Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 30 Tháng Mười Một, 2020, 02:12:46 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 1  (Đọc 1284 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #20 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2020, 09:10:12 pm »

Thứ ba, phong trào đấu tranh còn lôi cuốn được nhiều võ quan và binh lính người Việt trong quân đội đô hộ nhà Đường tham gia. Đó là việc năm 803, căm phẫn trước âm mưu, thủ đoạn bóc lột tàn bạo của bọn quan lại đô hộ nhà Đường và được nhân dân ủng hộ, binh lính người Việt ở Hoan Châu, Ái Châu do tướng Vương Quý Nguyên chỉ huy, đã nổi dậy đánh phá phủ thành, đuổi viên đô hộ Bùi Thái về Trung Quốc.


Hoặc năm 819-820, Dương Thanh chỉ huy 3.000 quân nổi dậy chống lại viên đô hộ Lý Tượng cổ. về sự kiện này, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Đô hộ là Lý Tượng Cổ vì tham bạo hà khắc mất lòng dân chúng. Tướng của Cổ là Dương Thanh đời đời làm tù trưởng Man (chỉ người Việt - TG), khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742) nhà Đường làm Thứ sử Hoan Châu, Tượng Cổ vẫn kiêng dè, gọi cho làm nha tướng, đến đây sai đi đánh người Man ở Hoàng Động. Thanh nhân thấy lòng người oán giận Tượng Cổ, đang đêm trở về đánh úp châu, chiếm được, giết Tượng cổ..."1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.192).


Sau khởi nghĩa Dương Thanh, binh sĩ yêu nước tiếp tục đấu tranh, nhiều lần nổi dậy làm binh biến, tiêu biểu trong các năm 828, 841, 858, 860, 880... khiến cho chính quyền đô hộ phải đối phó rất vất vả. Những cuộc đấu tranh đó chứng tỏ sự trưởng thành của tinh thần dân tộc, ý thức độc lập tự chủ và góp phần tô đậm thêm tính chất toàn dần, tính quần chúng rộng rãi của các cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Đường.


Ba là, phương thức đấu tranh chủ yếu ở giai đoạn này vẫn là phương thức kết hợp tác chiến và nổi dậy của nghĩa quân và nhân dân. Song, do hầu hết các cuộc khởi nghĩa đều có hình thái vận động từ khởi nghĩa địa phương phát triển thế tiến công và nổi dậy rộng khắp trên cả nước, khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng nên sự kết hợp đó có nhiều biểu hiện phong phú, luôn được cải tiến và hoàn thiện.


Thực tế cho thấy, sự phối hợp chiến đấu giữa nghĩa quân và nhân dân được thực hiện ngay từ đầu cũng như trong suốt quá trình thực hành và phát triển cuộc khởi nghĩa. Ví như, trong việc lập căn cứ, xây dựng đất đứng chân làm nền tảng cho khởi nghĩa. Trong điều kiện mất nước, công việc này cố nhiên gặp khó khăn lớn, nhưng nghĩa quân đã dựa vào dân, sát cánh cùng nhân dân địa phương, làng xã, bao gồm cả già trẻ, gái trai, gắn bó với nhau bằng nhiều sợi dây tình nghĩa gia đình, dòng họ, quê hương, đất nước, nòi giống cộng với lòng căm thù giặc, tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất, để xây dựng và phát triển lực lượng. Do đó, các cuộc khởi nghĩa, chiến tranh giải phóng có quy mô lớn lúc bấy giờ, đều lập được căn cứ chiến đấu vững chắc, như khởi nghĩa Mai Thúc Loan có căn cứ Sa Nam (Nghệ An), khởi nghĩa Phùng Hưng có căn cứ ở vùng Đường Lâm (Sơn Tây) hay khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ có căn cứ ở Hồng Châu (Ninh Giang, Hải Dương)...


Trong quá trình khởi nghĩa, nhân dân yêu nước đứng lên, dùng mọi thứ vũ khí có trong tay, từ cuốc, cào, dao, gậy, đến cung, gươm, kiếm, giáo cùng nghĩa quân tiến công đập tan cơ cấu thống trị của địch ở cơ sở, giành quyền làm chủ ở địa phương, chống lại những cuộc đàn áp của kẻ thù để giữ vững và phát triển cuộc đấu tranh, sử sách và truyền thuyết đã kể về sự hy sinh của Lý Tự Tiên trong cuộc chiến đấu chống sự đàn áp của viên Đô hộ Lưu Diên Hựu, cũng như nghĩa quân của Phùng Hưng đã nhiều lần đánh bại cuộc đàn áp của viên Đô hộ Cao Chính Bình, bảo vệ căn cứ Đường Lâm...


Phương thức kết hợp tác chiến với nổi dậy của nghĩa quân và nhân dân có quy mô chặt chẽ hơn khi khởi nghĩa phát triển từ địa phương mở rộng ra toàn quốc, nhất là trong những cuộc tiến công vào Tống Bình, chiếm giữ phủ thành, đánh đuổi hoặc bắt giết các quan đô hộ, rồi chiến đấu chống lại các đạo viện binh giặc, như năm 687 nhà Đường cử đạo viện binh do Tư mã Quế Châu là Tào Huyền Tĩnh chỉ huy, sang đàn áp khởi nghĩa của Lý Tự Tiên, Đinh Kiến; hoặc năm 722 lại sai tướng Dương Tư Húc đem 10 vạn quân sang đàn áp khởi nghĩa Mai Thúc Loan... Phương thức đấu tranh đó có hiệu lực rất lớn khiến cho kẻ địch luôn bị động, phải phân tán lực lượng đối phó ở khắp nơi, do đó càng tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân ta giành chiến thắng.


Đặc biệt là trong giai đoạn này, bên cạnh phương thức kết hợp tác chiến với nổi dậy của quân và dân, nhân dân ta còn sáng tạo một phương thức đấu tranh mới - phương thức địch vận. Dựa vào sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh chiến đấu của quân và dân ta, công tác địch vận đã đạt được những kết quả rất to lớn, góp phần khoét sâu mâu thuẫn nội bộ địch, từng bước làm tan rã tinh thần và tổ chức lực lượng của chúng. Do đó, dưới thời thuộc Đường, nhất là từ đầu thế kỷ IX, đã xuất hiện nhiều cuộc binh biến của các võ quan, tướng lĩnh và binh sĩ người Việt trong quân đội đô hộ nhà Đường, tiêu biểu như cuộc nổi dậy của binh lính dưới sự lãnh đạo của Vương Quý Nguyên (năm 803); hoặc vào những năm 819-820 do Dương Thanh lãnh đạo... Từ đây, phương thức kết hợp tác chiến và nổi dậy của nghĩa quân và nhân dân với địch vận trở thành một phương thức đấu tranh quan trọng, có ý nghĩa chiến lược của dân tộc ta, không những trong các cuộc khởi nghĩa mà cả trong các cuộc chiến tranh yêu nước sau này.


Những điểm nổi bật của phong trào đấu tranh chống ách đô hộ Tùy - Đường nêu trên thể hiện sự kế thừa, phát triển những quan niệm, quan điểm về quân sự mà tổ tiên ta ở giai đoạn trước đó đã tích lũy, đúc kết, đồng thời tạo tiền đề cho sự phát triển tư tưởng quân sự của dân tộc trong giai đoạn lịch sử mới, từ sau khi Khúc Thừa Dụ giành được quyền tự chủ cho đất nước.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2020, 09:11:36 pm »

3. Tư tưởng quân sự trong giai đoạn đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự chủ đầu thế kỷ X

Kể từ năm 905, với cuộc nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Khúc Thừa Dụ thắng lợi, nhân dân ta đã phá bỏ được ách đô hộ của nhà Đường, giành lại quyền tự chủ. Nhưng các thế lực xâm lược từ phương Bắc vẫn tìm cách tái chiếm, âm mưu áp đặt lại ách thống trị của chúng trên đất nước ta.


Trong thời gian chưa đầy 10 năm, từ năm 930 đến năm 938, nhà Nam Hán liên tiếp hai lần đem quân sang xâm lược nước ta, vào các năm 930 và 938.


Ở lần xâm lược thứ nhất (930), mục tiêu của quân Nam Hán còn nặng về cướp bóc hơn là đô hộ. Do vậy, sau khi đánh chiếm các vùng trọng yếu của nước ta, quân Nam Hán co lại chỉ giữ Đại La (Hà Nội), kiểm soát một số vùng xung quanh và chỉ cử Lý Tiến sang làm Thứ sử Giao Châu cùng với Lương Khắc Trinh (Đại Việt sử ký toàn thư chép là Lý Khắc Chính) giữ thành Đại La.


Ở lần xâm lược thứ hai (938), nhà Nam Hán thể hiện rất rõ ý đồ chiếm đất và đô hộ. Vì thế, chúng đã huy động một lực lượng lớn, có quy mô và tổ chức chặt chẽ hơn, do đích thân vua Nam Hán cùng con trai trực tiếp chỉ huy. Đội quân xâm lược này được chia làm hai đạo: Đạo quân tiên phong gồm một đội binh thuyền mạnh được giao cho Vạn Vương Hoằng Tháo, con trai vua Nam Hán chỉ huy, vượt biển đi trước. Đạo quân tiếp theo do vua Nam Hán tự làm tướng chi huy, đi sau áp sát làm kế "thanh viện" và yểm trợ cho Hoằng Tháo. Đặc biệt, vua Nam Hán còn đổi phong con Vạn Vương làm Giao Vương với ý định để Hoằng Tháo cầm đầu bộ máy cai trị Giao Châu, thể hiện quyết tâm đặt lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc lên đất nước ta.


Đến đây, với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán (năm 938) do Ngô Quyền lãnh đạo, cuộc đấu tranh quân sự của dân tộc ta có sự biến đổi về yêu cầu, nhiệm vụ, nó không phải nhằm đánh đuổi quân địch đang chiếm đóng trên đất nước ta, mà nhằm đánh bại quân địch từ nước chúng kéo sang xâm lược. Do đó, cùng với các biến đổi về yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến, tư tưởng quân sự của dân tộc ta ở giai đoạn này cũng có sự biến đổi nhằm đáp ứng những đòi hỏi do thực tiễn cuộc đấu tranh đặt ra. Sự biến đổi ấy thể hiện trên một số nội dung chủ yếu như sau:


Một là, tư tưởng về xác định mục tiêu chiến đấu.

Biết giặc Nam Hán chuẩn bị tiến công xâm lược và có tham vọng đô hộ hẳn nước ta, Ngô Quyền quyết tâm tổ chức và lãnh đạo cuộc chiến đấu để bảo vệ nền độc lập non trẻ của đất nước. Sau khi mau chóng diệt xong bọn phản bội Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền bàn với các tướng rằng: "Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm trước ở cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.203).


Qua kế đánh giặc mà Ngô Quyền bàn với các tướng, có thể thấy mục đích của cuộc chiến đấu là nhằm tiêu diệt toàn bộ đạo binh thuyền lớn do Hoằng Tháo chỉ huy khi chúng vượt biển đánh sang, tới vùng cửa sông Bạch Đằng.


Đạo binh thuyền lớn do Hoằng Tháo chỉ huy là đạo quân xâm lược đi đầu, đạo quân chủ lực của địch. Còn đạo quân do Lưu Cung (vua Nam Hán) trực tiếp chỉ huy, là đạo quân đi tiếp ứng, làm lực lượng dự bị của địch. Nếu đạo quân chủ lực của Hoằng Tháo đánh sang chỉ bị quân ta chặn đánh tiêu hao, vẫn tiếp tục tiến công vào sâu được nội địa nước ta, thì đạo quân dự bị Lưu Cung ắt sẽ tràn sang tiếp ứng để đè bẹp lực lượng kháng chiến của ta. Nhưng nếu đạo quân Hoằng Tháo vừa tiến sang tới địa phận nước ta đã bị quân và dân ta chặn đánh, tiêu diệt gọn một cách nhanh chóng thì đạo quân của Lưu Cung sẽ không kịp tràn sang ứng cứu, mà chỉ còn cách duy nhất là cuốn cờ rút lui, chấm dứt cuộc xâm lăng. Bởi vậy, một khi thực hiện được mục đích trận đánh là nhanh chóng tiêu diệt gọn đạo binh thuyền Hoằng Tháo khi chúng vừa kéo tới vùng cửa sông Bạch Đằng, làm cho đạo quân của Lưu Cung bị tan rã ý chí chiến đấu, buộc phải rút về thì cũng tức là đạt được mục tiêu chiến lược của cuộc chiến tranh giữ nước: tiêu diệt lực lượng quân sự địch, làm tan rã ý chí xâm lược của Vương triều Nam Hán, nhanh chóng kết thúc chiến tranh, bảo vệ vững chắc chủ quyền của dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.


Tư tưởng về xác định mục tiêu chiến đấu kể trên phản ánh được ý chí và nguyện vọng cơ bản, sống còn của cả dân tộc; tỏ rõ cuộc chiến đấu của ta là tiến bộ, chính nghĩa, hợp quy luật, còn địch thì ngược lại, đồng thời cũng phản ánh đúng sự so sánh lực lượng giữa ta và địch. Nó là ngọn cờ tập hợp, cố kết, động viên lực lượng toàn dân, sức mạnh cả nước đánh thắng quân xâm lược.


Việc xác định đúng mục tiêu chiến đấu tạo ra thuận lợi cơ bản cho quân và dân ta hình thành lực mạnh, thế mạnh, có sức mạnh ưu thế để đánh thắng quân thù. Thực tế cuộc kháng chiến chống xâm lược Nam Hán do Ngô Quyền lãnh đạo cho thấy, việc tiêu diệt nhanh gọn, bất ngờ đạo quân chủ lực của địch đã khiến cho vua Nam Hán đang cầm quân tiếp ứng mà không kịp trở tay đối phó. Hắn kinh hoàng, hoảng hốt, đành "thương khóc, thu nhặt quân lính còn sót rút về"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.204). Sau thất bại thảm hại này, triều Nam Hán phải từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta, từ đó không dám xâm phạm đến lãnh thổ, chủ quyền của ta nữa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2020, 09:14:17 pm »

Hai là, tư tưởng về tạo lực lượng và thế trận để đánh thắng quân xâm lược.

Tiến hành cuộc kháng chiến trong điều kiện nước ta đã là một quốc gia độc lập, có chủ quyền dân tộc, có nguồn nhân lực, vật lực và trên một mức độ nhất định đã có một lực lượng quân sự của mình nên Ngô Quyền chủ trương huy động sức mạnh của cả dân tộc, của cả nước và chủ động xây dựng một thế trận để chống giặc.


Lực lượng quân sự nòng cốt đế chống giặc Nam Hán trước hết là đạo quân bản bộ của Ngô Quyền từ Ái Châu kéo ra. Mặc dù sử sách không cho biết đội quân này có số lượng là bao nhiêu, nhưng đó là đội quân đã từng tiến công thành Đại La, đánh đuổi quân Nam Hán (năm 931), diệt Kiều Công Tiễn (năm 938), nên chắc hẳn có số lượng đông đến vài vạn người, có tinh thần chiến đấu và giàu lòng yêu nước.


Đồng thời, do ý thức dân tộc ngày càng trưởng thành, nên trước họa ngoại xâm, nhiều hào trưởng yêu nước ở các nơi đã đem quân về dưới trướng Ngô Quyền để cùng đánh quân xâm lược. Theo thần tích của nhiều địa phương, trong đội quân của Ngô Quyền có lực lượng của nhiều hào mục, thủ lĩnh ở nhiều nơi khác tham gia, như: Lã Minh ở Liễu Chử, xã Song Liễu (Thuận Thành, Bắc Ninh), Phạm Bạch Hổ ở Ngọc Đường (Kim Động, Hưng Yên), Phạm Chiêm ở Nam Sách (Hải Dương), Đinh Công Trứ ở Hoa Lư (Ninh Bình), Kiều Công Hãn ở Bái Dương (Nam Định), Ngô Xương Ngập ở Quang Đàm, An Hải (Nam Định)... Cho nên, khi Ngô Quyền dẫn quân ra chống giặc ở cửa biển thì ông đã có trong tay một đội quân của cả nước, đúng như sử gia Lê Văn Hưu đã nhận xét: "Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.204).


Bên cạnh đội quân chủ lực, Ngô Quyền cũng huy động lực lượng dân binh ở các làng xã dọc đường hành quân, nhất là dân binh ở các làng xã quanh vùng xảy ra chiến trận. Nhiều nguồn tư liệu địa phương đã phản ánh việc Ngô Quyền tuyển quân ở vùng cửa biển, chọn lấy những người giỏi về sông nước. Theo truyền thuyết Gia Viên (nội thành Hải Phòng), Ngô Quyền đã mộ được ở đây 30 người vào đội quân "thần tử" để chuẩn bị cho cuộc chiến; hay Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận là người địa phương đã cầm đầu các đội quân tham gia nhiều mũi tiến công trong thế trận của Ngô Quyền.


Cũng theo truyền thuyết, thần tích các địa phương ở Hải Phòng, ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở làng Hoàng Pha, xã Hoàng Động (Thủy Nguyên) huy động lực lượng dân binh đánh giặc tại chỗ; chàng trai họ Phạm ở xã Đằng Giang (An Hải) tham gia đóng cọc trên sông Bạch Đằng; Nguyễn Quý Minh ở Lâm Động (Thủy Nguyên) cho biết người mách bảo con nước thủy triều để Ngô Quyền chuẩn bị kế hoạch diệt địch trên sông Bạch Đằng và hiến kế đóng cọc trên sông Bạch Đằng...


Nhờ vậy, trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán lần thứ hai, Ngô Quyền đã tập hợp được lực lượng đông đảo của cả nước, trong đó có đội quân chủ lực giỏi cả về đánh thủy và đánh bộ làm nòng cốt.


Đồng thời, Ngô Quyền cũng chủ động lập sẵn thế trận để phá giặc. Quyết tâm ấy được thể hiện trong lời ông bàn với các tướng về kế phá giặc: "Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm trước ở cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.203). Vì vậy, ông đã cho xây dựng một trận địa cọc ngầm ở hai bên cửa sông Bạch Đằng. Đây là một vùng đất hiểm yếu, cửa ngõ phía đông bắc và là đường giao thông quan trọng từ biển Đông vào nội địa nước ta. Sử sách của ta thời xưa từng viết về địa thế sông nước khu vực này: "Sông Bạch Đằng có tên gọi nữa là sông Vân Cừ, rộng hơn 2 dặm, ở đó có nhiều núi cao ngất, nhiều nhánh sông đổ lại, sóng cồn man mác giáp tận chân trời, cây cối um tùm che lấp bờ biển, thực là một nơi hiểm yếu về đường biển"2 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sư thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.223).


Chính giữa vùng thiên nhiên sông biển đó, trên cơ sở sức mạnh đoàn kết và ý chí độc lập của cả dân tộc, Ngô Quyền khẩn trương bày sẵn một thế trận hết sức hiểm hóc, lợi hại để chủ động phá giặc. Ông huy động cả quân và dân vào rừng đẵn gỗ, vót nhọn, bịt sắt, rồi cho đóng xuống lòng sông thành hàng dài, tạo nên một bãi cọc, một bãi chướng ngại dày đặc ở hai bên cửa sông. Khi nước triều lên mênh mông thì cả bãi cọc ngập chìm, khi triều xuống thì hàng cọc nhô lên cản trở thuyền bè qua lại. Bãi cọc đã thực sự làm tăng thêm phần hiểm trở cho địa hình thiên nhiên ở đây.


Về việc chuẩn bị trận địa cọc, các sách sử của ta chép không rõ mà chỉ ghi chung chung là Ngô Quyền cho đóng cọc đầu bịt sắt ở cửa biển. Song, để xây dựng một trận địa cọc to lớn, công phu trong thời gian ngắn như vậy, tất yếu phải có sự tham gia đông đảo của lực lượng quân đội và dân chúng từ các địa phương. Chỉ với sự ủng hộ, tham gia tích cực của đông đảo nhân dân mới có thể tạo nên thế trận lợi hại để tiêu diệt gọn đạo quân xâm lược Nam Hán trong trận quyết chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng.


Ba là, tư tưởng về cách đánh.

Với quyết tâm tiêu diệt địch ngay khi chúng xâm phạm đến bờ cõi nước ta, Ngô Quyền chủ trương đánh trận quyết chiến chiến lược ngay trên địa bàn cửa ngõ đất nước, từ ngoài cửa biển vào phía sông Bạch Đằng, chủ yếu là khúc sông phía trong tiếp liền cửa biển.


Trên cơ sở thế trận đã được chuẩn bị sẵn, ông bố trí các đội quân thủy, bộ và dân binh do các tướng giỏi và tướng người địa phương chỉ huy ở hai bên cửa sông Bạch Đằng, ở bên trong bãi cọc, khoảng hạ lưu và trung lưu sông Bạch Đằng.


Theo truyền thuyết và thần tích, Dương Tam Kha, con trai Dương Đình Nghệ, em vợ của Ngô Quyền cùng Đào Nhuận (người Gia Viên, Hải Phòng) bố trí lực lượng ở tả ngạn sông Bạch Đằng, trong đó đội quân do Đào Nhuận chỉ huy có tới hàng nghìn người. Đỗ Cảnh Thạc cùng với ba anh em họ Lý ở Hải Phòng bố trí lực lượng ở hữu ngạn sông. Còn Ngô Xương Ngập (con trai Ngô Quyền) bố trí lực lượng ở hữu ngạn sông Cấm, sẵn sàng ngăn chặn quân địch đi vào đường sông Cấm, buộc chúng phải đi đúng vào vùng chiến địa mà ta đã định sẵn.


Ngô Quyền cũng chuẩn bị một đội quân khiêu chiến để dụ địch vào thế trận bố trí sẵn của ta. Theo thần tích Gia Viên (Hải Phòng), đội quân khiêu chiến này do Nguyễn Tất Tố - người địa phương rất giỏi thủy chiến chỉ huy.


Khi quân Nam Hán ngấp nghé ngoài cửa biển, Ngô Quyền cho đội thuyền khiêu chiến ra dụ địch vào sâu thế trận lúc nước thủy triều dâng. Hoằng Tháo quả nhiên mắc mưu, xua quân đón đánh. Theo hiệu lệnh của Ngô Quyền, quân khiêu chiến của ta giả vờ thua và rút chạy, dụ địch đuổi theo. Hoằng Tháo nhanh chóng tiến quân vượt qua hàng cọc, lọt hẳn vào trong trận địa mai phục của ta.


Sau khi toàn bộ đạo binh thuyền địch đã lọt hẳn vào trong vùng cắm cọc, khi nước triều bắt đầu rút, chính là lúc đại quân ta mai phục ở hai bên bờ sông và ở phía trên xông ra chặn đánh quân giặc. Nước triều càng xuống mạnh, quân ta càng tích cực tiến công khiến Hoằng Tháo chống đỡ không nổi. Chúng buộc phải tháo chạy ra hướng biển, nhưng hàng cọc của ta đã nhô lên, chặn đứng đoàn thuyền địch, sử cũ cho biết: "Hoằng Tháo phải chống cự luôn tay, mà nước triều xuống rất nhanh, thuyền bè đều bị vướng vào trong cọc. Quyền đánh hăng, đại phá được Hoằng Tháo"1 (Việt sử lược, Sđd, tr.41).


Kết quả là, quân ta đã tiêu diệt được đại bộ phận quân địch và giết được chủ tướng Hoằng Tháo. Trận quyết chiến diễn ra trong vòng chưa đầy một ngày, vào thời gian một lần nước triều lên xuống, đã đập tan ý chí xâm lược của quân Nam Hán.


Cuộc chiến đấu chống quân Nam Hán kết thúc thắng lợi nhanh, gọn. Trong trận đánh này, quân và dân ta đã khéo dùng kế nhử địch vào trận địa mai phục rồi tung lực lượng ra phản công quyết liệt, kết hợp tiến công với cản phá bằng trận địa cọc, nhanh chóng tiêu diệt đạo binh thuyền địch, giành thắng lợi cho cuộc chiến tranh giữ nước. Đó là cuộc chiến đấu chống xâm lược tiêu biểu cho cách đánh đầy mưu trí, có hiệu quả cao của dân tộc ta.


Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là kết tinh sức mạnh yêu nước và đoàn kết của dân tộc ta - một dân tộc đang vươn lên quyết giữ gìn non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập tự do. Sử gia Ngô Thì Sĩ ở thế kỷ XVIII đã viết: "Thắng lợi trên sông Bạch Đằng là cơ sở sau này cho việc phục lại quốc thống. Những chiến công các đời Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn nhờ vào uy danh lẫm liệt để lại ấy. Trận Bạch Đằng là vũ công cao cả, vang dội đến ngàn thu há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi"1 (Ngô Thì Sĩ: Việt sử tiêu án, Văn hóa Á châu xuất bản, 1960, tr.80).


Tóm lại, từ thế kỷ III Tr.CN đến đầu thế kỷ X, là một thời kỳ lịch sử nhân dân ta liên tục chống xâm lược, chống ách đô hộ, thống trị của các thế lực phong kiến phương Bắc để giành lại và giữ quyền làm chủ, giữ vững độc lập, tự do của đất nước. Trong cuộc đấu tranh lâu dài độ, tư tưởng quân sự của dân tộc ta từng bước hình thành và phát triển. Nó thể hiện tập trung ở những nội dung chủ yếu, như vấn đề xác định mục tiêu chiến đấu, vấn đề tổ chức lực lượng, tạo ra sức mạnh và tìm kiếm phương thức đấu tranh để giành chiến thắng... Đó là kết quả của sự tổng kết kinh nghiệm đánh giặc giữ nước của dân tộc ta trong nhiều thế kỷ, cho nên, nó có ý nghĩa phổ biến cho những cuộc chiến tranh giữ nước ở giai đoạn tiếp sau.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2020, 08:30:44 pm »

Chương II
TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ THỜI NGÔ, ĐINH, TIỀN LÊ, LÝ
(TỪ THẾ KỶ X ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIII)


Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIII trải qua bốn triều đại: Ngô (939-965), Đinh (968-979), Tiền Lê (980-1009) và Lý (1009-1225). Xen vào đó có một thời loạn lạc, đất nước bị phân tán, nhà nước quân chủ không tồn tại, đó là thời "loạn mười hai sứ quân" (965-968) xuất hiện sau khi vương triều Ngô sụp đổ. Trên đại thể thời kỳ này chia làm hai giai đoạn rõ rệt. Giai đoạn đầu gồm các vương triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, nói chung là thế kỷ X, được nhìn nhận như một thế kỷ bản lề, chuyển tiếp từ hơn một nghìn năm đất nước bị lệ thuộc sang thời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài. Giai đoạn sau gồm các thế kỷ XI, XII và hơn hai thập kỷ đầu thế kỷ XIII, bước vào kỷ nguyên Đại Việt mở đầu bằng vương triều Lý với việc Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long.


Từ một cái nhìn chung nhất, các thế kỷ X - đầu thế kỷ XIII hiện ra như một chặng đầu của quá trình khôi phục và xây dựng đất nước độc lập, tự chủ.


Đất nước của người Việt từ đây do người Việt quản giữ, đứng đầu là nhà vua, như bất cứ một quốc gia nào khác.


Đã hơn một nghìn năm kẻ thù đô hộ bằng nhiều hình thức từ áp đặt bằng bạo lực, đến thâm nhập từ từ bằng văn hóa hy vọng có thể thôn tính, đồng hóa được đất nước và cư dân của người Việt. Tên nước Văn Lang, Âu Lạc bị xóa bỏ, thay vào đó là các quận huyện thuộc bộ Giao Chỉ thời Hán, Giao Châu đô đốc phủ rồi An Nam đô hộ phủ thời Đương. Tuy nhiên, hơn một nghìn năm đô hộ, kẻ thù không khuất phục được cộng đồng cư dân Việt biết cầm vũ khí. Cuối cùng, chúng bị quét sạch, đất nước của ngươi Việt được phục hưng với tên gọi Đại Cồ Việt (thời Đinh) rồi Đại Việt (thời Lý).


Sau khi khôi phục được nền độc lập, tự chủ, quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức buộc các nhà nước quân chủ phải đối phó.


Đó là nạn ngoại xâm, tình trạng cát cứ, là nghèo nàn, cạn kiệt về kinh tế, trì trệ về văn hóa mà nhà nước quân chủ và nhân dân ta phải khắc phục từng bước để tạo nên một xã hội phồn thịnh, yên bình làm cơ sở cho nền quân sự quốc phòng. Đó cũng chính là cơ sở cho tư tưởng quân sự hình thành và phát huy tác dụng.


Để làm sáng tỏ và nhận diện tư tưởng quân sự thời này, dưới đây lần lượt đề cập đến hai vấn đề lớn. Đó là tình hình đất nước và những hoạt động quân sự chủ yếu từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIII, và tư tưởng quân sự thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý.


I- TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC TỪ THẾ KỶ X ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIII

1. Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội

a) Về chính trị

Sau khi thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang, quét sạch bộ máy cai trị của chính quyền đô hộ, quân dân ta phải bắt tay xây dựng bộ máy quản lý đất nước với dân số khoảng 3 triệu người.


Vài ba thập kỷ đầu thế kỷ X, sau khi giành được quyền tự chủ, họ Khúc - Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ, tiếp đến họ Dương - Dương Đình Nghệ chưa tạo dựng được một bộ máy quản lý nào khác, phải tạm thời lập lại hình thức chính quyền Tiết độ sứ ở Đại La. Hệ thống cai trị không khác gì mấy so với trước đó, chưa đặt Quốc hiệu và Quốc đô. Tuy nhiên, điều cơ bản là chính quyền đó do người Việt nắm giữ từ trung ương cho đến cơ sở giáp xã, có những thay đổi về tên gọi các cấp và chính sách cai trị.


Hệ thống tổ chức hành chính các cấp quận, huyện, hương thời đô hộ đổi thành đơn vị lộ, phủ, châu, giáp - xã. Thời thuộc Đường có 159 hương. Thời họ Khúc, Khúc Hạo đổi hương thành giáp, đặt thêm những giáp mới, tất cả có 314 giáp1 (Xem Cao Hùng Trưng: An Nam chí-q.3, bản dịch của Hoa Bằng-Tư liệu đánh máy của Viện Sử học). Mỗi giáp gồm một số xã, đặt chức quản giáp và phó tri giáp để trông coi. Ở xã có chức lệnh trưởng và tá lệnh trưởng. Chính quyền Tiết độ sứ của họ Khúc thực hiện quản lý nhân dân qua việc lập sổ hộ khẩu với chính sách khoan dung giản dị, bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, tạo nên cuộc sống yên vui cho mọi nhà.


Đến Ngô Quyền, sau khi đánh bại giặc Nam Hán ở cửa sông Bạch Đằng vào năm 938 bắt đầu xưng vương, định đô ở Cổ Loa. Tại Cổ Loa - kinh đô cũ của nước Âu Lạc thời vua Thục từ năm 208 đến 179 Tr.CN - một bộ máy nhà nước quân chủ độc lập, tự chủ xuất hiện, thay cho tổ chức chính quyền Tiết độ sứ thời họ Khúc, họ Dương. Ngô Quyền xây dựng vương triều Ngô với bộ máy gồm các quan văn võ, có quy định nghi lễ, phẩm phục, sử gia Ngô Sĩ Liên đã bàn: "Tiền Ngô Vương nổi lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.205).


Ngô Quyền giữ ngôi chưa được bao lâu, từ năm 938 đến 944, thì mất. Em vợ Ngô Quyền là Dương Tam Kha chiếm ngôi dẫn đến tình trạng lục đục của chính quyền Cổ Loa. Năm 951, con Ngô Quyền là Xương Ngập, Xương Văn giành lại được vương vị, khôi phục vương triều Ngô, sử chép là Hậu Ngô Vương. Nhưng anh em họ Ngô bất hòa, lại ươn hèn, bất tài1 (Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Vua (Nam Tấn vương) ... sai sứ sang thỉnh mệnh vua nam Hán là Lưu Xưởng. Xưởng cho vua làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ kiêm Đô hộ". (Sđd, t.I, tr.207)). Nhà nước vương triều Ngô sụp đổ. Đất nước lâm vào tình trạng loạn lạc. Thổ hào các nơi nổi dậy chiếm giữ mỗi người một vùng, sử chép là "loạn mười hai sứ quân" từ năm 965 đến năm 968.


Trước tình trạng ươn hèn, lục đục của vương triều Ngô, Đinh Bộ Lĩnh - một thổ hào lớn ở động Hoa Lư thuộc dòng dõi Thứ sử châu Hoan Đinh Công Trứ, đã nổi dậy bất hợp tác với chính quyền Cổ Loa. Khi "loạn mười hai sứ quân" bùng nổ, Đinh Bộ Lĩnh đã cất quân đánh dẹp các sứ quân, chấm dứt tình trạng phân tán, thống nhất đất nước. Đinh Bộ Lĩnh xưng hoàng đế, định đô ở Hoa Lư, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, lập nên vương triều Đinh tồn tại từ năm 968 đến năm 980. Nhà nước vương triều Đinh đã hình thành hai khối: hoàng gia gồm hoàng hậu, hoàng tử, công chúa và khối quan lại văn võ do nhà vua đứng đầu. Mối quan hệ vua - tôi, thân tộc hòa quyện vào nhau trong bộ máy nhà nước đứng đầu là nhà vua đã tạo nên hình mẫu một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền trong lịch sử dù còn thô phác, sơ khai.


Trong bộ máy nhà nước vương triều Đinh, bên cạnh đội ngũ quan lại văn võ có phân công phân nhiệm, còn có một bộ phận chuyên coi việc tôn giáo - Phật, Đạo. Về văn có các gương mặt Định Quốc công Nguyễn Bặc, Đô hộ phủ sĩ sư Lưu Cơ, Sứ quan Trịnh Tú, Tri nội nhân Đỗ Thích. Về võ có Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, Thân vệ tướng quân Phạm Bạch Hổ, Ngoại giáp Đinh Điền, Vệ úy Phạm Hạp, Tướng quốc Phạm Cự Lạng, về tăng đạo có Tăng thống Ngô Chân Lưu, Sùng chân uy nghi Đặng Huyền Quang, Tăng lục Trương Ma Ni... Đó là hàng ngũ quan trong triều, còn bên ngoài có Trấn quốc bộc xạ Lê Lương ở châu Ái, Trấn đông Tiết độ sứ Bùi Quang Dũng ở Thái Bình, Phụ dực quốc chính Trần Lãm ở Thái Bình - Nam Định, Kiến nghĩa hầu Trần Tấn ở Nam Định...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2020, 08:31:57 pm »

Về hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, dưới cấp trung ương là cấp đạo. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (viết tắt là Cương mục) chép vào năm Giáp Tuất (974): "Chia trong nước làm 10 đạo"1 (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.I, tr.240). Sách Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục cung cấp thông tin gắn 10 đạo hành chính với 10 đạo quân sự: "quân mười đạo, mỗi đạo có 10 quân, 1 quân 10 lữ, 1 lữ 10 tốt, 1 tốt 10 ngũ, 1 ngũ 10 người"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.212-213). Cấp đạo trực tiếp với cấp cơ sở hương - giáp - xã. Nhà nước cắt cử người nắm giữ cấp đạo, cấp cơ sở vẫn do thủ lĩnh địa phương nắm với các chức danh như thời họ Khúc.


Năm 980, Lê Hoàn được quân sĩ và Dương Thái hậu tôn lên ngôi thay cho Đinh Toàn nhỏ tuổi (6 tuổi) điều hành việc chống giặc Tống. Ông lập nên vương triều Lê, sử chép là nhà Tiền Lê. Tên nước, kinh đô và bộ máy hành chính vẫn dựa trên cơ sở cũ, riêng về các cấp có thay đổi, đổi 10 đạo thành phủ, lộ, châu vào năm 1002.


Sự chuyển giao chính quyền từ nhà Đinh sang nhà Tiền Lê không hoàn toàn êm ả. Trước đó, do nghi ngại Lê Hoàn giành ngôi của nhà Đinh, các đại thần Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp trung thành với nhà Đinh đã nổi dậy chống lại Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Họ bị đánh dẹp.


Sau khi tiến hành công cuộc chống giặc Tống xâm lược lần thứ nhất thắng lợi vào năm 981, vương triều Tiền Lê được xây dựng, củng cố. Tình hình chính trị ổn định được hơn 10 năm. Đầu năm 1005, nhà vua băng hà. Một số hoàng tử từng được phong vương, cho đi trấn giữ các địa phương nổi dậy tranh ngôi dẫn đến tình hình rối loạn, ngôi vua phải bỏ trống 8 tháng. Hoàng tử Long Việt dẹp loạn, lên ngôi được 3 ngày thì bị Long Đĩnh giết, đoạt ngôi vua, sử chép là Lê Ngọa Triều. Sự tranh giành quyền lực dẫn đến cảnh huynh đệ tương tàn xảy ra trong nội bộ đã đưa vương triều Tiền Lê vào chặng tàn mạt. Lê Long Đĩnh qua đời, triều thần đã chán ghét vương triều Tiền Lê, tôn Điện tiền Chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên ngôi vua (tức Lý Thái Tổ), mở đầu cho vương triều Lý vào cuối năm 1009.


Sau khi lên ngôi, vào mùa thu năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đổi tên là Thăng Long. Việc dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long thể hiện tầm nhìn chiến lược của Lý Thái Tổ, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, của dân tộc. Việc làm đó phản ánh và đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền thời Lý. Đến đời Vua Lý Thánh Tông, vào năm 1054 đổi tên nước là Đại Việt.


Để kiện toàn, củng cố bộ máy nhà nước và hệ thống hành chính các cấp, sau khi lên ngôi, vào năm 1010, Vua Lý Thái Tổ đã đổi 10 đạo làm 24 lộ1 (Xem: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.242). Đơn vị hành chính dưới lộ là phủ, châu, hương, giáp và thôn. Ở kinh đô đặt các phường.


Để điều hành việc nước, nhà Lý đã chú ý đến xây dựng chế độ quan chức. Đứng đầu nhà nước quân chủ là vua, tiếp đến hệ thống quan lại từ trung ương cho tới địa phương. Triều Lý chia đặt phẩm trật cho các quan văn võ gồm 9 bậc chánh và tòng, từ nhất phẩm đến cửu phẩm. Đứng đầu hàng văn võ có tam thái gồm: thái sư, thái bảo, thái phó; tam thiếu: thiếu sư, thiếu bảo, thiếu phó. Ở cấp trung ương, dưới tam thái, tam thiếu đến một loạt quan chức văn võ đã được định đặt. Ở địa phương, các lộ, phủ, châu đặt các chức tri phủ, phán phủ, tri châu. Nhà Lý tuyển bổ quan lại qua hai hình thức "nhiệm tử" dành cho con cháu quan lại quý tộc và "tuyển cử" kén chọn người tài năng, đức độ. Chế độ "khoa cử" để tuyển chọn quan lại trong nước ta xuất hiện từ thời Lý cùng với việc mở khoa thi Minh kinh bác học và Nho học tam trường vào năm 1075 dưới triều Vua Lý Nhân Tông. Với vương triều Lý, lần đầu tiên đã xuất hiện luật thành văn ban hành vào năm 1042 đời Lý Thái Tông, gọi là Hình thư. Về việc này, sử chép: "Trước kia, việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí có người bị oan uổng quá đáng. Vua lấy làm thương xót, sai Trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu. Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.263, 338). Hình thư đã thực sự ghi nhận một bước phát triển vượt bậc của việc quản lý hành chính quốc gia thời Lý trên con đường văn hóa, văn minh.


Là Nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, nhà Lý cũng như nhà Tiền Lê, cũng phong vương cho hoàng tử, cho đi trấn trị ở một số địa phương. Điều khác nhau là nhà Tiền Lê cho hoàng tử đi quản giữ những vùng trọng yếu ở vùng châu thổ, thì nhà Lý cho đi trấn trị ở địa phương xa. Năm 1013, Lý Thái Tổ cho con là Khai Quốc vương Bồ đi trấn trị ở phủ Trường An. Năm 1041, Lý Thái Tông hạ chiếu cho Uy Minh hầu Lý Nhật Quang, con thứ tám của Lý Thái Tổ làm Tri châu Nghệ An, ủy cho việc lấy tô hằng năm. Vào cuối đời Lý, Vua Lý Huệ Tông không có con trai, chia các lộ cho công chúa. Sử chép, vào năm 1224 "Bệnh của vua ngày càng tăng mà không có con trai để nối nghiệp lớn, các công chúa đều được chia các lộ làm ấp thang mộc"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.263, 338).


Quan lại cao cấp thời Lý được phong cấp thực ấp và thực hộ. Người được phong chỉ có quyền chiếm hữu trong thời kỳ phân phong, không có quyền sở hữu.


Trong chính sách quản lý đất nước của nhà Lý, nếu như ở miền xuôi, cũng như các vương triều trước, nhà nước quân chủ đã thực hiện quyền quản lý đến tận cơ sở, thì ở miền núi, biên viễn xa xôi chỉ thực hiện chính sách ràng buộc lỏng lẻo. Nhà Lý đã dùng chính sách hôn nhân để ràng buộc những châu mục, tù trưởng có thế lực. Vua Lý Thái Tổ gả con gái cho tù trưởng động Giáp ở Lạng Châu (vùng Bắc Giang và Nam Lạng Sơn ngày nay) là Giáp Thừa Quý. Vua Lý Thái Tông gả Công chúa Bình Dương cho con trai Thừa Quý là Thân Thiệu Thái tiếp nối cha làm Châu mục Lạng Châu. Con trai của Thân Thiệu Thái là Thân Đạo Nguyên lại kết hôn với Công chúa Thiên Thành. Vua Lý Thái Tông gả Công chúa Kim Thành và Công chúa Trường Ninh cho Châu mục châu Phong (Phú Thọ - Sơn Tây) và Châu mục châu Thượng Oai (Hòa Bình) là Hà Thiện Lãm. Vua Lý Thánh Tông đem Công chúa Ngọc Kiều gả cho Châu mục châu Chân Đăng họ Lê. Lý Nhân Tông gả Công chúa Khâm Thánh cho Châu mục châu Vị Long là Hà Di Khánh. Lý Anh Tông gả Công chúa Thiều Dung cho thủ lĩnh phủ Phú Lương (Thái Nguyên) là Dương Tự Minh. Chính sách hôn nhân chính trị này đã góp phần quan trọng vào việc thu phục các thổ tù, châu mục quy phục triều đình. Thông qua các thủ lĩnh dân tộc thiểu số này, nhà Lý đã quản lý được các vùng xa xôi biên viễn, tăng cường quyền lực của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền.


Về đối ngoại, nhà Lý tiếp tục quan hệ với Chiêm Thành, Trung Hoa - trao đổi sứ giả, buôn bán với Trung Hoa - đã có từ các vương triều trước. Ngoài ra, còn đặc biệt mở rộng quan hệ buôn bán với các nước vùng Đông Nam Á như Xiêm La, các nước vùng đảo Inđônêxia như Java, Mã Lai, Sirivijaya ở đảo Sumatra. Nhà Lý đã mở rộng quyền quản lý về phía Nam, đẩy biên giới về phía Nam đến Quảng Trị ngày nay.


Từ một cái nhìn khái quát về mặt chính trị từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIII, từ vương triều Ngô đến vương triều Lý, đã hiện ra một bước phát triển vượt bậc. Từ vương quyền đến đế quyền, từ chưa có quốc hiệu đến quốc hiệu Đại Cồ Việt (Ngô, Đinh, Tiền Lê), Đại Việt (Lý), từ Kinh đô Cổ Loa (Ngô) đến Hoa Lư (Đinh, Tiền Lê), Thăng Long (thời Lý), từ một bộ máy nhà nước thô phác, dân dã thời Ngô, Đinh đến nhà nước hoàn thiện, cai trị bằng luật pháp thành văn của vương triều Lý, đã ghi nhận những bước trưởng thành của một đất nước với nền quân chủ trung ương tập quyền. Trên hành trình lịch sử hơn ba thế kỷ đó cũng có những bước thăng trầm, nhưng nhìn chung là phát triển mạnh mẽ theo hướng xây dựng một quốc gia quân chủ vững mạnh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2020, 08:33:11 pm »

b) Về kinh tế

Nền kinh tế nông nghiệp của nước ta đã xuất hiện từ rất sớm cùng với sự ra đời của Nhà nước Văn Lang. Cho đến thế kỷ III Tr.CN, Nhà nước Âu Lạc từ đỉnh tam giác Việt Trì - Phong Châu đã dời đô vể Cổ Loa, trung tâm châu thổ sông Hồng. Từ đây, một vùng đất rộng lớn, màu mỡ được mở mang, khai phá. Tuy nhiên, do dân số còn ít, công cụ sản xuất còn thô sơ nên đến thế kỷ X, trên bề mặt châu thổ còn loang lổ chằm phá, rừng rú. Cư dân Đại Cồ Việt, Đại Việt tiếp tục khai phá vùng châu thổ, mở mang diện tích canh tác về bờ biển và lập nên những tụ điểm dân cư mới. Nhà nước vương triều Đinh từng cắt đặt các quan khai khẩn vùng duyên hải Thái Bình - Nam Định ngày nay. Đó là Trấn Đông Tiết độ sứ Bùi Quang Dũng ở Thái Bình, Phụ dực quốc chính Trần Lãm ở Cửa Bố (Thái Bình), Giao Thủy (Nam Định). Lê Khai khai khẩn lập làng ở Nghĩa Hưng - Nam Định, Lã Đường khai khẩn ở Quang Sán (Mỹ Hà - Nam Định)...


Để mở mang nông nghiệp, bên cạnh chủ trương khai hoang, nhà nước còn động viên, khuyến khích người dân chăm lo cày cấy. Các vua nhà Tiền Lê, nhà Lý thực hiện nghi lễ cày tịch điển, hoặc đi xem xét nhân dân cày cấy, gặt hái. Vào thời Lý, nhiều lần được mùa liền năm, nhà nước tha tô thuế. Sau khi lên ngôi vua, Lý Thái Tổ, vào năm 1016, nhân "đâu đấy được mùa cả" đã tha tô thuê ba năm cho cả nước. Năm 1056, Vua Lý Thánh Tông hạ chiếu khuyến nông, ban hành nhiều luật lệnh bảo vệ trâu, bò, định rõ lệnh cấm giết trâu. Giết mổ trộm trâu bị phạt rất nặng: chồng bị phạt 80 trượng, đồ làm khao giáp (phục dịch trong quân), vợ cũng bị phạt 80 trượng, đồ làm tang thất phụ (làm việc ở nhà chăn tằm) và bồi thường trâu, láng giềng biết mà không tố cáo cũng bị phạt 80 trượng1 (Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I).


Nhà Lý quan tâm đến việc đắp đê phòng chống lũ lụt. Năm 1077, đắp đê sông Như Nguyệt dài 67.380 bộ. Năm 1103, nhà vua xuống chiếu cho dân trong ngoài thành đắp đê ngăn nước. Năm 1108, đắp đê Cơ Xá chạy dọc ven sông Hồng từ Yên Phụ đến Lương Yên ngày nay. Ở vùng châu thổ sông Mã, sông Lam không thấy ghi việc đắp đê, nhưng có đào vét sông, khơi thông dòng nước. Năm 1003, Vua Lê Đại Hành đi Hoan Châu vét sông Đa Cái (Nghệ An). Năm 1029, nhà Lý đào sông Đan Nãi (Yên Định - Thanh Hóa). Năm 1051, khai sông Lâm (Tống Sơn - Thanh Hóa), ở gần Kinh thành Thăng Long đào Lãnh Kinh vào năm 1189, sông Tô Lịch vào năm 1192.


Những chính sách nhằm mở mang, khuyến khích nông nghiệp của nhà Lý như trên đã thực sự tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, tăng năng suất, dẫn đến nhiều năm mùa màng bội thu, đó là những năm: 1016 triều Lý Thái Tổ; 1030, 1041 triều Vua Lý Thái Tông; 1079, 1092, 1111, 1120, 1123 triều Vua Lý Nhân Tông; 1131 triều Vua Lý Thần Tông; 1139, 1140 triều Vua Lý Anh Tông...


Vào các thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIII, ruộng đất canh tác thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước quân chủ do nhà vua đứng đầu. Tuy nhiên, để thực hiện quyền quản lý và tổ chức sản xuất, nhìn chung nhà nước trao quyền sử dụng ruộng đất cho cơ sở giáp, xã - công xã nông thôn tồn tại phổ biến ở thế kỷ X - bắt đầu giải thể và chuyển biến thành đơn vị hành chính cấp cơ sở từ thế kỷ XI trở đi dưới thời Lý. Như vậy giáp - xã được quyền chiếm dụng ruộng đất, phân cho các thành viên cày cấy, hằng năm có nghĩa vụ nộp tô thuế cho nhà nước quân chủ. Mặt khác, nhà nước cũng trực tiếp quản lý một bộ phận ruộng đất, rõ nhất là ruộng tịch điền đã xuất hiện từ thời Tiền Lê, phổ biến ở thời Lý; ruộng sơn lăng, ruộng quốc khố, đồn điền xuất hiện ở thời Lý.


Vào thời kỳ này, trong kết cấu ruộng đất có một loại hình ruộng đất phong cấp. Nguồn gốc của loại hình này là từ ruộng đất công giao cho cơ sở chiếm dụng, nhà nước cắt phân phong cho quý tộc, quan lại. Thời Tiền Lê, Vua Lê Đại Hành đã cho con đi trấn giữ ở các vùng trọng yếu thuộc Phú Thọ - Vĩnh Yên, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Tây, Thanh Hóa. Vào thời Lý, nhà nước phong cấp cho quý tộc, quan lại cao cấp dưới hình thức thực ấp, thực phong được tính theo ruộng đất cùng số nông dân sống trên vùng đất được phong. Ruộng đất phong cấp nói chung thuộc quyền sở hữu của nhà nước, người được phong chỉ có quyền chiếm hữu trong thời gian được phong cấp.


Ngoài những loại hình ruộng đất công đa dạng như trên, vào thời này, ruộng đất tư hữu đã xuất hiện lác đác ở thế kỷ X, phổ biến hơn ở thời Lý, đặc biệt từ thế kỷ XII trở đi. Ta có thể nhận diện loại ruộng này từ thế kỷ X qua các trường hợp Dương Đình Nghệ ở ấp Ràng; Lê Lương ở Đông Sơn - Thiệu Hóa - Quảng Xương đều thuộc Thanh Hóa ngày nay; Trần Lãm ở Lạc Đạo - Nam Định; trang trại của Nguyễn Nê, Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du, Bắc Ninh; trang ấp của Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu, Hưng Yên... Vào thế kỷ X, bộ phận ruộng đất này chiếm một tỷ lệ nhỏ, tuy nằm ngoài nghĩa vụ tô thuế của nhà nước nhưng không đáng kể nên chưa thấy có sự can thiệp của nhà nước. Sang nhà Lý, bộ phận ruộng đất này đã trở thành phổ biến hơn xuất phát từ nhiều nguồn: nông dân khai khẩn tự canh ngoài sự kiểm soát của nhà nước, ruộng phong cấp cho công thần, quan lại bị chiếm giữ, mua bán. Vào đầu thế kỷ XII, sử chép nhiều sự kiện xác nhận sự có mặt của ruộng tư trong xã hội. Năm 1128, Vua Lý Thần Tông hạ chiếu: "Phàm dân có ruộng đất bị sung công cùng là bị tội phải làm điền nhi thì đều được tha cả"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.298, 308). Năm 1135, Vua Lý Thần Tông lại ra lệnh: "Những người đã bán ruộng ao không được trả tăng tiền lên mà chuộc lại, làm trái thì phải tội"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.298, 308). Tiếp theo Lý Thần Tông, Vua Lý Anh Tông cũng đã xuống chiếu về việc mua bán ruộng đất. Sang đời Lý Cao Tông, vào đầu thế kỷ XIII, năm 1205 quy định: "Hai người nào mà tranh ruộng đất, sản vật, hễ một người đem dâng nạp rồi thì vua chẳng hỏi tình lý phải trái thế nào đều tịch thu sung công"3 (Việt Sử lược, Sđd, tr.170). Nhưng hai năm sau, nhà vua lại hạ lệnh trả lại ruộng đất đó để tránh sự oán thán của dân.


Hiện tượng mua bán, tranh chấp, sung công ruộng đất như trên đã chứng minh sự hiện diện phổ biến của một bộ phận ruộng đất tư hữu trong ruộng đất nông nghiệp vào cuối thời kỳ này. Với tính năng động vốn có, bộ phận ruộng đất tư hữu này đã tạo nên những biến động dù chỉ mới là bước đầu trong kết cấu ruộng đất nông nghiệp. Không những thế, nó đã tác động và kích thích mạnh đến sản xuất của các chủ sở hữu, tạo nên một nền nông nghiệp phồn vinh, đặc biệt vào các thế kỷ XI - đầu thế kỷ XIII trong buổi đầu của kỷ nguyên Đại Việt.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2020, 08:35:24 pm »

Cùng với nông nghiệp là công, thương nghiệp. Phải nói ngay rằng về công thương nghiệp, cụ thể là thủ công nghiệp và thương nghiệp thời kỳ này đã kế thừa và phát triển những thành tựu từ trước, tạo nên một bộ mặt công, thương nghiệp tương đối sầm uất. Trước hết phải nói đến một nghề thủ công gắn chặt với hầu hết các hộ nông dân công xã. Đó là nghề đan lát, làm nhà cửa bằng tre, nứa, lá. Với người nông dân, mỗi dịp nông nhàn, bằng nguyên liệu mây tre, họ đều có thể tự sản xuất, đan lát các vật dụng thường nhật cho gia đình. Số dư thừa có thể đem trao đổi trong thị trường nhỏ hẹp của địa phương. Không chỉ đan lát mà họ còn có thể hợp tác nhau lại dựng nhà cửa bằng tre, nứa, lá. Ngoài những người nông dân kiêm nghề thủ công còn có một đội ngũ những người chuyên nghiệp với những nghề thủ công đòi hỏi tay nghề cao hơn như nghề xây dựng cung điện, đóng thuyền các loại. Không phải ai khác, chính những thợ thủ công chuyên nghiệp này đã đóng thuyền các loại bằng gỗ hoặc ghép bằng luồng, vầu phục vụ cho giao thông, ở một đất nước mà giao thông thủy thuận lợi và phát triển. Số thuyền bè mà Ngô Quyền đã huy động tham chiến ở cửa sông Bạch Đằng phá tan hàng "trăm vạn quân" của Lưu Hoằng Tháo, của quân dân Đại Cồ Việt tham gia phá giặc Tống thời Vua Lê Đại Hành vào năm 981 đã là minh chứng cho sự phát triển của nghề này từ những thập kỷ đầu của thế kỷ X. Sang thế kỷ XI, thời Lý, số thuyền chiến của quân thủy tham gia phá giặc Tống trên đất Tống và chặn giặc Tống trên sông Như Nguyệt do Lý Thường Kiệt chỉ huy lại là một minh chứng hùng hồn. Cùng vào cuối thế kỷ X, thời Tiền Lê, sử chép vào ngày sinh của nhà vua: "Sai người làm thuyền ở giữa sông, lấy tre làm núi giả đặt trên thuyền... bày lễ vui đua thuyền, về sau thành thường lệ"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.223, 222-223). Về nghề xây dựng thì việc xây dựng Kinh đô Hoa Lư hồi thế kỷ X và Kinh đô Thăng Long vào thời Lý hẳn đã đòi hỏi một đội ngũ những người làm nghề mộc, nghề nề cao tay. Sử chép vào năm 984, đời vua Lê Đại Hành, ở Kinh đô Hoa Lư "làm nhiều cung điện, nhà cửa: dựng điện Bách Bảo Thiên Tuế ở núi Đại Vân, cột giát vàng bạc, làm nơi coi chầu; phía đông là điện Phong Lưu, phía tây là điện Tử Hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc. Tiếp đó làm lầu Đại Vân, dựng tiếp điện Trường Xuân làm nơi vua nghỉ. Bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, mái lợp ngói bạc"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.223, 222-223). Sang thời Lý, ngoài việc xây cất cung điện ở Thăng Long, việc xây dựng chùa chiền không chỉ có ở kinh đô mà ở khắp nơi. Việc xây cất ở triều Lý, ngay từ vị vua đầu tiên đã nhiều đến nỗi sử gia Lê Văn Hưu phải nói: "Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ, và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư... Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.242, 281)...


Đi đối với nghề xây dựng là nghề đất nung, trước hết phải kế đến nung gạch phục vụ cho công trình xây dựng của nhà nước quân chủ. Có thể nghĩ rằng về nhà cửa dân dụng thời Ngô, Đinh, Tiên Lê phần lớn là tranh tre, gỗ, trừ một số ít nhà cửa của tầng lớp trên, về phía nhà nước, để xây dựng chợ, chùa chiền đòi hỏi một lượng gạch khá lớn được sản xuất ngay trong nước. Đó là các loại gạch hoa vuông, hoa văn trang trí đẹp, gạch chữ nhật có chữ "Đại Việt quốc quân thành chuyên", gạch "Giang Tây quân", gạch hoa sen và đôi chim phượng phát hiện ở Hoa Lư. Đó là loại gạch to có trang trí, nhiều loại ngói bằng sứ trắng, tráng men thời Lý. Năm 1084, vua Lý Nhân Tông hạ chiếu cho "thiên hạ nung ngói lợp nhà"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.242, 281). Hẳn rằng sang thời Lý, nghề nung gạch, ngói phát triển mạnh. Cùng với nghề gạch, ngói là nghề điêu khắc gỗ, đá, nghề đúc kim loại phục vụ cho xây dựng cung điện, chùa chiền. Đó là đúc chuông, tạc tượng, đúc tượng khá phổ biến ở thời Lý.


Nghề dệt, từ thế kỷ X, thời Đinh, Tiền Lê đã mở mang, không chỉ phục vụ cho đời sống của nhân dân mà còn cung cấp trang phục cho quân lính, phẩm phục của quan lại. Sang thời Lý, nghề dệt đã phát triển, nhiều thợ dệt tài hoa đã dệt được gấm vóc, lụa là đẹp. Sử chép vào năm 1040, "nhà vua đã dạy cung nữ dệt được gấm vóc", sau đó xuống chiếu phát hết gấm vóc của nước Tống ở trong kho ban cho các quan để tỏ ra không dùng gấm vóc của nước ngoài nữa. Sản phẩm dệt trong nước còn dùng để tiến cống. Nhà nước Lý có "quyến khố ty" (kho chứa lụa) để mua lụa của nhân dân, có cơ sở nuôi tằm để dệt lụa.


Về thương nghiệp, có thể nghĩ rằng vào thế kỷ X còn yếu ớt, chỉ quanh quẩn trong thị trường nhỏ hẹp của địa phương ngoài hai trung tâm lớn là Kinh đô Hoa Lư mới xây dựng nằm trên trục đường giao thông thủy bộ và trung tâm Đại La xuất hiện từ trước. Vào cuối thế kỷ X, năm 976 mới thấy sử chép có "thuyền buôn của các nước ngoài đến dâng sản vật của nước họ"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.213). Sang thời Tiền Lê, việc buôn bán không chỉ dừng lại trong thị trường nội địa mà đã bắt đầu có thông thương mậu dịch với nước ngoài. Năm 1007, Vua Lê Long Đĩnh đã đặt quan hệ mua bán, đổi chác với Trung Quốc ở chỗ vùng biên thuộc Liễu Châu và trấn Như Hồng (Quảng Đông). Sang thời Lý, việc dời đô ra Thăng Long cùng với việc mở mang khu vực thị của Kinh đô, gồm các phường đã xác lập. Một số chợ lớn ở Thăng Long như chợ Đông, chợ Tây, chợ Nam xuất hiện. Việc giao thương với nước ngoài được mở rộng hơn nhiều ở thời Lý, đặc biệt với Trung Hoa và Xiêm La. Hàng loạt "bạc dịch trường" xuất hiện ở vùng biên như những chợ biên giới phía Bắc. Trang Vân Đồn xuất hiện vào năm 1149 là một điểm buôn bán quan trọng, trao đổi hàng hóa với các nước trong khu vực như Xiêm La, các nước vùng đảo Inđônêxia...


Sự phát triển của thương nghiệp đòi hỏi có vật ngang giá. Ngoài các loại tiền của Trung Hoa lưu hành trong dân gian từ trước cùng với bạc nén, vàng nén, từ thời Đinh đã đúc tiền đồng mang tên "Thái Bình hưng bảo" mặt sau có chữ Đinh, thời Tiền Lê có tiền "Thiên Phúc trấn bảo" được đúc vào năm 984.


Như vậy, về công, thương nghiệp thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý đã từng bước mở mang phát triển. Từ nhỏ hẹp, gắn chặt với nông nghiệp ở thế kỷ X đã bắt đầu có sự chuyên nghiệp hơn, ít nhất ở các tổ chức của nhà nước. Đã bắt đầu có sự mở mang quan hệ giao thương với nước ngoài, bắt đầu vượt ra ngoài thị trường trong nước, vươn tới quan hệ với các nước lân bang mặc dù còn rất hạn chế.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2020, 08:36:14 pm »

c) Văn hóa - xã hội

Hơn một nghìn năm dưới ách đô hộ, mặc dù âm mưu đồng hóa của phong kiến phương Bắc khá nham hiểm và dai dẳng nhưng cuối cùng, nền văn hóa bản địa của nhân dân ta vẫn tồn tại với sức sống mãnh liệt. Sau khi khôi phục được nền độc lập, tự chủ, từ thế kỷ X, văn hóa bản địa có điều kiện mở mang, phát triển mạnh mẽ. Cùng với những phong tục, tập quán cổ truyền, tín ngưỡng phồn thực, đa thần, thờ cúng tổ tiên, suy tôn người có công với dân, với nước của người Việt còn có tôn giáo Phật, Đạo và Nho giáo, đặc biệt là Phật giáo.


Phật giáo và Nho giáo du nhập vào nước ta dưới thời đô hộ từ những thế kỷ đầu sau Công nguyên. Nếu như Phật giáo gần gũi, phù hợp với đời sống tâm linh của người Việt thì Nho giáo gắn liền với bọn thống trị đô hộ nên mặc dù du nhập đã nhiều thế kỷ nhưng vẫn còn xa lạ. Điều này đã cắt nghĩa hiện tượng hầu như vắng bóng của Nho giáo trong văn hóa của cư dân Đại Cồ Việt, trong khi đó Phật giáo, Đạo giáo hiện diện trong đời sống xã hội và còn có mặt trong hoạt động chính trị của nhà nước quân chủ hồi thế kỷ X. Tại Kinh đô Hoa Lư đã phát hiện nhiều cột kinh Phật bằng đá tám cạnh dài khoảng 80 cm có khắc kinh Phật với dòng lạc khoản "Đệ tử Tĩnh Hải quân tiết độ sứ. Nam Việt vương Đinh Liễn kính tạo bảo tràng nhất bách tòa. Quý Dậu tuế" (Đệ tử của Phật là Nam Việt vương Đinh Liễn kính dâng một trăm cột kinh Phật. Năm Quý Dậu - 973)1 (Xem Hà Văn Tấn: "Từ một cột kinh Phật năm 973 vừa được phát hiện ở Hoa Lư", tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 76-1965). Trong bộ máy quản lý đất nước thời Đinh - Tiền Lê, có một bộ phận trông coi tôn giáo Phật, Đạo như đã dẫn ở trên. Các bậc cao tăng như Ngô Chân Lưu (Khuông Việt), Đỗ Pháp Thuận, Ma Ha, Vạn Hạnh đều là những trí thức uyên thâm Nho - Phật - Đạo từng được Vua Lê Đại Hành trọng dụng mời tham dự bàn bạc việc nước, trù hoạch công việc trong buổi sáng nghiệp, tiếp đón sứ giả. Đội ngũ cao tăng thực sự tiêu biểu cho trí thức của quốc gia Đại Cồ Việt, từng tham gia tích cực vào việc nước, việc dân, được nhân dân kính trọng, nhà nước trọng dụng. Nho giáo ở thế kỷ X đã có mặt nhưng hoàn toàn chưa phổ biến. Các trí thức Phật, Đạo có học Nho cũng chỉ dùng Nho để truyền tải Phật, Đạo. Việc học chữ Nho được tiến hành trong nhà chùa để dạy về Phật giáo, chưa có thi cử. Cho đến cuối thời Tiền Lê, vào năm 1007, Vua Lê Long Đĩnh mới sai con là Minh Sưởng sang nhà Tống xin cửu kinh và kinh sách Đại Tạng (9 kinh nhà Nho và kinh sách nhà Phật). Sự kiện này ghi nhận nhà nước quân chủ bước đầu chủ động tiếp thu Nho giáo.


Sang thời Lý, Phật giáo bước vào thời kỳ cực thịnh. Ngay từ vị vua đầu tiên - Lý Thái Tổ đã có nhiều chủ trương mở mang Phật giáo, xây dựng chùa chiền, tô tượng, đúc chuông, cấp độ điệp (văn bằng cho người xuất gia đi tu) cho dân làm chùa. Các nhà vua như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông đã từng đi tu. Vua Lý Thánh Tông là người cùng với Thiền sư Thảo Đường, sáng lập ra phái Thảo Đường. Tầng lớp sư tăng còn giữ vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước. Sư Vạn Hạnh, người đã vận động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua mở đầu vương triều Lý. Sư Đa Bảo, Viên Thông từng tham dự triều chính, cùng nhà vua bàn bạc, quyết định nhiều việc nước.


Cùng với sự thịnh đạt của Phật giáo ngay từ buổi đầu thời Lý, Nho giáo cũng được mở mang nhưng muộn mằn hơn. Hẳn là do nhu cầu của xây dựng nhà nước quân chủ trung ương tập quyền theo mô hình phong kiến phương Đông, việc học tập, thi cử được quan tâm. Năm 1070, Lý Thánh Tông "làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.275). Năm 1076, Lý Nhân Tông mở Quốc Tử Giám - Trường đại học đầu tiên của nước ta. Trước đó một năm, năm 1075, mở khoa thi Minh kinh bác sĩ và thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh đỗ đầu kỳ thi này, được chọn vào hầu nhà vua học tập. Năm 1086, nhà Lý cho thi tuyển những người có văn học; Mạc Hiển Tích đỗ đầu được tuyển làm Hàn lâm học sĩ.


Cùng với Nho giáo, Đạo giáo đã có mặt từ trước, nhưng không phát triển bằng Phật giáo. Nhà Lý coi trọng Phật giáo, lấy Phật giáo làm hệ tư tưởng chính thống, cùng với Nho giáo, Đạo giáo, kết hợp với tín ngưỡng cổ truyền của nhân dân tạo thành một nên văn hóa bản địa đặc sắc đậm sắc thiền.


Về mặt xã hội, thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý đã có sự phân hóa nhưng chưa triệt để. Cùng với sự tồn tại phổ biến của công xã nông thôn trong quá trình phân rã chậm chạp có sự hiện diện của hai giai cấp: giai cấp nông dân công xã và giai cấp quý tộc thống trị xã hội, hưởng sản phẩm cống nạp từ công xã. Bóng dáng của địa chủ đã hiện diện ở thế kỷ X qua tầng lớp thổ hào, tuy nhiên cho đến thế kỷ XI, ruộng đất tư hữu chưa phát triển, ruộng đất nằm trong tay nhà vua, trao quyền sử dụng cho công xã và phong cấp cho quan lại. Nếu như sự phân hóa giai cấp trong xã hội còn nhập nhằng thì sự hiện diện của các tầng lớp khá rõ nét. Ngoài tầng lớp quý tộc thống trị xã hội, tầng lớp tăng ni, sư sãi chiếm một số lượng khá đông đảo giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tâm linh, còn có tầng lớp nô tỳ, tầng lớp nho sĩ đã xuất hiện nhưng chưa thành một lực lượng quan trọng trong xã hội. Các tầng lớp này đan xen cùng tồn tại trong một xã hội hài hòa được nuôi dưỡng, kích thích bằng chất men của nhà Phật.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2020, 08:38:06 pm »

2. Những hoạt động quân sự chủ yếu

Về hoạt động quân sự, trước hết cần điểm sơ lược vài nét về tổ chức quân đội thời này.

Thời Ngô, sử sách không hề chép về tổ chức quân đội. Sử gia Lê Văn Hưu cũng chỉ cho biết đó là "quân mới họp của nước Việt ta"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.204). Qua trận đánh thắng giặc Nam Hán nơi cửa sông Bạch Đằng và dẹp Kiều Công Tiễn ở Đại La vào năm 938, ta biết ít nhất trong quân đội do Ngô Quyền chỉ huy có ba loại quân, đó là bộ binh, thủy binh và kỵ binh. Sau chiến thắng, Ngô Quyền đã tổ chức lực lượng quân đội bảo vệ nhà nước vương triều Ngô và Kinh đô Cổ Loa mà cho đến nay không có tài liệu để làm sáng tỏ. Ngoài quân của triều đình, hẳn rằng ở địa phương có lực lượng vũ trang do các thổ hào cầm đầu các công xã hay liên công xã.


Tổ chức vũ trang này tan rã cùng với sự suy vong của vương triều Ngô dẫn đến "loạn mười hai sứ quân" diễn ra vào các năm 965-968. Một lần nữa, kế tục việc làm của Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh lại tập hợp lực lượng thành lập đoàn quân dẹp loạn. Đinh Bộ Lĩnh xây dựng nên quân đội của quốc gia Đại Cồ Việt thống nhất, với kinh đô là Hoa Lư. Sáu năm sau khi lên ngôi, vào năm 974, vua Đinh thành lập "Thập đạo quân" (quân 10 đạo) do Lê Hoàn đứng đầu.


Kế thừa tổ chức quân đội của vương triều Đinh, nhà Tiền Lê, Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) tổ chức thân quân bảo vệ nhà vua và triều đình, sử chép: "Lê Đại Hành năm Thiên Phúc thứ 7 (968) đặt "Binh túc vệ" gọi là thân quân, trên trán đều thích 3 chữ "Thiên tử quân"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, t.III, tr.7). Các địa phương, tức các đạo vẫn giữ như thời Đinh gồm 10 đạo, cùng với thân quân ở trung ương, dưới sự chỉ huy thống nhất của Lê Hoàn.


Sang thời Lý, bên cạnh sự hoàn thiện về bộ máy quản lý nhà nước, tổ chức quân đội phát triển quy mô hơn, gồm ba loại quân rõ rệt: cấm quân và sương quân, quân địa phương - ngoại binh (quân các lộ, phủ) và dân binh, thổ binh ở cơ sở xã, sách, động... Cấm quân thường xuyên túc trực canh giữ kinh đô và triều đình; sương quân "mỗi tháng đều phải một lần gọi là đến canh, hết canh cho về nhà cày cấy hoặc làm công nghệ tự cấp lấy chứ không được cấp lương"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, tr.7-8). Quân của lộ, phủ cũng chia phiên thay nhau về làm ruộng như quân của triều đình. Thổ binh và dân binh chỉ tập trung khi có việc, còn thường xuyên gắn với sản xuất.


Với tổ chức lực lượng vũ trang từ "quân mới họp" thời Ngô đến ba thứ quân thời Lý, các vương triều thời kỳ này đã tiến hành nhiều hoạt động quân sự. Có thể phân các hoạt động quân sự thời này làm ba loại hình theo mục tiêu cụ thể:

1) Chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập của Tổ quốc;

2) Dẹp loạn, bảo vệ nhà nước và nền thống nhất quốc gia;

3) Giữ vững biên cương, mở rộng lãnh thổ.


Sau đây sẽ lần lượt điểm đến các hoạt động quân sự theo trình tự thời gian qua các vương triều.

Dẹp "loạn mười hai sứ quân":

Sau khi Ngô Quyền qua đời (năm 944), Dương Tam Kha cướp ngôi. Năm 951, con trai Ngô Quyền là Xương Ngập, Xương Văn giành lại được vương vị. Nhưng sau đó anh em bất hòa, vương triều Ngô lục đục đi đến sụp đổ, kéo theo sự rối loạn trong cả nước. Thổ hào các nơi nổi dậy, mỗi người chiếm giữ một vùng mà sử chép là "loạn mười hai sứ quân". Sau khi Ngô Quyền mất, Đinh Bộ Lĩnh tập họp quân ở động Hoa Lư chống lại chính quyền Cổ Loa dưới quyền của Dương Tam Kha. Khi "loạn mười hai sứ quân" bùng nổ vào năm 966, Đinh Bộ Lĩnh đã đem quân bản bộ, tập hợp thêm lực lượng, tiến hành dẹp loạn. Sau hơn hai năm chiến đấu, Đinh Bộ Lĩnh lần lượt đánh dẹp được các sứ quân, thống nhất giang sơn về một mối, lập nên Nhà nước Đại Cồ Việt đóng đô ở Hoa Lư vào năm 968.


Đánh giặc Tống vào năm 981:

Cuối năm 980, lợi dụng tình hình rối loạn của triều đình Hoa Lư sau khi vua Đinh và Đinh Liễn bị sát hại, giặc Tống do Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng, Lưu Trừng, Trần Khâm Tộ chia làm hai đường thủy, bộ tràn qua biên giới phía Bắc tiến vào đánh chiếm nước Đại Cồ Việt. Trước nguy cơ xâm lược, được sự ủng hộ của Dương Thái hậu, quân lính ở Hoa Lư tôn Lê Hoàn lên ngôi cầm quyền chống giặc.

Dưới sự điều hành của Lê Hoàn, sau trận đánh phủ đầu cản bước tiến của thủy quân giặc do Hầu Nhân Bảo chỉ huy ở sông Bạch Đằng vào tháng chạp năm Canh Thìn (1-981), quân dân Đại Cồ Việt đã liên tục chặn đánh giặc trên tuyến đường thủy, bộ về Đại La, buộc giặc phải lui về cố thủ đợi viện binh của Lưu Trừng, Trần Khâm Tộ. Nhận thức được tương quan lực lượng không cho phép tổ chức một trận quyết chiến nhằm tiêu diệt toàn bộ quân giặc, Lê Hoàn đã dùng mưu kế trá hàng lừa địch, về trận này, sử chép khá sơ lược. Việt sử lược chép: "Quân Tống lui giữ Ninh Giang. Vua sai trá hàng để dụ Nhân Bảo. Quân Tống bị thua, ta bắt chém được Nhân Bảo"1 (Việt sử lược, Sđd, tr.56). Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: "(Giặc - TG) lại đến sông Chi Lăng (sông Bạch Đằng mới đúng - TG). Vua (Lê Hoàn - TG) sai quân sĩ trá hàng để dụ Nhân Bảo, nhân đó bắt được Nhân Bảo, đem chém"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.221). Chủ tướng bị giết, toàn quân giặc bị đánh tan tác, chạy tháo thân. Cuộc kháng chiến kết thúc bằng trận Tây Kết. Về trận này, Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Vua đem các tướng đánh, quân của Khâm Tộ thua to, chết đến quá nửa, thây chết đầy đồng, bắt được tướng giặc là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem về Hoa Lư. Từ đó trong nước rất yên"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.221).


Đánh Chiêm Thành:

Về việc này, sách Việt sử lược chép: "Vua sai bọn Từ Mục đi sứ Chiêm Thành, bị bắt giữ. Vua giận dữ, tự làm tướng đi đánh dẹp Chiêm Thành chém được vua nó là Bề Mi Thuế ở trước trận, lấy những vật quý, vàng bạc, của báu có đến hàng vạn..."3 (Việt sử lược, Sđd, tr.56). Sách Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng chép tương tự. Cuộc hành binh kéo dài 1 năm, vào năm 982.


Hành binh dẹp loạn:

Thời Tiền Lê, có một số vụ nổi dậy nhằm tách ra khỏi sự quản lý của triều đình buộc nhà vua phải cầm quân đánh dẹp. Điển hình là các vụ Quản giáp Dương Tiến Lộc nổi dậy ở châu Hoan, châu Ái, theo về với Chiêm Thành vào năm 989, vụ Đỗ Động Giang năm 999... Trong số các vụ nổi dậy ly khai, lớn nhất là vụ Cử Long ở huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa ngày nay, xảy ra vào năm 1001, kéo dài cho đến đầu thời Lý mới dẹp yên được. Vào năm 1005, sau khi Lê Hoàn qua đời, các con tranh giành nhau quyết liệt dẫn đến cảnh huynh đệ tương tàn, đưa vương triều Tiền Lê vào chặng tàn mạt.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2020, 08:39:24 pm »

Đánh giặc Tống xâm lược lần thứ hai:

Thời Lý, vào những năm đầu thập kỷ 70 thế kỷ X, nhà Tống đã có hành động chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Hàng loạt căn cứ quân sự và hậu cần được xây dựng ở vùng giáp biên giới. Thành Ung Châu trở thành nơi tập kết quân lính, hậu cần của giặc. Để đối phó với giặc Tống, nhà vua và Lý Thường Kiệt chủ động "phá thế mạnh của giặc", tấn công Ung Châu, phá lũy, thành trì, kho tàng của giặc rồi rút quân về nước bố trí lập phòng tuyến Như Nguyệt, sẵn sàng đợi giặc.


Tháng Giêng năm 1077, giặc Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy tiến vào Đại Việt, chiếm đóng bờ bắc sông Cầu, bị chặn đứng bởi phòng tuyến Như Nguyệt. Thủy quân do Dương Tùng Tiên tiến theo đường biển bị Lý Kế Nguyên chặn đánh nhiều trận, chịu giam chân và thất bại ở Đông Kênh - ven biển Quảng Ninh. Chờ không thấy thủy quân, Quách Quỳ vội mở cuộc tấn công ở Như Nguyệt. Hai lần tấn công đều bị đại bại, Quách Quỳ án binh bất động, chờ thủy quân, ra lệnh "ai bàn đánh sẽ chém".


Nắm chắc tình hình địch: thủy quân bị đánh chặn ở Đông Kênh, quân bộ lui về phòng thủ, Lý Thường Kiệt tổ chức phản công, tấn công doanh trại giặc do Quách Quỳ ở vùng bờ bắc Thị Cầu chỉ huy, và tự cầm quân tấn công doanh trại của Triệu Tiết ở phía đối diện với Như Nguyệt. Sách Việt sử lược chép: Thường Kiệt biết rằng quân Tống sức lực đã khốn đốn, ban đêm sang sông đánh úp, đại phá được. Quân Tống 10 phần chết đến 5, 61 (Xem Việt sử lược, Sđd, tr.251). Sau đại thắng, Lý Thường Kiệt dùng "biện sĩ bàn hòa"; thế cùng, giặc Tống chấp nhận phải rút quân về nước. Liền sau khi giặc rút, Lý Thường Kiệt sai quân chiếm lại những vùng đất mà Quách Quỳ đã chiếm, chỉ còn Quảng Nguyên cho đến cuối năm 1079, bằng con đường ngoại giao hòa bình mới đòi lại được.


Đánh dẹp Chiêm Thành, bảo vệ và mở rộng biên giới phía Nam:

Trong thời Lý, Chiêm Thành đã nhiều lần tràn sang cướp bóc cư dân biên giới, buộc nhà vua phải đem quân đi đánh dẹp, tiến vào Kinh đô Vijaya (Phật Thệ - Bình Định) phá hủy thành trì, phủ dụ dân chúng, sau đó rút quân về nước.


Cho đến năm 1069, Chiêm Thành lại "khuấy rối nơi biên giới", mặt khác lại thần phục nhà Tống, dựa vào nhà Tống để chống phá Đại Việt. Cho đến những năm chuẩn bị tấn công Đại Việt, nhà Tống đã xui giặc Chiêm Thành tấn công Đại Việt từ phía Nam. Dập tắt họa Chiêm Thành để rảnh tay đối phó với giặc Tống, tháng 3, tháng 4 năm 1069, nhà vua và Lý Thường Kiệt tiến quân vào Kinh đô Vijaya. Tháng 5, Lý Thường Kiệt bắt được chúa Chiêm là Chê Củ ở biên giới Chân Lạp; tháng 6 rút quân về Thăng Long. Chế Củ dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay) để được về nước.


Dẹp nội loạn:

Đầu năm 1028, Lý Thái Tổ băng hà, lập tức ba vương là Đông Chinh, Dực Thánh và Vũ Đức nổi loạn chống lại Thái tử Lý Phật Mã (tức Vua Lý Thái Tông). Ba vương chống không nổi, Lý Thái Tông ủy thác cho các quan tướng đánh dẹp. Lê Phụng Hiểu bắt giết được Vũ Đức vương, đánh tan phủ binh của ba vương. Đông Chinh vương và Dực Thánh vương chạy thoát, sau đó ra hàng, được tha tội, cho phục lại tước cũ.


Tiếp theo vụ "loạn ba vương" ở kinh đô, ở Trường Yên (Ninh Bình), Khai Quốc vương Bồ cũng đem quân bản phủ nổi dậy. Lý Thái Tông tự cầm quân đánh dẹp, bắt được Khai Quốc vương đem về Thăng Long, sau đó tha tội, cho phục lại tước cũ.


Dẹp loạn ở các địa phương:

Thời Lý có 19 vụ nổi loạn ở các địa phương, trong đó có các vụ lớn nổi bật như: vụ Cử Long ở Cẩm Thủy, Thanh Hóa nổi dậy từ thời Tiền Lê, năm 1011, Vua Lý Thái Tổ phải trực tiếp cầm quân đi đánh dẹp; vụ Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao ở Thạch An (Cao Bằng), năm 1041 Vua Lý Thái Tông sai quân đi đánh dẹp, bắt được Trí Cao đem về Thăng Long. Sau đó nhà vua tha, giao cho quản giữ đất Cao Bằng, phong làm Thái bảo. Năm 1048, Trí Cao lại nổi dậy chống triều đình; bị đánh dẹp, Trí Cao xin hàng, sau chạy sang đất Tống và bị nhà Tống tiêu diệt; vụ động Ma Sa (huyện Mai Đà, Hòa Bình), năm 1119, Vua Lý Nhân Tông phải huy động khá lớn quân thủy, bộ đi đánh dẹp, bắt được động trưởng là Ngụy Bàng; vụ Thân Lợi xảy ra vào năm 1140 đời Vua Lý Anh Tông: Thân Lợi tự xưng là con Lý Nhân Tông, chiếm giữ vùng đất Thái Nguyên, tính kế đánh Thăng Long, bị quân của triều đình đánh dẹp. Thân Lợi trốn sang châu Lạng, bị Thái phó Tô Hiến Thành đánh bắt giải về Thăng Long xử trảm.


Từ quốc gia bị lệ thuộc sang một đất nước độc lập, tự chủ, các vương triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý thay nhau quản lý đất nước từ năm 938 đến 1225. Trong vòng gần 300 năm đó, quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt đã trải qua hai thời đoạn rõ rệt: thế kỷ X với vương triều Ngô, Đinh, Tiền Lê được nhìn nhận như một thời quá độ, chuyển tiếp, tạo điều kiện cho sự phát triển vượt bậc ở thời sau; thế kỷ XI - đầu thế kỷ XIII, thời Lý, được nhìn nhận như mở đầu của kỷ nguyên mối - kỷ nguyên Đại Việt huy hoàng.


Từ một nhà nước quân chủ còn thô phác đến một nhà nước quân chủ với tổ chức và định chế quy củ từ trung ương đến địa phương, quản lý đất nước theo pháp luật thành văn; từ một nền kinh tế nông nghiệp còn hạn chế đến một nền nông nghiệp mở mang, tạo nên diện mạo phong phú, cung cấp cho dân số phát triển khoảng 3 triệu người, làm chỗ dựa cho thương nghiệp, thủ công nghiệp phát triển; từ một nền văn hóa bị kìm kẹp trước âm mưu đồng hóa của chính quyền đô hộ ngoại tộc đến một nền văn hóa bản địa phong phú chủ động tiếp thu thêm ảnh hưởng của Nho giáo, tô điểm đậm đà màu sắc Thiền, tạo nên một nền văn hóa đặc sắc trong thời đầu của văn minh Đại Việt, đó chính là cơ sở cho sự hình thành và phát triển nền quân sự quốc phòng thời kỳ này. Chỉ có trên cơ sở một xã hội phục hưng mạnh mẽ, không ngừng phát triển đó mới có được một tổ chức quân sự quốc phòng vững mạnh, đủ sức bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước. Trong vòng gần 300 năm, tổ chức "quân mới họp" của người Việt qua nhiều bước thử thách, tôi luyện đã trở thành một tổ chức quân sự quốc phòng gồm ba thứ quân từ trung ương đến địa phương dưới sự điều hành của nhà vua để hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ của mình. Và cũng chính trên cơ sở đó, trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, tư tưởng quân sự thời kỳ này hình thành và phát triển mang đậm dấu ấn của thời đại - thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý từ đầu thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIII.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM