưa, phát triển lực lượng, quân số có tới hàng vạn người. Nghĩa quân đánh thắng quân Ngô nhiều trận, giải phóng nhiều huyện thành. Bọn quan lại nhà Ngô, từ Thái thú đến huyện lệnh, huyện trưởng, kẻ bị giết, kẻ bị bắt hoặc chạy trốn trong cơn hoảng loạn.


Nhà Ngô lo sợ phải cử Lục Dận làm Thứ sử Giao Châu, đem 8.000 quân sang đàn áp. Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu tuy bị thất bại, nhưng đã đánh dấu một bước trưởng thành của cuộc đấu tranh tự giải phóng của nhân dân ta lúc bấy giờ.


Tiếp nối tinh thần quật khởi của Bà Triệu, phong trào chống đô hộ của nhân dân ta vẫn tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, lúc âm ỉ, lúc bộc phát, lan rộng cả miền xuôi và miền ngược, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Lý Trường Nhân (468-485).


Khi Thứ sử Giao Châu bị giết, Lý Trường Nhân, một hào trưởng địa phương, đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy, giết hết bọn quan lại đô hộ cùng những người lưu ngụ từ phương Bắc sang, tự xưng là thứ sử. Các thứ sử do nhà Tống cử sang, cai trị nước ta đều bị Lý Trường Nhân đánh đuổi. Lý Trường Nhân chết, người em họ là Lý Thúc Hiến lên thay, cũng kiên quyết không chấp nhận thứ sử từ phương Bắc sang. Triều đình nhà Tề phải đem quân sang đàn áp để chiếm lại Giao Châu.


Bước sang thế kỷ VI, phong trào giải phóng của nhân dân ta chuyển lên giai đoạn mới mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa thành công dưới sự lãnh đạo của Lý Bí (542-543) đưa đến việc thành lập Nhà nước Vạn Xuân (544).


Nhân lòng oán giận của nhân dân với chính quyền đô hộ, Lý Bí đã liên kết với hào kiệt ở các châu, huyện nước ta cùng nổi dậy chống nhà Lương. Chưa đầy 3 tháng, bè lũ đô hộ nhà Lương đã bị quét sạch. Nghĩa quân chiếm được châu thành Long Biên. Nhà Lương hai lần đem quân sang đánh chiếm lại Giao Châu, nhưng đều bị quân khởi nghĩa đánh tan.


Trên đà chiến thắng, Lý Bí tuyên bố độc lập, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân và lên ngôi hoàng đế, tự xưng là Nam Đế (Hoàng đế nước Nam), đặt niên hiệu riêng là Thiên Đức, tổ chức một triều đình riêng có hai ban văn, võ. Ông còn cho dựng điện Vạn Xuân1 (Sách Đại việt sử ký toàn thư chép là "Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội" (Khởi Vạn Thọ điện dĩ vi triều hội - Ngoại kỷ, quyển 4, tờ 15b). Vào thế kỷ XIX, sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục theo Thái Bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử (Tống) chữa lại là "Điện Vạn Xuân", có lẽ đúng hơn (T.G)) để làm nơi văn võ bá quan triều hội, xây chùa Khai Quốc (chùa Mở Nước), đúc tiền Thiên Đức.


Việc dựng nước Vạn Xuân, một nhà nước kiểu mới của người Việt, khẳng định sự trưởng thành của ý thức dân tộc, của lòng tự tin vững chắc vào khả năng làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ đất nước của nhân dân ta.


Năm 545, nhà Lương sai Dương Phiêu và Trần Bá Tiên đem gần 10 vạn quân sang cướp lại nước ta. Lúc đầu, Lý Nam Đê chỉ chủ trương dựa vào quân đội chủ lực và thành lũy cố định, dàn trận chống giặc, nhưng không địch nổi quân Lương rất đông và mạnh nên phải rút lui về động Khuất Lão (Phú Thọ), rồi giao binh quyền cho Triệu Quang Phục.


Tướng Triệu Quang Phục lui về lập căn cứ ở đầm Dạ Trạch, thực hiện đánh lâu dài, lấy đánh tiêu hao, phục kích, đánh úp làm phương thức tác chiến chủ yếu. Nhờ có cách đánh phù hợp, lực lượng nghĩa quân ngày càng lớn mạnh, gây cho quân địch nhiều thiệt hại. Năm 550, nhân nhà Lương có loạn, Triệu Quang Phục tổ chức phản công, giành thắng lợi.


Nước Vạn Xuân giữ được độc lập hơn nửa thế kỷ thì nhà Tùy lại đem quân sang xâm lược. Lý Phật Tử tổ chức kháng chiến nhưng thất bại, đất nước ta lại bị rơi vào ách thống trị của nhà Tùy.


Dưới ách thống trị của nhà Tùy rồi nhà Đường, phong trào đấu tranh chống ách đô hộ của nhân dân ta tiếp tục diễn ra quyết liệt. Liên tiếp trong 3 thế kỷ VII, VIII, IX, thế kỷ nào cũng có những cuộc nổi dậy của nhân dân ta đánh đuổi chính quyền đô hộ. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), của Mai Thúc Loan (713 - 720), của Phùng Hưng (766 - 791), của Dương Thanh (819 - 820)... Các phong trào đó chính là những trận tập dượt cho việc giành quyền độc lập thực sự của dân tộc ta vào đầu thế kỷ X.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1242



WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2020, 08:32:18 pm »

3. Cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập, tự chủ đầu thế kỷ X

Vào đầu thế kỷ X, nhân lúc triều đình nhà Đường (618 - 907) ở Trung Quốc rối loạn và chính quyền đô hộ nhà Đường trên đất nước ta suy yếu, một hào trưởng ở đất Hồng Châu (Ninh Giang, Hải Dương) là Khúc Thừa Dụ đã dấy binh khởi nghĩa (905) đánh chiếm phủ Tống Bình, tự xưng là Tiết độ sứ. Nhà Đường đành phải công nhận chính quyền của Khúc Thừa Dụ và phong ông làm Tĩnh hải quân Tiết độ sứ tước Đồng bình chương sự. Tuy còn mang danh hiệu một chức quan của nhà Đường, nhưng thực chất Khúc Thừa Dụ đã dựng nên một chính quyền tự chủ, kết thúc về cơ bản ách đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc.


Sau khi Khúc Thừa Dụ qua đời (907), con cháu ông là Khúc Hạo (907-917) và Khúc Thừa Mỹ (917-930) nối nghiệp, tiến hành cải cách xã hội - chính trị, để củng cố nền tự chủ của nước nhà. Khúc Hạo chia đất nước thành các cấp hành chính là lộ, phủ, châu, giáp, xã; tổ chức hệ thống chính quyền từ trung ương đến cơ sở. Ông cho sửa lại chế độ tô thuế, giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân, thực hiện chính sách ngoại giao mềm mỏng, hòa hảo với phong kiến phương Bắc; chú ý giữ gìn biên cương...


Những cải cách của Khúc Hạo có tác dụng và ý nghĩa to lớn trong công cuộc xây dựng một chính quyền tự chủ, một quốc gia độc lập, thống nhất, thoát khỏi ảnh hưởng của chính quyền phong kiến phương Bắc. Dưới thời họ Khúc, đất nước thái bình, dân chúng sống yên vui, kinh tế phát triển. Những thành quả đó càng làm tăng thêm lòng tin vào tương lai dân tộc, nâng cao quyết tâm bảo vệ đất nước của nhân dân ta. Song, mới giành lại được quyền tự chủ một phần tư thế kỷ thì vương triều Nam Hán, một thế lực phong kiến mới trỗi dậy cát cứ ở vùng Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc) lại âm mưu đánh chiếm nước ta.


Mùa thu năm 930, Vua Nam Hán sai các tướng Lương Khắc Trinh, Lý Thủ Dung đem quân sang xâm lược nước ta. Do thế giặc mạnh, Khúc Thừa Mỹ không chổng nổi, bị quân Nam Hán bắt đưa về Quảng Châu. Nước ta lại rơi vào tay nhà Nam Hán.


Vua Nam Hán cử Lý Tiến làm Thứ sử Giao Châu cùng Lương Khắc Trinh giữ thành Đại La (Hà Nội). Nhưng chính quyển đô hộ nhà Nam Hán dựng nên chỉ kiểm soát được phủ thành Đại La và một số vùng chung quanh, quyền làm chủ ở các châu, quận trên thực tế vẫn do các quan lại cũ của họ Khúc nắm giữ. Nhân dân ta ở các địa phương dưới sự lãnh đạo của các hào trưởng bí mật tổ chức lực lượng, mưu giành lại quyền độc lập, tự chủ cho đất nước.


Tháng 3-931, một danh tướng họ Khúc là Dương Đình Nghệ từ Châu Ái (Thanh Hóa) đưa quân ra vây đánh thành Đại La. Vua Nam Hán sai Trình Bảo đem quân cứu viện, nhưng quân viện chưa kịp đến thì Dương Đình Nghệ đã hạ được thành. Quân Nam Hán tan vỡ, tướng giặc Lương Khắc Trinh bị giết chết, Thứ sử Lý Tiến chạy thoát về nước. Dương Đình Nghệ đem quân ra ngoài thành đánh tan quân cứu viện, giết chết Trình Bảo, rồi nhân đà thắng lợi đó, tiến lên quét sạch quân Nam Hán ra khỏi nước ta, giành lại nền độc lập tự chủ. Dương Đình Nghệ vẫn tự xưng là Tiết độ sứ như họ Khúc.


Mặc dù bị thất bại, nhưng nhà Nam Hán vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta. Lợi dụng việc Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ để đoạt chức Tiết độ sứ và sang cầu cứu, nhà Nam Hán phát binh xâm lược nước ta lần thứ hai.


Cuối năm 938, vua Nam Hán sai con là Hoằng Tháo đem một đạo binh thuyền lớn sang đánh chiếm nước ta, đồng thời tự mình dẫn một đạo quân đóng ở cửa biển sẵn sàng tiếp ứng. Đoàn thuyền giặc vừa mới vượt biển tiến vào cửa sông Bạch Đằng đã bị quân và dân ta do Ngô Quyền chỉ huy chặn đánh và tiêu diệt đại bộ phận. Chủ tướng giặc là Hoằng Tháo bị giết tại trận. Vua Nam Hán phải bãi binh và từ đó vĩnh viễn bỏ mộng xâm lược nước ta.


Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử là cột mốc lớn đánh dấu chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, mở ra thời kỳ độc lập thật sự và lâu dài của dân tộc ta.


Như vậy, lịch sử Việt Nam từ thế kỷ III Tr.CN đến năm 938 có đặc điểm nổi bật là, trong quá trình tồn tại và phát triển, dân tộc ta đã phải liên tục chống giặc ngoại xâm, chống ách đô hộ, thống trị của các thế lực phong kiến nước ngoài.


Ngay từ thời các vua Hùng, vua Thục, nhân dân ta vừa mới dựng nước đã phải lo đánh giặc giữ nước, đã phải chiến đấu chống nhiều thứ giặc, tiêu biểu là hai cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ III Tr.CN) và chống Triệu (thế kỷ thứ II Tr.CN). Thất bại của An Dương Vưổng trong cuộc kháng chiến chống Triệu (năm 179 Tr.CN) đã dẫn đến thời kỳ nước ta bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ.


Từ đấy đến đầu thế kỷ X, trong hơn 10 thế kỷ, nhân dân ta, thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia, liên tục vùng lên khởi nghĩa giành lại độc lập dân tộc. Phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi, mãnh liệt với hàng chục cuộc khởi nghĩa lớn, nhỏ bùng nổ trên khắp các địa phương. Cuộc khởi nghĩa này bị thất bại, bị dìm trong máu lửa thì cuộc khởi nghĩa khác lại bùng lên, mạnh mẽ và rộng lớn hơn.


Trong các cuộc chiến đấu chống xâm lược và ách đô hộ nước ngoài, dân tộc ta lại thường xuyên phải đương đầu với nhiều đế chế lớn mạnh bậc nhất phương Đông bấy giờ, như các đế chế Tần (221-206 Tr.CN), Hán (206 Tr.CN-220), Tùy (581-618), Đường (618-907). Những thế lực xâm lược này chẳng những to lớn, có nhiều của, đông dân và đông quân hơn ta gấp nhiều lần mà lại còn ở sát liền phía Bắc nước ta. Vì thế, phong trào đấu tranh giải phóng của nhân dân ta diễn ra hết sức ác liệt, không chỉ khởi nghĩa lật đổ chính quyền đô hộ mà còn phải tiếp tục kháng chiến, tiến hành chiến tranh giải phóng chống lại những đạo quân xâm lược lốn của kẻ thù.


Cuộc đấu tranh và giữ nền độc lập dân tộc với những đặc điểm nêu trên diễn đi diễn lại từ đời này sang đòi khác, đã tác động sâu sắc đến sự phát triển đất nước và đời sống văn hóa, xã hội của cộng đồng cư dân người Việt. Cả dân tộc dường như dồn hết sức lực, cả vật chất lẫn tinh thần vào cuộc chiến đấu vì sự sống còn của mình. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống được tôi luyện và phát huy, đồng thời nhiều bài học đấu tranh, cả thành công và thất bại, được tổng kết, rút kinh nghiệm. Nhận thức của các thê hệ người Việt về những vấn đề quân sự, trước hết là việc xác định mục tiêu, lực lượng, phương thức đấu tranh đế giành chiến thắng ngày càng được nâng cao, đúc kết thành tư duy, tư tưởng, lưu truyền và không ngừng được bổ sung qua nhiều năm tháng đánh giặc, cứu nước.


Như vậy, thực tiễn đấu tranh chống xâm lược và ách đô hộ, thống trị của phong kiến phương Bắc cùng với những đặc điểm về đất nước, con người và nền văn hóa truyền thống của dân tộc là điểm xuất phát, là tiền đề đưa đến sự hình thành và phát triển tư duy, tư tưởng quân sự Việt Nam thời đó.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM