Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Tư, 2021, 01:38:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 1  (Đọc 2728 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #60 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2021, 01:03:59 pm »

Chế độ quân chủ tập quyền thời Trần (thế kỷ XIII - đầu thế kỷ XIV), còn ở giai đoạn trẻ trung nên khoảng cách giữa "Thiên tử" và "thần dân", giữa vua và tôi, giữa quý tộc và bình dân chưa lớn lắm. Các vua Trần chưa phải là "những kẻ chuyên chế náu mình trong cung điện", vẫn giữ được mối liên hệ nhất định với cộng đồng, với dân chúng.


Nhà vua và những người cầm quyền trong triều nhiều khi đã tỏ ra thông cảm với nỗi khổ đau, cực nhọc của thường dân. Những cử chỉ "gần dân" để "hiểu dân" thấy xuất hiện nhiều trong sử sách thời bấy giờ. Các nhà vua thường tự mình hoặc phái các quan đại thần đi kinh lý ở vùng xa để hiểu dân và biết rõ tình hình đất nước; như việc Vua Trần Thái Tông hay tổ chức những chuyến lên rừng núi hay đến các vùng quê. Đã có lần nhà vua nói với các quần thần rằng: "Trẫm muốn ra ngoài chơi để được nghe tiếng nói của dân và xem xét lòng dân, cho biết tình trạng khó khăn của dân"1 (Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XVII, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976, t.II, tr.64 ).


Năm 1231, tuy mới lên ngôi chưa lâu, nhưng Trần Thái Tông đã ngự về hành cung Tức Mặc (phủ Thiên Trường), ban yến cho các bô lão trong vùng và ban áo lụa theo thứ bậc. Năm 1262, thượng hoàng lại về đây mở tiệc lớn, các hương lão từ 60 tuổi trỏ lên cho tước mỗi người hai tư, đàn bà cho hai tấm lụa. Các phủ lộ được lệnh lập kho chứa thóc, dự trữ lương thực đề phòng khi gặp thiên tai, mất mùa, đói kém. Nhà nước dựa vào nguồn lương thực đó để chẩn cấp cho dân nghèo và những người gặp nạn. Thượng hoàng Trần Anh Tông đã từng nói: "Trẫm là cha mẹ dân, nếu sinh dân mắc vào cảnh lầm than thì phải cứu gấp, chả lẽ đi so đo khó dễ lợi hại hay sao"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.116). Nói chung sự quan tâm úy lạo, cứu trợ dân nghèo là biểu hiện tư tưởng tiến bộ của các bậc minh quân thuở ấy.


Sự kiện có ý nghĩa nhất mà sử sách thường nhắc đến là Hội nghị Diên Hồng năm 1284 cùng với tiếng hô đồng thanh "Đánh!" của đại biểu các bô lão từ các làng xã trong toàn quốc, biểu hiện tinh thần dân chủ, sự quan tâm của triều đình đối với nhân dân và vai trò quan trọng của nhân dân các địa phương mà đại diện là những người cao tuổi trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước của dân tộc. Thời Trần, trong nông thôn, bên cạnh hệ thống chính quyền địa phương gồm các đại tư xã, tiểu tư xã, Nhà nước vẫn duy trì và tôn trọng hệ thống già làng có uy tín trong nhân dân.


Tư tưởng "an dân" thời Trần còn thể hiện trên phương diện lập pháp và hành pháp. Năm 1230, Nhà nước ban hành Quốc triều thông chế gồm 20 quyển; sau đó lại ban hành sách Quốc triều hình luật. Đến đời Trần Dụ Tông, nhà vua sai Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên định bộ Hình thư để ban hành. Rất tiếc các bộ luật của nước ta thời Lý - Trần đều bị thất truyền; song có thể nghĩ rằng, ở giai đoạn mà nhà nước quân chủ dân tộc đang phát triển, tiến bộ thì luật pháp của họ còn bao hàm tính dân chủ nhất định. Dưới triều Trần, bộ máy nhà nước hoàn thiện hơn thời Lý, công việc xét kiện đã có cơ quan chuyên trách thực hiện với một quyền hạn độc lập nhất định. Tuy nhiên, để đảm bảo sự xét xử công bằng và khách quan hơn, nhà nước còn đặt thêm cơ quan kiểm pháp. Pháp luật thời Lý thì rộng rãi khoan dung, pháp luật thời Trần có phần nghiêm minh, hà khắc hơn; nhưng nhìn chung cả giai đoạn này, pháp luật vẫn quan tâm và chiếu cố đến quyền lợi của dân chúng.


Tư tưởng "dĩ dân vi bản", "khoan thư sức dân" đã góp phần tạo nên một không khí chính trị lành mạnh có lợi cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Đối với tầng lớp quý tộc, nhờ vậy mà họ bảo vệ được vương quyền thống trị trên cơ sở hòa hoãn giai cấp và độc lập dân tộc. Với những chính sách cởi mở của mình, nhà nước phong kiến đã cố kết được dân tộc, đoàn kết được toàn dân, tập hợp được đông đảo nhân lực, vật lực cho sự nghiệp chung. Đối với nhân dân "quốc gia hữu sự, thất phu hữu trách", mỗi khi có xâm lăng thì giữ nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mỗi người dân sống trên lãnh thổ này, "muôn người như một, xem việc nước như việc nhà", "nước mất nhà tan", coi việc bảo vệ độc lập là công việc của bản thân mình. Đó chính là động cơ thúc đẩy mọi người dân Việt chiến đấu, và cũng chính là cơ sở tinh thần - chính trị của xã hội Đại Việt mà các vua Trần, cũng như các đại thần tiến bộ đã nhận thức đúng và biết động viên, phát huy mạnh mẽ trong chiến tranh bằng những chính sách "an dân" thích hợp của mình.


Dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần, cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc phát triển cả về bể rộng lẫn bề sâu. Bấy giờ, tầng lớp quý tộc đã tập hợp được đông đảo dân chúng quanh mình để đánh giặc. Quân đội Mông - Nguyên tuy đã giành được thắng lợi ở nhiều nơi, nhưng khi đến Đại Việt, chúng gặp phải một cuộc chiến tranh hoàn toàn khác. Chiến lược của quân Mông - Nguyên là đánh như chớp giật, đi đến đâu, chúng cướp của cải và lương ăn, bắt người bản xứ phục vụ mình; nhưng điều đó chúng không thể thực hiện được ở Đại Việt. Trái lại, ở đây chúng không chỉ phải đọ sức với quân đội nhà Trần tinh nhuệ mà còn phải đương đầu với cả toàn thể nhân dân. Sự tham gia chiến đấu giữ nước của những người nông dân làng xã thật phong phú, đa dạng. Trần Phu, sứ giả nhà Nguyên đã viết về hoạt động của dân binh Đại Việt như sau: "Mỗi khi có biến động là trai tráng khắp mọi nơi đều kéo ra ngay, khí giới đều tự họ trang bị, có người còn vác cả chiếc gậy trơn" (Sứ Giao Châu cảo). Do lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân cả nước đã thực hiện mệnh lệnh kháng chiến của triều đình: tất cả các quận huyện trong nước, nếu giặc ngoài đến đều phải liêu chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng. Những nơi có giặc đi qua, nhân dân đã cất giấu lương thảo, thực hiện kế "thanh dã". Trong cả ba lần chiến tranh, quân Mông - Nguyên đều bị khốn đốn vì thiếu lương ăn, không những vì thuyền lương bị quân nhà Trần đánh tan mà còn vì chúng không tài nào cướp được lương thảo trong các thôn xã.


Sức mạnh toàn dân đoàn kết đánh giặc là cội nguồn thắng lợi trong ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên. Đó là kết quả của tư tưởng và kế sách "dựa vào dân", "khoan thư sức dân" của vương triều Trần.


Tóm lại, muốn ổn định đất nước, muốn cho thế nước được mạnh, đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc thì giai cấp phong kiến thống trị phải được lòng dân, đoàn kết được toàn dân trên cơ sở những chính sách dân chủ, tiến bộ của mình. Bồi dưỡng sức dân, khoan thư sức dân luôn là thượng sách giữ nưỏc. Tư tưởng và kế sách đó của nhà Trần đã góp phần tăng cường thế mạnh đất nước, là cơ sở để nhà nước quân chủ thời Trần tạo nên thắng lợi trong công cuộc bình Chiêm và đánh thắng giặc Mông - Nguyên xâm lược.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #61 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2021, 03:10:58 pm »

4. Những quan điểm, tư tưởng độc đáo về xây dựng lực lượng quân sự đánh giặc giữ nước


Kế thừa nề nếp có tính truyền thống đã trải qua thử thách trong chiến tranh chống ngoại xâm của các triều đại trước, nhà Trần đã phát triển có hệ thống các quan điểm, tư tưởng và chính sách rất độc đáo của dân tộc trong việc xây dựng lực lượng vũ trang phù hợp với hoàn cảnh một nước nhỏ, quân không đông mà thường xuyên phải đương đầu với những thế lực xâm lược lớn mạnh. Dưới đây là những quan điểm, tư tưởng chủ yếu về xây dựng lực lượng quân sự thời Trần:

a) Xây dựng lực lượng vũ trang nhiều thứ quân

Chủ trương của vương triều Trần là xây dựng một lực lượng vũ trang rộng khắp, với nhiều loại quân và binh. Lực lượng vũ trang thời Trần bao gồm quân chủ lực của triều đình, quân của quý tộc (vương hầu, tông thất), quân các lộ, phủ, châu (quân địa phương) và dân binh làng xã, động bản. Cuộc chiến tranh giữ nước của Nhà nước Đại Việt là cuộc chiến tranh mang đậm tính nhân dân, cả nước đánh giặc và chính lực lượng vũ trang là chỗ dựa, nòng cốt của sự nghiệp giữ nước.

- Quân của triều đình gồm cấm quân và sương quân. Cấm quân trong thời bình đóng ở kinh thành, có nhiệm vụ bảo vệ vua và triều đình. Khi có chiến tranh, là quân chủ lực, cơ động để đánh giặc. Đó là công cụ bạo lực chủ yếu, chỗ dựa quan trọng nhất của chính quyền quân chủ, là trụ cột của lực lượng an ninh, quốc phòng và cũng là chủ lực quân trong các cuộc chiến tranh giữ nước. Sương quân là lính hạng nhì sau cấm quân. Đây là một bộ phận quân thường trực khá đông đảo, trực thuộc quản lý của triều đình, bao gồm những trai tráng tham gia nghĩa vụ binh dịch, nhập ngũ theo yêu cầu trong từng thời kỳ. Sương quân thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông", chia phiên thay nhau tại ngũ canh phòng, luyện tập, phục dịch hoặc trở về gản xuất tự túc lương ăn. Lực lượng quân sự bán chuyên nghiệp này được tổ chức và đóng một vai trò quan trọng trong chức năng bảo vệ, lao động lúc hòa bình cũng như chiến đấu và phục vụ chiến đấu lúc có chiến tranh. Quân thường trực của nhà Trần gồm cả quân bộ và quân thủy; trong quân bộ có bộ binh, kỵ binh và tượng binh. Lực lượng thủy quân Đại Việt rất thành thạo tác chiến trên sông biển...


- Quân vương hầu là lực lượng quân sự của các vương hầu, quý tộc. Các vương hầu, tông thất đời Trần được phép chiêu mộ dân nghèo và người phiêu tán khai hoang, lấn biển lập các trang trại, được phân cấp thái ấp để cai quản và hưởng lộc, đồng thời cũng được phép tổ chức lực lượng vũ trang riêng để tự bảo vệ. Việc mộ quân, tuyển quân thực hiện theo lệnh của triều đình, tùy theo sự cần thiết về phòng thủ của từng thái ấp. Trong thời bình, lực lượng này có số lượng không nhiều. Khi có chiến tranh, các vương hầu được quyền phát triển lực lượng đó, nhưng chịu quyền điều động và chỉ huy của triều đình trung ương. Sử chép rằng, khi giặc Nguyên đến, các vương hầu, quý tộc Trần được quyền "mộ binh và thống lĩnh binh của mình". Lúc đó, quân vương hầu không chỉ có gia nô, thân thuộc, mà còn có cả những trai tráng ở các làng xã lân cận, được tổ chức thành các đạo quân cứu nước, đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của triều đình. Các đạo quân cứu nước này có thể đông đến vài chục vạn người, như cuối năm 1284, các vương con của Trần Quốc Tuấn đã huy động được 20 vạn quân, trong đó có một phần đáng kể các lực lượng gia nô, nô tỳ. Quân vương hầu, tông thất ngày thường mang tính chất quân của địa phương, là lực lượng bảo vệ các thái ấp; nhưng khi có chiến tranh được triều đình huy động, trở thành thành phần quan trọng của quân triều đình.

Trong bối cảnh thời bấy giờ, sự tồn tại lực lượng vũ trang riêng của các vương hầu có tác dụng tăng cường thêm lực lượng bảo vệ ngai vàng và bảo vệ đất nước. Trong xã hội lúc đó, ngoài mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân và phong kiến, chế độ nhà Trần còn chứa đựng những mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị. Song trong buổi đầu, khi nhà Trần đang trong giai đoạn phát triển và khi cả dân tộc đang đứng trước sự đe dọa của nạn ngoại xâm, những mâu thuẫn đó bị hạn chế và về khách quan, môi quan hệ trong giới quý tộc đã tạo ra những chỗ mạnh cho chế độ trung ương tập quyền. Vì thế, chủ trương cho phép tổ chức các đội quân vương hầu là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử lúc đó.


- Quân địa phương là quân các lộ, phủ, châu. Để canh phòng, bảo vệ và đánh giặc ở các địa phương, triều đình nhà Trần còn chủ trương xây dựng một hệ thống lực lượng quân sự địa phương rộng khắp. Các lộ, phủ, châu được quyền tổ chức quân của mình, có lúc gọi đó là phong quân, phong đoàn. Ngày thường thì bảo vệ an ninh trong vùng, khi có chiến tranh, quân các lộ có nhiệm vụ đánh giặc tại chỗ hoặc có thể được điều động kết hợp với quân chủ lực triều đình chiến đấu giữ nước.

Quân các lộ thay nhau tại ngũ luyện tập, canh phòng hay trở về nhà sản xuất tự túc; có việc gọi ra, xong việc lại trở về sản xuất, theo chính sách "ngụ binh ư nông" thời Trần. Quân các lộ là lực lượng quân sự địa phương khá đông đảo, làm nòng cốt cho dân binh đánh giặc.


- Dân binh, hương binh là lực lượng vũ trang cơ sở. Ở các làng, xã, động bản có tổ chức dân binh, hương binh. Quan điểm và chính sách này của nhà Trần phù hợp với yêu cầu "tận dân vi binh" (toàn dân là lính), "cử quốc nghênh địch" (cả nước đánh giặc); đồng thời phù hợp với truyền thống cố kết trong cộng đồng làng xã để sản xuất và chiến đấu bảo vệ sản xuất. Trải qua ba cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên đời Trần, dân tộc ta đã hình thành ở cơ sở làng xã tư tưởng và nếp sống "tĩnh vi nông, động vi binh", ngày thường làm dân, khi có giặc làm lính.


Có thể nói, nét độc đáo trong lực lượng vũ trang thời Trần là vai trò chiến lược của tổ chức dân binh trong các làng xã, thôn ấp, động bản. Đó là một tổ chức quân sự địa phương có nguồn gốc xa xưa, mang tính tự nguyện. Song do Nhà nước Đại Việt đã ý thức được tầm quan trọng của nó nên đã động viên, tạo điều kiện thể chế hóa, để mọi người dân có thể tham gia và góp phần vào sự nghiệp đánh giặc giữ nước. Chính quyền nhà Trần trong giai đoạn tiến bộ đã biết tổ chức, khuyến khích và sử dụng họ thành lực lượng đánh giặc tại chỗ đông đảo và có hiệu quả, hợp cùng với các lực lượng quân sự khác, tạo nên thế chiến tranh nhân dân, cả nước cùng đánh giặc bảo vệ quê hương xứ sở của mình.


Bốn thành phần lực lượng vũ trang nói trên thực chất là ba loại: quân chủ lực của triều đình, quân địa phương của các lộ, phủ, châu và dân binh các làng xã, động bản (quân vương hầu, tông thất khi thì làm chức năng quân địa phương, khi thì làm chức năng quân chủ lực của triều đình, tùy theo tình hình và nhiệm vụ), ở đây đã hình thành rõ nét tư tưởng chỉ đạo và mô hình tổ chức lực lượng vũ trang truyền thống ở nước Đại Việt. Ba loại tổ chức quân sự này kết hợp chặt chẽ với nhau: Quân chủ lực làm nòng cốt cho quân địa phương đứng vững trước quân giặc mạnh. Ngược lại, quân địa phương kiềm chế, phân tán, tiêu hao lực lượng quân địch để quân triều đình đánh những đòn quyết định. Quân địa phương làm nòng cốt cho dân binh đánh giặc, dân binh làm nòng cốt cho toàn dân chiến đấu. Ngược lại, cuộc chiến đấu của toàn dân và dân binh dựa vào lực lượng quân địa phương, tạo nên thế trận "làng - nước", "nước - nhà" cùng đánh giặc, một thế trận thiên la địa võng của chiến tranh nhân dân. Tình hình đó đã làm cho những đạo quân mạnh và thiện chiến của Mông - Nguyên bị sa lầy, bó tay bất lực, không thi thố được tài năng của chúng. Nhà nước thời Trần đã có tư duy đúng, đã ý thức khá rõ vai trò, vị trí chiến lược của từng loại quân nói riêng và của sự kết hợp chiến đấu của các loại quân đó.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #62 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2021, 03:12:19 pm »

b) Gắn nông với binh - "ngụ binh ư nông", xây dựng lực lượng vũ trang nằm trong dân, gắn sản xuất với sẵn sàng chiến đấu

Kế thừa quan điểm và chính sách xây dựng lực lượng vũ trang đã có từ thời Tiền Lê và thời Lý, nhà Trần vẫn chủ trương "ngụ binh ư nông".

Ngụ binh ư nông, hiểu vắn tắt là gửi binh ở nông. "Binh" có nghĩa là binh lính, cũng có nghĩa là việc binh, việc quân sự, việc giữ nước. "Nông" có nghĩa là nông dân, cũng có thể hiểu là việc nông, nông thôn, nông nghiệp. Có thể coi đây là một tư tưởng lớn, một chính sách lớn, một quốc sách quan trọng về xây dựng lực lượng vũ trang trong thời bình, chuẩn bị cho thời chiến.


Theo chính sách này, khi đất nước vô sự, chưa có sự uy hiếp vì ngoại xâm thì trừ cấm quân phải thường xuyên túc trực để làm nhiệm vụ bảo vệ triều đình, còn các loại quân khác như sương quân và quân các lộ được chia thành nhiều phiên, theo định kỳ, một bộ phận thường trực tại ngũ, luyện tập và canh phòng, một bộ phận trở về nông thôn sản xuất tự túc. Thời hạn được quy định theo từng thời kỳ. Khi có chiến tranh, tất cả trở lại quân ngũ theo khung đơn vị đã định và lệ thuộc vào các tướng.


Nhà Trần chủ trương quản lý nhân đinh trong cả nước để làm cơ sở tuyển mộ và động viên quân đội. Năm 1242, Trần Thái Tông thực hiện cải cách hành chính, củng cố hệ thống quan lại địa phương, đặt các chức đại, tiểu tư xã cùng các xã chính, xã sử, xã giám, gọi chung là xã quan.


Vua ra lệnh làm sổ hộ khẩu, ba năm một lần, phân hạng đinh nam, dưới 18 tuổi gọi là hoàng nam, trên 18 tuổi gọi là đại nam. Tất cả các hoàng nam và đại nam đều được ghi tên trong sổ bìa vàng (Sổ quân), trở thành nguồn binh của Nhà nước. Nhà nước quy định chế độ binh dịch đối với tất cả các đinh tráng. Mọi đinh nam đến tuổi trưởng thành đều có nghĩa vụ binh dịch, hoặc tham gia quân thường trực, hoặc là lính dự bị, hoặc đã được ghi tên trong sổ quân, lúc cần, Nhà nước có thể "chiếu sổ gọi ra làm lính". Sử gia Phan Huy Chú viết: "Đại ước người trúng tuyển thì sung vào quân ngũ, người hạng kém thì biên vào sổ, có việc mới gọi ra, niên hạn mau chóng có lẽ không nhất định"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.IV, tr.16). Hằng năm, chính quyền "tuyển người khỏe mạnh sung vào quân ngũ" theo yêu cầu, số còn lại ở nhà sản xuất, tham gia dân binh, sẵn sàng nhập ngũ khi cần thiết. Như vậy, ngoài những quy định về quân chia phiên, chính sách "ngụ binh ư nông" còn gồm cả những quy định về quân biên sổ.


Chính sách "ngụ binh ư nông" với chế độ chia phiên và luân phiên tại ngũ hay trở về sản xuất cùng với chế độ "quân biên sổ" nói trên là một quốc sách quan trọng của Nhà nước Đại Việt phù hợp hoàn cảnh đất nước, với yêu cầu dựng nước và giữ nước. Với chính sách này, trong nước có số quân thường trực cần thiết, đồng thời lại có sẵn số quân dự bị đông đảo trong các làng xã, sẵn sàng được động viên khi có chiến tranh. Đó thực sự là một quốc sách hàm chứa một nội dung tư tưởng tiến bộ nhằm giải quyết tốt nhân lực xây dựng đất nước và củng cố lực lượng quân sự, kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng, đã đưa lại một hiệu lực quốc phòng mạnh mẽ. Chính sách trên có một số ưu điểm nổi bật như:

- Quản lý tốt nhân đinh: tất cả những đinh nam từ 18 tuổi trở lên, khỏe mạnh, đều được phân loại và ghi tên vào sổ quân, đều phải thi hành nghĩa vụ binh dịch.

- Các đinh tráng đều được huấn luyện quân sự, hiểu biết những kiến thức tối thiểu về võ nghệ, phát huy truyền thống thượng võ của người Việt.

- Thời bình, một bộ phận nhất định quân thường trực tại ngũ, còn phần lớn đinh tráng là quân dự bị, khi cần có thể huy động ngay và ai nấy đều biết rõ tổ chức biên chế quân ngũ của mình.

- Thay phiên về làm ruộng, thực hiện bình đẳng về nghĩa vụ binh dịch, lại giảm bớt được chi phí quốc phòng, thực hiện cân đối giữa lực lượng sản xuất và lực lượng quân sự, sản xuất nông nghiệp và công nghệ được bảo đảm, sức lao động không bị thiếu, lại tạo điều kiện bình thường hóa sinh hoạt của những gia đình tiểu nông - tế bào của xã hội.


Như vậy, chính sách "ngụ binh ư nông", chế độ "quân biên sổ" và quân chia phiên dưới triều Trần thực sự là một chính sách xuất phát từ sự nhận thức, tư tưởng tiến bộ phù hợp với điều kiện Đại Việt lúc bấy giờ vừa xây dựng đất nước, vừa phải chiến đấu chống ngoại xâm. Đó là một quan điểm, tư tưởng nổi bật của vương triều Trần và nhờ đó mà Nhà nước Đại Việt trong giai đoạn phát triển đã có điều kiện lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước cường thịnh, có đủ sức mạnh để đánh giặc giữ nước.


Nhiều học giả đã đánh giá cao tư tưởng gắn "việc binh" với "việc nông", gắn kinh tế với quốc phòng và tính hiệu quả của chính sách "ngụ binh ư nông". Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và Ngô Thì Sĩ đều nhận xét: "Binh chế Đại Việt rất thịnh", "lúc nông nhàn thì luyện tập, lúc vô sự thì làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi ra"; cho nên "binh vẫn đủ mà không phải chi phí nhiều, càng thêm hăng hái chống giặc", "thế nước càng thêm vững là nhờ vậy"1 (Theo các sách Đại Việt thông sử, Lịch triều hiến chương loại chí và Việt sử tiêu án), hoặc như Quốc sử quán triều Nguyễn viết rằng: "Như vậy thì lúc bấy giờ thế quân đã cường thịnh cũng có thể biết được đại khái. Đại thể khi trong nước không có việc thì cho quân lính về làm ruộng, khi có việc chinh chiến thì thảy mọi người đều là quân lính"2 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.I, tr.468). Đó cũng là ý nghĩa của "ngụ binh ư nông" dưới triều Trần.


Tư tưởng gắn "việc binh" với "việc nông" đã đưa đến những kết quả tốt đẹp. Nhờ vậy, đời Trần, quân số bình thường "chưa đầy 10 vạn"3 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.IV, tr.3), nhưng trong kháng chiến chống Mông - Nguyên, có lúc triều đình đã huy động thêm được 20 - 30 vạn quân để đánh giặc. Trong khi đó thì khắp nước, ở đâu có giặc là ở đó có dân binh nổi lên đánh trả, tạo thành cuộc chiến tranh nhân dân rộng khắp. Tư tưởng xây dựng lực lượng quân sự theo phương cách trên được sử gia Phan Huy Chú nhận xét: "Đại để lúc vô sự thì phục binh ở nơi thuận lợi, khi có nạn thì đều hết sức chống cự. Thế là đời Trần nhân dân ai cũng là binh nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước mạnh"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.IV, tr.3). Đó là tư tưởng tiến bộ, là chế độ hay của triều Trần.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #63 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2021, 03:14:11 pm »

c) Xây dựng quân đội coi trọng chất lượng: "Binh quý hồ tinh bất quý hồ đa"

Từ khi giành được độc lập, trải qua các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý, ông cha ta đã có ý thức tổ chức xây dựng quân đội theo hướng ngày một chính quy, thế hiện trên các lĩnh vực tổ chức, chỉ huy, trang bị, huấn luyện và sức chiến đấu. Nhà nước Đinh - Lê xây dựng "Thập đạo quân": mỗi đạo 10 quân, mỗi quân 10 lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người. Đó là ngạch quân biên sổ, đặt sẵn về mặt tổ chức biên chế, còn binh lính chủ yếu ở nhà sản xuất, khi có việc luyện tập, canh phòng hoặc chiến đấu mới gọi ra lệ thuộc vào các tướng. Nhờ đó, năm 981, Lê Đại Hành kế vị vua Đinh đã đem Thập đạo quân đánh tan quân xâm lược Tống. Triều đình Lý thường xuyên chú ý xây dựng một quân đội mạnh như mong muốh của Vua Lý Nhân Tông: "Nên sửa sang võ bị để đề phòng việc không ngờ". Lý Thái Tông đặt 10 vệ điện tiền cấm quân. Sử chép: "Binh chế buổi đầu nhà Lý... Lấy thân quân làm trọng, cũng gọi là cấm quân"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.III, tr.7). Tuy vẫn mang danh hiệu là "Thiên tử quân" như quân đội thời Đinh - Lê, nhưng cấm quân đã chia thành nhiều tướng hiệu, quân hiệu, các vệ quân, đô quân, các đội, ngũ hoặc giáp để thay nhau phụng trực hoặc tuần tra canh gác. Nhà Trần kế thừa tư tưởng và thành quả các triều đại trước trên nhiều lĩnh vực, trong đó có tổ chức quân đội và đạt được nhiều thành tựu mới trên lĩnh vực này.


Để chống lại các thế lực ngoại xâm lớn mạnh, nhà Trần càng chăm lo củng cố tiềm lực đất nước, trong đó có chú trọng nâng cao sức chiến đấu của quân đội quốc gia, đê cao yếu tố chất lượng của quân đội. Đầu năm 1287, khi đất nước chuẩn bị bước vào cuộc đọ sức quyết liệt lần thứ ba với quân Mông - Nguyên, trong triều đình nhà Trần có một số đại thần xin tăng quân số để chống giặc, Trần Quốc Tuấn lúc đó là Quốc công tiết chế đã bác lời đề nghị trên và nói rằng: "Quân quý ở tinh nhuệ, không quý ở số đông. Dẫu đến 100 vạn quân mà như Bồ Kiên thì cũng làm được gì"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.59). Nhà vua và cả triều đình đã chấp thuận quan điểm của Trần Quốc Tuấn. Quan điểm "quân cốt tinh nhuệ" là một quan điểm chiến lược được đúc kết từ thực tiễn lịch sử đất nước, từ quá trình xây dựng lực lượng và tiến hành chiến tranh từ các thế kỷ trước, cũng như trong thế kỷ XIII, khi các vua Trần và Trần Quốc Tuấn lãnh đạo quân đội nhà Trần xây dựng lực lượng và chiến đấu chống ngoại xâm.


Tại sao vương triều Trần đã có quan điểm "quân cốt tinh nhuệ" và thực tiễn lịch sử đã thể hiện như thế nào? Quan điểm chiến lược đó có những căn cứ khách quan của nó:

a- Nước địch lớn, nước ta nhỏ; quân địch đông, quân ta ít. Ta không thể đua với địch về số lượng được, nhưng ta cần có số quân cần thiết để làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Do vậy, yêu cầu rất lớn đối với quân đội ở nước ta là phải tinh nhuệ, có chất lượng cao.


b- Trong binh chế đời Trần, ngoài quân triều đình còn có quân các vương hầu, quân các lộ, phủ, châu và dân binh các làng xã, động bản làm nòng cốt cho trăm họ đánh giặc. Ta có đủ sức để đánh địch khắp nơi, buộc quân đội đông người của chúng phải phân tán lực lượng đối phó bị động, bị sa lầy trong thế trận làng nước của ta, tạo điều kiện cho quân chủ lực của triều đình có số lượng không nhiều nhưng tinh nhuệ có thể từng bước tập trung lực lượng ưu thế hơn địch, đánh bại chúng ở những nơi trọng điểm, ở những trận then chốt quyết định. Việc thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông" tạo cơ sở về tổ chức để thực hiện việc đó. Mặt khác, lại cho phép mở rộng số lượng quân triều đình khi cần thiết. Như vậy, xét về quân đội tập trung thì quân ta thường ít hơn địch. Nhưng xét về số người cầm vũ khí đánh giặc thì ta lại đông hơn địch. Và trong các trận đánh quyết định, ta bao giờ cũng đủ sức áp đảo, tiêu diệt địch.


c- Nước ta nhỏ, tiềm lực các mặt hạn chế so với nước đến xâm lược từ phương Bắc. Việc duy trì một đạo quân tinh nhuệ, vừa đủ, không nhiều sẽ làm đỡ bớt gánh nặng chi phí, bảo đảm, lợi cho việc bồi dưỡng sức dân. Như vậy, đất nước vừa có kinh tế mạnh vừa có quốc phòng mạnh, đủ sức đương đầu thắng lợi với quân xâm lược.


Quan điểm về tổ chức, xây dựng quân đội nói trên ở nước ta khác với nước lớn Trung Quốc. Binh pháp tôn tử, một bộ binh thư cổ nổi tiếng của Trung Quốc, từng tổng kết kinh nghiệm về xây dựng lực lượng và tiến hành chiến tranh, đã nêu thành một nguyên tắc quan trọng: Phép dùng binh là: có binh lực gấp 10 lần thì bao vây, gấp 5 lần thì đánh thắng, gấp đôi thì bắt địch phân tán, bằng ngang cũng có thể đánh được, nhưng nếu binh lực ít hơn thì rút lui, yếu hơn thì tránh. Lấy binh lực nhỏ yếu mà đánh liều thì sẽ thành tù binh của kẻ địch mạnh. Trong lịch sử, khi tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, các thế lực phong kiến Trung Hoa thường huy động những đạo quân đông gấp nhiều lần quân ta. Đó là cách hành binh truyền thống của kẻ thù dân tộc. Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định, trong lịch sử Trung Quốc cũng có những tấm gương anh hùng dùng quân ít mà đánh thắng quân địch nhiều. Trần Quốc Tuấn cũng đã nêu trong Hịch tướng sĩ về chuyện Vương Công Kiên, tri châu Hợp Phố (Tứ Xuyên) cùng với tỳ tướng là Nguyễn Văn Lập đã huy động nhân dân anh dũng chiến đấu ở núi Điếu Ngư, cầm cự với quân Mông Cổ đông hàng trăm vạn do vua Nguyên Mông Kha chỉ huy trong bốn tháng trời, cho đến khi Mông Kha ốm chết dưới thành Điếu Ngư và quân Mông Cổ phải chịu thất bại. Trần Quốc Tuấn đã nêu tấm gương đó để các tướng sĩ noi theo.


Đối với dân tộc ta, trong điều kiện so sánh lực lượng giữa địch và ta quá chênh lệch, tư tưởng chỉ đạo cách đánh của ông cha ta ngay từ đầu là lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh. Vì vậy, bên cạnh yêu cầu một cách đánh giỏi, một nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, còn có yêu cầu về chất lượng trong tổ chức quân đội, trong từng đơn vị và ở mỗi người lính. Mặt khác, ở nước ta, công cuộc dựng nước và giữ nước luôn đi đối với nhau. Cùng với nhiệm vụ xây dựng kinh tế, còn có nhiệm vụ xây dựng quân đội sao cho đỡ phần chi phí tốn kém, ít ảnh hưởng đến sản xuất. Chính vì vậy, bớt phần số lượng, nâng cao chất lượng quân đội là một yêu cầu quan trọng. Nhưng cả hai yếu tố số lượng và chất lượng đều tạo nên sức mạnh quân đội trong chiến tranh. Cho nên, ở hoàn cảnh nước ta, phải có phương thức xây dựng quân đội làm sao lúc hòa bình, quân thường trực có số lượng vừa đủ mà chất lượng cao, lại có quân dự bị hùng hậu, được huấn luyện tốt, để khi chiến tranh xảy ra, nhà nước có thế nhanh chóng huy động được số quân đông, đủ sức đánh thắng quân thù. Đó là bài toán chiến lược, những lý do mà những người lãnh đạo vương triều và quân đội nhà Trần thường xuyên quan tâm, suy nghĩ để tiến hành xây dựng quân đội có chất lượng tốt.


Sức mạnh quân đội trước hết biểu hiện trên lĩnh vực tổ chức. Các vua Trần đã cùng các đại thần như Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn... không ngừng chăm lo kiện toàn cơ cấu tổ chức quân đội, coi trọng xây dựng quân thường trực chính quy có biên chế tổ chức hợp lý, gọn nhẹ về tổ chức, đã phân định rõ quân triều đình và quân các lộ, phủ (tức quân trung ương và quân địa phương), ở trung ương có cấm quân bảo vệ vua, bảo vệ triều đình và Kinh đô Thăng Long, có sương quân (tức tứ sương) canh giữ các cổng thành và là lực lượng cơ động, ở địa phương có quân các lộ, phủ canh giữ và bảo vệ các nẻo miền đất nước. Nhà nước còn chủ trương và cho phép các vương hầu tổ chức quân đội riêng ở nơi mình trấn trị. Khi có chiến tranh, tất cả đều được huy động.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #64 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2021, 03:17:25 pm »

Quân đội nhà Trần đã được chuyên hóa thành các binh và quân, như lục quân và thủy quân. Trong lục quân có bộ binh, kỵ binh và tượng binh. Nhưng do đặc điểm đất nước, tổ chức quân đội Đại Việt có những nét khác với quân đội các nước đương thời. Lúc đó, ở châu Âu, người ta đua nhau hiệp sĩ hóa, kỵ sĩ hóa quân đội. Họ lập thành những đạo kỵ binh nặng, những đạo quân, như Ăngghen nói, "giam mình trong vỏ thép"1 (Ph. Ăngghen: Tuyển tập luận văn quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1978, t.II, tr.109). Một số nước ở châu Á, như Mông Cổ lại chủ yếu phát triển "khinh kỵ binh", tức kỵ binh nhẹ. Còn bộ binh hầu như bị lãng quên, "người ta coi bộ binh như một thứ hàng kém phẩm chất, cố gắng bố trí nó ở nơi xa chiến đấu và chỉ sử dụng nó để đồn trú mà thôi"1 (Ph. Ăngghen: Tuyển tập luận văn quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1978, t.II, tr.166), ở Trung Quốc, cùng với việc phát triển kỵ binh vẫn duy trì và phát triển bộ binh với chủ trương là lấy mười bộ binh để chống lại một kỵ binh địch.


Tóm lại, ở Đại Việt, về mặt tư tưởng chỉ đạo, ông cha ta thời nhà Trần không coi kỵ binh là binh chủng chủ yếu như ở châu Âu hay Mông Cổ, không chủ trương phát triển kỵ binh để chống lại kỵ binh như quan điểm của một số nhà quân sự thế giới đương thời. Thời Trần, bộ binh được coi là loại binh chủ yếu, đồng thời phát huy truyền thống anh hùng của nó trong giáp chiến, phục kích, tập kích và tạo thời, lập thế đánh giặc. Bên cạnh bộ binh có tượng binh và kỵ binh, tuy bấy giờ chưa được chuyên hóa, phát triển thành binh chủng độc lập, song những đội kỵ binh và voi chiến (tượng binh) phối thuộc bao giờ cũng chiến đấu hiệp đồng có hiệu quả với bộ binh. Voi chiến, với ưu thế của nó, trở thành nỗi kinh hoàng của quân xâm lược mỗi lần chúng gặp phải. Thời Trần, voi chiến đã tham gia các trận Bình Lệ Nguyên, Nội Bàng, Vạn Kiếp, v.v., đã từng giẫm nát bộ binh và chặn phá kỵ binh của giặc. Kỵ binh của Đại Việt tuy chưa nhiều, nhưng thường sử dụng bất ngờ trong chiến đấu hiệp đồng hay khi truy kích địch.


Đặc biệt, thủy binh Đại Việt là loại quân tinh nhuệ với truyền thống thạo nghề sông nước, giỏi thủy chiến. Vốn xuất thân từ vùng ven biển, lại chuộng nghề võ, nhà Trần càng ý thức được vai trò của sông biển và thủy quân trong sự nghiệp giữ nước. Lê Phụ Trần (tức Lê Tần), một võ quan cao cấp của triều đình có công lao lớn trong cuộc kháng chiến năm 1258 đã được phong chức Thủy quân đại tướng quân; Trần Khánh Dư được Trần Quốc Tuấn tin cậy trao chức phó tướng, trấn giữ vùng biển Vân Đồn, xây dựng căn cứ hải quân và tổ chức những đơn vị hải quân độc lập đầu tiên - đội quân Bình Hải. Điều đó chứng tỏ quy mô tổ chức, vị trí và vai trò quan trọng của thủy quân trong quan niệm về tổ chức, xây dựng quân đội quốc gia thời Trần. Chiến thuyền thời Trần lớn nhỏ gồm nhiều loại, trong đó có loại hiện đại nhất thời bấy giờ như thuyền Châu Kiều, thuyền Đinh Sắt, Trung tàu tải lương hay cổ lâu thuyền với hàng trăm tay chèo có khả năng vượt biển xa và trang bị tốt. Thủy thủ gọi là các đoàn đội "trạo nhi", xuất thân từ những người dân chài lưới vốn quen thuộc nghề sông nước, do đó rất giỏi bơi lội và thủy chiến. Các đạo thủy quân dưới sự thống lĩnh của Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, đạo quân do hai vua Trần chỉ huy được trang bị hàng nghìn chiến thuyền, đã từng tham gia nhiều trận quan trọng trong kháng chiến chống Mông - Nguyên.


Triều đình nhà Trần hết sức coi trọng việc rèn luyện tướng sĩ và quân lính. Giảng võ đường là trường học cao cấp thời Trần. Ở đó, vua cùng với các vương hầu, tướng lĩnh được học binh thư, binh pháp, học cách bày trận và phá trận. Trần Quốc Tuấn viết sách binh thư để làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy. Việc học binh thư, binh pháp là điều bắt buộc đối với vua, thái tử, vương hầu và các võ tướng cao cấp. Trần Quốc Tuấn kêu gọi các tướng phải dày công nghiên cứu binh pháp, nhất là bộ Binh thư yếu lược. Ông nói: "Nay ta chọn binh pháp các nhà, soạn thành một quyển, gọi là Binh thư yếu lược. Các người nếu biết chuyên tập tập sách, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là tôi chủ, nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo, thì trọn đời là cừu thù"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.83). Trần Quốc Tuấn mong sao cho quân đội dưới quyền thống lĩnh của ông thật thiện chiến, giỏi cung kiếm. Ông nhắc nhở các tướng: "Hãy huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, để có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưổi cửa khuyết, phơi xác Vân Nam Vương ở Cảo Nhai"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.83).


Các vua Trần cũng như Trần Quốc Tuấn đều có quan điểm đề cao nhân tố chính trị tinh thần trong quân đội của mình. Trần Quốc Tuấn viết hịch kêu gọi các tướng sĩ hãy đồng tâm nhất trí, một lòng trung quân ái quốc, quyết tâm đánh tan quân Mông - Nguyên. Ý chí quyết chiến quyết thắng, lòng trung nghĩa, tinh thần chiến đấu "dĩ thân tuẫn quốc" (hy sinh vì nước) được bài hịch khích lệ đã từ các tướng sĩ truyền đến toàn quân, tạo nên một sức mạnh tinh thần hết sức to lớn. Tướng sĩ, binh lính nhà Trần nêu cao tinh thần "Sát Thát", quyết sống mái với quân thù.


Quan điểm, tư tưởng xây dựng quân đội "cốt tinh nhuệ" của vương triều Trần đã được triển khai thực hiện thành công. Quân đội nhà Trần thực sự là một quân đội có số' lượng không đông nhưng hùng mạnh, tinh nhuệ. Tuy nhiên, quan điểm "chất lượng" này không mâu thuẫn với nhân tố "số lượng" trong quân đội. Sức mạnh của một quân đội được tạo nên bởi hai yếu tố này. Trong điều kiện nước Đại Việt luôn có nguy cơ bị kẻ thù lớn hơn xâm lược, để kết hợp cả hai mặt kinh tế và quân sự, giữa xây dựng và chiến đấu, để có một quân đội thường trực tinh nhuệ, có số lượng hợp lý lúc hòa bình, nhưng lại có một lực lượng hùng hậu, khi chiến tranh xảy ra có thể nhanh chóng huy động được đông đảo số lượng binh sĩ, triều đình nhà Trần đã kế thừa và vận dụng thành công chính sách "ngụ binh ư nông". Cùng với việc xây dựng một ngạch quân nhiều thành phần, nhà Trần đã thực hiện chính sách "gửi binh ở nông"; chính sách này đã giúp nhà nước giải quyết hài hòa được cả hai nhân tố chất lượng và số lượng, bảo đảm cân đối giữa quân thường trực và quân dự bị; khi hòa bình vẫn đủ sức canh phòng, thời chiến huy động được đông đảo quân đội thực hiện chiến tranh nhân dân, toàn dân là lính. Thời Trần lúc bình thường như sử gia Phan Huy Chú nói: "Quân số chưa đầy 10 vạn", nhưng trong kháng chiến chống Mông - Nguyên đã có lúc triều đình huy động được 20 - 30 vạn quân đánh giặc, sử chép, năm 1285, Hưng Đạo Vương vâng mệnh vua điều động dân binh các lộ Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm, chọn những người dũng cảm làm tiên phong, vượt biển vào Nam, thế quân đã nổi. Các quân thấy vậy, không đạo quân nào không tập hợp. Vua Trần Nhân Tông làm thơ đề ở đuôi thuyền rằng:

   Cối Kê cựu sự quân tu ký,
   Hoan Diễn do tồn thập vạn binh.
   (Cối Kê chuyện cũ ngươi nên nhớ
   Hoan Diễn còn kia chục vạn quân)1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.51).


Bấy giờ, các vương con của Trần Quốc Tuấn như Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng và Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiện cùng với Minh Hiến Vương Trần Quốc Uất (con út Trần Thái Tông) đã đốc suất 20 vạn quân các xứ Bàng Hà, Na Sầm, Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhãn đến hội ở Vạn Kiếp, theo quyền điều khiển của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn để chống giặc Nguyên. Đó là kết quả của tư tưởng, đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhiều thứ quân và vận dụng chính sách "ngụ binh ư nông" trong quân đội.


Quả là "binh chế thời Trần rất thịnh". Quân đội thời bấy giờ được tổ chức tốt, luyện tập có quy chế, kỷ luật nghiêm; tuy số lượng không đông nhưng tinh nhuệ, thiện chiến, có khả năng đánh thắng kẻ thù hung bạo. Chính vua Nguyên là Hốt Tất Liệt năm 1287, cũng đã căn dặn Thái tử Thoát Hoan phải hết sức thận trọng khi đem quân tiến vào Đại Việt rằng: "Không được coi Giao Chỉ là nhỏ mọn mà khinh thường". Thực tế qua ba lần gây chiến tranh xâm lược, kỵ binh, bộ binh và thủy binh Mông - Nguyên tuy đã từng tung hoành và chiến thắng ở khắp nơi, nhưng chúng cũng "không thi thố được tài năng" trước quân đội và nhân dân thời Trần, trên chiến trường Đại Việt. Sử gia Phan Huy Chú viết: "Quân đội nhà Lý - Trần nổi tiếng là hùng mạnh", "cái chiến công dẹp quân Chiêm, phá quân Tống, cái oai hùng hai lần đánh bại quân Nguyên, cũng đủ biết binh lực của hai đời ấy cường thịnh thế nào"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.III, tr.5). Đó cũng là kết quả của phương thức xây dựng quân đội theo tư tưởng "quân cốt tinh nhuệ không cốt đông" thời Trần.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #65 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2021, 03:19:28 pm »

d) Chọn dùng tướng giỏi, xây dựng đội ngủ tướng lĩnh và khối đoàn kết trong quân đội: "Bạt dụng lương tướng", "Phụ tử chi binh"

Để đánh thắng kẻ thù lớn mạnh, thiện chiến và xảo quyệt như giặc Mông - Nguyên, nhà Trần chú trọng xây dựng đội ngũ các tướng. Theo quan niệm truyền thống của ông cha, tướng có nghĩa là người cầm quân, người chỉ huy quân đội.

"Bạt dụng lương tướng" (chọn dùng tướng giỏi) là một quan điểm lớn của vương triều Trần, của Trần Quốc Tuấn về lựa chọn và bố dụng tướng lĩnh trong quân đội. Trần Quốc Tuấn coi đây là một nhân tố quan trọng để giành thắng lợi trong chiến tranh. Ông cho rằng: "Đời Đinh, Lê dùng được người tài giỏi, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.79). Ông lại nói: "Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.79). Đó là quan điểm tư tưởng quân sự của Trần Quốc Tuấn khi ông trả lời Vua Trần Anh Tông về kế sách giữ nước.


Đáng chú ý là trong Di chúc của Trần Quốc Tuấn cũng như trong nhiều trang của Binh thư yếu lược, vai trò của người tướng rất được đề cao. Binh thư yếu lược viết: "Nước lấy binh làm gốc, binh lấy tướng làm gốc, quân lấy tướng làm chủ. Cho nên muốn binh mạnh để chiến thắng thì cần ở sự dùng tướng được người, rồi sau mới có thể quy phục được thiên hạ và các rợ xung quanh. Đó là gốc lớn để trị nước"1 (Trần Quốc Tuấn: Binh thư yếu lược, phụ: Hổ trướng khu cơ, Sđd, tr.59, 34, 37. Cần lưu ý rằng, nguyên bản Binh thư yếu lược do Trần Quốc Tuấn soạn đã bị thất truyền. Cuốn Binh thư yếu lược mà chúng ta có ngày nay do một tác giả đời sau biên soạn lại. Mặc dù ở trang đầu của bộ sách có ghi rõ rằng: Binh thư yếu lược, 4 quyển, do Trần Hưng Đạo soạn, nhưng khi nghiên cứu thì chúng ta khẳng định sách đó không phải của Trần Quốc Tuấn. Có thể hiểu rằng, một tác giả đời sau đã đọc binh thư cổ, đã tìm hiểu Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ, rồi sửa chữa, bổ sung Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn theo cách riêng của mình. Căn cứ vào nội dung, chúng ta thấy trong đó có những đoạn có tư tưởng phù hợp với tư tưởng của Trần Quốc Tuấn trình bày trong Hịch tướng sĩ và Di chúc năm 1300. Chúng tôi xin trích một số đoạn để làm minh chứng); và "cái đạo mạnh binh để chiến thắng cốt yếu có 5 điều: 1. Sửa sang binh khí, 2. Có đủ quân lính và xe cộ, 3. Súc tích nhiều, 4. Rèn luyện sĩ tốt, 5. Kén được tướng giỏi"2 (Trần Quốc Tuấn: Binh thư yếu lược, phụ: Hổ trướng khu cơ, Sđd, tr.59, 34, 37. Cần lưu ý rằng, nguyên bản Binh thư yếu lược do Trần Quốc Tuấn soạn đã bị thất truyền. Cuốn Binh thư yếu lược mà chúng ta có ngày nay do một tác giả đời sau biên soạn lại. Mặc dù ở trang đầu của bộ sách có ghi rõ rằng: Binh thư yếu lược, 4 quyển, do Trần Hưng Đạo soạn, nhưng khi nghiên cứu thì chúng ta khẳng định sách đó không phải của Trần Quốc Tuấn. Có thể hiểu rằng, một tác giả đời sau đã đọc binh thư cổ, đã tìm hiểu Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ, rồi sửa chữa, bổ sung Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn theo cách riêng của mình. Căn cứ vào nội dung, chúng ta thấy trong đó có những đoạn có tư tưởng phù hợp với tư tưởng của Trần Quốc Tuấn trình bày trong Hịch tướng sĩ và Di chúc năm 1300. Chúng tôi xin trích một số đoạn để làm minh chứng).


Binh thư yếu lược viết: "Người dùng tướng thì trước hết phải giỏi chọn tướng. Người giỏi chọn tướng thì trước hết phải giỏi biết tướng. Ba điều giỏi ấy, cái tinh vi của người dùng tướng dùng quân đều ở cả đó"3 (Trần Quốc Tuấn: Binh thư yếu lược, phụ: Hổ trướng khu cơ, Sđd, tr.59, 34, 37. Cần lưu ý rằng, nguyên bản Binh thư yếu lược do Trần Quốc Tuấn soạn đã bị thất truyền. Cuốn Binh thư yếu lược mà chúng ta có ngày nay do một tác giả đời sau biên soạn lại. Mặc dù ở trang đầu của bộ sách có ghi rõ rằng: Binh thư yếu lược, 4 quyển, do Trần Hưng Đạo soạn, nhưng khi nghiên cứu thì chúng ta khẳng định sách đó không phải của Trần Quốc Tuấn. Có thể hiểu rằng, một tác giả đời sau đã đọc binh thư cổ, đã tìm hiểu Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ, rồi sửa chữa, bổ sung Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn theo cách riêng của mình. Căn cứ vào nội dung, chúng ta thấy trong đó có những đoạn có tư tưởng phù hợp với tư tưởng của Trần Quốc Tuấn trình bày trong Hịch tướng sĩ và Di chúc năm 1300. Chúng tôi xin trích một số đoạn để làm minh chứng). Tiêu chuẩn quan trọng nhất để chọn tướng dưới thời Trần là đức và tài. Đức là lòng trung nghĩa, là sự trung thành và lòng yêu nước. Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn cho rằng, người tướng phải xứng đáng là một "trung thần nghĩa sĩ", "dĩ thân tuẫn quốc". Người tướng mà ông yêu cầu phải có lòng trung, công minh, chính trực, phải có lòng "phụ tử" với binh sĩ.


Binh thư yếu lược nêu lên rằng, người tướng phải có đủ "ngũ tài" (năm tài), cũng tức là năm phẩm chất, năm yêu cầu của người cầm quân. Đó là: dũng, trí, nhân, tín và trung; dũng thì không ai phạm được, trí thì không cái gì làm rối được, nhân thì yêu dân, tín thì không lừa dối, trung thì không hai lòng1 (Xem Trần Quốc Tuấn: Binh thư yếu lược, phụ: Hổ trướng khu cơ, Sđd, tr.55). Phẩm chất "dũng" ở đây được đặt lên hàng đầu. Chúng ta hiểu rằng, đối phó với quân xâm lược mạnh như quân Nguyên, trước hết người tướng phải có can đảm, dũng cảm, dám đánh, không sợ địch. Đó là cơ sở tìm ra cách đánh tốt, để biết đánh và đánh thắng. Binh thư yếu lược quyển 1, chương Chọn tướng, chỉ rõ: "Có tướng dõng và tướng trí... Tướng dõng (dũng) có thể giúp được việc đánh thành hãm trận; nhưng liệu tính việc địch, chia đặt quân kỳ, lâm cơ ứng biến, nếu không có tướng trí thì không được. Mà kẻ dõng thì thường kém kẻ mưu... Người làm tướng không nên lấy giỏi cung đao cưỡi bắn làm tài, mà phải lấy thông suốt cổ kim làm giỏi"2 (Xem Trần Quốc Tuấn: Binh thư yếu lược, phụ: Hổ trướng khu cơ, Sđd, tr.35-37). Binh thư yếu lược có nhắc chuyện Ngô Khởi, một danh tướng thời Chiến Quốc: "Ngô Khởi khi ra trận, người tả hữu dâng gươm, Khởi nói: Tướng chỉ chuyên cầm cò trống mà thôi. Lâm nạn quyết đánh, vẫy gươm chỉ giáo là việc của tướng, dùng một thanh gươm không phải là việc của tướng"1 (Trần Quốc Tuấn: Binh thư yếu lược, phụ: Hổ trướng khu cơ, Sđd, tr.60). Mục Đạo làm tướng cũng chỉ rõ: "Quân được hay thua do ở người tướng. Có phải bởi tướng làm nên đâu, chỉ là do sự dùng của tướng mà thôi. Trí địch muôn người, không dùng được muôn người thì cũng như người ngu vậy; dũng nhất ba quân, nếu không dùng được ba quân thì cũng như người nhát vậy. Người tướng giỏi đứng đắn mà hay biến hóa, cứng cát mà hay thương người, nhân từ mà hay quyết đoán, dũng cảm mà hay tường tất, lấy sách lược mà chế ngự quan và quân, chưa thấy ai như thế mà không dựng được công nghiệp để dẹp yên họa hoạn bao giờ"2 (Trần Quốc Tuấn: Binh thư yếu lược, phụ: Hổ trướng khu cơ, Sđd, tr.35).


Khi đề cập đến phạm vi hiểu biết của người tướng, Binh thư yếu lược viết: "Hình gia và danh gia không cần kiêm làm binh gia, mà binh gia thì phải kiêm hình gia và danh gia; âm dương gia thì không cần kiêm làm binh gia, mà binh gia thì phải kiêm âm dương gia..."3 (Trần Quốc Tuấn: Binh thư yếu lược, phụ: Hổ trướng khu cơ, Sđd, tr.60). Thế có nghĩa là người phụ trách việc binh, người chỉ huy, người làm tướng phải có kiến thức rộng, toàn diện. Ngoài kiến thức nghiệp vụ của mình, phải hiểu biết về chính trị và pháp luật (hình gia), về tư duy triết học (danh gia) và những mối quan hệ trong trời đất, thiên nhiên và xã hội (âm dương gia). Người giữ vận mệnh của toàn quân là vậy. Cái quan trọng nhất của người tướng, không phải là khả năng chiến đấu của cá nhân mình. Kiến thức sâu rộng là rất quan trọng, nhưng kiến thức đó phải được thể hiện ở tài tổ chức và chỉ huy ba quân. Phải chăng những quan điểm, tư tưởng nêu trên cũng là của Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn, tác giả thực của Binh thư yếu lược (?).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #66 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2021, 03:22:02 pm »

Quan điểm "bạt dụng lương tướng" trong Di chúc có cơ sở từ việc Trần Quốc Tuấn đã hiểu được quy luật hành động của quân xâm lược. Chúng thường dùng sức mạnh quân sự ưu thế, đánh ào ạt như lửa cháy, như gió thổi, hòng nhanh chóng đè bẹp quân ta. Nhưng khi lối đánh đó thất bại, kẻ địch xảo quyệt tất phải dùng cách khác, nguy hiểm hơn. Chiến lược của chúng là đánh nhanh, nhưng nay lại tiến chậm, đánh như tằm ăn, không cần thắng chóng. Yêu cầu chiến lược của chúng là cướp của dân để giải quyết vấn đề tiếp tế khó khăn, nhưng nay chúng quay sang làm như không ham của dân, thậm chí còn "mị dân", tranh thủ dân. Vì vậy, khi thủ đoạn của địch đã thay đổi thì ta không nên dùng cách đánh trả như trước, mà tùy cơ ứng biến, xử lý tình huống một cách linh hoạt, thích hợp để đánh bại các âm mưu, thủ đoạn mới của địch, để thắng chúng. Và chính lúc đó, Trần Quốc Tùấn lại yêu cầu đất nước phải có những người mưu lược, phải có tướng tài giỏi hết sức quyền biến mới chế ngự nổi quân giặc.


Đối phó với kẻ xâm lược tàn bạo và xảo quyệt, dù chúng sử dụng cách đánh nào, chúng ta đều phải có tướng giỏi; tuy nhiên, khi kẻ địch đã thay đổi thủ đoạn thì phải chọn dùng tướng giỏi hơn. Có nghĩa là, nếu cứ hăng hái đánh địch, dũng cảm nhiều, mưu trí ít thì không thắng được địch trong hoàn cảnh chúng đã thay đổi âm mưu, thủ đoạn xâm lược. Phải chọn dùng, cất nhắc tướng giỏi, tức là vừa có tinh thần dám đánh, lại vừa có kiến thức, mưu trí, linh hoạt, nhạy bén nắm bắt cái mới nảy sinh trong âm mưu của kẻ địch, nghĩ ra cách có hiệu quả để phá giặc, thắng giặc.


Quan điểm "dùng người hiền lương", "bạt dụng lương tướng" của Trần Quốc Tuấn được triều đình nhà Trần vận dụng trong quá trình xây dựng quân đội đánh giặc giữ nước. Biết rằng: "Nước lấy binh làm gốc, binh lấy tướng làm gốc, quân lấy tướng làm chủ", các vua Trần luôn nhìn nhận Trần Quốc Tuấn là bậc kỳ tài và đã trọng dụng ông. Dù An Sinh Vương có mối hận thù hoàng tộc nhưng do lòng trung và tài năng của Trần Quốc Tuấn mà Trần Thái Tông đã phong ông làm đại tướng trấn thủ ở biên ải và Trần Nhân Tông đã phong ông làm Quốc công tiết chế thiên hạ chư quân - chức Quốc công trước đó chưa ai có được - tức là giao cả tính mạng mình và tính mạng cả hoàng tộc, cả ngôi báu và giang sơn Đại Việt vào tay Trần Quốc Tuấn. Và theo đề nghị của Trần Quốc Tuấn, nhà vua đã phục chức và phong Trần Khánh Dư làm Phó tướng. Năm 1267, Trần Nhân Tông xuống chiếu, chọn trong tông thất những người giỏi võ nghệ, tinh thông binh pháp để chỉ huy các đô, các quân. Năm 1283, Vua Trần Nhân Tông ra lệnh chọn trong quân hiệu những người có tài để chia lãnh các bộ ngũ. Cũng có lần vua Trần đã ra lệnh: "Chọn trong các quan viên, người nào có tài năng luyện tập nghề võ, tinh thông thao lược thì không kể tông thất đều cho làm tướng coi quân". Tư tưởng tiến bộ này được sử gia Phan Huy Chú đánh giá rất cao và có nhận xét tinh tế rằng: "Thời Trần dùng người thật công bằng... Việc kén dùng chỉ cần tài là được... chỉ cần người dùng được, chứ không câu nệ đường xuất thân"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, tr.98).


Theo tinh thần đó, nhà Trần đã xây dựng được một đội ngũ tướng lĩnh có phẩm chất, có tài năng, đã lập nhiều chiến công xuất sắc, làm tròn vai trò nòng cốt cho ba quân và cả nước đánh giặc.

Đặc biệt, nổi lên trong tất cả các danh tướng thời Trần là Trần Quốc Tuấn: "Trần Hưng Đạo là vị anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà chính trị lỗi lạc, nhà quân sự kiệt xuất, có công lao to lớn trong công cuộc chuẩn bị và thực hành ba cuộc kháng chiến của quân dân ta, đánh bại mọi cố gắng xâm lược điên cuồng của đế chế Mông - Nguyên, giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc, truyền lại cho chúng ta nhiều quan điểm, tư tưởng chính trị - quân sự tiến bộ vượt thời đại"2 (Võ Nguyên Giáp: Thư gửi cuộc hội thảo nhân dịp kỷ niệm 700 năm ngày giỗ Trần Hưng Đạo).


Chính mang tư tưởng quân sự tiên tiến nên Trần Quốc Tuấn rất chú ý phát hiện, đào tạo và tiến cử, sử dụng nhân tài quân sự cho đất nước. Bản thân ông là một tấm gương trung quân ái quốc, luôn lấy giang sơn làm trọng, coi việc bảo vệ tông miếu xã tắc làm đầu, Tổ quốc Đại Việt trên hết. Trong những lúc hiểm nghèo, ông thường nhận trách nhiệm về mình, kiên quyết và tự tin. Dù bận việc nước, việc quân nhiều, nhưng ông đã để tâm nghiên cứu biên soạn sách binh thư để nêu rõ đạo làm tướng, để dạy các tướng lĩnh về tri thức quân sự, về binh thư, binh pháp cổ kim và vận dụng vào thực tiễn chiến trận trong cuộc đối đầu trực tiếp với giặc Mông - Nguyên. Lúc đất nước lâm nguy, Trần Quốc Tuấn đã truyền lời hịch kêu gọi các tướng sĩ, khích lệ lòng yêu nước và khí phách anh hùng chống giặc ngoại xâm, bảo vệ non sông đất nước.


Do nhận thức đúng vai trò của người tướng và có tư tưởng chỉ đạo tuyển chọn, đào luyện và sử dụng các tướng sĩ, trong giới quý tộc thời Trần đã xuất hiện nhiều tài năng quân sự nổi tiếng như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng, Trần Khát Chân... Nhiều người không thuộc dòng dõi quý tộc tông thất nhưng có tài năng cũng được triều đình tuyển dụng, bồi dưỡng và cất nhắc trở thành những tướng giỏi như Lê Tần, Nguyễn Khoái, Phạm Ngũ Lão... Trong quân đội nhà Trần cũng xuất hiện những tướng dân binh nổi tiếng như Nguyễn Thế Lộc, Trần Thông, Nguyễn Khả Lập, Nguyễn Truyền... Công lao của Trần Quốc Tuấn trong việc xây dựng đội ngũ tướng lĩnh nhà Trần thật vô cùng to lớn. Nhờ có quan điểm tiến bộ và uy tín của Trần Quốc Tuấn mà thân phận thấp kém như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực và nhiều gia thần, muôn khách đã trở thành danh tướng, tiếng thơm để lại muôn đời.


Theo Trần Quốc Tuấn, một quân đội mạnh phải "trên dưới một dạ" hoặc "có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được". Và vì thế, với quân sĩ, Trần Quốc Tuấn đối đãi như cha con. Ông nhận thức rõ vai trò của người chiến binh, dù họ là những người nô tỳ có thân phận thấp kém. Tướng lĩnh và binh sĩ vì ông mà một mực trung thành. Trước hành động quả cảm và tinh thần kỷ luật không rời bỏ vị trí chiến đấu khi chưa có lệnh của Yết Kiêu, ông đã cảm kích nói: "Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.51). Câu nói đó chứng tỏ Trần Quốc Tuấn đã coi trọng vai trò của người lính như thế nào.


Tư tưởng đó của người đứng đầu quân đội đã có ảnh hưởng rất lớn trong toàn quân. Trong quân đội nhà Trần đã xuất hiện nhiều đạo quân "phụ tử", đoàn kết, kỷ luật nghiêm, mưu trí, dũng cảm. Sử sách ca ngợi các đạo quân vương hầu của Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, đạo quân "phụ tử chi binh" của Phạm Ngũ Lão, v.v... Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép về Phạm Ngũ Lão và đạo quân của ông như sau: "Ông huấn luyện quân đội rất có kỷ luật, đối đãi tướng hiệu tựa như người nhà, cùng đồng cam cộng khổ với binh sĩ, cho nên quân đi tới đâu, không ai dám chống; tất cả chiến lợi phẩm thu được đều sung vào kho quân, coi của cải như không, là bậc danh tướng của một thời vậy"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.105). Phạm Ngũ Lão là gia thần được Trần Quốc Tuấn tin yêu, giáo dục, rèn luyện, trở thành một tướng giỏi và được ông tiến cử làm võ quan trong triều, thăng đến chức Thân vệ đại tướng quân, chỉ huy cấm quân dưới triều Vua Trần Anh Tông. Là học trò của Quốc công tiết chế, Phạm Ngũ Lão trở thành một vị tướng văn võ song toàn, coi quân có kỷ luật, đối đãi với quần sĩ như người trong nhà, do đó đội quân của ông rất nổi tiếng thiện chiến.


Không phải chúng ta ngày nay, mà cả các sử gia ngày xưa cũng đã đánh giá cao phẩm chất và tài năng của các tướng lĩnh đời Trần, sử gia thời Lê, Ngô Sĩ Liên khâm phục năng lực toàn diện và trình độ học vấn của họ, ông đã viết: "Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Vương thì học vấn tỏ ra ở bài hịch (tức bài Hịch tướng sĩ - TG), Phạm điện Súy (tức Phạm Ngũ Lão - TG) thì học vấn biểu hiện ở câu thơ (bài thơ Thuật hoài - TG), không chỉ có chuyện về nghề võ. Thế mà dùng binh tinh diệu, hễ đánh là thắng, đã tấn công là chiếm được, người xưa cũng không một ai vượt nổi các ông. Lê Phụ Trần thì dũng lược đứng đầu ba quân, một mình một ngựa xông pha trong trận giặc, tùy cơ ứng biến, chống đỡ cho chúa trong lúc gian nguy, mà tài văn học của ông đủ để dạy bảo thái tử. Đủ biết, nhà Trần dùng người, vốn căn cứ vào tài năng của họ để trao trách nhiệm"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.105-106). Lê Quý Đôn cũng đánh giá rất cao các tướng lĩnh đời Trần: "Nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có khí tự lập, hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt qua thói thường, làm rạng rõ trong sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất. Ôi như thế, người đời sau còn có thể theo kịp thế nào được"1 (Lê Quý Đôn toàn tập - t.II - Kiến văn tiểu lục, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, t.II, tr.258-259). Đó là kết quả tư tưởng trọng dụng nhân tài, cất nhắc tướng giỏi của vương triều Trần.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #67 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2021, 03:23:41 pm »

5. Tư tưởng chủ động giữ nước ngay từ thời bình

Sau chiến thắng Chương Dương, giải phóng Thăng Long (1285), khi Thượng tướng Trần Quang Khải theo hai vua Trần trở lại Thăng Long, đã cảm khái làm bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư, trong đó có câu: "Thái bình tu trí lực, vạn cổ thử giang san" (Thái bình nên gắng sức, non nước ấy nghìn thu). Quả là có gắng sức xây dựng tiềm lực lúc hòa bình thì đất nước mới vững bền, khi chiến tranh mới đánh thắng giặc. Tư tưởng đó được thể hiện trong quá trình xây dựng đất nước dưới triều Trần trong giai đoạn phát triển.


Ngay từ đầu đời Trần, hiểm họa xâm lược của quân Mông Cổ và sau đó là của quân bành trướng Mông - Nguyên treo lơ lửng trên đầu dân tộc ta. Triều đình nhà Trần thấy rõ tình hình đó. Cho nên, trong thời bình, nhất là giữa hai cuộc chiến tranh xâm lược, đã thường xuyên chuẩn bị đất nước sẵn sàng đối phó với quân thù. Với tư tưởng chỉ đạo tìm nguồn sức mạnh giữ nước trong dân, tăng cường mức độ sâu rễ bền gốc của triều đình trong đời sống trăm họ, các vua Trần đều quan tâm xây dựng tiềm lực giữ nước, nâng cao đời sống của dân, trước hết là chăm lo phát triển nghề nông, chú trọng trị thủy, đồng thời mở mang thủ công nghiệp và thương nghiệp, xây dựng mạng lưối giao thông, vừa nâng cao cuộc sống nhân dân vừa xây dựng ngày càng hoàn chỉnh thế trận phòng thủ đất nước.


Cũng như bao triều đại khác, dưới triều Trần, dựng nước luôn gắn với giữ nước. Ngay từ trong hòa bình xây dựng, các vua Trần đã quan tâm đến vấn đề giữ nước. Bảo vệ đất nước, chuẩn bị lực lượng và kế sách đánh phòng là một nhu cầu thường xuyên được những người đứng đầu triều đình hết sức lưu tâm. Một biểu hiện cụ thể là khi Vua Trần Anh Tông biết Trần Quốc Tuấn ốm, không thể qua khỏi, đã đến bên giường bệnh, lo lắng hỏi: "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.79). Xây dựng thế nước trong thời bình được vương triều Trần quan niệm là xây dựng sức mạnh khá toàn diện cả về chính trị, kinh tế, ngoại giao và quân sự.


Về chính trị, đó là chủ trương xây dựng một nhà nước quân chủ tập quyền mạnh mà không chuyên quyền cực đoan. Một chính thể thân dân, biết đặt lợi ích của vương triều trong lợi ích của dân tộc, gắn bó vận mệnh của vương triều với vận mệnh của Tổ quốc. Với một bộ máy chính quyền tập trung mạnh, triều Trần đã trực tiếp quản lý có hiệu lực lãnh thổ và cư dân từ trung ương đến tận các cơ sở.


Trong giai đoạn tiến bộ, nhà nước quân chủ trung ương tập quyền thời Trần còn gắn bó với dân, xứng đáng tiêu biểu cho nguyện vọng và ý chí của dân, do đó chính quyền trung ương có đủ uy tín tập hợp sức mạnh các tầng lớp nhân dân xây dựng sự phồn vinh của đất nước, cuộc sống yên ổn lạc nghiệp của nhân dân, tạo thành sức mạnh vô địch của dân tộc khi bị kẻ thù tiến công xâm lược. Điều này được biểu hiện không chỉ ở ý thức dân tộc mạnh mẽ, ở tính cách nhân từ, khoan dung của các vua, đặc biệt ở buổi đầu vương triều, như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông mà còn ở những chính sách kinh tế - xã hội tiến bộ. Những chính sách đó nói chung, nhằm vun trồng, nuôi dưỡng, khoan thư sức dân, tạo nên một xã hội văn minh, ổn định và phát triển hài hòa. Chính vì vậy, trước họa xâm lăng, triều Trần đã có khả năng và đã thực sự huy động được cả nước chống giặc.


Để tạo được thế mạnh quốc phòng ngay từ khi hòa bình, nhà Trần chủ trương giao cho quý tộc vương hầu trấn trị những vùng đất trọng yểu, như Trần Thủ Độ ở Quắc Hương (Hà Nam), Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương), Trần Quang Khải ở Cao Đài và Trần Khánh Dư ở Dưỡng Hòa (Hà Nam), Trần Quốc Khang ở Diễn Châu (Nghệ An), Trần Nhật Duật ở Văn Trinh (Thanh Hóa)... Sự kết hợp giữa quốc phòng và kinh tế, giữa việc quân sự và ban cấp thái ấp là nét đặc biệt trong sự tồn tại, phát triển của vương triều Trần. Hai vấn đề này trở nên quan trọng cả thời bình và thời chiến. Thời bình, hoạt động của thái ấp không chỉ nhằm mục đích phục vụ cho các vương hầu, quý tộc mà còn là nơi tích trữ lương thực, dự trữ sức người, sức của cho thời chiến, vấn đề này đã thể hiện hiệu quả rất lớn trong các lần kháng chiến chống Mông - Nguyên. Yếu tố quân sự - quốc phòng trở thành mục đích quan trọng hàng đầu của các thái ấp, điển trang, bởi các yếu tố sau đây:

- Thái ấp đều nằm ở những địa bàn trọng yếu của đất nước, ở những ngã ba sông, ven sông, ven đường, thuận lợi trong việc hành quân.

- Các vương hầu quý tộc được ban cấp đều là những tướng giỏi, nhiều người văn võ song toàn, là trụ cột của triều đình, là những tướng tài ba có thể chỉ huy những đạo quân lớn, quan trọng.

- Các thái ấp trở thành những căn cứ địa trong kháng chiến, hay những chốt quân sự có ý nghĩa phòng thủ đất nước, như thái ấp Quắc Hương của Trần Thủ Độ ở gần Thiên Trường, thái ấp Vạn Kiếp của Trần Quốc Tuấn ở cửa ngõ phía đông bắc Tổ quốc, v.v....


Chính sách ưu đãi đặc quyền, đặc lợi cho vương hầu quý tộc dưới thời Trần kết hợp với chủ trương tăng cường quyền lực của Nhà nước tập quyền phản ánh phương châm "tông tử duy thành" (dùng con cháu tông thất làm thành lũy) mang đặc trưng của Nhà nước quân chủ quý tộc thời kỳ này. Các vua Trần đặc biệt quan tâm ngay từ trong hòa bình củng cố khối đoàn kết nhất trí trong vương triều, xem đó như hạt nhân quan trọng của đoàn kết toàn dân, tạo nên thế cả nước đồng lòng. Vua - tôi, nước - nhà, toàn dân cố kết thành một khối là điều kiện tiên quyết để vương triều Trần, từ cảnh giác đề phòng trong thời bình đến kiên quyết đánh thắng khi có giặc ngoại xâm.


Nhà Trần vẫn chủ trương thực hiện chính sách "Ki mi" ràng buộc tương đối lỏng lẻo với các vùng dân tộc thiểu số, nhưng ít dùng quan hệ hôn nhân hơn thời Lý, mà chủ yếu kết hợp chính sách nhu viễn, vỗ về các tù trưởng, tộc trưởng với việc cắt đặt đơn vị hành chính các cấp trấn, lộ khắp vùng lãnh thổ thượng du, biên viễn. Đó là các lộ Lạng Giang, lộ Tam Giang, trấn Thiên Quan, trấn Thiên Hưng, trấn Thái Nguyên, trấn Lạng Sơn, trấn Lạng Giang..., do các chức an phủ, trấn thủ đứng đầu như các lộ khác. Do đặc điểm địa hình và dân cư ở các vùng này, nhà nước cũng chỉ nắm giữ đến cấp trấn, lộ, còn cấp châu, phủ vẫn tuyển chọn các thổ tù, tù trưởng, tộc trưởng, giao cho họ quản giữ. Nhìn chung, nhằm mục tiêu xây dựng bộ máy quản lý đất nước, vương triều Trần bằng những biện pháp quản lý mềm dẻo đã đạt được một bước phát triển đáng kể, góp phần đoàn kết khối đại gia đình các dân tộc, tạo sức mạnh vô địch trong đánh giặc giữ nước như lịch sử đã ghi nhận. Triều đình đặc biệt quan tâm đến miền núi rừng phía bắc và đông bắc, vì đây là vùng biên cương có vị trí chiến lược trọng yếu trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc. Do những điều kiện địa lý và lịch sử, các dân tộc thiểu số nói chung còn ở trình độ phát triển thấp hơn miền xuôi; nhưng các tù trưởng thiểu số lại có thế lực rất lớn và thực sự nắm quyền quản lý dân cư thuộc tộc mình. Do vậy, chính sách cơ bản của nhà Trần là bằng mọi cách tranh thủ các tù trưởng, tộc trưởng để qua họ, thắt chặt khối đoàn kết dân tộc và mở rộng uy tín, ảnh hưởng của triều đình lên miền núi. Chính vì thế, lực lượng này trở thành chỗ dựa cho nhà nước về an ninh, quốc phòng trong thời bình và là lực lượng đánh chặn đáng kể khi kẻ thù tiến công xâm lược. Có thể nêu ví dụ như dân binh ở trại Quy Hóa, huyện Phù Ninh (Phú Thọ) do Hà Đặc, Hà Chương, Hà Khuất chỉ huy đã đánh chặn kỵ binh Mông Cổ trên đường tháo chạy (1258), các hào trưởng Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh đã lãnh đạo dân binh cùng quân triều đình đánh trận Ma Lục nổi tiếng ở Lạng Sơn (1285), v.v...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #68 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2021, 03:32:02 pm »

Lịch sử đã đặt Nhà nước và nhân dân thời Trần trước một nhiệm vụ hết sức nặng nề là phải kế tục các nhà nước Tiền Lê và Lý bảo vệ nền độc lập, tự chủ và nhanh chóng đẩy mạnh phục hưng đất nước để trường tồn và phát triển.


Đối với quốc gia Đại Việt thời Trần, nguy cơ xâm lược của đế chế Mông - Nguyên ở phía bắc và sự quấy phá của các vương quốc ở phía nam và tây nam gần như mối lo thường trực. Sự thực này đã chi phối nhiều hoạt động của Nhà nước. Trước tình hình đó, sức mạnh giữ nước và thắng lợi trong kháng chiến cần phải dựa vào nhiều yếu tố, vào sức mạnh tổng hợp của hậu phương về mọi mặt, trong đó vai trò của lĩnh vực kinh tế là hết sức quan trọng. Nhà Trần, ngay từ những năm đầu xây dựng chính quyền đã chú ý xây dựng, phát triển kinh tế, làm cho dân giàu nước mạnh, "quốc phú binh cường" và luôn gắn chặt giữa xây dựng kinh tế với mục tiêu quốc phòng. Với một quốc gia nông nghiệp, một dân tộc có truyền thống cấy lúa nước, nhà Trần đặc biệt khuyến nông bằng nhiều biện pháp, đồng thời coi trọng phát triển công, thương nghiệp, ở trình độ phát triển của xã hội vào thế kỷ XIII, nhu cầu của nhân dân và quân lính không chỉ ăn no đã đủ để thắng giặc, yêu cầu dựng nước và giữ nước còn đòi hỏi nhiều thứ mà cả nông nghiệp, công thương nghiệp và giao thông vận tải mối đáp ứng được. Các vua Trần thường ra chiếu khuyến nông, bảo vệ sức kéo nông nghiệp, phát triển các nghề thủ công, mở mang chợ búa, nạo vét sông kênh, đắp đê chống lụt từ đầu nguồn đến bãi biển..., tạo nên những điều kiện thuận lợi cho hoạt động quân sự. Như vậy, quan tâm khuyến khích nông nghiệp, phát triển công thương nghiệp, mở mang giao thông vận tải ngay trong thời bình đều kết hợp chặt chẽ với quốc phòng, hướng về quốc phòng. Điều đó đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, một chủ trương lớn mang tính chiến lược trong kế sách giữ nước thời Trần.


Trong mối quan hệ quốc tế, mà trước hết là đối với các lân bang, Nhà nước Đại Việt thời Trần không chỉ tỏ ra biết mình mà còn biết người, hiểu thời thế; do đó đã thực thi một đường lối đối ngoại khá khôn ngoan, sáng suốt và linh hoạt. Nước Đại Việt thời Trần là một quốc gia thịnh vượng, có uy tín trong vùng. Trên cơ sở sức mạnh chính trị, kinh tế và quân sự, nhà Trần đã chủ trương thực hiện một chính sách ngoại giao khá linh hoạt với từng đối tượng. Đó là mềm dẻo, nhún nhường có điều kiện và kiên quyết với nước lớn; khoan hòa linh hoạt, nhưng cứng rắn, nghiêm khắc với nước nhỏ... Sự kết hợp giữa sức mạnh nội tại với đường lối đối ngoại khôn khéo đã đem lại hiệu quả to lớn trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tạo ra không khí hòa bình, hòa hiếu để xây dựng đất nước, hoặc kéo dài hòa hoãn để tích trữ lực lượng, chuẩn bị mọi mặt cho chiến tranh.


Sức mạnh giữ nước của một quốc gia thể hiện tập trung nhất ở tiềm lực quân sự. Chiến tranh dù dưới hình thức nào cũng chủ yếu là sự đọ sức trực tiếp của lực lượng vũ trang trên chiến trường. Trong cuộc đọ sức đó, chất lượng, quyết tâm chiến đấu của quân đội, tài thao lược, chỉ huy của lãnh đạo, tướng lĩnh là những yếu tố quyết định. Chính vì thế, vương triều Trần đã có tư tưởng tích cực, chủ động để giải quyết những yêu cầu này ngay từ trong thời bình và nhất là trước nguy cơ tiến công xâm lược của kẻ thù.


Năm 1257, biết tin kỵ binh Mông Cổ sắp tràn qua biên giới, Vua Trần Thái Tông đã ra lệnh cả nước sắm sửa vũ khí, đóng thuyền chiến và luyện tập võ nghệ. Năm 1262, Vua Trần Thánh Tông hạ lệnh cho các đạo quân sắm sửa binh khí, đóng thêm thuyền chiến và tổ chức tập trận ở bãi phù sa sông Bạch Hạc (Phú Thọ). Năm 1283, khi cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai chưa diễn ra, Vua Trần Nhân Tông đích thân chỉ huy các vương hầu, tướng lĩnh thao diễn chiến trận và lệnh cho Trần Quốc Tuấn đốc suất các vương hầu, quý tộc cùng dân chúng sắm sửa vũ khí, đóng chiến thuyền.


Đặc biệt trong thời gian chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, vua Trần thường giao cho các tướng tổ chức luyện tập binh sĩ, thao diễn quân đội. Hình thức tập trận lớn, thao diễn quân đội rất được coi trọng và thường do nhà vua hoặc Quốc công tiết chế đích thân chỉ huy. Các thân vương được lệnh thông suất quân của mình và quân địa phương nơi mình trấn trị, sẵn sàng theo lệnh điều động.


Biết trước âm mưu xâm lược của giặc, triều đình nhà Trần đã mở Hội nghị Bình Than, họp các vương hầu, bách quan để bàn kế sách đánh phòng. Hội nghị Bình Than có ý nghĩa quân sự - chính trị to lớn, làm cho chủ trương kháng chiến của triều đình thấu xuống khắp các vương hầu bách quan, huy động được các lực lượng của tất cả các tầng lớp tham gia kháng chiến. Sau Hội nghị Bình Than, việc mộ quân và sắm sửa khí giới, chuẩn bị cho kháng chiến trong toàn quân, toàn dân diễn ra hết sức sôi động trong cả nước.


Năm 1284, Trần Quốc Tuấn được lệnh điều khiển các vương hầu, tướng lĩnh mở cuộc duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu (Thăng Long) rồi sau đó chia quân đi đóng giữ những nơi xung yếu ở phía bắc và đông bắc Tổ quốc. Tháng Chạp năm ấy, vua ngự ra bến sông ở Hải Đông (Hải Dương), sai Hưng Đạo Vương tiết chế Đại hội thủy, bộ chư quân ở Vạn Kiếp. Bấy giờ, binh lính đóng liền một dải ở Vạn Kiếp, thuyền chiến san sát trên sông Lục Đầu, cờ xí trang nghiêm, gươm giáo sáng lòa, ba quân thật là sung sức.


Ngay sau khi cuộc kháng chiến lần thứ hai vừa thắng lợi, năm 1286, Vua Trần Nhân Tông đã hạ lệnh cho Trần Quốc Tuấn cùng các vương hầu, tôn thất và các võ quan "điều động quân lính, chế tạo vũ khí, thuyền bè... kiểm duyệt, diễn tập quân lính điều động được"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.58). Một năm sau, trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh mới, triều đình nhà Trần đã triệu tập các tướng tổ chức diễn tập và triển khai lực lượng phòng vệ, chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc đọ sức lần thứ ba với giặc Mông - Nguyên.


Những sự kiện trên chứng tỏ, các vua Trần cũng như Trần Quốc Tuấn và các tướng chỉ huy cao cấp trong quân đội không chỉ lo luyện rèn võ nghệ cho từng người, mà còn thường xuyên tổ chức tập trận lớn, luyện cho các tướng sĩ và quân lính quen với chiến trận và địa hình, biết hiệp đồng chiến đấu giữa các đơn vị, các loại quân; đồng thời cũng để nâng cao sĩ khí trước khi bước vào cuộc sống mái với quân thù.


Chuẩn bị sẵn sàng ngay từ thời bình, trước khi chiến tranh diễn ra, đó là tư tưởng chỉ đạo hết sức đúng đắn của các vua Trần và Trần Quốc Tuấn, vị thống soái quân đội nhà Trần. Chính nhờ đó mà chất lượng quân đội nhà Trần ngày một nâng cao và cũng nhờ những biện pháp tích cực đó mà sự đối phó với giặc cũng được chủ động hơn; đặc biệt trước cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288), Trần Quốc Tuấn đã trả lời vua Trần Nhân Tông rằng "năm nay đánh giặc nhàn" và toàn thế quân dân Đại Việt đã bước vào cuộc kháng chiến với một niềm tin tất thắng.


Tư tưởng chủ động chuẩn bị từ thời bình đó vẫn được các vua Trần kế tiếp vận dụng trong kế sách giữ nước. Năm 1364, Vua Trần Dụ Tông xuống chiếu chế tạo chiến cụ và thuyền chiến, đề phòng hoạn nạn từ biên giới phía Nam. Bấy giờ Chiêm Thành thường quấy phá biên giới, nhà vua ra lệnh chỉnh đốn quân đội, sửa sang binh nhung và có ý muốn tự mình cầm quân đi đánh dẹp.


Tóm lại, tư tưởng chuẩn bị lực lượng ngay từ thời bình là một tư tưởng chiến lược quan trọng được biểu hiện rõ nét trong quá trình xây dựng đất nước và đặc biệt được triển khai mạnh mẽ vào những thời điểm cả nước sắp bước vào các cuộc kháng chiến. Dựng nước gắn liền với giữ nước, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, "thái bình tu trí lực"... là những biểu hiện của tư tưởng chủ động xây dựng thế nước của ông cha ta nhằm mục đích bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 2196



WWW
« Trả lời #69 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2021, 03:34:01 pm »

6. Tư tưởng "dĩ đoản chế trường", chỉ đạo cách ứng xử về chiến lược

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Năm Canh Tý (Hưng Long) thứ 8 (1300), tháng 6, Hưng Đạo Vương ốm nặng. Vua Trần Anh Tông ngự tới nhà thăm và hỏi rằng: "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.79). Trần Quốc Tuấn đã nói về kế sách giữ nước của mình, trong đó có câu: "Nó (quân địch - TG) cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản [binh] chế trường [trận] là sự thường của binh pháp"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.79). Như vậy, về cách dùng binh, về nghệ thuật quân sự, Trần Quốc Tuấn chủ trương dựa vào "đoản binh", tức dựa vào nội lực - thế mạnh của mình để chế ngự cái "trường trận" của giặc. Chủ trương "dùng đoản binh chế trường trận" là việc thông thường của một quân đội nhỏ, ít mà phải chống lại những đội quân xâm lược đông và hùng mạnh. Đó cũng là tư tưởng chỉ đạo nghệ thuật quân sự của một dân tộc nhỏ tiến hành chiến tranh tự vệ chính nghĩa chống lại những kẻ xâm lược lớn mạnh.


Đây trước hết là tư tưởng chỉ đạo tác chiến. Xét về hoàn cảnh lịch sử trong ba cuộc kháng chiến thời Trần chống quân Mông - Nguyên lớn mạnh, thì đây cũng là tư tưởng chỉ đạo cách ứng xử, cách đánh về chiến lược trước nhũng đạo quân hùng mạnh.


Nước ta nhỏ, nước địch lớn; quân ta ít, quân xâm lược đông. Trong chiến tranh giữ nước, một mặt ta phải tuân theo những quy luật chung của chiến tranh, nhưng mặt khác, ta cũng phải có quan điểm riêng về cách ứng xử, cách đánh phù hợp với điều kiện của mình để chiến thắng quân xâm lược lớn mạnh.


Triều đình nhà Trần đã nhận thức rất rõ hoàn cảnh chiến lược và yêu cầu chiến lược đó. Vua Trần đã nhiều lần đề cập đến vấn đề tương quan lực lượng khi tiếp xúc với các sứ thần Mông Cổ. Năm 1258, Trần Thái Tông đã nói với sứ giả Mông Cổ tên là Nậu Lạt Đinh rằng: "Nước nhỏ thành tâm thờ nước lớn thì nước lớn đối đãi thế nào?". Năm 1268, Vua Trần Thánh Tông chất vấn sứ thần Mông Cổ: "Đã xưng là nước lớn, tại sao còn đòi tê tượng?". Tháng 2-1275, trong chiếu thư gửi vua Nguyên, Trần Thánh Tông cũng đã tố cáo: "Những kẻ sai đến (tức bọn sứ giả) động tý là cậy thế chèn ép nước nhỏ". Nhận thức về hoàn cảnh, thế nước lúc bấy giờ cũng được quán triệt trong tư tưởng các sứ thần Đại Việt. Đào Tử Kỳ được phái đi sứ sang Nguyên năm 1293 đã bác bỏ những lời đe dọa của tên thượng thư triều Nguyên, Trương Lập Đạo bằng lập luận sắc bén: "Các ông là nước lớn, chúng tôi là nước nhỏ. Chúng tôi chỉ muốn yên ổn, có bao giờ chúng tôi lại muốn sinh sự. Chỉ vì các ông cậy có người đông sức mạnh đến, chực đè đầu cưỡi cổ chúng tôi. Vì lẽ phải giữ mình, chúng tôi phải chống lại. Người xưa nói: "Trực vi tráng, khúc vi lão" nghĩa là việc chiến tranh, vì lý thẳng thì thắng, lý cong thì thua. Chúng tôi vì tự vệ nên chúng tôi thắng, các ông vì ăn cướp nên các ông thua; đó là lẽ tất nhiên không thể lấy thế mạnh yếu, nước to nhỏ mà bàn được"1 (Bộ Ngoại giao, Bộ phận Tổng kết: Tìm hiểu truyền thống đấu tranh ngoại giao của tổ tiên ta (từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII), Hà Nội, 1973, tr.125). Trong bối cảnh đất nước như thế thì quan điểm "dĩ đoản chế trường" đã chỉ đạo toàn bộ các hoạt động kháng chiến của cấp lãnh đạo cũng như của quân đội nhà Trần.


Có thể hiểu rằng, "đoản binh" tức là quân ít, quân nhỏ; "trường trận" hay trường binh là quân lớn, quân đông (đại quân); cũng có thể hiểu "đoản binh" là cách đánh của quân đội nước nhỏ khi tiến hành chiến tranh tự vệ, "trường trận" là cách đánh của quân đội nước lớn khi đi xâm lược. Tư tưởng "dĩ đoản chế trường" thực chất là tư tưởng lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều. Đây là một tư tưởng quân sự yêu nước truyền thống, lâu đời của dân tộc ta, một biểu hiện độc đáo của trường phái quân sự Việt Nam.


Tư tưởng quân sự "dùng đoản binh chế trường trận" được hình thành và không ngừng phát triển trong hoàn cảnh cộng đồng người Việt sinh sống trên một vùng lãnh thổ đất không rộng, người không đông, tiềm lực dựng nước và giữ nước có hạn, nhưng thường xuyên bị ngoại bang uy hiếp, phải liên tiếp chống lại ách đô hộ và những cuộc xâm lược của những thế lực phong kiến lớn mạnh. Trong những điều kiện lịch sử ngặt nghèo ấy, các thế hệ lãnh đạo của người Việt Nam đã thể hiện một tư duy quân sự sáng tạo - tìm ra một cách ứng xử hợp lý, một nghệ thuật giành thắng lợi trong cuộc đọ sức với kẻ thù lớn mạnh hơn mình nhiều lần.


Tư duy, tư tưởng lấy nhỏ đánh lớn đã hình thành rất sớm trong lịch sử chiến tranh giữ nước của dân tộc ta. Người Việt thời Hùng Vương trốn vào rừng núi, ngày ẩn đêm hiện, trường kỳ kháng chiến và đã chiến thắng quân Tần xâm lược. Quân dân ta thời Trưng Vương đã phải đương đầu với những đạo quân hùng mạnh của nhà Đông Hán. Triệu Quang Phục dựa vào đầm Dạ Trạch, với lối đánh thích hợp của mình đã đánh bại những đạo quân xâm lược nhà Lương, giành lại nền độc lập cho nước Vạn Xuân... Rõ ràng, tư tưởng đánh giặc sáng tạo dùng đoản binh thắng trường trận của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn bắt nguồn sâu xa từ lịch sử, từ điều kiện khách quan của đất nước, từ kế sách dựng nước và giữ nước của Nhà nước Đại Việt đương thời, và dựa trên sức mạnh cố kết của dân tộc.


Lấy ít địch nhiều trên chiến trường đòi hỏi quân đội triều đình, lực lượng quyết định trực tiếp đánh bại quân xâm lược phải rất "tinh", có chất lượng cao. Giữa hai yếu tố định tính và định lượng, Trần Quốc Tuấn luôn coi trọng định tính - chất lượng. Ông nói: "Quân quý ở chỗ tinh không quý ở chỗ nhiều, như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng không làm được gì". Trong Binh thư yếu lược có viết: "Phàm hay ít thắng nhiều, lấy yếu mà địch mạnh, lấy nhỏ mà chế lớn, thế mới gọi là thiện chiến". Tư tưởng đó về sau được Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Quang Trung - Nguyễn Huệ kế tục vận dụng và thành công lớn.


Điểm nổi bật trong tư tưởng chỉ đạo nghệ thuật quân sự của dân tộc ta nói chung và của các tướng lĩnh nhà Trần nói riêng là tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu của giặc. Những kỵ binh Mông Cổ quen với cung tên và yên ngựa từ 5 tuổi đã không thi thố được tài nghệ chiến đấu khi đối đầu với quân đội Đại Việt với lối đánh hoàn toàn mới lạ đối với chúng. Quân nhà Trần đã không đem kỵ binh nhỏ bé của mình để đối đầu với kỵ binh hùng mạnh của Mông - Nguyên, cũng không tung hết sức lực của mình vào trận khi quân đội xâm lược đang tiến công ồ ạt và sung sức. Trần Quốc Tuấn cũng không đem cấm quân tinh nhuệ của mình để giáng đòn quyết định theo kiểu "đá chọi đá" khi quân Nguyên đang ở thế mạnh. Chính những lúc đó, đội quân đã từng bách chiến bách thắng trên phần lớn lục địa Âu - Á lại bị quân các lộ, phủ, quân vương hầu và dân binh các làng xã, thổ binh của các tù trưởng quấy rối, chặn đánh liên tục từng tốp nhỏ, làm phân tán, tiêu hao, hạn chế cái sở trường của chúng. Còn quân triều đình thì thực hiện theo tư tưởng "tránh cái thế mạnh lúc ban mai để đánh cái thế yếu buổi chiều hôm" của quân địch, nghĩa là rút lui, bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ phản công địch.


Chỉ đến khi, quân Mông - Nguyên rải ra củng cố vùng mới chiếm đóng, hình thành những cụm quân phòng giữ, khi bọn chúng rời yên ngựa, không còn là kỵ binh thực sự, không phát huy được sức mạnh đột kích và tốc độ tiến công thì chúng bị giáng những đòn tiêu diệt lớn và bất ngờ. Trận Đông Bộ Đầu, trận Tây Kết - Hàm Tử, trận Chương Dương - Thăng Long và những trận phục kích lớn ở sông Cầu, Vạn Kiếp đã giáng vào quân giặc khi chúng đã xuống yên, buộc cương hoặc lúc tinh thần của quân địch đã mệt mỏi, hoảng sợ. Chính những đòn đánh vào chỗ yếu của địch đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn những đạo kỵ binh vốn nổi tiếng thiện chiến của Mông - Nguyên.


Cũng là nghệ thuật "dùng đoản binh chế trường trận", lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, nhưng trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, quân đội nhà Trần đã thể hiện cách khác. Lần này, quân đội Đại Việt đã phát huy chỗ mạnh của mình, đánh vào chỗ yếu của địch. Quân nhà Trần đã phát huy tối đa lối đánh giặc trên chiến trường sông nước, ven biển để chế ngự quân địch mạnh. Chính chiến thuật thủy chiến thông thạo và quen thuộc của người Đại Việt đã phát huy sức mạnh của ta, hạn chế chỗ mạnh của quân địch. Ta lại khoét sâu vào chỗ yếu là thiếu lương thảo của quân Mông - Nguyên. Kế "thanh dã" - vườn không nhà trông, luôn được chỉ đạo toàn dân thực hiện một cách triệt để. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến năm 1288, nhà Trần đã chủ trương đánh vào đoàn quân vận lương của giặc. Chiến công lớn đánh tan đoàn quân lương Trương Văn Hổ ở ngoài biển Vân Đồn của Trần Khánh Dư đã đưa lại hiệu quả lớn, tác động mạnh mẽ vào tinh thần quân Nguyên. Trần Quốc Tuấn đã chủ động thực hiện những trận đánh ngăn chặn, tiêu hao địch, rút lui để bảo toàn lực lượng cùng với các hoạt động chuẩn bị trận đánh mai phục, nhằm từng bước dẫn dắt quân địch vào "cạm bẫy" của mình. Quân Nguyên tiến vào Đại Việt với khí thế hùng hổ, muốn quyết chiến với quân chủ lực và bắt sống triều đình nhà Trần, nhưng lần nào chúng cũng không thực hiện được, lại bị sa vào thế trận làng - nước, chiến tranh nhân dân của ta. Bị mất chỗ dựa về lương ăn, lại thường xuyên bị phục kích, tập kích và bị vây hãm ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan buộc phải quyết định lui quân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM